Tuy nhiên ở trường mầm non hiện nay, giáo viên mới chỉ chú ý tới phát triển vốn từ và dạy ngữ pháp cho trẻ mà chưa thật sự quan tâm đến việc rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ khi kể
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
ĐẶNG THỊ THƠM
RÈN KĨ NĂNG NÓI ĐÚNG NGỮ PHÁP CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA
KỂ CHUYỆN CÓ TRANH MINH HỌA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
HÀ NỘI - 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
ĐẶNG THỊ THƠM
RÈN KĨ NĂNG NÓI ĐÚNG NGỮ PHÁP CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA
KỂ CHUYỆN CÓ TRANH MINH HỌA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục Mầm non
PGS TS NGUYỄN THU HƯƠNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô giáo khoa Giáo dục mầm non và các thầy cô giáo trong tổ bộ môn ngôn ngữ – Tiếng Việt và Phương pháp dạy học đã giúp đỡ em trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới cô PGS TS Nguyễn Thu Hương người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong quá trình học tập, nghiên cứu và giúp em hoàn thành khóa luận này
Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế
Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 20Ì8
Sinh viên
Đặng Thị Thơm
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em Những số liệu và kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực Đề tài chưa được công
bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác
Hà Nội, ngày 16 tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Đặng Thị Thơm
Trang 5DANH MỤC CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do lựa chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3 Mục đích nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Cấu trúc của khóa luận 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lí luận 6
1.1.1 Cơ sở tâm lí 6
1.1.2 Cơ sở sinh lí 7
1.1.3 Cơ sở ngôn ngữ 9
1.1.4 Kể chuyện và vai trò của kể chuyện trong việc rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 14
1.2.1 Nội dung chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn 14 1.2.2 Thực trạng dạy trẻ nói đúng ngữ pháp 23
CHƯƠNG 2 BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG NÓI ĐÚNG NGỮ PHÁP CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 32
2.1 Biện pháp rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện có tranh minh họa 32
2.1.1 Yêu cầu chung của biện pháp dạy trẻ kể chuyện có tranh minh họa 32
2.1.2 Các bước rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện có tranh minh họa 33
Trang 72.1.3 Các hình thức rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ thông qua kể
chuyện có tranh minh họa 33
2.2 Thực nghiệm sư phạm 40
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64 PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
Giáo dục mầm non là bậc thang đầu tiên của nền giáo dục Việt Nam, là mối quan tâm hàng đầu của toàn xã hội Giáo dục mầm non có vai trò quan trọng trong việc phát triển toàn diện mỗi con người
Trẻ em hôm nay thế giới ngay mai, trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là những mầm non tương lai của đất nước nên ngay từ khi mới sinh ra trẻ cần được trang bị những hành trang vững chắc để trẻ tự tin bước trên chặng đường phía trước
Ở độ tuổi mẫu giáo lớn, trẻ đã sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ trong sinh hoạt hàng ngày Khi tốt nghiệp xong trường mẫu giáo là đứng trước một nền văn hóa đồ sộ của dân tộc và nhân loại mà ông cha ta để lại, và đồng thời trong tương lai các em có sứ mạng xây dựng và phát triển nền văn hóa đó Cho nên việc phát triển tiếng mẹ đẻ cho trẻ mầm non là một nhiệm vụ cực kì quan trọng,
mà ở độ tuổi mẫu giáo lớn nhiệm vụ đó phải được hoàn thành
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất, là cơ sở của mọi sự suy nghĩ, giúp trẻ học tập và vui chơi Ngôn ngữ phát triển tốt sẽ giúp trẻ phát triển nhân cách và giao tiếp tốt, trẻ em sẽ sử dụng ngôn ngữ như phương tiện biểu hiện nhận thức của mình Thông qua ngôn ngữ, trẻ hiểu được thế giới xung quanh một cách sâu rộng hơn, cụ thể, rõ ràng và chính xác hơn Ngôn ngữ đã góp phần đào tạo trẻ em trở thành những con người phát triển toàn diện
Rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ em Ở tuổi mẫu giáo lớn năng lực dùng câu và giao tiếp của trẻ đã phát triển hơn so với trẻ mẫu giáo nhỡ Trẻ có một vốn từ nhất định, số lượng các câu trong lời nói của trẻ tăng lên, đa số trẻ
đã nói những câu đơn giản, ngắn gọn Trẻ nói năng không còn ấp úng, phát
âm ngọng líu ngọng lo nữa, trẻ đã biết diễn đạt và điều chỉnh
Trang 9những gì mình cần nói, trẻ sử dụng được ngữ pháp để nói mạch lạc cho mọi người hiểu mình và hiểu được lời người khác nói Tuy nhiên trẻ sử dụng các dạng câu vẫn hạn chế, chưa nói được câu dài, dùng câu thiếu các quan hệ từ nên hoạt động rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn là con đường dạy học tốt nhất, hiệu quả nhất sẽ tạo tiền đề cho trẻ bước vào lớp học tiếp theo
Truyện kể có tác động mạnh mẽ trong việc bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, đem đến cho trẻ những ước mơ bay bổng, những xúc cảm thẩm mĩ về một thế giới huyền ảo, kích thích và phát triển trí tưởng tượng của các em, mở cánh cửa
sổ cho tâm hồn các em hướng vào những ước mơ đẹp đẽ, kích thích những khát vọng của các em muốn hiểu biết, muốn vươn lên những tầm cao của tư tưởng, tình cảm và trí tuệ sau này Từ xưa đến nay đã có biết bao thiên biến vạn hóa trong lịch sử được truyền lại cho chúng ta bằng truyện kể Qua các câu chuyện, trẻ em cảm thụ được cái hay, cái đẹp, cái tốt, cái xấu của cuộc sống xung quanh Truyện kể càng đặc biệt, hấp dẫn hơn khi có tranh minh họa về câu chuyện mà mình muốn kể làm cho trẻ sẽ thích thú, dễ dàng hình thành và phát triển ngôn ngữ, khả năng quan sát, bình luận và tư duy của mình Trẻ em rất thích nghe kể chuyện, thông qua những câu chuyện hay và các tranh minh họa đặc sắc thì việc rèn ngữ pháp cho trẻ trở nên đơn giản hơn
Tuy nhiên ở trường mầm non hiện nay, giáo viên mới chỉ chú ý tới phát triển vốn từ và dạy ngữ pháp cho trẻ mà chưa thật sự quan tâm đến việc rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ khi kể chuyện có tranh minh họa Là một giáo
viên mầm non tương lai, tôi quyết định đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Rèn kĩ
năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua việc kể chuyện có tranh minh họa”
Trang 102 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đã từ lâu, việc dạy trẻ nói đúng ngữ pháp là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Có rất nhiều công trình nghiên cứu có thể tổng thuật nội dung phương pháp nghiên cứu về vấn đề này trong một số nguồn tài liệu sau đây:
- Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo của Nguyễn
Xuân Khoa (NXB ĐH Sư phạm 2003) là giáo trình đầu tiên và có hệ thống các vấn đề khoa học và thực tiễn của tiếng mẹ đẻ đang được thực hiện trong các lớp nhà trẻ, mẫu giáo của nước ta, trong đó tác giả có đề cập đến nội dung và phương pháp dạy trẻ nói đúng ngữ pháp
- Trong cuốn sách Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo (NXB ĐH Quốc gia Hà Nội 2005) các tác giả Hoàng Thị Oanh – Phạm
Thị Việt – Nguyễn Kim Đức đã nói lên được tầm quan trọng trong việc giáo dục ngôn ngữ trong việc giáo dục toàn diện cho trẻ Trong đó các tác giả nêu
sơ lược về nội dung và những phương pháp, biện pháp dạy trẻ nói đúng ngữ pháp
- Cuốn giáo trình Phương pháp phát triển lời nói trẻ em tác giả Đinh
Hồng Thái đã nói lên đặc điểm ngôn ngữ và chú trọng đến dạy nói cho trẻ, phát triển ngôn ngữ thông qua các tác phẩm của ngữ pháp Tiếng Việt, hình thành và phát triển vốn từ, dạy trẻ các mẫu câu Tiếng Việt, phát triển lời nói mạch lạc, tạo tiền đề tốt để trẻ chuẩn bị vào lớp 1
- Cùng với đó là cuốn Sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi thông qua truyện kể tác giả Hồ Lam Hồng đề cập đến của các biện pháp
kể chuyện khác nhau có ảnh hưởng đến các hoạt động ngôn ngữ cũng như các đặc điểm tâm lí của trẻ em Tác giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đưa chuyện kể vào giảng dạy nhằm phát triển ngôn ngữ cho trẻ trước tuổi đi học
Trang 11- Các biện pháp phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ 5-6 tuổi tác giả
Nguyễn Thị Kim Oanh coi kể chuyện như một biện pháp phát triển ngôn ngữ, một biện pháp tốt đối với trẻ em trước tuổi đi học nói chung và trẻ mẫu giáo lớn nói riêng
- Cũng trong tạp chí giáo dục mầm non số 1/2009, có bài Một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non của tiến sĩ Bùi Kim Tuyến (viện
khoa học giáo dục Việt Nam), đã đề cập tới thói quen nói đúng ngữ pháp cho trẻ thông qua giao tiếp với trẻ bằng những câu hỏi mở
Tóm lại, có rất nhiều cuốn sách và tạp chí bàn về vấn ngữ pháp của trẻ lứa tuổi mầm non Không ai có thể phủ nhận được mặt tích cực của truyện kể ở trường mầm non trong phát triển ngôn ngữ, ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo Tuy nhiên, các tác giả đa số tập trung vào việc dạy ngữ pháp mà rất ít tác giả nào đi sâu vào nghiên cứu rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ
Nhận thức được tầm quan trọng này, chúng tôi mạnh dạn chọn và tìm hiểu đề tài: “Rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện có tranh minh họa”
3 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lí luận của môn học và thực tiễn, đề tài này hệ thống hóa và đưa ra biện pháp kể chuyện có tranh minh họa nhằm rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là biện pháp rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn qua hoạt động kể chuyện có tranh minh họa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này chúng tôi tập trung vào việc rèn trẻ mẫu giáo lớn nói đúng
ba kiểu câu ghép chính phụ: Nếu thì, Vì nên, Mặc dù…nhưng, Tuy nhưng
Trang 125 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện có tranh minh họa
Tìm hiểu biện pháp kể chuyện có tranh minh họa và tiến hành thể nghiệm trên một số giáo án
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí luận: đọc sách báo, tạp chí và các tài liệu tham khảo… có liên quan đến vấn đề đang nghiên cứu, từ đó chọn lọc để xây dựng nên cơ sở lí luận của đề tài
Phương pháp khảo sát bằng phiếu anket: nhằm tìm hiểu thực trạng về việc rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện
có tranh minh họa, thực trạng hiệu quả của việc rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ thông qua biện pháp này
Phương pháp quan sát: quan sát và ghi chép việc rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện có tranh minh họa
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
7 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 2 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2 Biện pháp rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn và thực nghiệm sư phạm
Trang 13để hoàn thành việc xây dựng những cơ sở ban đầu của nhân cách con người
Lứa tuổi mẫu giáo là thời kì bộc lộ tính nhạy cảm cao nhất đối với các hiện tượng ngôn ngữ, điều đó khiến cho sự phát triển ngôn ngữ của trẻ đạt tốc
độ khá nhanh, và đến cuối tuổi mẫu giáo thì hầu hết trẻ em đều sử dụng tiếng
mẹ đẻ một cách thành thạo trong sinh hoạt hàng ngày
Tiền đề ý thức bản ngã là việc tách mình ra khỏi người khác, đã được hình thành ở cuối tuổi ấu nhi Tuy nhiên, phải trải qua một quá trình phát triển,
ý thức bản ngã của trẻ mới được xác định rõ ràng Khi mới bước vào tuổi mẫu giáo, đứa trẻ chưa hiểu biết gì mấy về bản thân mình và những phẩm chất của mình Nhưng đến cuối tuổi mẫu giáo, trẻ mới hiểu được mình là người như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối xử với mình ra sao
và tại sao mình có hành động này, hành động khác
Trẻ thường lĩnh hội những chuẩn mực và quy tắc hành vi như những thước đo để đánh giá người khác và đánh giá bản thân mình Đến tuổi mẫu giáo lớn, trẻ mới nắm được kĩ năng so sánh mình với người khác, điều này là cơ sở
để đánh giá một cách đúng đắn hơn và cũng là cơ sở để trẻ noi gương những người tốt, việc tốt
Trang 14Ở tuổi mẫu giáo lớn, sự tự ý thức của trẻ còn được biểu hiện rõ trong sự phát triển giới tính của trẻ Ở tuổi này không những nhận ra mình là trai hay gái
mà còn biết rất rõ nếu mình là trai hay gái thì hành vi phải thể hiện thế nào cho phù hợp với giới tình của mình
Ý thức bản ngã được xác định rõ ràng giúp trẻ điều khiển và điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với những chuẩn mực, những quy tắc xã hội, từ đó hành vi của trẻ mang tính xã hội, tính nhân cách đậm nét hơn trước Tuy vậy, cho đến cuối tuổi mẫu giáo các quá trình tâm lí không chủ định vẫn chiếm ưu thế trong hoạt động tâm lí của trẻ, ngay cả trong hoạt động trí tuệ
Ghi nhớ của trẻ mẫu giáo lớn ngày càng có tính chủ định nhiều hơn so với trẻ mẫu giáo bé, nhờ sử dụng một số phương thức như nhắc lại hay liên hệ các sự kiện với nhau do người lớn gợi ý
Tư duy của trẻ mẫu giáo lớn: bên cạnh việc phát triển tư duy trực quan – hình tượng vẫn mạnh mẽ như trước đây, còn cần phải phát triển thêm một kiểu tư duy trực quan – hình tượng mới để đáp ứng khả năng và nhu cầu phát triển của trẻ Đó là kiểu tư duy trực quan – sơ đồ Kiểu tư duy này tạo cho trẻ một khả năng phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan, không bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủ quan của bản thân đứa trẻ Sự phản ánh những mối liên hệ khách quan là điều kiện cần thiết để lĩnh hội những tri thức vượt ra ngoài khuôn khổ của việc tìm hiểu từng sự vật riêng lẻ với những thuộc tính sinh động của chúng để đạt tới tri thức khái quát Tư duy trực quan
– sơ đồ vẫn giữ tính chất hình tượng song bản thân hình tượng cũng trở nên khác trước: hình tượng đã mất đi những chi tiết rườm rà mà chỉ còn giữ lại những yếu tố chủ yếu giúp trẻ phản ánh một cách khái quát sự vật chứ không phải từng sự vật riêng lẻ
1.1.2 Cơ sở sinh lí
Với trẻ mẫu giáo lớn, các chức năng sinh lí chủ yếu của cơ thể hoàn thiện dần Biểu hiện rõ rệt sự thay đổi về trọng lượng và kích thước cơ thể
Trang 15Nếu lúc mới sinh trọng lượng não của trẻ khoảng 370 – 392g (1/8 – 1/9 trọng lượng cơ thể) thì đến khi 6 tháng tuổi trọng lượng của não tăng gấp đôi lúc mới sinh và khi trẻ 4 – 6 tuổi trọng lượng não của trẻ khoảng 1140 – 1305 (1/13 – 1/14 trọng lượng cơ thể)
Chức năng vận động phối hợp động tác Cơ lực phát triển nhanh Vì vậy trẻ làm được những động tác khéo léo hơn, gọn gàng hơn, có thể làm được công việc tương đối khó, phức tạp hơn và một số công việc tự phục vụ như tự ăn, tự mặc quần áo, tự đi cất, tự tắm rửa
Ở trẻ 5 – 6 tuổi, cường độ và tính linh hoạt của các quá trình thần kinh tăng lên, tư duy bằng từ càng tăng, ngôn ngữ bên trong xuất hiện Chức năng khái quát của từ đã có bước nhảy vọt và gần như ở người lớn Chỉ khác người lớn ở chỗ: sự khái quát hóa được thể hiện theo hành động với đồ vật
Hệ thần kinh tương đối phát triển, hệ thần kinh trung ương và ngoại biên đã biến hóa, chức năng phân tích, tổng hợp của vỏ não đã hoàn thiện, số lượng các phản xạ có điều kiện ngày càng nhiều, tốc độ hình thành phản xạ có điều kiện n hanh, trí tuệ phát triển nhanh Do đó trẻ có thể nói được những câu dài, có biểu hiện ham học, có ấn tượng sâu sắc đối với người xung quanh Ở cuối tuổi mẫu giáo, do giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng trong những năm trước đây, tai âm vị được rèn luyện thường xuyên để tiếp nhận các ngữ âm khi nghe người lớn nói
Mặt khác cơ quan phát âm đã trưởng thành đến mức trẻ có thể phát ra những âm tương đối chuẩn, kể cả những âm khó của tiếng mẹ đẻ (như uềnh oàng, khúc khuỷu ) khi nói năng Khe thanh quản ngắn, thanh đới ngắn, nên trẻ em có giọng nói cao hơn so với người lớn
Dựa vào những đặc điểm sinh lí trên, ta có thể thấy được mức độ phát triển của trẻ mẫu giáo lớn là rất nhanh nhưng vẫn còn nhiều chỗ chưa hoàn thiện Do đó cần lựa chọn nội dung và biện pháp để giáo dục và rèn luyện các
kĩ năng cho trẻ đạt hiệu quả tốt nhất
Trang 161.1.3 Cơ sở ngôn ngữ
1.1.3.1 Khái niệm ngữ pháp
Ngữ pháp là một trong 4 lĩnh vực của cấu trúc ngôn ngữ, là cách xây dựng ngôn ngữ, là một trong bốn thành phần cấu trúc ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách)
1.1.3.2 Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp
1.1.3.2.1 Khái niệm câu
Trong cuốn: “Giáo trình lí thuyết Tiếng Việt”, NXB Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1978, tr.170, Hoàng Trọng Phiến đã đưa ra khái niệm về câu như sau: “Câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói, được hình thành về ngữ pháp
và ngữ điệu theo các quy luật của một ngôn ngữ nào đó, là phương tiện chính diễn đạt, biểu hiện và giao tiếp tư tưởng về thực tế và thái độ của người nói đối với thực tại (theo giáo sư O.A.khmanôva) ”, (Trích: Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý (chủ biên), NXB Giáo dục, 1996, tr32)
1.1.3.2.2 Phân loại câu
Câu được phân loại dựa vào các tiêu chí sau:
Dựa vào đặc điểm cấu tạo ngữ pháp: Dựa vào tiêu chí này, người ta phân chia câu thành câu đơn và câu ghép, vẫn dựa vào tiêu chí này người ta chia câu đơn thành: câu đơn hai thành phần, câu đơn mở rộng, câu đơn rút gọn và câu đơn đặc biệt Câu ghép có thể phân chia thành câu ghép đẳng lập, câu ghép chính phụ
Dựa vào mục đích nói (mục đích phát ngôn): Căn cứ vào tiêu chí này, người ta phân chia câu tiếng việt thành: câu tường thuật, câu nghi vấn, câu cảm thán và câu cầu khiến
Những kiểu câu được phân chia theo đặc điếm cấu tạo ngữ pháp:
a Câu đơn hai thành phần
* Định nghĩa:
Trang 17Hữu Quỳnh trong Ngữ pháp tiếng việt hiện đại, NXB Giáo dục, 1980, Tr37, đã đưa ra định nghĩa về câu đơn hai thành phần như sau: “Câu đơn hai thành phần là câu đơn gồm một đơn vị tính vị ngữ có quan hệ chủ - vị làm nòng cốt tức là một đơn vị nòng cốt gồm hai thành phẩn chủ ngữ và vị ngữ Đơn vị tính vị ngữ có quan hệ chủ – vị (gọi tắt là C - V) có thể có cấu tạo khác nhau” (Trích Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nguyễn Như Ý (chủ biên), NXB Giáo dục, 1996, tr35)
* Các mô hình cấu tạo câu đơn hai thành phần:
Câu đơn hai thành phần được cấu tạo theo hai mô hình cấu trúc cơ bản:
C – V
C là V Câu đơn hai thành phần có mô hình cấu trúc C – V khi:
Trang 18Ví dụ: Thỏ vừa gặp bầy chó ở trong rừng
* Câu đơn mở rộng thành phần khởi ngữ
Định nghĩa: Khởi ngữ (còn được gọi là đề ngữ), đó là một trong các thành phần phụ của câu Nó thường được cấu tạo bằng một từ hoặc cụm từ, có chức năng bổ sung ý nghĩa chủ đề cho câu
Mô hình câu đơn mở rộng thành phần khởi ngữ (KN):
* Câu rút gọn chủ ngữ thường thấy trong các trường hợp sau đây:
Trong đối thoại thân mật, hai nhân vật giao tiếp với nhau
Ví dụ: Chào cô ạ!
Trang 19Ví dụ: Đi đâu đấy?
Khi yêu cầu, đề nghị, ra lệnh, chúc tụng, cầu may
Ví dụ: Đề nghị các bạn trật tự
Ví dụ: Chúc các bác mạnh khoẻ
* Câu rút gọn vị ngữ, thường thấy trong các trường hợp sau:
Khi trả lời câu hỏi
Ví dụ: Bạn nào làm việc này?
d Câu đơn đặc biệt
Định nghĩa: Câu đơn đặc biệt là một kiểu câu đơn được cấu tạo bằng một từ hoặc cụm từ, không phân định được chủ ngữ, vị ngữ, nhưng có khả năng diễn đạt một nội dung thông báo trọn vẹn trong một hoàn cảnh giao tiếp nhất định
Ví dụ: Chao ôi! Mệt!
e Câu ghép đẳng lập
Định nghĩa: Câu ghép đẳng lập là câu có từ hai kết cấu chủ - vị trở lên, mỗi kết cấu С – V làm thành một vế câu, các vế không bao hàm lẫn nhau, chúng có thể ghép với nhau bằng các quan hệ từ đẳng lập hoặc bằng dấu câu (dấu chấm, dấu chấm phẩy)
Các mô hình cấu tạo câu ghép đẳng lập:
C1 – V1 và C2 – V2
Ví dụ: Con đi chơi và con được ăn bánh
Trang 20C1 – V1 rồi C2 – V2
Ví dụ: Cô bé đi vào trong rừng rồi cô bé gặp sói
1.1.4 Kể chuyện và vai trò của kể chuyện trong việc rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ
Kể chuyện là kể lại một chuỗi sự việc có nhân vật, có cốt truyện, có các
sự kiện liên quan đến nhân vật Câu chuyện đó phải có ý nghĩa
Kể chuyện có vị trí quan trọng trong dạy học tiếng mẹ đẻ vì kể là một hoạt động “nói” đặc biệt trong giao tiếp Khi nghe cô kể chuyện trẻ đã tiếp nhận tác phẩm ở lời nói có âm thanh Khi trẻ kể lại truyện, các trẻ đang tái hiện lại một tác phẩm bằng lời văn của mình Vì vậy, trẻ nhớ lâu và nhớ được logic các kiến thức về các sự vật, hiện tượng xung quanh
Ở trường mầm non, kể chuyện là tiết học lí thú, được các trẻ chờ đón, tiếp thu một cách hào hứng Với mỗi trẻ em, bên cạnh những niềm vui như xem phim hoạt hình, nghe nhạc thiếu nhi, chơi đồ chơi thì nghe người khác kể chuyện và kể chuyện cho người khác nghe cũng là một niềm say mê của các
em
Kể chuyện có tranh minh họa giúp trẻ nhận thức được các đặc điểm, thuộc tính của sự vật, hiện tượng xung quanh qua lời nói của giáo viên, kết hợp với tranh ảnh Trong từng câu chuyện, dựa vào các tình tiết chính giáo viên nhớ lại nội dung câu chuyện, kể cho trẻ nghe, sau đó đàm thoại để trẻ nói kết hợp cho trẻ quan sát tranh minh họa
Mỗi khi nghe cô kể chuyện trẻ vừa phải nhớ nội dung câu chuyện vừa phải học thêm các mẫu câu Tiếng Việt, việc đó là khó đối với trẻ Thay vào đó
sử dụng thêm những bức tranh sinh động để trò chuyện với trẻ về câu chuyện trẻ sẽ hiểu ngay nội dung, biết trả lời câu hỏi khi nhìn vào tranh và trẻ tiếp cận những cấu trúc ngữ pháp cô muốn dạy trẻ một cách tự nhiên hơn, dễ dàng hơn Dần dần trẻ ghi nhớ và khắc sâu những mẫu câu đó một cách có
Trang 21chủ định, qua đó sẽ tạo cho trẻ thói quen nói đúng ngữ pháp Và rồi trẻ sẽ phải
tự mình hiểu và phát triển ngữ pháp Tiếng Việt cho bản thân theo cách này
Từ đó các trẻ tiếp thu nhanh nội dung, và có thể kể lại câu chuyện cho thật sinh động Chúng vừa có tác dụng minh họa cho lời kể của thầy cô vừa là hình thức cố định lại bằng “kí tự” nội dung truyện
1.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Nội dung chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn
1.2.1.1 Đặc điểm hệ thống ngữ pháp trong lời nói của trẻ mẫu giáo lớn
Trẻ đã nói được đa dạng câu các kiểu câu: Câu đơn, câu mở rộng thành phần chiếm 80 – 85%
Câu đơn mở rộng thành phần :
Ví dụ: Sáng nay, mẹ cho thỏ em lên rừng hái nấm
Theo nghiên cứu của Lê Thị Kim Anh, khi kể lại chuyện số câu đơn
mở rộng là 85%, kể chuyện theo tranh, tỉ lệ này là 75,7%
Trẻ nói nhiều hơn câu ghép chính phụ
Ví dụ: Cô bé hiếu thảo nên cô ấy đã cứu được mẹ
Các kiểu câu ghép trong lời nói của trẻ tăng lên Ngoài các kiểu ghép đẳng lập – liệt kê và ghép chính phụ – nhân quả còn xuất hiện các câu ghép đẳng lập – lựa chọn, đẳng lập – tương phản, câu ghép chính phụ điều kiện – kết quả, giả thiết – kết quả, mục đích – sự kiên
Trang 22+ Câu đơn mở rộng còn nghèo nàn
+ Dùng câu ghép thiếu các quan hệ từ
Ví dụ: Dê trắng nhút nhát, dê trắng bị sói ăn thịt (Thiếu vì- nên)
1.2.1.2 Nội dung dạy đặt câu cho trẻ 5 – 6 tuổi nói đúng ngữ pháp
Dạy trẻ nói đúng ngữ pháp thông qua kể chuyện có tranh minh họa: Trẻ nắm được cấu tạo ngữ pháp của câu, biết được kiểu mẫu của tiếng nói Giáo viên củng cố cách sử dụng đúng một số kiểu câu sai của trẻ, cho trẻ làm quen với các kiểu câu khó hơn và cuối cùng là hình thành cho trẻ thói quen nói đúng ngữ pháp thông qua kể chuyện có tranh minh họa
Dạy trẻ đặt câu theo mô hình chủ ngữ - vị ngữ
Câu đơn hạt nhân: Trẻ sử dụng nhiều câu khó hơn
* Danh từ (của, bằng) danh từ
Mỗi loại đồ vật có thể có nhiều từ chỉ loại đi kèm: ngôi nhà, tòa nhà, bông hoa
Ví dụ:
Cô hỏi: Thỏ con hái bông hoa đồng tiền tặng ai?
Trang 23Trẻ trả lời: Bông hoa đồng tiền thỏ tặng mẹ
bút
Ví dụ:
Cô hỏi: Cái khăn màu gì?
Trẻ trả lời: Cái khăn màu đỏ
Một từ chỉ loại có thể dùng cho nhiều đồ vật: cây đàn, cây sáo, cây
Ví dụ:
Cô hỏi: Cây sáo của ai?
Trẻ trả lời: Cây sáo của sọ dừa
* Từ chỉ suất ở vị trí – 2: từ “cái” đi với “này”, “kia”, “ấy”, “nọ”
Ví dụ:
Cô hỏi: Cây đàn này của ai?
Trẻ trả lời: Cây đàn này của thạch sanh
* Từ chỉ số lượng ở vị trí – 3: Dạy trẻ đếm từ 1 đến 50 Dạy trẻ các từ “các”,
“những” chỉ số nhiều của sự vật, các từ “mỗi”, “từng”, “mọi” chỉ ý nghĩa phân phối
Ví dụ:
Cô hỏi: Thỏ em được mấy bông hoa đồng tiền?
Trẻ trả lời: Thỏ em được mười bông hoa đồng tiền
Trang 24Cô hỏi: Cái nhà của cáo có ở được không?
Trẻ trả lời: Cái nhà của cáo không ở được
Định ngữ là danh từ: chỉ rõ tên gọi cụ thể của sự vật do danh từ trung tâm biểu thị: hồ Gươm, thủ đô Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh
Ví dụ:
Cô hỏi: Hồ Gươm nằm ở địa danh nào?
Trẻ trả lời: Hồ Gươm nằm ở thủ đô Hà Nội
Định ngữ nói về hình dáng của sự vật, nói về sự vật được chứa đựng ở bên trong
Ví dụ:
Cô hỏi: Quả táo của nàng bạch tuyết thế nào?
Trẻ trả lời: Quả táo được tẩm thuốc độc
Định ngữ là động từ: chỉ rõ nội dung cụ thể của sự vật do danh từ trung tâm biểu thị (nhiệm vụ quét nhà); chỉ rõ nghề nghiệp (người bán hàng, tốp ca); chỉ rõ hoạt động, trạng thái đo lường (cơn đau, giấc ngủ)
Ví dụ:
Cô hỏi: Ông, bà lão đang làm gì?
Trẻ trả lời: Ông, bà lão đang nhổ củ cải
Trang 25Định ngữ là tính từ: chỉ rõ nội dung cụ thể của danh từ trung tâm (đức tính cần cù), nêu đặc trưng sự vật do danh từ trung tâm biểu thị (quần mới, áo mới, núi cao)
Ví dụ:
Cô hỏi: Hai anh em thỏ ai chăm chỉ hơn?
Trẻ trả lời: Thỏ anh chăm chỉ hơn
Từ chỉ trỏ ở vị trí 2:
Dạy trẻ sử dụng các từ: này, kia, ấy, nọ
Ví dụ:
Cô hỏi: Ngôi nhà này của ai?
Trẻ trả lời: Ngôi nhà này của thỏ
b Tập đặt câu có chủ ngữ vị ngữ là nhóm động từ
Nhóm động từ là nhóm từ tự do có thành tố trong tâm là động từ Về cơ bản, nhóm động từ có cấu tạo ba phần: phần phụ trước, phần trung tâm và phần phụ sau Vì vậy, dạy trẻ đặt câu có chủ ngữ, vị ngữ là nhóm động từ bằng cách dạy trẻ thêm vào:
Phần phụ trước của nhóm động từ
Phần phụ trước của nhóm động từ thường do các phụ từ đảm nhiệm Dạy trẻ các phụ từ nêu ý khẳng định hay phủ định sự tồn tại của hành động: chỉ, hay, không, có Các phụ từ chỉ sự tiếp diễn tương tự của hành động, trạng thái: đều, cũng
Ví dụ:
Cô hỏi: Con chưa kể câu chuyện gì?
Trẻ trả lời: Con chưa kể câu chuyện cáo, thỏ và gà trống
Phần trung tâm
Trang 26Động từ thuộc mọi tiểu loại đều có thể đóng vai trò thành tố trung tâm của nhóm động từ
Thành tố trung tâm của nhóm động từ là một động từ không độc lập Trong trường hợp này, thành tố trung tâm phải có phần phụ sau là một cụm từ hoặc một từ
Ví dụ:
Cô hỏi: Con muốn làm nghề gì?
Trẻ trả lời: Con muốn làm bác sĩ
Cô hỏi: Bạn Sơn Ca đã tặng gấu con cái gì?
Trẻ trả lời: Bạn Sơn Ca tặng gấu cây kẹo mút
( Thành tố phụ chỉ sự tiếp nhận và thành tố phụ chỉ sự vật ban phát) Thành tố phụ là danh từ, động từ
Trang 27c Tập đặt câu có danh từ (nhóm danh từ) làm vị ngữ
Danh từ trực tiếp làm vị ngữ (nghĩa là giữa chủ ngữ và vị ngữ có từ để nối)
Trạng ngữ chỉ nguyên nhân: Là loại trang ngữ chỉ nguyên nhân diễn ra
sự việc trong câu Trạng ngữ chỉ nguyên nhân thường mở đầu bằng các quan
Ví dụ:
Thỏ hái nấm để mẹ đỡ vất vả
Trang 28Tập cho trẻ đảo vị trí của thành phần trạng ngữ từ đầu câu xuống cuối câu, đôi khi chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ
Trang 29Tập cho trẻ đặt câu ghép chính phụ với các quan hệ từ chính phụ
- Câu ghép có quan hệ nhân quả: Vế chỉ nguyên nhân mở đầu bằng các
quan hệ từ bởi (vì), tại (vì), do, nhờ; vế chỉ kết quả mở đầu các quan hệ từ như:
nên, cho nên, mà Vế chỉ nguyên nhân có thể đứng trước, đứng sau về chỉ kết
quả và xen vào giữa kết cấu chủ – vị của vế chỉ kết quả
Ví dụ:
Nếu dê trắng dũng cảm thì dê trắng đã không bị ăn thịt
- Câu ghép có quan hệ nhượng bộ – tăng tiến: Vế chỉ sự nhượng bộ mở
đầu bằng các quan hệ từ như: tuy (rằng), dù (rằng) Vế chỉ sự tăng tiến có thể
mở đầu bằng “nhưng” Vế chỉ sự nhượng bộ có thể đứng trước, đứng sau vế chỉ
sự tăng tiến và xen vào giữa kết cấu chủ - vị của vế chỉ sự tăng tiến
Ví dụ:
Mặc dù trời rất lạnh nhưng hươu con vẫn phải đi kiếm ăn
Trang 30g Tập đặt câu tường thuật, câu ghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán
Bên cạnh đặt câu theo cấu trúc ngữ pháp, trẻ cần có hiểu biết nhất định
về mục đích nói của mình để sử dụng câu cho hợp lí Xét theo mục đích nói có
4 loại câu: câu tường thuật, câu ghi vấn, câu cảm thán, câu cầu khiến
Trong quá trình phát triển mỗi loại câu đều có nét đặc trưng Song trong
4 loại câu trên trẻ thường sử dụng nhiều loại nhất là loại câu tường thuật và câu ghi vấn, loại câu này có số lượng nhiều và phát triển hơn cả Vì trẻ học theo lối bắt chước những người xung quanh và trẻ càng lớn thì nhu cầu tìm hiều thế giới xung quanh càng tăng Vì vậy, để thỏa mãn trí tò mò của mình, trẻ thường đặt
ra những câu hỏi và cần được giải đáp
Câu tường thuật: dùng để kể, để thông báo về hoạt động, trạng thái, tính chất của sự việc, hoặc thể hiện nhận định của người nói về một hiện tượng nào
đó Câu tường thuật có ngữ điệu hạ thấp ở cuối câu Câu tường thuật có 2 dạng: câu khẳng định và câu phủ định
1.2.2 Thực trạng dạy trẻ nói đúng ngữ pháp
1.2.2.1 Khảo sát thực trạng dạy trẻ nói đúng ngữ pháp
* Khảo sát những vấn đề chung
Quá trình điều tra nhằm mục đích tìm hiểu:
- Thực trạng tình trạng nhận thức của giáo viên về việc rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện có tranh minh họa
- Thực trạng về mức độ ngữ pháp của trẻ mẫu giáo lớn qua kể chuyện có tranh minh họa
* Đối tượng khảo sát
- Giáo viên dạy lớp mẫu giáo lớn tại trường mầm non Kim Chung
- Các nhóm trẻ mẫu giáo lớn tại trường mầm non Kim Chung
* Thời gian khảo sát
- Từ tháng 2 năm 2018 đến tháng 4 năm 2018
* Phương pháp khảo sát
Trang 31- Sử dụng phiếu điều tra
- Phương pháp quan sát, trò chuyện, trao đổi
- Dự giờ, giảng dạy tiết kể chuyện
* Xây dựng các tiêu chí đánh giá việc rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện có tranh minh họa
dung câu nói
+ Hiểu nhanh + Hiểu chậm + Không hiểu
5
4
1
được mẫu câu
+ Nói nhanh, lưu loát, diễn cảm + Nói chậm, không diễn cảm + Chưa nói được
chúng tôi phân loại trẻ theo các mức độ nói đúng ngữ pháp như sau:
Loại giỏi: Trẻ đạt 14 ≤ điểm ≤ 15
Loại khá: Trẻ đạt 12 ≤ điểm < 14
Loại trung bình: Trẻ đạt 5 ≤ điểm < 9
Loại yếu: Trẻ đạt < 5 điểm
* Phân tích kết quả điều tra
Thực trạng trình độ đào tạo của giáo viên trực tiếp dạy trẻ mẫu giáo lớn ở trường mầm non Kim Chung – Đông Anh – Hà Nội:
+ Trình độ đào tạo:
- Giáo viên có trình độ đào tạo ĐHSP Mầm non là: 8
- Giáo viên có trình độ CĐSP Mầm non là: 10
- Giáo viên có trình độ TCSP Mầm non là: 3
Trang 32- Sơ cấp Mầm non: Không có
- Chưa qua đào tạo: Không có
+ Thâm niên công tác:
Thực trạng trình độ nhận thức của giáo viên về việc rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện có tranh minh họa:
Sau khi tham khảo và tổng hợp ý kiến về việc rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện có tranh minh họa ở trường mầm non Kim Chung – Đông Anh – Hà Nội chúng tôi nhận thấy:
Vấn đề đổi mới phương pháp dạy học, đã được giáo viên vận dụng và áp dụng đối với trẻ tương đối thành công Bởi vì chương trình giáo dục Mầm non mới hiện nay, tiến hành đổi mới toàn diện Bên cạnh đó còn sự tích hợp giữa nội dung các môn học, đem lại sự nhận thức đầy đủ cho trẻ Trẻ được trải nghiệm, khám phá trên thực tế cũng như trên lí thuyết bài dạy Kiến thức được gắn kết, xâu chuỗi thành một hệ thống mang tính thống nhất trong quá trình nhận thức của trẻ
Kết quả cho thấy, các giáo viên đều nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ Trong tất cả các hoạt động đều có
Trang 33thể rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ nhưng bằng phương pháp, biện pháp nào sẽ đem lại kết quả mong muốn thì chưa có được tiếng nói chung
Khi hỏi về “Tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện có tranh minh họa tại trường Mầm non
mà giáo viên đang công tác ?”, thì đa số giáo viên cho rằng: Việc áp dụng biện pháp này vào giảng dạy là không khó nhưng vẫn còn nhiều vấn đề quan tâm,
và chú ý đến việc sử dụng nó sao cho đạt kết quả tốt nhất, giúp trẻ nói đúng ngữ pháp Hầu hết các giáo viên dạy trẻ các câu chuyện có trong chương trình thông qua hình thức đọc, kể diễn cảm, giảng giải, trích dẫn nội dung câu chuyện cho trẻ nghe rồi trẻ đóng vai theo chủ đề, nội dung, các nhân vật trong truyện Ít giáo viên dùng tranh minh họa, vì lí do ngại, không có thời gian chuẩn bị câu chuyện mà cô kể và không sử dụng tranh một cách triệt để
Khi được hỏi về: “Những khó khăn gặp phải khi rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ thông qua kể chuyện có tranh minh họa ?”, 100% giáo viên đều cho rằng: còn gặp phải nhiều vướng mắc trong việc tạo nên những bức tranh minh họa phù hợp, gần, sát với nội dung truyện, việc làm này tốn nhiều thời gian, công sức Để tạo ra những bức tranh minh họa còn gặp rất nhiều khó khăn vì rất ít cô có năng khiếu môn mĩ thuật và khả năng sử dụng công nghệ thông tin của các cô còn hạn chế Hơn nữa, ngữ pháp Tiếng Việt phong phú và
đa dạng, cấu trúc ngữ pháp khô khan, nên trẻ gặp khó khăn trong việc tiếp thu
Rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện
có tranh minh họa là một hình thức không khó, nhưng đòi hỏi giáo viên phải kiên trì, sử dụng công nghệ thông tin thành thạo, chọn những bức tranh, hình ảnh phù hợp với nội dung câu chuyện, màu sắc của các bức tranh, hình ảnh phải đẹp, phong phú, thu hút hứng thú học của trẻ
Về câu hỏi: “Theo chị cần sử dụng những biện pháp nào để rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện có tranh minh
Trang 34họa ?” thì 100% giáo viên chưa đưa ra được phương pháp mới Các giáo viên
sử dụng phương pháp sau:
Sử dụng phương pháp đàm thoại
Sử dụng lời nói mẫu
Phát hiện lỗi sai và sửa lỗi sai
Trong đề tài này, tôi vẫn tiếp tục sử dụng các biện pháp trên, nhưng đã
đi sâu hơn để khai thác một cách sáng tạo nhất đối với từng phương pháp, giúp trẻ nói đúng ngữ pháp, sử dụng câu mọi nơi, mọi lúc
Thực trạng về mức độ nói đúng ngữ pháp của trẻ mẫu giáo lớn qua kể chuyện có tranh minh họa:
Tôi đánh giá thực trạng mức độ trẻ mẫu giáo lớn nói đúng ngữ pháp thông qua kể chuyện có tranh minh họa với các tiêu chí ở trên Các tiêu chí không chỉ đánh giá việc trẻ mẫu giáo lớn nói đúng ngữ pháp thông qua kể chuyện có tranh minh họa trước thực nghiệm mà còn dùng để đo kết quả giữa thực nghiệm và đối chứng
Để kiểm tra kết quả trong việc rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện có tranh minh họa ra sao, chúng tôi đã tiến hành cách chấm điểm cho mỗi trẻ theo các tiêu chí và kết quả trẻ thực hiện được quan sát và ghi chép, trao đổi với giáo viên chủ nhiệm lớp Dựa vào đó mà chúng tôi phân loại trẻ theo mức độ tương ứng với thang điểm ở mục trên
Kết quả điều tra thực nghiệm:
Trang 35Bảng 1 Tổng điểm và phân loại khả năng nói đúng ngữ pháp của trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện có tranh minh họa ở trường mầm non
Kim Chung – Đông Anh – Hà Nội
Trang 36Bảng 2 So sánh mức độ nói đúng ngữ pháp của trẻ mẫu giáo lớn thông
qua kể chuyện có tranh minh họa
Tóm lại sự tăng lên các điểm số ở các tiêu chí chứng tỏ việc xây dựng biện pháp rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ mẫu giáo lớn thông qua kể chuyện có tranh minh họa là phù hợp với nhận thức và gây được hứng thú đối với trẻ
1.2.2.2 Đánh giá kết quả khảo sát
* Ưu điểm
Đa số giáo viên đều có trình độ, được đào tạo và có thâm niên công tác
ở mẫu giáo lớn lâu năm
Giáo viên yêu nghề, mến trẻ, có nhiệt huyết, đam mê với công việc Luôn học hỏi, tìm tòi những phương pháp giáo dục mới, phù hợp với đặc
Trang 37điểm tâm sinh lý và trình độ nhận thức của trẻ, nhằm giúp trẻ mẫu giáo lớn nói đúng ngữ pháp
Đồ dùng, trang thiết bị dạy học đa dạng, phong phú, được đầu tư để phục
vụ cho công việc giảng dạy
Trẻ hứng thú, tích cực tham gia các hoạt động cũng như các tiết học ở trên lớp
* Nhược điểm
Qua khảo sát, điều tra chúng tôi thấy rằng:
Giáo viên vẫn coi mình là trung tâm của quá trình dạy học, vẫn chủ yếu hướng dẫn trẻ bằng cách truyền đạt của giáo viên, chưa có sự tìm hiểu sâu cũng như chưa tìm được các phương pháp phù hợp để rèn kĩ năng nói đúng ngữ pháp cho trẻ thông qua kể chuyện có tranh minh họa
Sự nhận thức của trẻ ở mức độ trung bình và khá là chủ yếu Trẻ chủ yếu ghi nhớ, nhắc lại các mẫu câu, phương pháp ghi nhớ vẫn mang tính đồng loạt Giáo viên vẫn chưa tạo điều kiện cho trẻ vận dụng kiến thức vào cuộc sống hàng ngày
Do trẻ phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong nhận thức và tư duy của mình về các hoạt động học và chơi ở trường Mầm non Vì vậy, giáo viên cần phải quan tâm chú ý đến trẻ nhiều hơn, nhằm giúp trẻ nói đúng ngữ pháp một cách hiệu quả nhất