1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống lan hồ điệp tại thái nguyên

72 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ------ NGUYỄN ĐÀM NHUẬN Tên đề tài: ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG HOA LAN HỒ ĐIỆP TẠI THÁI NGUYÊN KHÓA LU

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

NGUYỄN ĐÀM NHUẬN

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG HOA LAN HỒ ĐIỆP TẠI THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -

NGUYỄN ĐÀM NHUẬN

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MỘT SỐ GIỐNG HOA LAN HỒ ĐIỆP TẠI THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thế Huấn

Khoa Nông học – Trường đại học Nông Lâm

Thái Nguyên - 2017

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những

sự hỗ trợ, giúp đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu,em luôn nhận được sự quan tâm của nhà trường, sự giúp đỡ tận tình của các thầy cô,bạn bè và gia đình

Quá trình thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên thực hành những kiến thức lý thuyết đã học và những kỹ năng sau những giờ học thực hành.Trong thời gian thực tập tốt nghiệp vừa qua, được sự chấp thuận của Ban Giám Hiệu nhà trường, ban Chủ Nhiệm khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và thầy giáo hướng dẫn, em đã thực hiện đề tài tốt nghiệp với tên:

“Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của một số giống hoa lan Hồ Điệp tại Thái Nguyên”

Trong thời gian thực tập,được sự giúp đỡ của các thầy cô trong khoa nông học.Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tớisự quan tâm giúp đỡ và

tận tình chỉ bảo của thầy giáo TS Nguyễn Thế Huấn đã tạo điều kiện giúp đỡ

em vượt qua những khó khăn trở ngại để hoàn thành đề tài này

Trong quá trình thực hiện đề tài này, do điều kiện thời gian và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết.Vì vậy em kính mong sự đóng góp của các thầy, cô giáo, và các bạn

để bản luận văn của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017

Sinh viên

Nguyễn Đàm Nhuận

Trang 4

ii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN v

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG KHÓA LUẬN vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

Phần 1:MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 3

1.3 Ý nghĩa đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa trong công tác học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Phần 2:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu về giống hoa lan 4

2.2 Giới thiệu chung về hoa lan 4

2.2.1 Nguồn gốc 4

2.2.2.Phân loại hoa lan 7

2.2.3 Vai trò của của hoa lan 9

2.3 Khái quát về hoa lan Hồ điệp 10

2.3.1 Đặc điểm thực vật học 10

2.3.2 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lan Hồ điệp 16

2.4 Tình hình sản xuất, nuôi trồng hoa lan trên thế giới và Việt Nam 16

2.4.1 Tình hình sản xuất, nuôi trồng hoa lan trên thế giới 16

2.4.2 Tình hình sản xuất, nuôi trồng hoa lan ở Việt Nam 19

Trang 5

iii

2.4.3 Tình hình sản xuất hoa tại tỉnh Thái Nguyên 20

2.5 Những nghiên cứu về giống hoa lan Hồ điệp tại Việt Nam 21

2.5.1.Các nghiên cứu về chế độ dinh dưỡng đối với hoa lan 21

2.5.2.Các nghiên cứu về chế độ ánh sáng đối với hoa lan 23

Phần 3:ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 24

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 24

3.1.3 Thời gian nghiên cứu 24

3.2 Nội dung nghiên cứu 24

3.3 Phương pháp nghiên cứu 24

3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm và các công thức thí nghiệm 24

3.3.2 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 25

3.3.3 Chỉ tiêu theo dõi 25

3.3.4 Kỹ thuật chăm sóc 28

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 28

Phần 4:KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Tình hình thời tiết khí hậu tại thành phố Thái Nguyên năm 2016-2017 29

4.2 Đặc điểm hình thái của các giống hoa tham gia thí nghiệm 31

4.3 Khả năng sinh trưởng và phát triển của hoa 32

4.3.1 Động thái tăng trưởng kích thước lá của các giống lan Hồ điệp tham gia thí nghiệm 32

4.3.2 Động thái tăng trưởng chiều cao, đường kính ngồng hoa của các giống lan Hồ điệp tham gia thí nghiệm 36

4.3.3 Khả năng ra hoa của các giống lan Hồ điệp tham gia thí nghiệm 39

Trang 6

iv

4.4 Tình hình sâu bệnh hại đối với hoa lan Hồ điệp nghiên cứu 44

4.5 Phân cấp và sơ bộ hạch toán đối với hoa lan Hồ Điệp 46

Phần 5:KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Đề nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 7

v

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG KHÓA LUẬN

Bảng 4.1 Diễn biến thời tiết khí hậu năm 2016-2017 tại thành phố Thái

Nguyên 30 Bảng 4.2: Đặc điểm hình thái của các giống hoa lan Hồ điệp thamgia thí

nghiệm 31 Bảng 4.3 Động thái tăng trưởng kích thước lá của cácgiống lan Hồ điệp tham

gia thí nghiệm 33 Bảng 4.4 Động thái tăng trưởng chiều cao ngồng hoa của cácgiống lan Hồ

điệp tham gia thí nghiệm 36 Bảng 4.5 Động thái tăng trưởng đường kính ngồng hoa củacác giống lan Hồ

điệp tham gia thí nghiệm 38 Bảng 4.6 Số nụ hoa trên ngồng của các giống lan Hồ điệptham gia thí nghiệm

40 Bảng 4.7 Sự ra hoa và chất lượng hoa của 4 giống hoalan Hồ điệp tham gia thí

nghiệm 42 Bảng 4.8 Diễn biến thành phần sâu hại chủ yếutrên các giống hoa lan Hồ Điệp

nghiên cứu 44 Bảng 4.9 Diễn biến thành phần bệnh hại chủ yếutrên các giống hoa lan Hồ

Điệp nghiên cứu Error! Bookmark not defined

Bảng 4.10 Phân cấp 4 giống hoa lan Hồ Điệp tham gia thí nghiệm 46 Bảng 4 11 Sơ bộ hạch toán thu – chi thí nghiệm cho 4 giống hoalan Hồ điệp

tham gia thí nghiệm 47

Trang 8

vi

DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG KHÓA LUẬN

Hình 4.1 Biểu đồ động thái tăng trưởng chiều dài lá của 4 giốnglan Hồ điệp

tham gia thí nghiệm 34 Hình 4.2 Biểu đồ động thái tăng trưởng chiều rộng lá của 4 giốnglan Hồ điệp

tham gia thí nghiệm 34Hình 4.3 Biểu đồ động thái tăng trưởng chiều cao ngồng hoacủa các giống

lan Hồ điệp tham gia thí nghiệm 37 Hình 4.4 Biểu đồ động thái tăng trưởng đường kính ngồng hoacủa các giống

lan Hồ điệp tham gia thí nghiệm 39Hình 4.5 Biều đồ biểu thị số nụ hoa trên cây của các giốnglan Hồ điệp tham

gia thí nghiệm 41

Trang 10

1

Phần 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Từ thời xa xưa đến nay, hoa lan luôn được con người ngưỡng mộ nhờ có

vẻ đẹp rực rỡ, quý phái hương thơm kín đáo nhưng lại rất tao nhã và thanh cao.Trước đây hoa lan được coi là loài quý hiếm,nên thú chơi lan thường chỉ dành cho vua chúa hoặc giới thượng lưu Ngày nay, chơi lan còn được nâng lên thành nghệ thuật và nghề trồng lan phát triển thành nghành công nghiệp

có lợi nhuận cao

Cùng với sự phát triển nhanh chóng của kinh tế, xã hội, nhu cầu sử dụng hoa nói chung và hoa lan nói riêng ở Việt Nam cũng tăng nhanh Hoa không chỉ được sử dụng trong dịp lễ tết mà nhu cầu về hoa trong cuộc sống thường ngày của người dân cũng rất lớn.Bên cạnh nhu cầu về số lượng thì chất lượng hoa đòi hỏi ngày càng cao Hoa lan trên thị trường Việt Nam hiện nay chủ yêu

là nhập khẩu từ Đài Loan, Trung Quốc, Thái Lan…Điều đó cho thấy, sản xuất hoa lan ở Việt Nam chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường Cụ thể là: Chủng loại hoa chưa được đa dạng, kỹ thuật trồng hoa còn hạn chế nên năng suất và chất lượng chưa cao

Lan Hồ điệp (Phalaenopsi) thuộc họ phong lan (Orchidaceae);bộ lan (Orchidales)(Đào Thanh Vân, Đặng Tố Nga ,2007 )[19] là một trong những

loài lan được trồng phổ biến trên thế giới Hồ điệp mệnh danh là hoàng hậu của các loài phong lan Đây là loài hoa to, thời gian ra hoa kéo dài từ 2- 3 tháng hình dáng đẹp, màu sắc phong phú, hoa rất bền, ra hoa quanh năm Những năm gần đây, thị trường hoa lan Hồ điệp có sức tiêu thụ cực kỳ mạnh

và được bán vơi giá cao Đặc biệt là vào dịp tết Nguyên Đán, giá một chậu lan thường dao động từ 150-200 ngàn đồng/ cây nhưng cũng không đáp ứng được nhu cầu của thị trường

Trang 11

2

Trong thiên nhiên, lan Hồ điệp chỉ sống ở nơi có nhiệt độ nóng ẩm,nhiệt

độ ban ngày yêu cầu từ 25°C-28°C, ban đêm yêu cầu từ 18°C-20°C, đặc biệt trong thời kỳ phân hóa mầm hoa cần có sự chênh lệch nhiệt độ ngày/đêm, nhiệt độ ban ngày thích hợp nhất là 25°C, ban đêm 18°C-20°C thì thuận lợi cho cây phân hóa mầm hoa (Đào Thanh Vân, Đặng Tố Nga ,2007 ) [19] Với yêu cầu đó, ở Việt Nam chỉ có khu vực Bảo Lộc, Lâm Đồng là nơi có khí hậu

ôn hòa mát mẻ đáp ứng được nhu cầu của lan Hồ điệp để nuôi trồng tự nhiên, còn các khu vực khác, lan được nuôi trồng trong nhà kính hoặc nhà lưới với các hệ thống lưới che, quạt gió để có thể chủ động điều tiết ánh sáng, nhiệt

độ, độ ẩm…cho hoa

Thái Nguyên là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục của các tỉnh miền núi trung du phía bắc, tập trung nhiều khu công nghiệp, trường học, hệ thống giao thông thuận tiện cho phát triển kinh tế Ngoài ra, nơi đây còn có khí hậu

ôn hòa, mát mẻ, rất thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của của hoa lan

Hồ điệp Tuy đã có một số nơi trồng lan với quy mô công nghiệp nhưng mô hình sản xuất vẫn còn mang tính nhỏ lẻ với số lượng rất ít trong các gia đình, đối với những cây lan này thường được nuôi trồng tự nhiên nên dễ chết và khó điểu khiển ra hoa theo ý muốn, chưa lựa chọn được giống hoa tốt phù hợp vơi điều kiện khí hậu của địa phương Người trồng ngoài sự yêu nghề yêu hoa còn cần phải có kiến thức cơ bản về kỹ thuật chăm sóc lan Hồ điệp Xuất phát

từ thực tế đó, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá khả năng sinh

trưởng và phát triển của một số giống lan Hồ điệp tại Thái Nguyên”

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục đích

Xác định được giống hoa lan Hồ điệp phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên

Trang 12

3

1.2.2 Yêu cầu

- Mô tả đặc điểm hình thái của các giống hoa lan Hồ điệp tham gia thí nghiệm

- Khả năng sinh trưởng và phát triển của hoa lan Hồ điệp

- Đánh giá năng suất và chất lượng của hoa lan Hồ điệp

- Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế

1.3 Ý nghĩa đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong công tác học tập và nghiên cứu khoa học

- Nghiên cứu khoa học, đúc rút kinh nghiệm và củng cố những kiến thức

lý thuyết đã học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học có giá trị làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về cây hoa lan Hồ điệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Sự phù hợp của các giống hoa lan Hồ điệp với điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên sẽ góp phần đa dạng hóa các chủng loại hoa của tỉnh Thái Nguyên, từ đó nâng cao thu nhập và hiệu quả kinh tế, đáp ứng yêu cầu của ngành sản xuất hoa

Trang 13

4

Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học nghiên cứu về giống hoa lan

Trong thế giới các loài hoa, hoa lan là một trong những loài hoa đẹp nhất Hoa lan được coi là loài hoa tinh khiết, hoa vương giả cao sang, vua của các loài hoa Hoa lan không những đẹp về màu sắc mà còn đẹp cả về hình dáng, cái đẹp của hoa lan thể hiện từ những đường nét của cánh hoa tao nhã đến những dạng hình lá, cành duyên dáng, ít có loài hoa nào sánh nổi (Đào Thanh Vân, Đặng Tố Nga, 2007)[19].Ngoài việc phục vụ các nhu cầu giải trí, thưởng thức cái đẹp của con người, phong lan đồng thời cung đã tạo ra được một nguồn lợi kinh tế quan trọng Theo các chuyên gia về lan, nghề trồng lan

đã đem lại lợi nhuận không nhỏ cho người dân, nghề trồng lan đã phát triển thành nghành công nghiệp có lợi nhuận cao.Ở nước ta, hoa lan được trồng ở những vùng có khí hậu lạnh như Sapa, Đà Lạt và các tỉnh Bắc Bộ Tuy nhiên, sản xuất hoa lan ở nước ta vẫn còn hạn chế về năng suất, chất lượng, sản lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, hoa nở không đúng dịp lễ tết…Một trong những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên đó là các giống hoa lan chưa được nghiên cứu khảo nghiệm tại các vùng sinh thái một cách hệ thống trước khi trồng Do đó, nghiên cứu giống sẽ giúp chúng ta nắm bắt được đặc điểm sinh trưởng, phát triển, khả năng thích nghi của chúng với điều kiện ngoại cảnh, từ đó có thể lựa chọn được những giống hoa phù hợp với điều kiện của địa phương khi đưa vào sản xuất

2.2 Giới thiệu chung về hoa lan

2.2.1 Nguồn gốc

Hoa lan (Orchidaceae) là một trong đỉnh cao của sự tiến hóa của các loài

cây có hoa Hoa lan được con người biết đến rất sớm Ở châu Á, từ xa xưa danh từ lan đã xuất hiện trong Tứ thư, ngũ kinh và cả trong kinh dịch của

Trang 14

5

Bách Gia Chư Tử (Trung Quốc 551-479 trước công nguyên )(Nguyễn Tiến Bân, 1997)[2] Khổng Tử ví Lan với đức cao quý cho nên theo thời gian lan cũng đồng nghĩa với người quân tử Từ thời đó, hoa lan đã được dùng để trang trí, làm thuốc chữa bệnh như trong quyển “Dược thảo và phương pháp dưỡng sinh” của Mao Siang ở đời nhà Tống, Trung Quốc (960-1279) đã trình

bày bày về công dụng của nhiều loài lan như: Dendrobium nobilevà

Dendrobium crumenatum Vào đời nhà Minh (1368-1644) hoa lan đã được

họa sỹ nổi tiếng của Trung Quốc họa thành tranh nghệ thuật quý để trang trí nội thất thời bấy giờ) (Nguyễn Tiến Bân, 1997) [2]

Ở phương tây, tuy cây lan được biết đến sau nhưng lại được chú ý đến bởi công dụng về dược liệu của nó và sau đó mới đến vẻ đẹp của hoa Phrastus - được coi là ông tổ của thực vật học và cũng có thể nói là cha đẻ của ngành học về lan đã dùng chữ Hy Lạp là Orkis để chỉ những cây lan được tìm thấy ở Địa Trung Hải Đến thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, Dioscorides đã dung chữ Orkis để mô tả hai loài địa lan trong quyển sách về dược liệu của

ông và sau này được Linnaeus ghi lại trong quyển “Các loài cây cỏ” (Species

Plantarum) vào năm 1753 Sau đó được John Lindley sử dụng đầu tiên để đặt

cho họ lan là: Orchidaceae từ năm 1836 và tên phân loại đó được tồn tại cho đến ngày nay Dr Chris K.H.Teo (1979), Orchids for Tropical Gardens, FEP International Pte.Ltd (Dr.chris KH.Teo, 1979)[20]

Ở Việt Nam, dấu tích của những nghiên cứu về lan ở buổi đầu không rõ rệt lắm Những khảo sát ban đầu về lan ở Việt Nam là của Joanis Loureiro, một nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan lần đầu tiên vào năm 1789 trong cuốn “Flora Cochinchinensis” trong một cuộc hành trình đến Nam phần Việt Nam và đã được Bentham và Hoocker ghi lại trong “Enera Plantarum” (1862 – 1883) (Fitch, Charles Marden, 1883) (Ficth, Charles Marden ,1883)[21] Chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam mới có những công

Trang 15

6

trình được công bố, đáng kể là của: F.Gagnepain và A.Guillaumin mô tả 101 giống gồm 750 loài lan cho cả ba nước Đông Dương trong bộ “Thực vật chí Đông Dương” do H.Lecomte chủ biên ở quyển 6 xuât bản từ năm 1932-1934 (Joseph Arditti ,1982)[23]

Một số tác giả khác cũng đề cập đến lan Việt Nam như Schmid, Tixer và Gunna Seidenfaden (1975) Bên cạnh đó một số người ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu về lan như ông Trương Đấu… đáng kể nhất là quyển ΙΙ “Cây

cỏ miền Nam Việt Nam” của giáo sư Phạm Hoàng Hộ với 289 loài lan được

mô tả và vẽ hìn Mới đây ông cũng đã bổ sung them 264 loài lan trong quyển III tập 2 của bộ sách “Cây cỏ Việt Nam” xuất bản năm 1993 nâng tổng số lan

có ở Việt Nam là 653 loài (Nguyễn Thiện Tịch và CS, 2004)[17]

Lan được người chơi chia làm hai dòng chính là Địa Lan và Phong lan

Trong đó, phong lan lại có hai nhánh là lan bản địa (lan Việt Nam) và Catlan (phiên âm qua tiếng Hán của lan Cattleya) được du nhập vào Việt Nam

Catlan có nguồn gốc từ những cánh rừng nhiệt đới vùng Amazon Nam Mỹ,

được những nhà thám hiểm Châu Âu đưa về cựu lục địa Sau này, nó theo chân những người Pháp đến Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.Catlan tuy hơn hẳn lan bản địa vì nhiều màu sắc nhưng thực sự không thể so sánh được

về mùi hương Bởi lan bản địalà lan vừa có hương vừa có sắc, hương thì ngọt ngào quyến rũ, sắc thanh tao ấn tượng

Trên khắp thế giới, hầu như nơi nào có thực vật là nơi đó có lan Nhưng

số lượng nhiều hay ít liên quan mật thiết đến nhiệt độ cao Mỗi loài có một cách phân bố và phát triển rất riêng biệt cho kiểu dáng và kích cỡ của cây lan,

sự khác biệt đó không chỉ vì xuất xứ từ các lục địa khác nhau mà còn có khi ở ngay trong một vùng địa lý vài kilomet vuông Lan tập trung chủ yếu ở vùng nhiệt đới nơi có khí hậu nóng, ẩm như Nam Mỹ, Đông Nam Á (Trần Văn Bảo, 2001) [1]

Trang 16

7

Theo Presley (1951) thì vùng Châu Á nhiệt đới có 250 chi và 6.800 loài,

trong đó chi Dendrobium có 1.400 loài, chi Phalaenopsis có 35 loài, chi

Vanda có 60 loài (Nguyễn Tiến Bân ,1997)[2]

Theo Briger (1971), vùng trung sinh Bắc bán cầu có 75 chi và 900 loài Vùng trung sinh Nam bán cầu có 40 chi và 500 loài, toàn Châu Âu có khoảng

120 loài và Bắc Mỹ khoảng 170 loài (Nguyễn Tiến Bân ,1997)[2]

Theo R.L.Dresler (1981) ở Châu Mỹ nhiệt đới có 306 chi và 8.266 loài Trên thế giới có một số nước tập trung nhiều loài như Columbia có 1300 loài

và Tân Ghine có 1.450 loài (Trần Hợp ,1990)[7]

2.2.2.Phân loại hoa lan

2.2.2.1 Phân loại theo hệ thống thực vật học

Cây hoa lan (Orchid sp) thuộc họ Phong Lan (Orchidaceae); bộ lan (Orchidales); lớp một lá mầm Monocotyledoneac(Đào Thanh Vân, Đặng Tố

Nga ,2007)[19]

Họ phong lan phân bố rộng từ 68° vĩ Bắc đến 56° vĩ Nam, từ gần Bắc cực như Thụy Điển, Aleska xuống tận các đảo uối cùng của cực Nam của Oxtralia Tuy nhiên tập trung của họ lan chủ yếu ở các vĩ độ nhiệt đới, đặc biệt ở Châu Mỹ và Đông Nam Á(Đào Thanh Vân, Đặng Tố Nga ,2007) [19] Đến nay, loài người đã biết được trên 750 chi với 25000 loài tự nhiên

và 7500 loài do kết quả chọn lọc và lai tạo (Đào Thanh Vân, Đặng Tố Nga ,2007)[19]

Ở Việt Nam có hàng trăm loài lan được trồng rộng rãi trên khắp đất nước (Đào Thanh Vân, Đặng Tố Nga ,2007)[19]

2.2.2.2 Phân loại theo đặc điểm hình thái thân cây

Căn cứ vào đặc điểm hình thái than cây có thể chia làm hai nhóm :

Trang 17

8

Nhóm đơn thân: Đây là nhóm chỉ tăng trưởng về chiều cao làm cho cây dài ra mãi Nhóm đơn thân chia làm hai nhóm phụ: (Nguyễn Công Nghiệp, 2004) [14]

-Nhóm phụ lá mọc đối (Sarcanthinae): Nhóm này lá được xếp hai hàng

mọc đối nhau, lá trên một hang xen kẽ với lá của hang kia Gồm các giống

như:Vanda, Aerides, Phalanopsis…

-Nhóm phụ lá dẹp thẳng hay tròn (Campylocentrinae): Papilionanthe,

Luisia…

Nhóm đa thân: Đây là nhóm gồm những cây tăng trưởng liên tục Căn cứ vào cách ra hoa nhóm này chia thành hai nhóm phụ: (Nguyễn Công Nghiệp, 2004)[14]

-Nhóm ra hoa phía trên: Cymbidium, Dendrobium, Oncidium…

-Nhóm ra hoa ở đỉnh: Cattleya, Laelia, Epidendrum…

Ngoài ra còn có một số giống mang tính chất trung gian như:

Centropetanum, phachyphllum, Dichaea…(Nguyễn Công Nghiệp, 2004)[14] 2.2.2.3 Phân loại theo hệ thống phân loại của Taktajan và cộng sự (1978)

Cây lan thuộc họ lan (Orchidaceae); bộ lan (Orchidales), phân lớp hành ( Lilidae), lớp một lá mầm (Monocotyledoneae), nghành ngọc lan – thực vật hạt kín (Magnoliophyta) phân lớp hành Lilidae, bộ lan Orchidales(Trần Hợp,

1990)[7]

2.2.2.4 Phân loại theo Taktajan (1980)

Họ lan bao gồm cả họ apostacideae và họ Cypripedicideae chia thành ba họ

phụ gồm:

- Orchidaceae

-Cypridicidea

-Apostasicideae

Trang 18

9

Trong đó họ phụ lan (Orchidadeae) là phức tạp nhất, có nhiều giống

nhiều loại nhất, hai họ phụ kia mỗi loại chỉ có 1 tông (Phan Thúc Huân,

Cả sáu họ phụ này đều phổ biến rộng rãi trên trái đất (Trần Hợp,1990 )[7]

2.2.2.5 Phân loại theo Leonid V.Baranov & Ân L Averyanova (2003)

Việt Nam hiện nay người ta đã biết được 897 loài thuộc 152 chi Chúng chiếm khoảng 75- 80% trong tổng số loài lan ước tính có ở nước ta Trong đó

một số chi có giá trị kinh tế lớn như Aerides (có 7 loài ); Cymbidium (24 loài);

Dendrobium ( có 107 loài); chi Paphiopedilum ( có 18 loài ) và Rhychotilis

(có 3 loài )…(Leonid V Baranov & Ana L Averyanova , 2003)[24]

2.2.3 Vai trò của của hoa lan

Hoa lan được mệnh danh là món trang sức đẹp nhất mà thiên nhiên ban tặng loài người Con người chưa hề ngừng chiêm ngưỡng các tác phẩm tuyệt

mỹ ấy Hoa lan luôn được nhiều người ưa thích bởi lẽ hoa lan có cấu trúc rất kiêu kỳ và phức tạp với những trạm trổ hết sức tinh vi, nhất là bộ phận môi hoa đã làm nhiều nhà điêu khắc phải than phục Hoa lan bao gồm rất nhiều màu sắc, được pha trộn một cách hài hòa, cân đối, khi thì hiện lên những nét tương phản rõ rệt, khi thì chìm đắm một cách lặng (Lưu Chấn Long, 2003)[12]

Cây lan mang lại những nét đặc thù thú vị của một loài cây trồng không đất Khác với các loài ký sinh thong thường có tác dụng hủy hoại ký chủ, trái

Trang 19

10

lại đa số loài lan sống phụ sinh, chỉ xem giá thể như vật thể giá đỡ lan trong không gian và giữa ẩm cho bộ rễ Vì thế cha ông ta đã dung cây lan biểu tượng cho người quân tử “Mai, Lan, Cúc, Trúc” một đạo đức cao quý của con người Việt Nam (Hội lan Hà Nội, 2005) [6]

Ngoài vẻ đẹp kiêu kỳ, quyến rũ, lan còn có đặc điểm mà nhiều loài hoa khác không có được, với hương thơm đặc biệt, đa dạng mà hầu như không có loại hương liệu nào so sánh được cùng với ưu điểm lâu tàn đã tạo cho lan trở thành một loài hoa vương giả (Hội lan Hà Nội, 2005)[6]

Ngoài việc phục vụ các nhu cầu giải trí, thưởng thức cái đẹp của con người, phong lan đồng thời cung đã tạo ra được một nguồn lợi kinh tế quan trọng Theo các chuyên gia về lan, nghề trồng lan đã đem lại lợi nhuận không nhỏ cho người dân Theo tính toán của bộ nông nghiệp và phát triển nông

thôn, nếu trồng phong lan cắt cành Dendrobium và Mokara, mỗi ha đất trồng

có thể thu nhập 500 triệu đến 1,0 tỷ đồng/ năm, cao hơn nhiều lần so với trồng lúa và một số hoa màu khác Ngoài ra, nếu lan được dung cho xuất khẩu thì lợi nhuận thu được còn lớn hơn nhiều

2.3.Khái quát về hoa lan Hồ điệp

2.3.1.Đặc điểm thực vật học

2.3.1.1 Rễ

Hệ rễ của lan Hồ điệp không phân chia thành rễ chính, rễ phụ, rễ nhánh

và lông hút rõ ràng Rễ lan Hồ điệp có dạng hình tròn, to, mập có nhánh hoặc không phân nhánh Rễ có màu trắng-xanh, đầu rễ có màu vàng-xanh, vàng-trắng hoặc màu đỏ tối.Khi bộ rễ mọc chặt bên trong chậu, rễ có xu thế mọc tràn ra ngoài thành chậu và buông thõng ra ngoài không khí Hiện tượng này rất có lợi cho quá trình phát triển và sinh trưởng của cây lan, vì trong rễ có diệp lục nên rễ có khả năng quang hợp, hút nước và chất dinh dưỡng (Đào Thanh Vân, Đặng Tố Nga, 2007)[19]

Trang 20

Do đó, việc tưới nước và bón phân cho hoa lan phải yêu câu bón phân thật loãng là vì trên rễ cây có nấm cộng sinh (Nguyễn Quang Thạch và CS, 2005)[15]

2.3.1.2.Thân

Lan Hồ điệp thuộc loại đơn thân, tức là thân của chúng rất ngắn không

có giả hành, cũng không có thời kỳ ngủ nghỉ rõ rệt Lan đơn thân sinh trưởng rất chậm chạp, thân chính của lan trong môi trường thuận lợi hằng năm mọc

ra các lá mới, chúng mọc theo hưỡng cao hơn theo phương thẳng đứng, còn cành hoa thì mọc ở rìa thân hoặc nảy ra từ nách lá, lá mọc xếp thành hai hàng xen kẽ nhau(Hoàng Ngọc Duy, 2006) [5]

Theo sự sinh trưởng của cây, các lá già ở dưới gốc dần dần già héo

và rụng, đến khi có chồi nách mọc ra nhưng thường không mọc dài ra được Vì cây lan rất khó mọc ra chồi nhánh, nên không dùng phương pháp tách cây để nhân giống Thân của lan Hồ điệp ngoài tác dụng giữ cho cây thẳng đứng, còn có chức năng giữ nước và chất dinh dưỡng cho cây (Hoàng Ngọc Duy, 2006)[5]

2.3.1.3.Lá

Lá của lan Hồ điệp to, dày, đầy đặn, lá mọc đối xứng ôm lấy thân Số lá

trên thân thường không nhiều, thông thường một cây lan trưởng thành có từ 4

lá trở lên Trong nách lá có hai chồi phụ, chồi phụ trên to hơn và chồi hoa sơ

Trang 21

12

cấp, bên dưới là chồi dinh dưỡng sơ cấp Các chồi sơ cấp này sinh trưởng đến một mức độ nào đó thì bắt đầu đi vào giai đoạn ngủ nghỉ (Nguyễn Quang Thạch và CS, 2005)[15]

Màu sắc của lá gồm 3 loại: Lá màu xanh; mặt trên và mặt dưới lá màu đỏ; mặt trên của lá đốm và mặt dưới màu đỏ Căn cứ vào màu sắc của lá có thể phân biệt được màu sắc của hoa Lá màu xanh thường ra hoa màu trắng hoặc hoa nhạt màu, còn các lá màu khác thường cho hoa màu đỏ Còn hoa lan màu vàng thì lá màu xanh-vàng nhưng lá nhỏ hơn lá lan cho hoa màu trắng (Nguyễn Quang Thạch và CS, 2005)[15]

Lan Hồ điệp để với điều kiện sinh thái nguyên sinh,thông thường bề mặt trên của lá không có khí khổng, chỉ có mặt dưới của lá mới có khí khổng Lan Hồ điệp là loại thực vật CAM, giống như các thực vật CAM khác, khí khổng mở vào ban đêm để thu nhận CO2 tạo ra axit “Malic” dự trữ trong cơ thể, vào ban ngày CO2 được giải phóng và tham gia vào quá trình quang hợp của cây Ưu điểm của loài thực vật này là khí khổng mở ra vào ban đêm, nên cây không bị mất nước và thoát hơi nước Điều kiện này đối với những cây không được cung cấp nước đầy đủ và thường xuyên là rất có lợi Khi cây có

đủ nước thì khí khổng cũng có thể mở ra vào ban ngày, hút CO2 để tiến hành quang hợp bình thường Nếu gặp phải điều kiện khô hạn nghiêm trọng thì khí khổng sẽ đóng lại, quá trình quang hợp diễn ra chỉ vừa đủ cho lượng CO2 tạo

ra trong chu trình hô hấp Đây chính là nguyên nhân khiến cho lan hồ điệp mặc dù không có giả hành nhưng lại có khả năng chịu hạn tốt

Trong đó, bộ rễ và lá là rất quan trọng, là cơ sở quyết định cho việc lựa chọn Lan hồ điệp để tiến hành xử lý ra lan Hồ điệp hoa (Nguyễn Quang Thạch

và CS, 2005)[15]

Ví dụ: Trong quá trình nuôi trồng lan Hồ điệp tại Vân Nam, Trung Quốc,

có một nghệ nhân người Trung Quốc (ông La Cốc Các, phó giám đốc công ty

Trang 22

13

FLORA chuyên quản lý sản xuất hoa tại 15 nông trường nói rằng: “Nếu bộ rễ tốt (có nghĩa rễ to, khỏe và đẹp) thì cây hoa lan sẽ sinh trưởng, phát triển tốt, cho hoa đẹp và có thể cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới” (Hoàng Ngọc Duy, 2006)[5]

Trong quá trình nuôi trồng lan ở Trung Quốc, người ta đã sử dụng loại phân có tỷ lệ N:P:K (20 : 20 : 20) để phun cho bộ lá (1 lần/tháng), có tác dụng nuôi bộ lá, tạo cho bộ lá khỏe mạnh, bề mặt lá bóng, sạch làm tăng cường quá trình quang hợp của lan được tốt hơn Phun vào lúc sáng sớm (8.30-9 giờ sáng) có tác dụng làm tăng thời gian giữ phân trên bề mặt lá để hấp thụ dinh dưỡng được lâu hơn Nồng độ 1/2000 (Hoàng Ngọc Duy, 2006)[5] Hạn chế: Nếu phun nhiều sẽ làm cho phân đọng lại trên các nách lá

và gốc làm sinh bệnh hại tại nách, gốc lá và chi phí cao (Hoàng Ngọc Duy, 2006)[5]

2.3.1.4.Mầm hoa và hoa

Mầm hoa

Mầm hoa ( cành hoa ) lan Hồ điệp mọc ra từ nách lá, thông thường đếm

từ trên xuống thì mầm hoa bắt đầu mọc ra từ lá thứ 3 hoặc lá thứ 4 Mầm hoa

có thể phân nhánh hoặc không phân nhánh Loài lan hoa to thường ít phân nhánh, còn loài lan hoa nhỏ phân nhánh rất rõ, thậm chí một số giống hoa nhỏ

có thể nở đến 200 bông hoa Mầm hoa khi chưa phân hóa các đốt hoa, thường

ở dạng tiềm chồi nách hoặc tiềm chồi hoa, Ở nhiệt độ dưới 15°C và bị bấm ngọn có thể nảy thành chồi hoa, nhưng nếu nhiệt độ cao quá 28°C thì chỉ có thể nảy thành nhánh chồi nách (Nguyễn Xuân Linh, 2002)[10]

Đa số các giống hoa đơn thân chỉ ra một mầm hoa, có một số giống khác hoặc trong điều kiện tốt cho mầm hoa phân hóa có thể mọc ra 2 hoặc 3 mầm hoa Nói chung, lan Hồ điệp là dạng đơn thân nếu phân hóa ra số mầm càng nhiều hoặc số mầm nhánh càng nhiều thì hoa nở càng nhỏ Do hạn chế về

Trang 23

14

dinh dưỡng nên muốn trồng được lan hồ điệp có hoa to và đẹp, cần phải khống chế số mầm hoa trên một cây, thong thường người ta chỉ để một mầm trên một cây và loại bỏ những mầm nhánh, để mầm hoa có thể tập trung dinh dưỡng cho sinh trưởng và phát triển của mầm hoa Mầm hoa sẽ to , mập, khỏe

và đảm bảo số nụ Hoa trên một mầm từ 7-10 nụ trở lên, hoa lam đủ tiêu chuẩn xuất vườn (Nguyễn Xuân Linh, 2002)[10]

Hoa

Hoa lan: hoa của tất cả các loài trong họ lan dù rất khác nhau về kích thước màu sắc và hình dáng nhưng chúng được cấu tạo theo cùng một khuôn mẫu: Hoa lan có 7 bộ phận gồm: 3 cánh đài bên ngoài, 3 cánh hoa và trụ của bông hoa Đoạn cuống tiếp giáp bông hoa, lá bầu hoa có 3 tâm bì chính là 3 ô của quả lan chứa đầy các hạt nhỏ li ti gọi là tiểu noãn

Họ lan được xếp vào đỉnh cao của mức độ tiến hóa trong các họ cây có hoa Kết luận này dựa vào sự hoàn chỉnh của cấu trúc hoa lan tạo cho sự thụ phấn bằng côn trùng được thuận lợi nhất Nếu thụ phấn chỉ do phấn của bông hoa rơi trên đầu nhụy của chính bông hoa đó thì loài hoa này nhanh chóng bị thoái hóa hơn Phấn của hoa lan được kết dính nên không dễ dàng rơi xuống đầu nhụy dù gió có lay mạnh bông hoa

Khi hoa còn là nụ, nụ có thể là nghiêng hay dựng đứng ở các vị trí khác nhau (Nguyễn Thiện Tịch và CS, 2004)[17] Nhưng khi hoa nở cuống sẽ uốn cong có khi tới 1800 làm cho môi hoa lằm ngang, tạo thành nơi đậu cho côn trùng, có khi là cái bẫy giữ côn trùng

Màu sắc rực rỡ, hương thơm quyến rũ hấp dẫn các loài côn trùng đến hút mật và mang phấn khối của hoa này đến đầu nhụy của hoa kia Hiện tượng này làm giảm sự thoái hóa của họ lan nhưng đồng thời hình thành nên loài lan lai tự nhiên

Trang 24

15

Đa số các giống hoa đơn cây chỉ ra một cành hoa, cò một số giống khác hoặc trong điều kiện tốt cho chồi hoa phân hóa có thể mọc ra 2 hoặc 3 cành hoa Nói chung, hoa lan Hồ điệp đơn cây nếu phân hóa số cành hoa càng nhiều hoặc cành nhánh càng nhiều thì hoa nhỏ do bị hạn chế dinh dưỡng Để trồng được lan có bông hoa to đẹp, cần phải khống chế số bông trên một cành,

hoặc cắt bớt đi một số cành nhánh

Để đánh giá và sự thưởng lãm hoa lan, người ta thường dùng hai khái niệm “hoa đều đặn” hoặc “hoa cực kỳ đều đặn” để hình dung Hoa đều đặn là chỉ hoa có cánh hoa đều đặn to rộng, giữa cánh hoa không có khe hở hoặc khe hở rất nhỏ, cánh môi trải xuống tạo cánh hình elip, tất cả bông hoa tạo nên hình dáng tròn Còn loại cực kỳ đều đặn là chỉ hoa có dáng rất tròn, các cánh hoa đều trồng khít lên nhau, không có khe hở Nếu giữa các cánh hoa có khe hở hoặc khe hở khá lớn thì gọi là “hoa không đều đặn” (Nguyễn Quang Thạch, Nguyễn Xuân Trường, Hoàng Thị Nga, 2002)[16]

Trong một vài năm gần đây đã xuất hiện một số biến dị ở hoa lan Hồ điệp, có dạng cánh hoa biến dị tạo dáng của cánh môi, co dạng biến dị là hai bông hoặc vài bông hoa trùng nhau tạo thành hoa kép Cũng có một số biến

dị về cành hoa đã xuất hiện Những biến dịnày có thể là trong quá trình nhân giống vô tính qua nuôi cấy mô do sử dụng kích tố sinh trưởng quá nhiều gây

ra, những biến dị này đa số không được di truyền một cách ổn định(Đào Thanh Vân, Đặng Tố Nga, 2007) [19]

2.3.1.5.Quả và hạt

Hoa lan Hồ điệp chỉ tạo quả qua thụ phấn nhân tạo hoặc thụ phấn nhờ côn trùng Vỏ quả có hình que, phát triển chậm, thường phải quá 4 tháng mới chín và tách vỏ.Số lượng hạt trong một quả khác nhau do sự khác nhau về cây

bố, mẹ đem thụ phấn Hạt của chúng thường rất nhỏ, có dạng bột, không có nội nhũ, trong điều kiện tự nhiên rât khó tự nảy mầm thành cây con, thường

Trang 25

16

phải gieo hạt trong môi trường vô trùng thích hợp mới có thể thu được cây con vơi số lượng lớn Khi gieo hạt trong điều kiện vô trùng,thường để tiềm chồi (protocorm) nảy mầm thành cây (Nguyễn Công Nghiệp, 2004)[14]

2.3.2 Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của lan Hồ điệp

Lan Hồ điệp là dạng cây hoa thân thảo lâu năm, cây sinh trưởng khá chậm, trong điều kiện sinh trưởng thích hợp, cách 40-45 ngày mới mọc ra một

lá hoàn chỉnh.Khi cây có trên 4 lá, lúc đó mới có khả năng phân hóa chồi hoa.Thời gian ra hoa của đại đa số các giống hoa khoảng 20 ngày, thời gian ra hoa của mỗi cây hoa kéo dài từ 2-3 tháng (Nguyễn Quang Thạch, Nguyễn Xuân Trường, Hoàng Thị Nga, 2002)[16]

2.4 Tình hình sản xuất, nuôi trồng hoa lan trên thế giới và Việt Nam

2.4.1 Tình hình sản xuất, nuôi trồng hoa lan trên thế giới

Hiện nay tình hình sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ và đã trở thành một ngành thương mại có lợi cho nền kinh tế các nước trồng và xuất khẩu hoa Diện tích trồng hoa trên thế giới ngày được mở rộng và không ngừng tăng lên, nhiều tạp chí về hoa lan được xuất bản, nhiều cuộc hội thảo về lan đã được tổ chức Trước đây việc nuôi trồng và xuất khẩu chủ yếu là lan rừng nên nguy cơ khoảng 13 loài tuyệt chủng, ngày nay việc trồng lan dần theo quy mô công nghiệp, việc xuất khẩu lan đã đạt tới số lượng hàng trăm ngàn giò, hàng vạn cành lan trong một năm nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường Thị trường xuất khẩu hoa lan trên thế giới ngày càng mở rộng Kim ngạch thương mại hoa lan cắt cành trên thế giới năm 2000 đạt 150,0 triệu USD, trong đó Nhật Bản là nước nhập khẩu hoa lan cắt cành đứng thứ nhất thế giới, sau đó là Ý, tiếp theo là Pháp, Đức đứng thứ tư và thứ năm là Mỹ Vì có giá trị kinh tế cao nên rất nhiều nước đã tập trung vào việc nghiên cứu hoa lan chất lượng cao để phục vụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu Các nước như Thái Lan, Nhật Bản, Inđônêsia, Hà Lan đã đầu tư

Trang 26

17

mạnh cho các trang trại, công ty để sản xuất hoa chậu và hoa cắt Họ tập trung chủ yếu vào việc nhân nhanh lan sạch bệnh, hoa đẹp, có mùi thơm, đa dạng về màu sắc và hình dạng để cung cấp cho hơn 50 nước trên thế giới Do đó, chúng ta có thể nói rằng sản xuất lan đã đem lại lợi nhuận rất cao cho các nước đang phát triển và phát triển

Tại Thái Lan, diện tích trồng hoa cảnh là 12.160 ha (2009), trong đó chiếm diện tích cao nhất là lan: 3.718 ha ( chiếm 30,6%)

Trong suốt một thập kỷ qua, Thái Lan luôn giữ vững vị trí Quốc gia xuất khẩu hoa lan lớn nhất thế giới Người Thái đã biết biến loài hoa đẹp và khó tính này thành một nguồn lợi đáng kể đối với thu nhập Quốc gia Hoa lan Thái Lan xuất khẩu phần lớn thuộc nhóm lan Dendrobium, hơn 80% lượng hoa thuộc nhóm này trên thị trường thế giới có xuất xứ từ Thái Lan Hiện nay Thái lan có khoảng hơn 1.000 giống lan có chất lượng tốt và được xuất sang nhiều nước trên thế giới trong đó chủ yếu là Hà Lan và Hoa Kỳ Chính phủ Thái Lan đang nỗ lực để xúc tiến hoạt động quảng bá ngành hoa nước này ra thị trường thế giới thông qua hội chợ triển lãm về hoa

Công nghiệp hoa cắt cành ở Malayxia là một ngành mới phát triển so với các lĩnh vực nông nghiệp khác Hoa cắt cành được xác định là nhóm sản phẩm ưu tiên có nhiều tiềm năng đáp ứng cho nhu cầu trong nước và thế giới, tạo ra thu nhập cao hơn cho người sản xuất Malayxia có tổng số diện tích trồng hoa cắt cành khoảng trên 1.218,0 ha trong đó 580,0 ha trồng hoa lan Hoa lan được trồng phổ biến là Dendrobium, Aranda, Oncidium và Mokara đóng góp đến 97,0% hoa lan cắt cành của Malayxia Thị trường hoa và cây cảnh chính của malayxia là Nhật bản, Singapore và Hồng Kong Nhật Bản là thị trường hang đầu của hoa lan cắt cành, Singapore là thị trường hoa cảnh trang trí và Hồng Kong là thị trường hoa ôn đới

Trang 27

18

Ở Đài Loan, diện tích trồng hoa cây cảnh là 12.481 ha, trong đó diện tích trồng phong lan là 484 ha Giá trị xuất khẩu lan Hồ điệp của Đài Loan đạt 23,9 triệu USD ( năm 2004); 27,05 triệu USD ( năm 2005) và tăng lên 35,38 triệu USD trong năm 2006 (Pan-Chi Liou, 2006)[25]

Ở Singapore, nghề trồng hoa lan xuất khẩu trên quy mô lớn bắt đầu năm

1987 Nhà nước đã thấy rõ tiềm năng xuất khẩu loại hoa này trên thị trường thế giới nên đã mở rộng các trang trại trồng hoa phong lan Năm 1992, xuất khẩu đạt hơn 18 triệu USD, năm 1995 đạt 37,0 triệu USD, chiếm 12,0% thị trường phong lan trên thế giới (Griesbach, R.J, 2002)[22] Chính phủ Singapore đặt kế hoạch vào năm 2010, xuất khẩu lan đạt 100,0 triệu USD

Ấn Độ đã đưa tiến bộ kỹ thuật nuôi cấy mô vào nghề trồng hoa lan để sản xuất mỗi năm 10 triệu cây lan các loại Mặt khác, Ấn độ được xem là một nước có nhiều giống lan nguyên thủy, khoảng 140 loài với hơn 1.300 giống Mặc dù bị khai thác triệt để trước đây, nhưng tới nay nhà nước đã hình thành các khu bảo tồn bảo vệ các loài lan quý để phục vụ cho nghành trồng lan thương mại

Hoa lan là loài hoa mới được thương mại hóa ở Mỹ Tuy nhiên, chúng đã chiếm được cảm tình của người tiêu dùng,doanh thu của chúng đem lại tăng lên rất nhanh chóng Năm 2006 với tổng giá trị thu thập từ một số loại hoa chính đạt trên 800 triệu USD trong đó hoa lan chậu là một trong những loài hoa được bán nhiều nhất đạt 144,0 triệu USD Theo thống kê từ năm 1996 đến năm 2006 giá trị lan chậu bán ra tăng 206,4%

Hà Lan đã đầu tư 20,0 triệu USD vào Ấn Độ để lắp đặt các thiết bị máy móc tạo điều kiện cho việc xuất khẩu hoa tại thị trường này

Thị trường xuất khẩu hoa lan trên thế giới ngày càng mở rộng Kim ngạch thương mại hoa lan cắt cành trên thế giới năm 2000 đạt 150,0 triệu USD, trong đó Nhật Bản là nước nhập khẩu hoa lan cắt cành đứng thứ nhất

Trang 28

2.4.2 Tình hình sản xuất, nuôi trồng hoa lan ở Việt Nam

Hiện nay, mỗi năm Việt Nam vẫn phải chi hàng tỉ đồng để nhập phong lan từ các nước láng giềng cho nhu cầu nội địa Theo số liệu thống kê của tổng cục Hải quan, kim ngạch nhập khẩu phong lan cắt cành qua đường chính ngạch của nước ta trong năm 2007 là 26,515 nghìn USD Thị trường nhập khẩu lan cắt cành chính của Việt Nam trong thời gian qua là Thái Lan với gần 100% lượng lan cắt cành Chính vì vậy, không chỉ thị trường xuất khẩu mà thị trường trong nước cũng rất tiềm năng cho người trồng lan

Đầu năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hoa phong lan lại tăng 218% so với 8/2008, đạt 61,0 nghìn USD Nhật Bản là thị trường xuất khẩu hoa lan tiềm năng của chúng ta

Theo các chuyên gia, Việt Nam được đánh giá là nước có tiềm năng lớn trong sản xuất phong lan Nhưng một thực tế hiện nay là: Trong khi nhu cầu hoa lan nội địa và nhu cầu xuất khẩu đang ở mức cao thì Việt Nam vẫn phải chi hang nghìn tỷ đồng mỗi năm để nhập khẩu lan Tìm giải pháp phát huy tiềm năng của ngành lan Việt Nam là một trong những vấn đề được quan tâm

Trang 29

20

trong Đề án phát huy tiềm năng xuất khẩu rau hoa quả mà Bộ thương mại đã

và đang triển khai hiện nay (Đinh Thế Lộc, Đặng Văn Đông, 2004)[13]

Phong lan là giống cây trồng có đặc điểm sinh trưởng rất phù hợp với điều kiện tự nhiên và khí hậu của Việt Nam Với khoảng hơn 755 loại lan hiện có cùng rất nhiều giống lan mới được lai tạo từ công nghệ nuôi cấy mô, Việt nam có rất nhiều tiềm năng trở thành nước sản xuất lan lớn trong khu vực

Theo thống kê, hiện nhu cầu tiêu thụ hoa lan của Việt Nam là khá cao Chỉ tính riêng tại thành phố Hô Chí Minh, năm 2003 doanh thu từ kinh doanh hoa lan và cây cảnh mới chỉ đạt 200-300 tỷ đồng thì đến quý I năm 2006, con

số này đã tăng lên mức 400 tỷ đồng Ngoài ra, các cơ sở kinh doanh hoa lan, cây cảnh cũng tăng từ 264 cơ sở năm 2003 lên trên 1000 cơ sở, với lượng phong lan tiêu thụ trung bình mỗi năm lên tới 1 triệu cây (Việt Chương, Nguyễn Việt Thái, 2004)[4]

Trên thực tế, tình hình sản xuất phong lan hiện nay ở Việt Nam còn chưa tương xứng với tiềm năng Qua khảo sát, hiện mới chỉ có một số công ty lớn, trong đó có những công ty nước ngoài trồng phong lan tại Đà lạt, TP Hồ Chí Minh, Đồng nai với diện tích khoảng 50-60 ha/doanh nghiệp Một vài địa phương khác cũng tiến hành trồng phong lan nhưng mới dừng ở quy mô gia đình, trên diện tích từ vài m2 đến vài nghìn m2, cá biệt có vài hộ trồng trên 1-

2 ha chứ chưa có các vùng quy hoạch trồng lan tập trung ứng dụng công nghệ hiện đại (Việt Chương, Nguyễn Việt Thái, 2004)[4]

2.4.3 Tình hình sản xuất hoa tại tỉnh Thái Nguyên

Thái Nguyên là tỉnh miền núi thuộc vùng Trung du - Miền núi Bắc bộ, phía Nam giáp Thủ đô Hà Nội, phía Bắc giáp Bắc Kạn, phía Đông giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang, phía Tây giáp các tỉnh Tuyên Quang, Phú Thọ Thái Nguyên có 9 huyện thị gồm: thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, huyện Định Hoá, Phú Lương, Võ Nhai, Đại Từ, Đồng Hỷ, Phú Bình và huyện

Trang 30

21

Phổ Yên Thái Nguyên là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục y tế của Việt Nam nói chung, của vùng trung du miền Đông Bắc nói riêng Đây là một trong những vùng chè nổi tiếng của cả nước, một trung tâm công nghiệp gang thép của phía bắc, cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa trung du miền núi với đồng bằng Bắc Bộ Thái Nguyên là nơi tụ hội các nên văn hoá dân tộc, đầu mối của các hoạt động văn hoá, giáo dục của vùng núi phía Bắc rộng lớn còn có lợi thế để phát triển nông nghiệp Nghề trồng hoa ở Thái Nguyên mới được khai thác và phát triển bởi vậy nghề trồng hoa nơi đây còn rất non trẻ, nhưng tốc độ phát triển rất nhanh Như hoa Lily, hoa hồng, hoa cúc, hoa đào, hoa lan do lợi nhuận từ nghề trồng hoa đem lại cao, nên diện tích hoa các loại ngày một tăng nhanh và cây hoa đã trở thành cây chủ lực cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp của Thái Nguyên Sản xuất hoa ở Thái Nguyên chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống và áp dụng phương pháp nhân giống hoa cổ truyền, dễ làm, quen với kinh nghiệm của nông dân, chi phí thấp Do đó trong sản xuất, phương pháp trồng thoa truyền thống 10 là chủ yếu và chiếm ưu thế Hiện nay, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, đội ngũ cán bộ nông nghiệp được đào tạo cơ bản, người dân đã mạnh dạn sử dụng cây con giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào tạo cây giống khoẻ, sạch bệnh cùng với những trang thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất trồng hoa Đây là một lợi thế làm tiền đề cho ngành sản xuất hoa lan phát triển

2.5 Những nghiên cứu vềhoa lan Hồ điệp tại Việt Nam

2.5.1.Các nghiên cứu về chế độ dinh dưỡng đối với hoa lan

Tác giả (Nguyễn Xuân Linh ,2002)[10] cho rằng nên tưới nước phân cho lan vào buổi sáng sớm hoặc lúc chiều mát và không nên tưới vào buổi trưa, bình thường tưới một tuần 1 lần, nếu thời tiết mát mẻ thì nên tưới 10 – 15 ngày/lần, ngược lại vườn lan có nhiều ánh sáng có thể tưới 2 tuần/lần Sau khi tưới nước phân nên tăng lượng nước tưới của ngày sau đó để rửa bớt muối còn đọng lại

Trang 31

22

trên lan (Nguyễn Công Nghiệp ,2004) [14] kết luận rằng: mùa tăng trưởng của lan không nên dùng phân tổng hợp NPK loại 30:10:10, khi chớm nở hoa phải dùng loại phân có nồng độ lân cao loại 10:10:20 hoặc 6:30:30, trước khi cây bước vào mùa nghỉ phải dùng loại phân có nồng độ kali cao để tăng sức chịu đựng như: 10:20:30, không nên dùng nồng độ phân bón quá 1g/lít nước sẽ làm cây lan chết hoặc thoái hoa., phân bón lá gồm các phân hóa học (vô cơ), phân hữu cơ (xác bã động vật, thực vật…) và phân hữu cơ có nguồn gốc EDTA và các Amino acid thủy phân từ các chất hữu cơ giàu dinh 16 dưỡng Tác giả đã xác định phân có tỷ lệ phân có tỷ lệ đạm cao (30:10:10) phù hợp cho cây con, những cây đang nảy chồi mới, những cây sau khi cắt hoa Phân có tỷ lệ lân cao (6:30:30) kích thích ra rễ, hoa làm cho lá bớt màu xanh, giảm lượng nước ở trong lá, tăng khả năng đề kháng Phân có tỷ lệ kali cao (10:20:30) giúp cây khỏe mạnh, chống hạn, sâu bệnh tốt So với cây trồng khác thì lan cần lượng kali tương đối nhiều, vì mục đính chính của nuôi trồng hoa lan là thưởng thức hoa Kali giúp hoa có màu sắc bền, đẹp, thường sử dụng và lúc cây lan ra hoa với tỷ

lệ cao

Nghiên cứu chế độ phân bón đối với giống lan Hồ Điệp HL3 (Phalaenopsis stockhon) với phân bón Grow more với các liều lượng khác nhau cho một kết quả sau:

- Cây 0 – 2 tháng tuổi: Sử dụng phân bón tự chế NPK = 10:10:30 ở liều lượng 1g/l, tưới 10 ngày/lần

- Cây 3 – 6 tháng tuổi: Sử dụng NPK 10:10:30, phân bón tự chế 1g/l, tưới 7 ngày /lần Phân bón Groww more 1,5g/l tưới 10 ngày/lần

- Cây ngoài 12 tháng tuổi: Sử dụng NPK 20:20:20, phân bón tự chế 2g/l, tưới 7 ngày /lần Phân bón Groww more 1,5g/l tưới 10 ngày/lần - Giai đoạn ra hoa: Sử dụng NPK 10:30:10, phân bón tự chế 1,5g/l, tưới 7 ngày /lần hoặc phân bón Groww more 1g/l tưới 10 ngày/lần (Nguyễn Thị Kim Lý,2009)[11]

Trang 32

32 ngày và tăng tỷ lệ bật mầm hoa lên 96,7%.(Nguyễn Công Nghiệp ,2004) [14]

2.5.2.Các nghiên cứu về chế độ ánh sáng đối với hoa lan

Ở Việt nam, cây lan Hồ Điệp được trồng với 12 giờ chiếu sáng trong ngày, trong đó khoảng 1-2 giờ cây 19 nhận được ánh sáng trực tiếp, cây sẽ phát triển Ít trường hợp cây bị chết vì nắng, trừ hợp cây bị phơi nắng trực tiếp suốt 12 giờ chiếu sáng Thời kỳ ươm cây con nhu cầu ánh sáng ở cường độ là 10.000 – 12.000 lux, giai đoạn bánh tẻ là 12.000 – 20.000 lux, giai đoạn thúc ra hoa là 20 – 30.000 lux Trong điều kiện trồng trong nhà lưới, mùa Hè và Thu phải che đi

75 – 85 % ánh sáng, cần phải có 2 lớp che ánh sáng đặt chồng lên nhau mùa Đông thỉ ánh sáng yếu hơn, chỉ cần che 40 – 45% ánh sáng là đủ ( Đào Thanh Vân,Đặng Tố Nga, 2007)[19]

Chế độ che sáng được chia ra ở các giai đoạn khác nhau của cây:

- Lan từ 0 - 6 tháng tuổi: tối ưu 30 - 35% ánh sáng tự nhiên

- Lan từ 6 - 12 tháng tuổi: tối ưu 30 - 35% ánh sáng tự nhiên

- Lan từ 12 - 18 tháng tuổi: tối ưu 30 - 35% ánh sáng tự nhiên;

- Lan từ 18 - 24 tháng tuổi: tối ưu 50% ánh sáng tự nhiên

Nói chung, Lan Hồ Điệp nhạy cảm với cường độ ánh sáng Vì vậy trong quá trình sản xuất không nên để lan tiếp xúc với cường độ ánh sáng và nhiệt độ cao Bóng mát là điều kiện cần thiết, nên trồng lan Hồ Điệp trong nhà kính có mái che (Hội lan Hà Nội, 2005)[6]

Trang 33

24

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng, địa điểmvà thời gian nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Gồm 4 giống lan Hồ điệp (phalaenopsis) 18 tháng tuổi đã phân hóa

ngồng hoa nhập từ Đà Lạt- Lâm Đồng với tên gọi là:

- Phượng hoàng

- Trắng Thẩm

- Vàng chanh

- V3

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm thí nghiệm: Thí nghiệm được tiến hành tại khu thực nghiệm khoa Nông học, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

3.1.3 Thời gian nghiên cứu

-Thời gian nghiên cứu: Thí nghiệm được tiến hành từ 11/2016- 2/2017

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Mô tả đặc điểm hình thái của các giống hoa lantham gia thí nghiệm

- Khả năng sinh trưởng và phát triển của hoalantham gia thí nghiệm

- Đánh giá năng suất và chất lượng của hoalan tham gia thí nghiệm

- Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế

3.3 Phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm và các công thức thí nghiệm

Trang 34

25

- Số ô thí nghiệm: 4x3=12 (ô thí nghiệm)

- Bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh

3.3.2 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

3.3.3 Chỉ tiêu theo dõi

- Thời gian theo dõi: Từ ngày 13/11/2016- 28/2/2017

10 ngày theo dõi một lần, mỗi lần nhắc lại chọn 05 cây, theo dõi các chỉ tiêu sau:

*Lá (Đánh dấu lá cần đo)

- Chiều dài của lá (cm) : Sử dụng thước đo từ sát nách lá đến đầu mút lá

- Chiều rộng lá (cm): Sử dụng thước đo phần rộng nhất của phiến lá ( đánh dấu những vị trí đo trong lần đo đầu tiên, những lần tiếp theo đo ở vị trí

đã đánh dấu)

* Ngồng hoa

- Theo dõi động thái tăng trưởng của ngồng hoa (cm) : Sử dụng thước

đo từ sát chân ngồng hoa đến đầu mút ngồng hoa

Trang 35

26

- Theo dõi đường kính ngồng hoa (cm): Sử dụng thước cặp đo phần to nhất của mầm hoa (đánh dấu những vị trí đo trong lần đo đầu tiên, những lần tiếp theo đo ở vị trí đã đánh dấu)

* Hoa

- Theo dõi số nụ hoa trên cây (hoa/cây): Mỗi lần nhắc lại đếm 05 cây

- Chiều dài nụ hoa trước khi nở (cm): Sử dụng thước đo từ sát cuống hoa đến đầu mép hoa

- Số hoa hữu hiệu ( số hoa nở hoàn toàn) trên tổng số nụ hoa trên cây

- Đường kính hoa (cm): Đo khoảng cách từ hai bên mép hoa qua tâm của hoa, đo khi hoa nở hoàn toàn

- Theo dõi độ bền của hoa (ngày):

+ Độ bền hoa tự nhiên: Đánh dấu và theo dõi hoa của 5 cây nở cùng thời điểm trong nhà lưới, rồi tính độ bền của những hoa đó từ khi bắt đầu nở đến khi tàn

+ Độ bền hoa cắm: đánh dấu và theo dõi hoa của 5 cây nở cùng thời điểm đem cắm vào chậu, để ở điều kiện trong phòng rồi tính độ bền của những bông hoa đó từ khi bắt đầu nở đến khi tàn

*Theo dõi tình hình sâu, bệnh hại

Theo dõi sâu bệnh hại ở từng thời điểm xuất hiện trên các ô thí nghiệm

- Theo dõi sâu bệnh hại theo tiêu chuẩn của Bộ NN quy định trên loại cây họ thập tự, chia làm 5 điểm chéo góc, điều tra mỗi điểm 1 cây

- Sâu hại: Đếm toàn bộ số sâu trên ô thí nghiệm: Con/cây tính com/m2 + Đánh giá mức độ sâu hại: 0: Không bị hại

*: Mức độ bênh hại nhẹ ( TLBH):<5 con/m2

**: Mức độ bệnh hại trung bình (TLBH):5-10 con/m2

***: Mức độ bệnh hại nặng (TLBH):> 10con/m2

Trang 36

*Đánh giá phân loại hoa:

- Loại 1: Chiều cao ngồng hoa đạt 60-70cm Đường kính ngồng hoa từ 0,40cm; đường kính hoa từ 7,2 cm Màu sắc hoa tươi tắn; số hoa trên cây đạt

9 bông trở lên

- Loại 2 :Chiều cao ngồng hoa đạt 50-60cm Đường kính ngồng hoa từ 0,35cm; đường kính hoa từ 6,2cm Màu sắc hoa tươi tắn; số hoa trên cây đạt 6-8 bông

- Loại 3: Chiều cao ngồng hoa đạt 32-50cm Đường kính ngồng hoa từ 0,30cm; đường kính hoa từ 6cm; màu sắc nhạt hơn loại 1,2; số hoa trên cây đạt dưới 6-8 bông

*Hạch toán thu chi

Chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế: tính trong quy mô thí nghiệm 120 cây/ thí nghiệm Phân loại hoa theo kết quả thí nghiệm và giá thị trường tại thời điểm thu hoạch

Cách tính:

- Tổng thu trên 120 cây thí nghiệm( mỗi công thức 30 cây)

- Tổng chi trên đơn vị diện tích

Ngày đăng: 20/08/2018, 17:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm