1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự vận dụng quan điểm toàn diện trong công tác bảo tồn di sản văn hóa cao nguyên đá đồng văn ở tỉnh hà giang hiện nay

85 221 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Sự vận dụng quan điểm toàn diện trong công tác bảo tồn Di sản văn hóa Cao nguyên đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang hiện nay” làm đề

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

======

NGUYỄN KIM CHI

SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN

Ở TỈNH HÀ GIANG HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Triết học

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

======

NGUYỄN KIM CHI

SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN TRONG CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN

Ở TỈNH HÀ GIANG HIỆN NAY

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Triết học

Người hướng dẫn khoa học

TS TRẦN THỊ HỒNG LOAN

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện khóa luận, ngoài sự cố gắng của bản thân, em đã nhận được sự giúp đỡ của thầy cô và bạn bè Em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành

nhất tới TS Trần Thị Hồng Loan - người cô đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn

thành khóa luận này

Em xin bày tỏ lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Chính trị cùng các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã giảng dạy, chỉ bảo em trong suốt thời gian qua

Em cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới gia đình cũng như bạn bè đã góp ý, ủng hộ

em hoàn thành khóa luận này

Trong quá trình nghiên cứu, với điều kiện hạn chế về thời gian cũng như kiến thức của bản thân nên khóa luận khó tránh khỏi những thiếu sót

Kính mong sự góp ý, chỉ bảo của quý thầy cô cũng như các bạn sinh viên

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Người thực hiện

Nguyễn Kim Chi

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của

TS Trần Thị Hồng Loan

Tôi xin cam đoan rằng:

Đây là kết quả nghiên cứu của riêng tôi và các số liệu trong khóa luận là trung thực Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1 Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN VÀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA 5 1.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - Cơ sở triết học của quan điểm toàn diện 5 1.2 Lý luận về bảo tồn di sản văn hóa Cao nguyên đá Đồng Văn 13 1.3 Nội dung công việc của công tác bảo tồn di sản văn hóa 23 1.4 Nội dung sự vận dụng quan điểm toàn diện trong công tác bảo tồn di sản văn hóa 27 Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN Ở TỈNH HÀ GIANG HIỆN NAY VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG 32 2.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội có sự ảnh hưởng đến công tác bảo tồn di sản cao nguyên đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang 32 2.2 Thực trạng công tác bảo tồn Di sản cao nguyên đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang hiện nay 37 2.3 Nguyên nhân dẫn đến thực trạng công tác bảo tồn Di sản văn hóa cao nguyên

đá Đồng Văn 57 Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN Ở TỈNH HÀ GIANG HIỆN NAY TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN 61 3.1 Tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa giữ gìn với tôn tạo di sản văn hóa Cao nguyên đá Đồng Văn 61 3.2 Tiến hành thực hiện đồng bộ các công việc của công tác bảo tồn di sản văn hóa Cao nguyên đá Đồng Văn 65 3.3 Tạo ra sự đồng bộ giữa các chính sách do các cấp, các ngành và các tổ chức

có liên quan đến công tác bảo tồn di sản văn hóa Cao nguyên đá Đồng Văn

đề ra 68

Trang 6

3.4 Tiến hành tận dụng và phát huy được sức mạnh của các lực lượng xã hội 73 KẾT LUẬN 76 TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia có tiềm năng về du lịch rất lớn Thế mạnh của Việt Nam không chỉ có vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên mà còn có nguồn tài nguyên nhân văn vô cùng phong phú và đa dạng Đó chính là phong tục tập quán, các lễ hội truyền thống, các di tích lịch sử, di sản văn hóa, Thời nay khi cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao, hiện đại hóa hơn thì nhu cầu trở về với nguồn cội, tìm hiểu về những nét đẹp văn hóa đã trở thành một trong những nhu cầu tất yếu Do đó, lượng khách du lịch đến với các khu di sản du lịch ngày càng tăng Đến

đó khách sẽ được thỏa mãn nhu cầu hiều biết về những nét đẹp bản sắc văn hóa dân tộc ở các vùng miền trên đất nước Nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc chính là sự kết tinh và tỏa sáng từ các di sản văn hóa này Khi nhắc đến những di sản văn hóa của đất nước, chúng ta không thể không nhắc tới di sản cao nguyên đá Đồng Văn thuộc tỉnh Hà Giang

Cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang là công viên duy nhất ở Việt Nam và thứ hai ở Đông Nam Á được UNESCO công nhận là di sản Công viên Địa chất toàn cầu vào tháng 10/2010 Khu vực Công viên Địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn bao gồm bốn huyện vùng cao núi đá phía Bắc của tỉnh Hà Giang là Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc Nơi đây hiện có trên 250.000 dân sinh sống với 17 dân tộc thiểu số, trong đó dân tộc Mông chiếm gần 80%

Đường đi lại khó khăn, khí hậu khắc nghiệt, đây là nơi cực kỳ thiếu đất, thiếu nước không có điều kiện cho canh tác nông nghiệp Cơ sở vật chất phục vụ du lịch chưa được đầu tư tương xứng để khai thác các tiềm năng, thế mạnh trong vùng Do

đó, hiện nay cả bốn huyện vùng cao nơi đây đều thuộc diện nghèo đặc biệt khó khăn trong chương trình 30a của Chính phủ Nằm trên độ cao gần 1.600m so với mực nước biển, Công viên Địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn là nơi vẫn còn lưu giữ nguyên vẹn nhiều di sản về lịch sử tiến hóa của Trái Đất, với các di sản kiến tạo và địa mạo, các di sản cổ sinh, địa tầng và cổ môi trường, làng văn hóa dân tộc, các danh thắng nổi tiếng Không chỉ độc đáo về giá trị địa chất, nơi đây còn có một hệ thống di sản văn hóa khá phong phú, bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Ngoài

Trang 8

những di sản được thiên nhiên ban tặng, Cao nguyên đá Đồng Văn còn chứa đựng bên trong những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc

Trong thời gian qua, trong công tác bảo tồn các kiến tạo địa chất, các di sản

và các danh lam thắng cảnh trên vùng Cao nguyên đá của Hà Giang bên cạnh những thành tựu đã đạt được vẫn còn những hạn chế nhất định cần phải khắc phục

đó là: nhiều di sản bị mai một, lãng quên, không gian, cảnh quan kiến trúc bị xâm hại, công tác quản lý di sản còn bất cập, Sở dĩ có những hạn chế đó là do nhiều nguyên nhân: Giao thông đi lại khó khăn, một số nét kiến trúc văn hóa đang ngày

bị mai một, trình độ và điều kiện tiếp cận với thông tin, truyền thông còn hạn chế,

do thu nhập của người dân còn hạn chế, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao, trình độ dân trí thấp,…

Do đó, việc bảo tồn di sản Cao nguyên đá Đồng Văn là việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài: “Sự vận dụng quan điểm toàn diện trong công tác bảo tồn Di sản văn hóa Cao nguyên đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang hiện nay” làm đề tài khóa luận của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Xuất phát từ những giá trị vô cùng to lớn của những di sản văn hóa mang lại đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội, công tác bảo tồn di sản văn hóa đã trở thành vấn đề chung không chỉ đối với từng địa phương, từng quốc gia mà đó là vấn

đề chung của quốc tế

Trong thời gian qua đã có nhiều bài viết, bài nghiên cứu bàn về vấn đề bảo tồn

di sản văn hóa như:

Năm 1997, GS.TS Hoàng Vinh hoàn thành cuốn sách Một sổ vẩn đề về bảo

tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc Trên cơ sở những quan niệm di sản văn

hóa của quốc tế và Việt Nam, tác giả đã đưa ra một hệ thống lý luận về di sản văn hóa, đồng thời bước đầu vận dụng nghiên cứu di sản văn hóa ở nước ta

Năm 2002, Luật di sản văn hoá và văn bản hướng dẫn thi hành được coi là

văn bản pháp quy về di sản văn hóa

Trên Tạp chí Cộng sản số 20, năm 2003, PGS, TS Nguyễn Văn Huy đã có

nhiều cố gắng nghiên cứu một số vấn đề về bảo tồn và phát huy những di sản văn

Trang 9

hoá các dân tộc hiện nay Tác giả bài báo đã đề cập đến những vẩn đề lý luận và

thực tiễn của công tác bảo tồn phát huy di sản văn hóa trên phạm vi cả nước

Lê Đức An, Đặng Văn Bào (2008), Cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc: một di

sản địa mạo quý giá TC Các khoa học về Trái Đất 12 - 2008 - Vol 30 -No 4

Lâm Bá Nam (2010) có công trình Di tích lịch sử - văn hóa với phát triển du

lịch Hà Giang - nhận thức và vấn đề, Kỉ yếu hội thảo khoa học và diễn đàn đầu tư “

Vì Hà Giang phát triển” Tác giả nghiên cứu các di tích lịch sử - văn hóa gắn với phát triển du lịch tỉnh Hà Giang

Đặng Văn Bào, Nguyễn Cao Huần, Tạ Hòa Phương, Trương Quang Hải, Vũ

Văn Tích (2010), Công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn - khả năng khai thác

cho phát triển kinh tế và bảo tồn, Kỉ yếu Hội thảo khoa học và diễn đần đầu tư “ Vì

Hà Giang phát triển” Các tác giả nghiên cứu vấn đề bảo tồn và khả năng khai thác cho phát triển kinh tế của công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, khóa luận có nhiệm vụ:

- Trình bày một số lý luận chung về quan điểm toàn diện và nội dung của sự vận dụng quan điểm toàn diện trong công tác bảo tồn Di sản văn hóa Cao nguyên đá Đồng Văn

- Nghiên cứu thực trạng công tác bảo tồn di sản văn hóa Cao nguyên đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang hiện nay và tìm ra nguyên nhân dẫn tới thực trạng đó

- Đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn

di sản văn hóa Cao nguyên đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang hiện nay trên cơ sở vận dụng quan điểm toàn diện

Trang 10

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu sự vận dụng quan điểm toàn diện vào công tác bảo tồn Di sản văn hóa cao nguyên đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu về công tác bảo tồn di sản văn hóa Cao nguyên đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2017

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Khóa luận sử dụng phương pháp luận chung của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin

- Phương pháp cụ thể: phương pháp logic - lịch sử, phương pháp phân tích - tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa, khảo sát, điều tra nghiên cứu thực tế, so sánh, thống kê,…

6 Ý nghĩa của đề tài

Khóa luận đã nghiên cứu vấn đề công tác bảo tồn Di sản văn hóa Cao nguyên

đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang hiện nay, từ đó góp phần:

- Nâng cao nhận thức trong công tác bảo tồn di sản văn hóa, một vấn đề cấp bách không chỉ đối với riêng tỉnh Hà Giang mà còn với tất cả di sản văn hóa trong

cả nước

- Khóa luận có thể làm tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến công tác bảo tồn di sản văn hóa Cao nguyên đá Đồng Văn

7 Kết cấu khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm

3 chương:

Chương 1: Một số lý luận chung về quan điểm toàn diện và bảo tồn di sản văn hóa Chương 2: Thực trạng của công tác bảo tồn di sản văn hóa cao nguyên đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang hiện nay và nguyên nhân của thực trạng

Chương 3: Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn di sản cao nguyên đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang hiện nay trên cơ sở vận dụng quan điểm toàn diện

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN

VÀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA 1.1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - Cơ sở triết học của quan điểm toàn diện

1.1.1 Khái quát về phép biện chứng duy vật

Tư tưởng về phép biện chứng ra đời cùng với sự ra đời của triết học Trong qua trình phát triển của phép biện chứng có ba hình thức cơ bản: Phép biện chứng chất phác thời cổ đại, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng chất phác - thời cổ đại: do trình độ tư duy phát triển chưa cao, khoa học chưa phát triển nên các nhà triết học lẫn phương Đông và phương Tây chỉ dựa vào những quan sát trực tiếp để khái quát bức tranh chung của thế giới

Ở phương Đông, nó được thể hiện rõ trong “Thuyết âm dương - ngũ hành” Ở phương Tây dưới con mắt của Hêraclit, với câu nói nổi tiếng của mình “Chúng ta không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông” [4, tr.49] Song phép biện chứng này thiếu đi những căn cứ khoa học Vì thế nó đã bị phép siêu hình xuất hiện

và thay thế từ nửa cuối thế kỉ XV

Phép biện chứng duy tâm xuất hiện trong triết học Cantơ và hoàn thiện nhất trong triết học Hêghen một đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức ở cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX.Tính chất duy tâm trong phép biện chứng của ông thể hiện ở chỗ: Ông coi “ý niệm tuyệt đối” tha hóa thành vận động của giới tự nhiên và xã hội cuối cùng trở về với chính mình trong tinh thần thế giới Thực chất phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen là phép biện chứng của ý niệm sản sinh ra biện chứng của sự vật Phép biện chứng cổ điển Đức cũng có những đóng góp to lớn vào

sự phát triển của tư duy biện chứng của nhân loại, thúc đẩy tư duy biện chứng lên một trình độ cao Nhưng với những hạn chế duy tâm nó chưa trở thành cơ sở lý luận cho thế giới quan khoa học

Kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các nhà triết học trước đó Mác, Ăngghen đã tiếp thu, phê phán triết học Hêghen và chủ nghĩa duy vật Phoiơbăc Đối

với Hêghen trong tác phẩm Bộ tư bản, Mác viết: “Ở Hêghen phép biện chứng bị lộn

Trang 12

ngược đầu xuống đất Chỉ cần dựng lại được nó là sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó đằng sau cái vỏ thần bí của nó” [7, tr.67 - 68] Do vậy bản chất phép

biện chứng của Mác cao hơn về bản chất so với phép biện chứng của Hêghen Theo Hêghen thì sự vận động của tư duy mà ông đặt cho cái tên là ý niệm và biến nó thành một chủ thể độc lập, chúa sáng tạo ra giới hiện thực và giới hiện thực này chẳng qua chỉ là hiện tượng bên ngoài của ý niệm mà thôi Theo Mác thì sự vận động của tư duy chỉ là sự phản ánh sự vật hiện thực, di chuyển và biến hình trong đầu óc con người Ăngghen đã chỉ rõ: Có thể khẳng định vắn tắt phép biện chứng là

sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế người ta sẽ nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có sự giải thích và sự phát triển thêm Trong triết học Mác - Lênin thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật thống nhất hữu cơ với nhau trong phép biện chứng ấy vì vậy nó đã khắc phục được những hạn chế của phép biện chứng chất phác thời cổ đại và những thiếu sót của phép biện chứng duy tâm khách quan thời cận đại Phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học và là hình thức phát triển cao nhất, hoàn bị nhất trong lịch sử phép biện chứng Nó bao gồm một hệ thống các nguyên lý (nguyên lý về sự phát triển, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến), những cặp phạm trù cơ bản (gồm 6 cặp phạm trù),

những quy luật cơ bản (có 3 quy luật): Ăngghen đã định nghĩa: “Phép biện

chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến về sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” [5, tr.201]

Trong hệ thống đó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển

là hai nguyên lý khái quát nhất trong phép biện chứng duy vật Tuy nhiên, trong phạm vi khóa luận này chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến - cơ sở triết học của quan điểm toàn diện

1.1.2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

* Các khái niệm:

- Khái niệm mối liên hệ:

Trong phép biện chứng, khái niệm mối liên hệ dùng để chỉ sự quy định, sự tác động và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng, hay giữa các mặt, các yếu

tố của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới

Trang 13

- Khái niệm mối liên hệ phổ biến được sử dụng với hai hàm nghĩa:

+ Dùng để chỉ tính phổ biến của các mối liên hệ (ví dụ như: khi khẳng định rằng mối liên hệ là cái vốn có của tất thảy mọi sự vật hiện tượng trong thế giới, không loại trừ sự vật, hiện tượng nào, lĩnh vực nào);

+ Đồng thời, khái niệm này cũng dùng để chỉ những liên hệ tồn tại (được thể hiện) ở nhiều sự vật, hiện tượng của thế giới (tức là dùng để phân biệt với khái niệm các mối liên hệ đặc thù chỉ biểu hiện ở một hay một số các sự vật, hiện tượng, hay lĩnh vực nhất định)

Ví dụ, mối liên hệ giữa cung và cầu là mối liên hệ phổ biến, tức cũng là mối liên hệ chung, nhưng mối liên hệ đó được thể hiện cụ thể khác nhau, có tính chất đặc thù tuỳ theo từng loại thị trường hàng hoá, tuỳ theo thời điểm thực hiện… Khi nghiên cứu cụ thể từng loại thị trường hàng hoá, không thể không nghiên cứu những tính chất riêng có (đặc thù) đó Nhưng dù khác nhau bao nhiêu thì chúng vẫn tuân theo những nguyên tắc chung của mối quan hệ cung cầu

Có nhiều cấp độ, phạm vi của mối liên hệ phổ biến, trong đó phép biện chứng duy vật với tư cách là khoa học triết học có nhiệm vụ nghiên cứu các mối liên hệ phổ biến nhất, làm tiền đề phương pháp luận chung cho việc nghiên cứu các mối liên hệ cụ thể trong từng lĩnh vực nghiên cứu của các khoa học chuyên ngành; đó là các mối liên hệ như: cái chung và cái riêng, bản chất và hiện tượng, nguyên nhân và kết quả…

Khi giải thích về sự tồn tại của thế giới cũng như câu hỏi được đặt ra là: Các

sự vật, hiện tượng và quá trình khác nhau của thế giới có mối liên hệ qua lại tác động ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Nếu chúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định những mối liên hệ đó?

Trả lời cho câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình cho rằng: Các sự vật, hiện tượng tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia, giữa chúng không có mối liên hệ ràng buộc, quy định và chuyến hóa lẫn nhau Nếu có chỉ là những liên hệ có tính ngẫu nhiên, bề ngoài Hạn chế của quan điểm siêu hình là sai lầm về thế giới quan triết học, dựng lên ranh giới giữa các sự vật, hiện tượng Hạn chế này có nguồn gốc từ phương pháp tư duy siêu hình, nghiên cứu

Trang 14

tách rời các lĩnh vực, bộ phận riêng rẽ của thế giới gắn với trình độ tư duy khoa học còn ở giai đơạn sưu tập tài liệu phương pháp đó phương pháp đó không có khả năng phát hiện ra cái chung, cái bản chất quy luật của sự tồn tại vận động và phát triển của các sự vật, hiện tượng trong thế giới

Trái lại, những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng: Các sự vật hiện tượng, các quá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau Thế giới như một chỉnh thể thống nhất trong đó các sự vật, hiện tượng tồn tại trong mối liên hệ phổ biến Chẳng hạn, bão diễn ra trên mặt trời

sẽ tác động đến từ trường của trái đất và do đó, tác động đến mọi sự vật, trong đó có con người

Trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm khách quan và chủ nghĩa duy tâm chủ quan trả lời rằng: Cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là một lực lượng tự nhiên (như trời) hay ở ý thức cảm giác của con người Đứng trên quan điểm duy tâm chủ quan, Besccơli cho rằng cảm giác là nền tảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng Hêghen xuất

phát từ lập trường duy tâm khách quan lại vạch ra rằng: “ý niệm tuyệt đối” là nền

tảng của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng

Những người theo quan điểm duy vật biện chứng khẳng định tính thống nhất vật chất của thế giới là cơ sở của mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng Các sự vật hiện tượng tạo thành thế giới, dù có đa dạng, phong phú, có khác nhau bao nhiêu, song chúng đều chỉ là những dạng khác nhau của một thế giới duy nhất, thống nhất

- thế giới vật chất Nhờ có tính thống nhất chúng không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau, mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác định

Các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan biểu hiện sự tồn tại của mình thông qua sự vận động, sự tác động qua lại lẫn nhau Bản chất tính quy luật của sự vật, hiện tượng cũng chỉ bộc lộ thông qua sự tác động qua lại giữa các mặt của bản thân chúng hay sự tác động của chúng với các sự vật hiện tượng khác Chúng ta chỉ

có thế đánh giá sự tồn tại cũng như bản chất của một con người cụ thế thông qua những mối liên hệ, sự tác động của con người đó đối với người khác, đối với xã hội,

Trang 15

tự nhiên, thông qua hoạt động của chính người ấy Ngay tri thức của con người cũng chỉ có giá trị khi chúng được con người vận dụng vào hoạt động cải biến tự nhiên, cải biến xã hội và cải biến chính con người

Theo quan điểm duy vật biện chứng, mối liên hệ phố biến có các tính chất: Quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng mối liên hệ có ba tính chất cơ bản: Tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú

Tính khách quan: Có thể khẳng định, mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng là

khách quan, vốn có vì nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới Biểu hiện trong tất cả các quá trình: Tự nhiên xã hội và tư duy sự vật, hiện tượng nào cũng tồn tại trong mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng khác Ngay cả sự thật vô chi, vô giác cũng đang hằng ngày, hằng giờ chịu sự tác động của các sự vật hiện tượng khác Các mối liên hệ là vốn có của mọi sự vật, hiện tượng Nó không phụ thuộc vào ý thức của con người

Tính phố biến: Mối liên hệ không chỉ mang tính khách quan, mà còn mang

tính phổ biến, tính phổ biến của mối liên hệ thể hiện:

Thứ nhất, bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác Không có sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ Trong thời đại ngày nay không có một quốc gia nào không có mối liên hệ với các quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội Chính vì thế hiện nay trên thế giới đã và đang xuất hiện xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa mọi mặt đời sống xã hội

Thứ hai, mối liên hệ biếu hiện dưới những hình thức riêng biệt, cụ thế tùy theo điều kiện nhất định Song dù trong hình thức nào cũng chỉ là biếu hiện của mối liên

hệ phổ biến, chung nhất Những hình thức liên hệ riêng rẽ, cụ thế được các nhà khoa học cụ thế nghiên cứu Phép biện chứng duy vật chỉ liên hệ những mối liên hệ

chung nhất, bao quát nhất của thế giới Bởi thế Ăngghen viết: “Phép biện chứng là

khoa học về những quy luật phố biến của sự vận động và phát trỉến của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy ” [4, tr 181] Cùng với những lí do trên, triết

học gọi mối liên hệ đó là mối liên hệ phố biến

Trang 16

Tỉnh đa dạng: Có thể phân chia các mối liên hệ đa dạng thành từng loại tùy

theo tính chất: Đơn giản hay phức tạp, phạm vi rộng hay hẹp, độ nông hay sâu, vai trò trực tiếp hay gián tiếp Mà có thể khái quát thành những mối liên hệ khác nhau tuỳ theo từng cặp: Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ hên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và mối liên hệ thứ yếu, mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất, mối liên hệ tất nhiên và mối liên hệ ngẫu nhiên, mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới và mối liên hệ riêng bao quát một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực của thế giới Chính tính đa dạng trong quá trình tồn tại, vận động và phát triển của bản thân sự vật và hiện tượng quy định tính đa dạng của mối liên hệ Các mối liên hệ của các sự vật hiện tượng trong thế giới, được khái quát trong các cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng:

Mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng

Mối liên hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên

Mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả

Mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng

Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức

Mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực

Mỗi loại mối liên hệ nêu ra trên đây có vai trò khác nhau đối với sự vận động

và phát triển của sự vật Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự quy định, chuyển hóa lẫn nhau, giữa các yếu tố, các thuộc tính của các mặt sự vật Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các mối liên hệ khác nhau cũng có mối quan hệ biện chứng như mối liên hệ biện chứng của các cặp mối liên

hệ đã nêu trên

Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính tương đối, vì mỗi loại mối liên

hệ chỉ là một hình thức, một bộ phận, một mắt xích của mối liên hệ phổ biến Mỗi loại mối liên hệ trong từng cặp có thể chuyển hóa lẫn nhau tùy theo phạm vi bao quát của mối liên hệ hoặc do kết quả vận động và phát triến của chính các sự vật Tuy sự phân chia thành các loại chỉ mang tính tương đối, nhưng sự phân chia đó lại rất cần thiết, bởi vì mỗi loại mối liên hệ có vị trí và vai trò xác định trong sự vận động và

Trang 17

phát triển của sự vật Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó đế có cách tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình

Như vậy có thể khẳng định, bất kì sự vật, hiện tượng nào trong thế giới cũng luôn tồn tại trong mối liên hệ mật thiết với các sự vật, hiện tượng khác Do đó, muốn tìm hiểu được một sự vật, hiện tượng nào đó chúng ta phải đặt trong mối liên

hệ, quan hệ với xung quanh Nghĩa là phải xem xét một cách toàn diện, đó chính là nguyên tắc phương pháp luận rút ra từ nguyên lý mối liên hệ phổ biến

1.1.3 Những nguyên tắc, phương pháp luận rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

* Quan điêm toàn diện

Từ việc nghiên cứu quan điểm duy vật biện chứng về mối liên hệ phổ biến và về

sự phát triển rút ra phương pháp luận khoa học đế nhận thức và cải tạo hiện thực Vì bất kì sự vật, hiện tượng nào trong thế giới đề tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, do đó khi nhận thức về sự vật, hiện tượng chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điếm phiến diện chỉ xem xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật của chúng Trên cơ sở quán triệt quan điểm toàn diện trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn, quan điểm toàn diện đặt ra yêu cầu cơ bản sau:

Thứ nhất, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp Chỉ trên cơ sở đó mới có thế nhận thức đúng về sự vật Thứ hai, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên, đế hiếu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù họp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân Đương nhiên, trong nhận thức và hành động, chúng ta cần lưu ý tói sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối liên hệ ở những điều kiện xác định

Thứ ba, quan điểm toàn diện cũng đòi hỏi tránh rơi vào những sai lầm của chủ nghĩa triết trung và thuật ngụy biện Thực chất của chủ nghĩa triết trung là sự kết

Trang 18

hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ tạo nên một hình ảnh không đúng về sự vật Do vậy trong hoạt động thực tiễn, theo quan điểm toàn diện khi tác động vào sự vật chúng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác Đồng thời phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau nhằm tác động đem lại hiệu quả cao nhất Như để thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Một mặt chúng ta phải phát huy nội lực của đất nước; mặt khác phải biết tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và toàn cầu hóa kinh tế đưa lại Qua mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật, rút ra được quan điểm toàn diện, đây là nguyên tắc phương pháp luận có ý nghĩa quan trọng trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn

Nguyên tắc lịch sử - cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý tới điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thế, môi trường cụ thể, trong đó sự vật, hiện tượng sinh ra, tồn tại và phát triển Một luận điểm nào đó trong điều kiện này là luận điểm khoa học nhưng sẽ không phải luận điểm khoa học trong điều kiện khác Trong lịch sử triết học khi xem xét các hệ thống triết học bao giờ ta cũng phải xem xét hoàn cảnh ra đời và sự phát triển của hệ thống đó

Để xác định đường lối, chủ trương của từng giai đoạn cách mạng, của từng thời kì xây dựng đất nước, bao giờ Đảng ta cũng phân tích tình hình cụ thể của đất nước ta cũng như bối cảnh lịch sử quốc tế diễn ra trong từng giai đoạn và từng thời

kì lịch sử đó Dĩ nhiên, trong khi thực hiện đường lối, chủ trương, Đảng ta cũng bổ sung và điều chỉnh cho phù hợp với diễn biến của hoàn cảnh cụ thể

Trang 19

Nguyên tắc lịch sử - cụ thể có những đòi hỏi mang tính tống hợp Quán triệt nguyên tắc này trong quá trình vận dụng phương pháp tư duy sẽ đưa nhận thức của con người tới chân lí Một khi sai lầm những điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể thì chân lí sẽ trở thành sai lầm

Tóm lại, qua tìm hiếu về mối liên hệ phố biến của phép biện chứng duy vật chúng ta rút ra quan điểm toàn diện và nguyên tắc lịch sử - cụ thể Đây là phương pháp luận có ý nghĩa quan trọng trong mọi hoạt động nhận thức và thực tiễn

1.2 Lý luận về bảo tồn di sản văn hóa Cao nguyên đá Đồng Văn

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Khái niệm Di sản

Di sản là di chỉ, di tích hay danh thắng của một quốc gia như rừng, dãy núi,

hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc hay thành phố do các nước có tham gia Công ước Di sản thế giới đề cử cho Ủy ban Di sản thế giới, được công nhận và quản lý bởi UNESCO Sau đó UNESCO sẽ lập danh mục, đặt tên và bảo tồn những

vị trí nổi bật về văn hóa hay đặc điểm tự nhiên cho di sản nhân loại chung Những

vị trí được đưa vào danh sách di sản thế giới có thể được nhận tiền từ Quỹ Di sản thế giới theo một số điều kiện nào đó Ủy ban này được thành lập bởi Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, gọi tắt là Công ước Di sản thế giới,

nó được Đại hội đồng UNESCO chấp nhận ngày 16 tháng 11 năm 1972 Trong hệ thống các danh hiệu của UNESCO, di sản thế giới là danh hiệu danh giá nhất và lâu đời nhất

1.2.1.2 Khái niệm Di sản văn hóa

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Di sản là cái của thời trước để lại [6, tr 254],

Di sản văn hoá theo nghĩa Hán Việt là những tài sản văn hóa có giá trị của quá khứ

còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai Di là để lại, còn lại, dịch chuyển, chuyển lại Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị Di sản văn hóa được hiểu bằng sự tổng họp của các ý nghĩa nói trên

Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền tự thế hệ này qua thế hệ khác

Trang 20

Di sản văn hóa vật thể: là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia

 Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học

 Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học

 Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên

 Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học

Di sản văn hóa phi vật thể: là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo vad được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác

1.2.1.3 Khái niệm Bảo tồn

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “bảo tồn là giữ lại không để cho mất đi”, còn

“phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [6,

tr 256]

Bảo tồn bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn

có của nó Bảo tồn là không để mai một, “không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái” Như vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biến”,

“nâng cao” hoặc “phát triển” Hơn nữa, khi nói đối tượng bảo tồn “phải được nhìn

là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dưói nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tượng được bảo tồn

Đối tượng bảo tồn (tức là các giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể) cần thỏa mãn hai điều kiện:

Trang 21

- Một là, nó phải được nhìn là tinh hoa, là một “giá trị” đích thực được thừa nhận minh bạch, không có gì phải hồ nghi hay bàn cãi

- Hai là, nó phải hàm chứa khả năng, chí ít là tiềm năng, đứng vững lâu dài, trước những biến đổi tất yếu về đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay với chính sách mở cửa và bối cảnh nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra cực kỳ sôi động

Quan điểm về bảo tồn di sản văn hóa đã được các nhà khoa học ở Việt Nam và trên thế giới nghiên cứu theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, các nhà khoa học đều cho rằng tùy thuộc vào từng loại hình di sản mà đưa ra các quan điểm bảo tồn khác nhau để vừa giữ được những giá trị nguyên gốc nhưng vẫn phát huy được giá trị của nó trong xã hội đương đại

* Quan điểm bảo tồn nguyên trạng:

Đây là quan điểm đã phát triển từ những năm 1850 trên thế giới và thịnh hành trong một thời gian khá dài, gần giống như đóng vai trò chủ đạo đối với cách thức quản lý di sản văn hóa ở nhiều quốc gia Theo nhà nghiên cứu văn hóa Ashworth, quan điểm bảo tồn nguyên trạng có những đặc như sau:

- Về mục đích: Nguyên tắc là đơn giản, dễ hiểu và là một đòi hỏi về mặt đạo đức; Mục đích tối tượng là bảo tồn toàn bộ những gì có thể bảo tồn được

- Về nguồn lực: Các nguồn di sản là căn cứ bất di bất dịch: các địa điểm di tích

có một căn cứ lịch sử nhất định của nó; Các sản phẩm được xác định và tạo ra trên

cơ sở nguồn gốc của di sản

- Về tiêu chí lựa chọn di sản: Tiêu chí lựa chọn phụ thuộc vào bản chất của di sản (có ý nghĩa về lịch sử, vẻ đẹp kiến trúc…), Về nguyên tắc, tiêu chí lựa chọn có thể quyết định một cách khách quan thông qua sự đồng thuận tập thể Tính chân thực của di sản là yếu tố quyết định tối cao của giá trị

- Về các sản phẩm thuyết minh cho di sản: Các địa điểm/đồ tạo tác được bảo tồn có một thị trường và một ý nghĩa toàn cầu, ổn định và đơn nghĩa

- Về chiến lược bảo tồn: Có một sự mâu thuẫn cố hữu giữa bảo tồn và phát triển, Những tác động của sự bảo tồn phản lại chức năng sẽ sinh ra những vấn đề

Trang 22

phát sinh thứ cấp, Tăng việc sử dụng các sản phẩm được bảo tồn trong giai đoạn hiện thời phải phù hợp với công việc quản lý và nếu cần thiết phải giới hạn nhu cầu [8, tr.168-175]

Khi đề cập đến vấn đề bảo tồn nguyên trạng, PGS, Nhạc sĩ Tô Vũ cũng cho rằng “Nói tới bảo tồn, ta cần phải nghĩ đến việc gìn giữ toàn bộ và nguyên vẹn đối tượng cần bảo tồn” GS Đinh Gia Khánh khi nêu ra luồng ý kiến của một số nhà nghiên cứu lên đề án sự pha tạp giữa ý kiến của một số nhà nghiên cứu lên án sự pha tạp giữa các yếu tố truyền thống và hiện đại đã đòi hỏi phải loại bỏ sự pha trộn thô kệch đó PGS.TS âm nhạc học Nguyễn Thị Mỹ Liêm cũng làm rõ khái niệm “Bảo tồn

là giữ lại, không bị mất đi, không bị thay đổi, biến hóa, hoặc biến thái”

Những người theo quan điểm bảo tồn nguyên trạng cho rằng cần phải giữ nguyên trạng những di sản này để khi có điều kiện, những thế hệ tiếp nối có thể xử

lý, giải mã và tìm cách kế thừa, phát huy di sản một cách trung thành nhất Trên thực tế quan điểm bảo tồn nguyên trạng được khá nhiều học giả ủng hộ, đặc biệt là các nhà bảo tàng học Tuy nhiên, thực tế là di sản văn hóa phi vật thể vốn tồn tại và phát triển theo dòng thời gian lịch sử, tất yếu sẽ phát sinh những yếu tố mới, những thay đổi cho phù hợp với thời đại và sẽ đến lúc rất khó xác định được đâu là yếu tố nguyên gốc, đâu là yếu tố phát sinh trong quá trình phát triển

* Quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa:

Quan điểm này dường như là một xu thế khá phổ biến trong giới học thuật hiện nay khi bàn đến vấn để bảo tồn và phát huy di sản Dựa trên cơ sở lý thuyết cho rằng mỗi di sản chỉ có thể thực hiện nhiệm vụ lịch sử của mình ở một thời gian

và không gian nhất định Quan điểm này cho rằng di sản ấy cần phải được phát huy giá trị phù hợp với xã hội hiện nay, đồng thời phải loại bỏ những gì không phù hợp với thời đại, không còn thích hợp với xã hội mới Do vậy bảo tồn kế thừa không phải là cố gắng dập khuôn nguyên gốc, khư khư giữ nguyên như cũ, bất di bất dịch,

mà là bảo tồn vừa có sự kế thừa vừa có sự bổ sung những yếu tố mới, làm cho nó tương thích và có sức sống trong hoàn cảnh mới

Khi bàn về quan điểm này, nhà nghiên cứu văn hóa Ashworth đã nêu ra những đặc điểm cơ bản của bảo tồn trên cơ sở kế thừa như sau: Không chỉ những đồ tạo

Trang 23

tác hay những toà nhà mà cả các bộ sưu tập và các di sản khác cũng được bảo tồn dựa vào kế thừa, Các tiêu chí lựa chọn không phụ thuộc vào bản chất bên trong của

di sản mà còn phụ thuộc vào những yếu tố nằm bên ngoài, không thuộc về bản chất của di sản, Bảo tồn trên quan điểm kế thừa quan tâm không chỉ đến hình thức mà còn quan tâm đến cả các chức năng của di sản [11,tr.176-177]

Từ những quan điểm trên cho thấy, văn hóa chỉ có thể tồn tại và phát triển trên

cơ sở chuyển hóa những giá trị văn hóa của quá khứ và tiếp tục được nâng cao, phát triển thành nền văn hóa mới, vừa hiện đại và đậm đà bản sắc dân tộc Trong thực tiễn vận dụng, quan điểm này cũng gặp phải không ít khó khăn trong việc xác định đâu là yếu tố thực sự có giá trị tối ưu cần phải kế thừa, phát huy, đâu là yếu tố không còn phù hợp cần phải sàng lọc, loại bỏ Việc đưa những yếu tố mới một cách thiếu cẩn trọng, thiếu khoa học đã dẫn đến những hành vi biến dạng, bóp méo di sản Bên cạnh đó, cũng không loại trừ nguy cơ các thế hệ sau có thể gạt bỏ, đánh mất những giá trị văn hóa đích thực mà họ chưa thể cảm nhận và thấu hiểu một cách sâu sắc và thấu đáo

* Quan điểm bảo tồn phát triển:

Những người theo quan điểm này không bận tâm tới việc tranh cãi nên bảo tồn

y nguyên như thế nào, nên kế thừa cái gì từ quá khứ, mà đặt trọng tâm vào việc làm thế nào để di sản sống và phát huy được tác dụng trong bối cảnh đương đại Nếu như quan điểm truyền thống cho rằng độ chân thực (hay tính xác thực) của di sản là cốt lõi của di sản và phải làm thế nào đề đảm bảo kế thừa được sự chân thực đó, thì quan điểm bảo tồn phát triển lại đánh giá thấp vai trò của tính chân thực này Người ta cho rằng chân thực hay không không phải là một giá trị khách quan, mà nó được đo bằng trải nghiệm Theo quan điểm này, đối với việc bảo tồn di sản không có mục đích nào được coi là duy nhất, là tốt thượng, là hoàn toàn đúng trong mọi trường hợp

Di sản mang tính đa nghĩa, nhiều mục đích và không ổn định theo thời gian Đây chính là cách bảo tồn trong phát triển mà một số nhà hoạt động văn hóa đã thực hiện đối với một số loại hình di sản phi vật thể như tổ chức lễ hội như một sự kiện văn hóa, khai thác các diễn xướng dân gian, tổ chức các Festival văn hóa Điểm

Trang 24

mạnh của mô hình này là tạo nên sức hấp dẫn đối với công chúng đương đại, tạo nên tính sinh động, độc đáo của di sản, tiếp thêm nguồn sinh khí cho di sản Tuy nhiên, mặt trái của nó là dễ sa vào tình trạng sân khấu hóa, thương mại hóa di sản dẫn đến tình trạng tầm thường hóa, thậm chí giải thiêng hóa di sản như đã từng xảy

ra đối với trình diễn cồng chiêng Tây Nguyên, trình diễn nhạc cung đình Huế, trình diễn ca trù… phục vụ khách du lịch

1.2.1.4 Khái niệm Bảo tồn di sản văn

Bảo tồn di sản văn hóa là bảo tồn nguyên dạng giá trị gốc của di sản văn hóa hoặc giữ gìn sự tồn tại của di sản văn hóa theo dạng thức vốn có của nó

Bảo tồn di sản văn hóa được thực hiện chủ yếu dưới hai dạng: bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn trên cơ sở kế thừa

Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng tĩnh)

Bảo tồn nguyên vẹn văn hóa vật thể ở dạng tĩnh là vận dụng thành quả khoa học kỹ thuật công nghệ cao, hiện đại đảm bảo giữ nguyên trạng hiện vật như vốn có

về kích thước, vị trí, chất liệu, đường nét, màu sắc, kiểu dáng Khi cần phục nguyên, cần sử dụng hiệu quả các phương tiện kỹ thuật như: đồ họa kỹ thuật vi tính công

nghệ 3D theo không gian ba chiều, chụp ảnh, băng hình video, xác định trọng

lượng, thành phần chất liệu của di sản văn hóa vật thể Sau khi bảo tồn nguyên vẹn, phải so sánh đối chiếu số liệu với nguyên mẫu đã được lưu giữ chi tiết để không làm biến dạng

Bảo tồn văn hóa phi vật thể ở dạng tĩnh là điều tra sưu tầm, thu thập các dạng thức văn hóa phi vật thể như nó hiện có theo quy trình khoa học nghiêm túc chặt chẽ, giữ chúng trong sách vở, các ghi chép, mô tả bằng băng hình (video), băng tiếng (audio), ảnh Tất cả các hiện tượng văn hóa phi vật thể này có thể lưu giữ trong các kho lưu trữ, các viện bảo tàng

Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn trong dạng động)

Bảo tồn động, tức là bảo tồn các hiện tượng văn hóa trên cơ sở kế thừa Các di sản văn hóa vật thể sẽ được bảo tồn trên tinh thần giữ gìn những nét cơ bản của di tích, cố gắng phục chế lại nguyên trạng bằng nhiều kỹ thuật công nghệ hiện đại

Trang 25

Đối với các di sản văn hóa phi vật thể, bảo tồn động là bảo tồn các hiện tượng văn hóa đó ngay chính trong đời sống cộng đồng Bởi lẽ, cộng đồng không những là môi trường sản sinh ra các hiện tượng văn hóa phi vật thể mà còn là nơi tốt nhất để giữ gìn, bảo vệ, làm giàu và phát huy chúng trong đời sống xã hội Các hiện tượng văn hóa phi vật thể tồn tại trong ký ức cộng đồng, nương náu trong tiếng nói, hình thức diễn xướng, nghi lễ, nghi thức, quy ước dân gian Văn hóa phi vật thể luôn tiềm ẩn trong tâm thức và trí nhớ của những con người Đó là việc xã hội thừa nhận các tài năng dân gian, tôn vinh họ trong cộng đồng, tạo điều kiện tốt nhất để họ sống lâu, khỏe mạnh, phát huy được khả năng trong quá trình bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống Cần phải phục hồi các giá trị một cách khách quan, sáng suốt, tin cậy, khoa học chứ không thể chủ quan, tùy tiện Tất cả những giá trị phải được kiểm chứng qua nhiều phương pháp nghiên cứu có tính chất chuyên môn cao, có giá trị thực chứng thuyết phục thông qua các dự án điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản các dấu tích di sản văn hóa phi vật thể

Bảo tồn theo quan điểm phục hồi nguyên dạng chính là phương thức lý tưởng nhất Nếu không thể bảo tồn nguyên dạng thì có thể bảo tồn theo hiện dạng đang có

Bởi theo quy luật của thời gian thì các di sản văn hóa phi vật thể ngày càng có xu hướng xa dần nguyên gốc Nếu không thể khôi phục được nguyên gốc thì bảo

tồn hiện dạng là điều khả thi nhất

Tuy nhiên, hiện dạng phải có mối liên hệ chặt chẽ với nguyên dạng Theo đó,

cần xác định rõ thời điểm bảo tồn để sau này khi có thêm tư liệu tin cậy thì sẽ tiếp tục phục nguyên ở dạng gốc di sản văn hóa

1.2.2 Sự cần thiết phải bảo tồn di sản văn hóa cao nguyên đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang

Nằm trên độ cao gần 1.600m so với mực nước biển, Công viên Địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn là nơi vẫn còn lưu giữ vẹn nguyên nhiều di sản về lịch sử tiến hóa của Trái Đất, với các di sản kiến tạo và địa mạo, các di sản cổ sinh, địa tầng và cổ môi trường, làng văn hóa dân tộc, các danh thắng nổi tiếng Không chỉ độc đáo về giá trị địa chất, nơi đây còn có một hệ thống di sản văn hóa khá

Trang 26

phong phú, bao gồm cả di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Ngoài những di sản được thiên nhiên ban tặng, Cao nguyên đá Đồng Văn còn chứa đựng bên trong những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc

Cao nguyên đá Đồng Văn có chợ tình Khau Vai thuộc huyện Mèo Vạc, một năm tổ chức một lần chỉ trong một ngày, một đêm vào 27 tháng 3 (Âm lịch), vẫn còn giữ được nét nguyên sơ, bản địa về câu chuyện tình dang dở của đôi trai gái, người con trai dân tộc Nùng yêu người con gái dân tộc Giáy, họ đã không lấy được nhau vì những luật lệ khắt khe của xã hội phong kiến, gây xung đột giữa hai bộ tộc phải đổ máu Vì không muốn hai dân tộc Nùng, Giáy có hận thù nên họ đã hy sinh tình yêu trong trắng của mình, chia tay nhau để rồi họ hẹn ước hàng năm cứ đến ngày 27 tháng 3 (Âm lịch) gặp nhau ở đồi Khau Vai để tâm sự, thở than Truyền thuyết ấy cứ thế cho đến ngày nay, hàng năm vào ngày 27 3( Âm lịch), hàng ngàn, vạn người từ khắp bốn phương trong tỉnh, trong nước và cả khách nước ngoài Pháp,

Mỹ, Thuỵ Điển, Trung Quốc, Anh…Đan Mạch, Hàn Quốc…đến với Khau Vai (Tiếng địa phương là Rừng Mây) để được chứng kiến và tham gia vào các hoạt động văn hoá có ý nghĩa tâm linh…

Cao nguyên đá Đồng Văn còn có một số di tích văn hóa, kiến trúc cổ như khu

di tích nhà Vương (Vua Mèo) - Vương Chính Đức là cha của Vương Chí Sình Không làm vua như cha, nhưng Vương Chí Sình, một thủ lĩnh của người Mèo ngự trị trên cao nguyên đá Đồng Văn những năm 40, 50 của thế kỷ XX, đã hợp tác với cách mạng và ông Vương Chí Sình đã được Hồ Chủ tịch mời tham gia Đại biểu Quốc hội khoá I, II Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Cao nguyên đá Đồng văn còn có phố cổ thuộc thị trấn Đồng Văn hơn trăm năm tuổi và những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ với nhiều hang động hàng triệu năm tuổi, những nguồn nước ngầm biểu hiện có những con sông ngầm sâu hàng trăm mét dưới tầng đá vôi ở huyện Đồng Văn, Mèo Vạc… Đặc biệt trên cao nguyên Đồng Văn có đỉnh Mã Pì Lèng, được nhà văn Nguyễn Tuân đã từng đứng ở đây thốt lên “đệ nhất hùng quan” Đứng trên đỉnh Mã Pì Lèng ngỡ với tới trời, nhìn xuống dòng sông Nho Quế như một nét chữ Con sông Nho Quế hôm nay đã được ngăn dòng năm 2009 để xây dựng hai nhà máy thuỷ điện Nho Quế 3…có công suất lớn ở khu vực phía Bắc

Trang 27

Với diện tích gần 2.368,6km², Cao nguyên đá Đồng Văn là một trong những vùng đá vôi đặc biệt của cả nước, chứa đựng những dấu ấn tiêu biểu về lịch sử phát triển của vỏ trái đất Đồng Văn có tới 80% diện lộ đá vôi, được tạo thành từ những điều kiện môi trường và giai đoạn phát triển rất khác nhau Theo khảo sát của các nhà khoa học ở Viện khoa học Địa chất và Khoáng sản thì Cao nguyên đá Đồng Văn đã trải qua tất cả các giai đoạn phát triển của vỏ trái đất, từ Đại Cổ Sinh, Đại Trung Sinh đến Đại Tân Sinh Tại các trầm tích đá có tuổi khác nhau ở Đồng Văn, các nhà cổ sinh vật cũng đã phát hiện rất nhiều hóa thạch thuộc 19 nhóm: Tay cuộn, San hô vách đáy, San hô 4 tia, Lỗ tầng, Bọ ba thùy, Cá cổ, Trùng lỗ, Vỏ nón, Răng nón, Chân rìu, Chân bụng, Chân đầu, Động vật dạng rêu, Huệ biển, Vỏ cứng, Giáp xác cổ, Thực vật thủy sinh, Tảo cổ và Chitinozoa Các cổ sinh vật hóa thạch này đã giúp các nhà khoa học hoàn chỉnh bức tranh lịch sử phát triển địa chất vùng Cao nguyên đá Đồng Văn nói riêng và địa chất khu vực Đông Bắc Việt Nam nói chung

Do Cao nguyên đá Đồng Văn có sự đa dạng địa chất cao cùng với sự thay đổi của khí hậu nên quá trình tiến hóa karst đã tạo ra các “vườn đá”, “rừng đá” rất đa dạng

và phong phú như: vườn đá Khâu Vai (Mèo Vạc) có các chóp đá hình bông hoa, nụ hoa, nhành hoa muôn hình muôn vẻ, vườn đá Lũng Pù (Mèo Vạc) có các chóp đá, tảng đá, tháp đá hình rồng cuộn, hổ ngồi… vườn đá Vần Chải (Đồng Văn) có các phiến đá tròn nhẵn xếp gối lên nhau, trông tựa như đàn hải cẩu hàng nghìn con nằm nghỉ trên bãi biển Tuy nhiên, những dãy núi có dạng kim tự tháp đỉnh nhọn, sườn dốc nối tiếp nhau cao ngất trời mới là phổ biến nhất, tạo cho Cao nguyên đá Đồng Văn một sự uy nghi hùng vĩ Hệ thống hang động trên Cao nguyên đá Đồng Văn cũng là sản phẩm của quá trình tiến hóa karst và là những điểm tham quan du lịch rất kỳ thú như: hang Rồng ở Sảng Tủng (Đồng Văn), hang Khố Mỷ ở Tùng Vài (Quản Bạ), động Én ở Vần Chải (Đồng Văn)…

Cao nguyên đá Đồng Văn từ lâu đã được nhìn nhận như một vùng có cảnh quan đặc biệt của Việt Nam Loại đá chủ yếu cấu tạo nên cao nguyên này là đá vôi, chính vì thế đây là một trong những vùng phát triển cảnh quan karst điển hình và độc đáo của nước ta Từ lâu, nhiều nhà địa chất trong và ngoài nước đã đến vùng

Trang 28

Cao nguyên đá Đồng Văn nghiên cứu về cổ sinh, địa tầng và cấu trúc địa chất Cao nguyên đá Đồng Văn có sự đa dạng về mặt địa chất với sự có mặt của các thành tạo magma, trầm tích, cho đến biến chất yếu với tuổi thành tạo dao động từ cổ đến trẻ Các đá trầm tích carbonat có tuổi cổ nhất (300 - 500 triệu năm), tiếp đến là các đá magma xâm nhập và cuối cùng là các thành tạo trầm tích không gắn kết có tuổi 10 -

5 triệu năm Trong các đá có mặt ở công viên, có tới 80% diện lộ đá trầm tích mà chủ yếu là đá vôi được tạo thành từ những điều kiện môi trường và giai đoạn phát triển rất khác nhau Cao nguyên đá Đồng Văn có nhiều hệ tầng địa chất như: Chang Pung, Lutxia, Sika, Làng Xảng, Si Phai, Tốc Tát, Lũng Nậm, Bắc Sơn, Đồng Đăng, Sông Hiến, Khau Lộc và Hồng Ngài

Với lịch sử kiến tạo địa chất, địa mạo hàng triệu năm, đã để lại cho Cao nguyên đá những dấu tích kỳ vĩ, một vùng Hạ Long trên cạn, giúp cho vùng đất này mang nhiều giá trị khoa học và du lịch Từ quá trình biến động địa chất, đã tạo nên những quần thể núi đá trập trùng với đầy lạ lẫm, những rừng đá mênh mông, những hang động đầy bí hiểm, nơi lưu giữ những dấu vết của quá trình biến động môi trường và phát triển của vỏ trái đất… Cao nguyên đá Đồng Văn được xác định là một pho tàng các di sản cổ sinh, địa tầng và cổ môi trường Qua quá trình điều tra, nghiên cứu của các nhà khoa học đã xác định được 13 phân vị địa tầng, 17 nhóm hoá thạch cổ sinh đa dạng và phong phú về giống loài gồm: Bọ ba thuỳ, cá cổ, động vật dạng rêu, thực vật thuỷ sinh, trùng lỗ… Có hàng chục giống, loài cổ sinh lần đầu tiên được phát hiện ở đây

Cao nguyên đá là nơi lưu giữ nhiều sự kiện địa chất quan trọng tầm cỡ không chỉ ở tầm khu vực và cả trên hành tinh của chúng ta Qua đó, giúp cho các nhà nghiên cứu có thể thấy được môi trường cổ đa dạng đã từng có trên khu vực này Cùng với đó, Cao nguyên đá cũng rất phong phú về các loại đá, với 19 loại được xác định Riêng đá vôi đã có đến 10 loại, chiếm 90% diện tích toàn khu vực Những giá trị về hoá thạch cổ sinh, những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú có giá trị tham quan, giáo dục, có thể phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội ở nơi đây

Không chỉ được biết đến với những giá trị về địa chất, đến Cao nguyên đá Đồng Văn, bạn sẽ không khỏi ngỡ ngàng về một không gian văn hoá độc đáo

Trang 29

Chính cuộc sống trên vùng đá đã tạo ra những nét sinh hoạt văn hoá rất đặc trưng của người dân nơi đây, ở trong một vùng không rộng lớn, nhưng đã quy tụ đến 17 dân tộc anh em, đông nhất vẫn là người Mông Cao nguyên đá đã được các nhà khảo cổ, lịch sử, các nhà dân tộc học khẳng định là một vùng đất cổ với nhiều hiện vật và di tích minh chứng về các thời kỳ lịch sử phát triển, từ thời kỳ đá cũ cho đến thời kim khí với những chiếc trống đồng thuộc các nhóm từ Heger I dến Heger IV độc đáo còn được lưu giữ cho đến tận ngày nay

Là một vùng đất khắc nghiệt, để sinh tồn trên Cao nguyên đá cần phải có sự kiên cường và sức sáng tạo Những ngôi nhà trình tường, những bờ rào đá đến những phương thức canh tác rất đặc biệt, sự cần cù của đồng bào các dân tộc dường như chỉ thấy ở Cao nguyên đá khiến chúng ta phải thán phục bởi sức sáng tạo và ý chí phi thường của cư dân nơi đây Cao nguyên đá hiện được coi là một trong những nơi khắc nghiệt nhất của cả nước Nhưng trong sự khắc nghiệt ấy, có một điều cũng thật đặc biệt, càng khó khăn, càng về mùa đông khô hạn thì vẻ đẹp của Cao nguyên đá lại càng được lộ diện, mờ ảo và đầy quyến rũ Mùa nào thức nấy, mặc dù chứa đựng đầy sự khắc nghiệt, nhưng miền đá này cũng là nơi chắt lọc ra nhiều đặc sản như mật ong bạc hà, chè Lũng Phìn đậm đà hương vị, những trái lê ngọt lịm, rượu ngô men lá, thịt bò Vàng, thịt treo gác bếp, nhiều loại rau cỏ… thơm ngon đến lạ kỳ

Tất cả những điều trên đã nói lên sự cần thiết phải bảo tồn di sản văn hóa cao nguyên đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang

1.3 Nội dung công việc của công tác bảo tồn di sản văn hóa

1.3.1 Xác định giá trị của các di sản văn hóa cần bảo tồn

* Giá trị di sản địa chất:

Theo định nghĩa của UNESCO thì di sản địa chất là những phần tài nguyên địa chất có giá trị nổi bật về khoa học, giáo dục, thẩm mỹ và kinh tế Chúng bao gồm các cảnh quan địa mạo, các điểm lộ cổ sinh vật, các miệng núi lửa đã tắt hoặc đang hoạt động, các hang động, hẻm vục sâu, hồ tự nhiên, thác nước, các diện lộ tự nhiên hay nhân tạo của đá và quặng, các rãnh tạo cảnh quan còn giữ lại những biến

Trang 30

cố và bối cảnh địa chất, các đặc điểm mà tại đó cố thể quan sát được các quá trình địa chất đã, đang diễn ra và cả các mỏ đã ngừng khai thác Có thể nói Di sản địa chất là cái nôi tạo ra các di sản khác phát triển, là yếu tố quyết định đặc điểm quần

cư sinh học và hệ sinh thái, quyết định đa dạng sinh học, di sản thiên nhiên và đặc điển di sản văn hóa - xã hội, là di sản quan trọng hàng đầu trong các di sản thiên nhiên cũng như các di sản khác Di sản địa chất là tài nguyên không tái tạo, cho nên cần phải được bảo vệ, bapr tồn, quản lý và khai thác hợp lý cho sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội

* Giá trị văn hóa - lịch sử:

Trước hết phải khẳng định rằng, di sản văn hóa dân tộc là một bộ phận quan trọng nhất, chứa đựng những yếu tố cốt lõi của văn hóa dân tộc Bản thân các di sản văn hóa do cha ông ta sáng tạo ra, truyền lại cho thế hệ hôm nay tạo ra một hệ thống các giá trị có vai trò to lớn trong quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Hệ thống giá trị đó chẳng những là tài sản vô giá mà còn là những thông điệp có ý nghĩa của cha ông ta đúc kết ở mỗi thời điểm lịch sử, rút ra những bài học lịch sử, thể hiện nghệ thuật ứng xử của cha ông ta trong cải tạo tự nhiên, đấu tranh xã hội, chống giặc ngoại xâm, mở rộng quan hệ, hợp tác với các nước để xây dựng một quốc gia Việt Nam thống nhất trong đa dạng văn hóa

Một trong những giá trị tiêu biểu nhất của di sản văn hóa dân tộc là đề cao tinh thần yêu nước, đoàn kết mọi người dân, mọi dân tộc, tạo ra sức mạnh tinh thần vượt mọi khó khăn, gian khổ, hiểm nguy bảo vệ cho được độc lập dân tộc, thống nhất tổ quốc Di sản văn hóa tạo ra những biểu tượng văn hóa gắn kết các cộng đồng dân tộc trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước Mỗi người Việt Nam ai cũng tự hào mình là con cháu cha rồng (Lạc Long Quân), mẹ tiên (Âu Cơ), tự hào

về các dân tộc trong nước đều là anh em, từ một bọc sinh ra (đồng bào) Mỗi người Việt Nam tự hào về vua Hùng, người đứng đầu nhà nước Văn Lang đầu tiên của dân tộc, khẳng định vua Hùng là quốc tổ, có ngày giỗ tổ (mùng mười tháng ba), có

hệ thống đền miếu tôn thờ, được tổ chức lễ hội tưng bừng hàng năm

Một đặc điểm dễ nhận ra là hệ thống các di tích lịch sử văn hóa ở nước ta, từ Bắc đến Nam, phần lớn thờ phụng những người có công chống giặc ngoại xâm, dẹp

Trang 31

loạn cát cứ, xây dựng tinh thần đoàn kết, hòa hiếu giữa các dân tộc Nhân dân không chấp nhận tôn vinh những người đi ngược lại quyền lợi của các dân tộc, của quốc gia, phá vỡ tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc Rất nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở các dân tộc anh em trên đất nước ta đã thể hiện rõ nét tinh thần hòa hiếu giữa các dân tộc Các yếu tố di sản văn hóa của các dân tộc trong quá trình giao lưu được các dân tộc học hỏi, tiếp thu cái hay, cái tốt, làm giàu có vốn văn hóa của dân tộc mình Như vậy, giá trị của các di sản văn hóa dân tộc vừa là tài sản, vừa

là tiềm lực tạo ra sức mạnh tinh thần gắn kết cộng đồng các dân tộc Việt Nam Lịch

sử dân tộc ta đã chứng minh sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong chống giặc ngoại xâm chính là từ sức mạnh của văn hóa, trong đó có vai trò của những giá trị di sản văn hóa vun đắp qua bao thế kỷ

1.3.2 Xây dựng kế hoạch bảo tồn các di sản văn hóa

- Ưu tiên hàng đầu là bảo vệ và phát huy các mặt giá trị tiêu biểu của di sản (Giá trị về mặt văn hóa - lịch sử, khoa học của sản)

- Áp dụng mọi biện pháp có thể để bảo tồn và trùng tu, tạo điều kiện lưu giữ lâu dài và chuyển giao yếu tố nguyên gốc và tính chân xác lịch sử của di sản cho thế

hệ tiếp theo - những người sẽ có các điều kiện vật chất và kỹ thuật chắc chắn là hơn hẳn chúng ta, có thể đưa ra những phương án bảo tồn thích hợp hơn

- Việc bảo tồn và trùng tu còn phải đảm bảo duy trì được những chức năng

truyền thống của di sản văn hóa Bởi vì, những chức năng truyền thống đó sẽ tạo cho di sản khả năng đáp ứng được nhu cầu sử dụng của thời đại

- Kiên trì công tác tuyên truyền, giáo dục về di sản văn hóa và Luật Di sản văn hóa Chú trọng tới đối tượng thanh thiếu niên, triển khai có hiệu quả khẩu hiệu “Di sản nằm trong tay thế hệ trẻ” của UNESCO

1.3.3 Xây dựng đội ngũ cán bộ phục vụ công tác bảo tồn di sản văn hóa

- Xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác bảo vệ giá trị di sản có tâm huyết, trình độ, năng lực chuyên môn Đào tạo nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật về di sản văn hóa cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý văn hóa thông tin, tăng cường công tác bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn cho đội ngũ quản lý, bảo vệ và tổ chức hoạt động trực tiếp tại các di sản văn hóa

Trang 32

- Xây dựng chính sách về chế độ đãi ngộ phù hợp đối với những người trực tiếp làm công tác quản lý và bảo vệ di sản văn hóa, những người có công truyền dạy

và phổ biến di sản văn hóa phi vật thể, tuyển chọn, xây dựng, đào tạo đội ngũ thuyết minh viên tại các di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng, trước hết là tại các địa điểm

di sản văn hóa đang được khai thác phục vụ du lịch

1.3.4 Huy động nguồn vốn đầu tư cho công tác bảo tồn di sản văn hóa

- Tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành Trung ương để tìm nguồn vốn đầu

tư tôn tạo các di sản văn hóa Ngoài nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, tìm nguồn vốn tài trợ từ các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh để tôn tạo, tu

bổ, sửa chữa các di sản văn hóa Vận động các doanh nghiệp xây dựng công trình trên địa bàn, doanh nghiệp địa phương hỗ trợ thực hiện công tác tôn tạo, tu bổ, sửa chữa các sản văn hóa

- Huy động nguồn lực trong cộng đồng dân cư, nhất là nhân dân địa phương

để bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa Có hình thức khen thưởng xứng đáng những doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đóng góp tích cực đối với công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích Nâng tầm tổ chức kỷ niệm các ngày lễ, các lễ hội văn hóa truyền thống cùng các hoạt động văn hóa văn nghệ, hội thi, hội diễn trên địa bàn thành các sự kiện văn hóa du lịch để thu hút khách tham quan du lịch đến địa bàn

1.3.5 Tổ chức thực hiện bảo tồn các di sản văn hóa theo kế hoạch

- Rà soát, xây dựng các văn bản pháp lý về công tác quản lý di sản, xây dựng

và ban hành quy định phân cấp quản lý di sản văn hóa, danh lam thắng cảnh trên địa bàn cả nước để phân định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý chuyên ngành, các cấp chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân liên quan

- Tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động giữ gìn, bảo tồn di sản nhằm phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời các tổ chức, cá nhân có hành vi xâm hại di sản, lợi dụng việc bảo vệ di sản để trục lợi, hoạt động mê tín dị đoan hoặc thực hiện những hành vi khác trái pháp luật, trái với thuần phong, mỹ tục

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và các ban bảo vệ di tích phải

có các biện pháp tích cực, hiệu quả trong việc bảo vệ di sản

Trang 33

- Các cơ quan, ban ngành chức năng và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã thường xuyên kiểm tra việc chấp hành các quy định về bảo vệ an ninh trật tự,

vệ sinh môi trường tại các di sản văn hóa

1.4 Nội dung sự vận dụng quan điểm toàn diện trong công tác bảo tồn di sản văn hóa

1.4.1 Gắn liền giữ gìn với tôn tạo di sản văn hóa

Ðể có thể duy trì sức sống cho di sản văn hóa vốn đã được nhân loại tôn vinh, thì trước hết, các di sản văn hóa ấy phải được bảo tồn như nó vốn có, phải được

"sống", được tôn vinh, được người dân thừa nhận ngay trong chính đời sống của cộng đồng Cho nên, cần ứng xử với di sản văn hóa bằng lòng tự hào dân tộc, bằng hiểu biết và niềm đam mê cái đẹp, bằng cái cảm sự tinh túy các di sản văn hóa Bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa là một lĩnh vực hoạt động đầy khó khăn, phức tạp , hoạt động này vừa mang tính khoa học sâu sắc, vừa mang tính thực tiễn sinh động, mang tính xã hội cao Nên công tác bảo tồn và phát huy các giá trị của di tích là việc làm cấp bách và cần phải có giải pháp hợp lý, kịp thời để bảo

kỹ thuật xây dựng, chức năng truyền thống và những công năng tương ứng của di tích…) Như vậy, yếu tố nguyên gốc và yếu tố chân xác lịch sử sẽ quyết định các

mặt giá trị của di sản

1.4.2 Thực hiện đồng bộ các công việc của công tác bảo tồn di sản văn hóa

Để có thể bảo tồn và phát huy giá trị của di tích lịch sử - văn hóa, cần phải có

sự đầu tư đúng mức và đồng bộ của các ngành có liên quan trong định hướng phát

Trang 34

triển về kinh tế, văn hóa - du lịch Phải thành lập những dự án quy hoạch tổng thể

các di tích (xếp hạng, quy hoạch, đầu tư)

Các cấp, các nghành chỉ đạo khẩn trương thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp

nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn di sản văn hóa Có sự ăn khớp giữa tất cả

các bộ phận hoặc các khâu, tạo nên sự hoạt động nhịp nhàng của chỉnh thể

Để hiện thực hóa được mục tiêu này, cần tiếp tục tập trung vào những nội dung cơ bản sau:

Xác định giá trị của các di sản văn hóa cần bảo tồn: giá trị địa chất, địa mạo, giá trị văn hóa, giá trị lịch sử, giá trị khảo cổ

Xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện công tác bảo tồn di sản văn hóa

Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về di sản văn hóa thông qua việc đẩy mạnh quảng bá, tuyên truyền về di sản văn hoá và việc xử lý nghiêm minh các hành

vi làm huỷ hoại, biến dạng di sản văn hoá

Phải nhận thức việc bảo tồn di sản văn hoá và phát triển bền vững có mối quan

và xác định việc tiếp tục giữ gìn, bảo vệ giá trị di sản sẽ tạo cơ hội cho chất lượng cuộc sống của cộng đồng và cho sự phát triển bền vững

1.4.3 Thực hiện đồng bộ các chính sách của các cấp, các ngành và các tổ chức có liên quan đến công tác bảo tồn di sản văn hóa

Tăng cường hợp tác giữa các cấp, các ngành ở trung ương và địa phương, trước hết là giữa ngành du lịch và bảo tồn di sản văn hóa để tạo ra sự phát triển du

Trang 35

lịch thực sự bền vững Cần lồng ghép tốt giữa Chương trình mục tiêu quốc gia về chống xuống cấp và tôn tạo di tích, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể và Chương trình quốc gia về du lịch, các chương trình về môi trường, phát triển rừng, giáo dục, các quy họach phát triển kinh tế xã hội tại các khu vực có di sản thế giới

Thực hiện đồng bộ các chính sách kinh tế - xã hội, chính sách văn hóa để thực hiện công tác bảo tồn di sản văn hóa

Quán triệt sâu sắc nội dung Nghị quyết số 33/NQ-TW, ngày 9-6-2014, của

Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về xây dựng và

phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”, để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực phát

triển kinh tế - xã hội bền vững Đây là cơ sở hết sức quan trọng để tiếp tục xây dựng

và triển khai các cơ chế, chính sách phù hợp với các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa phi vật thể ở nước ta trong tình hình hiện nay

Tăng cường việc phối, kết hợp để tạo sự thống nhất, đồng bộ, liên ngành trong việc xây dựng các quy hoạch phát triển nhằm thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2020, cần tiếp tục nghiên cứu những hình thức và biện pháp phù hợp để bảo vệ và khai thác có hiệu quả kho tàng di sản văn hóa Việt Nam Tăng cường và củng cố mối liên kết liên nhà quản lý - nhà khoa học - nhà giáo dục - nhà kinh tế, hay hoạt động văn hóa - hoạt động kinh tế - hoạt động du lịch trong các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa

Xây dựng kế hoạch tuyên truyền, quảng bá tiềm năng phát triển du lịch để bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa trên cả nước

Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực, song song với quá trình đào tạo các cán bộ chuyên môn, cần có kế hoạch tập huấn về chuyên môn và thái độ ứng xử đối với di sản

Phối hợp chặt chẽ giữa các ngành như giao thông vận tải, hàng không, xây dựng, lao động - thương binh và xã hội, công an, và các cơ quan địa phương đảm bảo cho môi trường di sản thế giới (cả môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội) được trong sạch

Trang 36

1.4.4 Huy động sức mạnh của các lực lượng xã hội trong công tác bảo tồn di sản văn hóa

Cần tuyên truyền, phổ biến cho mọi người hiểu đúng, nhận thức sâu sắc về vai trò và tầm quan trọng của di tích lịch sử - văn hóa Từ đó, có sự đồng tình hưởng ứng của đông đảo công chúng trong toàn xã hội để cùng với cơ quan chức năng chung tay gìn giữ và phát huy các giá trị của di tích

Cần tăng cường giáo dục thẩm mỹ, giáo dục sự hiểu biết các tri thức văn hóa nói chung và di sản văn hóa dân tộc nói riêng, từ đó khơi dậy và nhân lên niềm đam

mê, ý thức bảo vệ di sản trong thế hệ trẻ

Tuyển chọn và đào tạo đội ngũ cán bộ, viên chức đủ trình độ chuyên môn nghiệp vụ để phục vụ lâu dài cho công tác quản lý di sản Chú trọng, đề cao việc bảo vệ an ninh trật tự, phòng chống cháy nổ tại các di sản văn hóa, nâng dần trình

độ nghiệp vụ cho các thuyết minh viên để phục vụ tốt khách tham quan, học tập Tăng cường xây dựng, đào tạo đội ngũ kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng, công nhân lành nghề có khả năng đáp ứng yêu cầu của công tác tu bổ di tích và áp dụng các thành tựu của khoa học kĩ thuật, công nghệ hiện đại trong bảo quản, tu bổ di tích

Vẫn biết rằng bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là nhiệm vụ của toàn dân, toàn xã hội song ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Hội Di sản văn hóa các cấp sẽ có vai trò to lớn trong việc phổ biến, giáo dục khoa học nâng cao trách nhiệm của nhân dân và huy động nguồn lực trong cộng đồng tham gia sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của dân tộc Bằng các giải pháp về chuyên môn nghiệp vụ như: Kiểm kê phổ thông di sản văn hóa, lựa chọn, lập hồ sơ xếp hạng di sản văn hóa, khai quật các di tích khảo cổ học, trùng tu, tôn tạo, khôi phục

di tích lịch sử, nghiên cứu, sưu tầm, xây dựng các sưu tập hiện vật trưng bày trong bảo tàng, nghiên cứu giá trị khoa học các di sản, tổ chức lễ hội truyền thống, tuyên truyền, quảng bá, phát huy giá trị di sản văn hóa; nghiên cứu, sưu tầm, khôi phục, truyền dạy và phổ biến, lập quy hoạch bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử… nhằm đưa tài nguyên di sản văn hóa thành những sản phẩm văn hóa tinh thần độc đáo của nhân dân, đồng thời đưa tiềm năng giá trị di sản văn hóa thành những sản

Trang 37

phẩm du lịch độc đáo, đặc trưng thực sự hấp dẫn du khách, làm cho những di sản văn hóa không những chỉ là tài sản vô giá của dân tộc mà còn trở thành tài nguyên

để phát triển du lịch bền vững, đồng nghĩa với việc phát triển kinh tế - xã hội, đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân

Chính vì nhận thức được rằng các giá trị văn hóa, thiên nhiên của di sản văn hóa thế giới không phải chỉ nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, học tập đơn thuần,

mà còn có khả năng đóng góp vào sự phát triển kinh tế của địa phương và cả nước, nên ngoài sự quan tâm của các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương, các

di sản thế giới còn nhận được sự tham gia ngày càng tích cực của cộng đồng vào quá trình bảo tồn và phát huy giá trị di sản Tuy nhiên, tuỳ theo cách hiểu và cách tiếp cận của mỗi đối tượng mà di sản được đầu tư, khai thác theo những chiều hướng khác nhau, do đó những tác động tích cực đối với sự phát triển bền vững của

di sản cũng nhiều, nhưng tác động tiêu cực đối với di sản cũng không ít Nhiệm vụ của những tổ chức, cá nhân làm công tác quản lý liên quan đến di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở các cấp, các ngành là cần xem xét điều chỉnh để những yếu tố tích cực ngày càng được phát huy, những tác động tiêu cực đối với di sản thế giới ngày càng được kiểm soát tốt hơn, giảm thiểu dần theo năm tháng cùng sự phát triển của đất nước, tiến tới triệt tiêu hẳn, nhằm tạo sự ổn định, bền vững cho di sản văn hóa

Trang 38

Chương 2 THỰC TRẠNG CỦA CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA

CAO NGUYÊN ĐÁ ĐỒNG VĂN Ở TỈNH HÀ GIANG HIỆN NAY

VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG 2.1 Điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội có sự ảnh hưởng đến công tác bảo tồn di sản cao nguyên đá Đồng Văn ở tỉnh Hà Giang

2.1.1 Điều kiện địa lý, tự nhiên của huyện Đồng Văn

Đồng Văn là huyện miền núi biên giới của tỉnh Hà Giang nằm ở điểm cực Bắc của Tổ quốc, đây là điểm nhô ra cao nhất trên bản đồ Việt Nam Đồng Văn cách thành phố Hà Giang 155km, nơi đây có cột cờ Lũng Cú là biểu trưng cho chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc Đồng Văn là huyện nằm trong vùng Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn

* Lịch sử hình thành:

Xưa kia, Đồng Văn thuộc tổng Đông Quan, châu Bình Nguyên, phủ Tương Yên, tỉnh Tuyên Quang Sau đó thuộc về châu Bảo Lạc Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta đã tách Đồng Văn ra khỏi Bảo Lạc

Ngày 15/12/1962, Hội đồng Chính phủ đã ban hành quyết định số

211/QĐ-CP tách Đồng Văn thành 3 huyện là Yên Minh, Mèo Vạc và Đồng Văn

Năm 1976, Hà Giang sáp nhập với Tuyên Quang thành tỉnh Hà Tuyên, Đồng Văn trở thành huyện của tỉnh Hà Tuyên Từ năm 1991 trở lại đây là huyện của tỉnh

Hà Giang

* Vị trí địa lý:

Huyện Đồng Văn có vị trí địa lý trong tọa độ từ 23o06’06’’ đến 23o 21’17’’ vĩ

độ Bắc, 105o 07’35’’ đến 105o 24’40’’ kinh độ Đông Phía Bắc và Tây giáp Trung Quốc, phía Nam giáp huyện Yên Minh, phía Đông giáp huyện Mèo Vạc Huyện có đường biên giới quốc gia là 52,5km

* Diện tích, địa hình, địa mạo:

Huyện Đồng Văn là trung tâm vùng lõi của cao nguyên đá Đồng Văn Với địa hình đặc trưng là núi đá với độ cao trung bình so với mặt biển là 1500m nhìn chung

Trang 39

địa hình khá phức tập và bị chia cắt mạnh và thấp dần từ tây bắc xuống đông nam Toàn huyện chia thành 2 dạng địa hình chính là:

Địa hình núi đất gồm 7 xã: Lũng Cú, Ma Lé, Đồng Văn, Phố Bảng, Phố Là, Phố Cáo và Sủng Trái

Địa hình núi đá vôi gồm 12 xã còn lại đó là: Hố Quáng Phìn, Lũng Phìn, Lũng Táo, Lũng Thầu, Sảng Tủng, Sính Lủng, Sủng Là, Tả Lủng, Tả Phìn, Thài Phìn Tủng, Vần Chải và xã Sà Phìn

- Theo số liệu tổng kiểm kê đất đai năm 2010, huyện Đồng Văn có tổng diện tích đất tự nhiên theo địa giới hành chính là 44.497,55 ha Trong đó đất nông nghiệp

là 26,51%, còn lại là rừng núi đá tự nhiên chiếm 73,49% diện tích Diện tích đất có

độ dốc trên 25 độ là lớn nhất chiếm 14.119ha Điều này đã gây khó khăn cho việc phát triển giao thông và canh tác sản xuất nông- lâm nghiệp cũng như sinh hoạt đời sống nhân dân

* Khí hậu thủy văn:

Đồng Văn là một huyện nằm trong vùng khí hậu gió mùa nhưng mang tính chất lục địa khá rõ nét Lượng mưa trung bình tương đối lớn khoảng 1750 -2000mm, tập trung từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình trong năm đạt 23,1độC Độ ẩm không khí bình quân năm đạt 84% Do vị trí nằm trên cao nguyên đá vôi nên khả năng giữ nước kém nhất là vào mùa khô nên một số vùng trong huyện thường xuyên gặp phải tình trạng thiếu nước trầm trọng Bên cạnh đó trong huyện còn thường xuyên xuất hiện, hiện tượng sương muối, thỉnh thoảng có năm thường xuất hiện, hiện tượng mưa tuyết nên ảnh hưởng không nhỏ đến vật nuôi cây trồng vào mùa khô

Đồng Văn có con sông Nho Quế chảy qua dọc theo ranh giới phía đông, bắc của huyện và có một hệ thống con suối lớn, nhỏ chảy qua nhưng lưu lượng nước của những con suối này khác nhau, không ổn định theo mùa Đặc biệt có hai con suối chảy vào sông Nho quế, một con suối ở phía nam xã Lũng Cú và một ở phía bắc thị trấn Đồng Văn có nước quanh năm và lưu lượng dòng chảy khá lớn vào mùa mưa nên đủ nước cung cấp cho nhân dân trong vùng và tạo điều kiện các trạm thủy điện nhỏ

Trang 40

* Các nguồn tài nguyên đất:

Là huyện vùng cao của tỉnh Hà Giang nên Đồng Văn luôn có nhiệt độ thấp so với các vùng khác Do địa hình bị chia cắt mạnh đồng thời do qúa trình phong hóa

từ đá vôi trầm tích và đá phiến thạch nên đất đai của huyện có thành phần cơ giới nặng, độ phì nhiêu tương đối cao và được chia thành 4 nhóm đất như sau:

Nhóm đất phù sa, phân bố chủ yếu tại các Phố Cáo, thị trấn Phố Bảng thích hợp cho việc trồng các loại cây lương thực và các loại cây trồng hàng năm khác với năng xuất cao

- Nhóm đất đen chủ yếu phân bố tại các xã Tả Lủng, Phố Là loại đất này có độ phì nhiêu cao thường cho năng xuất cây trồng có giá trị cao, nhưng trong quá trình canh tác cần chú ý đến vấn đề nước tưới trong mùa khô

- Nhóm đất xám đây là một trong những loại đất tốt của huyện thích hợp cho phát triển nông - lâm nghiệp như cây lâu năm, phát triển cây ngắn ngày

- Theo số liệu tổng kiểm kê đất đai năm 2010, huyện Đồng Văn có tổng diện tích đất tự nhiên theo địa giới hành chính là 44.497,55 ha và được chia thành 3 nhóm chính bao gồm:

+ Nhóm đất nông nghiệp: 35.157,38 ha chiếm 79,01% tổng diện tích

+ Nhóm đất phi nông nghiệp: 1.152, 44 ha chiếm 2,59 % tổng diện tích

+ Nhóm đất chưa sử dụng: 8.187,73 ha chiém 18, 440% tông diện tích

2.1.2 Tình hình kinh tế, văn hóa - xã hội của huyện Đồng Văn

* Tình hình kinh tế:

Đồng Văn là một trong 62 huyện nghèo nhất trong cả nước, trên địa bàn huyện

có 17 dân tộc anh em chung sống, trong đó dân tộc H’Mông chiếm đến 88% Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, thiên tai, dịch bệnh

có những diễn biến phức tạp: Rét đậm, rét hại, mưa tuyết, mưa lốc, mưa đá, kèm theo hạn hán, thiếu nước sinh hoạt và sản xuất,…, ngoài canh tác một số cây trồng chính (Lúa, ngô, đậu tương,…) kết hợp chăn nuôi các loại gia súc: Bò, dê, lợn, và các loại gia cầm, các nghành nghề khác chưa phát triển đồng bộ mà chủ yếu là do tự phát Sản lượng lương thực trong năm 2014 đạt 27.942 tấn Tốc độ tăng trưởng giá

Ngày đăng: 20/08/2018, 10:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Đức An, Đặng Văn Bào (2008), “Cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc: một di sản địa mạo quý giá”, Tạp chí Các khoa học về Trái Đất, số 12 - 2008. - Vol 30.-No 4. -p.534-544. -(vie). -ISSN 0886 - 7187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cao nguyên Đồng Văn - Mèo Vạc: một di sản địa mạo quý giá”, "Tạp chí Các khoa học về Trái Đất
Tác giả: Lê Đức An, Đặng Văn Bào
Năm: 2008
2. Đặng Văn Bài (1995), “Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích”, Tạp chí Văn hóa thông tin, (số 2), tr.18 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di tích”, "Tạp chí Văn hóa thông tin
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 1995
3. Đặng Văn Bào, Nguyễn Cao Huần, Tạ Hòa Phương, Trương Quang Hải, Vũ Văn Tích (2010), “Công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn - khả năng khai thác cho phát triển kinh tế và bảo tồn”, Kỉ yếu Hội thảo khoa học và diễn đần đầu tư “ Vì Hà Giang phát triển”, Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công viên địa chất cao nguyên đá Đồng Văn - khả năng khai thác cho phát triển kinh tế và bảo tồn”, "Kỉ yếu Hội thảo khoa học và diễn đần đầu tư “ Vì Hà Giang phát triển”
Tác giả: Đặng Văn Bào, Nguyễn Cao Huần, Tạ Hòa Phương, Trương Quang Hải, Vũ Văn Tích
Năm: 2010
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005), Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác - Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009), Giáo trình nhũng nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Giáo trình nhũng nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2009
6. Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch (2007), Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể, Nxb Văn Hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể
Tác giả: Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch
Nhà XB: Nxb Văn Hóa
Năm: 2007
7. C.Mác (1978), Bộ Tư bản, Quyển 1, Tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Tư bản
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1978
8. Cục Di sản văn hoá, Bộ Văn hoá Thông tin (2006), Một con đường tiếp cận di sản văn hoá, Tập 3, Nxb Văn Hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một con đường tiếp cận di sản văn hoá
Tác giả: Cục Di sản văn hoá, Bộ Văn hoá Thông tin
Nhà XB: Nxb Văn Hóa
Năm: 2006
9. Cục Di sản văn hoá, Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch (2007), Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể, Nxb Văn Hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ di sản văn hoá phi vật thể
Tác giả: Cục Di sản văn hoá, Bộ Văn hoá - Thể thao và Du lịch
Nhà XB: Nxb Văn Hóa
Năm: 2007
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
11. Nguyễn Văn Huy (2003), “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác bảo tồn phát huy di sản văn hóa”, Tạp chí cộng sản, (số 20), tr.176 - 177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác bảo tồn phát huy di sản văn hóa”", Tạp chí cộng sản
Tác giả: Nguyễn Văn Huy
Năm: 2003
12. GS.TS Nguyễn Ngọc Long, GS.TS Nguyễn Hữu Vui (2006), Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác - Lênin
Tác giả: GS.TS Nguyễn Ngọc Long, GS.TS Nguyễn Hữu Vui
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
13. Lâm Bá Nam (2010), “Di tích lịch sử - văn hóa với phát triển du lịch Hà Giang - nhận thức và vấn đề”, Kỉ yếu Hội thảo khoa học và diễn đàn đầu tư “Vì Hà Giang phát triển”, Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di tích lịch sử - văn hóa với phát triển du lịch Hà Giang - nhận thức và vấn đề”, "Kỉ yếu Hội thảo khoa học và diễn đàn đầu tư “Vì Hà Giang phát triển”
Tác giả: Lâm Bá Nam
Năm: 2010
14. Tạ Hòa Phương (2011), “Nghiên cứu điều kiện tự nhiên vùng cao nguyên đá Đồng Văn - Mèo Vạc phục vụ xây dựng công viên địa chất”, Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, Hà Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu điều kiện tự nhiên vùng cao nguyên đá Đồng Văn - Mèo Vạc phục vụ xây dựng công viên địa chất”, "Đề tài Nghiên cứu khoa học cấp tỉnh
Tác giả: Tạ Hòa Phương
Năm: 2011
15. Nguyễn Văn Quang (2010), “Du lịch Hà Giang - tiềm năng, cơ hội trong tiến trình hội nhập và phát triển”, Kỉ yếu Hội thảo khoa học và diễn đàn đầu tư “Vì Hà Giang phát triển”, Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch Hà Giang - tiềm năng, cơ hội trong tiến trình hội nhập và phát triển”, "Kỉ yếu Hội thảo khoa học và diễn đàn đầu tư “Vì Hà Giang phát triển”
Tác giả: Nguyễn Văn Quang
Năm: 2010
16. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang (2015), Hội nghị sơ kết công tác văn hóa, thể thao và du lịch “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của tỉnh Hà Giang”, Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị sơ kết công tác văn hóa, thể thao và du lịch “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của tỉnh Hà Giang”
Tác giả: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hà Giang
Năm: 2015
17. Nguyễn Trùng Thương, (2010), “Sự đa dạng và nét độc đáo về văn hóa tộc người trên cao nguyên đá Đồng Văn - tiềm năng phát triển du lịch”, Kỉ yếu Hội thảo khoa học và diễn đàn đầu tư “Vì Hà Giang phát triển”, Lưu hành nội bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự đa dạng và nét độc đáo về văn hóa tộc người trên cao nguyên đá Đồng Văn - tiềm năng phát triển du lịch”, "Kỉ yếu Hội thảo khoa học và diễn đàn đầu tư “Vì Hà Giang phát triển”
Tác giả: Nguyễn Trùng Thương
Năm: 2010
18. Hoàng Vinh (1997), Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hoá dân tộc
Tác giả: Hoàng Vinh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1997

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w