Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề và cùng những lí do ở trên chúng tôi quyết định chọn vấn đề “ Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua trò chơi học tập sử dụng phần m
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
HÀ NỘI – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
Người hướng dẫn khoa học
PGS TS NGUYỄN THU HƯƠNG
HÀ NỘI – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường ĐHSP Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục Mầm non đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo
PGS.TS Nguyễn Thu Hương, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em
trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo, cùng tất cả các cháu mẫu giáo trường Mầm non Xuân Hòa đã giúp đỡ em để em có được những tư liệu để hoàn thành tốt khóa luận này
Em xin gửi lời chân thành đến gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ, động viên em trong quá trình học tập và thực hiện khóa luận
Quá trình nghiên cứu đề tài, em không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô giáo và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, có sự hướng
dẫn của cô giáo PGS.TS Nguyễn Thu Hương Những số liệu và kết quả
trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài chưa được công bố trong bất
cứ một công trình khoa học nào
Nếu có phát hiện bất kì sự sai lệch nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
6 Các phương pháp nghiên cứu 5
7.Cấu trúc của đề tài 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lý luận 6
1.1.1 Cơ sở ngôn ngữ 6
1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn 13
1.1.3 Đặc điểm tư duy( nhận thức) của trẻ mẫu giáo lớn 15
1.1.4 Một số vấn đề về trò chơi 16
1.1.5 Phần mềm PowerPoint 2010 22
1.2 Cơ sở thực tiễn 24
1.2.1 Nội dung chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn 24
1.2.2 Nhiệm vụ, nội dung và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn 25
Tiểu kết chương 1 28
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THIẾT KẾ TRÒ CHƠI HỌC TẬP SỬ DỤNG PHẦN MỀM POWERPOINT 2010 NHẰM PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN 29
2.1 Mục đích, đối tượng và địa bàn khảo sát 29
2.1.1 Mục đích khảo sát 29
2.1.2 Đối tượng khảo sát 29
2.1.3 Địa bàn khảo sát 29
Trang 72.2 Nội dung và phương pháp khảo sát 29
2.2.1 Nội dung khảo sát 29
2.2.2 Phương pháp khảo sát 29
2.3 Phân tích kết quả khảo sát thực trạng 30
2.3.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc thiết kế và tổ chức trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 30
2.3.2 Thực trạng phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi 37
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ TRÒ CHƠI HỌC TẬP SỬ DỤNG PHẦN MỀM POWERPOINT 2010 ĐỂ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN VÀ THỬ NGHIỆM SƯ PHẠM 42
3.1 Đề xuất một số trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010 để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn 42
3.1.1 Nguyên tắc thiết kế trò chơi học tập cho trẻ 42
3.1.2 Hệ thống các trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010 45
3.2 Thử nghiệm sư phạm 71
3.2.1 Mục đích thử nghiệm 71
3.2.2 Địa điểm thử nghiệm 71
3.2.3 Nội dung và phương pháp thử nghiệm 71
3.2.5 Giáo án thử nghiệm 71
3.2.6 Kết quả thử nghiệm 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 8Nó còn là phương tiện hình thành và phát triển nhận thức, tình cảm, đạo đức, thẩm mỹ của trẻ về thế giới xung quanh Các nhà khoa học đã nghiên cứu được rằng trẻ em lứa tuổi mầm non là thời kì phát triển mạnh mẽ nhất về ngôn ngữ Khi trẻ biết nói và hiểu lời nói của người lớn sẽ giúp trẻ dễ dàng giao tiếp và tích cực giao tiếp với người lớn hơn nữa
Hoạt động vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo Theo nhà tâm lý học G Piaget trò chơi là một trong những hoạt động trí tuệ, là một nhân tố quan trọng đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ, tạo ra sự thích nghi của trẻ với môi trường Có thể nói, khi trẻ tham gia vào hoạt động vui chơi, trẻ thực sự là một chủ thể hoạt động tích cực (trẻ đi lại, trao đổi, nói năng một cách tự do, trẻ tự giải quyết vấn đề…) Vì thế, hoạt động vui chơi có ảnh hưởng lớn đến các mặt phát triển của trẻ Trò chơi sẽ là một phương tiện giáo dục toàn diện cho trẻ Trong đó, trò chơi học tập là một trò chơi được các giáo
Trang 92
viên mầm non sử dụng khá nhiều trong quá trình dạy học cho trẻ Khi tham gia vào trò chơi học tập trẻ sẽ lĩnh hội được ở cả hai mặt: vui chơi và nhận thức Trẻ sẽ vừa được vui chơi, vừa được lĩnh hội những kiến thức có trong trò chơi mà không cảm thấy bị căng thẳng hay gò bó Chính vì vậy mà trò chơi học tập được sử dụng vừa là phương pháp dạy học vừa là hình thức tổ chức dạy học cho trẻ mẫu giáo với phương châm “học mà chơi, chơi mà học”
Hiện nay ở các trường mầm non, việc sử dụng trò chơi vào hình thức dạy học rất phổ biến Tuy nhiên, thường thì các trò chơi sẽ được phục vụ cho các hoạt động học như hoạt động làm quen môi trường xung quanh, hoạt động làm quen với các biểu tượng toán, hoạt động tạo hình… Còn ở hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ còn rất hạn chế Bên cạnh đó, việc sử dụng trò chơi học tập vẫn phổ biến nhưng không được giáo viên chú trọng vào các hoạt động học Và trò chơi học tập kích thích sự phát triển ngôn ngữ ở trẻ cũng vậy, nó còn khá ít, thường thì công việc phát triển ngôn ngữ chỉ được thực hiện khi cô trao đổi với trẻ về một điều gì đó, hoặc thông qua những cuộc đối thoại giữa trẻ với người lớn Giáo viên sẽ ít khi nào để ý đến việc trẻ phát ra âm thanh của từ và hiểu ý nghĩa của từ đó có đúng hay không Trong khi đối với trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo, công việc phát triển ngôn ngữ là một điều hết sức quan trọng và đáng được quan tâm ở các trường mầm non
Qua nghiên cứu, tìm hiểu các biện pháp, phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo thì chúng tôi thấy việc ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là việc sử dụng phần mềm PowerPoint đã khiến vốn từ của trẻ ngày càng được nâng cao và mở rộng hơn Powerpoint 2010 xuất hiện đã có tính năng vượt trội hơn hẳn so với PowerPoint 2003 và PowerPoint 2007, nó có thể tạo ra những bài giảng vô cùng hấp dẫn, sinh động, lạ mắt với những giao diện, hình ảnh đẹp, lạ mắt Điều này sẽ góp phần kích thích hứng thú học tập, lòng ham hiểu biết và tư duy sáng tạo của trẻ Tuy nhiên việc ứng dụng phần
Trang 103
mềm này vào thiết kế bài giảng điện tử trong tổ chức các hoạt động nói chung
và phát triển ngôn ngữ cho trẻ nói riêng còn chưa thực sự hiệu quả Ở trường mầm non nhiều giáo viên đã ứng dụng phần mềm PowerPoint 2010 trong việc tổ chức các trò chơi học tập cho trẻ nhưng chưa phát huy hết tính năng của phần mềm này Nhiều giáo viên cho rằng: thiết kế trò chơi trên Powerpoint mất thời gian, phức tạp…Như vậy, giờ học sẽ không mang lại hiệu quả cao, trẻ cảm thấy mệt mỏi, tẻ nhạt
Chính vì lí do trên chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “ Phát triển ngôn
ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010”
2 Lịch sử nghiên cứu
Ngôn ngữ cũng chính là vấn đề mà có rất nhiều các nhà khoa học từ các lĩnh vực khác nhau như: Tâm lí học, triết học, xã hội học, ngôn ngữ học, giáo dục học,… đi sâu, tìm tòi, nghiên cứu và đã đạt được nhiều thành tựu to
lớn đáng kể
Ở nước ngoài không thể không kể đến thành tựu của các nhà khoa học nổi tiếng như: L.X.Vugôtxky, V.X Mukhina, F.D Usinxky, R O Shor, O.B.Encônhin, Piegie, M.M.Konxova, M.I.Lixinna, L.I.Bozovich, A.Z Ruxkai,…
Ví dụ:
V.X Mukhina với “Tâm lí học mẫu giáo”
M.M.Konxova với “Dạy nói cho trẻ trước tuổi đi học”
A.N.Xookolop với “Lời nói bên trong và tư duy”
Ở Việt Nam, vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng được đông đảo các
nhà giáo dục quan tâm và đi vào nghiên cứu như: “Tiếng việt và phương pháp
phát triển lời nói cho trẻ” của các tác giả Nguyễn Quang Ninh, Bùi Kim Tuyến,
Lưu Thị Lan, Nguyễn Thanh Hồng Dựa vào đó tác giả xây dựng các phương
pháp nhằm phát triển và hoàn thiện lời nói cho trẻ; “Phương pháp phát triển
Trang 114
ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo cho trẻ dưới 6 tuổi” của tác giả Nguyễn Xuân Khoa
đã đưa ra các phương pháp cụ thể giúp trẻ phát triển ngôn ngữ, vốn từ của mình
Luận án Phó tiến sĩ của Lưu Thị Lan: “Những bước phát triển ngôn
ngữ của trẻ từ 1 - 6 tuổi” trên cơ sở tư liệu ngôn ngữ trẻ em Hà Nội (1996)
Trong cuốn sách “Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo”
(NXB ĐHQG, 2005) của Hoàng Thị Oanh - Phạm Thị Việt - Nguyễn Kim Đức
đã nói lên tầm quan trọng của ngôn ngữ trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ
và nêu sơ lược về nội dung, phương pháp, biện pháp để luyện phát âm, phát triển vốn từ dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ
Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “Phương pháp phát triển
ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo” (NXB ĐHSP, 2004) là giáo trình đầu tiên đề cập
một cách toàn diện, chi tiết, tỉ mỉ và cụ thể có hệ thống các vấn đề khoa học
và thực tiễn về phương pháp phát triển tiếng mẹ đẻ đang được thực hiện trong các lớp nhà trẻ, mẫu giáo ở nước ta bằng phương pháp tiếp cận hoạt động - nhân cách tích hợp Đồng thời ông cũng đưa ra cách sửa lỗi phát âm và một số trò chơi nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
Hay trong Tạp chí GDMN số 01/2009, có bài “Một số biện pháp
phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” của tiến sĩ Bùi Kim Tuyến cũng đề cập
tới việc tạo thói quen nói đúng ngữ pháp cho trẻ thông qua việc giao tiếp với trẻ
Còn nhiều cuốn sách, tạp chí khác cũng đề cập về vấn đề này Tuy nhiên chưa có tác giả nào đi sâu vào việc nghiên cứu phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint
2010 hoặc chỉ dừng lại ở việc phát triển ngôn ngữ thông qua các trò chơi học tập Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề và cùng những lí do ở trên
chúng tôi quyết định chọn vấn đề “ Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
lớn thông qua trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010” làm
đề tài nghiên cứu và tìm hiểu
Trang 125
3 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu các trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010 nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thử nghiệm hiệu quả các trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010 trong hoạt động học ở trường mầm non
5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn bằng trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010
6 Các phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, đọc và tổng hợp các tài liệu lý luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp đàm thoại
- Phương pháp sử dụng phiếu điều tra
- Phương pháp thử nghiệm
- Phương pháp thống kê toán học
7.Cấu trúc của đề tài
Ngoài các phần: mở đầu và kết luận Khóa luận có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 2:Thực trạng việc thiết kế trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010 để phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo lớn
Chương 3: Đề xuất một số trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010 nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn và thử nghiệm sư phạm
Trang 136
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Từ là đơn vị nhỏ nhất, là một âm hay một tổ hợp âm có nghĩa của một ngôn ngữ, có khả năng hoạt động độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu
Từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ, bao gồm hình thức âm thanh ổn định
và hoàn chỉnh về ý nghĩa Hai phần này liên quan mật thiết và hỗ trợ cho nhau
để biểu hiện ý nghĩa của con người Từ không chỉ biểu thị các sự vật hiện tượng đơn lẻ mà biểu thị cả một nhóm sự vật hiện tượng tập hợp lại theo một dấu hiệu nhất định, do đó từ có tính chất khái quát cao
Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp - Từ vựng học Tiếng Việt, Hà Nội 1985: Từ của Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất, có ý nghĩa dùng để tạo câu nói, nó có hình thức của một âm tiết, một “chữ” viết “rời” Qua các định nghĩa trên cho thấy, dù chưa có sự thống nhất nhưng đã có quan điểm chung
về Từ Tiếng Việt ở chỗ: Từ là đơn vị nhỏ nhất có ý nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ
âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo nên câu
1.1.1.2 Vốn từ
Vốn từ của một ngôn ngữ là “tổng số và hệ thống toàn bộ từ và cụm từ
cố định của ngôn ngữ đó” Mỗi một ngôn ngữ phát triển có một khối lượng từ
Trang 147
phong phú có thể lên tới hàng chục vạn từ Vốn từ vựng của một ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ không đồng nhất và có đặc trưng khác nhau Trong vốn từ vựng của bất kỳ ngôn ngữ nào cũng tồn tại những từ mới
và những từ cũ, những từ phổ biến chung và những từ địa phương, những từ chuẩn mực và những từ vay mượn, từ chuyên môn
Ví dụ: Vốn từ của ngôn ngữ Tiếng Việt có nhiều từ vay mượn từ tiếng Hán hoặc tiếng Pháp (ghi - đông, gác - ba - ga )
Với mỗi cá nhân, vốn từ không tỷ lệ thuận với vốn từ trong ngôn ngữ chung của cả cộng đồng mà nó phụ thuộc vào sự phát triển trí tuệ, nhận thức, văn hoá của mỗi cá nhân Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học thì vốn từ của những người có trình độ văn hoá cao là khoảng 6000 - 9000 từ, của một nhà thiên tài là xấp xỉ 20.000 từ
Dựa vào tần số sử dụng của các từ trong đời sống xã hội, người ta phân chia vốn từ thành hai loại: vốn từ tích cực và vốn từ thụ động Vốn từ tích cực
là những từ được con người nắm vững, có tần số sử dụng cao trong cuộc sống hằng ngày Vốn từ thụ động: gồm những từ ít hoặc không được sử dụng Đó
là những từ không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại (bao cấp, tem phiếu ) hoặc mang nghĩa riêng, chưa được sử dụng rộng rãi
Đối với trẻ mầm non, vốn từ tích cực là những từ trẻ hiểu được và biết vận dụng trong các tình huống giao tiếp Còn vốn từ thụ động là những từ trẻ chưa hiểu ý nghĩa hoặc có hiểu nhưng không biết vận dụng trong giao tiếp (không nói ra được) Như vậy nghiên cứu phát triển vốn từ cho trẻ không chỉ
là mở rộng vốn từ, làm giàu vốn từ về mặt số lượng mà phải tích cực hoá vốn
từ trong giao tiếp
1.1.1.3 Từ loại
Từ loại là kết quả nghiên cứu vốn từ trên bình diện ngữ pháp Đó là những lớp từ có chung ngữ pháp Những đặc trưng của lớp từ đó được sử dụng là tiêu chuẩn tập hợp và phân loại
Trang 158
Theo tác giả Lê Biên trong cuốn “Từ loại Tiếng Việt hiện đại”, căn cứ vào chức năng cú pháp của từ, ông đã chia vốn từ Tiếng Việt thành hai loại lớn, đó là thực từ và hư từ:
1 Thực từ: gồm các từ loại danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ
2 Hư từ: gồm các loại từ định từ, phó từ, kết từ, tình thái từ
=>Tóm lại: Từ là đơn vị cơ bản để xây dựng câu, không có từ thì không
có ngôn ngữ Trẻ mẫu giáo được tiếp xúc thường xuyên với ngôn ngữ Tiếng Việt sẽ có cơ hội được hình thành khái niệm về từ, hiểu được ý nghĩa của từ và tập sử dụng vốn từ Tiếng Việt trong các tình huống giao tiếp một cách chủ động, tích cực, góp phần vào quá trình củng cố và phát triển tiếng Việt
1.1.1.4 Đặc điểm phát triển ngôn ngữ của trẻ 5-6 tuổi
a Đặc điểm ngữ âm
Ở thời kỳ này trẻ hoàn hiện dần về mặt ngữ âm, các phụ âm đầu, âm cuối, thanh đệm, thanh điệu dần dần được định vị Trẻ phát âm đúng hầu hết các âm vị của tiếng mẹ đẻ, kể cả các âm, vần khó (ươu, uông, iêu…)
Trẻ biết điều chỉnh nhịp điệu, cường độ của giọng nói khi giao tiếp để phù hợp với từng hoàn cảnh, lời nói của trẻ đã rõ ràng, dứt khoát hơn Tuy vậy,
ở tuổi này trẻ vẫn còn mắc một số lỗi về phát âm, còn lẫn khi phát âm một vài phụ âm và nguyên âm( l-n, ch-tr, x-s,… uô, iê, ươ ) và thanh điệu ( ?/~)
Trẻ 3-4 tuổi hay nói chậm và kéo dài giọng, còn ậm ừ, ê, a không liên tục, không mạch lạc
Trẻ 4-5 tuổi ít ậm ừ, ê, a hơn, song trẻ vẫn phát âm sai thanh ngã, âm đệm và âm cuối
Trẻ 5-6 tuổi phạm vi tiếp xúc rộng, vốn từ và sự hiểu biết của trẻ phong phú hơn nên trẻ phát âm đúng hơn, trẻ phát âm được những âm khó như: loanh quanh, nghênh ngang, ngoằn ngoèo…
Đến cuối 6 tuổi về cơ bản trẻ phát âm đúng, trừ một số trường hợp do khuyết tật bẩm sinh của cơ quan phát âm, hoặc do ảnh hưởng của môi trường
Trang 169
sống (do những người xung quanh trẻ phát âm sai dẫn đến trẻ bắt chước và phát âm sai theo.)
b Đặc điểm phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn
Trẻ mẫu giáo lớn đã trong giai đoạn trưởng thành vì thế mà trẻ có nhu cầu rất lớn về nhận thức, trẻ khát khao được tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh mình Các nhà nghiên cứu giáo dục đều khẳng định rằng phát triển vốn
từ là nền tảng quan trọng để phát triển ngôn ngữ, có ý nghĩa quan trọng đến mọi mặt sau này của trẻ
* Về số lượng
So với nhà trẻ, trẻ mẫu giáo có số lượng từ nhiều hơn hẳn Về số lượng
từ của trẻ mẫu giáo, các nhà ngôn ngữ học và tâm lý học có đưa ra những số liệu khác nhau:
đó quan trọng nhất là các tác động của môi trường như: sự tiếp xúc ngôn ngữ thường xuyên của những người xung quanh, trình độ của bố, mẹ
* Về từ loại
Theo Xtecnơ, lớp từ loại xuất hiện nhiều và trước hết trong vốn từ của trẻ là danh từ, động từ và sau đó mới đến các loại từ khác
Trang 1710
Theo Lưu Thị Lan ở ngôn ngữ của trẻ em mẫu giáo tỷ lệ từ loại như tính từ, trạng từ, quan hệ từ được tăng lên, nhưng động từ lại giảm đi so với trẻ tuổi nhà trẻ
Nếu 3 tuổi: Danh từ chiếm 40,2%
Về danh từ: nội dung ý nghĩa của danh từ được mở rộng, phong phú hơn ở những từ có ý nghĩa rộng
VD: từ “quả” có khoảng 15 loại quả khác nhau (cũng như từ “ cá”,
“cây”, “phương tiện giao thông”…)
Những từ chỉ nghề nghiệp của người lớn tăng, ở trẻ còn có những danh
từ mang tính văn học
VD: áng mây, đóa hoa…
Trẻ biết sử dụng một số từ chỉ những khái niệm trừu tượng
VD: kiến trúc, tài năng, sáng tạo… mặc dù trẻ chưa hiểu hết ý nghĩa của từ đó
Về động từ:
Phần lớn là những động từ gần gũi, tiếp tục phát triển thêm những nhóm từ mới như: nhảy nhót, rơi lộp độp, leng keng… những động từ chỉ sắc
Trang 1811
thái khác nhau như: chạy vèo vèo, chạy lung tung, chạy loạn xạ… xuất hiện thêm những động từ có nghĩa trừu tượng: giáo dục, khánh thành… Trẻ mẫu giáo lớn đã phân biệt được những từ ngữ có gần nghĩa nhau, ví dụ: “băm”,
“chặt” Cũng như một số từ có nhiều nghĩa khác nhau như: đánh đổ, đánh má hồng, đánh bóng
Về tính từ: Phát triển về số lượng cũng như chất lượng tính từ Trẻ sử dụng nhiều từ có tính gợi cảm: chua chua, chua loét, ngọt lịm, to đùng, tròn xoe, tròn vo, đỏ lòm… Trẻ sử dụng chính xác các từ ngữ chỉ tính chất không gian như: dài - ngắn, rộng - hẹp, cao - thấp… các từ chỉ tốc độ như: nhanh - chậm , các từ chỉ màu sắc: vàng, đỏ, xanh, hồng, tím…
Từ tượng hình, tượng thanh: bập bùng, rì rào, lộp độp…
Trẻ biết dùng những từ trái nghĩa: dày - mỏng, đẹp - xấu, ngoan - hư, khỏe - yếu…
Về trạng từ: trẻ được mở rộng, trẻ sử dụng đúng các trạng từ: ngày xưa, hồi trước, lúc nãy, hôm qua, ngày mai…
Về quan hệ từ: Trẻ biết nhiều từ đơn hơn từ ghép, trẻ hiểu nhiều từ láy
và biết sử dụng chúng
Vậy ta thấy, trẻ mẫu giáo và đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn tiếp thu được hết những biểu thị, tên gọi của sự vật, hiện tượng, đặc điểm, tính chất, trạng thái, hành động của các sự vật, hiện tượng gần gũi với trẻ Còn những từ biểu thị những khái niệm trừu tượng thì trẻ không có hoặc trẻ có sử dụng nhưng không hiểu ý nghĩa của chúng
Vốn từ của trẻ mang tính chất cá nhân rõ rệt, cùng một lứa tuổi nhưng
có trẻ vốn từ rất nghèo nàn, có trẻ vốn từ rất phong phú Điều đó phụ thuộc vào sự tiếp xúc ngôn ngữ thường xuyên của những người xung quanh, đặc biệt là trình độ của bố mẹ và phụ thuộc vào những yếu tố khác
Trang 1912
c Đặc điểm ngữ pháp
Qua điều tra vốn ngôn ngữ của trẻ các nhà khoa học đã rút ra nhận xét:
Tỷ lệ câu nói ngữ pháp, câu mở rộng thành phần, câu ghép được tăng dần theo độ tuổi Các câu có cấu trúc đơn giản giảm dần
Trẻ 13-18 tháng câu 1 từ chiếm 50%, câu cụm từ chiếm 46,21%
Trẻ 19-21 tháng câu cụm từ chiếm 42,21%, câu C-V chiếm 24,29% Trẻ 25-30 tháng câu C-V chiếm 29,42%, câu C-V-B chiếm 19,57% Trẻ 31-36 tháng câu C-V chiếm 19,57%, câu C-V-B chiếm 22,84% Câu ghép đẳng lập chiếm 25,57%
Trẻ đã có những tiến bộ lớn trong việc tiếp nhận và sử dụng các loại câu trong hệ thống câu tiếng Việt, xong trẻ vẫn còn mắc một số lỗi khi cấu trúc câu như: từ trong câu sắp xếp sai trật tự, không rõ ràng hay thiếu từ trong câu, diễn đạt thiếu rõ ràng (VD: Trẻ nói: “Ông bà kẹo”; câu cần nói: “ Ông bà đưa kẹo cho con”)
Bước sang giai đoạn 4-6 tuổi thì trẻ rất ít sử dụng câu 1 từ mà thường dùng các loại câu: câu cụm từ, câu đơn đầy đủ thành phần (C-V), câu đơn mở rộng thành phần, câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ
Xét về loại hình câu thì số lượng không tăng nhưng thành phần trong từng câu đều có sự mở rộng, phát triển
Nếu trẻ 3 tuổi nói câu đơn C-V (là một từ) VD: Áo đẹp, Hoa thơm, Kẹo ngọt… Thì trẻ 4-6 tuổi đã nói câu có cụm từ làm chủ ngữ hoặc làm vị ngữ ( Ví dụ: Bông hoa này rất thơm, Cái áo này rất đẹp…)
Thành phần trạng ngữ, bổ ngữ cũng được mở rộng (Ví dụ: Hôm nay ở nhà, con được mẹ cho đi chợ mua quần áo với mũ)
Các loại câu phức cũng đươc mở rộng Trẻ biết nói các câu hoàn chỉnh
để kể lại nội dung câu chuyện hoặc diễn tả sự hiểu biết, diễn tả điều mong muốn
Trang 20VD: Mẹ con đánh con vì con trêu em Hoa
Trẻ đã có bước tiến khá xa trong việc sử dụng các loại câu so với tuổi nhà trẻ, nhưng trẻ mẫu giáo vẫn còn hạn chế: Từ dùng trong câu nhiều khi chưa chính xác, khi thừa, khi thiếu, vị trí sắp xếp các từ trong câu cũng chưa đúng nên câu dài mà nghĩa không rõ ràng
d Đặc điểm ngôn ngữ mạch lạc
Ở tuổi mẫu giáo lớn, trẻ tích cực tham gia trò chuyện với người lớn, với bạn hơn Trẻ có thể đàm thoại về những gì trẻ biết hoặc đã được nghe, đọc từ trước Trẻ có thể tranh luận, đưa ra ý kiến của mình
Tư duy của trẻ phát triển hơn, trẻ có thể nhận biết những dấu hiệu, đặc điểm, đặc trưng, có thể đưa ra những phân tích đầy đủ về sự vật, hiện tượng Bằng ngôn ngữ, trẻ có thể diễn đạt rõ ràng, mạch lạc ý nghĩ, sự hiểu biết của mình
Trẻ biết xây dựng câu chuyện tương đối liên tục, rõ ràng, phong phú theo đề tài cho sẵn hoặc kể theo tranh, đồ chơi, đồ vật Nhưng trẻ vẫn cần có câu mẫu của giáo viên
1.1.2 Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo lớn
1.1.2.1 Đặc điểm tâm lý
Đặc điểm phát triển ngôn ngữ: Đến tuổi Mẫu giáo lớn hầu hết trẻ đã biết sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thục trong sinh hoạt hàng ngày Ngôn ngữ trở thành phương tiện chủ yếu để trẻ giao tiếp với những người xung quanh và là cơ sở để cải tổ các quá trình tâm lí, giúp cho đời sống tinh thần của trẻ có một chất lượng mới phong phú, sâu sắc hơn và hòa nhập với
xã hội tốt hơn, là phương tiện làm cho tư duy của trẻ nâng lên một trình độ mới so với độ tuổi trước
Trang 2114
Đặc điểm phát triển về trí nhớ: Trí nhớ bắt đầu có chủ định và có tính lôgic bắt đầu phát triển.Những gì trẻ hiểu, trẻ thích, có ý nghĩa, có ấn tượng mạnh mẽ với trẻ thường được ghi nhớ bền vững hơn Tuy vậy, trí nhớ máy móc vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống của trẻ
Đặc điểm phát triển về tư duy: Tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh và xuất hiện một kiểu tư duy mới- tư duy trực quan sơ đồ
Đặc điểm phát triển về trí tưởng tượng: Trẻ có trí tưởng tượng rất phong phú.Tưởng tượng có chủ định được hình thành
Sự tự ý thức (ý thức bản ngã): Trẻ đã hiểu được mình là người như thế nào? Có những phẩm chất gì? Những người xung quanh đối xử với mình ra sao? Tại sao lại thế?
Mặt khác trẻ có thể đánh giá được sự thành công, thất bại của mình, đánh giá được ưu điểm, nhược điểm của mình đó là cơ sở để quá trình tâm lí chuyển dần sang quá trình có chủ định, qua đó phẩm chất ý chí được hình thành và nhân cách của trẻ phát triển mạnh bởi nó có khả năng điều chỉnh của bản thân trẻ
Tiến vào bước ngoặt 6 tuổi Tuổi mẫu giáo lớn, là thời kỳ trẻ đang tiến vào bước ngoặt 6 tuổi với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo Hoạt động vui chơi vẫn giữ vai trò chủ đạo trong suốt thời kì mẫu giáo, nay những yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh để tiến tới giữ vị trí chủ đạo ở giai đoạn sau bước ngoặt 6 tuổi Do đó, bước ngoặt 6 tuổi là sự kiện quan trọng khiến các nhà giáo dục cần phải quan tâm, một mặt là để giúp trẻ hoàn thiện những thành tựu phát triển tâm lý trong suốt thời kỳ mẫu giáo, mặt khác là tích cực chuẩn bị cho trẻ đủ điều kiện để làm quen dần với hoạt động học tập
và cuộc sống ở trường phổ thông
1.1.2.2 Đặc điểm sinh lý
Đặc điểm thời kì này là biến đổi về chất lượng hơn là số lượng.Trẻ chậm lớn hơn so với thời kì bú mẹ: chiều cao trung bình tăng từ 4-6 cm đạt
Trang 22Hệ thần kinh tương đối phát triển, hệ thần kinh trung ương và ngoại biên đã biến hóa, chức năng phân tích tổng hợp của võ não đã hoàn thiện, số lượng các phản xạ có điều kiện ngày càng nhiều, trí tuệ phát triển nhanh, do
đó trẻ có thể nói những câu dài, có biểu hiện ham học, có ấn tượng sâu sắc về những người xung quanh
Về hệ tuần hoàn, thành phần máu của trẻ 5 - 6 tuổi cũng tăng lên và biến đổi về chất: huyết sắc tố: 80 - 90%, hồng cầu: 4,5 - 5 triệu đơn vị, bạch cầu: 7 - 10 nghìn, tiểu cầu: 200 - 300 nghìn Ngoài ra tần số bóp tim cũng tăng lên từ 80 - 110 lần trong phút
Về hệ hô hấp, nhịp thở của trẻ giảm dần, cơ quan phát âm của trẻ cũng phát triển và hoàn thiện làm cho ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển
Cuối tuổi Mẫu giáo, trí tuệ, thể chất và tính khéo léo phát triển nhanh hơn, lúc này trẻ đã biết chơi với nhau, đã học thuộc được những bài thơ, bài hát ngắn Vì vậy tác động tốt hay xấu của môi trường xung quanh dễ tác động đến trẻ
1.1.3 Đặc điểm tư duy (nhận thức) của trẻ mẫu giáo lớn
Trẻ 5 - 6 tuổi, các hiện tượng tâm lý như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng
về cơ bản là sự nối tiếp sự phát triển ở lứa tuổi 4- 5 nhưng chất lượng mới hơn thể hiện ở:
Mức độ phong phú của các kiểu loại
Mức độ chủ định các quá trình tâm lý rõ ràng hơn, có ý thức hơn
Trang 2316
Tính mục đích hình thành và phát triển ở mức độ cao hơn
Độ nhạy cảm của các giác quan được tinh nhạy hơn
Khả năng kiềm chế các phản ứng tâm lý được phát triển
Ở đây chúng ta chỉ đề cập tới quá trình phát triển tâm lý phát triển mạnh mẽ và đặc trưng nhất đó là tư duy
Sự phát triển tư duy ở độ tuổi này là mạnh mẽ về kiểu loại, các thao tác
và thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng, thông tin giữa mới và cũ, gần và xa…
* Đặc tính chung của sự phát triển tư duy:
Trẻ đã biết phân tích tổng hợp không chỉ dừng lại ở đồ vật, hình ảnh mà ngay cả từ ngữ
Tư duy của trẻ dần dần mất đi tính duy kỷ, tiến dần đến khách quan, hiện thực hơn
Dần dần trẻ phân biệt được thực và hư
Đã có tư duy trừu tượng với các con số, không gian, thời gian, quan hệ
1.1.4 Một số vấn đề về trò chơi
1.1.4.1 Khái niệm trò chơi
Chơi là một dạng hoạt động độc lập, tự do và tự nguyện của trẻ mẫu giáo Chơi không nhằm tạo ra sản phẩm mà chỉ để thỏa mãn nhu cầu được
Trang 2417
chơi của trẻ Nội dung chơi luôn phản ánh hiện thực cuộc sống xung quanh và trong khi chơi bằng ngôn ngữ của mình trẻ cùng nhau trao đổi, thỏa thuận làm chính xác ý định và vạch ra nội dung
Đã có nhiều khái niệm về từ “chơi”, trong tiếng anh có 59 định nghĩa
về chơi, chơi được gọi là “play” có nghĩa là vui đùa, giải trí
Theo tác giả Văn Tân trong cuốn Từ điển tiếng Việt thì chơi có nghĩa là
hoạt động bằng chân, tay hoặc bằng trí tuệ nhằm mục đích thấy cái vui, thỏa mãn ý thích
Trong tác phẩm “Về phạm trù chơi trong giáo dục học mầm non” của Đặng Thành Hưng thì “Chơi và hoạt động chơi là phạm trù rộng lớn, cần
được giải thích trên nguyên tắc tiến hóa, nó là một dạng hoạt động của sinh vật Ở người chơi là một hoạt động ngày càng được xã hội hóa.”
Tuy có những quan niệm khác nhau nhưng họ đều có sự thống nhất xem chơi như một hoạt động tự nguyện, bày ra để giải trí và hoạt động chơi là một dạng hoạt động mang tính xã hội của con người
Vui chơi là một hoạt động cần thiết ở mọi lứa tuổi mà trò chơi là hình thức bày ra để vui chơi giải trí Tác giả Lê Vũ thì cho rằng trò chơi là một hoạt động vui chơi chứa đựng một chủ đề, một nội dung nhất định, có những quy định bắt buộc người tham gia phải tuân theo
Từ những cách hiểu trên chúng tôi thống nhất với quan điểm cho rằng: Trò chơi là hình thức vật chất của chơi, hoạt động chơi mang tính chất xã hội Trò chơi chính là một kiểu phổ biến của chơi Nó chính là chơi có quy luật, có quy định rõ ràng, kết quả và yêu vầu của hoạt động có tính cạnh tranh thách thức đối với người tham gia
1.1.4.2 Đặc điểm trò chơi
Chơi là một hoạt động Ngoài những đặc điểm giống với các hoạt động khác như phương hướng, có mục đích, có sự tham gia tích cực của cả cá nhân thì nó còn có những đặc điểm chuyên biệt sau:
Trang 2518
Động cơ của trò chơi không nằm ở kết quả mà nằm ngay trong bản thân trò chơi Trong trò chơi, trẻ không bị ảnh hưởng bởi nhu cầu thực tiễn mà xuất phát từ nhu cầu, hứng thú của trẻ
Trò chơi là hoạt động tự lập của trẻ và mang tính tự do, tự nguyện Tính tự
do, tự nguyện ở các trò chơi khác nhau sẽ có những biểu hiện khác nhau
Trong trò chơi trẻ em sẽ có những sáng kiến và đó chính là sự hiện diện của mầm sống sáng tạo
Trò chơi luôn mang lại sự thỏa mãn và niềm vui cho người chơi
1.1.4.3 Phân loại trò chơi
Có rất nhiều cách để phân loại trò chơi cho trẻ em trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng
a Phân loại trò chơi theo chức năng giáo dục và phát triển gồm 3 nhóm: Nhóm 1: Gồm các trò chơi nhằm phát triển rèn luyện các giác quan cho trẻ Nhóm 2: Gồm các trò chơi vận động, nhằm phát triển và tập luyện vận động cho trẻ
Nhóm 3: Gồm các trò chơi học tập nhằm phát triển trí tuệ cho trẻ
b Phân loại trò chơi theo chức năng, bản năng gồm 2 nhóm:
Nhóm 1: Gồm các trò chơi thực hành: Trò chơi trí tuệ - Trò chơi vận động
Nhóm 2: Gồm các trò chơi theo bản năng: Trò chơi săn bắn - trò chơi chăm sóc - trò chơi gia đình và xã hội - trò chơi bắt chước
c Phân loại trò chơi theo nguồn gốc và cấu trúc trò chơi gồm 3 nhóm: Nhóm 1: Gồm các trò chơi luyện tập dành cho trẻ dưới 2 tuổi
Nhóm 2: Gồm các trò chơi kí hiệu dành cho trẻ từ 2 đến 4 tuổi
Nhóm 3: Gồm các trò chơi có quy tắc (có luật) dành cho trẻ từ 4, 7, 12 tuổi chủ yếu là 7 đến 12 tuổi
Ở Việt Nam, trong chương trình GDMN hiện nay, các trò chơi phân chia thành 2 nhóm
Trang 26a Khái niệm trò chơi học tập
Trò chơi, bản thân nó là một hoạt động trực tiếp với tính hấp dẫn tự thân của mình có một tiềm năng lớn để trở thành một phương tiện dạy học hiệu quả, kích thích sự hứng thú nhận thức và niềm say mê học tập của người học Học tập thông qua trò chơi sẽ giúp trẻ ghi nhớ dễ dàng và bền vững hơn
Trò chơi học tập khác với những trò chơi khác là ở chỗ, nhiệm vụ nhận thức và luật chơi trong trò chơi đòi hỏi người chơi phải huy động trí óc làm việc thực sự nhưng chúng lại được thực hiện dưới hình thức chơi vui vẻ, thú
vị (chơi là phương tiện, học là mục đích) Học trong quá trình chơi là là quá trình lĩnh hội tri thức nhẹ nhàng, tự nhiên không gò bó, khơi dậy hứng thú tự nguyện và giảm thiểu sự căng thẳng cho trẻ
Trò chơi học tập là loại trò chơi có luật, thường do người lớn nghĩ ra cho trẻ chơi Đó là loại trò chơi đòi hỏi trẻ phải thực hiện một quá trình hoạt động trí tuệ để giải quyết nhiệm vụ học tập được đặt ra như nhiệm vụ chơi,
qua đó mà trí tuệ của trẻ được phát triển
b Đặc điểm trò chơi học tập
Trò chơi học tập là loại trò chơi mà nhiệm vụ trí lực được thực hiện dưới hình thức nhiệm vụ vui chơi thoải mái Nội dung học tập được lồng ghép vào nội dung chơi, động cơ học tập hòa quyện vào động cơ chơi Việc thực hiện các thao tác chơi, hành động chơi chính là việc thực hiện các nhiệm vụ trí dục Như vậy giữa chơi và học có quan hệ chặt chẽ với nhau Do vậy “học
mà chơi, chơi mà học” được xem là phương thức học tập độc đáo của trẻ lứa tuổi mầm non
Trang 27có nghĩa là đứa trẻ tham gia vào trò chơi rất tích cực Tính tích cực của trẻ bộc
lộ đã tạo cho cô giáo có cơ hội được hình thành mối quan hệ qua lại giữa các trẻ với nhau, trẻ biết hành động theo thứ tự, theo lượt phù hợp với trò chơi, biết tính đến mong muốn của người khác và biết giúp đỡ bạn bè lúc khó khăn
Luật chơi: là những quy định mà nhất thiết trẻ phải tuân thủ trong khi chơi, nếu phá vỡ chúng thì trò chơi cũng bị phá vỡ
Trong trò chơi học tập hành vi chơi và động cơ chơi có sự thống nhất chặt chẽ với nhau và bao giờ cũng có kết quả nhất định, trẻ nhận được kết quả hành động
Trong trò chơi học tập, luôn tồn tại mối quan hệ qua lại giữa cô và trẻ
và giữa trẻ với nhau.Quan hệ chơi do nhiệm vụ chơi, hành động chơi, luật chơi quy định
Tính tự lập và sáng kiến của trẻ được thể hiện qua quá trình trẻ thực hiện các thao tác chơi, hành động chơi, tự lựa chọn các phương thức hành động trong các tình huống chơi, trong việc vận dụng linh hoạt, sáng tạo những hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo của mình để giải quyết nhiệm vụ nhận thức hoặc phán đoán được tình huống xảy ra nhằm thay đổi chiến thuật chơi của mình
Trò chơi học tập phong phú và đa dạng về thể loại có nhiều cách phân loại và điều này tùy thuộc vào quan điểm của các nhà nghiên cứu Trên thực
Trang 2821
tế có nhiều cách phân loại theo các tiêu chí khác nhau như theo nội dung chơi :trò chơi giáo dục nhận thức, trò chơi làm quen với thiên nhiên,trò chơi phát triển ngôn ngữ, hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng.Theo chủ đề chơi hoặc không có chủ đề, trò chơi đi du lịch, trò chơi theo nhiệm vụ, trò chơi đề nghị, trò chơi đàm thoại, trò chơi giải đáp Theo tính chất sử dụng đồ chơi và tài liệu học tập trò chơi với đồ vật, trò chơi bằng lời
* Ý nghĩa:
Trò chơi học tập có ý nghĩa quan trọng đối với trẻ Nó vừa là con đường vừa là phương tiện góp phần phát riển trí tuệ của trẻ mẫu giáo Trong quá trình chơi trẻ phải huy động và sử dụng các giác quan, ngôn ngữ của mình để thực hiện các thao tác chơi, nhiệm vụ chơi Nhờ vậy các giác quan của trẻ cũng trở nên nhanh nhạy, ngôn ngữ trở nên mạch lạc và tư duy phát triển hơn Mặt khác, trò chơi học tập sẽ giúp trẻ củng cố, khắc sâu các biểu tượng các tri thức, khái niệm một cách có hệ thống
Các trò chơi học tập sẽ giúp trẻ nhìn nhận, phân tích, so sánh, khái quát hóa các tri thức đã được lĩnh hội trước đó Trò chơi học tập còn giúp trẻ rèn luyện và phát triển trí nhớ Các biểu tượng tri thức được lồng vào nội dung của trò chơi sẽ giúp trẻ có ấn tượng sâu sắc hơn
Trò chơi học tập giúp trẻ phát huy tính tự giác tích cực, chủ động của trẻ Khi hứng thú trẻ đã được kích thích thì trẻ sẽ hào hứng chủ động với nhiệm vụ học tập là cơ sở giúp trẻ dễ dàng ghi nhớ các kiến thức
Tóm lại, trò chơi học tập ảnh hưởng sâu sắc tới trẻ Trẻ hứng thú với với hoạt động, trẻ tham gia hoạt động một cách tích cực Trò chơi với chúng
là học tập, trò chơi với chúng là lao động, cũng có khi trò chơi với chúng là một hình thức giáo dục nghiêm túc
c Cách tiến hành trò chơi học tập
- Trò chơi học tập được thực hiện theo quy trình 3 bước sau:
Trang 2922
Bước 1: Giới thiệu tên trò chơi
+ Giới thiệu trò chơi mới
+ Hỏi lại trò chơi cũ
- Nội dung, hành động và nêu ra luật chơi
- Xác định số lượng tham gia vào trò chơi
- Xác định vị trí của cô giáo và các trẻ khác trong trò chơi
- Cô kịp thời khen ngợi, động viên trẻ
- Nếu trẻ chơi sai luật thì chơi xong một lượt, cô gợi ý cho các trẻ khác nhận xét, trên cơ sở đó cô giúp trẻ nhớ lại luật chơi để thực hiện cho đúng
Bước 3: Nhận xét
- Định lượng: kết quả nhiệm vụ nhận thức của trẻ về số lượng cụ thể
- Định tính: Trẻ có thực hiện đúng luật chơi, đoàn kết, tương thân
tương ái không?
1.1.5 Phần mềm PowerPoint 2010
1.1.5.1 Giới thiệu khái quát về phần mềm PowerPoint
PowerPoint là một phần mềm chuyên dụng của Microsoft Office cho phép người dùng thiết kế các trang dữ liệu (Data Slide) minh họa trên màn hình MVT với mục đích là trình diễn, báo cáo PowerPoint có nhiều chức năng như: cho phép đưa lên các trang màn hình có những dữ liệu khác nhau
Trang 3023
bao gồm hình ảnh, hoạt hình, âm thanh, các biểu đồ…Mỗi vùng dữ liệu được đặt trong một khung riêng biết trở thành một đối tượng độc lập, sử dụng thanh công cụ với những chức năng tự động hóa, chức năng liên kết với các hình ảnh, đoạn phim… để thiết lập các đặc tính cho mỗi khung dữ liệu bao gồm: thứ tự xuất hiện trên màn hình, hình thức xuất hiện, âm thanh, liên kết… Ứng dụng các kỹ thuật này để thiết kế các bài trình diễn, thuyết minh khoa học,… rất trực quan, sinh động, hấp dẫn và thu hút sự chú ý của người xem vào các vấn đề được trình bày Đây là một phương tiện tốt để truyền đạt thông tin, là một công cụ nghe nhìn, huy động được các giác quan, tạo hứng thú cho người học khi tiếp thu kiến thức, vì vậy trong giảng dạy nó được sử dụng làm một phương tiện dạy học hết sức thuận tiện, khi trình chiếu chỉ cần nhấp chuột, để lần lượt đưa ra màn hình những nội dung cần giới thiệu giúp cho giáo viên hoàn toàn chủ động trong quá trình dạy học Vì vậy muốn sử dụng PowerPoint để dạy học có hiệu quả giáo viên không những có kiến thức về phần mềm PowerPoint mà cần phải có ý thức sư phạm, kiến thức về lí luận dạy học và các phương pháp dạy học tích cực, kế đó là sự linh hoạt sáng tạo trong thiết kế các trang trình chiếu thông qua việc xây dựng nội dung bài giảng trên các slide và tạo ra các hiệu ứng thích hợp với nội dung bài dạy
1.1.5.2 Ưu thế của phần mềm PowerPoint 2010
PowerPoint 2010 là một phần của bộ Microsoft Office 2010 PowerPoint giúp chúng ta tạo nên các bài giảng sinh động và lôi cuốn Cũng giống như các chương trình khác của bộ Office 2010, giao diện PowerPoint
2010 được phát triển lên từ phiên bản 2007 và bổ sung nhiều tính năng mới với nhiều ưu điểm vượt trội so với PowerPoint 2003 và PowerPoint 2007 tạo nên những bài giảng sinh động, hấp dẫn một cách nhanh chóng, thuận lợi cho người sử dụng Đây là công cụ phần mềm thiết kế bài giảng giúp giáo viên có thể xây dựng được các bài giảng trên máy tính một cách hiệu quả, PowerPoint
Trang 31Các hiệu ứng phong phú hơn
Nhiều hiệu ứng chuyển Slide mới
Hỗ trợ chụp màn hình và chèn vào Slide
Nhúng, hiệu chỉnh và xem video trong bài thuyết trình
Chuyển bài thuyết trình sang dạng video
Phát âm rõ các tiếng trong tiếng Việt
Bày tỏ nhu cầu, tình cảm và hiểu biết của bản thân bằng các loại câu khác nhau
Sử dụng đúng từ ngữ và câu trong giao tiếp hàng ngày Trả lời và đặt câu hỏi
Đọc thơ, ca dao, đồng dao và kể chuyện
Trang 3225
Lễ phép, chủ động và tự tin trong giao tiếp
1.2.1.3 Làm quen với việc đọc, viết
Làm quen với cách sử dụng sách, bút
Làm quen với một số kí hiệu thông thường trong cuộc sống
Làm quen với chữ viết, với việc đọc sách
1.2.2 Nhiệm vụ, nội dung và phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn
1.2.2.1 Nhiệm vụ phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn
Để đạt được mục tiêu phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
Giáo dục chuẩn mực ngữ âm tiếng Việt
Phát triển vốn từ cho trẻ
Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp
Phát triển lời nói mạch lạc
Chuẩn bị cho trẻ đọc, viết ở trường phổ thông
Phát triển lời nói nghệ thuật thông qua việc cho trẻ tiếp xúc với thơ, truyện Dạy trẻ giao tiếp ngôn ngữ một cách có văn hóa
1.2.2.2 Nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn
a Luyện cho trẻ phát âm đúng, rõ ràng, biểu cảm âm thanh tiếng mẹ đẻ
Nghĩa là dạy trẻ biết phát âm chính xác những thành phần của âm tiết (thanh điệu, phụ âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối), các đơn vị được tách bạch rõ ràng Đồng thời dạy trẻ biết cách điều chỉnh âm lượng (không nói quá nhanh hoặc quá chậm, quá to hoặc quá nhỏ), biết thể hiện đúng sắc thái, ngữ điệu, có tác phong văn hóa trong quá trình giao tiếp
b Làm giàu, củng cố, tích cực hóa vốn từ của trẻ
Lời nói của trẻ được phát triển qua quá trình giao tiếp với mọi người và qua quá trình tiếp xúc với môi trường thiên nhiên Muốn mở rộng vốn từ cho
Trang 3326
trẻ trước hết phải tổ chức cho trẻ làm quen với môi trường xung quanh để mở rộng hiểu biết Sau đó giúp trẻ hiểu được nghĩa của từ, từ đó tích cực hóa vốn
từ cho trẻ
c Dạy trẻ nói đúng các cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt
Tức là dạy trẻ nói đúng quy luật ngữ pháp mẹ đẻ: Câu đơn, câu ghép… trong các tình huống giao tiếp khác nhau Bên cạnh đó sửa các câu sai, câu què, câu cụt, câu sai logic ngữ nghĩa…Đồng thời dạy trẻ nói đúng kết hợp hành vi biểu cảm phù hợp
d Dạy trẻ nói mạch lac
Ngôn ngữ mạch lạc là sản phẩm cuối cùng mà trẻ đạt được, đây là hình thức ngôn ngữ khó nhất, phức tạp nhất đối với trẻ Dạy trẻ nói mạch lạc thông qua hai hình thức ngôn ngữ, đó là hình thức độc thoại và hình thức đối thoại
Đối với hình thức đối thoại: Cần dạy trẻ biết nghe, hiểu lời nói đối thoại Biết nói chuyện, biết trả lời câu hỏi, đặt ra câu hỏi trong quá trình nói chuyện và biết điều khiển hành vi có văn hóa trong đối thoại
Đối với hình thức độc thoại: Cần dạy trẻ biết kể lại chuyện đã được nghe, được xem Đồng thời dạy trẻ tự đặt nhiều câu chuyện đơn giản mà nội dung, hình thức câu chuyện phải thể hiện được tính độc lập, sáng tạo của trẻ
e Dạy trẻ làm quen với các chữ cái ghi âm tiếng Việt
Nội dung này thực hiện cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi Cho trẻ làm quen với chữ cái ghi âm tiếng Việt nghĩa là giúp cho trẻ nhận biết cấu tạo chữ cái, cách phát âm Từ đó giúp trẻ có kĩ năng, tâm thế cần thiết trước khi vào lớp một
1.2.2.3 Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo
Để thực hiện nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong trường mầm non, các nhà giáo dục đã sử dụng nhiều phương pháp khác nhau
a Nhóm phương pháp trực quan
Bao gồm các phương pháp sau: trực quan bằng vật thật, quan sát, tham quan, xem phim
Trang 3427
Đối với nhóm phương pháp này ta có thể cho trẻ quan sát trực tiếp nếu đối tượng quan sát có thể quan sát trực tiếp được: đồ dùng, đồ chơi, hoa quả vật thật…Còn đối với những đối tượng không thể quan sát trực tiếp được chúng ta có thể cho trẻ xem qua tranh ảnh, máy chiếu…Phương pháp quan sát gián tiếp này cũng được sử dụng cho trẻ làm quen với đối tượng lần hai để củng cố kiến thức thu nhận được ở lần quan sát đầu tiên
b Nhóm phương pháp dùng lời
Bao gồm các phương pháp sau: đọc thơ, ca dao, tục ngữ, đồng dao cho trẻ nghe, kể và đọc truyện, kể lại truyện, đàm thoại, mẫu ngôn ngữ, câu hỏi để hỏi trẻ, giảng giải Đây là phương pháp đặc thù trong nội dung phát triển ngôn ngữ cho trẻ, giáo viên phải có sự chuẩn bị chu đáo cho các nội dung phát triển ngôn ngữ trên Đối với mỗi độ tuổi cần có những nội dung, mức độ yêu cầu phù hợp với trẻ
c Nhóm phương pháp thực hành
Bản chất các phương pháp này là giúp cho trẻ được trải nghiệm thông qua hoạt động lao động Mục đích của phương pháp này là dạy trẻ áp dụng những kiến thức đã thu được vào thực tế, giúp trẻ nắm và hoàn thiện những hiểu biết và thói quen ngôn ngữ
d Nhóm phương pháp trò chơi
Phương pháp này có ý nghĩa vô cùng quan trọng Trò chơi là hình thức tác động có hiệu quả đến ngôn ngữ của trẻ, trò chơi giúp trẻ nói lên được tiếng nói của mình, tích cực hóa vốn từ của trẻ, ngôn ngữ rõ ràng, mạch lạc
Trang 3528
Tiểu kết chương 1
Qua việc tìm hiểu, nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc xây dựng trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010 để phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn, chúng tôi nhận thấy cần phải lựa chọn các phương pháp dạy học, hình thức dạy học, các công cụ, phương tiện dạy học thích hợp để nâng cao hiệu quả của giờ học Trò chơi là một giải pháp có tính hiệu quả cao, đặc biệt là trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint
2010 Qua trò chơi, trẻ không chỉ tham gia bài học một cách chủ động mà còn khơi dậy ở trẻ sự tò mò, ham hiểu biết, sáng tạo và đem lại hứng thú cho trẻ với những hình ảnh, âm thanh sinh động và hấp dẫn
Qua đó cho thấy rằng hệ thống trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010 trong việc phát triển ngôn ngữ của trẻ là rất cần thiết Đây là một phương pháp dạy học hiệu quả có tác dụng lớn trong việc kích thích sự hứng thú cũng như xây dựng động cơ học tập cho trẻ từ đó mở rộng vốn từ cho trẻ mầm non nói chung và trẻ mẫu giáo lớn nói riêng
Trang 3629
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC THIẾT KẾ TRÒ CHƠI HỌC TẬP SỬ DỤNG PHẦN MỀM POWERPOINT 2010 NHẰM PHÁT
TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
2.1 Mục đích, đối tượng và địa bàn khảo sát
2.1.1 Mục đích khảo sát
Nhằm đánh giá tình hình chung của việc thiết kế và tổ chức trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoinr 2010 cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi nhằm phát triển ngôn ngữ
2.1.2 Đối tượng khảo sát
14 giáo viên đang giảng dạy ở các lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi
33 trẻ đang học ở lớp mẫu giáo 5 Tuổi A3
2.1.3 Địa bàn khảo sát
Do thời gian hạn chế nên ở khóa luận này chúng tôi chỉ tiến hành điều tra thực trạng ở Trường mầm non Xuân Hòa
2.2 Nội dung và phương pháp khảo sát
2.2.1 Nội dung khảo sát
Tìm hiểu ý kiến của giáo viên về việc thiết kế và tổ chức trò chơi học tập cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi nhằm phát triển ngôn ngữ
Tìm hiểu việc phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
2.2.2 Phương pháp khảo sát
Phương pháp điều tra bằng phiếu câu hỏi an - két: Chúng tôi sử dụng
phiếu câu hỏi an - két để tìm hiểu nhận thức của giáo viên về việc thiết kế trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi nhằm phát triển ngôn ngữ Ngoài ra, phiếu câu hỏi an - két còn được chúng tôi sử dụng để tìm hiểu về việc giáo viên tổ chức trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ có hiệu quả hay không và những khó khăn của giáo viên về việc thiết kế trò chơi học tập giúp trẻ phát triển ngôn ngữ
Trang 3730
Phương pháp đàm thoại: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để trò
chuyện với trẻ về các hình ảnh mà chúng tôi đưa ra nhằm đánh giá tình hình chung của việc phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi hiện nay Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng phương pháp này trò chuyện với giáo viên những vấn đề có liên quan đến lĩnh vực chúng tôi đang nghiên cứu
Phương pháp thống kê toán học: Chúng tôi sử dụng phương pháp này
để thống kê các số liệu thu thập được
Phương pháp quan sát: Chúng tôi sử dụng phương pháp này để quan
sát các giáo án tích hợp nội dung phát triển vốn từ cho trẻ Từ đó đưa ra những nhận xét có liên quan đến vấn đề mà chúng tôi đang nghiên cứu
2.3 Phân tích kết quả khảo sát thực trạng
2.3.1 Thực trạng nhận thức của giáo viên về việc thiết kế và tổ chức trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi
Câu hỏi 1: Chương trình giáo dục mà trường cô đang thực hiện là chương trình:
Khi đi đến các trường mầm non để điều tra, chúng tôi đã nhận thấy rằng, hiện nay hầu hết các trường mầm non đều đang thực hiện chương trình chăm sóc - giáo dục mầm non theo hướng mới Chính vì thế, việc phát triển cho trẻ ở cả năm lĩnh vực đều hết sức quan trọng Và lĩnh vực phát triển ngôn ngữ cho trẻ cũng rất được quan tâm ở các trường Tuy nhiên, việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ vẫn chưa được thực hiện một cách độc lập, giáo viên cung cấp các từ ngữ cho trẻ thường vào những lúc sinh hoạt hằng ngày bằng những câu đối thoại hay trò chuyện cùng trẻ, vốn từ vẫn chưa được quan tâm nhiều ở các tiết học hay chưa được đưa vào một trò chơi cụ thể Chúng thường là một hoạt động nhỏ được lồng ghép vào các hoạt động lớn của tiết học như làm quen môi trường xung quanh, âm nhạc, làm quen tác phẩm văn học… Do đó, việc trẻ nói từ ngữ có chính xác hay không vẫn chưa được chú ý nhiều
Câu hỏi 2: Theo cô, việc thiết kế trò chơi giúp trẻ phát triển ngôn ngữ là cần thiết?
Trang 3831
Ở câu hỏi này, chúng tôi đưa ra hai đáp án để giáo viên lựa chọn để thấy được tầm quan trọng của việc thiết kế trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ Chúng tôi đã thống kê được số liệu như sau:
Bảng 2.1 Khảo sát mức độ nhận thức của giáo viên về việc thiết kế trò
chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Nhìn vào bảng thống kê ta thấy, tổng số lượng phiếu trả về là 14/14 phiếu đều nhận được ý kiến của các giáo viên mầm non là việc thiết kế trò chơi giúp trẻ phát triển ngôn ngữ là có cần thiết, chiếm 100% Việc này cho thấy các giáo viên đã nhận thấy được tầm quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ, vốn từ của trẻ tốt sẽ hỗ trợ rất nhiều cho ngữ pháp và lời nói mạch lạc của trẻ sau này, đó sẽ tạo một tiền đề tốt để trẻ có thể chuẩn bị cho mình vào các cấp học sau
Câu hỏi 3: Cô thường tổ chức trò chơi phát triển ngôn ngữ trong giờ hoạt động:
Bảng 2.2 Khảo sát mức độ xuất hiện của trò chơi phát triển ngôn ngữ khi giáo viên tổ chức
Trang 3932
Đối với ngành Giáo dục Mầm non, có tất cả 7 giờ hoạt động chính, và thông qua bảng khảo sát, chúng tôi thấy rằng các giáo viên mầm non đều có tổ chức trò chơi phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở mọi giờ hoạt động, tuy nhiên mức
độ xuất hiện không giống nhau Có 11 giáo viên đã tổ chức trò chơi phát triển vốn từ ở giờ hoạt động làm quen môi trường xung quanh, ở giờ hoạt động này, trẻ được tiếp xúc với nhiều biểu tượng mới của môi trường xung quanh, do đó
tỷ lệ giáo viên tổ chức trò chơi phát triển vốn từ cũng chiếm khá cao (78,6%), nhờ vậy mà vốn từ của trẻ cũng sẽ được tăng cao hơn khi tham gia trò chơi Tuy nhiên, mức độ tổ chức trò chơi ở giờ hoạt động làm quen môi trường xung quanh vẫn không chiếm cao bằng ở giờ làm quen với tác phẩm văn học (85,7%) với tổng số phiếu là 12/14 phiếu Các giáo viên đã cho rằng, khi tham gia vào hoạt động làm quen với các tác phẩm văn học, trẻ được trải nghiệm với nội dung câu chuyện, với lời thoại của các nhân vật, trẻ sẽ hứng thú hơn, trẻ sẽ
tự kể lại chuyện hay đóng vai các nhân vật trong truyện, nhờ đó mà vốn từ của trẻ sẽ tăng nhanh, chính vì vậy mà tỷ lệ giáo viên tổ chức trò chơi phát triển ngôn ngữ ở giờ hoạt động làm quen tác phẩm văn học chiếm cao nhất Ngoài
ra, mức độ giáo viên tổ chức trò chơi phát triển ngôn ngữ vẫn được xuất hiện ở các giờ hoạt động còn lại Tỷ lệ xuất hiện của trò chơi chiếm thứ 3 là giờ hoạt động âm nhạc (50%) với số phiếu là 7/14 phiếu Có 6/14 giáo viên đã tổ chức trò chơi phát triển ngôn ngữ ở giờ hoạt động làm quen với toán, chiếm tỷ lệ 42,9% Có 5/14 giáo viên đã tổ chức trò chơi phát triển ngôn ngữ ở giờ hoạt động tạo hình, chiếm tỷ lệ 35,7% Có 4/14 giáo viên đã tổ chức trò chơi phát triển ngôn ngữ ở giờ hoạt động thể chất, chiếm tỷ lệ 28,6%
Câu hỏi 4: Thái độ của trẻ khi tham gia trò chơi sử dụng phần mềm PowerPoint 2010 nhằm phát triển ngôn ngữ:
Trang 4033
Bảng 2.3 Khảo sát mức độ trẻ hứng thú khi tham gia trò chơi học tập sử
dụng phần mềm PowerPoint 2010 nhằm phát triển ngôn ngữ
sẽ mang mục đích phát triển khác nhau cho trẻ, chính vì được chơi nên trẻ sẽ không bị bò gò trong bất kì tiết học nào.Ta biết rằng, trẻ ở lứa tuổi này chỉ có thể tập trung trong một thời gian ngắn và rất mau chóng chán với những tiết học chỉ có chữ và chữ Do đó, việc trẻ hứng thú với các trò chơi mà giáo viên
tổ chức là điều tất yếu Qua bảng khảo sát, ta dễ dàng nhận ra rằng, mức độ trẻ hứng thú với các trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint 2010 nhằm phát triển ngôn ngữ chiếm tỷ lệ cao 92,9% với số phiếu là 13/14 phiếu Bên cạnh đó, sẽ có những mức độ trẻ không hứng thú và tỏ ra bình thường khi tham gia trò chơi, và những mức độ đó chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ của bảng khảo sát, với mức độ bình thường có 1/14 phiếu, chiếm 7,1% và mức độ không hứng thú là 0/14 phiếu Qua đó, ta có thể thấy rằng, trẻ sẽ rất hứng thú khi tham gia vào các trò chơi do giáo viên tổ chức, đó sẽ là một động lực để thúc đẩy các giáo viên tổ chức trò chơi học tập sử dụng phần mềm PowerPoint
2010 nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhiều hơn nữa
Câu hỏi 5: Cô có hay thay đổi các trò chơi cho trẻ :
Khi khảo sát câu hỏi này, chúng tôi đã nhận được câu trả lời mang tính khách quan của các giáo viên, chúng được thể hiện ở bảng sau: