Tái Bảo hiểm có vai trò to lớn đối với các doanh nghiệp bảo hiểm, đối với cả những người tham gia bảo hiểm Việt Nam. Tái bảo hiểm phân tán rủi ro, góp phần ổn định tài chính cho doanh nghiệp bảo hiểm gốc, đặc biệt là trong những trường hợp xảy ra các sự cố thảm họa hay tích lũy rủi ro. Nâng cao khả năng nhận bảo hiểm của công ty bảo hiểm gốc đối với những rủi ro vượt quá khả năng tài chính của nó. Tái bảo hiểm là một công cụ quản trị rủi ro hữu hiệu của những nhà bảo hiểm trong việc dàn trải rủi ro và tổn thất. Đối với khách hàng tham gia bảo hiểm thì nhờ có tái bảo hiểm mà khách hàng có thể nhận được bồi thường chính xác, đầy đủ và kịp thời. Đồng thời tái bảo hiểm góp phần thúc đẩy và phát triển quan hệ quốc tệ giữa các nước bởi tái bảo hiểm là hoạt động mang tính chất quốc tế.
Trang 1A.MỞ BÀI
Bảo hiểm là một phạm trù kinh tế Nó bao gồm các quá trình phân phối lại nhằm đáp ứng nhu cầu đảm bảo của xã hội Đặc trưng của nó là việc thành lập mang tính chất tập thể một quỹ dự trữ tài chính thông qua sự vận dụng các quy luật thống kê và nguyên tắc cân đối cũng như việc phân phối mang tính chất riêng rẽ quỹ đó để đáp ứng những nhu cầu có thể dự đoán được trong tương lai phát sinh ra
từ những sự cố bất ngờ gây thiệt hại hay xảy ra Đối với các nước có nền kinh tế tập trung như Việt Nam, tái bảo hiểm là một lĩnh vực đặc biệt của hệ thống bảo hiểm nhà nước và đồng thời cũng là một bộ phận của ngành kinh tế đối ngoại mà chủ yếu là các quan hệ tài chính đối ngoại Tái bảo hiểm có vai trò quan trọng với ngành bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng và cả nền kinh tế nói chung.Tái bảo hiểm ở Việt Nam tuy mới hình thành với một đại diện chính thức duy nhất là VINARE đã
có những thành quả đáng kể là san sẻ rủi ro, tăng mức giữ lại của thị trường nội địa
và là cầu nối cho doanh nghiệp bảo hiểm trong nước và thị trường bảo hiểm
B THÂN BÀI
I Cơ sở lý luận
1 Khái niệm kinh doanh bảo hiểm , kinh doanh tái bảo hiểm và tái bảo hiểm
Theo khoản 1 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi bổ sung
2010 quy định về kinh doanh bảo hiểm: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của
doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”
Theo khoản 2 Điều 3 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi bổ sung
2010 quy định về kinh doanh tái bảo hiểm: “Kinh doanh tái bảo hiểm là hoạt động
của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo
Trang 2hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.”
Theo Điều 9 Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 sửa đổi bổ sung 2010 quy
định về tái bảo hiểm: “Doanh nghiệp bảo hiểm có thể tái bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác, bao gồm cả doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, tổ chức nhận tái bảo hiểm nước ngoài Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, tổ chức nhận tái bảo hiểm nước ngoài phải đạt hệ số tín nhiệm theo xếp hạng của công ty đánh giá tín nhiệm quốc tế do Bộ Tài chính quy định.”
Tái bảo hiểm thực chất là hoạt động bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểm, là hình thức mà thông qua đó doanh nghiệp bảo hiểm tăng khả năng nhận tái bảo hiểm và bảo vệ mình khỏi những tổn thất nghiêm trọng Tái bảo hiểm là một phương thức bảo hiểm, bảo hiểm cho một doanh nghiệp bảo hiểm (doanh nghiệp bảo hiểm gốc) Thông qua hình thức này khoản tiền tái bảo hiểm sẽ được bồi thường cho thiệt hại theo các đơn bảo hiểm do công ty nhượng tái bảo hiểm cấp
Tóm lại, Tái bảo hiểm thực chất là việc một doanh nghiệp bảo hiểm có thể bảo vệ cho chính mình chống lại các rủi ro tổn thất bằng việc chuyển giao rủi ro cho một doanh nghiệp khác Nói cách khác, tái bảo hiểm là việc cung cấp các dịch
vụ bảo hiểm cho một doanh nghiệp bảo hiểm
2 Hình thức và phương thức tái bảo hiểm
2.1 Hình thức tái bảo hiểm
a Tái bảo hiểm tùy ý lựa chọn
- Khái niệm: Là hình thức tái bảo hiểm trong đó doanh nghiệp nhượng toàn quyền lựa chọn rủi ro cần phải tái bảo hiểm, và doanh nghiệp nhận có quyền nhận hay từ chối rủi ro đó
- Trình tự thực hiện:
+ Trước hết doanh nghiệp nhượng thông báo cho tái bảo hiểm một dịch vụ nào đó
mà họ cần phải tái bảo hiểm dưới hình thức một phiếu đề nghị (slip), trong đó có
Trang 3ghi các đặc điểm chính của rủi ro được tái bảo hiểm như : tên và địa chỉ của người được bảo hiểm, tính chất của rủi ro được bảo hiểm, ngày bắt đầu và chấm dứt của thời gian bảo hiểm, số tiền được bảo hiểm, phí bảo hiểm, phần giữ lại của doanh nghiệp nhượng, tỷ lệ thủ tục phí tái bảo hiểm…
+ Sau khi nhận được phiếu đề nghị này, doanh nghiệp tái bảo hiểm có toàn quyền
tự do để lựa chọn toàn bộ hay một phần tỷ lệ nào đó hay bằng một số tiền cố định trên cơ sở rủi ro được đề nghị Doanh nghiệp tái bảo hiểm xác nhận phần tham gia của mình thông thường bằng cách ghi trực tiếp vào bản thứ hai, của phiếu đề nghị
và gửi trả lại cho doanh nghiệp nhượng Tuy nhiên để đảm bảo tính thời gian, việc xác nhận có thể thực hiện bằng điện tín hay qua điện thoại, nhưng sau đó vẫn phải xác nhận bằng văn bản để đảm bảo tính pháp lý của hợp đồng Dĩ nhiên, doanh nghiệp tái bảo hiểm có quyền khước từ tham gia vào hợp đồng nếu họ không muốn Theo tập quán thì việc nhà tái bảo hiểm im lặng không trả lời không thể được xem như là một sự chấp nhận
+ Trước khi chính thức có ý kiến nhận hay khước từ, doanh nghiệp tái bảo hiểm có thể yêu cầu biết thêm những chi tiết khác để đánh giá rủi ro mà mình sẽ nhận Ví
dụ có thể xin bản sao hợp đồng bảo hiểm gốc, hoặc những chi tiết về việc định giá phí bảo hiểm… Cuối cùng, chỉ khi nào nhận được thông báo chấp nhận của doanh nghiệp tái bảo hiểm thì dịch vụ theo hình thức tùy ý lựa chọn mới coi như hoàn thành, trừ khi có sự thỏa thuận nào khác giữa hai bên Dịch vụ tái bảo hiểm này cũng sẽ tự động chấm dứt hiệu lực nếu như đến ngày mãn hạn của hợp đồng bảo hiểm gốc mà không có sự tái lập hợp đồng; tuy nhiên dù hợp đồng bảo hiểm gốc có tái lập, thì cũng không có nghĩa là doanh nghiệp tái bảo hiểm buộc phải tiếp tục nhận hợp đồng tái bảo hiểm cho đến thời hạn kế tiếp, mà họ có quyền tự do lựa chọn tiếp tục nhận hay từ chối không tham gia tiếp nữa, trừ khi có sự giao kết nào khác Hơn nữa, hợp đồng tái bảo hiểm theo hình thức này không có sự ràng buộc là nhà tái bảo hiểm phải chấp nhận những thay đổi, sửa đổi về nội dung, điều kiện
Trang 4hay giá phí mà đã thỏa thuận ban đầu giữa họ và doanh nghiệp nhượng Mọi thay đổi như vậy đều phải được thông báo trước và phải có sự thỏa thuận của doanh nghiệp tái bảo hiểm
*Ưu điểm và Nhược điểm:
- Ưu điểm:
+ Giúp doanh nghiệp nhượng nhất là những doanh nghiệp nhỏ mới thành lập yên tâm để nhận bảo hiểm cho các rủi ro, đặc biệt là những rủi ro có giá trị bảo hiểm lớn vượt quá khả năng tài chính của mình, những rủi ro ít được bảo hiểm: chiến tranh, bạo động
+ Tạo ưu thế cho doanh nghiệp nhượng phát triển hoạt động kinh doanh bảo hiểm
và tái bảo hiểm thông qua sự giúp đỡ về kỹ thuật nghiệp vụ, tổ chức và đề phòng hạn chế tổn thất
+ Doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm chủ động trong việc nhận tái bảo hiểm cho những rủi ro có thể đảm nhận được trong khả năng của mình
-Nhược điểm:
+ Doanh nghiệp nhượng phải thương xuyên thông báo đầy đủ mọi thông tin về hợp đồng bảo hiểm gốc do đó vừa không đảm bảo bí mật, vừa mất thời gian, vừa ảnh hưởng đến tính cạnh tranh
+ Doanh nghiệp nhượng không đảm bảo chắc chắn có thị trường nên đôi khi không dám bảo hiểm cho những rủi ro có giá trị lớn, bỏ mất cơ hội kinh doanh
+ Hai bên phải thường xuyên đàm phán tái lập hợp đồng tái bảo hiểm mới nên chi phí thủ tục hành chính tốn kém ảnh hưởng đến lợi nhuận
b Tái bảo hiểm bắt buộc
- Khái niệm: là sự thỏa thuận giữa doanh nghiệp nhượng và doanh nghiệp tái bảo hiểm trong đó doanh nghiệp nhượng bắt buộc phải nhượng cho doanh nghiệp tái bảo hiểm tất cả các đơn vụ rủi ro bảo hiểm gốc mà hai bên đã thỏa thuận, ngược lại doanh nghiệp tái bảo hiểm buộc phải chấp nhận toàn bộ các đơn vị rủi ro đó
Trang 5- Đặc điểm: doanh nghiệp nhượng có toàn quyền tự do chấp nhận và định giá phí bảo hiểm cho những đơn vị rủi ro mà người được bảo hiểm yêu cầu bảo hiểm và không cần phải tham khảo ý kiến trước của doanh nghiệp tái bảo hiểm
Mặt khác, doanh nghiệp nhượng cũng đơn phương thanh toán các vụ tổn thất có liên quan đến những rủi ro được bảo hiểm đó với mục đích bảo vệ quyền lợi chung giững doanh nghiệp nhượng và doanh nghiệp tái bảo hiểm Trong hình thức tái bảo hiểm bắt buộc, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ hoàn toàn chia sẻ những vận may rủi ro với doanh nghiệp nhượng và sẽ chấp nhận thanh toán cho tổn thất thuộc phạm vi hợp đồng tái bảo hiểm đã thỏa thuận mà doanh nghiệp nhượng thay mặt cho họ giải quyết Doanh nghiệp tái bảo hiểm sẽ không bị ràng buộc bởi những hành động hoặc sơ xuất của doanh nghiệp nhượng mà đi ngược lại với quyền lợi của họ.1
*Ưu điểm và Nhược điểm
- Ưu điểm:
+ Đảm bảo doanh nghiệp nhượng kinh doanh ổn định nhờ việc yên tâm nhận bảo hiểm vì đã có đối tác nhận tái do đó lường trước được khả năng nhận bảo hiểm, do
đó tăng cơ hội kinh doanh
+ Giúp doanh nghiệp nhượng chủ động trong kinh doanh do đặc điểm có thể toàn quyền quyết định trong nhận bảo hiểm
+ Đảm bảo lợi ích kinh doanh của cả doanh nghiệp nhượng và nhận
+ Tái bảo hiểm bắt buộc thường mang tính tự động sau mỗi năm, cho phép các bên thiết lập mối quan hệ lâu dài
-Nhược điểm:
+ Doanh nghiệp nhượng phải tái đi mọi rủi ro những rủi ro nằm trong khả năng thanh toán do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp nhượng
+ Giảm tính linh hoạt đối với cả hai bên do yếu tố cố định về mặt thời gian
+ Doanh nghiệp tái bảo hiểm bị động trong việc lựa chọn rủi ro nhận tái
1 http://bacvietluat.vn/gioi-thieu-ve-tai-bao-hiem.html
Trang 6c Tái bảo hiểm kết hợp tùy ý lựa chọn – bắt buộc (Tái bảo hiểm để ngỏ)
- Khái niệm: Là hình thực tái bảo hiểm trong đó doanh nghiệp nhượng không bắt buộc phải nhượng tái tất cả các dịch vụ đã nhận bảo hiểm; ngược lại doanh nghiệp tái bảo hiểm buộc phải chấp nhận các dịch vụ mà doanh nghiệp nhượng đã chuyển giao với điều kiện là những dịch vụ đó phải phù hợp với nội dung và điều khoản đã quy ước trong hợp đồng tái bảo hiểm
*Ưu điểm và Nhược điểm
- Ưu điểm:
+ Hình thức này khai thác triệt để được ưu điểm và hạn chế nhược điểm của cả hai hình thức
+ Cả hai bên đều có tính chủ động tương đối trong nhận và nhượng tái bảo hiểm + Quyền lợi của cả hai bên được giải quyết ổn thỏa, không có sự bắt ép nhau, không nâng có thủ tục phí…
-Nhược điểm:
+ Chi phí hành chính cho việc áp dụng hình thức tái bảo hiểm này sẽ tốn kém rất nhiều vì những rủi ro cần tái bảo hiểm ở trường hợp doanh nghiệp nhượng có nhiều đơn vị rủi ro cần phải đem tái bảo hiểm thường đòi hỏi các điều kiện tái bảo hiểm khác nhau, công tác tính toán phí và sổ sách kế toán sẽ phực tạp và khó khăn hơn
+ doanh nghiệp tái bảo hiểm bất lợi hơn trong việc lựa chọn rủi ro nhận tái đối với những phần tái bảo hiểm bắt buộc.2
2.2 Phương thức tái bảo hiểm
Phương thức tái bảo hiểm là cách thức phân chia trách nhiệm và quyền lợi giữa doanh nghiệp nhượng và doanh nghiệp nhận tái
Có hai phương thức tái bảo hiểm chủ yếu là:
+ Tái bảo hiểm theo tỷ lệ
Trang 7+ Tái bảo hiểm phi tỷ lệ.
a.Tái bảo hiểm theo tỷ lệ
Là phương thức tái bảo hiểm mà theo đó quyền lợi giữa doanh nghiệp nhân
và doanh nghiệp nhượng đều phân chia theo tỷ lệ và dựa trên cơ sở số tiền bảo hiểm Phương pháp tái bảo hiểm theo tỷ lệ được chia thành 2 dạng chính:
+ Tái bảo hiểm số thành: Là phương thức tái bảo hiểm theo đó trách nhiệm của doanh nghiệp nhượng và doanh nghiệp nhận tái đối với mỗi đơn vị rủi ro được bảo hiểm được phân bổ theo tỷ lệ tham gia của mỗi bên trên cơ sở số tiền bảo hiểm + Tái bảo hiểm mức dôi: Là phương thức tái bảo hiểm theo đó doanh nghiệp nhượng giữ lại cho mình một số tiền bảo hiểm nhất định phù hợp với khả năng, phần còn lại được tái đi cho doanh nghiệp nhận
b Tái bảo hiểm phi tỷ lệ
Là phương thức tái bảo hiểm mà trong đó doanh nghiệp nhượng tái sẽ giữ lại cho mình một số tiền bảo hiểm nhất định tùy thuộc vào khả năng tài chính của họ Phần tổn thất vượt quá mức giữ lại này được chuyển sang cho các doanh nghiệp nhận tái
Các phương thức tái bảo hiểm phi tỷ lệ:
-Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường: Là phương thức tái bảo hiểm phi tỷ lệ trong
đó doanh nghiệp nhượng tái giới hạn trách nhiệm của mình ở một số tiền bồi thường nhất định nếu tổn thất xảy ra có giá trị lớn hơn mức bồi thường đó, phần vượt quá sẽ chuyển sang công ty nhận tái Đồng thời khả năng tài chính của doanh nghiệp nhận tái không phải là vô hạn, do vậy họ cũng giới hạn mức trách nhiệm của mình, phần vượt quá mức trách nhiệm này sẽ chuyển đến doanh nghiệp nhận tái khác hoặc chuyển trả lại cho doanh nghiệp nhượng
- Tái bảo hiểm vượt tỷ lệ bồi thường là doanh nghiệp bảo hiểm gốc giữ lại cho mình một tỷ lệ bồi thường nhất định, phần vượt quá được tái đi
II Thị trường tái bảo hiểm ở Việt Nam.
Trang 8Thị trường là một phạm trù kinh tế gắn liền với nền sản xuất hàng hóa Thị trường bao gồm toàn bộ các hoạt động trao đổi hàng hóa được diễn ra trong sự thống nhất hữu cơ với các mối quan hệ do chúng phát sinh gắn liền với một không gian nhất định Theo thuật ngữ của bảo hiểm, thị trường tái bảo hiểm được hiểu là nơi mua và bán các sản phẩm bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm gốc và doanh nghiệp tái bảo hiểm Các sản phẩm bảo hiểm ở đây là những sản phẩm bảo hiểm đã được bảo vệ bởi doanh nghiệp bảo hiểm gốc và cần có sự san sẻ rủi ro của các doanh nghiệp tái
Ở Việt Nam, thị trường tái bảo hiểm cũng tương đối phát triển đặc biệt từ sau khi gia nhập WTO Năm 2007 là năm đầu tiên Việt Nam thực hiện các cam kết khi trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại quốc tế WTO Nền kinh
tế Việt Nam tiếp tục mở của và hội nhập quốc tế với mức độ sâu rộng hơn với nhiều cơ hội và thách thức cho sự nghiệp phát triển nền kinh tế xã hội nói chung và ngành bảo hiểm nói riêng Năm 2007 tăng trưởng GDP đạt 8,5% đầu tư trực tiếp nước ngoài tương đương 20,3 tỉ USD; đầu tư toàn xã hội đạt 40% GDP, vốn ODA đạt 5,4% tỉ USD xuất khẩu đạt 48 tỉ USD Các ngành công nghiệp vận tải biển và đóng tàu, hàng không dân dụng, dệt may, giày da có những bước phát triển đột phá Thị trường tài chính tiền tệ tiếp tục phát triển theo xu thế ổn định sau một thời gian phát triển nóng như: tín dụng, chứng khoán, quỹ đầu tư, bảo hiểm Đây là những tiền đề cơ bảo tạo điều kiện thuận lợi cho ngành bảo hiểm Việt Nam phát triển
Trong năm 2007, thiên tai, tai nạn xảy ra tương đối nhiều, điển hình như: bão lụt tại miền Trung, sập cầu Cần Thơ, sạt lở núi tại Hà Tĩnh cũng như các vụ đắm tàu, tai nạn giao thông, cháy nổ, dịch tiêu chảy, dịch lợn tai xanh, dịch cúm gia cầm tiếp tục hoành hành Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm Nhiều doanh nghiệp bảo hiểm đã tăng vốn với quy mô lớn cao hơn cả vốn pháp định, tăng khả năng tài chính, tăng năng lực giữ
Trang 9lại và giảm bớt phần tái bảo hiểm Một số doanh nghiệp bảo hiểm đã chọn được đối tác chiến lược là những tập đoàn bảo hiểm, tài chính hàng đầu quốc tế như Bảo Việt với HSBC, Bảo Minh với AXA VINARE với Swiss Re vừa thu được nguồn thặng dư vốn lớn vừa tiếp thu được kinh nghiệm công nghệ quản lý bảo hiểm, đầu
tư và phát triển sản phẩm bảo hiểm mới Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2008 tiếp tục tăng trưởng tốt với mức độ tăng trưởng đạt hơn 25% só với cùng kì năm trước Chính sự phát triển này đã tác động mạnh
mẽ đến hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm Cụ thể như VINARE:
Doanh thu phí nhận tái của Vinare trong 9 tháng đầu năm 2008 đạt 899 tỷ VND tăng 25,2% so với cùng kỳ năm trước Mức giữ lại của Vinare cũng tăng lên tạo điều kiện cho thị trường trong nước được nhận dịch vụ qua hoạt động của mình Vinare đã giữ lại được trên 264 tỷ VND tăng trên 26,44% so với cả năm
2007, nhượng lại cho thị trường trong nước đạt 222 tỷ VND tăng trên 30% so với cùng kỳ năm 2007 Nếu tính chung cả phần giữ lại này thì hoạt động của Vinare đã giữ lại được trong nước đạt 486 tỷ VND tăng trên 6,9% so với năm 2007 và chiếm đến 84,22% phí cam kết của Vinare.3
Bên cạnh nhận, nhượng tái trong nước, gần đây một số doanh ngiệp bảo hiểm đã mạnh dạn nhận, nhượng tái từ thị trường bảo hiểm nước ngoài, qua đó tạo nên kênh mới tăng doanh thu phí nhận tái bảo hiểm, cũng như tận dụng được năng lực của thị trường nước ngoài đối với những dịch vụ bảo hiểm đặc thù mà thị trường Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm triển khai, hoặc năng lực của thị trường trong nước không đáp ứng được BIC là công ty bảo hiểm tiên phong đầu tư
ra nước ngoài và hiện đang là đối tác tái bảo hiểm chính của LVI và CVI, hai công
ty bảo hiểm có trụ sở tại Lào và Campuchia Kết thúc nửa đầu năm 2010, doanh thu phí nhận tái bảo hiểm phát sinh của BIC là 26, 714 tỷ đồng, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2009, phí nhượng tái đạt 127,3 tỷ đồng, tăng nhẹ ở mức 8,4% so với
3 http://luanvan.co/luan-van/thi-truong-tai-bao-hiem-o-viet-nam-11238
Trang 10cùng kỳ PVI cũng là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ khá thành công trong việc tham gia cung cấp bảo hiểm, tái bảo hiểm cho các dự án dầu khí triển khai tại nước ngoài của Tập đoàn Dầu khí và Tổng công ty Thăm dò Khai thác dầu khí (PVEP) Theo Luật kinh doanh bảo hiểm, mỗi doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được phép giữ lại hạn mức trách nhiệm trên mỗi rủi ro hoặc trên mỗi tổn thất riêng lẻ tối đa là 5% vốn chủ sở hữu (gọi là mức giữ lại) Hạn mức trách nhiệm vượt quá mức giữ lại này phải được chia sẻ với các doanh nghiệp bảo hiểm, tái bảo hiểm trong hoặc ngoài nước thông qua hình thức đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm Chính vì vậy, để nâng cao năng lực cạnh tranh và tăng mức giữ lại thuần, nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đang tích cực tăng vốn Thực tế, sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường bảo hiểm gốc đang tạo ra sức ép không nhỏ trong việc thu xếp tái bảo hiểm Mức phí và mức khấu trừ quá cạnh tranh, điều kiện, điều khoản được mở rộng đến mức phi kỹ thuật đã khiến cho một số đơn bảo hiểm không thể thu xếp tái bảo hiểm ra thị trường nước ngoài Khi đó, các doanh nghiệp bắt buộc phải thu xếp tái bảo hiểm qua lại giữa các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước để đảm bảo phân tán rủi ro Trong trường hợp này, năng lực của thị trường bảo hiểm Việt Nam trên thực tế đã bị tận dụng để bảo hiểm cho các rủi ro không tốt và đối mặt với nguy cơ tích tụ rủi ro rất cao Bên cạnh đó, việc coi nhận tái bảo hiểm là một kênh để tăng doanh thu cũng đã đặt các doanh nghiệp bảo hiểm trước những rủi ro mới
Có một số doanh nghiệp đã coi tái bảo hiểm như là một kênh khai thác chính để bù đắp sự thiếu hụt doanh thu bảo hiểm gốc Điều này dẫn đến tình trạng doanh nghiệp không đánh giá kỹ rủi ro nhận tái bảo hiểm, được chào dịch vụ nào cũng nhận, giữ lại nhiều hơn so với mức giữ lại thuần quy định đối với loại rủi ro đó, hoặc giữ lại một số rủi ro bị loại trừ bởi các hợp đồng tái bảo hiểm khác Sự dễ dãi này có thể sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp trong trường hợp có tổn thất lớn, đặc biệt là tổn thất mang tính thảm họa