Được sự nhất trí của Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Nông học, em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng sinh trưởng và năng suất giống đậu tương
Trang 1HUYỆN PHÚ LƯƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Trồng trọt Khóa học : 2013 - 2017
Thái Nguyên, năm 2017
Trang 2HUYỆN PHÚ LƯƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với phương châm “học đi đôi với hành, lý thuyết gắn với thực tế” thực
tập tốt nghiệp là quá trình giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ kiến thức đã học, áp dụng một cách sáng tạo, linh hoạt kiến thức ấy vào trong thực tế, sinh viên được làm quen với thực tế sản xuất và từ đó giúp sinh viên học hỏi, rút ra những kinh nghiệm trong thực tế, nhằm nâng cao năng lực chuyên môn để sau khi ra trường có thể đáp ứng được nhu cầu của xã hội
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa
Nông học, em đã tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của mật độ đến khả
năng sinh trưởng và năng suất giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu 2016 tại huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên”
Để hoàn thành khóa luận này, em nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy cô giáo khoa Nông học và các thầy cô giáo trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ths Nguyễn Thị Phương
Oanh và Ths Phạm Thị Thu Huyền đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn em trong
quá trình nghiên cứu
Do thời gian có hạn, kinh nghiệm và trình độ của bản thân còn hạn chế nên khóa luận tốt nghiệp của em không tránh khỏi những sai sót Em mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các bạn để khóa luận của
em được hoàn thiện hơn
Em xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Sinh viên
Ngô Thị Hòa
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây 5
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất đậu tương ở Mỹ những năm gần đây 7
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất đậu tương ở Brazil những năm gần đây 8
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất đậu tương ở Trung Quốc những năm gần đây 9
Bảng 2.5: Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam những năm gần đây 10
Bảng 2.6: Tình hình sản xuất đậu tương tại Thái Nguyên những năm gần đây 12
Bảng 4.1: Tình hình thời tiết khí hậu vụ hè thu 2016 tại Thái Nguyên 1
Bảng 4.2: Bảng theo dõi thời gian sinh trưởng của các công thức mật độ 25
Bảng 4.3: Chiều cao cây trung bình ở các giai đoạn sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 trồng ở các mật độ khác nhau 29
Bảng 4.4: Đặc điểm hình thái của giống đậu tương ĐT51 ở các mật độ khác nhau 31
Bảng 4.5: Chỉ số diện tích lá và khả năng tích lũy vật chất khô của giống đậu tương ĐT51 ở các mật độ khác nhau 34
Bảng 4.6: Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu của giống đậu tương ĐT51 khi trồng với các mật độ khác nhau 36
Bảng 4.7: Một số sâu hại chính và khả năng chống đổ của giống đậu tương ĐT51 khi trồng với các mật độ khác nhau 38
Bảng 4.8: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT51 khi trồng với các mật độ khác nhau 41
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: NSLT và NSTT của giống đậu tương ĐT51 khi trồng với các mật
độ khác nhau trong thí nghiệm 41
Trang 6KNTLVCK : Khả năng tích lũy vật chất khô
LSD05 : Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa P1000 hạt : Khối lượng 1000 hạt
TS : Tiến sĩ
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
KÝ HIỆU VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
PHẦN I MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn đề tài 4
2.1.1 Cơ sở khoa học 4
2.1.2 Cơ sở thực tiễn 4
2.2 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam 5
2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới 5
2.2.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam 10
2.2.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên 12
2.3 Tình hình nghiên cứu về mật độ trồng đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam 13
2.3.1 Trên thế giới 13
2.3.2 Ở Việt Nam 14
PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 17
Trang 83.1.1 Đối tượng nghiên cứu 17
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 17
3.1.3 Nội dung nghiên cứu 17
3.2 Phương pháp nghiên cứu 17
3.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 17
3.2.2 Quy trình kỹ thuật 19
3.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi 20
3.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 23
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến thời gian sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu 2016 tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 24
4.1.1 Giai đoạn từ gieo hạt đến mọc 25
4.1.2 Giai đoạn phân cành 25
4.1.3 Thời kỳ cây ra hoa và tạo quả 26
4.1.4 Thời kỳ chắc xanh 27
4.1.5 Thời kỳ quả chín 28
4.2 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến một số đặc điểm hình thái giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu 2016 tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 28
4.2.1 Chiều cao cây của giống đậu tương ĐT51 khi trồng với các mật độ khác nhau 29
4.2.2 Một số đặc điểm hình thái khác của giống đậu tương ĐT51 khi trồng ở các mật độ khác nhau 30
4.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến một số chỉ tiêu sinh lý của giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu 2016 tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 32
4.3.1 Chỉ số diện tích lá và khả năng tích lũy vật chất khô 33
4.3.2 Khả năng hình thành nốt sần hữu hiệu 35
Trang 94.4 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến tình hình sâu bệnh và khả năng chống
đổ của giống ĐT51 vụ hè thu tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 37 4.5 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu 2016 tại huyện Phú
Lương, tỉnh Thái Nguyên 40
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Đề nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHỤ LỤC 1 THỜI TIẾT KHÍ HẬU VỤ HÈ THU 2016 TẠI THÁI NGUYÊN 1
Trang 10PHẦN I
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Đậu tương (đỗ tương, đậu nành) tên khoa học là Glycine Max (L) Merr
là cây trồng cạn ngắn ngày, có giá trị cao về nhiều mặt
Đậu tương là cây trồng luân canh, xen canh, gối vụ với nhiều loại cây trồng khác và là cây cải tạo đất rất tốt (Ngô Thế Dân và cs,1999)[3]; là một trong những loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao: hàm lượng protein trung bình 35,5 - 40%, cao hơn trong ngô (9,8 - 13,2%), gạo (6 - 12%), thịt bò (21%)…; hàm lượng lipit từ 15 - 20%; hydratcacbon từ 15 - 16%, … và nhiều loại muối khoáng quan trọng cho sự sống (Trần Văn Điền, giáo trình Cây đậu tương)[4], hàm lượng axit quan trọng chứa lưu huỳnh như methionine, cysteine trong đậu tương cao gần bằng trong trứng gà; hàm lượng lysine cao gấp 1,5 lần trong trứng…Trong đậu tương còn có nhiều loại vitamin như A, B, C, D, PP… đặc biệt trong hạt đậu tương đang nảy mầm có rất nhiều vitamin C Trong y học, đậu tương được coi như một loại thực phẩm cứu tinh cho bệnh nhân xơ vữa động mạch và cao huyết áp; các chất genistein, isoflavone có nhiều trong hạt đậu nành có đặc tính chống oxy hóa giúp ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư và ở phụ nữ, nó sẽ có tác động trong việc phòng ngừa ung thư vú trong khi ở nam giới là ung thư tuyến tiền liệt,…(https://khoahoc.tv/7-dieu-tuyet-voi-ma-dau-tuong-mang-lai-cho-suc-khoe-cua-ban)[12] Trong công nghiệp, đậu tương là nguyên liệu cho nhiều ngành công nghiệp như ép dầu, chế biến cao su nhân tạo, sơn, mực in, chất đốt lỏng, dầu bôi trơn… (Trần Văn Điền, giáo trình Cây đậu tương)[4]
Năm 1960 diện tích trồng đậu tương trên thế giới là 21 triệu ha thì đến năm 2013 đã tăng lên, đạt 111,27 triệu ha, năng suất đạt 24,84 tạ/ha, sản lượng đạt 276,41 triệu tấn (FAOSTAT, 2017)[11]
Ở Việt Nam, đậu tương là cây trồng
Trang 11có vai trò quan trọng mang lại hiệu quả kinh tế cao, cải tạo đất, cung cấp nguyên liệu cho nhiều ngành chế biến Hơn nữa, cây đậu tương lại thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới nước ta, do đó, chúng ta nên xem xét để khai thác lợi thế này trong chiến lược phát triển kinh tế Tuy nhiên theo thống kê, diện tích trồng đậu tương của nước ta đang giảm dần đi: năm 2000, cả nước có 124,1 nghìn ha trồng đậu tương, năm 2004 diện tích trồng tăng lên 183,8 nghìn ha, và đến năm 2014 sơ bộ trên cả nước còn 110,2 nghìn ha trồng đậu tương (Tổng cục Thống kê,2017)[7] Đặc biệt, Thái Nguyên là một tỉnh thuộc khu vực Trung
du miền núi phía Bắc, có những điều kiện thuận lợi cho phát triển cây đậu tương nhưng diện tích trồng đậu tương lại giảm mạnh: năm 2004, diện tích đậu tương trên toàn tỉnh là 3,6 nghìn ha, đến năm 2014, trên toàn tỉnh chỉ còn 1,2 nghìn ha gieo trồng đậu tương Nguyên nhân chính là do năng suất đậu tương chưa cao
Giống đậu tương ĐT51 là một giống mới được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận, cho sản xuất thử ở các tỉnh phía Bắc, theo quyết định số 218/QĐ-TT-CCN ngày 15 tháng 6 năm 2012, được coi là giống có tiềm năng năng suất cao và cần có những nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật cho giống trên đất địa bàn tỉnh Thái Nguyên Từ những yêu cầu thực tiễn đó, chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng sinh
trưởng và năng suất giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu 2016 tại huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Xác định được mật độ trồng thích hợp cho sinh trưởng và năng suất giống đậu tương ĐT51 trong vụ hè thu tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
+ Đánh giá đặc điểm nông sinh học của giống đậu tương ĐT51 qua các mật độ khác nhau
Trang 12+ Đánh giá một số đặc điểm sinh lý của giống đậu tương ĐT51 qua các mật độ khác nhau
+ Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh hại và khả năng chống đổ của giống đậu tương ĐT51 qua các mật độ khác nhau
+ Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống đậu tương ĐT51 qua các mật độ khác nhau
1.4 Ý nghĩa của đề tài
+ Trong quá trình thực hiện đề tài giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa kiến thức để áp dụng vào thực tế, rèn luyện kỹ năng thực hành và tích lũy kinh nghiệm trong sản xuất
+ Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ xác định được mật độ trồng thích hợp cho giống đậu tương ĐT51 tại Thái Nguyên; là tài liệu khoa học để giáo viên và sinh viên trong ngành tham khảo
+ Qua kết quả của việc nghiên cứu sẽ đưa ra được mật độ thích hợp để giống cho năng suất cao, phù hợp với vụ hè thu tại Thái Nguyên, từ đó bố cáo cho nông dân sản xuất nhằm đạt được năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất
Trang 13PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học và thực tiễn đề tài
2.1.1 Cơ sở khoa học
Mật độ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng lấy nước và dinh dưỡng; khả năng nhận ánh sáng để quang hợp và phát triển của cây, do đó trực tiếp chi phối đến năng suất cây trồng nói chung cũng như năng suất đậu tương nói riêng Bên cạnh đó, những giống cây khác nhau lại chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh khác nhau, bị chi phối bởi mật độ khác nhau Mật độ thích hợp đối với từng giống cây là yếu tố quan trọng quyết định năng suất cây trồng, hiệu quả kinh tế mà cây trồng mang lại
Để có được mật độ thích hợp đối với từng giống đậu tương trong từng vùng sản xuất thì công tác nghiên cứu, thử nghiệm mật độ là vô cùng quan trọng Đó là một cuộc thí nghiệm đưa ra nhiều mật độ khác nhau nhằm xác định ảnh hưởng của yếu tố đó lên giống khác nhau như thế nào trong cùng một điều kiện của địa phương, từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một giống đậu tương
Nếu không nghiên cứu về mật độ thích hợp đối với giống đậu tương thì
ta không thể tìm ra biện pháp phù hợp nhằm thâm canh tăng năng suất đậu tương, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
Sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên chưa phát triển mạnh do hiệu quả sản xuất chưa cao Có nhiều nguyên nhân như năng suất thấp, đầu tư cao mà giá bán không cao, giá cả bấp bênh, hiệu quả kinh tế thấp, sâu bệnh hại … Trong đó nguyên nhân chính là mật độ trồng chưa thích hợp để tạo điều kiện cho cây đậu tương có điều kiện sinh trưởng phát triển và cho năng suất cao
Trang 14nhất, giảm đi chi phí về đầu tư giống, dinh dưỡng, phòng trừ sâu bệnh, nâng cao hiệu quả kinh tế Bên cạnh đó, giống đậu tương ĐT51 là một giống mới được Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận, cho sản xuất thử ở các tỉnh phía Bắc nên chưa có nhiều nghiên cứu về mật độ thích hợp cho giống
Xuất phát từ thực tiễn đó, chúng ta cần nghiên cứu mật độ thích hợp đối với giống đậu tương ĐT51 sao cho phù hợp với điều kiện của vùng, nhằm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho nông dân
2.2 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Đậu tương là cây trồng có giá trị cao về nhiều mặt, đem lại hiệu quả kinh tế cao nên được trồng rất phổ biến và rộng rãi trên khắp các châu lục Cây đậu tương có nguồn gốc từ vùng Đông Bắc Trung Quốc, có nguyên sản tại Châu Á nhưng được gieo trồng chủ yếu tập trung ở Châu Mỹ với 86,4% diện tích, ở Châu Á có 10,6% diện tích và 3% còn lại ở Châu Âu và Châu Phi (FAOSTAT, 2017)[11] Cây đậu tương đã trở thành cây trồng quan trọng thứ 4 sau lúa nước, ngô và lúa mì Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.1:
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới những năm gần đây
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 15Nhận xét:
Qua bảng 2.1 trên ta thấy:
Về diện tích: Trong những năm gần đây, diện tích trồng đậu tương trên thế giới đang có xu hướng tăng đều qua các năm, và tăng mạnh từ năm 2012 tới nay, từ 105,5 triệu ha (2012) lên 117,5 triệu ha (2014) Sau 3 năm, diện tích trồng đậu tương tăng 12,1 triệu ha, tương đương 11,45%, so với những năm 2012 và mỗi năm trung bình diện tích tăng thêm 9,5% so với năm trước Qua bảng số liệu có thể nhận thấy xu hướng diện tích trồng đậu tương sẽ ngày càng tăng trong thời gian tới
Về năng suất: Năng suất không ổn định theo 1 hướng tăng hoặc giảm
mà luôn dao động Nhìn chung năng suất đậu tương trong 5 năm gần đây nhất luôn nằm trong khoảng từ 23 đến 26 tạ/ha Năm 2012 là năm có năng suất thấp hơn cả, chỉ đạt 22,9 tạ/ha, đến năm 2013 đã có một bước nhảy vọt, năng suất đậu tương trên thế giới đã tăng 2,1 tạ/ha và duy trì đến năm 2014 tăng 1,1 tạ/ha so với năm trước đó (năm 2013)
Về sản lượng: Do diện tích gieo trồng vẫn tăng nhưng năng suất dao động nên sản lượng đậu tương trong những năm gần đây cũng có những biến động đáng kể Năm 2011, sản lượng đậu tương giảm gần 3 triệu tấn so với thống kê năm 2010 (từ 265,0 triệu tấn xuống 261,6 triệu tấn), và giảm mạnh hơn trong năm 2012 (tiếp tục giảm thêm 19,9 triệu tấn so với năm 2011) Trong năm tiếp theo, năm 2013, sản lượng đã tăng đáng kể, tăng 36,0 triệu tấn Sự tăng vọt này cũng là nhờ tăng lên cả về năng suất và diện tích gieo trồng Nhìn chung, từ năm 2012 đến năm 2014, sản lượng có hướng tăng đều theo diện tích gieo trồng và năng suất
Trên thế giới, đậu tương được trồng nhiều ở Châu Mỹ chiếm tới 86,4% diện tích trồng đậu tương trên toàn thế giới, tiêu biểu như các nước Mỹ, Brazil; Châu Á với 10,6% diện tích canh tác đậu tương lại tập trung chủ yếu ở Trung Quốc
Trang 16Bảng 2.2: Tình hình sản xuất đậu tương ở Mỹ những năm gần đây
Chỉ tiêu Năm
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ / ha)
Sản lượng (triệu tấn)
2013, diện tích có tăng lên nhưng không đáng kể, tăng từ 30,8 triệu ha lên 30,9 triệu ha Năm 2014, diện tích canh tác đậu tương của Mỹ đạt lớn nhất trong giai đoạn 2010 - 2014 (33,4 triệu ha) Tuy có những biến động nhưng diện tích gieo trồng đậu tương của Mỹ luôn chiếm khoảng 32% so với toàn thế giới
+ Về sản lượng: sản lượng đậu tương của Mỹ cũng có những biến động không nhỏ, dao động từ 82,8 – 106,9 triệu tấn Sản lượng đậu tương năm
2012 thấp nhất trong giai đoạn 2010 - 2014 (đạt 82,8 triệu tấn), và cao nhất vào năm 2014 với 106,8 triệu tấn Sản lượng giảm mạnh vào năm 2011, giảm hơn 6 triệu tấn (từ 90,6 triệu tấn năm 2010 còn 84,2 triệu tấn năm 2011) Sản lượng tiếp tục giảm trong năm 2012 và sau đó mới tăng dần lên trong các năm tiếp theo Sản lượng đậu tương của Mỹ chiếm khoảng 30% sản lượng thế giới
Trang 17+ Về năng suất: năng suất đậu tương của Mỹ dao động từ 26,9 – 32,0 tạ/ha Năng suất đạt cao nhất vào năm 2014 và thấp nhất năm 2012 Trong khoảng từ năm 2010 đến năm 2011, năng suất giảm khoảng 1 tạ/ha, đến năm
2012 giảm mạnh hơn, khoảng 2 tạ/ha Đến năm 2013, 2014, năng suất tăng đều qua các năm Năng suất đậu tương của Mỹ cao hơn hẳn so với năng suất toàn thế giới
Bảng 2.3: Tình hình sản xuất đậu tương ở Brazil những năm gần đây
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ / ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 18+ Về năng suất: Năng suất đậu tương của Brazil dao động từ 26,4 – 31,2 tạ/ha Nhìn chung có cao hơn so với toàn thế giới Năng suất cao nhất vào năm 2011 và thấp nhất vào năm 2012 Năng suất tăng nhiều nhất vào năm
2013, tăng gần 3 tạ/ha
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất đậu tương ở Trung Quốc những năm gần đây
Chỉ tiêu Năm
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ / ha)
Sản lƣợng (triệu tấn)
Qua bảng trên ta thấy:
+ Về diện tích: diện tích gieo trồng đậu tương của Trung Quốc dao động từ 6,8 – 8,5 triệu ha trong giai đoạn từ 2010 - 2014 Diện tích lớn nhất vào năm 2010 và nhỏ nhất vào năm 2013 Diện tích giảm dần giai đoạn từ năm 2010 đến 2013 Từ năm 2010 đến năm 2012, bình quân mỗi năm diện tích giảm khoảng 0,7 triệu ha Đến năm 2014, diện tích có xu hướng tăng lên nhưng rất ít, tăng thêm 0,01 triệu ha so với năm 2013
+ Về sản lượng: Sản lượng đậu tương của Trung Quốc giai đoạn 2010 -
2014 dao động từ 12,0 – 15,1 triệu tấn Sản lượng đạt cao nhất năm 2010, thấp nhất vào năm 2013 Từ năm 2010 - 2013, sản lượng giảm dần qua các năm, giảm mạnh vào năm 2012 (giảm 1,4 triệu tấn so với năm 2011) và đến năm 2014 đang có xu hướng tăng lại theo xu hướng của diện tích canh tác nhưng chưa nhiều
+ Về năng suất: Năng suất đậu tương của Trung Quốc thấp hơn so với bình quân thế giới, dao động từ 17,6 – 18,4 tạ/ha Năng suất cao nhất vào năm
Trang 192011 và thấp nhất vào năm 2013 Năng suất đậu tương năm 2011- 2013 có xu hướng giảm và tăng lên vào năm 2014
Trung Quốc đóng góp khoảng 4% toàn thế giới, khoảng 50% của Châu
Á cả về sản lượng và diện tích canh tác
2.2.2 Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nông nghiệp có lịch sử trồng đậu tương lâu đời
Từ thời Hùng Vương xa xưa, nhân dân Văn Lang đã biết đến trồng khoai và đậu nành, và rồi biết chế biến đậu tương thành món ăn dân gian, cung cấp thêm dinh dưỡng trong bữa ăn “ Còn ao rau muống, còn chum tương đầy ” Cho tới nay, với những giá trị mà cây đậu tương mang lại từ nông nghiệp, công nghiệp chế biến, tới dinh dưỡng, giá trị văn hóa…, cây đậu tương đã trở thành một cây trồng quan trọng, đáng được chú tâm phát triển Điều này được thể hiện trong Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội V: “ Đậu tương cần được phát triển mạnh mẽ để tăng nguồn đạm cho người, gia súc, đất đai và trở thành một loại hàng hoá xuất khẩu chủ lực ngày càng quan trọng”
Tuy nhiên tình hình sản xuất đậu tương ở nước ta lại đang mang lại những con số chưa thật tích cực Dưới đây là bảng số liệu thể hiện tình hình sản xuất đậu tương của nước ta trong những năm gần đây:
Bảng 2.5: Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt Nam những năm gần đây
Chỉ tiêu
Năm
Diện tích (nghìn ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
Trang 20Qua bảng 2.5 ta thấy:
Về diện tích: Trong những năm gần đây, diện tích trồng đậu tương của nước ta đang có xu hướng giảm dần từ 197,8 nghìn ha (2010) xuống còn 109,4 nghìn ha (2014) Đặc biệt giảm mạnh giai đoạn năm 2011 - 2012 (giảm
từ 181,4 nghìn ha xuống còn 109,4 nghìn ha) Việc giảm mạnh về diện tích trồng đậu tương như vậy là do năng suất đậu tương có xu hướng giảm, diện tích đất nông nghiệp đang dần thu hẹp
Về năng suất: Nhìn chung năng suất dao động từ 14,3 tạ/ha đến 15,1 tạ/ha Năng suất đậu tương có xu hướng giảm dần qua các năm Năm 2010, năng suất đậu tương là 15,1 tạ/ha, năm 2014, năng suất giảm còn 14,3 tạ/ha Năng suất đậu tương liên tục giảm trong những năm gần đây là do diễn biến khó lường của thời tiết, dịch bệnh… và cũng 1 phần không nhỏ là do biện pháp kỹ thuật của người dân chưa đúng
Về sản lượng: Cùng với sự giảm không ngừng của diện tích và năng suất, sản lượng đậu tương của nước ta trong những năm gần đây cũng không ngừng giảm xuống Năm 2010, sản lượng đạt con số 298,6 triệu tấn thì tới năm 2014, tổng sản lượng đậu tương trên cả nước chỉ còn lại 156,6 triệu tấn Sau 4 năm, sản lượng đã giảm 142,1 triệu tấn Đây quả là biến chuyển thiếu tích cực, đi ngược lại hướng chỉ đạo của Đảng ta
Nhìn chung việc sản xuất đậu tương của nước ta những năm gần đây đã
có những biến động rõ rệt về diện tích, năng suất, sản lượng Nguyên nhân là do:
- Thiếu sự quan tâm đúng mức, sự lãnh đạo của các địa phương đối với cây đậu tương
- Chưa có được biện pháp kỹ thuật, kiến thức gieo trồng đúng cho giống đậu tương
- Diện tích đất trồng đậu tương tập trung ở miền núi, cơ sở vật chất còn nghèo
Trang 21- Chưa thay đổi được tập quán canh tác truyền thống của người dân
- Giá bán chưa ổn định
Vì vậy để nâng cao năng suất, sản lượng đậu tương thì cần phải có sự quan tâm của các cấp, các ngành đặc biệt là đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học
2.2.3 Tình hình sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên
Tình hình sản xuất đậu tương ở Thái Nguyên trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.6
Bảng 2.6: Tình hình sản xuất đậu tương tại Thái Nguyên những năm gần đây
Chỉ tiêu
Năm (nghìn ha) Diện tích
Năng suất (tạ/ha)
Sản lƣợng (nghìn tấn)
Qua bảng trên ta thấy:
Về diện tích: Diện tích trồng đậu tương tại Thái Nguyên trong những năm gần đây liên tục giảm Năm 2010 và năm 2011 diện tích duy trì là 1,6 nghìn ha Đến năm 2012, diện tích gieo trồng đậu tương giảm 0,2 nghìn ha so với năm 2010, tương đương giảm 0,125% diện tích Từ năm 2012 đến năm
2014, diện tích mỗi năm giảm đi 0,1 nghìn ha Đến năm 2015, diện tích gieo trồng giảm đi nhiều hơn, giảm 0,2 nghìn ha so với năm 2014, tương đương 0,167% so với năm 2014
Về năng suất: năng suất đậu tương trên địa bàn tỉnh dao động từ 14,2 đến 15,7 tạ/ha Năm 2010 đến năm 2012, năng suất đậu tương tăng từ 0,6 – 0,7
Trang 22tạ/ha/năm Năng suất đậu tương cao nhất vào năm 2012, đạt 15,7 tạ/ha Đến năm
2013, năng suất bắt đầu giảm, giảm mạnh vào năm 2014, từ 15,4 tạ/ha (năm 2013) xuống còn 14,2 tạ/ha, giảm 1,2 tạ/ha Đến năm 2015, năng suất đậu tương trên địa bàn tỉnh có dấu hiệu tăng lại, tăng 0,8 tạ/ha so với năm trước
Về sản lượng: sản lượng đậu tương luôn biến động từ 1,5 – 2,4 nghìn tấn Năm 2011, sản lượng tăng so với năm 2010, đạt 2,4 nghìn tấn, và cao nhất trong giai đoạn 2010 - 2015 Giai đoạn 2011 – 2014 , sản lượng đậu tương của tỉnh giảm dần, bình quân mỗi năm giảm 0,2 nghìn tấn so với năm trước, giảm nhiều nhất vào năm 2014, giảm 0,3 nghìn tấn so với năm trước
Trước thực trạng sản xuất đậu tương của tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây, để thực hiện theo chủ trương của Đảng và Nhà nước, cùng với việc chọn giống đậu tương phù hợp với điều kiện sinh thái của tỉnh thì cũng cần nâng cao kỹ thuật trồng đậu tương cho nhân dân tỉnh Thái Nguyên, trong
ít phân cành và năng suất cao nhất thu được ở mật độ trồng thấp nhất với khoảng cách hàng hẹp năm 1969 và ở mật độ cao nhất với khoảng cách hàng rộng năm 1970 (Ngô Thế Dân và cs,1999)[3]
Taylor và cộng sự (1982) cho rằng đậu tương trồng hàng cách nhau 25cm cho năng suất cao hơn khi trồng với khoảng cách hàng là 1m (Ngô Thế Dân và cs,1999)[3]
Trang 23Nghiên cứu của Mayer và cs (1991)[10] cho biết: “nếu trồng dày quá thì
số cây trên đơn vị diện tích nhiều, diện tích dinh dưỡng cho mỗi cây hẹp, cây
sẽ thiếu dinh dưỡng và ánh sáng nên cây ít phân cành, số hoa, số quả trên cây
ít, khối lượng 1000 hạt nhỏ; ngược lại nếu trồng thưa quá diện tích dinh dưỡng của cây rộng nên cây phân cành nhiều, số hoa, số quả trên cây nhiều, khối lượng 1000 hạt tăng nhưng mật độ thấp nên năng suất không cao”
Theo nghiên cứu của Cober và các cs (2005) cho biết: “khi gieo đậu tương ở mật độ cao, cây đậu tương thường tăng chiều cao cây, dễ bị đổ ngã và chín sớm hơn Đây là nguyên nhân chính làm giảm năng suất đậu tương” (Cober và các cs, 2005)[8]
Egbe O.M (2010) khi nghiên cứu về mật độ trồng xen đậu tương với lúa miến tại vùng Otobi Nigieria đã bố trí xen đậu tương với ba mật độ 200,
330, và 400 nghìn cây/ha nhận thấy rằng xen đậu tương với mật độ 330 nghìn cây/ha năng suất đậu tương đạt được là cao nhất và việc trồng với mật độ 330
và 400 nghìn cây/ha đã cho hiệu quả kinh tế cao hơn so với chỉ trồng xen với mật độ thấp là 200 nghìn cây/ha (Egbe O.M 2010)[9]
“Đối với cây đậu tương, với nhóm chín cực sớm, mật độ thích hợp cho năng suất cao nhất là khoảng 35 - 40 cây/m2
và khi tăng mật độ tới 50 cây/m2
Trang 24làm giảm mạnh khả năng phân cành nên giảm số quả trên cây Tuy nhiên tăng mật độ tới 60 cây/m2 năng suất vẫn không thay đổi nhiều Do ở mật độ cao cây ít phân cành, số mầm hoa ít làm giảm số quả trên cây nhưng năng suất quần thể đậu tương vẫn không bị ảnh hưởng đáng kể Nhưng ở mật độ cao đã làm giảm thời gian sinh trưởng 5 - 7 ngày, điều này có ý nghĩa trong việc bố trí các công thức luân canh” (Nguyễn Thế Côn, 1996)[2]
Theo Vũ Đình Chính và Ninh Thị Phíp (2000) khi nghiên cứu xác định mật độ trồng thích hợp cho giống đậu tương D140 ở vùng Đồng bằng Sông Hồng đã đưa ra kết luận: “giống D140 cho năng suất cao nhất ở mật độ trồng
45 cây/m2 trong vụ xuân và vụ đông ở mật độ trồng 35 cây/ m2 trong vụ hè” (Vũ Đình Chính và cs, 2000)[1]
Với giống có thời gian sinh trưởng trung bình và số cành 1 - 2, tác giả Trần Thị Trường cho rằng “vụ xuân nên gieo từ 30 - 35 cây/m2, vụ hè 25 - 30 cây/m2, vụ đông 40 - 45 cây/m2, Còn đối với giống có thời gian sinh trưởng ngắn, trên chân đất cát pha có thể trồng dày 55 - 65 cây/m2” (Trần Thị Trường
và CTV, 2005)[6]
Khi xác định mật độ gieo trồng cho đậu tương, nhóm tác giả Ngô Thế Dân và cs (1999) chỉ ra rằng “cần phải căn cứ vào thời gian sinh trưởng của giống (chín sớm, chín trung bình hay chín muộn), đặc điểm sinh học của cây (cao thấp, phân cành nhiều hay ít, tán lá) trồng xen hay trồng thuần, thời vụ trồng (vụ xuân, vụ hè hay vụ đông) mà quyết định Nếu giống chín sớm, thấp cây, tán gọn thì nên trồng dày; giống dài ngày, cây cao to, phân cành nhiều, lá
to thì trồng thưa Vụ đông ở miền Bắc nên trồng dày hơn vụ xuân, vụ hè” (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [3]
Khi nghiên cứu mật độ trồng cho giống AK06, tác giả Đỗ Minh Nguyệt
và cs kết luận: “mật độ thích hợp để giống AK06 phát huy năng suất là từ 30
- 35 cây/m2” (Đỗ Minh Nguyệt và cs, 2002) [5]
Trang 25Với cây đậu tương, quy trình hướng dẫn của bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ở vụ xuân với giống ngắn ngày trồng mật độ 50 - 60 cây/m2, giống trung ngày 40 - 50 cây/m2, vụ hè với giống ngắn ngày trồng mật độ 40 -
50 cây/m2, giống trung ngày 30 - 40 cây/m2, giống dài ngày 15 - 20 cây/m2
Trang 26PHẦN III ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Giống đậu tương ĐT51 do Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Đậu đỗ Viện KHCN Việt Nam chọn tạo
3.1.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu
+ Thí nghiệm được thực hiện trên chân đất màu tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
+ Nền đất thí nghiệm là đất cát pha, thoát nước tốt, đã qua canh tác nhiều năm; các biện pháp canh tác, đầu tư như nhau, đảm bảo điều kiện đồng đều cho nền thí nghiệm
Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành trong vụ hè thu năm 2016 (tháng 7 – tháng
10 năm 2016)
3.1.3 Nội dung nghiên cứu
+ Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của giống ĐT51 trong vụ hè thu 2016 tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
+ Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý của giống ĐT51 trong vụ hè thu
2016 tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
+ Nghiên cứu tình hình sâu bệnh và khả năng chống đổ của giống ĐT51 trong vụ hè thu 2016 tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
+ Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (Randomized Complete Block Design - RCBD), gồm 4 công thức và 3 lần
Trang 27nhắc lại Trong đó, công thức 3 mật độ 30 cây/m2 là công thức đối chứng, 3 công thức mật độ còn lại là công thức thí nghiệm
+ Kích thước mỗi ô thí nghiệm: 1,7m x 5m = 8,5m2
; hàng cách hàng 30cm, cây cách cây theo công thức mật độ:
Trang 283.2.2 Quy trình kỹ thuật
+ Thời vụ: vụ hè thu, gieo ngày 3/7/2016
+ Làm đất: đất được cày bừa kỹ, làm sạch cỏ dại, sau đó lên luống, rạch hàng
+ Bón phân theo công thức:
Tưới tiêu nước: khi gieo, nếu đất khô thì phải tưới nước đảm bảo đủ
ẩm độ để hạt có thể nảy mầm tốt Sau gieo cũng nên thường xuyên kiểm tra
độ ẩm đất, cần tưới nước nếu thời tiết khô hạn kéo dài, đất khô hoặc thoát nước kịp thời nếu bị ngập úng Đảm bảo chế độ nước phù hợp cho cây vào các thời kỳ như trước ra hoa và thời kỳ tạo hạt
Vun xới lần 1: khi cây được 2 - 3 lá thật, tiến hành vun xới phá váng, kết hợp bón thúc cho cây, tạo độ thoáng khí cho rễ phát triển thuận lợi
Trang 29nấm, sâu đục quả khi cây vào thời kỳ ra hoa tạo quả Kịp thời phát hiện và trị sâu, bệnh khi phát hiện sâu bệnh đạt ngưỡng kinh tế
3.2.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi
Áp dụng theo hệ thống tiêu chuẩn của QCVN 01-58: 2011/BNNPTNT
do Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón
Quốc gia biên soạn, Cục Trồng trọt trình duyệt, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn ban hành ta ̣i Thông tư s ố 48 /2011/TT-BNNPTNT ngày 05 tháng 7 năm 2011
Các chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển:
+ Ngày gieo: 3/7/2016
+ Ngày mọc: tính khi có 50% số cây trong ô thí nghiệm có 2 lá mầm xòe trên mặt đất
+ Ngày ra hoa: tính khi 50% số cây trên ô ra hoa đầu tiên
+ Ngày chắc xanh: khi 50% số cây trên ô có quả đã vào chắc
+ Ngày chín: khi 90% số quả trên ô đã chín, vỏ quả chuyển màu nâu hoặc đen
+ Chiều cao cây (cm): đo từ đốt 2 lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thân chính khi thu hoạch; đo 10 cây/ô (lấy ở 2 rạch giữa luống, mỗi rạch 5 cây) và tính trung bình
+ Đường kính thân (mm): đo ở giữa đốt đầu tiên trên thân chính lúc thu hoạch; đo 10 cây/ô (lấy ở 2 rạch giữa luống, mỗi rạch 5 cây) và tính trung bình
+ Số cành cấp 1: đếm số cành mọc ra từ thân chính; đếm 10 cây/ô (lấy
ở 2 rạch giữa luống, mỗi rạch 5 cây) và tính trung bình
+ Số đốt trên thân chính: đếm số đốt trên thân chính của 10 cây/ô (lấy ở
2 rạch giữa luống, mỗi rạch 5 cây) và tính trung bình
Trang 30+ Chỉ số diện tích lá (m2 lá / m2 đất): xác định ở 2 thời kỳ khi đậu tương
ra hoa rộ và chắc xanh
Phương pháp tiến hành: lấy bộ lá của 3 cây liên tiếp trên ô, ở hàng ngoài cùng, chuẩn bị bìa cứng 1dm2, lấy lá ở các tầng dưới, giữa và trên của tán cây, xếp cho khít 1dm2 bìa rồi cân nhanh được khối lượng PA, sau đó cân nhanh khối lượng toàn bộ lá của 3 cây được khối lượng PB Chỉ số diện tích lá (CSDTL) tính theo công thức:
CSDTL (m2 lá/ m2 đất) = * mật độ + Khả năng tích lũy chất khô: tiến hành theo dõi ở 2 thời kỳ khi hoa rộ
và chắc xanh
Phương pháp tiến hành: cân tươi toàn bộ phần trên mặt đất của 3 cây trong ô được khối lượng PT, sau đó đem sấy khô toàn bộ phần PT, sấy đến khi khối lượng cân 3 lần là không đổi được PK Khả năng tích lũy chất khô (KNTLCK) tính theo công thức:
KNTLCK (g/cây) =
Tỷ lệ chất khô (TLCK) tính theo công thức:
TLCK (%) = * 100
Trang 31Khả năng chống chịu sâu bệnh
+ Sâu cuốn lá (Lamprosema Indicata Fabr): điều tra 10 cây đại diện theo
phương pháp 5 điểm chéo góc Tỷ lệ hại (%) tính theo công thức:
+ Giòi đục thân (Melanesgromyza sojae): điều tra 10 cây đại diện theo
phương pháp 5 điểm chéo góc Tỷ lệ hại tính theo công thức:
+ Sâu đục quả (Eitiella Zinekenella Treitschehe): Điều tra 10 cây đại diện
theo phương pháp 5 điểm chéo góc Tỷ lệ hại (%) tính theo công thức:
Khả năng chống đổ
Đếm số cây đổ trên ô và đánh giá theo thang từ 1 đến 5:
Mức 1: Không đổ (Hầu hết các cây đều đứng thẳng)
Các yếu tố cấu thành năng suất:
+ Số cây thực tế thu hoạch trên ô: đếm số cây có quả thực tế trên mỗi ô thí nghiệm
Lấy 10 cây theo dõi trên mỗi ô ở 2 rạch giữa, mối hàng 5 cây để theo dõi các chỉ tiêu:
Số quả trên cây (quả): đếm tổng số quả trên 10 cây theo dõi trên mỗi
ô thí nghiệm, tính trung bình mỗi cây
Số quả chắc trên cây (quả): đếm tổng số quả chắc trên 10 cây trên mỗi ô thí nghiệm, tính trung bình mỗi cây
Trang 32 Số quả 1 hạt trên cây (quả): đếm tổng số quả 1 hạt trên 10 cây theo dõi trên mỗi ô thí nghiệm, tính trung bình mỗi cây
Số quả 3 hạt trên cây (quả): đếm tổng số quả 3 hạt trên 10 cây theo dõi trên mỗi ô thí nghiệm, tính trung bình mỗi cây
+ Khối lượng 1000 hạt (g): mỗi công thức đếm 3 mẫu, mỗi mẫu 1000 hạt ở ẩm độ 12% rồi cân 3 mẫu, chia và lấy trung bình 3 mẫu là khối lượng
1000 hạt của ô thí nghiệm (lấy 2 chữ số sau dấu phẩy)
+ Năng suất lý thuyết (NSLT) (tạ /ha) tính theo công thức:
Trang 33PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến thời gian sinh trưởng của giống đậu tương ĐT51 vụ hè thu 2016 tại huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Bất kỳ cây trồng nào khi hoàn thành một chu kỳ sống cũng đều trải qua quá trình sinh trưởng và phát triển, và 2 quá trình này luôn đan xen nhau, có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình hoàn thành chu kỳ sống của cây trồng Đối với cây đậu tương cũng vậy Quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng nói chung, cây đậu tương nói riêng được chia ra thành 2 giai đoạn chính: giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng và giai đoạn sinh trưởng sinh thực
Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng là giai đoạn được tính từ khi hạt đậu tương được gieo xuống đất, bắt đầu hút nước, trương lên, nảy mầm thành cây rồi hút dinh dưỡng và nước từ đất, thực hiện các quá trình sinh tổng hợp xảy
ra trong cơ thể như đồng hóa - dị hóa để lớn lên và tích lũy các chất, biểu hiện
là sự lớn lên không ngừng của cây về thân, lá, rễ Quá trình sinh trưởng sinh thực bắt đầu khi cây đã sinh trưởng trong 1 thời gian nhất định, đạt được 1 giới hạn về thân lá nhất định và bắt đầu phân hóa mầm hoa, nở hoa, tạo quả
và nuôi quả cho đến khi quả chín trên cây và kết thúc chu trình sống khi cây được thu hoạch về
Những giống đậu tương khác nhau có thời gian sinh trưởng, phát triển dài ngắn khác nhau, và cùng một giống đậu tương khi được trồng, chăm sóc trong điều kiện khác nhau thì thời gian sinh trưởng của chúng cũng bị dao động, trong đó cả tác động của yếu tố mật độ Tùy thuộc vào mật độ gieo trồng khác nhau mà thời gian trong từng giai đoạn sinh trưởng của cây trồng cũng khác nhau
Trang 34Bảng 4.1: Bảng theo dõi thời gian sinh trưởng của các công thức mật độ
4.1.1 Giai đoạn từ gieo hạt đến mọc
Giai đoạn này hạt vừa được gieo xuống đất, bắt đầu hút nước trong đất
và trương lên, chuyển từ trạng thái hạt ngủ nghỉ sang trạng thái sống, hình thành rễ mầm và đội lên khỏi mặt đất, xòe 2 lá mầm ra Đây là thời kỳ quan trọng ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng phát triển của cây sau này Hạt nảy mầm tốt, 2 lá mầm không bị tổn thương hay sâu bệnh là tiền đề cho cây sinh trưởng tốt đến khi có lá thật xuất hiện Trường hợp hạt kém, nảy mầm chậm hơn cũng làm khả năng sinh trưởng của cây con sau này kém hơn, yếu ớt hơn
và dễ bị sâu bệnh
Điều kiện để hạt nảy mầm tốt là nhiệt độ đạt 25 - 300C, độ ẩm đất đạt 75
- 80% Nếu nhiệt độ thấp đậu tương mọc chậm, còn nhiệt độ cao quá thì ảnh hưởng lớn đến quá trình nảy mầm Chất lượng hạt giống tốt, thời điểm gieo thích hợp, làm đất tơi xốp thoáng khí, độ sâu gieo hạt vừa phải từ 2 - 4 cm
Từ bảng 4.1 cho thấy, thời gian từ sau gieo đến mọc của các công thức
là như nhau, đều là 5 ngày
4.1.2 Giai đoạn phân cành
Giai đoạn được tính đến khi cây bắt đầu phân cành, nuôi cành, chuẩn bị
ra hoa Thời kỳ này nhiệt độ trung bình khoảng 22 - 270C, ẩm độ 75 - 80%, ẩm
độ không khí 75 - 80% là phù hợp cho cây Trong giai đoạn này, cây chủ yếu
Trang 35tăng trưởng về rễ, thân, lá, quang hợp mạnh, lấy dinh dưỡng nhiều để tích lũy các chất cần thiết phục vụ cho quá trình lớn lên của các bộ phận, hình thành các cành cấp 1 và chuẩn bị ra hoa
Đây cũng là thời kỳ cây thiếu hụt dinh dưỡng nên cần xới xáo, làm cỏ, bón thúc để tránh cạnh tranh dinh dưỡng, tạo điều kiện cho bộ rễ của cây phát triển tốt, hình thành nốt sần hữu hiệu và lấy dinh dưỡng tốt nhất bổ sung cho cây Thời kỳ này thân lá phát triển, sâu bệnh cũng bắt đầu phát triển mạnh nên cần thường xuyên thăm đồng để phát hiện và có biện pháp kịp thời khắc phục sâu bệnh hại
Qua bảng 4.1 cho thấy, thời gian từ sau gieo đến phân cành của các công thức dao động từ 20 – 24 ngày Trong đó, công thức 1 và công thức 2 thời gian từ sau gieo đến phân cành là 20 ngày, công thức 3 và công thức 4 phân cành muộn hơn, sau gieo 24 ngày
4.1.3 Thời kỳ cây ra hoa và tạo quả
Thời kỳ bắt đầu khi cây phát triển tới một mức nhất định về thân lá, đã hình thành các cành nhánh thì bắt đầu phân hóa mầm hoa và ra hoa, tạo quả, chuyển từ sinh trưởng sinh dưỡng sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực Đây
là thời kỳ quan trọng trong chu kỳ sống của cây đậu tương Bởi vì nó quyết định
tới sinh khối, tỷ lệ quả chắc, ảnh hưởng đến năng suất sau này của đậu tương
Hoa đậu tương nở thường kéo dài từ 3 - 5 tuần Thời gian nở hoa kéo dài
có lợi hơn trong trường hợp gặp điều kiện thời tiết bất lợi Khi ấy, nếu đợt hoa đầu nở gặp bất lợi thì nhờ có đợt nở hoa sau bổ sung mà đảm bảo không mất mùa Tuy nhiên, hoa nở rộ, nở tập trung thì tỷ lệ đậu quả cao hơn Trong thời gian hoa nở, cây vẫn tiếp tục phát triển về thân, cành, lá, rễ, đặc biệt, chiều cao cây sẽ tăng nhanh trông thấy Do vậy, thời kỳ này cây cần rất nhiều dinh dưỡng, cần cung cấp đầy đủ nước và dinh dưỡng để đảm bảo cây phát triển tốt, tỷ lệ ra hoa, đậu quả cao