LỜI CAM ĐOAN Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 11 theo định hướng phát triển năng lực học sin
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=====0o0=====
NGUYỄN THỊ THẢO
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG YÊN LẠC 1,
Trang 2Trong suốt quá trình nghiên cứu, với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Vì vậy em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5, năm 2018
Tác giả
NGUYỄN THỊ THẢO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 11 theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường Trung học phổ thông Yên
Lạc 1, tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay” dưới sự hướng dẫn của thầy giáo – ThS Nguyễn Quang Thuận tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 là công trình
nghiên cứu khoa học của riêng em Những kết quả thu được hoàn toàn trung
thực và không trùng với kết quả nghiên cứu của những tác giả khác
Hà Nội, tháng 5, năm 2018
Tác giả
NGUYỄN THỊ THẢO
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG YÊN LẠC 1, TỈNH VĨNH PHÚC 7
1.1 Cơ sở lý luận của việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 11 theo định hướng phát triển năng lực học sinh trường trung học phổ thông 7 1.2 Cơ sở thực tiễn của việc đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường Trung học phổ thông Yên Lạc 1, tỉnh Vĩnh Phúc 23
2.1 Quy trình thiết kế đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục công dân lớp 11 của học sinh theo định hướng phát triển năng lực 32
2.2 Quy trình đánh giá kết quả học tập của học sinh trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 11 theo định hướng phát triển năng lực học sinh 47
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 50
Trang 5CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP
11 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG YÊN LẠC 1, TỈNH VĨNH
PHÚC 51
3.1 Kế hoạch thực nghiệm 51
3.2 Các bước tiến hành thực nghiệm 52
3.3 Kết quả thực nghiệm 66
3.4 Một số đề xuất nhằm đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá môn Giáo dục công dân lớp 11 theo định hướng phát triển năng lực học sinh 68 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 76
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
GD&ĐT Giáo dục và đào tạo
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về
cả bốn mặt đức, trí, thể, mỹ và các kĩ năng cơ bản, phát triển NL cá nhân, NL
tự nhận thức và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam, xây dựng phẩm chất và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc có thể bước vào con đườnglao động, tham gia vào công cuộc xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
Ở cấp bậc phổ thông, môn GDCD là một trong những môn học cơ bản góp phần tạo nên nội dung dạy học, giáo dục toàn diện nhân cách HS Ở trường THPT việc giáo dục tư tưởng, pháp luật được thực hiện ở rất nhiều môn khác nhau trong nhà trường cùng giáo dục để hướng tới xây dựng con người toàn diện.Tuy nhiên, chỉ có môn GDCD mới có thể trực tiếp giáo dục cho HS những tri thức về thế giới quan, đạo đức, kinh tế, những vấn đề về chính trị - xã hội, pháp luật theo một hệ thống xác định và toàn diện
Trong quá trình DH nói chung và môn GDCD nói riêng, KTĐG là khâu cuối cùng, giữ vai trò quan trọng trong việc xác định kết quả học tập, mức độ chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ của HS Đồng thời, KTĐG còn giúp xác định kết quả, chất lượng dạy học của GV
Môn GDCD trong trường THPT là môn học chủ chốt trong việc giáo dục cho HS ý thức và hành vi của người công dân, góp phần hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực cần thiết của người công dân trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội - một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đồng thời, môn GDCD còn là môn học có vai trò quan trọng trong việc phát triển tâm lực - một thành tố cơ bản của nhân cách và là nội lực của sự phát triển nhân cách của
HS Do vậy, môn học này góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đào tạo HS thành những người lao động mới đáp ứng đòi hỏi
Trang 8của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay ở một số trường THPT,việc KTĐG kết quả dạy học môn GDCD còn tồn tại nhiều hạn chế như kiểm tra với nội dung kiến thức giản đơn, ít yêu cầu HS vận dụng tri thức, liên hệ thực tế, đánh giá tổng kết là chủ yếu… Do đó, hiệu quả đạt được chưa cao, làm hạn chế việc phát triển khả năng tư duy và sáng tạo, cũng như việc giải quyết vấn đề trong học tập của HS
Hiện nay,với việc đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo định hướng chuyển mạnh quá trình giảng dạy từ chủ yếu trang bị kiến thức sang hình thành những NL, phẩm chất cần thiết cho người học, lấy người học làm trung tâm, GV là người định hướng và tổ chức hoạt động học Việc KTĐG trong dạy học môn GDCD cũng cần phải được thay đổi từ chủ yếu KTĐG về kiến thức sang KTĐG khả năng vận dụng kiến thức, liên hệ thực tế trong cuộc sống thực tiễn, năng lực định hướng hình thành ở HS thông qua các bài học
Từ đó, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả DH môn GDCD, hình thành
và phát triển những năng lực, phẩm chất tốt đẹp cho HS
Từ năm học 2016 – 2017, môn GDCD đã được đưa vào thi THPT Quốc gia với nội dung thi của lớp 12 theo hình thức trắc nghiệm khách quan Trong năm học 2017 – 2018, môn GDCD sẽ được tiếp tục đưa vào thi THPT Quốc gia với nội dung thi của lớp 11, 12 Vì vậy, từ sự nhận thức vai trò quan trong của việc đổi mới phương pháp KTĐG trong dạy học môn GDCD ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực HS và yêu cầu của kỳ thi THPT
Quốc gia trong năm học 2017 – 2018, tác giả đã chọn đề tài “Đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp
11 theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường Trung học phổ thông Yên Lạc 1, tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp
của mình
Trang 92 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Trong hoạt động DH, KTĐG kết quả học tập của HS được coi là một
bộ phận cấu thành của quá trình dạy học Vì vậy đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về vấn đề này
Các tác giả Lê Khánh Bằng, Hà Thị Đức, Trần Bá Hoành, Đặng Vũ Hoạt, với các bài viết xoay quanh thực trạng và giải pháp KTĐG trong giáo dục của nước ta trong vài thập kỉ gần đây như: “Một số vấn đề KTĐG tri thức của HS”; “Đánh giá trong giáo dục”; “KTĐG tri thức của HS trong lịch sử giáo dục và nhà trường” Trong đó tác giả Đặng Vũ Hoạt với bài viết của mình đã trình bày những vấn đề lí luận cơ bản về KTĐG tri thức kĩ năng, kĩ xảo của HS Trong bài viết tác giả đã trình bày những vấn đề về vị trí, chức năng, và các quan điểm KTĐG tri thức của HS dưới góc độ dạy học hiện nay Theo tác giả, việc KTĐG tri thức là một khâu không thể tách rời của quá trình
DH Khi tiến hành KTĐG cần thực hiện tốt chức năng phát hiện - điều chỉnh, chức năng củng cố - phát triển, chức năng giáo dục Để thực hiện tốt chức năng đó, việc KTĐG cần tuân thủ tốt các nguyên tắc sau: Đảm bảo tính thường xuyên, tính hệ thống, đảm bảo tính toàn diện, tính phát triển và đặc biệt là tính khách quan Tác giả cho rằng đảm bảo tính khách quan là quan trọng nhất, không những giúp cho việc KTĐG tri thức mang lại hiệu quả cao
mà góp phần hình thành và phát triển nhân cách HS một cách toàn diện
Tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt trong cuốn Giáo dục học tập 1 (Nhà xuất bản giáo dục, 1987) đã quan niệm về KTĐG như sau: “Kiểm tra và đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS là một khâu quan trọng của quá trình dạy học Xét theo các cách thức thực hiện hệ thống các khâu của quá trình dạy học, kiểm tra và đánh giá có thể xem xét như một nhóm phương pháp dạy học”[22, tr.74] Theo tác giả việc KTĐG tri thức là một khâu không thể tách rời của quá trình dạy học Bởi vì nhờ có quá trình KTĐG mà ta đã
Trang 10kiểm tra được khả năng lĩnh hội tri thức và khả năng vận dụng của HS vào thực tế, đồng thời góp phần vào việc GV phát hiện, điều chỉnh phương pháp dạy học, phương pháp KTĐG sao cho phù hợp với từng đối tượng HS Khi tiến hành KTĐG cần thực hiện tốt chức năng phát hiện - điều chỉnh, chức năng củng cố - phát triển, chức năng giáo dục
Tác giả Trang Thị Lân trong bài “Về việc kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của HS”, (Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 5/1998) có viết: “Trong lí luận dạy học, KTĐG là giai đoạn kết thúc của một quá trình DH KTĐG có ba chức năng: đánh giá, phát hiện lệch lạc và điều chỉnh, trong đó có chức năng đánh giá là chủ đạo Đánh giá trong DH là một quá trình hết sức phức tạp, luôn luôn chứa đựng những nguy cơ không chính xác, dễ sai lầm Vì thế đổi mới phương pháp DH đòi hỏi phải đổi mới cách thức KTĐG, sử dụng kĩ thuật ngày càng tiên tiến và có độ tin cậy cao để dễ thao tác hơn”[16, tr.25 ] Tác giả đã khẳng định việc KTĐG là một khâu quan trọng và khó khăn dễ mắc sai lầm cần phải thay đổi từ phương pháp dạy học rồi đến phương pháp KTĐG để đánh giá HS toàn diện hơn Đối với phương pháp KTĐG cần thay đổi hình thức đánh giá để nhằm xác định đúng NL và phẩm chất của HS
Tại Hội thảo Quốc gia “Về giáo dục đạo đức – công dân trong giáo dục phổ thông Việt Nam” (2013),Nxb Đại học sư phạm Huế, đã có nhiều tác giả viết về đổi mới phương pháp KTĐG trong DH môn GDCD như PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa, PGS.TS Trần Thị Mai Phương, ThS Dương Thị Thúy Nga Các tác giả đã nhấn mạnh vai trò của KTĐG trong DH môn GDCD bậc THPT
là một khâu quan trọng và đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới phương pháp KTĐG trong DH môn GDCD
Gần đây nhất, tại Hội thảo Quốc gia “Đổi mới phương pháp dạy học và KTĐG môn GDCD ở trường trung học” tổ chức tại trường Đại học Sư phạm- Đại học Huế (08/01/2017) đã có 191 báo cáo tham gia Hội thảo Trong đó, có
Trang 11nhiều báo cáo tập trung vào các biện pháp đổi mới KTĐG môn học này ở trường THPT, cách thiết kế câu hỏi, đề thi trắc nghiệm khách quan
Như vậy, KTĐG trong DH nói chung và trong DH môn GDCD nói riêng đã được nhiều tác giả nghiên cứu Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách
cụ thể vấn đề đổi mới phương pháp KTĐG trong DH môn GDCD lớp 11 hiện nay ở trường THPT vẫn chưa có nhiều tác giả nghiên cứu trực tiếp Vì vậy, đề tài khóa luận tốt nghiệp sẽ tiếp tục nghiên cứu thêm về vấn đề này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nhằm mục đích góp phần đổi mới phương pháp KTĐG trong DH môn GDCD lớp 11 ở trường THPT nước ta hiện nay theo định hướng phát triển NL HS
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới phương pháp KTĐG trong DH môn GDCD lớp 11 theo định hướng phát triển NL HS
- Xây dựng quy trình thiết kế đề KTĐG môn GDCD lớp 11 theo định hướng phát triển NL HS ở trường THPT
- Thực nghiệm KTĐG môn GDCD lớp 11 theo định hướng phát triển
NL HS ở trường THPT Yên Lạc 1, tỉnh Vĩnh Phúc
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu vấn đề đổi mới phương pháp KTĐG trong DH môn GDCD lớp 11 theo định hướng phát triển NL HS ở trường THPT Yên Lạc 1 tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay
- Đối tượng khảo sát: HS lớp 11 tại trường THPT Yên Lạc 1, tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 124.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu vấn đề đổi mới phương pháp KTĐG trong DH chương trình GDCD lớp 11 theo định hướng phát triển NL HS
- Thời gian khảo sát: Từ tháng 2/2018 đến tháng 4/2018
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài kết hợp các phương pháp nghiên cứu lí luận và nghiên cứu thực tiễn trong quá trình nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp, so sánh, đánh giá, khái quát hóa,
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phỏng vấn, điều tra
6 Ý nghĩa của đề tài
- Bằng lí luận và thực tiễn, khẳng định tầm quan trọng của việc đổi mới phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS theo hướng phát triển
NL học sinh trong môn GDCD
- Góp phần đề xuất giải pháp đổi mới phương thức KTĐG theo hướng phát triển NL HS trong DH môn GDCD và trong DH môn GDCD lớp 11 ở trường THPT nói riêng
7 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm có 3 chương, 9 tiết
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC ĐỔI MỚI
PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA, ĐÁNH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
YÊN LẠC 1, TỈNH VĨNH PHÚC 1.1 Cơ sở lý luận của việc đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 11 theo định hướng phát triển năng lực học sinh trường trung học phổ thông
1.1.1 Khái niệm, mối quan hệ, ý nghĩa của kiểm tra đánh giá trong dạy học
1.1.1.1 Khái niệm, mối quan hệ của kiểm tra đánh giá trong dạy học
- Kiểm tra: Là xác định kết quả học tập của HS qua từng giai đoạn thực
hiện kế hoạch giáo dục bao gồm kiểm tra học kì (xác định kết quả học tập của
HS khi kết thúc một học kì), kiểm tra cuối năm học (xác định kết quả học tập của HS khi hoàn thành chương trình của năm học)
- Đánh giá: Là quá trình thu thập và xử lí kịp thời, có hệ thống những
thông tin về chất lượng và hiệu quả DH, là cơ sở cho những biện pháp và hành động DH tiếp theo
- Mối quan hệ giữa kiểm tra và đánh giá:
+ Kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS là hai khâu có quan hệ mật thiết với nhau Kiểm tra nhằm cung cấp thông tin để đánh giá và đánh giá thông qua kết quả kiểm tra Hai khâu đó hợp lại thành một quá trình thống nhất là KTĐG
+ KTĐG là một quá trình được tiến hành thành hệ thống, để xác định mức độ đạt được về kiến thức, kĩ năng, trình độ phát triển tư duy HS và trình
độ được giáo dục của người học trong quá trình DH Các yếu tố của KTĐG: Xác định mục tiêu DH, thiết kế và thực hiện chương trình DH và KTĐG là một chỉnh thể tạo thành chu trình học khép kín Mối quan hệ chặt chẽ giữa
Trang 14các yếu tố trên nếu được đảm bảo tốt sẽ tạo nên một quá trình DH đạt hiệu quả cao
+ KTĐG là sự so sánh đối chiếu trình độ, kiến thức, kĩ năng, thái độ và
NL đã được hình thành ở người học với những yêu cầu xác định của mục tiêu
DH, mục tiêu đào tạo Mục tiêu DH là cơ sở cho việc xác định nội dung, xây dựng chương trình học, lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức quá trình
DH Đồng thời mục tiêu DH chi phối toàn bộ quá trình KTĐG kết quả học tập của người học, từ việc xác định mục đích
+ KTĐG là khâu cuối cùng của quá trình DH, song cũng được làm là bước khởi đầu của quá trình tiếp theo với chất lượng mới hơn của cả quá trình học tập
1.1.1.2 Ý nghĩa của kiểm tra đánh giá trong dạy học
KTĐG là một khâu quan trọng của quá trình học tập, thông qua KTĐG kết quả học tập của HS giúp cho GV thu được những thông tin ngược từ HS, phát hiện thực trạng kết quả học tập của HS cũng như những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng đó Đó chính là cơ sở để GV điều chỉnh hoạt động học của HS và hướng dẫn HS tự điều chỉnh, tự hoàn thiện hoạt động học tập của bản thân KTĐG, kết hợp theo dõi thường xuyên các em tạo điều kiện cho người GV nắm được cụ thể và tương đối chính xác kiến thức cũng như NL của từng HS trong lớp do mình giảng dạy hoặc giáo dục, từ đó có những biện pháp thích hợp đối với HS khá giỏi và HS yếu kém, qua đó để nâng cao chất lượng học tập chung của cả lớp KTĐG được tiến hành tốt sẽ giúp GV nắm được trình độ chung của cả lớp hoặc khối lớp, những HS có tiến bộ rõ rệt hoặc sa sút mạnh Qua đó, GV tìm ra những biện pháp động viên hoặc giúp
đỡ kịp thời các HS KTĐG tạo cơ hội cho GV xem xét có hiệu quả những việc hạn chế còn tồn tại để cải tiến nội dung học, phương pháp, hình thức tổ chức DH mà người GV đang tiến hành Từ đó chất lượng giáo dục ngày một nâng cao và có hiệu quả
Trang 15KTĐG kết quả học tập của HS được tiến hành tốt giúp cho HS có cơ hội để ôn tập, củng cố tri thức, phát triển NL tư duy, sáng tạo, nâng cao trí tuệ
và trình độ hiểu biết Đồng thời thông qua KTĐG mà HS có điều kiện để tự nhận thức về khả năng lĩnh hội tri thức, trình độ tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, phương pháp học tập, NL từ đó HS có thể tự điều chỉnh cách học Thông qua KTĐG kết quả học tập giúp hình thành cho HS nhu cầu thói quen tự KTĐG, nâng cao tinh thần trách nhiệm học tập, rèn luyện tính kỉ luật, tính tự giác và ý chí vươn lên trong học tập KTĐG kết quả học tập có tác dụng điều chỉnh cách dạy của GV sao cho phù hợp với hoàn cảnh và góp phần điều chỉnh cách học của HS để nâng cao chất lượng học tập Trên cơ sở các kết quả thu được thông qua KTĐG kết quả học tập của HS, các cấp quản lí đưa ra những phương hướng đúng đắn, chỉ đạo kịp thời hoạt động DH và hoạt động KTĐG trong nhà trường, nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả DH
1.1.2 Các hình thức kiểm tra đánh giá trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 11
Trong quá trình DH, KTĐG là khâu cuối cùng để kiểm định chất lượng
DH của GV và chất lượng học tập của HS Có một số hình thức KTĐG cơ bản trong DH môn GDCD nói chung và môn GDCD lớp 11 nói riêng như:
Trang 16độ học tập không tốt … GV có thể sử dụng phiếu tổng kết để theo dõi mức độ thành thạo của HS về một số kĩ năng học tập nào đó như: kĩ năng tìm đọc tài liệu, kĩ năng tìm kiếm và nghiên cứu tài liệu, kĩ năng sử dụng công nghệ
thông tin, sử dụng ngôn ngữ trong học tập bộ môn
* Hình thức vấn đáp
- Vấn đáp là hình thức KTĐG phổ biến trong DH bộ môn ở trường THPT nói chung và bộ môn GDCD nói riêng Nó được sử dụng trong quá trình kiểm tra bài cũ, dạy bài mới hoặc củng cố cuối tiết học Đây là hình thức KTĐG GV đưa ra các câu hỏi (có thể là câu hỏi nhận biết, thông hiểu hoặc vận dụng) để HS trả lời Căn cứ vào câu trả lời GV có thể xác định mức độ kết quả đạt được của HS và căn cứ vào đó để đánh giá HS sao cho phù hợp và
chính xác
- Kiểm tra vấn đáp có thể dùng lời, đưa tình huống có vấn đề, có thể kết hợp đồ dùng trực quan hoặc sử dụng trò chơi để yêu cầu HS tái hiện tri thức hoặc giải thích một hiện tượng, một sự vật, một vấn đề trong hoàn cảnh phải
tư duy một cách sáng tạo nhằm phát triển NL giải quyết vấn đề có sáng tạo của HS cũng như NL tự học
Ví dụ: Sau khi học xong bài 2: Hàng hóa - Tiền tệ - Thị trường GV có thể đặt câu hỏi: Trình bày nội dung của quy luật giá trị trong sản xuất hàng hóa? Cho ví dụ?
* Hình thức viết
- Là hình thức KTĐG được sử dụng cả trước và sau khi học một tiết học một chủ đề, hay một số chương hoặc toàn bộ môn học Được sử dụng phổ
biến trong DH môn GDCD
- Có hai loại kiểm tra viết: Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
+ Trắc nghiệm tự luận: Đây là hình thức kiểm tra trong đó HS được tự
do viết câu trả lời ra giấy về một chủ đề cho trước với yêu cầu phù hợp với
Trang 17nội dung câu hỏi, đảm bảo đúng kiến thức nhằm phát triển NL tư duy của HS
Từ đó GV dựa vào những câu trả lời được viết ra của HS để cho điểm đúng vời khả năng, trình độ cũng như mức độ hiểu biết của HS tránh xảy ra tình trạng không công bằng trong quá trình đánh giá hoặc xác định mức độ kết quả
bài thi
Trong bài kiểm tra tự luận thường có ít câu hỏi nhưng câu hỏi lại có rất nhiều dạng như tái hiện tri thức, phân tích, vận dụng để giải quyết một tình huống có vấn đề Với đặc thù tri thức môn học, bài kiểm tra tự luận trong DH GDCD ở THPT thường sử dụng câu hỏi đóng (là dạng câu hỏi sử dụng để đánh giá mức độ tái hiện lại tri thức, thông hiểu hoặc vận dụng thấp), câu hỏi
mở (là dạng câu hỏi sử dụng dùng để đánh giá mức độ vận dụng, tính sáng tạo của HS qua việc phân tích, giải quyết tình huống) hoặc câu hỏi theo 6 mức độ của B.S.Bloom: nhận biết (là câu hỏi tái hiện lại tri thức), thông hiểu (là loại câu hỏi kiến thức cơ bản được thay đổi ít nhiều so với kiến thức đã học), vận dụng (là loại câu hỏi đòi hỏi hóc sinh vận dụng, liên hệ thực tế, giải quyết hoặc đánh giá một vấn đề), phân tích, tổng hợp (là câu hỏi khái quát hệ thống kiến thức), đánh giá (là loại câu hỏi yêu cầu HS đưa ra nhận xét, đánh giá về một vấn đề cụ thể nào đó)
Ví dụ: Trong bài 6: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” GDCD lớp 11 GV có thể đưa ra câu hỏi: Vì sao ở nước ta trong giai đoạn hiện nay công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là một tất yếu khách quan? Là công dân em cần phải làm gì góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước?
+ Trắc nghiệm khách quan: Là một phương tiện đo lường khả năng học tập của HS một cách chính xác, khách quan nhờ số điểm được xác định qua bài trắc nghiệm tạo ra mà không bị chi phối bởi tác động của người chấm bài
Trang 18Yếu tố quyết định bài trắc nghiệm khách quan đó là câu hỏi Có nhiều loại câu hỏi trong một bài trắc nghiệm Tuy nhiên, hiện nay trong DH môn GDCD ở THPT hiện nay có 5 loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan:
- Soạn câu hỏi có nhiều lựa chọn:
+ Phần gốc và phần trả lời (phần lựa chọn) phải trên cùng một nội dung đánh giá, chủ ngữ phải phù hợp với động từ
+ Các phương án lựa chọn phải tương tự nhau về độ khó và dễ cũng như độ dài của câu
+ Chỉ nên có một đáp án lựa chọn đúng Câu trả lời đúng phải chính xác, không được gần đúng hoặc suy ra là đúng Hạn chế đến mức thấp nhất phương án được lựa chọn có dạng: tất cả những cái đó hoặc không cái nào cả,
vì những phương án như vậy dễ làm HS hiểu lầm là sự gợi ý vì thế HS sẽ dễ phán đoán đó là câu trả lời chính xác
+ Các câu hỏi nhiễu phải hợp lí, logic với người không am hiểu hoặc hiểu chưa đúng về vấn đề được hỏi Hình thức của câu hỏi nhiễu phải tương đương với câu hỏi đúng (về cấu trúc logic, về độ dài,…) Giữa các câu đúng
và câu nhiễu phải không có nhân tố phát hiện (loại trừ nhau) Số lượng câu nhiễu không ít hơn 3
+ Vị trí của câu trả lời đúng cần được đặt ngẫu nhiên trong các câu hỏi nhiễu Tránh đặt cố định ở một vị trí Trong một bài trắc nghiệm cần có nhiều câu hỏi lựa chọn và sắp xếp các câu hỏi sao cho hợp lí
Ví dụ: Trong bài 13: “Chính sách giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa” GV có thể đưa ra câu hỏi có nhiều lựa chọn như sau:
Câu hỏi: Tối ngày 15/ 3 trường THPT B tổ chức “Vui hội trăng rằm” cho học sinh bán trú Điều đó thể hiện phương hướng nào dưới đây của chính sách văn hóa?
a Nâng cao mức hưởng thụ văn hóa
Trang 19b Tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại
c Kế thừa những truyền thống của dân tộc
d Phát huy phong tục tập quán của địa phương
- Soạn câu hỏi đúng sai:
+ Ngôn ngữ phải ngắn gọn, rõ ràng, tránh lặp từ gây rối câu hỏi khiến
HS mất quá nhiều thời gian để phân tích câu hỏi
+ Câu trả lời (đúng- sai) phải là các sự kiện chứ không phải là ý kiến Nếu câu hỏi là quan hệ nhân quả thì nên lựa chọn quan hệ có một nguyên nhân rõ ràng
+ Câu phát biểu phải hoàn toàn đúng hoặc sai, tránh dùng câu phủ định (nhất là phủ định hai lần) chẳng hạn như “không”, “không phải” hoặc các từ
“đôi khi”, “luôn luôn”, có thể, vài ba, thường thường,… vì chúng dễ gây hiểu lầm cho HS trong khi lựa chọn
+ Bố trí các câu đúng và câu sai phải có dụng ý, nhằm tránh sự trùng lặp các câu đúng hoặc sai theo quy luật
Ví dụ: Trong bài 10: “Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa” GDCD 11 hãy điền chữ Đ vào ô tương ứng với câu đúng, chữ S vào ô tương ứng với câu sai trong bảng sau:
a Công dân được hưởng đời sống vật chất và tinh thần đầy đủ
theo nhu cầu của bản thân để phát triển toàn diện
b Công dân có quyền được học không hạn chế mà không bị
ràng buộc bởi quy định gì
c Công dân có quyền học tập không phân biệt dân tộc, giới tính,
tôn giáo, nguồn gốc gia đình
d Công dân có quyền được khuyến khích, bồi dưỡng để phát
triển tài năng
Trang 20- Soạn câu hỏi ghép đôi:
+ Phải đưa ra câu hỏi chỉ dẫn rõ ràng về cách ghép hai mệnh đề Cần nhớ, phần dẫn thường ở bên trái còn phần trả lời thường ở bên phải, ghép phải sang trái
+ Đánh số ở một cột và chữ ở cột kia, các dòng trên mỗi cột phải tương đương về nội dung, hình thức, cấu trúc ngữ pháp và độ dài
+ Cần giới hạn chặt chẽ về mặt nội dung trong câu hỏi
+ Nên hạn chế các câu ở phần dẫn, chỉ nên 4-5 câu là vừa
Ví dụ: Trong bài 2: “ Hàng hóa – Tiền tệ - Thị trường” GV có thể đưa
ra câu hỏi dạng ghép đôi như sau:
định giá cả và số lượng hàng hóa, dịch vụ
4 Sản xuất và lưu thông hàng hóa D Là kết quả phát triển của hình thái
giá trị
- Soạn câu hỏi điền khuyết:
+ Nên hạn chế số lượng chỗ trống trong câu (chỉ tối đa là 3-4 chỗ) vì nếu nhiều chỗ trống dễ làm ảnh hưởng đến nội dung câu gốc, làm rối HS và tạo điều kiện cho HS đoán mò
+ Đoạn dài của các phần trống nên bằng nhau để tránh sự hiểu lầm của
Trang 21+ Phần trống chỉ có một lời giải đúng Đây là yêu cầu khó đối với việc biên soạn loại câu hỏi này Thông thường các phần để trống có thể có một số câu trả lời có giá trị gần đúng, HS có thể lựa chọn trong số đó nhưng không phù hợp với đáp án Trong trường hợp đó GV sẽ gặp khó khăn, để khắc phục, nên chọn các câu có nội dung tri thức tương đối xác định
Ví dụ: Trong bài 9: “Nhà nước xã hội chủ nghĩa” hãy điền cụm từ còn thiếu vào chỗ trống:
Câu hỏi: Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước
…… , quản lí mọi mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo
A của nhân dân
B của dân, do dân
C vì nhân dân, của nhân dân, do nhân dân
D của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
- Soạn câu hỏi ngắn:
Câu trả lời ngắn khác câu tự luận ở chỗ các phương án trả lời rất ngắn gọn, cung cấp nhanh các thông tin, sự kiện có trong bài học Đây là loại câu hỏi tạo cơ hội cho HS linh hoạt tìm cách trả lời Đây là loại câu hỏi dễ soạn thảo Độ chính xác và khách quan cao hơn so với bài tự luận
Sau khi xây dựng được hệ thống các câu trắc nghiệm nói trên, GV sẽ tiến hành xây dựng đề kiểm tra trắc nghiệm hoàn chỉnh theo các bước sau:
Bước 1: Nghiên cứu lí luận và kĩ thuật xây dựng bài trắc nghiệm Bước 2: Nghiên cứu mục tiêu, nội dung môn học (mục tiêu chung, mục tiêu của các phần, chương, bài, ) Đây là bước cần thiết để xây dựng đề thi trắc nghiệm khách quan Sau đó cần liệt kê các mục tiêu cụ thể liên quan đến các NL cần đo lường đối với từng phần của môn học tức là phải phân tích những nội dung đã dạy thành đơn vị tri thức cơ bản, nhỏ nhất Tùy thuộc vào
Trang 22mức độ quan trọng của từng phần mà quyết định cần bao nhiêu câu hỏi cho cả bài cũng như cho từng phần
Bước 3: Dự kiến các loại câu hỏi sẽ soạn thảo, lập ma trận hệ thông câu hỏi các loại
Bước 4: Soạn câu hỏi các loại dựa trên cơ sở nội dung đã được phân tích và bảng phân phối các loại câu hỏi đã được xác định
Bước 5: Thử nghiệm các câu hỏi đề xác định các tham số kĩ thuật của chúng
Bước 6: Hình thành đề thi trắc nghiệm từ những câu hỏi đạt yêu cầu Một đề thi trắc nghiệm đạt tiêu chuẩn và mang lại hiệu quả đánh giá cao nhất cần đạt được các yêu cầu sau:
Thứ nhất, có độ giá trị tức là nội dung các câu hỏi phải phản ánh đúng
cái định đo lường, đánh giá Độ giá trị bao gồm giá trị về đo lường (phản ánh đúng thực trạng mức độ nội dung định đo) và giá trị chuẩn đoán (xác đinh được nguyên nhân và dự báo xu thế phát triển) Đề bài trắc nghiệm có độ giá trị cao, khi soạn thảo cần tuân thủ đầy đủ các bước nêu trên
Thứ hai, có độ tin cậy và kết quả, độ tin cậy phản ánh mức độ ổn định
của bài trắc nghiệm hay mức độ chính xác của các kết quả đo lường Độ tin cậy được xác định bằng độ lệch giữa điểm kì vọng (điểm số quan sát trên lí thuyết của bài trắc nghiệm) với số điêm thực tế HS đạt được qua bài trắc nghiệm Nếu điểm số thực thấp hoặc cao hơn điểm quan sát ở mức độ có nghĩa về phương diện thống kê thì độ tin cậy của bài trắc nghiệm thấp Để xác định độ tin cậy có thể tiến hành theo các cách:
+ Chia đôi bài trắc nghiệm (các câu chẵn thành một bộ, câu lẻ thành một bộ) cho hai nhóm HS có trình độ tương đương nhau làm Nếu kết quả của hai bài thi tương đương nhau là được
+ So sánh kết quả bài trắc nghiệm với bài trắc nghiệm khác tương
Trang 23đương về nội dung, độ khó và tham số khác
+ Trắc nghiệm hai lần trên cùng nghiệm thể HS
Thứ ba, độ khó của cây trắc nghiệm và bài trắc nghiệm Độ khó phản
ánh số HS thực hiện trong cùng một thời điểm Nếu ít HS thực hiện được thì
độ khó cao, nếu mọi HS đều làm được thì độ khó thấp
Cách đơn giản đề tìm độ khó của câu trắc nghiệm là tính phần trăm số
HS làm được câu đó so với tổng số nghiệm thể tham gia (số HS tham gia kiểm tra) kết hợp với độ may rủi của câu hỏi
Thứ tư, có độ phân biệt, nói lên khả năng phân loại được trong số HS
có những NL ở các mức độ khác nhau (giỏi, khá, trung bình, yếu,…) Khả năng thực hiện được sự phân loại ấy gọi là độ phân biệt Muốn có độ phân biệt được của nhóm HS sẽ có phổ trải rộng Một bài trắc nghiệm tốt là bài trắc nghiệm đó có sự phân biệt hợp lí, tức là phân phối hợp lí các nghiệm thể ở các điểm số của thang đánh giá
Ví dụ: Trong bài 12: “Chính sách tìa nguyên và bảo vệ môi trường” GV
có thể đưa ra câu hỏi: Em hãy nêu ngắn gọn các biện pháp nhằm bảo vệ tài nguyên và môi trường?
Như vậy, trong DH nói chung và DH môn GDCD nói riêng có nhiều hình thức KTĐG kết quả học tập của HS Mỗi hình thức lại có những ưu và nhược điểm nhất định Vì vậy, hiện nay trong các kì kiểm tra, thi cử ở các trường THPT thường sử dụng đề kiểm tra hỗn hợp Có thể đây là cách đánh giá hợp lí trong DH môn GDCD ở trường THPT
1.1.3 Năng lực hướng tới hình thành ở học sinh Trung học phổ thông trong dạy học môn Giáo dục công dân
1.1.3.1 Khái niệm năng lực
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên (NXB Đà Nẵng 1998) có giải thích: NL là “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực
Trang 24hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”[ 23,tr.48]
Trong tài liệu tập huấn việc DH và KTĐG theo theo định hướng phát triển NL của HS do Bộ GD&ĐT phát hành năm 2014 thì NL được quan
niệm “là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” NL thể hiện sự vận
dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loại công việc nào đó NL bao gồm các yếu tố cơ bản mà mọi người lao động,
mọi công dân đều cần phải có, đó là các NL chung, cốt lõi
1.1.3.2 Những năng lực hướng tới hình thành ở học sinh Trung học phổ thông
* Định hướng chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) sau năm 2015
đã xác định một số NL chung mà HS Việt Nam cần phải có như:
– NL làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm:
+ NL tự học và tự chủ: Tự lực, tự khẳng định và bảo vệ quyền, nhu cầu chính đáng, tự kiểm soát tình cảm, thái độ, hành vi của mình, tư định hướng,
tự học, tự hoàn thiện
+ NL giải quyết vấn đề và sáng tạo: Nhận ra ý tưởng mới, phát hiện và làm rõ vấn đề, hình thành và triển khai ý tưởng mới, đề xuất, lựa chọn giải pháp, thực hiện và đánh giá giải pháp giải quyết vấn đề, tư duy độc lập
Trang 25xác định mục đích và phương thức hợp tác
+ Xác định trách nhiệm và hoạt động của bản thân, xác định nhu cầu
và khả năng của người hợp tác, tổ chức và thuyết phục người khác, đánh giá hoạt động hợp tác, hội nhập quốc tế
– NL công cụ, bao gồm:
+ NL tính toán: Hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bản, biết cách vận dụng các thao tác tư duy, suy luận, tính toán, ước lượng, sử dụng các công cụ tính toán và dụng cụ đo,… đọc hiểu, diễn giải, phân tích, đánh giá tình huống có ý nghĩa toán học
+ NL sử dụng ngôn ngữ: Sử dụng tiếng việt sử dụng ngoại ngữ
+ NL ứng dụng công nghệ thông tin (ITC): Sử dụng và quản lý các phương tiện, các công cụ các hệ thống tự động hóa của công nghệ thông tin
và truyền thông, hiểu biết và ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa
và pháp luật trong xã hội thông tin và nên kinh tế tri thức Học tập, tự học với
sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và truyền thông
* Chương trình Giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể do Bộ GD&ĐT ban hành ngày 27/7/2017 đã xác định sẽ hình thành và phát triển cho học sinh những NL cốt lõi sau:
- Những NL chung được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển: NL tự chủ và tự học; NL giao tiếp và hợp tác; NL giải quyết vấn đề và sáng tạo
- Những NL chuyên môn (NL chuyên biệt) được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định: NL ngôn ngữ, NL tính toán, NL tìm hiểu tự nhiên và xã hội, NL công nghệ, NL tin học, năng lực thẩm mỹ, NL thể chất,
1.1.3.3 Những năng lực chuyên môn hướng tới hình thành ở học sinh Trung học phổ thông trong dạy học môn Giáo dục công dân
Môn GDCD trong trường THPT hiện nay là một môn khoa học xã hội,
Trang 26có phạm vi kiến thức rộng lớn, bao quát tất cả các vấn đề chính trị, xã hội từ các vấn đề của quốc gia, nhân loại đến các vấn đề gần gũi trong đời sống hàng ngày của HS Trong bản dự thảo “Chương trình giáo dục phổ thông môn Giáo dục công dân” do Bộ GD&ĐT ban hành ngày 19/1/2018, yêu cần cần đạt về
NL đối với HS THPT khi học môn GDCD mới (môn Giáo dục kinh tế và pháp luật) bên cạnh những yêu cầu về NL chung mà các môn học khác đều hướng tới hình thành và phát triển còn có những yêu cầu cần đạt về NL chuyên môn Cụ thể:
* NL phát triển bản thân:
- HS tự đánh giá, tự điều chỉnh được nhận thức và hành vi ứng xử của bản thân, rèn luyện, khắc phục những hạn chế của bản thân phù hợp với giá trị đạo đức và quy định của pháp luật; tự khẳng định giá trị bản thân
- Xác định được hướng phát triển phù hợp của bản thân sau trung học phổ thông trên cơ sở nhận thức được những ưu điểm và hạn chế của bản thân, những hiểu biết cơ bản về các hoạt động kinh tế và pháp luật trong đời sống
xã hội, yêu cầu và triển vọng của các ngành nghề về kinh tế và pháp luật
- Lựa chọn được những môn học phù hợp với định hướng nghề nghiệp của bản thân về kinh tế và pháp luật; đặt ra được các mục tiêu, kế hoạch học tập
và nỗ lực phấn đấu thực hiện; tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập để điều chỉnh phương pháp học tập
* NL điều chỉnh hành vi đạo đức:
- Phân tích, đánh giá được tác hại, hậu quả của những hành vi xâm hại giá trị đạo đức trong đời sống xã hội và trong các tài liệu, thông tin đa dạng; phê phán, đấu tranh với các thái độ, hành vi xâm hại giá trị đạo đức
- Tự giác thực hiện hành vi đạo đức; tích cực, chủ động nhắc nhở, vận động, giúp đỡ người khác thực hiện hành vi đạo đức
- Có thái độ và hành vi ứng xử hài hoà với những người xung quanh
Trang 27trên cơ sở hiểu biết đúng đắn vền đạo đức
* NL điều chỉnh hành vi pháp luật:
- Phân tích, đánh giá được tác hại, hậu quả của những hành vi vi phạm pháp luật của bản thân và người khác trong đời sống xã hội và trong các tài liệu, thông tin đa dạng, phê phán, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật
- Tự giác thực hiện hành vi pháp luật, thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân
- Tích cực, chủ động nhắc nhở, vận động, giúp đỡ người khác thực hiện hành vi pháp luật
- Thực hiện trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
* NL giải quyết vấn đề về kinh tế:
- Hiểu được các kiến thức cơ bản về hoạt động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động kinh tế của Nhà nước, hoạt động sản xuất kinh doanh và hoạt động tiêu dùng
- Thu thập, phân tích, đánh giá được thông tin kinh tế, tình huống kinh
tế hoặc một quyết định đơn giản về kinh tế; giải thích được các hiện tượng kinh tế đơn giản thường gặp trong cuộc sống hàng ngày
- Bước đầu biết tạo lập, xây dựng ý tưởng kinh doanh cho một hoạt động kinh doanh nhỏ và đưa ra được quyết định hợp lí nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế của cá nhân và cộng đồng với tư cách là một chủ thể kinh tế
- Biết sử dụng công nghệ thông tin và tận dụng những công nghệ hiện
có trong việc thu thập và tìm kiến, phân tích dữ liệu kinh tế và sẵn sàng chia
sẻ thông tin với người khác
1.1.4 Kiểm tra đánh giá trong dạy học môn Giáo dục công dân bậc Trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh
* Khái niệm:
KTĐG theo định hướng phát triển NL là đánh giá theo chuẩn và sản
Trang 28phẩm đầu ra nhưng sản phẩm đó không chỉ là kiến thức, kĩ năng, mà chủ yếu
là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ cần có để thực hiện nhiệm
vụ học tập đạt tới một chuẩn nào đó
* Yêu cầu của kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực trong dạy học môn Giáo dục công dân:
- Đánh giá theo chuẩn và sản phẩm đầu ra: Trước đây, nội dung
KTĐG trong DH môn GDCD thường được GV căn cứ vào chuẩn kiến thức,
kĩ năng để GV lựa chọn kiến thức Tuy nhiên, với định hướng đổi mới phương pháp DH theo hướng phát triển NL, phẩm chất người học thì việc KTĐG không chỉ là kiến thức, kĩ năng, mà chủ yếu là KTĐG khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ HS cần có để thực hiện nhiệm vụ học tập, giải quyết các vấn đề, tình huống gắn với cuộc sống thực của HS Muốn vậy,
GV cần lưu ý chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ, phẩm chất, NL cần đạt của
HS trong môn GDCD và chuẩn đầu ra của HS THPT để có tiêu chí đánh giá phù hợp
- Đảm bảo tính khách quan, toàn diện, khoa học và trung thực: Việc
KTĐG muốn đạt được hiệu quả cao thì yêu cầu GV phải đảm bảo sự khách quan từ khâu ra đề đến coi thi và chấm thi; nội dung kiểm tra phải bao quát toàn bộ chương trình phần đã học; kiến thức kiểm tra cần đảm bảo tính khoa học, gắn bó, phản ánh kịp thời sự thay đổi, phát triển của xã hội; GV cần trung thực trong việc đánh giá và báo cáo kết quả học tập của HS, tránh sa vào bệnh thành tích trong DH, thi đua, khen thưởng
- Có sự phân hóa mức độ cho các loại đối tượng: Việc ra đề kiểm tra
cần đảm bảo sự phân hóa đối tượng HS để đảm bảo cho tất cả HS với học lực trung bình cũng có thể làm được khoảng 50% đề Tuy nhiên, để HS có thể đạt được kết quả cao hơn thì HS cần có vốn kiến thức phong phú, vận dụng kiến thức tốt để giải quyết các bài tập vận dụng, tình huống Hiện nay, để đảm bảo mức độ phân hóa đối với HS, GV thường thiết kế đề kiểm tra môn GDCD
Trang 29theo bốn mức độ: Nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao
- Đổi mới công cụ và hình thức ra đề kiểm tra (Câu hỏi/ bài tập gắn với thực tiễn): Việc đổi mới công cụ và hình thức ra đề kiểm tra đòi hỏi GV phải
sử dụng linh hoạt, phong phú các công cụ và hình thức kiểm tra, trong đó phải tăng cường hình thức kiểm tra trắc nghiệm khách quan với những câu hỏi/bài tập vận dụng gắn với các tình huống có thực trong đời sống thực tiễn của HS
1.2 Cơ sở thực tiễn của việc đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường Trung học phổ thông Yên Lạc 1, tỉnh Vĩnh Phúc
* Khái quát về trường Trung học phổ thông Yên Lạc 1
Thành lập vào tháng 10 năm 1965, trường THPT Yên Lạc là ngôi trường đầu tiên đào tạo bậc học THPT của huyện Yên Lạc Sau 50 năm phát triển, vượt qua bao gian khó, trường THPT Yên Lạc không chỉ khẳng định chất lượng giáo dục đào tạo thuộc tốp đầu của tỉnh mà còn xứng đáng với niềm tin là người “anh cả” của ngành Giáo dục huyện Yên Lạc
Từng bước phát triển, trường THPT Yên Lạc dần được đầu tư nâng cấp
về cơ sở vật chất Hiện nhà trường đang hoạt động trên diện tích 44.000m2 với 1 dãy nhà hiệu bộ, 5 dãy nhà cao tầng gồm 36 phòng học đáp ứng cho 1.300 HS Đầu tư có trọng điểm, theo chiều sâu nhằm nâng cao chất lượng dạy và học, hàng năm, nhà trường đều nâng cấp thư viện, nâng cấp trang thiết
bị thí nghiệm Ngoài ra, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục thầy và trò nhà trường đang khai thác hiệu quả 2 phòng máy vi tính với 60 máy kết nối mạng lan phục vụ cho việc nâng cao, cập nhật kiến thức các môn học
Bên cạnh việc phát huy vai trò tích cực của hệ thống cơ sở vật chất trường lớp, trường THPT Yên Lạc luôn lấy chất lượng đội ngũ các thầy cô giáo làm nòng cốt trong việc nâng cao chất lượng dạy và học Hiện tại nhà trường đang có 85 cán bộ, GV, nhân viên, trong đó có 32 thạc sĩ
Hướng đến mục tiêu giáo dục toàn diện, nhà trường tích cực đẩy mạnh
Trang 30các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, tổ chức các buổi học tập ngoại khóa cho HS cả 3 khối thông qua các cuộc thi như “Giai điệu tuổi hồng”, “Trí tuệ tỏa sáng”… Đồng thời, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể tạo không khí thi đua sôi nổi trong toàn trường, kết hợp với duy trì các hoạt động tập thể, các buổi sinh hoạt giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục ý thức xây dựng tập thể, thực hiện kỷ cương, nề nếp, từ đó xây dựng ý thức vươn lên trong học tập và rèn luyện đạo đức cho HS Hàng năm, 100% HS nhà trường học tập và
ký cam kết thực hiện cuộc vận động “hai không” do ngành phát động, ký cam kết thực hiện tốt Luật An toàn giao thông, thực hiện phòng chống ma túy, phòng chống các tệ nạn xã hội khác Năm học 2014-2015, nhà trường có tổng
số 1.255 HS Số HS xếp loại đạo đức tốt và khá đạt trên 99%, HS xếp loại văn hóa khá, giỏi tăng 8,61%
Chất lượng giáo dục mũi nhọn, kết quả thi tốt nghiệp, thi đại học của trường THPT Yên Lạc liên tục giữ ổn định ở mức cao Từ năm học 2010-
2011 đến năm học 2014-2015 toàn trường có 1.457 HS giỏi cấp tỉnh, trong đó
có 71 em đạt giải nhất, 348 em giải nhì Kết quả thi tốt nghiệp đều đạt từ 100% Năm 2010, kết quả thi đại học của HS THPT Yên Lạc đứng thứ 106, đến năm 2014 xếp thứ 75 trong bảng xếp hạng toàn quốc
99-1.2.1 Thực trạng kiểm tra đánh giá trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 11 ở trường Trung học phổ thông Yên Lạc 1
1.2.1.1 Ưu điểm
- Trong quá trình KTĐG kết quả DH môn GDCD ở THPT trước đây,
GV thường sử dụng hình thức tự luận là chủ yếu Hình thức tự luận, có một số
ưu điểm như:
+ Đánh giá được khả năng phân tích cũng như tổng hợp và cách diễn đạt của HS
+ Nội dung kiểm tra thường tập trung vào những kiến thức trọng tâm
Trang 31của bài
+ HS có thể phân tích, so sánh kiến thức, từ đó vận dụng kiến thức, liên
hệ thực tế để giải thích những hiện tượng, sự vật trong đời sống hoặc giải quyết tình huống một cách sáng tạo
+ HS có thể trả lời theo cách hiểu của mình cũng như có thể diễn đạt theo suy nghĩ của mình, từ đó trình bày ý kiến cá nhân
- Bên cạnh hình thức kiểm tra tự luận, trong những năm gần đây, GV dạy môn GDCD cũng đã sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan hoặc kết hợp cả hình thức tự luận với trắc nghiệm khách quan trong KTĐG Việc sử dụng hình thức trắc nghiệm khách quan có một số ưu điểm chính:
+ Có thể cung cấp, phản hồi nhanh và độ chính xác cao về kết quả học tập của HS
+ Không gây áp lực cho người chấm
+ Kiểm tra với hình thức trắc nghiệm đưa ra được nhiều dạng câu hỏi, phần kiến thức mở rộng giúp HS tích lũy được nhiều kiến thức
+ KTĐG khách quan hơn, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của người chấm
+ Trắc nghiệm khách quan có thể đánh giá khả năng ghi nhớ của các
HS về mục tiêu, phương hướng, vai trò, nhiệm vụ và các đặc trưng, góp phần phát triển khả năng phán đoán suy luận của HS
+ Khâu chấm bài, chữa bài diễn ra nhanh hơn
+ Có thể kiểm tra được một phạm vi kiến thức rộng của chương trình
- Nội dung KTĐG môn GDCD cũng dần có sự thay đổi theo hướng tích cực là tăng các câu hỏi yêu cầu HS phải vận dụng kiến thức để liên hệ, vận dụng giải quyết các tình huống, các vấn đề trong đời sống hàng ngày của HS, các vấn đề xã hội xảy ra xung quanh
- Từ năm học 2016 – 2017, môn GDCD được lựa chọn là một trong
Trang 32những môn thi THPT Quốc gia, kết quả thi của môn GDCD cũng được sử dụng để xét tốt nghiệp, xét tuyển vào các trường cao đẳng, đại học Vì vậy, bên cạnh việc đổi mới phương pháp DH môn GDCD, việc đổi mới phương pháp KTĐG môn học này cũng được GV và các cấp quản lí quan tâm Theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, theo các đề minh họa thi THPT Quốc gia, đề thi môn GDCD trong tổ hợp môn Khoa học xã hội được xây dựng theo bốn mức độ:
+ Nhận biết: Nhận biết thông tin, ghi nhớ, tái hiện thông tin (HS cần
nhớ, nhận ra hoặc dựa trên những thông tin có tính đặc thù của một khái niệm,
sự vật, hiện tượng)
+ Thông hiểu: Hiểu được ý nghĩa của các khái niệm, sự vật, hiện
tượng, giải thích được, chứng minh được,… Đây là mức độ cao hơn nhận biết nhưng là mức độ thấp nhất của thấu hiểu sự vật hiện tượng
+ Vận dụng thấp: Là loại câu hỏi yêu cầu HS hiểu nội dung đã học để
có thể liên hệ, lí giải, đánh giá một vấn đề trong thực tế phù hợp với lứa tuổi hoặc đưa ra cách ứng xử phù hợp trong một tình huống cụ thể
+ Vận dụng cao: Là loại câu hỏi yêu cầu HS hiểu nội dung đã học ở
mức độ cao để có thể liên hệ, lí giải, đánh giá một vấn đề trong thực tế phù hợp với lứa tuổi hoặc đưa ra cách ứng xử phù hợp trong một tình huống cụ thể
- Từ năm học 2016- 2017 bộ môn GDCD trở thành môn thi của kì thi THPT Quốc gia, đề thi của môn GDCD nằm trong cùng tổ hợp môn Khoa học
xã hội vì thế Nhà trường THPT Yên Lạc 1 đã tổ chức dạy ôn chuyên đề môn GDCD cho HS các khối C và D từ khối lớp 10 đến khối lớp 12 với hình thức đổi mới HS được tiếp xúc và rèn luyện đề theo hướng đổi mới nhằm nâng cao năn lực tư duy, khả năng vận dụng của HS
1.2.1.2 Hạn chế
- Hiện nay ở trường THPT Yên Lạc 1, việc KTĐG kết quả học tập của
HS bị giới hạn bởi một thời gian hạn chế trong tiết học 45 phút, không gian
Trang 33hạn hẹp trong lớp
- Trong quá trình ra đề thì NL soạn thảo các câu hỏi kiểm tra còn hạn chế, đa số GV chỉ chú trọng kiểm tra nội dung chủ yếu là kiến thức còn đơn giản, nặng về tái hiện kiến thức, học thuộc mà chưa phát huy được tính tích cực, sáng tạo, khả năng vận dụng ở HS
- Trong đề KTĐG GV mới chủ yếu chú trọng đến các câu hỏi ở mức độ nhận biết, thông hiểu mà chưa chú ý nhiều đến phần vận dụng, liên hệ thực tế của HS
- Các hình thức kiểm tra như kiểm tra miệng còn đơn điệu chủ yếu được tiến hành theo từng cá nhân với những câu hỏi vấn đáp chỉ yêu cầu HS thuộc kiến thức, chưa kết hợp để kiểm tra khả năng liên hệ thực tế của HS, chưa kết hợp kiểm tra hoạt động nhóm
- Hình thức biên soạn đề vẫn mang tính đồng nhất làm HS có thói học
tủ, học vẹt, học đối phó, sử dụng tài liệu trong thi cử không nắm bắt được hệ thống kiến thức sâu rộng
- GV độc quyền đánh giá mà chưa có sự tham gia đánh giá lẫn nhau của
HS và tự đánh giá bản thân của HS
- GV chưa nhận xét được ưu- nhược điểm của bài KTĐG vì không có thời gian, trong phân phối chương trình không có tiết trả bài
- Môn GDCD do ít tiết trên một lớp, vì vậy mỗi người phải dạy nhiều lớp Do vậy việc ra đề, chấm bài cũng còn nhiều tồn tại
- Trong hình thức kiểm tra, kiểm tra thường xuyên vấn đáp chưa được chú trọng vì GV cho rằng hình thức kiểm tra này không mấy hiệu quả, mất thời gian
- Phương pháp KTĐG kết quả học tập môn GDCD bằng thực hành là rất quan tọng nhưng phương pháp này rất ít được sử dụng hoặc sử dụng sơ sài nên vị trí của phương pháp này mờ nhạt
Trang 34* Nguyên nhân của những hạn chế
- Một bộ phận GV chưa nắm vững yêu cầu đổi mới KTĐG, việc KTĐG chủ yếu được tiến hành tự phát theo kinh nghiệm của từng GV; một
bộ phận đáng kể chưa bám sát mục tiêu môn học, chuẩn kiến thức, kỹ năng
của chương trình
- Những năm gần đây, xu thế áp dụng hình thức trắc nghiệm khách quan phát triển khá mạnh trong các trường học Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện
đã bộc lộ nhiều bất cập, chưa cân đối giữa hình thức tự luận với trắc nghiệm,
có biểu hiện đơn điệu (thiên về câu hỏi đúng – sai) hoặc lạm dụng hình thức trắc nghiệm làm giảm hiệu quả KTĐG
- Tình trạng thiếu khách quan trong KTĐG vẫn còn khá phổ biến Bệnh thành tích (nâng tỉ lệ khá, giỏi, lên lớp ) và thói quen DH thụ động,
nặng với đối phó thi cử còn cản trở việc đổi mới phương pháp DH
- Tư tưởng “thi gì học nấy” đã len lỏi sâu vào trong nhận thức của HS
và gia đình vì vậy HS chỉ tập chung và đầu tư vào các môn thi đại học, môn GDCD được ít HS lựa chọn để thi đại học nên ít được quan tâm Vì vậy, HS chỉ học một cách qua loa, đối phó
1.3 Sự cần thiết đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 11 theo hướng tiếp cận năng lực học sinh
Theo quan điểm phát triển NL, việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá Đánh giá kết quả học tập theo NL cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau Đánh giá kết quả học tập đối với các môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của HS Hay nói cách khác, đánh giá theo
NL là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa
Trang 35Trong DH môn GDCD lớp 11 ở trường THPT đánh giá NL được coi là bước phát triển cao hơn so với đánh giá kiến thức, kỹ năng Để chứng minh
HS có năng lực ở một mức độ nào đó, phải tạo cơ hội cho HS được giải quyết vấn đề trong tình huống mang tính thực tiễn Khi đó HS vừa phải vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã được học ở nhà trường, vừa phải dùng những kinh nghiệm của bản thân thu được từ những trải nghiệm bên ngoài nhà trường (gia đình, cộng đồng và xã hội) để giải quyết một số tình huống liên quan đến lĩnh vực kinh tế và những vấn đề chính trị - xã hội khác Như vậy, thông qua việc hoàn thành một nhiệm vụ trong bối cảnh thực, người ta có thể đồng thời đánh giá được cả kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hiện và những giá trị, tình cảm của người học Mặt khác, đánh giá NL không hoàn toàn phải dựa vào chương trình giáo dục môn học như đánh giá kiến thức, kỹ năng, bởi năng lực là tổng hòa, kết tinh kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, chuẩn mực đạo đức,… được hình thành từ nhiều lĩnh vực học tập và từ sự phát triển tự nhiên về mặt xã hội của một con người
Quán triệt những mục tiêu của Luật Giáo dục về mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, trong xu thế đổi mới nói chung thì môn GDCD lớp 11 cần đổi mới toàn diện trên mọi phương diện: nội dung chương trình, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá, phương tiện dạy học,… Môn GDCD lớp 11 giữ vai trò quan trọng và giáo dục cho HS những kiến thức về kinh tế để HS có những am hiểu nhất định về kinh tế góp phần phục vụ cho quá trình định hướng nghề nghiệp phù hợp với bản thân, và yêu cầu phát triển của xã hội Ngoài ra môn GDCD lớp 11 có nhiệm vụ quan trọng trong việc cung cấp kiến thức về Nhà nước xã hội chủ nghĩa giúp HS biết vận dụng kiến thức để phân biệt sự khác nhau về bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa với các nhà nước trước đó của chúng ta, biết thực hiện các quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng như biết tìm hiểu, phân tích, đánh giá một số vấn đề gần gũi
Trang 36trong cuộc sống chính trị - xã hội hiện nay Vì vậy môn GDCD lớp 11 ở THPT cần tích cực đổi mới chương trình nội dung môn học, phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra, đánh giá,… để đáp ứng yêu cầu đổi mới Đổi mới phải nhằm góp phần tích cực vào việc đào tạo nguồn nhân lực và những công dân mới có tính năng động, sáng tạo thích ứng với cơ chế thị trường, có phẩm chất và năng lực
Việc đổi mới trên nhiều phương diện nhưng chúng ta cần nhận thấy được vai trò quan trọng của đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá Bởi nó không chỉ là một mắt xích quan trọng không thể thiếu trong quá trình dạy học, một khâu một công cụ quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục mà còn là công cụ quan trọng trong việc điều chỉnh quá trình dạy và học, động lực đề đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục
Thông qua đổi mới kiểm tra, đánh giá sẽ cho GV nhận được thông tin phản hồi, từ phía HS để GV điều chỉnh phương pháp DH và phương pháp KTĐG nhằm phát triển năng lực cần thiết ở học sinh Điều chỉnh góp phần tạo hứng thú học tập cho học sinh với môn học này từ trước đã là một bộ môn
bị xem nhẹ và coi nó rất khô khan, nhàm chán trong học tập
Đổi mới phương pháp KTĐG trong DH môn GDCD lớp 11 được chú trọng để đáp ứng yêu cầu mới của mục tiêu giáo dục toàn diện nên việc KTĐG phải chuyển biến mạnh theo hướng tích cực, hướng phát triển NL HS, phát triển trí thông minh và sáng tạo của HS, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức, kĩ năng đọc và những tình huống thực tế, làm bộc lộ cảm xúc, thái độ của học sinh trước những vấn đề xã hội, gia đình, tập thể, cá nhân Chừng nào việc kiếm tra, đánh giá còn chưa thoát khỏi quỹ đạo học tập thụ động của học sinh thì chừng đó chưa thể phát triển phương pháp DH tích cực
Vì vậy việc đổi mới phương pháp KTĐG là vô cùng cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan trong quá trình thực hiện mục tiêu giáo dục môn GDCD
Trang 37lớp 11 ở trường THPT trong giai đoạn hiện nay
Lạc 1 tuy đã đạt được những thành tích nhất định như: thực hiện đúng, đầy đủ quy chế về KTĐG; khâu chấm bài, trả bài đúng quy định; … Nhưng thực trạng việc KTĐG còn nhiều bất cập Nhận thức của gáo viên và HS về vai trò của KTĐG còn lệch lạc, hình thức và phương pháp kiểm tra chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu đổi mới theo định hướng phát triển NL HS Từ thực trạng trên chúng ta có thể nhìn thấy được sự cần thiết của việc cần phải đổi mới phương pháp KTĐG môn GDCD lớp 11 ở trường THPT Yên Lạc 1 theo hướng phát triển NL HS
Trang 38CHƯƠNG 2 QUY TRÌNH ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 11 THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG YÊN LẠC 1,
TỈNH VĨNH PHÚC 2.1 Quy trình thiết kế đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục công dân lớp 11 của học sinh theo định hướng phát triển năng lực
2.1.1 Một số nguyên tắc, yêu cầu khi ra đề kiểm tra
Xuất phát từ đặc thù tri thức của môn học, căn cứ vào mục đích KTĐG kết quả học tập của HS, khi thiết kế đề kiểm tra cần chú ý một số yêu cầu chung như sau:
Việc ra đề kiểm tra phải dựa trên cơ sở phát triển NL trí tuệ của HS (theo 6 mức độ nhận thức) từ đơn giản đến phức tạp, từ nhận biết đến vận dụng Trước hết đề thi phải làm cho HS tái hiện kiến thức đơn giản, đây là nền tảng vững vàng để giúp HS có thể từng bước phát triển NL nhận thức ở cấp độ cao hơn Nội dung đề thi phải bao hàm đầy đủ các mức khác nhau của nhận thức Tùy theo tính chất, yêu cầu của mỗi kì thi, tùy vào hoàn cảnh, đặc điểm HS để định ra tỉ lệ kiến thức đưa vào đề thi cho phù hợp với từng mức
A Tùy theo khả năng để đáp ứng nhu cầu
B Làm theo năng lực hưởng theo lao động
C Làm hết mình hưởng hết nhu cầu
D Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu
Trang 39+ Câu hỏi thông hiểu:
Theo công bố của Ngân hàng nhà nước Việt Nam ngày 14/10/2016: 1 đôla Mỹ đổi được 22.011 Việt Nam đồng Đó là công bố về?
A tỷ giá giao dịch
B tỷ giá hối đoái
C tỷ giá trao đổi
D tỷ lệ trao đổi
+ Câu hỏi vận dụng thấp:
Để may một chiếc áo A may hết 5 giờ Thời gian lao động xã hội cần thiết
để may cái áo là 4 giờ Vậy A bán chiếc áo giá cả tương ứng với mấy giờ?
A 6 giờ
B 5 giờ
C 4 giờ
D 3 giờ
+ Câu hỏi vận dụng cao:
Vợ chồng chị M sinh được 2 cô con gái nên chồng, bố mẹ chồng chị muốn chị sinh thêm để mong có thêm cậu con trai Chị M lại không muốn
vì chị cho rằng dù gái hay trai chỉ 2 là đủ Những ai trong tình huống trên thực hiện tốt chính sách dân số?
HS Không nên ra đề theo kiểu HS chỉ học thuộc, học vẹt Đề thi phải đánh
Trang 40giá được khả năng lí giải, ứng dụng, phân biệt và phán đoán của HS giúp HS hình thành NL tư duy, NL giải quyết vấn đề có sáng tạo
Ví dụ: Thay vì những câu hỏi trình bày dạng tái hiện lại kiến thức
GV có thể đưa ra những câu hỏi vận dụng để phát triển năng lực tư duy cũng như kĩ năng vận dụng kiến thức vào đời sống thực tiễn của HS
Câu hỏi: Bạn K muốn tự mình làm sữa chua để đáp ứng nhu cầu của mình và gia đình, K lên mạng tìm công thức và thử làm, qua vài lần K rút ra kinh nghiệm không nên cho thêm nước lọc như công thức Việc làm của K thể hiện chức năng nào sau đây của thực tiễn?
A Thực tiễn là cơ sở của thực tiễn
B Thực tiễn là mục tiêu của nhận thức
C Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thức
D Thực tiễn là động lực của nhận thức
Nội dung đề thi nên tập trung đánh giá phạm vi kiến thức rộng lớn, bao quát chương trình môn học, tránh tập trung nhiều vào những mảng nhỏ kiến thức dẫn đến những mảng nhỏ kiến thức dẫn đến những mảng rời rạc, chắp vá trong kiến thức của HS
Ví dụ: Trong đề thi cuối kì I lớp 11 môn GDCD người ra đề phải đánh giá phạm vi kiến thức rộng cả một kì học không tập trung nhất định vào một bài nào tránh hình thành cho HS thói học tủ, học vẹt GV có thể đưa ra những câu hỏi tự luận khác nhau như:
Câu 1: Trình bày nội dung của quy luật giá trị trong sản xuất hàng
hóa?
Câu 2: Chị H sử dụng vải, máy khâu, kim chỉ, thước, bàn để may một
chiếc áo Em hãy chỉ ra các yếu tố cơ bản trong quá trình sản xuất của chị H Theo em, trong quá trình sản xuất yếu tố nào giữ vai trò quan trọng và quyết định nhất? Vì sao?