NGUYỄN ĐỨC DUY Tên đề tài: NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA 2 GIỐNG DÂU THU HOẠCH QUẢ VỤ HÈ THU NĂM 2016 TẠI XÃ VIỆT THÀNH, HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI KHÓA LUẬN TỐT
Trang 1NGUYỄN ĐỨC DUY
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA 2 GIỐNG DÂU THU HOẠCH QUẢ VỤ HÈ THU NĂM 2016 TẠI XÃ VIỆT THÀNH, HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 2NGUYỄN ĐỨC DUY
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA 2 GIỐNG DÂU THU HOẠCH QUẢ VỤ HÈ THU NĂM 2016 TẠI XÃ VIỆT THÀNH, HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên nghành : Trồng trọt
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS Trần Ngọc Ngoạn
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập của mỗi sinh viên ở các trường Đại học, thực tập tốt nghiệp là thời gian không thể thiếu được Thực tập là khoảng thời gian cần thiết để sinh viên củng cố và hệ thống hóa toàn bộ những kiến thức đã học, vận dụng lý thuyết đã học ở trường vào thực tiễn sản xuất, giúp cho sinh viên nâng cao trình độ chuyên môn, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, sự đồng ý của nhà trường và Ban chủ nhiệm khoa Nông Học, tôi đã tiến hành thực tập tại xã Việt Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái với tên đề tài là:
“Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của 2 giống dâu
thu hoạch quả vụ hè thu năm 2016 tại xã Việt Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái”
Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành báo cáo này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô giáo, gia đình và các bạn sinh viên trong lớp, các hộ nông dân xã Việt Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập Đặc biệt nhờ sự hướng dẫn tận tình của
thầy giáo GS.TS Trần Ngọc Ngoạn đã giúp tôi vượt qua những khó khăn
trong suốt thời gian thực tập để hoàn thành báo cáo của mình
Do khả năng chuyên môn còn hạn hẹp nên đề tài tốt nghiệp này chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong sự góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn sinh viên để bản báo cáo này được đầy đủ và hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 11 tháng 06 năm 2017
Sinh viên
Nguyễn Đức Duy
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.2.1 : Thành phần dinh dưỡng của Dâu 6
Bảng 2.2.2: Thành Phần Dinh Dưỡng 2 Giống, Hòa Bình (2014) 7
Bảng 2.4.1: Diện tích dâu Việt nam 10 năm qua 10
Bảng 2.4.2: Diện tích dâu tằm chia theo vùng sinh thái 11
Đồ thị : Tỷ lệ diện tích dâu tằm theo các vùng sinh thái 12
Bảng 2.4.3: Đất đai của nông hộ trồng dâu nuôi tằm 12
Bảng 2.4.4: Ước lượng số hộ trồng dâu nuôi tằm 13
Bảng 2.4.5: Nhân lực của hộ trồng dâu nuôi tằm 14
Bảng 2.4.6: Số lượng nông dân trồng dâu nuôi tằm 15
Bảng 4.1 Đặc điểm hình thái lá của hai giống dâu tham gia nghiên cứu 33
4.2.2 Khả năng phân cành 34
Bảng 4.2 Khả năng phân cành các giống dâu thu hoạch quả vụ hè thu năm 2016 tại xã Việt Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 35
4.2.3 Chiều cao cây ở các lần đo 36
Bảng 4.3 Chiều cao cây các giống dâu thu hoạch quả vụ hè thu năm 2016 tại xã Việt Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 36
Bảng 4.4 Đường kính gốc các giống dâu thu hoạch quả vụ hè thu năm 2016 tại xã Việt Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 38
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVTV : Bảo vệ thực vật
CV : Hệ số biến động LSD : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
PTNT : Phát triển nông thôn
TW : Trung Ƣơng
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục tiêu của đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 3
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.2 Vai trò của cây dâu trong đời sống con người 4
2.2.1 Giá trị dinh dưỡng của cây dâu 4
2.2.2 Giá trị dinh dưỡng của cây dâu quả dài 5
2.3 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của cây dâu 7
2.3.1 Yêu cầu về nhiệt độ 7
2.3.2 Yêu cầu về ánh sáng 8
2.3.3 Yêu cầu về đất 8
2.3.4 Yêu cầu về nước 8
2.4 Tình hình sản xuất dâu trên thế giới và trong nước 8
2.4.1 Tình hình sản xuất dâu trên thế giới 8
2.4.2 Tình hình sản xuất dâu trong nước 10
2.5 Tình hình nghiên cứu cây dâu trên thế giới và trong nước 17
2.5.1 Tình hình nghiên cứu cây dâu trên thế giới 17
Trang 72.5.2 Tình hình nghiên cứu cây dâu trong nước 18
2.6 Một số sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ 20
2.6.1 Sâu cuốn lá 20
2.6.2 Sâu đo 21
2.6.3 Sâu róm 21
2.6.4 Sâu khoang 21
2.6.5 Biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu, bệnh hại dâu 22
PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 24
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 24
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 24
3.2 Nội dung nghiên cứu 24
3.3 Phương pháp nghiên cứu 24
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 24
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp nghiên cứu 25
3.3.3 Quy trình trồng trọt áp dụng trong thí nghiệm 25
3.4 Phương pháp xử lí số liệu 28
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Điều kiện tự nhiên xã Việt Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái 29
4.2 Đánh giá sinh trưởng của hai giống dâu quả tròn và dâu quả dài tại Trấn Yên – Yên Bái 32
4.2.1 Đặc điểm hình thái lá của hai giống dâu tham gia nghiên cứu 32
4.2.4 Động thái tăng trưởng đường kính gốc 37
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
5.1 Kết luận 39
5.2 Đề nghị 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 2
MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG THÍ NGHIỆM
Trang 9PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây dâu có ý nghĩa và tầm quan trọng thiết thực đến cuộc sống của các gia đình, tình hình phát triển nền kinh tế của địa phương
Hiện nay, việc trồng và sản xuất cây dâu được coi là một nghề kinh doanh mang lại nguồn thu nhập đáng kể, cải thiện đời sống rõ rệt cho người sản xuất
Theo Viện Dược liệu Bộ Y tế: Trong quả Dâu: Nước 84,71%; Đường 9,19%; Axit 80%; Protit 0,36%; Tanin; Vitamin C; Caroten Trong đường có glucoza , fructoza Trong axit có axit malic axit succini Một số tài liệu Trung Quốc cho biết: Cứ 100g quả Dâu có 1,6g anbumin, 0,4 chất béo, 9,6g chất đường, 20mg caroten, 30mg canxi, 33mg phốtpho, 0,3mg sắt
Trong việc phát triển cây công nghiệp và cây ăn quả đem lại nhiều ý nghĩa to lớn: Cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến Cung cấp các mặt hàng xuất khẩu Góp phần giải quyết việc làm, phân bố lại lao động trên phạm vi cả nước Thúc đẩy sự phát triển Kinh Tế - Xã Hội ở những vùng khó khăn (Vấn đề phát triển nông nghiệp, Bài 30) [7]
Dâu có khả năng thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái Trong xu hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp hiện nay, việc phát triển thành công cây trồng mới nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích đất canh tác là cần thiết Trồng dâu thu hoạch quả phục vụ nhu cầu thị trường trở thành mặt hàng mới là một hướng lựa chọn trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội (Trần Ngọc Ngoạn, 2015) [2]
Cây sai quả nhất khi đạt 4 năm tuổi và cho năng suất trên 45 tấn/ ha/ năm Trong điều kiện tự nhiên, Dâu Đài Loan có thể ra quả 1 năm 2 lần vào
Trang 10vụ xuân và thu, và được xem là giống dâu quả có năng suất cao và ổn định Cây Dâu là cây có giá trị kinh tế với giá 30.000 – 50.000 đồng /kg Được sử dụng với nhiều mục đích trong công nghiệp như sản xuất rượu hay làm thực phẩm Quả dâu là một vị thuốc nam bổ dưỡng, tốt cho sức khỏe đặc biệt là sinh lý nam giới Chế biến quả Dâu bằng nhiều cách, từ đơn giản đến phức tạp: nước ép Dâu, Cao Dâu, Dâu ủ men, Dâu hấp, mứt Dâu, bột Dâu, Dâu xào thịt… Trong các chế phẩm đó, có khi chỉ dùng trái Dâu, có khi phối hợp thêm nhiều thức ăn hay các vị thuốc Đông y khác để phục vụ cho mục đích điều trị khác nhau
Để đáp ứng được nhu cầu sản xuất và xuất khẩu, công tác chọn tạo giống dâu thu hoạch quả có năng xuất cao, ổn định, chất lượng tốt, chín tập trung, thời gian sinh trưởng ngắn, thích nghi với điều kiện ngoại cảnh là hết sức cần thiết Đây không những là vấn đề các nhà khoa học rất quan tâm mà còn là vấn đề chung của xã hội trên lĩnh vực nông nghiệp Cho nên cần tìm ra một giống Dâu thích hợp nhất, phát triển tốt nhất
Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của 2 giống dâu thu hoạch quả vụ hè thu năm 2016 tại xã Việt Thành, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu của đề tài
Xác định được giống dâu có khả năng chuyển giao vào sản xuất, góp phần chuyển dịch cơ cấu giống theo hướng sản xuất dâu đa mục đích (vừa thu hoạch quả, vừa thu hoạch lá), tăng hiệu quả kinh tế cho sản xuất dâu tại Trấn Yên, Yên Bái
Trang 111.2.2 Yêu cầu của đề tài
Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của 2 giống dâu mới (giống Dâu quả tròn và giống Dâu quả dài) trong điều kiện đất đai, khí hậu của huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái
1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài là công trình nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát triển của
2 giống Dâu thu hoạch quả được trồng thí nghiệm Các kết quả nghiên cứu đạt được sẽ góp phần cung cấp dẫn liệu khoa học cho công tác nghiên cứu cây Dâu cũng như kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở và gợi ý cho các
nghiên cứu tiếp theo về cây dâu
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp lựa chọn được giống dâu có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt nhất phù hợp với điều kiện sinh thái của
vùng
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Trong sản xuất giống tốt góp phần nâng cao được hiệu quả kinh tế, tăng sản lượng và chất lượng cây trồng, giảm chi phí sản xuất
Khả năng sinh trưởng và phát triển của cây trồng phản ánh mức độ biểu hiện của cây trồng đó với các yếu tố tác động và ảnh hưởng tới nó thông qua năng suất và chất lượng sản phẩm cây tạo ra Tùy vào từng môi trường cụ thể, mức độ ảnh hưởng của các yếu tố là nhiều hay ít mà cây trồng sẽ có sự thích nghi tương ứng Do đó, việc theo dõi khả năng sinh trưởng và phát triển của các giống dâu thí nghiệm là rất cần thiết trong công tác chọn giống, nhất là với những giống cây mới được tuyển chọn Qua đó đánh giá được khả năng thích nghi của chúng, nhằm chọn ra được giống dâu phù hợp để bổ sung vào
cơ cấu giống của sản xuất
2.2 Vai trò của cây dâu trong đời sống con người
2.2.1 Giá trị dinh dưỡng của cây dâu
Cây Dâu tằm (Morus acidosa Griff), thuộc họ Dâu tằm (Moracace)
Cây nhỏ, cao 1,5 - 2,0 m, cành mềm, lúc non có long, sau nhẵn màu xám trắng
Lá mọc so le hình bầu dục, gốc hình tim, đầu có mũi nhọn, mép khía răng đều, phiến lá đôi khi chia thùy Hoa đơn tính, không có cánh hoa, cụm hoa đực hình đuôi sóc, cụm hoa cái là bông ngắn quả kép gồm nhiều quả bế, khi chín màu đỏ, sau chuyển màu đen, mùa hoa và quả vào tháng 5 đến tháng 7
Cây Dâu tằm (Morus alba L) cũng được dung làm thuốc
Dâu là cây trồng phổ biến ở nhiều nơi thuộc vùng đồng bằng trung du
và miền núi nước ta và ở các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản …
Lá dâu chứa hợp chất triterpen, gluxit, protein, flavonoit, cumarin, vitamin B1, C, D, caroten, tanin, các sterol như ecdysterol và inokosterol Quả dâu có 9,19% đường, 0,36% protein 1,8% axit hữu cơ, vitamin, flavonoit, Sắc tố màu đỏ (anthocyanidin) Vỏ rễ dâu chứa tanin, Pectin, axit hữu cơ, flavonoit, β amyrin…
Từ lâu đời, nhân dân ta đã sử dụng các bộ phận cây Dâu để làm dược liệu
Trang 13Vỏ rễ dâu (tang bì), thái nhỏ, tẩm mật sao thơm có vị ngọt nhạt, hơi đắng tính mát, dung chữa ho, ho có đờm, hen xuyễn, thổ huyết Lá dâu (tang diệp) loại lá non và lá bánh tẻ dùng sống hoặc tẩm rượu sao có vị ngọt đắng, mát, làm thuốc giảm ho, an thần, giải nhiệt Cành dâu (tang chi) thái nhỏ, sao vàng hoặc tẩm rượu sao có vị đắng nhạt, tính bình chữa tê thấp, đau nhức xương, mỏi gối Quả dâu (tang thầm), hái quả chín để nguyên hoặc đồ chín, phơi hay xấy khô có vị ngọt, chua, tính ôn, có tác dụng bổ máu, bổ thận, tiêu khát, sinh tân dịch, nhuận tràng Dịch dâu đường còn được ngâm chữa đau họng, lở mồm, loét lưỡi Tầm gửi cây Dâu (tang ký sinh) thái nhỏ phơi khô sao vàng có vị đắng, tính bình có tác dụng bổ gan thận, an thai, lợi sữa, giảm
ho, giảm đau Sâu dâu (sống trong cây dâu) nướng vàng tán thành bột, trộn với mật ong cho trẻ uống để chữa ho, đau mắt có nhiều dử Được liệu có vị mặn tính bình Tổ bọ ngựa trên cây dâu (tang phiêu tiêu) có vị ngọt, mặn, tính bình chữa di tinh, liệt dương, bạch đới, trẻ con đái dầm Mộc nhĩ cây dâu có
vị ngọt, tính bình, chữa kinh nguyệt không đều, khí hư bạch đới (Trần Khắc Thi, 2014) [3]
2.2.2 Giá trị dinh dưỡng của cây dâu quả dài
Giống dâu Đài Loan quả dài cũng được gọi là giống dâu quả siêu dài, được các nhà khoa học Đài Loan tuyển chọn trong quá trình lai tạo giống dâu quả thông thường với giống dâu quả dài dại, có tên tiếng Anh Himalayan Muberry Long Muberry, tên khoa học Morus macroura, thuộc chi dâu tằm
(Morus), họ dâu tằm (Moracace) nguyên sản là vùng thung lũng độ cao
1000 – 1300 m của dãy Hymalaya hoặc rừng mưa nhiệt đới Cây Dâu quả dài có thể ra quả ngay từ năm đầu, năm được mùa thì năng suất có thể đạt
100 kg quả trên 1 cây, mỗi chồi mới có 3 – 6 quả, bình quân quả đơn nặng 4,5 gam, dài 8 – 20 cm, đường kính 0,5 – 0,9 cm, khi chín màu đỏ hoặc đen tía, thịt quả có độ đường 22 độ Cây sai quả nhất 4 năm tuổi đạt 26 kg quả trên cây, năng suất quả đạt trên 45 tấn/ha/năm, năng suất kỷ lục có thể đạt 70 tấn/ha/năm
Quả dâu Đài Loan giàu chất dinh dưỡng Hơn 2000 năm trước đây quả dâu đã được xếp vào loại thực phẩm bổ dưỡng giành cho các vị Hoàng đế
Trang 14Cây dâu sinh trưởng trong môi trường tự nhiên trong sạch, không bị ô nhiễm nên gọi là loại quả sạch, thơm ngon, đặc biệt là dâu quả dài Đài Loan là giống dâu duy nhất không có vị chua, hàm lượng đường đạt trên 20 độ, ngọt lịm, hương vị tươi mát, dinh dưỡng phong phú, mầu sắc đẹp, nên còn được
gọi là “Quả thánh trong dân gian”, vừa là thực phẩm bổ dưỡng, vừa có thể
làm thuốc quý
Sử dụng quả dâu Đài Loan để ăn tươi, làm mứt dâu, dâu khô, vang dâu
… có tác dụng làm giảm mỡ máu, ngăn ngừa xơ cứng động mạch, làm đẹp da, chống lão hóa, tăng khả năng miễn dich, kiềm chế u bướu, dưỡng huyết bổ
âm… được giới y học đánh giá là “Trái cây bảo vệ và tăng cường sức khỏe
thế kỷ 21”
Bảng 2.2.1 : Thành phần dinh dưỡng của Dâu
(hàm lượng dinh dưỡng/100g) Các chất dinh dưỡng Hàm lượng Các chất dinh dưỡng Hàm lượng
VitaminA(microgram) 5.00 VitaminC (miligam) 一
VitaminE(miligam) 9.87 Carotene (microgram) 30.00 Thiamine (miligam) 0.02 Riboflavin (miligam) 0.06
Nhiệt lượng (calo) 49.00
Trang 15Thành phần dinh dưỡng của dâu quả dài Đài Loan như sau (tính theo
100 gam quả tươi)
Trong điều kiện tự nhiên có thể ra quả một năm 2 lần vào vụ xuân và
vụ thu, là giống dâu quả năng suất đặc biệt cao và ổn định
Viện nghiên cứu và phát triển công nghệ nông lâm nghiệp Thành Tây
đã trồng thử 2 giống dâu quả tròn và quả dài vào tháng 4/2013 tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình vào tháng 3/2014, đã có quả Viện đã phân tích thành phần dinh dưỡng của 2 loại quả này, kết quả như sau:
Bảng 2.2.2: Thành Phần Dinh Dưỡng 2 Giống, Hòa Bình (2014)
Kỹ thuật trồng Dâu Đài Loan quả dài tương tự như kỹ thuật trồng Dâu quả tròn (Trần Khắc Thi, 2014) [3]
2.3 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của cây dâu
Cây dâu cũng như các cây trồng khác sống trong điều kiện tự nhiên, chúng có liên quan chặt chẽ với môi trường xung quanh và chịu sự tác động của các yếu tố môi trường như ánh sáng, nhiệt độ, không khí, đất và nước Trong các yếu tố sinh thái tác động lên cây dâu có những nhân tố cần thiết và không thể thay thế giữa chúng với nhau được Những nhân tố này có liên
quan với nhau, tác động lẫn nhau và tác động một cách tổng hợp lên cây dâu 2.3.1 Yêu cầu về nhiệt độ
Nhiệt độ thích hợp 24-320C, khi nhiệt độ trên 400C một số bộ phận của cây dâu bị chết, ở nhiệt độ 00C cây dâu ngừng sinh trưởng, nhiệt độ không khí tăng trên 120
C thì cây dâu bắt đầu nảy mầm
(%)
Chất khô (%)
Đường tổng số (%)
Axit tổng số (%)
Vitamin tổng số (mg/100g)
Trang 162.3.4 Yêu cầu về nước
Nước và ẩm độ không khí: Là cây trồng tương đối chịu hạn, nhưng nếu thiếu nước thì cây ngừng sinh trưởng Trung bình cứ 100 cm2 lá trong một giờ thì phát tán 1,8 gam nước Điều đó chứng tỏ cây dâu có nhu cầu nước rất lớn
Ẩm độ thích hợp cho cây dâu sinh trưởng từ 70-80%
Lá dâu là thức ăn duy nhất của tằm, mặt khác trên 60% chi phí để sản xuất ra tơ là dùng vào khâu trồng, quản lý và thu hoạch, bảo quản lá dâu.(Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2012)[5]
2.4 Tình hình sản xuất dâu trên thế giới và trong nước
2.4.1 Tình hình sản xuất dâu trên thế giới
Dâu vốn là loại cây hoang dại sống lưu niên Đây là loại cây bản địa của vùng khí hậu ôn đới ở châu Á và Bắc Mỹ Theo nhà thực vật học Watt G cây dâu có lẽ có nguồn gốc từ Trung Quốc Trung Quốc là nước có nghề trồng dâu sớm nhất trên thế giới, sau đó dâu mới được phát triển và lan rộng đến các vùng khác trên thế giới Cách đây 4-5 nghìn năm người Trung Quốc đã biết nuôi tằm và thuần hoá giống tằm, cuốn Biên niên sử đã đề cập tới dâu tằm vào triều vua Châu Vương (2200 trước Công nguyên) Tơ lụa thời đó được dành riêng cho vua chúa và hàng quí tộc, nó thể hiện sự thuần phục của dân đối với vua Bí mật của ngành dâu tằm tơ được người Trung Quốc giữ kín
Trang 17rất lâu, phải gần 1000 năm sau ngành nghề này mới được để lộ và lan truyền sang các nước lân cận bằng Con đường tơ lụa
Theo một số tài liệu khác cho rằng nghề dâu tằm được lan truyền sang Triều Tiên vào khoảng năm 1200 trước Công nguyên, sau đó là Nhật Bản thế
kỷ thứ 3 trước Công nguyên, Ấn Độ giữa thế kỷ 2 trước Công nguyên
Theo các nhà lịch sử phương Tây, cây dâu được trồng phát triển ở Ấn
Độ thông qua Tây Tạng vào khoảng năm 1400 trước Công nguyên và nghề trồng dâu, nuôi tằm bắt đầu ở vùng châu thổ sông Hằng Theo các nhà lịch sử
Ấn Độ, nơi nuôi tằm đầu tiên ở đây là thuộc vùng núi Hymalaya Khi người Anh đến Ấn Độ, do buôn bán tơ lụa mà nghề dâu tằm được phát triển và lan rộng sang vùng khác như Mysore, Jamu, Kashmir
Ả Rập do nhập trứng tằm và hạt dâu từ Ấn Độ nên cũng là một trong những nơi sớm có nghề dâu tằmVào thế kỷ 4, nghề dâu tằm được thiết lập ở
Ấn Độ như là trung tâm của châu Á và tơ lụa được xuất khẩu tới Roma (Ý), nhưng đến thế kỷ 6 người Roma đã học được kỹ nghệ sản xuất tơ và tơ đã được sản xuất ở châu Âu, người Roma đã hoàn toàn chiếm lĩnh trong lĩnh vực sản xuất này Từ Ý, dâu tằm được phát triển tới Hy Lạp, Áo và Pháp
Ở Áo, dâu tằm được phát triển mạnh vào thế kỷ 9-11, ở Pháp trồng dâu nuôi tằm được bắt đầu từ năm 1340 Ngành dâu tằm của Pháp được thành lập vào cuối thế kỷ 17 và phát triển tới giữa thế kỷ 18 Trong thế kỷ 19, dâu tằm
Pháp bị dịch tằm gai (Nosema) và bệnh đã lan truyền sang châu Âu và Trung
Đông Do đó ngành dâu tằm đã bị khủng hoảng do bệnh dịch này Năm 1870 Louis Pasteur đã phát hiện ra bào tử gai là nguyên nhân gây bệnh và ông đã đưa ra cách loại trừ bệnh dịch này, do vậy mà ngành dâu tằm đã thoát khỏi khủng hoảng và nay được tiếp tục được mở rộng phát triển Vì lợi ích kinh tế đem lại nên ngành dâu tằm tơ được nhiều nước quan tâm (Wikipedia, Dâu tằm tơ)[11]
Cây dâu được phân ra nhiều loại dựa theo đặc diểm hình thái và nhu cầu sử dụng : Cây dâu tằm có dâu tằm trắng, dâu tằm đen và dâu tằm đỏ Cây dâu thu hoạch quả có dâu quả dài và dâu quả tròn
Trang 182.4.2 Tình hình sản xuất dâu trong nước
Ở Việt Nam, nghề trồng dâu nuôi tằm có từ rất lâu đời Cây dâu con tằm góp phần vào việc giải quyết vấn đề mặc cho người dân
Việt nam đang trong quá trình công nghiệp hoá nhưng nông nghiệp vẫn chiếm vị trí kinh tế cơ bản và quan trọng của xã hội Kết quả điều tra do Trung tâm Nghiên cứu dâu tằm tơ Trung ương thực hiện cho thấy đến cuối năm
2013 Việt nam có 39.942 hộ gia đình với 103.543 nông dân trồng dâu nuôi
tằm từ Bắc tới Nam ở 31 tỉnh, thành phố trong tổng số 63 tỉnh, thành phố của
cả nước Sản xuất dâu tằm nước ta đã giảm sút nhiều so với 5 năm trước
Bảng 2.4.1: Diện tích dâu Việt nam 10 năm qua
(ha)
2005 (ha)
2006 (ha)
2007 (ha)
2008 (ha)
2009 (ha)
2010 (ha)
2011 (ha)
2012 (ha)
2013 (ha)
(Nguồn : Niên giám thống kê 2004 - 2013)
Từ năm 2004 đến năm 2013 sản lượng kén tằm Việt nam liên tục sụt giảm Năm 2004 sản lượng kén tằm đạt 12.323 tấn, đến năm 2011 sản lượng kén chỉ còn 7.057 tấn, giảm 5.266 tấn, tương đương 42,7% so với năm 2004 Năm 2012 sản lượng kén tăng 6,5% Năm 2013, sản lượng kén được kỳ vọng tiếp tục tăng Tuy nhiên Tổng cục thống kê mới đưa ra sản lượng ước tính sơ
bộ là 6.359 tấn
Diện tích dâu tằm các vùng sinh thái
Hiện nay (12/2013), nước ta có 31 tỉnh tham gia sản xuất dâu tằm trên toàn bộ 8 vùng sinh thái với tổng diện tích dâu hiện tại là 7.753ha Vùng trồng dâu mang tính tập trung nhất là vùng Tây Nguyên chiếm 49,69%, Đồng bằng
Trang 19sông Hồng chiếm 24,09%, Bắc Trung bộ chiếm 10,20%, Duyên hải Nam
(Nguồn: Niên giám thống kê 2013)
Tây Bắc 2,78%
ĐB Sông Cửu Long 0,02%
Đông Nam Bộ 2,33%
Đông Bắc 4,54%
Bắc Trung Bộ 10,20%
Châu thổ Sông Hồng 24,09%
Nam Trung Bộ 6,35%
Tây Nguyên
49,69%
Trang 20Đồ thị : Tỷ lệ diện tích dâu tằm theo các vùng sinh thái
Diện tích dâu tằm của nông hộ
Diện tích đất trồng dâu trong tổng số đất nông nghiệp của nông hộ nhìn chung là nhỏ Ở vùng sản xuất dâu tằm truyền thống là Đồng bằng Sông Hồng, vùng Đông bắc và vùng Bắc Trung bộ diện tích dâu nằm trong khoảng
3 - 4 sào Bắc bộ/hộ Các vùng Duyên hải Nam Trung bộ và Tây nguyên diện tích dâu lớn hơn gấp 2 lần vùng truyền thống phía Bắc Vùng Tây bắc, nông
hộ có diện tích dâu lớn nhất, bình quân 5.159 m2 /hộ
Bảng 2.4.3: Đất đai của nông hộ trồng dâu nuôi tằm
(Chia theo vùng sinh thái)
nghiệp (m2)
Đất dâu (m2)
Tỷ lệ (%)
Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và
Trung bình của 630 mẫu điều
(Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu dâu tằm tơ TW)
Đặc điểm nổi bật về đất đai của nông hộ là diện tích đất nông nghiệp nhỏ Đất trồng dâu thường là đất trồng các loại cây nông nghiệp khác kém
Trang 21hiệu quả, đất tận dụng Trên 80% đất trồng dâu là đất bãi ven sông Vùng Tây nguyên và Tây bắc dâu được trồng ở các vùng đồi
Cây trồng xen giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống canh tác của người trồng dâu Ở Thái Bình, Thanh Hóa, Quảng Nam có từ 15,44-62,48% trồng các loại cây ngô, lạc, đậu và các loại rau màu
Lao động trồng dâu nuôi tằm
Dựa trên số liệu thống kê về diện tích dâu ở các vùng sinh thái và diện tích dâu trung bình một hộ ở các vùng có thể ước lượng được số hộ trồng dâu
ở từng vùng Kết quả được trình bày ở bảng 2.4.4
Cả nước hiện nay có tất cả 39.942 hộ nông dân trồng dâu nuôi tằm Vùng Đồng bằng sông Hồng chỉ chiếm 24,09% tổng diện tích dâu cả nước song do quy mô của dâu của hộ nhỏ nên có tới 14.604 hộ; vùng Tây nguyên
Số hộ (hộ)
VI Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và
(Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu dâu tằm tơ TW)
Trang 22Hộ trồng dâu nuôi tằm có trung bình từ 4-5 nhân khẩu Trong đó có trung bình 2,5 lao động/hộ, sai khác không nhiều giữa các vùng, ngoại trừ vùng Tây bắc có số lao động trên một hộ cao hơn hẳn là 3,49 Lao động chính thường là vợ, chồng và có sự giúp sức của các con khi cần Tuổi bình quân của lao động trồng dâu nuôi tằm rất cao, trên dưới 50 tuổi Rất ít lao động trẻ trong độ tuổi từ 18 đến 40
Bảng 2.4.5: Nhân lực của hộ trồng dâu nuôi tằm
Đến cuối năm 2013, số nông dân trồng dâu nuôi tằm trên toàn quốc là 103.543 người
Nhân khẩu/hộ (người)
(người)
Nữ (người)
VI Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và
(Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu dâu tằm tơ TW)
Trang 23Bảng 2.4.6: Số lượng nông dân trồng dâu nuôi tằm
(hộ)
Lao động/hộ (người)
Lao động (người)
VI Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và ĐB
là là khoảng 20-30m2 Vùng Tây bắc có diện tích nhà nuôi tằm lớn nhất là 56,73m2 Số hộ trồng dâu nuôi tằm có nhà để lá dâu riêng, nhà để né riêng là rất thấp chỉ chiếm 18,29%
Trang 24Bảng 2.4.7: Đầu tƣ nhà nuôi tằm
Đầu tƣ của hộ gia đình cho ruộng dâu trung bình là khoảng 3 -3,5 triệu đồng/năm Chi phí này gồm có chi phí cho phân chuồng, phân NPK, phân đạm, thuốc trừ sâu và một số chi phí khác Hầu hết phân chuồng là từ chăn nuôi của gia đình Chi phí cho ruộng dâu chiếm tỷ lệ theo thứ tự là phân chuồng 16,01%, phân NPK 47,56%, phân đạm 35,37%, thuốc trừ sâu 0,84%
và một số chi phí khác 0,2%
Chi phí của gia đình trong một lứa tằm gồm: chi phí mua trứng tằm giống, chi phí mua thuốc sát trùng nhà cửa và dụng cụ nuôi, chi phí thuốc sát trùng mình tằm, thuốc phòng trị bệnh và thuốc tằm chín Trong tổng số chi phí cho lứa tằm thì chi phí mua giống tằm chiếm tỷ lệ lớn nhất 81,84% Chi
Diện tích nuôi (m2)
Có nhà nuôi riêng (%)
Không có nhà nuôi riêng (%)
VI Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và ĐB
(Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu dâu tằm tơ TW)
Trang 25phí mua các loại thuốc sát trùng, thuốc phòng bệnh và thuốc tằm chín chỉ chiếm một tỷ lệ thấp ( Lê Hồng Vân, 2014) [1].
2.5 Tình hình nghiên cứu cây dâu trên thế giới và trong nước
2.5.1 Tình hình nghiên cứu cây dâu trên thế giới
Cây Dâu ăn quả thu ộc chi dâu tằm (Morus), họ dâu tằm (Moracace)
hiện nay đang được trồng chủ yếu tại Trung Quốc, Đài Loan, Ấn Độ và Nhật Bản Các nhà khoa học đã chọn tạo được một số giống dâu có năng suất quả cao, chất lượng quả tốt để phát triển theo hướng thu hoạch quả, trong đó nổi
bâ ̣t là giống Dâu quả tròn và Dâu quả dài
năng suất cao có thể đạt trên 30 tấn/ha/năm, năng suất lá cũng rất cao, đặc biệt
lá vụ thu, năng suất trên 15 tấn/ha Cây Dâu quả tròn có thân th ẳng đứng, cành dài, nhiều cành nhánh Trồng ở Quảng Đông (Trung Quốc) nảy chồi vào tháng 2, tháng 3 bật chồi, cuối tháng 4 bắt đầu có quả chín
khoa học Đài Loan tuyển chọn trong quá trình lai tạo giống dâu quả thông thường với giống dâu quả dài dại, có tên tiếng Anh là Muberry, tên khoa học Morus macroura, nguyên sản là vùng thung lũng độ cao 1.000 - 1.300 m của dãy Hymalaya hoặc rừng mưa nhiệt đới
Tiềm năng năng suất quả cao: Trung bình đạt từ 35-45 tấn quả/ha Thâm canh có thể đạt năng suất quả tới 70tấn/ha, đồng thờ i có thể thu hoa ̣ch 15tấn lá/ha/năm
Nghiên cứu của các nhà khoa ho ̣c Đài Loan cho thấy : Đường tinh khiết được chiết xuất từ dâu được sử du ̣ng để ngăn ngừa bê ̣nh đái đường trong loa ̣i thuốc Streptozotocin (STZ) Sử du ̣ng đường tinh khiết từ lá dâu với lượng 50 – 200mg/kg thể tro ̣ng hàng ngày trong 5 tuần có thể giảm nhanh lượng đường
Trang 26trong máu (FBG), (GFP), (TC), (TG) và tăng được trọng lượng cơ thể , giảm mỡ tích lũy trong gan …
Các giống Dâu thu hoạch quả có thể nhân giống thông qua sử dụng chồi thân để nuôi cấy trong môi trường nhân ta ̣o từ đó ta ̣o ra cây con phu ̣c vu ̣ sản xuất hoặc ghép cành trên giống dâu địa phương …
Mô ̣t số giống Dâu tốt được các nhà khoa ho ̣c Đài loan cho ̣n ta ̣o theo hướng thu hoa ̣ch quả như:
Giống Dâu Miaoli được công nhâ ̣n do Trung tâm nghiên cứu và khuyến nông huyê ̣n Miaoli , Đài Loan cho ̣n ta ̣o Giống này có tiềm năng năng suất cao, quả to thích hợp với thị trường chế biến và tiêu thụ tươi
Giống Dâu quả dài được cho ̣n ta ̣o từ nguồn vâ ̣t liê ̣u Miaoli số 1 năm
2008 tại Trường Đại học quốc gia Pingtung Đài Loan Đây là giống tiêu biểu
để tiêu thụ quả tươi (Trần Ngọc Ngoạn, 2015)[2]
2.5.2 Tình hình nghiên cứu cây dâu trong nước
Các giống này được Viê ̣n Nghiên cứu và Phát triển công nghệ nông lâm nghiệp Thành Tây nhập nô ̣i và trồng thử nghiê ̣m đa ̣t kết quả tốt ta ̣i Lương Sơn – Hòa Bình Các giống này vừa trồng để lấy quả , vừa để lấy lá nuôi tằm , là cây đa mu ̣c đích nên có thể bổ sung vào cơ cấu giống nâng cao hiê ̣u quả sản xuất ta ̣i các vùng trồng dâu huyện Trấn Yên và tỉnh Yên Bái
Theo TS Vũ Văn Định (Viê ̣n Nghiên cứu và Phát triển công nghệ nông lâm nghiệp Thành Tây ) thì gi ống Dâu quả tròn và giống Dâu quả dài được Viê ̣n s ản xuất thử từ tháng 5/2013 tại Hòa Bình Đến nay, mặc dù mới chỉ trồng được chưa đầy một năm nhưng dâu đã ra quả bói lứa thứ hai và bắt đầu bước vào giai đoạn thiết kế tán
Về đặc điểm sinh học, theo TS.Vũ Văn Định, đây là giống dâu được lai tạo từ nhiều giống dâu hoang dại nên dễ tính không thua kém dâu ta, có khả
Trang 27năng thích nghi rất rộng với điều kiện khí hậu và đất đai của nước ta, đặc biệt
là khả năng chịu hạn rất tốt
Tại diện tích trồng thử nghiệm ở huyện Lương Sơn, Hòa Bình, mặc dù được trồng vào mùa hè, điều kiện nước tưới rất khó khăn nhưng dâu vẫn phát triển tốt Sau khi trồng 4 - 5 tháng, dâu đã bắt đầu cho quả bói Với mật độ trồng khoảng 2.000 cây/ha, ngay ở năm đầu tiên, dâu đã cho thu hoạch bói với năng suất từ 5kg/cây Bước sang năm thứ 2, sẽ có khả năng cho thu hoạch trung bình 10kg/cây/năm (tương đương khoảng 20 - 25 tấn/ha/năm) Bước sang năm thứ 3, dâu hoàn toàn trưởng thành và có khả năng cho năng suất ổn định từ 20kg/cây/năm trở lên (tương đương hơn 40tấn/ha/năm), nếu thâm canh tốt và được mùa, giống dâu này có thể cho năng suất tới 100kg/cây/năm
Là cây thân gỗ, giống dâu này có thể có chu kỳ khai thác với năng suất ổn định trong vòng hơn 10 năm mới bắt đầu giảm năng suất nên chi phí đầu tư rất thấp
Giống Dâu quả tròn
Theo tài liệu của Cố Phó Thủ tướng Nguyễn Công Tạn ( 2014),dâu quả tròn có thể thu hái quả nhiều năm Thời kỳ sai quả từ 20 -30 năm Dâu quả tròn số 10 có tính thích ứng rộng, có thể vừa trồng lấy lá, vừa lấy quả Quả to,
vị ngọt, không hạt, năng suất cao nhất có thể đạt trên 30 tấn/ha/năm, năng suất
lá cũng rất cao, đặc biệt lá vụ thu, năng suất trên 15 tấn/ha Cây Dâu quả số
10 thẳng đứng, cành dài, nhiều cành nhánh Trồng ở Quảng Đông (Trung Quốc) nảy chồi vào tháng 2, tháng 3 bật chồi, cuối tháng 4 bắt đầu có quả chín Trồng thử nghiệm ở Việt Nam sau 12 tháng, cây đạt chiều cao trung bình 1,8-2,2 mét, đường kính gốc 1,4-1,6 cm, thân có đốm phấn trắng nhẹ Có
từ 3-4 cành cấp I, chiều dài cành trung bình 0,7-1,1 mét Khoảng cách giữa các lá trên thân chính 5,5 cm, kích thước lá to: 25x35 cm, phiến lá có răng cưa
Trang 28sâu Bắt đầu ra quả vụ đầu từ 15-25/2 Quả chín sau 35-40 ngày, quả dài 2-4
cm, có màu xanh nhạt, lông trắng, khi chín chuyển sang màu hồng rồi đỏ sẫm Quả mọc thành chùm trên mỗi kẽ lá, trung bình 2-4 quả/ chùm, tùy theo sức sống của cây.Năng suất quả năm đầu 0,8-1,2 kg/cây Với mật độ trồng 2000 cây/ha, vụ đầu tiên sau trồng có thể thu được trung bình 2 tấn quả/ha.Với giá bán 30 000 đ/kg có thể thu 60 tr.đồng/ha ngay từ vụ đầu (Trần Ngọc Ngoạn, 2015) [2]
Do vậy, tương lai cây dâu còn có thể tiến xa hơn nữa về năng suất và chất lượng
2.6 Một số sâu bệnh hại và biện pháp phòng trừ
Thường xuyên theo dõi vườn dâu để phòng trừ các loại sâu hại kịp thời Đối với vườn dâu thu hoạch quả, không phun thuốc BVTV vào giai đoạn quả chín, thu hoạch quả để đảm bảo chất lượng của quả
2.6.1 Sâu cuốn lá
Trong một năm sâu cuốn lá dâu hình thành 7 – 8 lứa, tuy nhiên đặc biệt chú ý các lứa vào tháng 4 – 5 và tháng 7 – 8 hàng năm trong điều kiện thời tiết khô hạn, đây là những tháng sâu cuốn lá thường gây thành dịch và phá hoại nặng cho vùng sản xuất dâu tằm
Biện pháp phòng trừ:
Vệ sinh đồng dâu vào vụ đông sau khi đốn đông thu dọn tất cả các tàn
dư trên đồng ruộng đem đốt, cày lật đất, cuốc đất xung quanh gốc dâu, phơi gốc dâu 5 – 7 ngày để diệt các loại trứng, ấu trùng qua đông dưới gốc dâu Nếu sâu mới xuất hiện với số lượng ít, dùng lao động thủ công ngắt các lá có sâu đem tiêu hủy, Khi điều tra thấy mật độ sâu hại trên đồng ruộng cao khoảng (10 – 15 con/m2) thì sử dụng thuốc Confior, Actara… để trừ
Trang 292.6.2 Sâu đo
Sâu non lúc mới nở và trứng tập trung ở dưới mặt lá Sâu non ăn biểu bì mặt dưới và nhu mô lá non, mầm dâu Sâu tuổi lớn ăn lá và mầm non, sâu ăn
cả ngày lẫn đêm Sâu thường bám vào cây với tư thế 2 chân sau bám vào cành
lá dâu, đầu ngẩng lên giống như một cành khô nhỏ Từ tháng 10 đến tháng 11, khi nhiệt độ giảm xuống dưới 15˚C, sâu đo ẩn ở kẽ cây, bất động Nếu nhiệt
độ ấm lên sâu lại bò ra hoạt động Khi đẫy sức, sâu chui vào kẽ đất hoặc kẽ hở của cành cây, rồi nhà tơ cuộn lá lại kết kén hóa nhộng
Biện pháp phòng trừ:
- Vệ sinh đồng ruộng, tiêu hủy tàn dư để hạn chế nơi sâu qua đông
- Nếu sâu mới xuất hiện với số lượng ít, dùng lao động thủ công bắt sâu đem tiêu hủy
- Sử dụng thuốc Confior, Actara… để trừ khi sâu gây hại
Khi điều tra thấy mật độ sâu hại trên đồng ruộng cao khoảng (10-15 con/m2) thì sử dụng thuốc Dylan 0,2EC; pha 5ml/ bình 10 lít nước, phun ướt đều cả mặt trên và mặt dưới lá) Lượng phun 15-18lít/1sào Bắc bộ (360 m2
)
2.6.4 Sâu khoang
Sâu Khoang là loài ăn tạp phá hại nhiều loại cây trồng và có mặt quanh năm trên đồng ruộng Sâu cắn phá mạnh vào lúc sáng sớm nhưng khi có ánh
Trang 30nắng sâu chui xuống dưới tán lá để ẩn nấp Khi làm nhộng, sâu chui xuống đất làm thành một khoang và nằm yên trong đó hoá nhộng
Biện pháp phòng trừ:
Thường xuyên vệ sinh đồng dâu.Vào vụ đông sau khi đốn đông thu dọn tất cả các tàn dư trên đồng ruộng đem tiêu hủy, cày lật đất, cuốc đất xung quanh gốc dâu, phơi gốc dâu 5 - 7 ngày để diệt nhộng
Khi điều tra thấy mật độ sâu hại trên đồng ruộng cao khoảng(10-15 con/m2) thì sử dụng thuốc Success 25SC, nồng độ 0,2 Pha 20ml thuốc với
10 lít nước khuấy đều, phun đều cả mặt trên và dưới của lá Liều lượng phun: 18-20 lít dung dịch thuốc/1 sào Bắc bộ (360 m2).Thời gian cách ly: sau phun
12 -15 ngày có thể hái lá cho tằm ăn
Chú ý: Phun thuốc khi sâu còn nhỏ và phun vào buổi chiều tối là hiệu
quả nhất
2.6.5 Biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu, bệnh hại dâu
Hầu hết các loại thuốc trừ sâu bệnh đều độc hại với tằm Để hạn chế mức độ gây hại của bệnh cần tiến hành tốt các biện pháp kỹ thuật sau:
- Chọn giống chống chịu sâu bệnh
- Không sử dụng hom giống có bệnh để trồng
- Chăm sóc cây dâu đúng quy trình kỹ thuật
- Bón phân đủ lượng, bón NPK cân đối
- Thu hoạch kịp thời đúng lứa
- Đốn dâu đúng thời vụ
- Làm tốt công tác vệ sinh đồng ruộng, tiêu hủy triệt để tàn dư gây bệnh
Trang 31- Sử dụng thuốc BVTV phải đúng, phù hợp cho từng loại Sâu bệnh Khi mật độ sâu chưa cao thì không nên sử dụng thuốc BVTV để không ảnh hưởng đến thiên địch
Chú ý: Sử dụng thuốc BVTV phải bảo đảm đúng thời gian cách ly 12 –
15 ngày sau khi phun thuốc mới hái lá cho tằm ăn [6]
Trang 32PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Gồm 2 giống dâu:
+ Giống Dâu quả tròn do Viện Nghiên cứu và phát triển Công nghệ
Nông Lâm nghiệp Thành Tây nhập khẩu và nghiên cứu thử nghiệm
+ Giống Dâu quả dài do Viện Nghiên cứu và phát triển Công nghệ nghệ Nông Lâm nghiệp Thành Tây nhập khẩu từ Đài Loan và nghiên cứu thử nghiệm
Đây là hai giống dâu đã bước vào giai đoạn kinh doanh, tuổi ở năm thứ 2
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Tại xã Báo Đáp (Thuộc vùng trồng dâu ven sông Hồng)
- Thời gian nghiên cứu: Vụ Hè Thu 2016 từ tháng 6 đến tháng 12 năm 2016 3.2 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của 2 giống dâu: Giống Dâu quả tròn và Giống Dâu quả dài với các tính trạng về khả năng sinh trưởng chiều cao cây
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm gồm:
+ 2 công thức (2 giống) Mỗi công thức theo dõi 15 cây, chia làm 3 lần nhắc lại (mỗi lần nhắc lại là 5 cây) 100 cây/giống, tổng số 200 cây, tổng diện tích 600m2, bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn toàn
- CT1: Giống Dâu quả tròn (A)
- CT2: Giống Dâu quả dài (B)
Trang 33Sơ đồ bố trí thí nghiệm
3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp nghiên cứu
Các chỉ tiêu về sinh trưởng- Định kỳ theo dõi 30 ngày/ lần theo dõi
- Chiều cao cây (m): Đo từ mặt đất đến điểm cao nhất của cây
- Đường kính gốc (cm): Đo cách mặt đất 10 cm
- Khả năng phân cành (cành): Đếm số cành cấp 1
- Chiều dài lá (cm): Đo từ cuống lá đến đỉnh lá, mỗi cây đo 5 lá, mỗi
công thức theo dõi 3 cây trên 3 lần nhắc lại Tổng số lá theo dõi 45 lá
- Đường kính lá(cm): Đo chỗ rộng nhất của lá, mỗi cây đo 5 lá, mỗi công
thức theo dõi 3 cây trên 3 lần nhắc lại Tổng số lá theo dõi 45 lá
- Số đôi gân lá(đôi): Đếm số đôi gân lá Theo dõi 5 lá, mỗi công thức
theo dõi 3 cây trên 3 lần nhắc lại Tổng số lá theo dõi 45 lá
- Số lá/cành: Chọn 4 cành ở 4 hướng, đếm toàn bộ số lá/cành (cả mắt lá ở
những lá đã rụng) Theo dõi trên 3 cây/công thức Tổng số cây theo dõi 9 cây/công thức
3.3.3 Quy trình trồng trọt áp dụng trong thí nghiệm
- Thời vụ trồng: Vụ xuân (tháng 3 – 4) hoặc sau khi đã hết lũ
- Mật độ: 3.333 cây/ha, khoảng cách trồng 1,5m x 2,0m x 1 cây
- Liều lượng phân bón: Bón 20kg phân chuồng + 0,5kg Ure + 1,0kg Lân supe + 0,5 kg Kaliclorua/cây (tương đương 66,7 tấn PC + 767kgN + 567 kg
P2O5 + 967kg K2O/ha)