1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển vốn từ tiếng anh cho trẻ 3 4 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe

75 345 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 748,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ 3 - 4 tuổi: Một nhà tâm lý học người Nga đã nghiên cứu đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo và ông đã chỉ rỗ rằng: trong vốn từ của trẻ mẫu giáo

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

HOÀNG THU HUYỀN

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG ANH

CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA

HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN CHO TRẺ NGHE

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

HOÀNG THU HUYỀN

PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG ANH

CHO TRẺ 3 – 4 TUỔI THÔNG QUA

HOẠT ĐỘNG KỂ CHUYỆN CHO TRẺ NGHE

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non

Người hướng dẫn khoa học

PGS TS Nguyễn Thu Hương

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2, các thầy cô khoa Giáo dục Mầm non đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình em học tập tại trường và tạo điều kiện cho em để em thực hiện tốt khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo – PGS.TS Nguyễn Thu Hương người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu và giúp em hoàn thành khóa luận này

Qua đây, em xin gửi tới Ban giám hiệu và các cô giáo trường Mầm non Khai Quang – thành phố Vĩnh Yên – tỉnh Vĩnh Phúc cùng các bạn sinh viên khoa Giáo dục Mầm non lời cảm ơn chân thành nhất

Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự đóng góp ý của các thầy cô giáo và các bạn để

đề tài được hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Hoàng Thu Huyền

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đề tài “ Phát triển vốn từ tiếng anh cho trẻ 3 – 4 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe” là kết quả nghiên cứu của tôi Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng tài liệu của một số nhà nghiên cứu, một số tác giả khác Tuy nhiên đó là cơ sở để tôi rút ra vấn đề cần tìm hiểu cho đề tài của mình Những kết quả trong khóa luận chưa được công bố dưới bất cứ hình thức nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự cam đoan này

Hà Nội, tháng 5 năm 2018

Sinh viên

Hoàng Thu Huyền

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

3 Mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

7 Cấu trúc khóa luận 6

NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN và CƠ SỞ THỰC TIỄN 7

1.1 Cơ sở lí luận 7

1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học 7

1.1.2 Cơ sở tâm, sinh lý của trẻ 3 – 4 tuổi 16

1.1.3 Kể chuyện và vai trò của kệ chuyện cho trẻ nghe trong việc phát triển ngôn ngữ 21

1.2 Cơ sở thực tiễn 25

1.2.1 Mục đích điều tra 25

1.2.2 Đối tượng và địa bàn điều tra 25

1.2.3 Nội dung điều tra 26

1.2.4 Phương pháp điều tra 26

1.2.5 Thời gian điều tra 26

1.2.6 Phân tích và đánh giá kết quả điều tra 26

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MỘT SỐ CÂU CHUYỆN CÓ CHỨA TỪ TIẾNG ANH ĐƠN GIẢN NHẰM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 31

2.1 Mục đích, nội dung, nguyên tắc xây dựng câu chuyện 31

Trang 6

2.1.1 Mục đích 31

2.1.2 Nội dung 31

2.1.3 Nguyên tắc 31

2.2 Cách thức xây dựng câu chuyện 31

2.3 Hệ thống các câu chuyện nhằm phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ 32 CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ TIẾNG ANH CHO TRẺ VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 38

3.1 Biện pháp 38

3.1.1 Kể chuyện cho trẻ nghe bằng lời 38

3.1.2 Kể chuyện cho trẻ nghe theo tranh 40

3.1.3 Kể chuyện theo mô hình rối 42

3.1.4 Kể chuyện theo video 44

3.2 Thực nghiệm 47

3.2.1 Mục đích thực nghiệm 47

3.2.2 Đối tượng thực nghiệm 47

3.2.3 Nội dung thực nghiệm 48

3.2.4.Quy trình thực nghiệm 48

3.2.5 Tiêu chí đánh giá thực nghiệm 49

3.2.6 Giáo án thực nghiệm 49

3.2.7 Kết quả thực nghiệm 60

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 67 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Giáo dục mầm non hiện nay là một bậc học được đảng và nhà nước ta quan tâm sau sắc Bởi lẽ giáo dục mầm non là một khâu quan trọng, là nền móng đầu tiên cho việc hình thành nhân cách của trẻ em sau này

Bảo vệ và chăm sóc trẻ không chỉ là trách nhiệm của gia đình mà nó là trách nhiệm của toàn xã hội Chính vì vậy hiện nay Đảng và nhà nước ta có rất nhiều biện pháp tích cực để bảo vệ và chăm sóc trẻ em nhằm tạo ra những con người đáp ứng được yêu cầu của xã hội mới, những con người phát triển

về đức, trí, thể, mỹ nhằm đưa đất nước ngày càng phát triển Đây là vấn đề mang tính thời đại và cấp bách với ngành giáo dục đặc biệt là Giáo dục Mầm non

Thực tế hiện nay tiếng Anh đóng vai trò quan trọng trong xã hội Vì vậy việc dạy tiếng Anh cho các cấp bậc nói chung và đặc biệt là giáo dục Mầm non nói riêng mang tính cấp bách và cần thiết, góp phần xây dựng nên những con người hoàn thiện hơn, đáp ứng nhu cầu của xã hội Giáo dục Mầm non là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân vì vậy việc dạy ngoại ngữ cho trẻ là cần thiết, tạo tiền đề cho trẻ có thể học tốt ở các cấp bậc tiếp theo

Xuất phát từ nhu cầu của trẻ rất thích nghe kể chuyện và được kể chuyện vì vậy việc lồng ghép tiếng Anh vào những câu chuyện để dạy cho trẻ

sẽ gây hứng thú cho trẻ trong việc học tiếng Anh Thay vì dạy tiếng Anh cho trẻ theo những cách truyền thống hiện nay là cho trẻ đọc từng từ, từng từ rồi nói nghĩa, phương pháp dạy tiếng Anh khô cứng, thiếu linh hoạt và gò bó thì việc đưa những từ đó vào những câu chuyện sau đó kể cho trẻ nghe sẽ kích thích sự tưởng tượng, hứng thú cho trẻ và trẻ sẽ nhớ dễ dàng hơn

Trang 8

Mặt khác việc học tiếng Anh của trẻ ở những vùng nông thôn hiện nay còn gặp nhiều khó khăn do nhiều lý do khác nhau đặc biệt là do kinh tế còn nghèo vì vậy gần như không có khả năng để thuê giáo viên tiếng Anh về dạy cho trẻ Đó là một sự thiệt thòi cho trẻ ở những vùng này không được tiếp xúc với ngoại ngữ Vì vậy việc đưa những từ tiếng Anh đơn giản vào những câu chuyện sẽ giúp cho các cô giáo trong trường cũng có thể dạy tiếng Anh cho trẻ, ít nhiều cũng giúp cho các trẻ ở những vùng khó khăn được tiếp xúc với ngoại ngữ

Ngoài ra việc lồng ghép những từ tiếng Anh đơn giản vào những câu chuyện để dạy cho trẻ có thể dễ dàng thực hiện ở mọi lúc, mọi nơi, các cô giáo sẽ là người dạy trực tiếp cho trẻ trong những giờ luyện tập hay thậm chí các mẹ cũng có thể dễ dàng dạy cho trẻ ở nhà mọi lúc, mọi nơi

Là một giáo viên Mầm non trong tương lai, chúng tôi ý thức được tầm quan trọng của việc dạy tiếng Anh cho trẻ Mầm non Vì vậy tôi lựa chọn đề tài: “Phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ 3 - 4 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe” và quyết tâm đi sâu tìm hiểu Chúng tôi cũng hi vọng đề tài của chúng tôi sẽ góp một phần nào đó trong việc giúp trẻ học ngoại ngữ một cách dễ dàng và góp một phần nào đó cho việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo tại các trường Mầm non

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trẻ em luôn nhận được sự quan tâm của gia đình và nhà trường và toàn

xã hội, đặc biệt là các nhà khoa học Hiện nay việc dậy tiếng Anh cho trẻ là hết sức cần thiết và cũng không còn nhiều mới mẻ nữa, có rất nhiều cách khác nhau để dậy tiếng Anh cho trẻ và cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu ở nhiều mức độ và phạm vi khác nhau

Ở Việt Nam trong những năm gần đây vấn đề này cũng được quan tâm nhiều hơn Một số hội nghị khoa học ở trung ương cũng như các địa phương

Trang 9

đã hướng nội dung vào việc thảo luận nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non trong đó không thể thiếu được chính là việc phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ lứa tuổi mẫu giáo

Trong cuốn giáo trình “ Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non” của tác giả Đinh Hồng Thái (2006), Nxb Đại học Sư phạm chú trọng tới việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, hình thành và phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo, phát triển ngôn ngữ, vốn từ cho trẻ thông qua thơ và truyện để tạo tiền đề tốt cho trẻ bước vào lớp 1

Đứng trên phương diện một nhà giáo dục học, một nhà tâm lí học, tác giả Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn “Tâm lí học trẻ em lứa tuổi Mầm non” (2005) đã đề cập đến sự phát triển vốn từ của trẻ ở từng giai đoạn, từng lứa tuổi

Có rất nhiều các tác giả nghiên cứu các biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ tiêu biểu như EI Tikheeva đã đề ra phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ một cách có hệ thống, trong đó cần tổ chức cho trẻ tìm hiểu thế giới thiên nhiên xung quanh trẻ, dạo chơi, xem tranh, kể chuyện cho trẻ nghe, tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” đã đưa ra một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ

Nghiên cứu sự phát triển các thành phần ngôn ngữ của trẻ: Vốn từ, khả năng hiểu từ, ngữ pháp ở các độ tuổi khác nhau có các công trình nghiên cứu của Lưu Thị Lan (1996) “Những bước phát triển ngôn ngữ của trẻ em từ 1 – 6 tuổi [19] đã chỉ rõ các bước phát triển về ngữ âm của trẻ bắt đầu từ giai đoạn tiền ngôn ngữ (0 – 1 tuổi), giai đoạn ngôn ngữ (1 – 6) tuổi và nhiều công trình khác

Báo “Người Lao Động số ngày 25/10/2015” Có viết Hiện nay trên thế giới có gần 60 quốc gia sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ chính bên cạnh tiếng

mẹ đẻ, gần một trăm quốc gia sử dụng tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2 Theo

Trang 10

thầy Đặng Lộc Thọ Hiệu trưởng Trường Cao Đẳng Sư phạm Trung ương cho biết các nghiên cứu trên thế giới đề chỉ ra rằng lĩnh hội ngôn ngữ là quá trình

tự nhiên ở lứa tuổi nhỏ Mẫu giáo là giai đoạn thuận lợi nhất để tiếp thu ngoại ngữ do sự hình thành các quá trình nhận thức và ghi nhớ tài liệu ngôn ngữ một cách nhanh chóng, trẻ có động cơ giao tiếp ngôn ngữ một cách tự nhiên

và không có rào cản ngôn ngữ như sự sợ hãi, ức chế

Thầy Đặng Lộc Thọ Còn nói “Nghiên cứu mới đây từ các nhà khoa học Pháp và Canada cho biết trẻ từ 7 tháng tuổi có thể học, hiểu hai ngôn ngữ dù cấu trúc ngữ pháp của chúng rất khác nhau”

Một khảo sát tại Trường Cao Đẳng Sư phạm Trung ương cho thấy kết quả thăm dò tại 50 trường Mầm non với 80 hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và

330 giáo viên trực tiếp cho trẻ làm quen với tiếng Anh cho thấy hiện chỉ có khoảng 10% đơn vị giáo dục mầm non tự tổ chức giáo dục tiếng Anh tại trường, 90% thực hiện theo hình thức tổ chức liên kết với các trung tâm bên ngoài

Theo Lê Thị Luận (Viện khoa học Giáo dục Việt Nam) thực tế khảo sát trực tiếp tại các trường mầm non tại Hà Nội và TP HCM cho thấy đội ngũ giáo viên tham gia vào việc hướng dẫn trẻ mầm non làm quen với ngoại ngữ tại các trường đều tự hợp đồng với các trung tâm ngoại ngữ nhưng chưa có chứng chỉ về sư phạm mầm non

Và còn nhiều cuốn sách, tạp chí khác cũng đề cập đến vấn đề này Như vậy có rất nhiều tác giả đã đưa ra các công trình nghiên cứu về các phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non, và có rất nhiều nghiên cứu và ý kiến khác nhau nói về phát triển ngôn ngữ tiếng Anh cho trẻ Tựu chung lại các nhà khoa học đều hướng tới mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non nói chung và phát triển ngôn ngữ tiếng Anh cho trẻ Mầm non nói riêng Đưa ra các biện pháp, các hình thức nhằm nâng cao chất lượng dạy

Trang 11

và học của ngành giáo dục Mầm non nói riêng và nền giáo dục của đất nước

ta nói riêng Tuy nhiên vẫn chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ 3 – 4 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, chúng tôi mạnh dạn

chọn và đi sâu nghiên cứu đề tài: “Phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ 3 - 4 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe”

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu biện pháp kể chuyện cho trẻ nghe nhằm phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài

- Xây dựng một số câu chuyện có những từ tiếng Anh đơn giản nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi

- Đề xuất biện pháp phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ

- Thực nghiệm sư phạm

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ 3 - 4 tuổi thông qua hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe

Phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này chúng tôi giới hạn nghiên cứu việc phát triển vốn danh từ tiếng Anh cho trẻ 3 – 4 tuổi

6 Phương pháp nghiên cứu

Trang 12

6.2 Phương pháp đàm thoại

Trảo đổi với cô giáo về đề tài nghiên cứu Trò chuyện với trẻ, hỏi trẻ một số câu hỏi để tìm hiểu về vốn từ tiếng Anh của trẻ và khả năng phát âm của trẻ, hứng thú của trẻ khi học tiếng Anh

6.3 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Nghiên cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu của chương trình dạy và học liên quan đến tiếng Anh để đánh giá các hoạt động học tiếng Anh của trẻ

6.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm trả tính đúng đắn của đề tài nghiên cứu đã đề ra

6.5 Phương pháp chuyên gia

Xin ý kiến chuyên gia là những giáo viên có thâm niên giảng dạy tại trường về nội dung câu chuyện đã được xây dựng, hình thức tổ chức, hứng thú của trẻ và khả năng áp dụng của đề tài nghiên cứu trong dạy tiếng Anh cho trẻ

7 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo khóa luận gồm 3 chương chính

Chương 1: Cơ sở lý luận về ngôn ngữ và thực tiễn dạy học tiếng Anh ở trường mầm non hiện nay

Chương 2: Xây dựng một số câu chuyện có chứa từ tiếng Anh đơn giản thông qua hoạt động kể chuyện nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi

Chương 3: Biện pháp phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện và thực nghiệm sư phạm

Trang 13

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN và CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ học

1.1.1.1 Ngôn ngữ và vai trò của ngôn ngữ

Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp quan trong nhất của con người

Giao tiếp là sự truyền đạt thông tin từ người này đến người khác với một mục đích nhất định nào đó Khi giao tiếp người ta trao đổi tư tưởng tình cảm với nhau, tác động đến nhau, những tư tưởng, trí tuệ của người này được truyền từ người này đến người khác, từ thế hệ này đến thế hệ khác – đó là nhờ ngôn ngữ một trong những động lực đảm bảo sự tồn tại của xã hội loài người

Ngôn ngữ là một thứ sản phẩm độc quyền của con người Nó chỉ được hình thành, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người, do ý muốn và nhu cầu của con người Bên ngoài xã hội loài người ngôn ngữ không thể phát sinh

Ngôn ngữ có vai trò to lớn trong đời sống tâm lý con người Ngôn ngữ

là một trong hai yếu tố (cùng với lao động) đã làm cho con vật trở thành con người (Ph Ăng-ghen) Nói cách khác, ngôn ngữ đã góp phần tích cực làm cho các quá trình tâm lý của con người có chất lượng khác hẳn với con vật Ngôn ngữ đã cố định lại những kinh nghiệm lịch sử xã hội của loài người, nhờ đó thế hệ sau có được các sức mạnh tinh thần của thế hệ trước Ngôn ngữ là hình thức tồn tại của ý thức, ngôn ngữ là “ý thức thực tại” của con người (C Mác)

Nó liên quan đến tất cả các quá trình tâm lý của con người, là thành tố quan trọng nhất về mặt nội dung và cấu trúc tâm lý của con người, đặc biệt là các quá trình nhận thức

Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với các quá trình nhận thức cảm tính nó làm cho các quá trình này ở người mang một chất lượng mới

Trang 14

Mặt khác ngôn ngữ ảnh hưởng mạnh đến ngưỡng nhạy cảm của cám giác, làm cho các cảm giác được thu nhận rõ ràng, đậm nét hơn Đối với tri giác ngôn ngữ làm cho quá trình tri giác diễn ra dễ dàng, nhanh chóng hơn và làm cho những cái tri giác trở thành khách quan, đầy đủ và rõ ràng hơn

Đối với trí nhớ ngôn ngữ tham gia tích cực vào các quá trình trí nhớ, gắn chặt với các quá trình đó Ví dụ như việc ghi nhớ sẽ dẽ dàng và có kết quả tốt hơn nếu ta nói lên thành lời điều ta cần ghi nhớ Không có ngôn ngữ thì không thể thực hiện sự ghi nhớ có chủ định, sự ghi nhớ có ý nghĩa và kể cả sự ghi nhớ máy móc (học thuộc lòng) Ngôn ngữ là một phương tiện để ghi nhớ,

là một hình thức để lưu giữ những kết quả cần nhớ Nhờ ngôn ngữ con người

có thể chuyển hẳn những thông tin cần nhớ ra bên ngoài đầu óc con người Chính bằng cách này con người có thể lưu giữ và truyền đạt được những kinh nghiệm của loài người cho thế hệ sau

Đối với tư duy Ngôn ngữ và tư duy có mối quan hệ song song Ngôn ngữ càng không phải là tư duy và ngược lại tư duy không phải là ngôn ngữ Mối quan hệ chặt chẽ giữa ngôn ngữ với tư duy được thể hiện ở chỗ tư duy dùng ngôn ngữ làm công cụ, phương tiện cho mình, chính vì điều này mà tư duy của con người khác về chất so với tư duy của con vật, con người có tư duy trừu tượng, không có ngôn ngữ thì con người không thể tư duy trừu tượng

và khái quát được Mối quan hệ không tách rời giữa tư duy và ngôn ngữ được thể hiện trong ý nghĩa của các từ Mỗi từ đều có quan hệ với một lớp sự vật, hiện tượng nhất định và gọi tên lớp sự vật, hiện tượng đó Khi gọi tên các sự vật, từ tựa như thay thế chúng và nhờ đó tạo ra những điều kiện vật chất cho những hành động hay thao tác đặc biệt đối với các vật ấy

Đối với tưởng tượng ngôn ngữ càng giữ vai trò to lớn trong tưởng tượng Nó là phương tiện để hình thành biểu đạt và duy trì các hình ảnh mới của tưởng tượng Ngôn ngữ giúp ta làm chính xác hóa các hình ảnh tưởng

Trang 15

tượng đang nảy sinh, tách ra trong chúng những mặt cơ bản nhất, gắn chúng lại với nhau, cố định chúng lại bằng từ và lưu giữ chúng trong trí nhớ Ngôn ngữ làm cho tưởng tượng trở thành một quá trình ý thức, được điều khiển tích cực, có kết quả và chất lượng cao Độ tuổi 3 - 4 tuổi tưởng tượng của trẻ phát triển cả về dạng loại và các mức độ của hình ảnh tượng tượng Hình ảnh tưởng tượng thường gắn với biểu tượng trong hoàn cảnh cụ thể giới hạn bởi kinh nghiệm tích lũy được ở lứa tuổi này Ngôn ngữ có vai trò kích thích tưởng tượng của trẻ phát triển

Đối với việc giáo dục đạo đức.Ở lứa tuổi mầm non, đặc biệt là tuổi mẫu giáo, các cháu bắt đầu hiểu biết và lĩnh hội những khái niệm, những quy tắc, những chuẩn mực đạo đức của xã hội Tuy mới chỉ là những khái niệm ban đầu nhưng lại vô cùng quan trọng, có tính chất quyết định những nét tính cách riệng biệt của mỗi con người trong tương lai Muốn cho các cháu hiểu, và lĩnh hội những khái niệm đạo đức này, chúng ta không thể thông qua những hoạt động cụ thể hoặc qua những sự vật hiện tượng trực quan đơn thuần, mà phải

có ngôn ngữ Nhờ có ngôn ngữ mà các cháu có thể thể hiện được đầy đủ những nhu cầu và nguyện vọng đầy đủ của mình Cũng nhờ có ngôn ngữ mà các bậc cha mẹ, các nhà giáo dục có điều kiện hiểu con cháu mình hơn, để từ

đó có thể uốn nắn, giáo dục và xây dựng cho các cháu những tình cảm và những hình vi đạo đức trong sáng nhất

Vai trò của tiếng Anh trong đời sống trẻ thơ

Trẻ nhỏ học ngoại ngữ càng sớm càng tốt, điều này sẽ giúp trẻ hoàn thiện một cách dễ dàng hơn cả 2 loại ngôn ngữ Hiện nay công nghệ ngày càng phát triển trẻ được xem, được nghe các bài hát tiếng Anh, các câu chuyện tiếng Anh nhiều hơn, điều đó làm cho trẻ cảm thấy thú vị, hứng thú với các bài hát tiếng Anh Trẻ lứa tuổi mầm non thích tìm tòi khám phá những cái mới lạ vì vậy việc trẻ được học tiếng Anh giống như trẻ được thỏa sự

Trang 16

thích thú, đam mê của mình, trẻ được vui chơi, học hỏi trong cac bài hát, trong các câu chuyện

Khi trẻ biết tiếng Anh sẽ giúp trẻ mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh nhiều hơn, mở rộng các mối quan hệ giao tiếp trong cuộc sống, trẻ được tiếp xúc với nhiều người nước ngoài mà đặc biệt trẻ nhỏ rất thích được nói chuyện với những người nước ngoài vì trẻ thấy tò mò, thấy lạ và muốn được khám phá, đồng thời ngôn ngữ tiếng Anh giúp trẻ hoàn thiện nhân cách một cách tích cực hướng đến một con người hiện đại hóa, hướng đến những người công dân toàn cầu

Tiếng anh làm phong phú thêm cuộc sống của trẻ với một phạm vi mới

và mở rộng, mở mang tâm trí của trẻ bằng những ý tưởng mới, khái niệm mới

Trang 17

những âm tiết khác nhau (chuồn chuồn, xanh xanh…) Từ láy bao gồm láy đôi (tôn tốt, bối rối…), láy ba (khít khìn khịt, dửng dừng dưng…) và láy bốn (hớt hơ hớt hải, lơ thơ lẩn thẩn…)

Từ ghép là từ trong đó các thành tố có ý nghĩa được kết hợp với nhau, các thành tố này có thể độc lập hoặc không độc lập Từ ghép bao gồm từ ghép đẳng lập (đẹp tươi, to lớn, nhà cửa…) và từ ghép chính phụ (áo dài, sân bay,

đó để học tập, giao tiếp càng nhiều thì vốn từ đó càng phong phú Vì vậy, môi trường giao tiếp, học tập vô cùng quan trọng đối với việc hình thành vốn từ vựng của con người

Việc phát triển vốn từ cho trẻ là giúp trẻ nắm được nhiều từ, hiểu ý nghĩa của từ và biết sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp

Trang 18

1.1.1.3 Đặc điểm ngôn ngữ học của trẻ 3 – 4 tuổi

Ngôn ngữ của trẻ mang tính hoàn cảnh, tình huống nghĩa là ngôn ngữ của trẻ gắn liền với sự vật, hoàn cảnh, con người, hiện tượng đang xảy ra trước mắt trẻ

Cuối 4 tuổi, ngôn ngữ của trẻ đã bắt đầu biết kết nối giữa tình huống hiện tại với quá khứ thành một văn cảnh Vốn từ của trẻ tăng lên không chỉ số lượng mà điều quan trọng là lĩnh hội được các cấu trúc ngữ pháp đơn giản Đã hình thành những cảm xúc ngôn ngữ qua giọng nói, ngữ điệu, âm tiết… Tuy nhiên dưới tác động của cảm xúc trẻ có thể nghe nhầm, phát âm nhầm

Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ 3 - 4 tuổi:

Một nhà tâm lý học người Nga đã nghiên cứu đặc điểm phát triển vốn

từ của trẻ mẫu giáo và ông đã chỉ rỗ rằng: trong vốn từ của trẻ mẫu giáo đầu tiên trẻ em được phản ánh những đặc trưng của sự vật, hiện tượng, càng lớn trẻ càng có nhiều vốn từ để thể hiện được đặc điểm của các sự vật hiện tượng xung quanh một cách chính xác bằng từ ngữ, tư duy trực quan hành động, giải thích việc trẻ mẫu giáo bé và mẫu giáo nhỡ chủ yếu có vốn từ biểu danh Tư duy trừu tượng và tư duy logic xuất hiện ở lứa tuổi thứ 5, cho phép trẻ lĩnh hội ở nhiều khía cạnh khác nhau

Trẻ có ba loại vốn từ

Vốn từ chủ động là vốn từ mà chủ thể nói năng sử dụng một cách tích cực trong giao tiếp, vốn từ chủ động của trẻ mẫu giáo nhỡo trong giao tiếp của trẻ ít hơn vốn từ thụ động

Vốn từ thụ động là vốn từ mà chủ thể nói năng có thể hiểu nhưng không biết cách sử dụng trong giao tiếp Vì vậy ở trẻ mẫu giáo thì giáo viên phải chuyển từ vốn từ thụ động sang vốn từ chủ động cho trẻ

Trang 19

Vốn từ cơ bản là vốn từ có tần số xuất hiện cao trong giao tiếp của trẻ Chính vì vậy dạy trẻ phát triển ngôn ngữ là phát triển vốn từ cơ bản cho trẻ vì chỉ khi đó trẻ mới có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ một cách tốt nhất

Vốn từ của trẻ mẫu giáo phát triển rất nhanh theo từng độ tuổi cụ thể được thể hiện ở các mặt như sau:

Về mặt số lượng:

Trẻ đã có sự phát triển về mặt số lượng từ các độ tuổi nhỏ Đến 3 - 4 tuổi số lượng từ của trẻ cũng đạt số lượng tương đối lớn Trẻ 4 tuổi có thể nắm được gần 700 từ, phần lớn là danh từ, tính từ, động từ và các loại từ loại khác Nhưng đa phần vẫn là danh từ, động từ và tính từ còn các loại từ loại khác đã xuất hiện trong vốn từ của trẻ Danh từ chỉ đồ dùng trong nhà, danh

từ chỉ các con vật nuôi gần gũi,…động từ chỉ hoạt động hằng ngày gần gủi với trẻ và những người xung quanh

Tốc độ tăng vốn từ của trẻ ở các độ tuổi khác nhau là khác nhau, tốc độ tăng chậm dần theo độ tuổi tăng dần Cuối 2 tuổi so với đầu 3 tuổi khác nhau, đầu 4 tuổi so với cuối 4 tuổi là khác nhau tăng 40% - 58%, đến cuối 5 tuổi tốc

độ tăng vốn từ của trẻ giảm chỉ tăng từ 10% - 40%

Về mặt cơ cấu từ loại:

Trẻ 3 - 4 tuổi các từ loại bắt đầu xuất hiện dần dần, ban đầu các từ loại chủ yếu là danh từ sau đó là sự xuất hiện của động từ và tính từ, các loại từ khác thì xuất hiện muộn hơn

Về cơ bản trong vốn từ của trẻ đã xuất hiện đầy đủ các loại từ Tuy nhiên danh từ và tính từ xuất hiện nhiều hơn nhiều so với các loại từ loại khác: cụ thể danh từ chiếm 38%, động từ chiếm 32%, tính từ chiếm 6,8%, đại

từ chiếm 3,1%, phó từ chiếm 7,8%, tình thái từ chiếm 4,8%, quan hệ từ chiếm 1.7%, số từ chiếm 2,5%

Trang 20

Đến các lứa tuổi lớn hơn thì vốn từ của trẻ đang dần dần từng bước hình thành và hoàn thiện cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ Tỉ lệ danh từ, động từ sẽ giảm đi chỉ còn khoảng 50% và tỉ lệ tính từ và các loại từ khac sẽ tăng lên Tính từ tăng đạt đến 15%, quan hệ từ tăng lên đến 5,7%, còn lại là các loại từ khác

Mức độ hiểu nghĩa của từ Trẻ càng lớn khả năng hiểu nghĩa của từ càng rõ ràng Đối với trẻ 4 tuổi trẻ hiểu được nghĩa biểu danh Theo Federenco (Nga) có 5 mưc độ hiểu nghĩa khái quát của từ như sau:

Mưc độ zero (mức độ không): Mọi sự vật có tên gắn với nó, trẻ hiểu được ý nghĩa tên này: bố, mẹ, ấm, chén…

Mức độ 1: Ý nghĩa biểu niệm ở mức thấp, tên gọi chung của các sự vật cùng loại: nhà, búp bê…

Mưc độ 2: Khái quát hơn: quả (quả chuối , quả mít, quả cam…); con (con chó, con mèo, con gà, con vịt…); xe (xe đạp, xe máy, xe ô tô…)

Mức độ 3: Ở mức độ cao hơn mà trẻ nắm được: phương tiện giao thông (ô tô, xe máy, xe đạp, máy bay, ô tô, tàu hỏa…); đồ vật (đồ chơi, đồ nấu ăn,

đồ dùng gia đình, đồ dùng học tập…)

Mức độ 4: Khái quát tối đa những khái niệm trừu tượng: chất lượng, số lượng, hành động…những điều này học ở cấp phổ thông

Trẻ lứa tuổi nhà trẻ hiểu được ý nghĩa biểu danh (mức độ zero và mức

độ 1) Mức độ 2 và 3 chỉ dành cho trẻ mẫu giáo đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn

Đặc điểm ngữ pháp trong ngôn ngữ của trẻ

Đặc điểm ngữ pháp trong lời nói của trẻ cũng thay đổi và phát triển theo từng độ tuổi

Trẻ ở các độ tuổi nhỏ nhu cầu giao tiếp của trẻ với thế giới xung quanh ngày càng tăng, trẻ không dùng những âm bập bẹ mà đã bắt đầu nắm được

Trang 21

một số từ, câu nói của trẻ thường gắn liền với ngữ cảnh cùng với nét mặt, cử chỉ, điệu bộ của trẻ

Cấu trúc C – V là mô hình câu chủ yếu trong lời nói của trẻ Chủ ngữ thường là danh từ, ít khi là một loại từ khác Còn vị ngữ chủ yếu là động từ, danh từ ít xuất hiện, cũng đôi khi vị ngữ là tính từ

Lời nói của trẻ 3 - 4 tuổi đôi khi chưa đủ cấu trúc C - V nhưng đa phần

là trẻ đã nói được đầy đủ cấu trúc C - V, có khi câu của trẻ có nhiều chủ ngữ,

vị ngữ đẳng lập

Ví dụ: Hoa, Huyền đi học

Các loại câu mà trẻ thường nói:

Loại câu có chủ ngữ là danh từ: Thường là chỉ tên người, các sự vật, hiện tượng gần gũi xung quanh trẻ

Ví dụ: Lan là bạn thân của con

Loại câu có vị ngữ là động từ (là loại câu phổ biến trong câu nói của trẻ) chủ yếu là các hoạt động gần gũi

Ví dụ: Hoa đang chạy

Danh từ, động từ, tính từ có thể phát triển thành các nhóm danh từ, nhóm động từ, nhóm tính từ

Ví dụ: Con chim đang hót

Câu có thành phần trạng ngữ chiếm khoảng 20% trong tổng số lời nói của trẻ và chủ yếu là trạng ngữ chỉ thời gian, địa điểm

Ví dụ: Hôm nay con đi siêu thị

Trong lời nói của trẻ có nhiều câu đặc biệt và câu rút gọn

Ví dụ: Con – rút gọn vị ngữ

Có ạ - rút gọn chủ ngữ

Dần dần trẻ càng lớn trẻ sử dụng các loại câu càng đa dạng, tuy nhiên vẫn còn một số hạn chế như: các hình thức câu ghép còn hạn chế, trẻ hay mắc

Trang 22

lỗi khi có câu ghép có cấu trúc phức tạp, trẻ hay mắc lỗi khi gặp các cuộc đối thoại có nội dung truyện không rõ ràng và tính biểu cảm không cao

1.1.2 Cơ sở tâm, sinh lý của trẻ 3 – 4 tuổi

1.1.2.1 Đặc điểm tâm lý học của trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi

Tâm lý của trẻ 3 - 4 tuổi khá đặc biệt đây là giai đoạn trẻ phát triển khá mạnh và rõ rệt về mọi mặt, tính tình trẻ thay đổi, có lúc rất ngoan, có lúc lại nghịch ngợm không sao bảo được, chung ta có thể hình dung tâm lý của trẻ 3

- 4 tuổi theo kiểu biến đổi không ngừng, nhiều đòi hỏi, lắm yêu sách và khó chiều Nhắc tới tuổi lên 3 các bậc cha mẹ thường nghĩ tới cụm từ “Khủng hoảng tuổi lên 3” hay “Nổi loạn tuổi lên 3”

- Ở giai đoạn này trẻ bắt đầu hình thành và thể hiện cái tôi:

Trẻ thích tự làm mọi việc, thích tự chơi theo ý mình Trẻ quan tâm nhiều hơn tới thế giới xung quanh, trẻ chú ý hơn tới các vật dụng gia đình, quan sát các hiện tượng ngoài cửa sổ, bắt trước động tác của các con vật, thích nghịch nước và chơi bóng…Trẻ biết thể hiện cảm xúc của mình như biết bày tỏ tình cảm của mình với ông, bà, cha, mẹ, với những người xung quanh, biết thể hiện tinh thần đoàn kết với các bạn cùng chơi Trẻ thích được khen và

đã biết mình mắc lỗi khi làm sai Trẻ bắt đầu xuất hiện những khủng hoảng như: Đôi khi trẻ chống đối lại cha mẹ, không chịu làm theo một số yêu cầu của người lớn Trẻ có thể la hét thậm chí đập phá nếu không được theo ý mình Trẻ bắt đầu có nhiều thắc mắc, nhiều câu hỏi hơn và không chịu thỏa hiệp nếu cha mẹ trả lời qua loa Ví dụ khi bạn đang bận nấu cơm trẻ chạy vào gọi mẹ ơi con bảo, bạn trả lời con nói đi nhưng lại không quay sang nhìn trẻ thì trẻ sẽ gọi tiếp và thậm chí kéo người bạn đến khi nào bạn quay lại nhìn nó mới chịu nói tiếp Ở tuổi này trẻ đã biết lý luận thậm trí bắt bẻ người lớn vì vậy hãy coi trẻ như những người lớn vì trẻ muốn được như vậy

- Trẻ 3 - 4 tuổi ngôn ngữ của trẻ ở mức độ tiến bộ hơn cụ thể:

Trang 23

Vốn từ tăng nhanh, nói nhiều và nói câu dài hơn, câu phức tạp hơn, thích hát, hiểu được hầu hết các từ nói được, có thể nghe câu chuyện 15 - 20 phút Nói được tên và tuổi của mình, nói được từ khoảng 250 - 500 từ Trẻ trả lời được một số câu hỏi đơn giản từ người lớn Nói được nhiều câu đơn giản

từ 5 - 6 từ và đến 4 tuổi trẻ có thể nói được những câu hoàn chỉnh, dài hơn Trẻ thường xuyên thường xuyên nói mà ít bị mắc các lỗi như lặp từ hoặc âm tiết Bắt trước hầu hết tiếng nói của người lớn Trẻ có thể luyên thuyên suất ngày, nói đủ rõ để người lạ có thể hiểu được Kể được các câu chuyện tuân theo nhiều quy tắc ngữ pháp đơn giản, sử dụng các từ “Con”, “Của con”,

“Mình” và “Bạn” mặc dù chưa hoàn toàn chính xác Nhắc lại các từ hoặc cụm

từ mà mình được nghe thấy nhiều lần Sử dụng đại từ nhân sưng “Con”

“Mẹ”…Biết sử dụng các từ ở số nhiều “Các em nhỏ, Nhiều đồ chơi…”

Tính tự lực của trẻ bắt đầu xuất hiện, được thể hiện ở các mặt sau: Trong việc lựa chọn chủ đề và nội dung chơi: Do trong quá trình tiếp xúc hằng ngày với các đồ vật xung quanh, giao tiếp rộng rãi với mọi người

mà trẻ cũng có ít nhiều vốn kinh nghiệm sống điều đó tạo điều kiện cho trẻ tự

do lựa chọn chủ đề chơi và phản ánh vào vai chơi những mảnh hiện thực mà mình quan tâm

Trẻ đã bắt đầu biết thiết lập các mối quan hệ rộng rãi và phong phú với các bạn chơi, biết chọn bạn chơi, việc chơi trong nhóm bạn bè là một nhu cầu bức thiết Ở độ tuổi 3 - 4 tuổi, một “xã hội trẻ em bắt đầu được hình thành nhưng những xã hội trẻ em này còn khác rất nhiều với xã hội người lớn Hợp rồi tan, tan rồi hợp, thực và chơi, chơi và thực đó chính là nét độc đáo trong

xã hội ấy Nhưng chính từ những mối quan hệ xã hội đầu tiên trong nhóm bạn

bè này có một ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của trẻ về mọi mặt tâm lý,

tư duy, tình cảm, kỹ năng xã hội sau này và ảnh hưởng lớn lao đến cả cuộc đời của trẻ sau này Trong xã hội của mình trẻ vừa là sản phẩm đồng thời vừa

Trang 24

là người tạo ra những mối quan hệ đó Có thể nói mỗi đứa trẻ đều được tạo ra bởi những đứa trẻ khác Trẻ 3 - 4 tuổi mong muốn được hòa mình vào nhóm bạn bè để được vui chơi, được học hỏi và được nhận ra mình trong đó và điều này có ý nghĩa quan trọng đối với việc hình thành nhân cách của trẻ sau này

Sự phát triển đời sống tình cảm:

Trong lứa tuổi mẫu giáo thì tình cảm thống trị tất cả các mặt trong hoạt động tâm lí của trẻ, đặc biệt ở độ tuổi mẫu giáo nhỡ thì đời sống tình cảm có một bước chuyển biến mạnh mẽ vừa phong phú, vừa sâu sắc hơn so với lứa tuổi trước đó

Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo đặc biệt là mẫu giáo nhỡ, tình cảm của trẻ phát triển mãnh liệt, đặc biệt là sự đồng cảm và tính dễ xúc cảm với con người và với cảnh vật xung quanh Đây cũng là thời điểm rất thuận lợi để giáo dục lòng nhân ái cho trẻ: Khi được mọi người yêu thương trẻ rất phấn khởi và ngược lại trẻ sẽ tỏ ra rất buồn khi mọi người thờ ơ trẻ, trẻ biết đồng cảm và dễ xúc cảm với bạn bè xung quanh và với những người thân gần gũi với trẻ, trẻ thể hiện bằng sự quan tâm thông cảm với họ

Ví dụ: Khi cùng chơi với một nhóm bạn, có một bạn bị ngã chảy máu chân trẻ thể hiện sự lo lắng trên khuân mặt và hỏi han xem bạn có sao không

và chạy lại thưa ngay với cô giáo là bạn bị ngã

Trẻ 3 - 4 tuổi vốn từ của trẻ đang tăng rất nhanh vì vậy phát triển vốn từ tiếng anh cho trẻ trong giai đoạn này là rất cần thiết, trẻ sẽ dàng tiếp thu hơn

và tiếp thu một cách hứng thú hơn vì trẻ lứa tuổi này thích khám phá và học hỏi, việc phát triển cho trẻ vốn từ tiếng anh còn giúp trẻ mở rộng các mối quan hệ với những người nước ngoài và dần dần trẻ sẽ tiếp thu và học hỏi được tri thức mới về văn hóa, xã hội…giúp trẻ phát triển toàn diện hơn hướng đến việc xây dựng con người lao động mới phù hợp với yêu cầu của xã hội trong tương lai

Trang 25

Đặc điểm tâm lí của trẻ 3 – 4 tuổi đang ở giai đoạn phát triển mạnh mẽ

cả về tư duy lẫn tình cảm Vì vậy giáo viên cần cung cấp các kiến thức và mở rộng hiểu biết cho trẻ về thế giới xung quanh một cách tích cực và hiệu quả nhất để trẻ có thể khắc sâu những biểu tượng, phát huy những động cơ tích cực và khơi dậy tình cảm mạnh mẽ của trẻ làm trẻ thêm yêu cuộc sống

1.1.2.2 Đặc điểm sinh lý của trẻ 3 - 4 tuổi

Trẻ em là một thực thể đang phát triển Trẻ càng nhỏ thì tốc độ phát triển ngày càng nhanh, các cơ quan dần được hoàn thiện về cấu tạo và chức năng, chúng ta có thể quan sát thấy trẻ lớn lên từng ngày Tuy nhiên các cơ quan và hệ cơ quan có các giai đoạn phát triển khác nhau chứ không giống nhau và trùng nhau Quá trình hình thành và phát triển của các cơ quan và hệ

cơ quan có tác dụng rất lớn tới các quá trình tâm lý của trẻ Vì vậy tính thích nghi và khả năng hoạt động của trẻ dễ bị thay đổi dưới những tác động thay đổi đó Không ngoại trừ những tác động đó trẻ mẫu giáo 3 - 4 tuổi cũng có những thay đổi đáng kể về tâm lý và thay đổi của cơ quan và hệ cơ quan

Hệ thần kinh: Từ lúc trẻ mới sinh ra hệ thần kinh của trẻ chưa chuẩn bị đầy đủ để thực hiện một chức năng của mình Trẻ mẫu giáo nhỡ quá trình ức chế dần phát triển, trẻ có khả năng phân tích, đánh giá, hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động và phân biệt được các hiện tượng xung quanh

Hệ thần kinh điều khiển sự hoạt động cảu các cơ quan trong cơ thể, phối hợp điều hòa sự hoạt động của các cơ quan làm cho cơ thể thích nghi được sự thay đổi thường xuyên của môi trường và có thể cải tạo nó Nhờ có

hệ thần kinh mà con người có tư duy và tâm lí Hệ thần kinh chính là cơ quan điều khiển cơ thể như là một khối thống nhất

Sự phát triển các đường dẫn truyền diễn ra rất mạnh và tăng lên theo từng độ tuổi Vì vậy trẻ mẫu giáo phát triển hệ thần kinh hơn là ở lứa tuổi nhà trẻ Chức năng của tất cả các cơ quan trong vỏ đại não, hoạt động thần kinh

Trang 26

cao cấp được phát triển cao hơn Chức năng điều khiển của vỏ bán cầu đại não tăng hơn so với trung khu dưới vỏ, do đó ta thấy hành vi của trẻ có tính tổ chức cao hơn trước Trong mối quan hệ chức năng thì hệ thần kinh mang tính không ổn định nên các quá trình tâm lí diễn ra chưa đầy đủ Hệ thần kinh có một tác động chi phối và điều tiết đối với hoạt động của cơ thể cải thiện tính không cân bằng của các quá trình thần kinh Cần chú ý tới sự luôn phiên giữa động và tĩnh trong quá trình vận động của trẻ

Hệ vận động: Bao gồm hệ xương, cơ và khớp

Hệ xương: Trẻ chưa hình thành cốt hóa, thành phần hóa học xương của trẻ có chứa nhiều nước và chất hữu có hơn chất vô cơ so với người lớn, nên

có nhiều sụn xương, xương mềm, dễ cong gãy

Hệ cơ: Cơ của trẻ phát triển yếu Bao gồm trên 600 cơ, chiếm 42% trọng lượng cơ thể Chia thành 4 nhóm cơ chính: cơ đầu, cơ cổ, cơ mình và cơ chi, hệ cơ yếu tổ chức cơ bắp còn ít, các sợi cơ mảnh, nhỏ, thành phần nước trong cơ thể tương đối nhiều nên sức mạnh cơ bắp còn yếu cơ nhanh mệt mỏi

Vì vậy lứa tuổi này trẻ không thích nghi với sự căng thẳng lâu của cơ bắp chính vì vậy giáo viên cần phải đan xen giữa các hoạt động vận động và hoạt động nghỉ ngơi hợp lý để trẻ không cảm thấy mệt mỏi và trẻ hoạt động một cách hiệu quả nhất

Khớp của trẻ còn nông, các cơ bắp xung quanh rất mềm và yếu, hệ thống dây chằng còn lỏng lẻo, tính vững chắc còn yếu Vì vậy cần phải có các hoạt động vận dộng phù hợp để giúp trẻ rèn luyện các khớp từ đó phát triển dần tính vững chắc của khớp

Hệ tuần hoàn: Là một hệ thống đường ống khép kín do tim và mạch cấu tạo thành Lồng ngực đang phát triển, tim ở tư thế thẳng giống như người lớn, các mạch máu rộng hơn so với người lớn Cần đa dạng các bài tập luyện

Trang 27

cho trẻ, nâng dần vận động cũng như cường độ vận động phối hợp động và tĩnh một cách nhịp nhàng để tăng cường công năng của tim cho trẻ

Hệ hô hấp: Phổi của trẻ lớn dần theo độ tuổi, ở trẻ 4 tuổi nhịp thở là 25 – 30 lần/ phút Số nhịp thở này sẽ giảm dần theo dộ tuổi của trẻ

Trẻ sẽ không chịu được những vận động quá sức, kéo dài liên tục do bộ máy hô hấp của trẻ còn nhỏ, chưa hoàn thiện Khi cho trẻ vận động quá sức sẽ làm cho các cơ đang vận động bị thiếu ôxi Vì vậy trong quá trình vận động cần tăng dẫn các vận động, tạo điều kiện cho cơ thể trẻ thích nghi với việc tăng lượng ôxi cần thiết và ngăn ngừa được lượng ôxi quá lớn trong cơ thể

Từ những đặc điểm tâm lí trên mà người lớn cần có các nội dung và phương pháp chăm sóc cho trẻ ăn, học và vui chơi hợp lí, khoa học, giúp cơ thể trẻ được phát triển khỏe mạnh và hoạt động một cách hiệu quả nhất Đây chính là điều kiện tốt nhất để giúp trẻ có thể tham gia vào quá trình học tập, khám phá môi trường xung quanh một cách tích cực và hiệu quả

1.1.3 Kể chuyện và vai trò của kệ chuyện cho trẻ nghe trong việc phát triển ngôn ngữ

1.1.3.1 Khái niệm

Đọc và kể chuyện văn học là một loại hình nghệ thuật có từ lâu đời, từ trước khi có chữ viết, ngôn ngữ sống được truyền qua truyền miệng từ những người kể chuyện nổi tiếng trong dân gian, nhiều thế hệ tiếp nhận được trong tuổi thơ ấu của mình những ấn tượng không bao giờ mờ phai, từ những tác phẩm nghệ thuật dân gian để lại qua cách trình bày của những người kể chuyện có tài Nhiều nhà văn qua kinh nghiệm bản thân đều nhận thấy sức tác động của ngôn ngữ được đọc lên theo lối nghệ thuật

Trong thời đại chúng ta nghệ thuật đọc, kể tác phẩm văn học đã ăn sâu trong cuộc sống nhờ có những phương tiện hòa nhạc, phát thanh, truyền hình, mạng internet

Trang 28

Nghệ thuật đọc và kể chuyện văn học được sử dụng rộng rãi trong công tác giáo dục trẻ em Người lớn và các nhà giáo dục phải nhìn thấy được những tác động to lớn của ngôn ngữ nghệ thuật đối với sự phát triển toàn diện của trẻ và phải chú ý tớii những đặc trưng trong cách thụ cảm của các em trước tuổi đến trường

Trẻ 3 - 4 tuổi chưa biết đọc Ngôn ngữ nghệ thuật được các em cảm thụ thông qua nghe người lớn đọc và kể, vì vậy cách trình bày cảm xúc và diễn cảm tác phẩm văn học có tầm quan trọng đặc biệt

1.1.3.2 Vai trò của việc kể chuyện cho trẻ nghe với việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 - 4 tuổi

Những nét đặc trưng cơ bản của tác phẩm văn học dành cho lứa tuổi mẫu giáo:

Văn học thiếu nhi nằm trong nghệ thuật sáng tạo văn học nói chung, vì vậy nó cũng mang đầy đủ những đặc điểm của nghệ thuật ngôn từ tuy nhiên

do đối tượng phục vụ chủ yếu là trẻ em nên có những đặc điểm được nhấn mạnh

Trước hết tính giáo dục được coi là một trong những đặc trưng cơ bản nhất của văn học dành cho thiếu nhi Nó có vai trò vô cùng to lớn trong việc giáo dục nhân cách trẻ em, về đạo đức, trí tuệ, thẩm mỹ Tô Hoài một nhà văn

có kinh nghiệm trong các sáng tác dành cho trẻ em đã khẳng định tầm quan trọng của chức năng này: “Nội dung một tác phảm văn học viết cho thiếu nhi bao giờ cũng quán triệt vấn đề xây dựng các đức tính con người Nói thì thừa cân nhắc lại giản dị, một tác phẩm chân chính có giá trị đối với tuổi thơ là một tác phẩm tham dự mạnh mẽ vào sự nghiệp nên người của bạn đọc ấy”

Để có thể thực hiện tốt chức năng giáo dục, tác phẩm văn học phải thực

sự là người bạn đồng hành, đối thoại đối với trẻ Nhà văn không thể nói với các em bằng những lời thuyết giáo khô khan mà phải bằng hình tượng nghệ

Trang 29

thuật, bằng ngôn ngữ giản dị, trong sáng, dễ hiểu để khơi gợi, dẫn dắt các em tìm hiểu và khám phá thế giới Trẻ cần phải biết phân biệt được cái hay, cái đẹp, cái dở, cái cao quý, cái thấp hèn trong cuộc sống Văn học phải mang lại cho trẻ cái đẹp, cao quý, chân thiện Tuy nhiên cũng không nên cực đoan chức năng giáo dục dành cho trẻ Không nên nghĩ rằng sau khi đọc xong là các em có thể trở thành người tốt hay người xấu Những ảnh hưởng tới các

em là một quá trình lâu dài và bền bỉ Nó tác động một cách từ từ nhưng giá trị nhân văn của nó thì có thể tạo nên sức mạnh, ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành và phát triển của con người

Nếu tính giáo dục là một đặc trưng có tính chất sống còn của văn học thiếu nhi thì khẳ năng khơi gợi, kính thích trí tưởng tượng, sáng tạo của trẻ là một đặc điểm không thể thiếu trong văn học viết cho các em Hơn bất cứ loại hình nghệ thuật nào, sáng tác văn học thiếu nhi phải đặc biệt quan tâm đến tâm lí của lứa tuổi chính điều này cũng làm nên sự khác biệt giữ văn học thiếu nhi và văn học người lớn Tuổi thơ hồn nhiên, ngây thơ, tâm hồn trong sáng, dạt dào cảm xúc và trí tượng phong phú Các em cảm nhận bằng cái nhìn chân thật nhất, bầu bạn với hết thảy vạn vật thiếu nhi Chính vì vậy tưởng tượng là một yếu tố không thể thiếu trong các tác phẩm viết cho các

em Muốn vậy, nhà văn phải thực sự hòa nhập vào cuộc sống của trẻ thơ, hiểu

và sống hết mình với tuổi thơ mới có thể tạo ra được sự cộng hưởng với trẻ thơ trong các sáng tác

Văn học viết cho trẻ lứa tuổi mầm non chủ yếu là các bạn đọc còn chưa biết đọc, chưa biết viết nên ngoài những tiêu chí chung của văn học nó còn có những đặc điểm được nhấn mạnh, phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lí lứa tuổi này như:

Hồn nhiên và ngây thơ

Ngắn gọn và rõ ràng

Trang 30

Giàu hình ảnh, vần điệu và nhạc điệu

Sử dụng từ ngữ chọn lọc, trong sáng, rõ ràng, dễ hiểu

Yếu tố truyện trong thơ và yếu tố thơ trong truyện

Ý nghĩa giáo dục nhẹ nhàng mà sâu lắng

Ngôn ngữ của trẻ phát triển tốt sẽ giúp trẻ nhận thức và giao tiếp tốt góp phần quan trong vào việc hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ sau này Vì vậy việc phát triển vốn từ cho trẻ 3 - 4 tuổi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ trong giao tiếp sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các môn học khác như: Môn làm quen với môi trường xung quanh, làm quen với toán, âm nhạc, tạo hình…

Đặc biệt thông qua bộ môn làm quen với văn học như: Kể chuyện, đóng kịch sẽ giúp trẻ phát triển trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ và khả năng cảm thụ cái hay, cái đẹp, cái tốt, cái xấu của mọi vật xung quanh

Vì vậy bộ môn “Cho trẻ làm quen với văn học” là bộ môn rất hay và hấp dẫn nếu giáo viên có sự đầu tư vào bài giảng Tuy nhiên nó sẽ trở nên đơn điệu và khô khan nếu giáo viên không có sự chuẩn bị chu đáo Trong giờ kể chuyện cho trẻ cô giáo có thể sử dụng các phương tiện khác nhau để hỗ trợ cho bài giảng của mình: tranh ảnh, rối tay, các hình cắt trên bìa, loa… Để trẻ tiếp thu bài học một cách tốt nhất

Thực tế cho thấy trẻ mầm non rất thích nghe kể chuyện đặc biệt là những câu chuyện kết thúc có hậu, những câu chuyện có các nhân vật sinh động, thân thiện, gần gũi với trẻ, nội dung câu chuyện phải mang tính chất giáo dục trẻ yêu cái thiện, cái đẹp, yêu quê hương đất nước

Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ luôn thích khám phá, tìm tòi những điều mới lạ, ngộ ngĩnh Do đó giáo viên phải luôn thay đổi hình thức dạy để trẻ thực sự có hứng thú, trẻ được trực tiếp tham gia vào các hoạt động một cách

Trang 31

chủ động, tích cực, sáng tạo Trẻ phải được tự học là chính, học qua chơi, qua khám phá, qua tìm hiểu, qua trải nghiệm bằng cách sử dụng các giác quan để khám phá, để trẻ có thêm vốn hiểu biết cũng như phát triển vốn từ một cách nhanh và chính xác nhất

Khi trẻ thưởng thức một câu chuyện do cô kể, trẻ sẽ hình dung trong đầu viễn cảnh của câu chuyện đó và từng từ, từng câu của câu chuyện sẽ được trẻ liên tưởng một cách cụ thể Và khi trẻ được nghe cô kể chuyện kết hợp với tranh minh họa thì trẻ càng hiểu rõ hơn về nội dung, hiểu rõ hơn ý nghĩa của

từ, câu từ đó trẻ biết thêm nhiều nghĩa của từ hơn, vốn từ của trẻ sẽ phong phú hơn và trẻ có thể sử dụng những từ ngữ đó trong hoàn cảnh cụ thể Trẻ biết cách đặt câu hỏi và từ đó giao tiếp của trẻ cũng được mở rộng hơn, trẻ sẽ học tập được nhiều hơn

Ngoài ra đối với việc phát triển ngôn ngữ tiếng Anh cho trẻ thông qua

kể chuyện sẽ giúp trẻ hứng thú học tập, trẻ được hòa mình vào trong câu chuyện của cô trẻ sẽ hiểu nghĩa của từ tiếng anh một cách dễ dàng, và tất cả trẻ kể cả những trẻ có mức độ tiếp thu chậm hơn cũng tập trung vào bài và có thể tiếp thu được kiến thức mà cô muốn truyền đạt vì được nghe kể chuyện là một phần không thể thiếu trong sở thích của trẻ

và phát triển ngôn ngữ cho trẻ

1.2.2 Đối tượng và địa bàn điều tra

Đối tượng điều tra: trẻ 3 – 4 tuổi

Trang 32

Địa bàn điều tra: Trường Mầm non Khai quang, phường Khai Quang –

xã Phúc Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc

1.2.3 Nội dung điều tra

Mức độ phát triển ngôn ngữ tiếng Anh của trẻ 3 – 4 tuổi tại trường Mầm non Khai Quang

1.2.4 Phương pháp điều tra

Phương pháp quan sát: Dự giờ, quan sát hoạt động dạy của giáo viên tiếng Anh và hoạt động học của trẻ trong các tiết học tiếng Anh

Phương pháp đàm thoại và trò chuyện với trẻ để nắm được khả năng tiếng Anh của trẻ và trò chuyện với giáo viên tiếng Anh về các biện pháp, hình thức họ đã sử dụng để dạy tiếng Anh cho trẻ

1.2.5 Thời gian điều tra

Thời gian điều tra tại trường Mầm non Khai Quang từ tháng 2/2018 đến giữa tháng 4/2018

1.2.6 Phân tích và đánh giá kết quả điều tra

1.2.6.1 Các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng đến quá trình phát triển của trẻ

Trường Mầm non Khai Quang được xâu dựng, hình thành và phát triển tại thành phố Vĩnh Yên – nơi tập trung đông dân cư, có đầy đủ điều kiện kinh

tế, văn hóa, xã hội Hơn nữa Trường Mầm non Khai Quang là một trong những trường điểm của tỉnh Vĩnh Phúc, nên có rất nhiều phụ huynh muốn gửi con em mình đến học ở trường vì ở đây trẻ sẽ được học tập, vui chơi trong một môi trường khá đầy đủ, thân thiện và được đảm bảo an toàn về mọi mặt

1.2.6.2 Khảo sát chung về việc thực hiện nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ tiếng anh cho trẻ 3 – 4 tuổi

Hiện nay ở trường Mầm non Khai Quang việc học tiếng Anh vẫn chưa nằm trong nội dung chính của chương trình giáo dục Tuy nhiên trẻ vẫn được

Trang 33

học thêm ở các tiết buổi chiều và việc phát triển ngôn ngữ tiếng Anh vẫn đang được các bậc phụ huynh quan tâm Ngoài ra nhà trường cũng đã liên kết với các trung tâm tiếng Anh để có được những giáo viên phù hợp về dạy cho các trẻ

Tuy nhiên vấn đề trở ngại của các giáo viên tiếng Anh khi về dạy tại trường đó là: Các cô giáo gặp khó khăn trong việc quản lớp, trong việc gây hứng thú cho trẻ, đa phần các cô chỉ sử dụng cách cho trẻ xem tranh sau đó phát âm và trẻ phát âm lại nhiều lần, việc này lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ gây sự nhàm chán cho trẻ, làm khả năng tiếp thu bài học của trẻ giảm sút

Cách dạy này chỉ phù hợp với một số trẻ có khả năng tiếp thu tốt, còn những trẻ tiếp thu chậm hơn thì hầu hết trẻ không tập trung vào bài học mà chỉ ngồi nhìn và không phát âm theo cô

Ngoài ra cô cũng sử dụng bài hát trong việc dạy tiếng Anh cho trẻ nhưng khả năng hiểu nghĩa của trẻ dường như rất thấp Trẻ hát theo bài hát

mà không hiểu nghĩa của từ đó là gì và bài hát nói về điều gì

1.2.6.3 Mức độ phát triển ngôn ngữ tiếng Anh của trẻ 3 – 4 tuổi tại trường Mầm non Khai Quang

Tiêu chí đánh giá xếp loại

1 Phát âm: Phát âm rõ ràng, chính xác các từ tiếng Anh

2 Khả năng hiểu nghĩa: Trẻ hiểu nghĩa của những từ tiếng Anh mà trẻ

đã được học

3 Khả năng sử dụng: Biết sử dụng từ tiếng Anh đã học trong những câu đơn giản

Tiêu chí đánh giá mức độ tiếp thu của trẻ

Trẻ đạt được cả 3 tiêu chí trên: Tốt

Trẻ đạt được tiêu chí 1 và 2: Khá

Trẻ đạt được tiêu chí 1: Trung bình (TB)

Trang 34

Trẻ không đạt được tiêu chí nào: Yếu

Bảng 1.1 Bảng khảo sát mức độ tiếp thu vốn từ tiếng Anh của trẻ 3 – 4 tuổi tại trường Mầm non Khai Quang

Trang 35

22 Đào Phương Thảo 05/03/2014 Yếu

Bảng 1.1 cho thấy: Phần lớn trẻ chỉ mới dừng lại ở mức TB có nghĩa là trẻ mới chỉ phát âm được từ nhưng khả năng hiểu nghĩa của từ còn hạn chế và chưa có trẻ nào có thể sử dụng được các từ đó trong những câu đơn giản và còn rất nhiều trẻ học tiếng Anh nhưng trẻ không tiếp thu được gì sau mỗi tiết học Cụ thể có 5 trên tổng số 26 trẻ chiếm 19% trẻ không tiếp thu được gì sau khi học tiếng Anh, có 14 trên tổng 26 trẻ chiếm 54% trẻ có khả năng phát âm đúng từ và có 7 trên tổng số 26 trẻ chiếm 27% trẻ có khả năng phát âm đúng

và hiểu nghĩa của từ

Nhà trường rất quan tâm đến việc phát triển ngôn ngữ của trẻ cũng như việc học tiếng Anh của trẻ Tuy nhiên các giáo viên tiếng Anh còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc dạy cho trẻ trong công tác quản lý lớp vì tất cả các giáo viên tiếng Anh không tốt nghiệp từ mầm non Các biện pháp dạy trẻ còn chưa đa dạng, lặp đi lặp lại, dẫn đến việc trẻ khó tiếp thu kiến thức mới, mức

độ tiếp thu vẫ còn rất thấp

Trang 36

Từ những hạn chế trên, chúng tôi nhận thấy việc nghiên cứu và áp dụng việc kể chuyện cho trẻ nghe để giúp trẻ học tiếng Anh một cách đơn giản và hiệu quả là hết sức cần thiết và có ý nghĩa lâu dài đối với sự phát triển của trẻ Thực hiện phát triển vốn từ tiếng Anh cho trẻ thông qua hoạt động kể chuyện một cách bài bản, có kế hoạch rõ ràng, cụ thể chắc chắn vốn từ tiếng Anh của

trẻ sẽ tốt hơn

Trang 37

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG MỘT SỐ CÂU CHUYỆN CÓ

CHỨA TỪ TIẾNG ANH ĐƠN GIẢN NHẰM PHÁT TRIỂN

Đảm bảo tính mục đích: Tăng vốn từ tiếng Anh cho trẻ

Đảm bảo phát huy tính tích cực, khả năng tư duy của trẻ

Đẩm bảo những yêu cầu của quá trình kể chuyện cho trẻ nghe

Đảm bảo phù hợp với những đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 3-4 tuổi

Đảm bảo sự phong phú, đa dạng, hấp dẫn

2.2 Cách thức xây dựng câu chuyện

Các câu chuyện được xây dựng dựa trên các tiêu chí:

Lứa tuổi: Trẻ 3 - 4 tuổi Các câu chuyện viết cho lứa tuổi 3 – 4 tuổi vì vậy nội dung câu chuyện phải phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ, các bài học giáo dục trong câu chuyện cũng cần phù hợp với độ tuổi

Chủ đề: Các câu chuyện được xây dựng dựa trên 9 chủ đề trong trường Mầm non Chủ đề động vật, chủ đề thực vật, chủ đề nước và các hiện tượng

tự nhiên, chủ đề giao thông, chủ đề bản thân, chủ đề gia đình, chủ đề nghề nghiệp, chủ đề quê hương đất nước bác Hồ, chủ đề trường Mầm non

Ngày đăng: 20/08/2018, 10:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Âm (2006), Giáo dục mần non, Tập 1, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mần non
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
2. Đào Thanh Âm (2006), Giáo dục mầm non, Tập 2, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mầm non
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
3. Đào Thanh Âm (2006), Giáo dục mầm non, Tập 3, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục mầm non
Tác giả: Đào Thanh Âm
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
4. Báo “Người Lao Động”, số ngày 25/10/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người Lao Động
5. Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
6. Diệp Quang Ban (2004), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2004
7. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng – Ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
Năm: 1981
8. E.I. Tikheeva (1997), Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trước tuổi đi học, tài liệu dịch, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trước tuổi đi học
Tác giả: E.I. Tikheeva
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 1997
9. Nguyễn Xuân Khoa (1997), Phương phát phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương phát phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo
Tác giả: Nguyễn Xuân Khoa
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1997
10. Lưu Thị Lan, Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em từ 1 đến 6 tuổi, Luận án tiến sĩ khoa học Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em từ 1 đến 6 tuổi
11. Lã Thị Bắc Lý (2014), Văn học trẻ em, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học trẻ em
Tác giả: Lã Thị Bắc Lý
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2014
12. Lã Thị Bắc Lý – Lê Thị Ánh Tuyết, Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp cho trẻ mầm non làm quen với tác phẩm văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
13. Đinh Hồng Thái (2006), Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non
Tác giả: Đinh Hồng Thái
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2006
15. Nghuễn Ánh Tuyết, (2005), Tâm lí học lứa tuổi mầm non, NXB Giáo dục 16. Nguyễn Ánh Tuyết, (1987), Giáo dục mẫu giáo trong nhóm bạn bè, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học lứa tuổi mầm non", NXB Giáo dục 16. Nguyễn Ánh Tuyết, (1987"), Giáo dục mẫu giáo trong nhóm bạn bè
Tác giả: Nghuễn Ánh Tuyết, (2005), Tâm lí học lứa tuổi mầm non, NXB Giáo dục 16. Nguyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục 16. Nguyễn Ánh Tuyết
Năm: 1987
17. Nghuyễn Ánh Tuyết (1988), Tâm lý học trẻ em trước tuổi đi học, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em trước tuổi đi học
Tác giả: Nghuyễn Ánh Tuyết
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1988
18. Nguyễn Quang Uần (2003), Tâm lý học đại cương, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uần
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2003
19. Lê Thanh Vân (Chủ biên), Sinh lý học trẻ em, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học trẻ em
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
14. Nguyễn Thị Thảo (2017) Khóa luận Phát triển vốn từ tiếng việt cho trẻ 4 – 5 tuổi dân tộc Dao Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w