1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và một số loại phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng của giống cam sành không hạt lđ6 tại huyện lục yên tỉnh yên bái

114 161 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tiễn đó, được sự cho phép của Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Nông học em đã tiến hành nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp “Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép

Trang 1

YÊN, TỈNH YÊN BÁI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Khoa học cây trồng

Khóa học : 2013 - 2017

Thái Nguyên - 2017

Trang 2

YÊN, TỈNH YÊN BÁI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Khoa học cây trồng

Thái Nguyên - 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn quan trọng nhất đối với tất cả các sinh viên nói chung và sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Đây là khoảng thời gian cần thiết để mỗi sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức đã học vào thực tế Đồng thời giúp sinh viên có điều kiện làm quen với công việc sản xuất, học hỏi kinh nghiệm nâng cao trình độ chuyên môn, nắm được phương pháp

tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học Từ đó tạo cho mình tác phong nhanh nhẹn, tính sáng tạo và say mê trong công việc, trở thành người cán bộ khoa học thực thụ góp phần vào sự phát triển của nền nông nghiệp nước nhà

Xuất phát từ thực tiễn đó, được sự cho phép của Ban giám hiệu Nhà trường,

Ban chủ nhiệm khoa Nông học em đã tiến hành nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp

“Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và một số loại phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái”

Trong thời gian thực tập từ ngày 01/02/2016 đến 31/12/2016 em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình, chỉ bảo của thầy giáo PGS.TS Đào Thanh Vân, cô giáo ThS Nguyễn Thị Phương Oanh, các thầy cô giáo trong khoa, các cán bộ phòng nông nghiệp huyện Lục Yên cùng các anh chị, bạn bè, người thân đã giúp đỡ tận tình để em hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp này Đã giúp em không chỉ củng cố được kiến thức lý thuyết về các môn học trên giảng đường mà còn tích lũy được nhiều kinh nghiệm sống, kỹ năng làm việc và giao tiếp trong các mối quan hệ xã hội Đây chính là cơ sở nền tảng giúp cho em có những bước đi vững chắc sau này để trở thành một kỹ sư nông nghiệp giỏi trong tương lai

Do điều kiện thời gian và trình độ còn nhiều hạn chế nên bản chuyên đề của

em không tránh khỏi những thiếu sót Vậy em kính mong các thầy cô giáo và các bạn đóng góp ý kiến để bản chuyên đề của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017

Sinh viên Lương Thị Nhâm

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Các loài cam quýt được trồng thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn 8 Bảng 2.2: Tình hình sản xuất cây cam trên thế giới từ 2010 - 2014 9 Bảng 2.3: Sản lượng cam, quýt, chanh, bưởi ở các châu lục năm 2014 9 Bảng 2.4: Tình hình sản xuất cam ở các châu lục trên thế giới năm 2012 - 2014 10 Bảng 2.5: Tình hình sản xuất cam ở một số nước vùng châu Á năm 2014 11 Bảng 2.6: Tình hình sản xuất cam của nước ta giai đoạn 2010 - 2014 13 Bảng 4.1: Ảnh hưởng của gốc ghép tới khả năng sinh trưởng của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 36 Bảng 4.2: Ảnh hưởng của gốc ghép tới động thái tăng trưởng chiều cao cây của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 38 Bảng 4.3: Ảnh hưởng của gốc ghép tới động thái tăng trưởng đường kính tán cây của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 39 Bảng 4.4: Ảnh hưởng của gốc ghép đến động thái tăng trưởng đường kính gốc cây của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 40 Bảng 4.5: Ảnh hưởng của gốc ghép tới khả năng phân cành của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyệ Lục Yên, tỉnh Yên Bái 41 Bảng 4.6: Ảnh hưởng của gốc ghép tới thời gian xuất hiện lộc và số lượng lộc của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 42 Bảng 4.7: Ảnh hưởng của gốc ghép đến tình hình sinh trưởng lộc Xuân của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 43 Bảng 4.8: Ảnh hưởng của gốc ghép đến tình hình sinh trưởng các lộc Hè của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 44 Bảng 4.9: Ảnh hưởng của gốc ghép đến tình hình sinh trưởng các lộc Thu của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 44 Bảng 4.10: Ảnh hưởng của gốc ghép đến tình hình sinh trưởng các lộc Đông của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 45 Bảng 4.11: Mức độ sâu, bệnh hại trên giống cam cành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 46

Trang 6

Bảng 4.12: Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến động thái tăng trưởng chiều cao cây cam sành không hạt LĐ6 47 Bảng 4.13: Ảnh hưởng của phân bón lá và chất KTST đến động thái tăng trưởng đường kính tán của cam sành LĐ6 48 Bảng 4.14: Ảnh hưởng của phân bón lá và chất KTST đến động thái tăng trưởng đường kính gốc của cam sành không hạt LĐ6 49 Bảng 4.15: Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất KTST đến số lượng cành cấp I của cam sành không hạt LĐ6 50 Bảng 4.16: Ảnh hưởng của phân bón lá và chất KTST đến khả năng phân cành cấp

II của cam sành không hạt LĐ6 51 Bảng 4.17: Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến thời gian xuất hiện của các đợt lộc 52 Bảng 4.18: Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến tình hình sinh trưởng của các đợt lộc 53 Bảng 4.19: Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến sâu bệnh hại trên cây cam sành không hạt LĐ6 54

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1: Ảnh hưởng của gốc ghép tới động thái tăng trưởng đường kính tán của cây cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 39 Hình 4.2: Ảnh hưởng của gốc ghép đến động thái tăng trưởng đường kính gốc của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 41

Trang 8

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC BẢNG iii

DANH MỤC HÌNH v

MỤC LỤC vi

Phần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục tiêu của đề tài 2

1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3

Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học 4

2.2 Nguồn gốc và phân loại của cam 6

2.2.1 Nguồn gốc 6

2.2.2 Phân loại cam quýt 7

2.3 Tình hình sản xuất cam trên thế giới và Việt Nam 8

2.3.1 Tình hình sản xuất cam trên thế giới 8

2.3.2 Tình hình sản xuất cam trong nước 12

2.3.3 Các vùng trồng cam trong nước 13

2.3.3.1 Vùng đồng bằng Sông Cửu Long 13

2.3.3.2 Vùng khu IV cũ 15

2.3.3.3 Vùng miền núi phía Bắc 17

2.4 Một số đặc điểm thực vật học của cam quýt 19

2.4.1 Bộ rễ 19

2.4.2 Thân, cành 19

Trang 9

2.4.3 Lá 21

2.4.4 Hoa 21

2.4.5 Quả, hạt 21

2.5 Yêu cầu sinh thái của cam quýt 22

2.5.1 Nhiệt độ 22

2.5.2 Ánh sáng 23

2.5.3 Nước 23

2.5.4 Đất 23

2.5.5 Dinh dưỡng 24

2.6 Một số giống cam 24

2.6.1 Giống cam Valencia 24

2.6.2 Giống cam Sông Con 25

2.6.3 Giống cam Cara ruột đỏ 25

2.6.4 Giống cam Mật 26

2.6.5 Cam sành Hàm Yên 26

2.6.6 Cam V2 26

2.6.7 Cam sành LĐ6 27

2.7 Vai trò của chất kích thích sinh trưởng và phân bón lá đối với cây trồng 27

2.7.1 Vai trò của chất kích thích sinh trưởng đối với cây trồng 27

2.7.2 Vai trò của phân bón lá đối với cây trồng 28

Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1 Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu 30

3.1.1 Đối tượng 30

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30

3.1.2.1 Thời gian nghiên cứu 30

3.1.2.2 Địa điểm nghiên cứu 30

3.1.3 Dụng cụ nghiên cứu 30

3.1.4 Đặc điểm các vật liệu nghiên cứu 30

3.2 Nội dung nghiên cứu 31

Trang 10

3.3 Phương pháp nghiên cứu 31

3.3.1 Bố trí thí nghiệm 31

3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi 33

3.4 Phương pháp xử lý số liệu: 35

Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36

4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép tới khả năng sinh trưởng của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 36

4.1.1 Ảnh hưởng của gốc ghép tới đặc điểm hình thái tán cây giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 36

4.1.2 Ảnh hưởng của gốc ghép tới động thái tăng trưởng chiều cao cây của các giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 37

4.1.3 Ảnh hưởng của gốc ghép tới động thái tăng trưởng đường kính tán cây của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 38

4.1.4 Ảnh hưởng của gốc ghép tới động thái tăng trưởng đường kính gốc của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 40

4.1.5 Ảnh hưởng của gốc ghép tới khả năng phân cành của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 41

4.1.6 Ảnh hưởng của gốc ghép đến tình hình sinh trưởng của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 42

4.1.6.1 Ảnh hưởng của gốc ghép đến thời gian xuất hiện lộc và số lượng lộc của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 42

4.1.6.2 Ảnh hưởng của gốc ghép đến tình hình sinh trưởng các đợt lộc của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 43

4.1.7 Ảnh hưởng của gốc ghép đến tình hình sâu bệnh hại cây cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 45

4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng của cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 47

Trang 11

4.2.1 Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến động thái tăng trưởng chiều cao cây cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên,

tỉnh Yên Bái 47

4.2.2 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất KTST đến động thái tăng trưởng đường kính tán của cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 48

4.2.3 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất KTST đến động thái tăng trưởng đường kính gốc của cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 49

4.2.4 Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến khả năng phân cành của cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 50

4.2.5 Ảnh hưởng của phân bón lá và chất KTST đến khả năng phân cành cấp II của cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 51

4.2.3 Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến thời gian xuất hiện và kết thúc các đợt lộc của cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 52

4.2.4 Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến tình hình sinh trưởng của các đợt lộc của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 53

4.2.5 Ảnh hưởng của chế phẩm phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng đến tình trạng sâu bệnh hại trên cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái 54

Qua bảng 4.19 ta thấy: 55

Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 56

5.1 Kết luận 56

5.2 Đề nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 12

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Cây có múi (Citrus) là loại cây có giá trị dinh dưỡng cao, có hương vị thơm

ngon, được nhiều người ưa chuộng Cây cho quả sớm và có sản lượng cao, năm thứ

ba sau trồng cây đã bắt đầu cho quả, những năm về sau năng suất tăng dần và thời gian kinh doanh kéo dài, nếu chăm sóc tốt cây có thể cho thu hoạch trên 50 năm Cam quýt có nhiều giống chín sớm muộn khác nhau, nên có thể kéo dài thời gian cung cấp quả tươi cho thị trường tới 6 tháng trong năm, mặt khác, quả chín đúng vào dịp Tết Nguyên Đán nên càng có giá trị

Ngày nay đời sống xã hội đã được cải thiện thì nhu cầu con người ngày càng cao Ngoài giá trị về mặt kinh tế, cây ăn quả còn có vai trò quan trọng trong việc cung cấp những giá trị dinh dưỡng cho con người Quả tươi là một phần rất cần thiết trong bữa ăn của mỗi gia đình, tăng khẩu phần quả tươi trong mỗi bữa ăn là mức phấn đấu của nhiều nước có nền kinh tế phát triển Đáp ứng đủ nhu cầu quả tươi trong mỗi bữa ăn hàng ngày là bảo đảm dinh dưỡng và an toàn cho mỗi người

Cam sành là cây ăn quả quan trọng đã gắn với người nông dân tại huyện Lục Yên trong nhiều năm nay, mang lại hiệu quả kinh tế cao cho nhiều hộ nông dân Tuy nhiên, trong một vài năm trở lại đây diện tích cam sành đã giảm mạnh, năng suất thấp, chất lượng kém Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình hình sản xuất hiện nay, trong đó có nguyên nhân giống bị nhiễm một số bệnh nguy hiểm đặc biệt là bệnh greening, quá trình trồng chăm sóc chưa được người dân đầu tư đúng mức dẫn đến cây thiếu dinh dưỡng còi cọc, chất lượng quả kém Nông dân chưa áp dụng tiến

bộ khoa học kỹ thuật nhất là tiến bộ về kỹ thuật lai tạo, nhân giống cam, việc đầu tư chăm sóc còn nhiều hạn chế

Ngoài ra, do đặc điểm của quả cam sành thường có nhiều hạt, đây chính là điều bất lợi cho sản phẩm cam Lục Yên vì rất khó khăn tham gia vào xuất khẩu thị trường thế giới Do đó dù chất lượng khá cao nhưng giá bán cam sành thấp hơn giá bán các loại cam không hạt khác Bên cạnh đó, do đặc điểm cam sành thường chín

Trang 13

tập trung từ tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau, nên giá cam thường hay rớt giá khi vào chính vụ Chính vì vậy người dân tại đây rất cần một giống cam mới có thể trồng kết hợp với cây cam sành để rải vụ thu hoạch và có những hướng dẫn quy trình kỹ thuật cụ thể giúp nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân

Để góp phần khắc phục những tồn tại trên nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trồng cây cam quýt, mở rộng diện tích trồng một số giống cam quýt có năng suất cao và chất lượng tốt phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu của huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép và một số biện pháp kỹ thuật cho giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái”

1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu của đề tài

Xác định ảnh hưởng của gốc ghép và một số loại phân bón lá, chất kích thích sinh trưởng đến khả năng sinh trưởng của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái

1.2.2 Yêu cầu của đề tài

- Nghiên cứu ảnh hưởng của gốc ghép tới khả năng sinh trưởng của giống cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái

- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chất kích thích sinh trưởng tới khả năng sinh trưởng cam sành không hạt LĐ6 tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức đã học trong nhà trường vào nghiên cứu khoa học và trau dồi kiến thức, kinh nghiệm thực tế nắm được cách tiến hành một đề tài nghiên cứu khoa học, biết phương pháp thu thập, xử lý số liệu

và trình bày một báo cáo khoa học

- Là cơ sở để tiến hành nghiên cứu sâu hơn về việc lựa chọn giống cam mới,

áp dụng các biện pháp quy trình kỹ thuật mới phù hợp với điều kiện sản xuất cam tại huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái

Trang 14

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

- Lựa chọn được giống cam thích hợp nhất đối với điều kiện sinh thái của vùng để đưa vào nhân rộng trong sản xuất

- Giúp cho người dân bước đầu tiếp cận các biện pháp kĩ thuật mới trong việc trồng và chăm sóc cây cam nói riêng và cây ăn quả nói chung, góp phần tăng năng suất, chất lượng quả, hạn chế sâu bệnh nâng cao thu nhập cho người làm vườn

Trang 15

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học

Cam quýt được xếp vào loại cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng, ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố nội tại (di truyền) và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai, khí hậu,

Để có cây giống tốt, đạt tiêu chuẩn, chất lượng quả đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng cần phải qua bình tuyển, xét chọn những cây đầu dòng và có kỹ thuật nhân giống phù hợp đạt những tiêu chí riêng như: độ thuần, độ đồng đều, dịch hại, gốc ghép, cành ghép, mắt ghép, cành chiết, bộ rễ, thân, lá… Gốc ghép là yếu tố rất quan trọng trong việc tạo giống Ghép là phương pháp nhân giống theo đó người

ta lấy từ một hoặc nhiều cây mẹ, giống tốt, đang sinh trưởng, những phần như đoạn cành, khúc rễ, mầm ngủ… rồi nhanh chóng và khéo léo lắp đặt vào vị trí thích hợp trên cây khác gọi là cây gốc ghép; sau đó chăm sóc để phần ghép và gốc ghép liền lại nhau, tạo ra một cây mới Trong đó, cây gốc ghép thông qua bộ rễ có chức năng lấy dinh dưỡng trong đất để nuôi toàn bộ cây mới, còn phần ghép có chức năng sinh trưởng và tạo ra sản phẩm Về mặt di truyền, phần ghép sao chép đầy đủ đặc tính di truyền của cây mẹ cần nhân giống Mặc dù sự tác động qua lại giữa gốc ghép và phần ghép sẽ làm cho phần ghép chịu ảnh hưởng ít nhiều của gốc ghép như: tuổi thọ, quá trình phân hóa hoa sớm hay muộn, sinh trưởng mạnh hay yếu, tính chịu hạn, chịu úng, chịu mặn, năng suất và phẩm chất, không di truyền lại cho thế hệ sau,… Gốc ghép càng khỏe, càng thích ứng với điều kiện sinh thái địa phương và tiếp hợp tốt với cành hoặc mắt ghép sẽ cho cá thể ghép có tuổi thọ và sản lượng cao (Bùi Thanh Hà, 2005) [5]

Tùy vào tuổi cây và điều kiện sinh thái nơi trồng trọt, trong chu kỳ sống một năm, cam quýt thường ra 3 - 4 đợt lộc (lộc Xuân, Hè, Thu và Đông) Quá trình ra lộc ở cam quýt có liên quan khá nhiều đến hiện tượng ra quả cách năm và khả năng điều chỉnh cân đối giữa bộ phận dưới mặt đất và bộ phận trên mặt đất, quá trình ra lộc năm nay sẽ là tiền đề cho sự ra hoa kết quả của năm sau Nếu có các biện pháp

Trang 16

kỹ thuật hợp lý để điều khiển quá trình ra lộc sẽ hạn chế hoặc loại bỏ hoàn toàn hiện tượng ra quả cách năm, bồi dưỡng cành mẹ của cành quả năm sau, điều chỉnh cân đối giữa các bộ phận dưới và trên mặt đất, hạn chế sâu bệnh hại, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng của cam quýt Từ cơ sở khoa học này, việc nghiên cứu quá trình ra lộc, mối liên hệ của các đợt lộc trong năm nhằm có thêm các thông tin cơ bản, tiền đề của các biện pháp kỹ thuật là cần thiết

Cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả

Cùng với việc sử dụng phân bón lá, sử dụng chất điều hòa sinh trưởng là một biện pháp kĩ thuật tối ưu cho sự sinh trưởng và phát triển của cây Chất điều tiết sinh trưởng ngày nay đã và đang được sử dụng rộng rãi trong trồng trọt như là một phương tiện điều chỉnh hóa học rất quan trọng đối với nhiều loại đối tượng cây trồng Các ứng dụng như kích thích nhanh sinh trưởng của cây, sự ra hoa của cây, tăng tỷ lệ đậu quả và tạo quả không hạt,… Quả được hình thành sau khi xảy ra quá trình thụ phấn, thụ tinh sau đó hợp tử phát triển thành phôi Phôi sinh trưởng là trung tâm sinh ra các chất kích thích sinh trưởng có bản chất auxin và gibberellin Các chất này khuyếch tán vào bầu và kích thích sự lớn lên của quả Vì vậy, nếu không có quá trình thụ phấn, thụ tinh thì hầu hết hoa sẽ rụng Trong số các hoocmon sinh trưởng thì Gibberellin axít (GA3) có ảnh hưởng lớn, quan trọng đối với các hoạt động sinh lý của cây Vai trò sinh lý quan trọng của Gibberellin đối với cây trồng nói chung là kích thích sự giãn tế bào theo chiều dọc, giúp kích thích sự sinh trưởng kéo dài của các cơ quan, kích thích sự nảy mầm của hạt và củ, ảnh hưởng

Trang 17

đến phân hoá giới tính của các cơ quan sinh sản (ức chế sự phát triển hoa cái, kích thích sự phát triển hoa đực), kích thích sự sinh trưởng của quả

2.2 Nguồn gốc và phân loại của cam

2.2.1 Nguồn gốc

Cam quýt có lịch sử trồng trọt từ lâu đời sau cây nho trong các loài cây ăn quả Đã có nhiều nghiên cứu về nguồn gốc của cam quýt, phần lớn đều nhất trí rằng cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, trải dài từ Ấn Độ qua Hymalaya Trung Quốc vùng quần đảo Philipin, Malaysia, miền Nam Indonesia hoặc kéo dài đến lục địa Úc Những báo cáo gần đây nhận định rằng, tỉnh Vân Nam - Trung Quốc có thể

là nơi khởi nguyên của nhiều loài cam quýt quan trọng, tại đây còn tìm thấy rất nhiều loài cam quýt hoang dại (Trần Như Ý và Cs, 2000) [12]

Cam ngọt (Citrus sisnensis Osbeck), được xác định có nguồn gốc ở miền

Nam Trung Quốc, Ấn Độ và miền Nam Indonesia, sau đó cũng giống như các loài

Citrus medica được mang đến trồng ở châu Âu và Địa Trung Hải, châu Phi vào thế

kỉ 13 đến thế kỉ 17 (Trần Như Ý và Cs, 2000) [12] Giống cam nổi tiếng thế giới

“Washington Navel”, ở Việt Nam vẫn thường gọi là cam Navel được báo cáo là đang đột biến tự nhiên từ 1 giống cam ngọt, giống này được phát hiện ở Brazil, lần đầu tiên trồng ở Úc năm 1928, ở Florida (Mỹ) năm 1835, ở California năm 1970 và

nó trở nên rất nổi tiếng ở Washington (Trần Như Ý và Cs, 2000) [12]

Cam chua ( Citrus aurantium Osbeck) có nguồn gốc ở Đông Nam châu Á, có

khả năng ở Ấn Độ hoặc Nam Trung Quốc Cam chua không ngừng được đưa về hướng Tây, Bắc Phi và Tây Ban Nha ở thế kỷ đầu tiên sau công nguyên vào khoảng

700 năm, liên quan đến sự xâm chiếm của người Ả Rập tới Bắc Phi và Tây Ban Nha (Nguyễn Thế Huấn và Cs, 2005) [7]

Tóm lại, cam quýt có nguồn gốc ở miền Nam châu Á, sự lan trải của cam quýt đến thế giới gắn liền với lịch sử buôn bán đường biển và các cuộc chiến tranh trước đây Cam quýt được di chuyển đến châu Phi từ Ấn Độ bởi các thuyền buôn, di chuyển đến châu Mỹ bởi các nhà thám hiểm và thuyền buôn người Tây Ban Nha và

Bồ Đào Nha (Trần Như Ý và Cs, 2000) [12]

Trang 18

2.2.2 Phân loại cam quýt

Cam quýt thuộc bộ cam quýt (Rutales), họ cam quýt (Rutaceae), được phân chia làm 130 giống (genera) với những đặc điểm chung như cây có mang tuyến dầu

(chủ yếu phân bố ở lá), bầu lọc nối trên đài hoa, lá phần lớn có đỉnh viền răng cưa, quả thảo gồm 2 hay nhiều noãn bên trong, 130 giống này nằm trong họ phụ khác

nhau, trong đó họ phụ hoa hồng (Aurantirideae) là có ý nghĩa nhất Sự phân loại chi tiết hơn dưới họ phụ Aurantirideae có tộc “gần cam quýt”, và nhóm “cam quýt thực sự” (True Citrus group) được phân bố từ Citreace và tộc phụ Citrnae (Trần Như Ý

và Cs, 2000) [12]

Sự phân loại cam quýt khá phức tạp vì có các yếu tố như: có rất nhiều giống

(Cultivars) trong sản xuất và các dạng con lai của giống này (Hybrids), hiện tượng

hạt đa phôi, đột biến và hiện tượng đa bội thể cũng là những nhân tố gây khó khăn cho phân loại cam quýt Hiện nay tồn tại 2 hệ thống phân loại cam quýt được nhiều người áp dụng, theo Tanaka, Nhật Bản (Phạm Văn Côn, 1997) [1] Cam quýt gồm

100 đến 160 loài (Specias) khác nhau, Tanaka quan sát thực tế sản xuất và cho rằng các giống (Cultivars) cam quýt trong quá trình trồng trọt đã biến dị trở thành giống

mới Ông quan sát ghi chép tỷ mỉ đặc điểm hình thái giống đã biến dị này và phân chúng thành một loài mới hoặc giống mới có tên khoa học được bắt đầu bằng tên giống hoặc loài đã sinh ra chúng và kết thúc bằng chữ Horticulturre Tanaka, Swingle đã phân chia cam quýt ra thành 16 loài tuy nhiên, các nhà khoa học vẫn phải dùng bảng phân loại của Tanaka để gọi tên các giống cam quýt vì bảng phân

loại này chi tiết đến từng giống Có 10 loài quan trọng nhất trong nhóm True Citrus

Group và nhóm con lai được liệt kê ở bảng biểu sau và một số nhóm con lai phổ

biến, đây là những loài được trồng phổ biến và có ý nghĩa với con người, có thể được mô tả như sau (Vũ Công Hậu, 2000, Đường Hồng Dật, 2003) [6] [2]

Trang 19

Bảng 2.1: Các loài cam quýt đƣợc trồng thực sự có ý nghĩa trong thực tiễn

1 C.sisnensis Osbeck Sweets Orange Cam ngọt

6 C.aurantiforlia swingle Lime Chanh vỏ mỏng

9 C.paradishi L Pomelo(Grapefruit) Bưởi chùm

(Nguồn: Vũ Công Hậu, 2000) [6]

2.3 Tình hình sản xuất cam trên thế giới và Việt Nam

2.3.1 Tình hình sản xuất cam trên thế giới

Trên thế giới hiện nay có khoảng 140 nước sản xuất cây ăn quả có múi Tuy nhiên, hầu hết sản lượng lại tập trung theo những vùng nhất định Hiện nay có 3 nước sản xuất quả có múi lớn nhất thế giới là Braxin, Mỹ và Trung Quốc, chiếm khoảng 60% tổng sản lượng quả có múi toàn cầu Các thống kê về thị trường tiêu thụ quả tươi cũng cho thấy khoảng 60% sản lượng quả có múi được tiêu thụ dưới dạng quả tươi, 40% còn lại là đưa vào chế biến Sao Paulo (Braxin) và Florida (Mỹ)

là 2 vùng sản xuất cam chủ lực, chiếm khoảng 90% sản lượng nước cam toàn cầu Braxin là nước xuất khẩu quả có múi lớn nhất, chiếm 20% tổng sản lượng quả có múi của thế giới, tiếp theo là Mỹ (14%), Trung Quốc (12%) và Mexico (6%) Quả

có múi được xếp thứ nhất trong số các loại cây ăn quả về giá trị thương mại Quốc

tế Quả có múi được tiêu thụ dưới hai phương thức: quả tươi (chủ yếu là cam) và nước quả (chủ yếu là nước cam) (Nguyễn Thế Huấn và Cs, 2015) [7]

Theo số liệu thống kê của FAO, năm 2014 sản xuất cây ăn quả của toàn thế giới năm 2014 đạt 3.885,97 nghìn ha, năng suất bình quân đạt 18,23 tấn/ha, sản lượng đạt 70.856,36 nghìn tấn

Trang 20

Bảng 2.2: Tình hình sản xuất cây cam trên thế giới từ 2010 - 2014

(nghìn ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

2011 Từ năm 2011 đến 2012 sản lượng giảm 2.374,82 nghìn tấn trong 1 năm Từ năm 2012 trở đi sản lượng tăng nhưng chậm Diện tích giảm nhưng năng suất tăng

là do người dân đã biết áp dụng khoa học kĩ thuật tiên tiến vào sản xuất, năng lực kĩ thuật của người dân được nâng cao

Bảng 2.3: Sản lượng cam, quýt, chanh, bưởi ở các châu lục năm 2014

Trang 21

Châu Á đứng thứ 2 về quýt với 20.345,26 nghìn tấn và đúng đầu về sản lượng chanh với 6.955,39 nghìn tấn Sản lượng cam thấp nhất là châu Âu ( chỉ có 6.291,92 nghìn tấn)

Những năm tới đây theo dự đoán sẽ có hai hướng phát triển về nhu cầu cam quýt, đầu tiên là sự phát triển về nhu cầu cam sẽ chậm lại Một số nước hiện nay đang phải đối phó với hai vấn đề trong sản xuất là bệnh loét (cakel) và hiện tượng

biến vàng trên cam quýt (Citrus varriegatet chlorosis), ngoài ra thu nhập người

trồng cam thấp do giá thành không cao nên diện tích trồng mới sẽ không tăng Hai

là xu hướng sử dụng quả cam tươi đối với các quốc gia phát triển sẽ giảm và công nghiệp chế biến cam sẽ tiếp tục phát triển ở những quốc gia đang phát triển mặc dù thị trường chính vẫn là các nước Bắc Mỹ và châu Âu

Bảng 2.4: Tình hình sản xuất cam ở các châu lục trên thế giới năm 2012 - 2014

Trang 22

Năm 2012 diện tích cam của toàn thế giới là 3821,67 nghìn ha, năng suất trung bình đạt 93,54 tấn/ha, sản lượng đạt 68881,51 nghìn tấn Đến năm 2014 diện tích (3885,97 nghìn ha) và sản lượng đạt cao hơn (70856,36 nghìn tấn) vì năng suất tăng (95,97 tấn/ha) So sánh về diện tích của 5 châu lục, châu Á có diện tích lớn nhất sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và vùng có diện tích nhỏ nhất là châu Đại Dương 19,23 nghìn ha

- Vùng châu Mỹ: các nước sản xuất nhiều như Mỹ, Mexico, CuBa, Costarica, Braxin, Achentina tuy vùng cam, quýt châu Mỹ được hình thành muộn hơn so với vùng khác, song do điều kiện thiên nhiên thuận lợi, do nhu cầu đòi hỏi của nền công nghiệp Hoa Kì đã thúc đẩy ngành cam quýt ở đây phát triển rất mạnh Về năng suất năm 2012 đạt 21,21 tấn/ha, đến năm 2014 năng suất trung bình đạt 20,39 tấn/ha đây

là vùng cam có năng suất cao nhất thế giới

- Vùng châu Á: được khẳng định là quê hương của cam, quýt, hầu hết các nước châu Á đều sản xuất cam quýt Tuy nhiên năng suất bình quân vẫn còn đang ở mức thấp, đó là do điều kiện kinh tế, xã hội của các nước này có những hạn chế nhất định, nghề trồng cam quýt chưa được chú trọng nhiều và đang tồn tại sự pha trộn của kỹ thuật hiện đại như: Nhật Bản, Hàn Quốc và sự canh tác truyền thống của Trung Quốc, Ấn Độ, Philippin tình trạng sâu bệnh hại nhiều nghiêm trọng

Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ của FAO về tình hình sản xuất cam ở một

số nước châu Á năm 2014 như sau:

Bảng 2.5: Tình hình sản xuất cam ở một số nước vùng châu Á năm 2014

Năm 2014 Diện tích

(nghìn ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

Trang 23

Diện tích lớn nhất ở vùng này là Trung Quốc năm 2014 có 480,38 nghìn ha năng suất đạt 16,62 tấn/ha và sản lượng đứng đầu thế giới với 7.986,08 nghìn tấn Đứng thứ 2 là Ấn Độ với diện tích 664,91 nghìn ha, năng suất đạt 11,01 tấn/ha, Indonexia là nước có năng suất cao nhất 39,32 tấn/ha

2.3.2 Tình hình sản xuất cam trong nước

Cam, quýt có lịch sử trồng trọt lâu đời ở nước ta, cho đến nay cam quýt đã được nhiều nhà quan tâm và đã chọn ra được nhiều giống cho năng suất cao, phẩm chất tốt đem trồng ở một số vùng trên cả nước Theo các tác giả Trần Như Ý và cs (2000) cho thấy cây ăn quả có diện tích, sản lượng cao đó là: Chuối, cam, quýt, dứa, xoài trong đó cam, quýt đứng vị trí thứ 2 sau chuối

Từ những năm hòa bình lập lại đến những năm 60 của thế kỉ trước cam quýt

ở Việt Nam còn rất hiếm, cây cam mới chỉ tập trung ở một số vùng chuyên canh như xã Đoài (Nghệ An), Bố Hạ (Bắc Giang) đây là 2 vùng chuyên canh cam có kinh nghiệm, 1 số gia đình cũng đã biết làm giàu từ trồng cam nhưng trên thị trường cam quýt vẫn là một mặt hàng vô cùng quý hiếm

Từ những năm 1960 ở miền Bắc thành lập một loạt các nông trường quốc doanh, trong đó có rất nhiều các nông trường cam quýt như: Sông Lô, Cao Phong, Sông Bôi, Vân Du, Sông Con, Bố Hạ

Thời kì này có khoảng 3000 ha cam quýt và phát triển khá mạnh, sản lượng hằng năm đã đạt vài nghìn tấn, trên thị trường cam quýt đã có giá phải chăng, người dân đã biết hương vị của chúng Năng suất bình quân những năm đó vào khoảng

135 - 140 tạ/ha Thời kì này vùng cam đất đỏ bazan Phủ Quỳ (Nghệ An) đạt bình quân toàn nông trường 220 tạ/ha

Thời kì từ 1975 trở lại đây ở miền Bắc diện tích và sản lượng cam có xu hướng giảm dần, những diện tích được trồng vào thời kì từ 1960 - 1965 thì nay đã già cỗi, sâu bệnh nặng vì vậy đã chuyển sang trồng các loại cây khác hoặc trồng lại Tuy nhiên vào thời điểm đó ở miền Nam diện tích và sản lượng cam quýt lại tăng lên nhất là khu vực tư nhân, các tỉnh có diện tích cam nhiều như Vĩnh Long, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp vào đầu những năm của thế kỉ 21 trở lại đây so những

Trang 24

năm 1975 của thế kỉ trước diện tích, năng suất và sản lượng của cam được tăng lên rất mạnh và dần ổn định

Bảng 2.6: Tình hình sản xuất cam của nước ta giai đoạn 2010 - 2014

2.3.3 Các vùng trồng cam trong nước

2.3.3.1 Vùng đồng bằng Sông Cửu Long

Gồm các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Sóc Trăng và An Giang có vị trí địa lý từ 9°15’ đến 10°30’ vĩ độ Bắc và 105° đến 106°45’ độ kinh Đông Đây là vùng tận cùng phía Nam đất nước thuộc châu thổ sông Cửu Long, địa hình rất bằng phẳng, bằng hoặc cao hơn mực nước biển 3 - 5 m Các yếu tố khí hậu, nhiệt độ lượng mưa, độ ẩm không khí… được phân bố theo 2 mùa trong năm khá rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng

12 đến tháng 4 năm sau và sự phân bố này tương đối ổn định qua các năm

Trang 25

Về chế độ nhiệt: vùng Đồng bằng sông Cửu Long có chế độ nhiệt cao và rất

ôn hòa Nhiệt độ trung bình năm 25,5 - 29,8 °C, tháng nhiệt độ thấp nhất là tháng 12

và tháng 1, nhiệt độ trung bình 24 - 25 °C, nhiệt độ tối thấp trung bình là 21 - 22 °C Tháng nóng nhất là tháng 4, nhiệt độ trung bình 28 - 29 °C, nhiệt độ tối cao không quá 38 - 39 °C Bức xạ nhiệt lớn và ổn định

Về chế độ mưa và độ ẩm: lượng mưa trung bình hàng năm ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long dao động từ 1.300 - 1.600 mm, tập trung vào mùa mưa (90%), chỉ có 10% ở các tháng mùa khô, tháng 11 là mưa ổn định nhất, còn các tháng khác đặc biệt là tháng 7 và tháng 8 số ngày mưa và lượng mưa rất biến động Mùa khô có

2 tháng, tháng 1 và 2 là mưa ít nhất, mỗi tháng chỉ có 2 - 3 ngày Độ ẩm không khí trung bình 83 - 85%, tháng khô hạn nhất độ ẩm không khí còn 75%

Nói chung vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều điều kiện thuận lợi về khí hậu để phát triển sản xuất cây có múi

Lịch sử trồng cam quýt ở Đồng bằng sông Cửu Long có từ lâu đời, ngay từ ngày đầu khai phá vùng đất Nam Bộ Do quá trình lịch sử lâu đời nên người dân ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long có rất nhiều kinh nghiệm trồng trọt, chăm sóc các loại cây ăn quả có múi Chủ yếu là cam quýt được trồng ở các vùng đất phù sa ven sông hoặc trên các cù lao lớn nhỏ của sông Tiền, sông Hậu nông dân thường phải lên liếp trồng cam quýt để tránh mực nước ngầm cao vào những tháng lũ (tháng 9 - 10) Trước đây đa số nông dân nhân giống bằng chiết cành, một số ít nhân giống bằng hạt, song hiện nay họ đã biết áp dụng các kĩ thuật nhân giống tốt hơn bằng cách ghép Đặc biệt trong kĩ thuật chăm sóc, người ta đã biết điều khiển tầng, tán, chiều rộng, chiều cao cây để sử dụng tối đa năng lượng mặt trời, dinh dưỡng khoáng, nước, không khí trong đất, hình thành một sự cân bằng khá hoàn chỉnh trong môi trường sinh thái vùng đồng bằng

Ở đây cũng có tập đoàn loài cam quý rất phong phú như: cam chanh, cam sành, bưởi, chanh giấy, quýt… Theo Grawfurd, cam của Nam Bộ quả lớn, hương vị thơm ngon vượt xa loại cam mang từ Trung Quốc vào cùng mùa quýt Tiều (hay quýt Hồng), quýt Xiêm, quýt Đường, bưởi Đường, bưởi Năm Roi, bưởi Long

Trang 26

Tuyền… năng suất của các giống trên ở điều kiện khí hậu, đất đai ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long tương đối cao

Cam quýt được phát triển nhiều và mạnh ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, ngoài yếu tố khí hậu, đất đai thuận lợi còn do cam quýt có giá trị hiệu quả kinh tế rất cao so với các loại cây trồng khác

Số liệu điều tra của Trường Đại học Cần Thơ tháng 12/1992 cho thấy lãi thuần trên 1 ha quýt là 82,4 triệu đồng, cam đạt 54,6 triệu đồng, chanh 43,7 triệu và bưởi 21 triệu đồng

Nhìn chung, vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nhiều ưu thế về điều kiện khí hậu nhất là chế độ nhiệt ổn định, ôn hòa, khả năng mở rộng diện tích cam quýt còn lớn, có tập đoàn giống phong phú, đa dạng, nhiều giống hiện tại được coi là những giống tốt, cho năng suất cao, cho hiệu quả kinh tế lớn

Tuy nhiên, vùng Đồng bằng sông Cửu Long còn có những hạn chế nhất định,

đó là:

- Chế độ nhiệt ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long cao, ôn hòa trong suốt cả năm cho sinh trưởng của cam quýt, song do không có mùa Đông lạnh, biên độ nhiệt ngày đêm những tháng quả chín ngắn, nên khả năng hình thành các sắc tố anthoxyan ở vỏ cam quýt kém, mã quả xấu, khi chín vỏ quả vẫn còn xanh, cần phải

có công nghệ degreening sau thu hoạch thì quả mới có mã đẹp Cũng do nhiệt độ cao, nên quả thường nhiều hạt, tỷ lệ xơ bã cao, vách múi dai

- Đất phù sa là loại đất tốt thích hợp với cam quýt, sống ven các sông Tiền, sông Hậu hoặc các cù lao mạch nước ngầm cao gây cản trở tới việc ăn sâu của rễ cam quýt và ảnh hưởng tới tuổi thọ của chúng

- Sâu bệnh sẽ phát triển rất nhanh, do vậy chi phí cho công tác bảo vệ thực vật, phòng trừ sâu bệnh rất tốn kém

2.3.3.2 Vùng khu IV cũ

Gồm các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh trải dài từ vĩ độ 18 đến 20°30’

vĩ độ Bắc Trọng điểm trồng cam quýt vùng này là vùng Phủ Quỳ - Nghệ An, gồm một cụm gồm các nông trường chuyên trồng cam, với diện tích năm 1990 là 1.600

Trang 27

ha Đây là vùng trồng cam tập trung có ưu thế về tiềm năng đất đai, đặc biệt là kinh nghiệm sản xuất vì có đội ngũ đông đảo cán bộ công nhân được đào tạo chuyên nghiên cứu và sản xuất cây có múi

Vùng Phủ Quỳ nằm ở phía Tây Bắc thuộc tỉnh Nghệ An, từ vĩ độ 19°09’ đến 19°30’ vĩ độ Bắc và 105°24’ độ kinh Đông, thuộc địa phận huyện Nghĩa Đàn và một phần huyện Quỳ Hợp Diện tích tự nhiên 730.000 ha, trong đó đất đỏ bazan chiếm hơn 40%, ngoài ra còn có các loại đất khác như: Feralit đỏ vàng phát triển trên đá phiến (gần 30%), đất đá vôi, đất phù sa không được bồi hàng năm… cũng là những loại đất trồng cam quýt tốt Là vùng đồi núi, nhưng phần lớn diện tích đất có

độ dốc từ 3 - 6° rất thuận lợi cho trồng cam quýt và các cây trồng lâu năm khác

Về điều kiện khí hậu: do ảnh hưởng của 2 loại gió mùa Đông - Bắc (gió lạnh) và Tây - Nam (gió nóng), nên khí hậu vùng Phủ Quỳ phân thành 4 mùa rõ rệt: Xuân, Hạ, Thu, Đông Nhiệt độ trung bình trong các tháng mùa Đông vùng Phủ Quỳ từ 15 - 17 °C Nhiệt độ tối thấp trong tháng lạnh nhất (tháng 1) xuống tới 2 °C

Số ngày có nhiệt độ thấp dưới 10 °C ở Phủ Quỳ thường có tới 10 ngày Đây là một hạn chế lớn đối với vùng sinh trưởng của cam quýt Ngược lại về mùa hè do ảnh hưởng của gió Tây - Nam nên khí hậu rất khô và nóng Nhiệt độ trung bình trong các tháng mùa nóng từ 27 - 30 °C, nhiệt độ tối cao trung bình là 33 - 33,6 °C Nhiệt

độ tuyệt đối cao trong tháng nóng nhất (tháng 7) lên tới 42 °C Lượng mưa ở vùng Phủ Quỳ xấp xỉ 1.600 mm/năm, nhưng phân bố không đều, tập trung chủ yếu vào mùa nóng, gây hiện tượng xói mòn đất, trong khi các tháng mùa Đông lại ít mưa, lượng bốc hơi lớn, gây hiện tượng hanh khô thiếu nước

Do những hạn chế về mặt khí hậu, thời tiết cho nên mặc dù có nhiều ưu thế

về mặt đất đai và trình độ khoa học kĩ thuật, song sản xuất cam ở vùng Phủ Quỳ vẫn thường không ổn định

Vấn đề đặt ra ở vùng sản xuất cam ở vùng Phủ Quỳ là cần phải đầu tư thâm canh, áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật mới, để hạn chế được những tác hại do thời tiết, khí hậu sinh ra Mặt khác, việc thay đổi cơ cấu giống cũng rất cần thiết, bởi

Trang 28

vì từ trước tới nay vùng Phủ Quỳ sản xuất cam là chính Ít chú ý tới các loại khác trong họ cam (Bùi Huy Đáp, 1960) [4]

2.3.3.3 Vùng miền núi phía Bắc

Gồm các tỉnh nằm trong dải vĩ độ từ 22 - 23 vĩ độ Bắc như: Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn và Thái Nguyên, điều kiện khí hậu hoàn toàn khác với 2 vùng kể trên

Về điều kiện khí hậu, do vị trí địa lí nằm sát vành đai á nhiệt đới, lại có địa hình đồi núi và độ cao so với mặt nước biển tương đối cao, cho nên điều kiện khí hậu có mùa Đông lạnh và mùa Hè tương đối nóng Nhiệt độ trung bình năm khoảng

21 - 22 °C, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất (tháng 1) từ 14 - 15 °C, nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất (tháng 7) từ 27 - 28 °C Tuy nhiên do ảnh hưởng của địa hình ở mỗi tỉnh và mỗi địa phương trong tỉnh khác nhau cũng gây nên sự biến đổi phức tạp về điều kiện khí hậu Đây là một trong những khó khăn đối với việc bố trí

cơ cấu giống cây trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc

Lượng mưa trung bình ở các tỉnh miền núi phía Bắc từ 1.600 - 1.800 mm Riêng trung tâm Bắc Quang lượng mưa rất lớn từ 2.500 - 3.200 mm Tuy nhiên, sự phân bố của mưa không đều, lượng mưa phần lớn tập trung vào các tháng mùa nóng

từ tháng 5 đến tháng 10, các tháng khác lượng mưa không đáng kể Đặc biệt ở miền núi phía Bắc (trừ vùng Đông Bắc) ít bão và chỉ bị ảnh hưởng của bão (Bùi Huy Đáp, 1960) [4]

Đất đai rất đa dạng, gồm các loại đất Feralit phát triển trên đá biến chất như:

Đá Gơnai, đá vôi, phiến thạch sét, phiến thạch mica, đất phù sa cổ, phù sa không được bồi ven các sông suối, đất dốc tụ do quá trình rửa trôi xói mòn tạo thành…

Địa hình phức tạp, chia cắt, độ dốc lớn Phần lớn độ dốc từ 10° trở lên, những đất có độ dốc < 10° thích hợp trồng cây ăn quả thâm canh thường diện tích nhỏ, phân tán

Nhìn chung, điều kiện tự nhiên, khí hậu, đất đai các tỉnh miền núi phía Bắc thích hợp với trồng cây ăn quả có múi Trên thực tế, cam quýt đã là một cây trồng phổ biến ở các tỉnh miền núi phía Bắc Cam quýt được trồng ở những vùng đất ven

Trang 29

các sông, suối như: sông Hồng, sông Lô, sông Gâm, sông Thương, sông Chảy… được trồng thành từng khu tập trung 500 ha hoặc 100 ha như Bắc Sơn (Lạng Sơn); Bạch Thông (Bắc Kạn); Hàm Yên, Chiêm Hóa (Tuyên Quang); Bắc Quang (Hà Giang)… tại những vùng này cam quýt trở thành nguồn thu nhập chính của các hộ nông dân, đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất so với các loại cây trồng khác trên cùng loại đất (Bùi Huy Đáp, 1960) [4]

Có thể nói, vùng núi các tỉnh phía Bắc cũng là tiềm năng phát triển cam quýt lớn, đặc biệt có ưu thế về điều kiện khí hậu, khả năng mở rộng diện tích và tập đoàn giống phong phú, đa dạng

Khí hậu ở miền núi các tỉnh phía Bắc, ngoài thích hợp với sinh trưởng phát triển bình thường của cam quýt, còn có ưu thế nổi bật so với vùng đồng bằng sông Cửu Long là có mùa Đông lạnh, biên độ nhiệt ngày đêm và giữa các tháng chênh lệch lớn làm cho quả cam quýt dễ phát mã, thể hiện đúng đặc trưng của giống, vì vậy mã quả cam quýt ở phía Bắc bao giờ cũng đẹp hơn ở phía Nam, quả ít hạt hơn, mọng nước và ít xơ bã

Hạn chế cơ bản của việc phát triển cam quýt ở vùng miền núi phía Bắc là: + Địa bàn phân tán, ít có vùng tập trung lớn như vùng Phủ Quỳ - Nghệ An hoặc vùng Đồng bằng sông Cửu Long Mới chỉ có một số vùng tương đối tập trung trồng nhiều cam quýt đó là: Bắc Sơn (Lạng Sơn) - khoảng trên 500 ha, Hàm Yên (Tuyên Quang) - trên 2000 ha; Bắc Quang (Hà Giang) - trên 2000 ha

+ Địa hình dốc, giao thông đi lại khó khăn, hạn chế nhiều đến việc mở rộng vùng sản xuất cam làm hàng hóa

+ Việc áp dụng khoa học kĩ thuật mới vào sản xuất gặp nhiều khó khăn do trình độ dân trí còn thấp, tính thích ứng với nền kinh tế hàng hóa còn chậm

Sản xuất chủ yếu theo lối kinh nghiệm, thường chỉ độc canh một giống, nên dễ bị ứ đọng sản phẩm, sâu bệnh phát sinh gây hại nhiều, công tác tuyển chọn nhân giống chưa được chú trọng dẫn đến sự thoái hóa giống, phẩm chất ngày càng xuống cấp

Trang 30

Khắc phục những trở ngại trên, phát huy thế mạnh của các tỉnh miền núi phía Bắc về điều kiện tự nhiên khí hậu để sản xuất hàng hóa quả có múi, chỉ có thể làm từng bước và bắt đầu từ việc nghiên cứu, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới, đặc biệt

là những tiến bộ kỹ thuật về giống vào những vùng sản xuất có kinh nghiệm, trên cơ

sở đó phát triển ra các vùng khác

2.4 Một số đặc điểm thực vật học của cam quýt

2.4.1 Bộ rễ

Nhìn chung cam quýt có bộ rễ ăn nông Theo Ekimop (Nga) thì biểu bì của

rễ non có nấm cộng sinh Nấm có tác dụng tốt cho rễ cam quýt như vai trò của lông hút với các cây trồng khác Sự phân bố của rễ cam quýt phụ thuộc vào đặc tính của giống, mực nước ngầm, chế độ canh tác, chăm bón, nhưng nhìn chung rễ cam quýt

ăn nông từ 0 - 30 cm Bộ rễ cam quýt hoạt động mạnh vào 3 thời kì:

+ Trước khi ra cành Xuân (từ tháng 2 - 3)

+ Sau khi rụng quả sinh lý đợt đầu đến lúc cành Hè xuất hiện ( tháng 6 - 8) + Sau khi cành Thu đã sung sức (tháng 10) (Trần Như Ý và cs, 2000) [12]

* Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ rễ

+ Nhiệt độ: Thích hợp nhất là trên dưới 26 °C, nhiệt độ thấp nhất là 12 °C và cao tới 37 °C thì rễ ngừng hoạt động

- Một năm cam quýt ra nhiều đợt cành:

+ Cành Xuân ra vào tháng 2, 3, 4 là cành mang hoa và quả, cành thường ngắn, mật độ lá dày thích hợp để lấy mắt ghép, ghép vào mùa Thu

Trang 31

+ Cành Hè được mọc ra từ cành Xuân cùng năm thường ra vào tháng 5 - 7 + Cành Thu mọc vào tháng 8 - 9 phát sinh ra chủ yếu từ cành Xuân và cành

Hè cùng năm

+ Cành Đông mọc vào tháng 11 - 12 thường sinh ra trên cành quả

- Cành cam quýt được chia ra làm 3 loại:

+ Cành mẹ: là cành sinh ra cành quả Nó có thể là cành Xuân, Hè, Thu năm trước Qua theo dõi cho thấy tùy theo giống, thường cành Thu hoặc cành Hè làm cành mẹ thì số cành quả nhiều và tỷ lệ đậu quả cao

+ Cành dinh dưỡng cành không ra hoa, quả, chỉ có lá xanh, có nhiệm vụ là quang hợp, thực ra giữa cành mẹ và cành dinh dưỡng không có giới hạn rõ, năm nay

là cành dinh dưỡng, sang năm có thể là cành mẹ Thuộc loại cành dinh dưỡng có một loại cành đặc biệt thường mọc vào mùa Hè đó là “cành vượt” Cành này mọc từ trong thân chính đâm thẳng ra, dài 30 cm đến 1,5 m, có gai dài và to, đốt lá dài, lá to màu xanh nhạt Khi còn nhỏ có thể lợi dụng loại cành này để tạo tán hoặc khi cây già yếu cần phục tráng cho cây Còn đối với cam kinh doanh thì cắt bỏ tránh cho cây khỏi rụng quả và bớt sâu bệnh

+ Cành quả: tùy giống cam quýt mà cành quả có độ dài từ 3 - 25 cm, thông thường từ 3 - 9 cm Cành quả có lá thường đậu quả tốt hơn cành quả không có lá Cành quả phần lớn ra trong mùa Xuân (Trần Như Ý và Cs, 2000) [12]

Đối với cam quýt nói riêng và nhóm cây ăn quả nói chung hiện tượng ra quả cách năm là một trong những hiện tượng thường xuyên xảy ra xen kẽ nhau giữa các thời vụ gây thiệt hại cho người nông dân trong khi thu hoạch như thừa sản phẩm, bị

ép giá, thiếu sản phẩm không có bán… để khắc phục hiện tượng ra quả cách năm này các nhà khoa học cũng đã khuyến cáo tới người nông dân một số biện pháp Cắt tỉa hợp lý khống chế được lượng cành Hè và cành Thu hàng năm Tỉa hoa quả nhất

là những năm sai quả, thu hái quả sớm đối với những năm sai quả đầu tư phân bón hợp lí (năm nào sai quả thì bón tăng lên bón nhiều lần hơn để thỏa mãn nhu cầu dinh dưỡng của cây) Phòng trừ sâu bệnh hại giữ cho bộ lá được phát triển tốt

Trang 32

2.4.3 Lá

Theo quan điểm tiến hóa thì cam quýt vốn có lá kép: dấu vết còn lại là eo lá dưới gốc lá đơn Eo lá là một đặc điểm để phân biệt các giống Tuổi thọ của lá thay đổi tùy theo điều kiện khí hậu và điều kiện dinh dưỡng của cây Ở Việt Nam trung bình tuổi thọ của lá là 15 - 24 tháng, ở vùng á nhiệt đới có thể dài hơn Những lá hết thời kì sinh trưởng sẽ rụng rải rác trong năm, ở nước ta thường rụng nhiều vào mùa Đông Tùy theo giống và tùy theo mùa, lá có thể khác nhau về hình dạng, độ lớn, màu sắc, mật độ không khí, mật độ túi tinh dầu… Lá có quan hệ chặt chẽ với sản lượng, nhất là với khối lượng quả Theo nghiên cứu trên cam Washington Navel (Mỹ) thấy: Nếu có 10 lá/quả thì quả nặng 70 g, nếu có 35 lá/quả thì quả nặng 120 g, nếu có 50 lá/quả thì quả nặng 180 g (Trần Như Ý và Cs, 2000) [12]

2.4.4 Hoa

- Hoa cam quýt có công thức hoa là: K5C5A20 - 40G(8 - 15), là loại hoa đầy đủ, hoa thường ra đồng thời với cành non và thường ra rõ Một cây cam có thể nở tới 60.000 hoa nhưng chỉ có 7% đậu quả là có thể đạt sản lượng 100 kg/cây Hoa cam quýt là hoa lưỡng tính, thông thường tỷ lệ đậu quả của cam quýt dao động trong khoảng 3 - 11 % (Trần Như Ý và Cs, 2000) [12]

- Hoa cam quýt cơ bản được phân chia làm 2 loại:

+ Hoa phát dục đầy đủ: Hoa có đầy đủ đài hoa, tràng hoa, nhị hoa, nhụy hoa

và bầu hoa

+ Hoa dị hình: Những hoa có các bộ phận phát triển không đầy đủ những hoa này ít có khả năng đậu quả

2.4.5 Quả, hạt

* Quả cam quýt thuộc loại quả mọng có múi

Cấu tạo quả gồm 2 phần: vỏ ngoài và vỏ giữa

- Phần vỏ ngoài: gồm lớp biểu bì trên là biểu bì của tử phòng do các tế bào

có chất sừng dày hình thành xen kẽ có các khí khổng

- Phần vỏ giữa gồm 2 lớp: lớp sắc tố và lớp trắng

Trang 33

+ Lớp sắc tố do mấy chục tầng tế bào chứa nhiều sắc tố hợp thành một lớp mỏng Khi quả còn xanh nhờ diệp lục mà quả có thể quang hợp được Khi quả già

và chín thì quả có màu vàng hoặc đỏ

+ Lớp trắng dưới lớp sắc tố là lớp trắng (lớp cùi) lớp này có thể màu trắng, màu vàng hoặc hồng nhạt, độ dày của lớp trắng thay đổi tùy giống

Sự phát triển của quả trải qua hai đợt rụng quả sinh lý:

- Đợt 1: sau khi ra hoa khoảng 1 tháng (tháng 3, 4) quả còn nhỏ khi rụng mang theo cả cuống

- Đợt 2: quả đạt đường kính 3 - 4 cm (cuối tháng 4) quả rụng không mang cuống Sau 2 đợt rụng quả sinh lý này, quả lớn nhanh, tốc độ trung bình 0,5 - 0,7 mm/ngày

Quả lớn lên được là do có sự kích thích của các chất kích thích sinh trưởng, chất này được tạo ra từ vách tử phòng hoặc từ hạt Việc bổ sung thêm chất kích thích sinh trưởng (NAA, IAA, GA3…) cho cây khi đang hình thành quả có thể nâng cao tỷ lệ đậu quả

- Hạt: tùy theo giống mà có sự khác nhau về kích thước, số lượng màu sắc và phôi hạt, các loại quả có múi phần lớn là hạt đa phôi, riêng bưởi là hạt đơn phôi (Trần Như Ý và Cs, 2000) [12]

2.5 Yêu cầu sinh thái của cam quýt

2.5.1 Nhiệt độ

Cây cam quýt có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm, vì vậy chúng ưa khí hậu ấm, nhưng do phạm vi phân bố rộng, cho nên một số loài chịu được nhiệt độ thấp Phần lớn cam quýt sinh trưởng trong phạm vi nhiệt độ 12 - 39 °C, sinh trưởng tốt ở nhiệt độ 23 - 29 °C Một số loài có thể chịu được nhiệt độ - 5 °C trong thời gian ngắn Những giống thích ứng với điều kiện nhiệt độ thấp thường có phẩm vị ngon, hấp dẫn, mã quả đẹp Ở nhiệt độ 40 °C với thời gian kéo dài nhiều ngày, cây ngừng sinh trưởng, lá rụng, cành khô héo Ở Việt Nam trừ một số vùng có sương muối kéo dài, còn các vùng khác đều có thể phù hợp với cây cam (Trần Như Ý và

Cs, 2000) [12]

Trang 34

2.5.2 Ánh sáng

Cam quýt là cây ưa ánh sáng tán xạ, nơi có cường độ ánh sáng từ 10.000 - 15.000 lux, tương ứng với 0,6 cal/cm2 ứng với ánh sáng lúc 8 - 9 giờ sáng và 4 - 5 giờ chiều hoặc những ngày trời quang mây mùa Hè Tuy nhiên để có được lượng ánh sáng như vậy chúng ta cần bố trí mật độ hợp lý như không quá dày cũng không quá thưa, vườn cam quýt nhất thiết phải bố trí nơi thoáng, có thể trồng cây chắn gió đồng thời có tác dụng che bớt ánh sáng để có ánh sáng trực xạ vào những ngày trời nắng gắt, khi đủ ánh sáng cây sinh trưởng, phát triển tốt, ít sâu bệnh

2.5.3 Nước

Cam, quýt là giống cây ăn quả có đặc tính ưa ẩm và kém chịu hạn Phần lớn các loài có nhu cầu nước cao vào thời kì nảy mầm, phân hóa mầm hoa, kết quả và quả phát triển Cam, quýt ưa ẩm nhưng lại rất sợ úng, vào mùa mưa, đất bão hòa nước nên thiếu oxy làm cho bộ rễ hoạt động kém, nhiều rễ bị chết, thối làm cho lá

và quả non rụng nhiều, giảm tỷ lệ đậu quả Lượng mưa thích hợp cho từng vùng trồng cam quýt là 2000 mm/năm Thích hợp cho cam, quýt là lượng nước tự do trong đất là 1%, độ ẩm ở mức 60% độ ẩm bão hòa đồng ruộng Độ ẩm không khí thích hợp là 75 - 80% Thời kỳ quả đang phát triển, độ ẩm không khí cao làm cho quả lớn nhanh, phẩm chất quả tốt, mã quả đẹp Nhưng vào tháng 8 - 9 độ ẩm cao thường gây ra hiện tượng quả nứt, một số quả bị rụng Nếu đủ ẩm trong mùa hè và hạn nhẹ từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau hoa quả sẽ phân hóa nhiều Tháng 3 - 4 khô hạn làm giảm số lượng quả trên cây Cam, quýt sinh trưởng tốt khi có độ ẩm và lượng nước đạt theo yêu cầu và phân bố đều các tháng trong năm (Đường Hồng Dật, 2003, Nguyễn Thị Minh Phương, 2007) [2] [8]

2.5.4 Đất

Đất trồng cam quýt tốt nhất là đất phù sa cũ, đất thịt nhẹ, tầng đất dày, nhiều mùn, pH = 6,0 - 7,0, mực nước ngầm thấp Tránh trồng trên đất sét hoặc đất có mực nước ngầm cao

Tóm lại, cam quýt có thể sinh trưởng, phát triển tốt ở khắp các miền sinh thái

ở Việt Nam, nhưng tốt nhất là khí hậu các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam

Trang 35

+ Lân rất cần cho quá trình phân hóa mầm hoa Thiếu lân cành lá sinh trưởng kém, lá rụng nhiều, rễ không phát triển được Lân có tác dụng làm giảm hàm lượng axit trong quả, nâng cao tỷ lệ đường/axit làm cho hương vị quả thơm ngon, giảm hàm lượng vitamin C, vỏ quả mỏng, trơn, lõi quả chặt không rỗng, màu sắc quả hơi kém nhưng chuyển mã nhanh

+ Kali rất cần cho cam, quýt khi cây ra lộc non vào thời kì quả phát triển mạnh Kali có ảnh hưởng lớn đến năng suất và phẩm chất quả Cây được bón đủ kali quả to, ngọt, chóng chín, chịu đựng cao trong khi cất giữ và vận chuyển Tuy nhiên nếu thừa kali trong lá, trong cây thì cành lá sinh trưởng kém, đốt ngắn, cây không lớn được Trong đất nếu có nhiều kali sẽ ngăn trở quá trình hấp thu Ca, Mg làm cho quả tuy to nhưng mã xấu, vỏ dày, thịt quả thô

+ Magiê có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây có múi Các nguyên tố vi lượng khác nhau B, Fe, Cu, Zn, Mn… ít nhiều ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất quả Tùy thuộc vào loại đất, mức độ thiếu hụt của các nguyên tố vi lượng nói trên mà mức độ ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng quả nhiều hay ít Bón đầy

đủ phân chuồng và phân hữu cơ có thể khắc phục được tình trạng thiếu các nguyên

tố vi lương trong đất

2.6 Một số giống cam

2.6.1 Giống cam Valencia

Có nguồn gốc từ Mỹ, cây phân cành ngắn, tán hình cầu hay ô van Lá gồ ghề,

eo lá lớn, có màu xanh đậm, phản quang Cành ít gai Quả to, có khối lượng trung bình đạt 190 - 250 g/quả, vỏ quả mỏng, vàng đẹp với độ dày trung bình 3 mm, lõi

Trang 36

quả vàng ươm, hàm lượng nước cao, ít hạt, tỷ lệ xơ thấp Quả có từ 9 - 12 múi, tép nhỏ mịn, vàng đậm, nhiều nước, vị ngọt thanh, thơm, rất thích hợp cho ăn tươi cũng như chế biến nước quả Cam Valencia là giống chín muộn vào tháng 1, 2 năm sau (dịp tết Nguyên đán) và có khả năng giữ quả trên cây tới 2 tháng sau khi quả đã chín Năng suất quả cao, trong giai đoạn cho năng suất ổn định, năng suất đạt từ 18

- 22 tấn/ha Có thể trồng giống cam này ở các vùng miền núi, đồng bằng và đồng bằng ven biển Ở vùng đồng bằng sông Hồng, giống này hay bị nhiễm bệnh chảy gôm Hiện tại giống này được trồng nhiều ở tỉnh Hòa Bình, Nghệ An

2.6.2 Giống cam Sông Con

Mang tên con sông vùng xứ Nghệ, giống cam này được tạo ra bằng phương pháp chọn lọc từ một giống nhập nội Có thể là do dạng đột biến mầm của cam Washington Navel Cây sinh trưởng khỏe, tán hình cầu, phân cành nhiều, cành ngắn

và tập trung Giống cam này có lá bầu, gân phía lưng nổi rõ, hoa màu xanh bóng, có phản quang, hoa bất dục đực 50% Khối lượng quả trung bình đạt 200 - 220 g, hình cầu, mọng nước, vỏ quả mỏng, ít hạt, ngọt đậm và thơm Cây ghép sau 3 năm cho quả, sau 4 năm có thể đưa vào kinh doanh khai thác Cây chiết hoặc cây từ giâm cành sau 3 năm cho quả Giống cam Sông Con cho năng suất trung bình, có khả năng chống chịu được một số sâu bệnh và có tính thích ứng rộng nên đã được trồng

ở nhiều vùng như trung du, đồi núi, ven biển và vùng đồng bằng Cam Sông Con còn được trồng phổ biến khắp các vùng trong cả nước

2.6.3 Giống cam Cara ruột đỏ

Cam Cara ruột đỏ không hạt là một giống cây có múi nhập nội có xuất xứ từ vùng Valencia (Venezuela), du nhập qua Mỹ, sau đó đến Úc Cây cam Cara ruột đỏ sinh trưởng phát triển khá, phân cành đều Cây 3 năm tuổi đạt chiều cao trung bình 2,2 m, tán lá trung bình đạt 2,3 m Lá cam Cara ruột đỏ hình ô van cong đều và phồng ở bản lá Cây cam Cara ruột đỏ cho thu hoạch lứa quả đầu từ năm thứ ba sau trồng, trung bình 70 quả/cây Quả hình cầu dài hay ô van, vỏ quả dày khoảng 3,1

mm, trọng lượng trung bình 200 g/quả Vỏ quả khi chín chuyển dần từ màu xanh sang màu vàng, màu da cam, nhẵn bóng, lớp vỏ trung bình, dễ bóc Cam Cara có vị

Trang 37

ngọt dịu đặc biệt, vị chua nhẹ, hương thơm của cam ruột đỏ dễ làm người ta liên tưởng đến hương bưởi

Khối lượng quả trung bình 150 - 270 g, chất lượng quả ngon, thịt quả màu vàng tươi, dày vỏ từ 3,5 - 4,0 mm, tỉ lệ nước quả 36 - 52%, độ Brix 8 - 10%, acid tổng số 0,5 - 0,6 g/100 ml dịch quả, hàm lượng vitamin C 30 - 32 mg/100 ml dịch quả, năng suất khá cao (20 - 30 kg/cây/năm ở cây 4 - 5 năm tuổi) Cây có khả năng thích nghi với điều kiện Đồng bằng sông Cửu Long và vùng cao (ở tỉnh Lâm Đồng)

2.6.5 Cam sành Hàm Yên

Cây cam sành được trồng từ lâu đời trên đất Hàm Yên Quả to trung bình

180 - 200 g, chứa trên 10% hàm lượng đường, hàm lượng vitamin C từ 40 - 90 mg/100 g cam tươi, vỏ dày thô, sần sùi, màu sắc vỏ quả và thịt quả đẹp, vị quả ngọt đậm, ít xơ, nhiều hạt, chín muộn vào dịp tết (tháng 12 - tháng 1 năm sau)

2.6.6 Cam V2

Giống cam V2 được chọn tạo từ giống Valencia Olinda, là giống cam mới cho năng suất và chất lượng vượt trội Vùng thích hợp nhất với giống cam V2 là các tỉnh miền Bắc từ Nghệ An trở ra, cần nghiên cứu thêm khả năng phát triển ở Tây Nguyên Cam V2 là giống cam ngọt, chín muộn, có thời vụ thu hoạch từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, thu hoạch tập trung vào dịp tết, khả năng thích nghi rộng, kháng bệnh tốt, cây sinh trưởng phát triển tốt, phân cành đều, cây cân đối, khả năng

ra hoa đậu quả cao Quả gần như không hạt, dễ bảo quản và bảo quản được lâu trên cây, thành phần và chất lượng nước cao Quả to, vỏ mỏng, vàng đẹp với độ dày trung bình 3 mm, lõi quả vàng ươm, số múi trung bình trên quả là 11, hàm lượng

Trang 38

nước cao, tỉ lệ sơ thấp, chất lượng thơm ngọt đậm ít hạt Khả năng chống bệnh tốt

so với các giống cam hiện có trong nước (Nguyễn Thế Huấn và Cs, 2015) [7]

2.6.7 Cam sành LĐ6

Có nguồn gốc từ Viện cây ăn quả miền Nam, từ dòng cam Sành (CS8) có số lượng 10 - 23 hạt/quả, được chiếu xạ tại Viện Nghiên cứu hạt nhân, sử dụng nguồn chiếu xạ: Co60, liều chiếu xạ 5,0 krad Kết quả đã tạo ra được một dòng dòng cam Sành không hạt bằng chiếu xạ đột biến sử dụng tia gamma trên mầm ngủ có các đặc tính nổi trội: có tỉ lệ hạt phấn bất dục cao (70%), số hạt/quả thấp < 2 hạt/quả ổn định trong tất cả các quả ở tất cả các cây (khảo sát từ năm 2002 - 2010), thịt quả màu vàng cam, sáng đẹp, vỏ quả ít sần và bóng hơn so với cam sành trong sản xuất, khối lượng quả trung bình 237 g, nước quả nhiều (> 40%), vị ngọt chua, mùi thơm đặc trưng giống như cam sành thương phẩm; năng suất khá cao (20 - 25 kg/cây/năm, cây 3 năm tuổi)

2.7 Vai trò của chất kích thích sinh trưởng và phân bón lá đối với cây trồng

2.7.1 Vai trò của chất kích thích sinh trưởng đối với cây trồng

- Các chất điều tiết sinh trưởng có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh quá trình sinh trưởng, phát triển và các hoạt động sinh lý của cây trồng Căn cứ vào hoạt tính sinh lý của các chất điều tiết sinh trưởng, các nhà khoa học đã phân thành

2 nhóm chất là các chất kích thích sinh trưởng và các chất ức chế sinh trưởng Các chất kích thích sinh trưởng như GA3, IAA, IBA… có tác dụng kéo dài chiều cao cây, kéo dài chiều dài cành hoa, tăng số cành nhánh, tăng kích thước hoa Các chất

ức chế sinh trưởng như CCC, B9, MH … có tác dụng giảm chiều cao cây nhưng làm tăng đường kính thân Vì vậy, chất điều tiết sinh trưởng thực vật ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp nói chung và trong sản xuất cây

ăn quả nói riêng

Trang 39

+ Điều khiển sự ra hoa: sự ra hoa của cây trồng nói chung và cây ăn quả nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ánh sáng, nhiệt độ, tương quan sinh trưởng, phát triển, hàm lượng các chất điều tiết sinh trưởng… xét cho cùng thì các ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh như: ánh sáng, độ ẩm và nhiệt độ không khí đều ảnh hưởng đến các vật chất xúc tiến ra hoa của cây Trong đó các phytohoocmon đóng vai trò rất quan trọng

+ GA3 có tác dụng tăng trưởng tế bào theo chiều dọc của cây và lá, kích thích hạt hoặc củ nẩy mầm đâm chồi sớm, đồng bộ và khỏe hơn GA3 cũng có hiệu quả tăng chiều cao đối với gốc ghép, có thể dùng với những gốc ghép hình tháp GA3 và chất đối kháng với GA3 là CCC được sử dụng rộng rãi để xúc tiến sự ra hoa Chất GA3 có tác dụng kích thích rõ rệt, tăng năng suất rất cao so với đối chứng Khi chưa nắm được độ mẫn cảm của giống với GA3 thì nên dùng ở nồng độ rất thấp và phun làm nhiều lần

+ Quả lớn được là nhờ có sự kích thích của các chất kích thích sinh trưởng, chất này được tạo ra từ vách múi (với các giống quả đơn tính), hoặc từ hạt sau khi hạt hình thành Việc phun thêm chất kích thích sinh trưởng (NAA, IAA, GA3…) cho cây khi đang hình thành quả có thể nâng cao tỷ lệ đậu quả rất tốt

2.7.2 Vai trò của phân bón lá đối với cây trồng

- Phân bón lá thực chất là các chế phẩm mà trong đó chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng dạng đa lượng, trung lượng và vi lượng, nhằm cung cấp kịp thời cho cây Mỗi chất có vai trò khác nhau đối với cây nhưng nếu thiếu cây trồng sẽ sinh trưởng và phát triển kém, năng suất, chất lượng nông sản giảm rõ rệt

- Phân bón lá thường gồm 3 thành phần chính: các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng ngoài ra còn một số chất kích thích sinh trưởng Để cấu thành các loại phân bón lá khác nhau phụ thuộc vào thành phần và liều lượng các thành phần khác nhau Vai trò của phân bón lá đối với cây cam là tác động tổng hợp của từng nhóm các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng Các nguyên tố vi lượng phun lên lá nhằm cung cấp kịp thời các chất dinh dưỡng cho cây Bên cạnh việc giúp cho hoa ra đồng đều, nâng cao tỷ lệ hoa cái, tăng khả năng đậu quả và giữ quả,

Trang 40

chống nứt quả và hạn chế được thối hỏng quả, làm tăng phẩm chất quả còn giúp cho cây hấp thu nhanh, tiết kiệm phân bón (Nguyễn Hữu Doanh, 1998, Vũ Khắc Nhượng, 2000) [3] [8]

- Phun urê nồng độ 0,3 - 0,5% đối với cây thiếu đạm phản ứng rất nhanh, sau

3 - 5 ngày có thể thấy lá chuyển màu xanh Tuy nhiên loại ure có nồng độ cao quá nếu dùng sẽ gây độc cho cây do đó trong dung dịch ure thường cho thêm vôi hoặc đường sacaroza để giảm độc

Phun Kali dihydrogen phosphate nồng độ 0,3 - 0,5% có tác dụng thúc đẩy lộc non già chắc, phun vào thời kì phân hóa mầm hoa có tác dụng thúc đẩy phân hóa mầm hoa Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định rằng khi bón phân qua lá dạng hòa tan thì lá cây sẽ hấp thu hết 95% lượng phân Vì vậy việc cung cấp các chất dinh dưỡng dạng vi lượng cho cây thông qua lá là việc làm đem lại hiệu quả rất cao có thể nói cao gấp 8 - 10 lần so với cung cấp vào đất Ngoài tác dụng bổ sung các chất dinh dưỡng kịp thời cho cây, phân bón lá còn tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi khác như nóng, lạnh, khô, hạn… Tuy nhiên, hiệu quả của phân bón lá phụ thuộc vào các giống cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây, loại phân, nồng độ phân, liều lượng và thời gian sử dụng Các loại phân bón lá đang sử dụng rộng rãi hiện nay là Komix FT, Komix, Superzin

K, Thiên nông Poster (Hoàng Ngọc Thuận, 1994) [11]

- Ở những vườn cây ăn quả không thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của bộ rễ thì việc cung cấp các loại phân bón qua lá giúp cho cây sinh trưởng mạnh hơn, ngăn ngừa các bệnh về thiếu dinh dưỡng và giúp cho cây sinh trưởng tốt hơn

- Tác giả Hoàng Ngọc Thuận (1994) [11] cho biết phân bón lá dạng phức hữu cơ Pomior là một loại phân tổng hợp có chứa các nguyên tố đa, trung và vi lượng với 20 axit amin cùng với một số chất điều hòa sinh trưởng Loại phân này đã được tiến hành thử nghiệm và đạt hiệu quả cao trên nhiều loại cây trồng Đặc biệt một số kết quả thử nghiệm những năm gần đây Pomior đã thể hiện tác dụng xúc tiến

rõ rệt đến khả năng sinh trưởng, tăng khả năng ra hoa, tăng khả năng đậu quả, tăng trọng lượng và phẩm chất quả trên cây có múi

Ngày đăng: 20/08/2018, 17:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w