1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tiểu luận cao học triết tư tưởng biện chứng trong triết học của platôn

17 277 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 38,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦUTrong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử triết học có một ý nghĩa quan trọng đối với việc đổi mới tư duy lý luận nói chung và sự phát triển các khoa học, triết học nói riêng. Phép biện chứng là một khoa học triết học và nếu xét trên nhiều phương diện, nó là hiện tượng có ý nghĩa thế giới quan rộng lớn như bản thân triết học. Trong quá trình hình thành, phát triển từ khi triết học ra đời, phép biện chứng đã đạt đến đỉnh cao trong triết học mác xít. Phép biện chứng mácxít dựa trên truyền thống tư tưởng biện chứng của nhiều thế kỷ, vạch ra những đặc trưng chung nhất của biện chứng khách quan, nghiên cứu những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy. Nó là chìa khoá để con người nhận thức và chinh phục thế giới. Nắm vững những nguyên tắc phương pháp luận của của phép biện chứng duy vật không những là một nhân tố cơ bản để hình thành thế giới quan khoa học, mà còn là điều kiện tiên quyết cho hoạt động sáng tạo của các chính đảng cách mạng. Tuy nhiên để nắm được phép biện chứng mácxít, không thể không nghiên cứu sự hình thành và phát triển những tư tưởng biện chứng trong lịch sử. Hy Lạp cổ đại là một cái nôi của văn minh loài người, cũng là một trong những cội nguồn của tư tưởng nhân loại. Một trong những trang sáng trong sự phát triển của tư duy biện chứng trong lịch sử triết học nhân loại là phép biện chứng Hy lạp cổ đại, việc nghiên cứu những tư tưởng biện chứng trong hệ thống triết học Platôn cũng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, nghiên cứu vấn đề này không những giúp chúng ta hiểu rõ hơn quá trình phát triển của tư duy nhân loại, những nhận thức đúng đắn về giá trị cũng như hạn chế của tư tưởng biện chứng Platôn, mà còn giúp chúng ta nắm vững phép biện chứng Mác – Lênin, hình thành tư duy biện chứng duy vật thật sự. Và do vậy có thể đồng tình với Ph.Ăngghen khi cho rằng: “Tư duy biện chứng – chính vì nó lấy sự nghiên cứu bản chất của ngay những khái niệm làm tiền đề… chỉ ở con người có trình độ phát triển tương đối cao (những tín đồ phật giáo và người Hy Lạp), và chỉ đạt đến sự phát triển đầy đủ của nó mãi về sau này; và mặc dù thế, cũng vẫn có những kết quả khổng lồ của người Hy Lạp, những kết quả đã có trước sự nghiên cứu từ lâu rồi ” Trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, Platôn là một trong những triết gia lớn nhất. Ở nước ta nói riêng và trong triết học mác xít nói chung, những tư tưởng triết học của Platôn đã chưa được chú ý đúng mức. Ngược lại với tình trạng đó, các nhà triết học phương Tây lại thường đề cao những tư tưởng triết học của Platôn, họ nghiên cứu Platôn rất kỹ lưỡng. Và điều họ phát hiện ra thật thú vị, họ cho rằng toàn bộ triết học phương Tây đều bắt nguồn từ tư tưởng triết học Platôn. Karl Jasper một triết gia Đức đã từng nói: “Toàn bộ triết học phương Tây chỉ là những dòng cước chú dưới những trang sách của Platôn. Sự thật có đúng như vậy không? Có lẽ, điều nhận định này khiến cho những nhà triết học mácxít phải nhìn nhận và đánh giá lại triết học Platôn cho đúng với vị trí của nó trong dòng chảy lịch sử tư tưởng nhân loại. Với những suy nghĩ trên đây tôi đã lựa chọn “Tư tưởng biện chứng trong triết học của Platôn” làm đề tài nghiên cứu cho tiểu luận của mình.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử triết học có một ý nghĩa quan trọng đối với việc đổi mới tư duy lý luận nói chung và sự phát triển các khoa học, triết học nói riêng Phép biện chứng là một khoa học triết học và nếu xét trên nhiều phương diện, nó là hiện tượng có ý nghĩa thế giới quan rộng lớn như bản thân triết học Trong quá trình hình thành, phát triển từ khi triết học ra đời, phép biện chứng đã đạt đến đỉnh cao trong triết học mác xít Phép biện chứng mácxít dựa trên truyền thống tư tưởng biện chứng của nhiều thế kỷ, vạch ra những đặc trưng chung nhất của biện chứng khách quan, nghiên cứu những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy Nó

là chìa khoá để con người nhận thức và chinh phục thế giới Nắm vững những nguyên tắc phương pháp luận của của phép biện chứng duy vật không những

là một nhân tố cơ bản để hình thành thế giới quan khoa học, mà còn là điều kiện tiên quyết cho hoạt động sáng tạo của các chính đảng cách mạng Tuy nhiên để nắm được phép biện chứng mácxít, không thể không nghiên cứu sự hình thành và phát triển những tư tưởng biện chứng trong lịch sử Hy Lạp cổ đại là một cái nôi của văn minh loài người, cũng là một trong những cội nguồn của tư tưởng nhân loại Một trong những trang sáng trong sự phát triển của tư duy biện chứng trong lịch sử triết học nhân loại là phép biện chứng Hy lạp cổ đại, việc nghiên cứu những tư tưởng biện chứng trong hệ thống triết học Platôn cũng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, nghiên cứu vấn đề này không những giúp chúng ta hiểu rõ hơn quá trình phát triển của tư duy nhân loại, những nhận thức đúng đắn về giá trị cũng như hạn chế của tư tưởng biện chứng Platôn, mà còn giúp chúng ta nắm vững phép biện chứng Mác – Lênin, hình thành tư duy biện chứng duy vật thật sự Và do vậy có thể đồng tình với Ph.Ăngghen khi cho rằng: “Tư duy biện chứng – chính vì nó lấy sự nghiên cứu bản chất của ngay những khái niệm làm tiền đề… chỉ ở con người có

Trang 2

trình độ phát triển tương đối cao (những tín đồ phật giáo và người Hy Lạp),

và chỉ đạt đến sự phát triển đầy đủ của nó mãi về sau này; và mặc dù thế, cũng vẫn có những kết quả khổng lồ của người Hy Lạp, những kết quả đã có trước sự nghiên cứu từ lâu rồi ” Trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, Platôn

là một trong những triết gia lớn nhất Ở nước ta nói riêng và trong triết học mác xít nói chung, những tư tưởng triết học của Platôn đã chưa được chú ý đúng mức Ngược lại với tình trạng đó, các nhà triết học phương Tây lại thường đề cao những tư tưởng triết học của Platôn, họ nghiên cứu Platôn rất

kỹ lưỡng Và điều họ phát hiện ra thật thú vị, họ cho rằng toàn bộ triết học phương Tây đều bắt nguồn từ tư tưởng triết học Platôn Karl Jasper - một triết gia Đức đã từng nói: “Toàn bộ triết học phương Tây chỉ là những dòng cước chú dưới những trang sách của Platôn Sự thật có đúng như vậy không? Có lẽ, điều nhận định này khiến cho những nhà triết học mácxít phải nhìn nhận và đánh giá lại triết học Platôn cho đúng với vị trí của nó trong dòng chảy lịch sử

tư tưởng nhân loại Với những suy nghĩ trên đây tôi đã lựa chọn “Tư tưởng biện chứng trong triết học của Platôn” làm đề tài nghiên cứu cho tiểu luận

của mình

Trang 3

Nội dung MỘT SỐ NỘI DUNG CỦA TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG Ở PLATÔN

1 Về khái niệm “biện chứng”

Lần đầu tiên thuật ngữ biện chứng xuất hiện ở Hy Lạp cổ đại và được hiểu là “(nghệ thuật) sử dụng ngôn ngữ một cách có lý lẽ” Nghĩa này của thuật ngữ xuất hiện từ thời trước Platôn và Xôcrát thường được coi là người đầu tiên sử dụng nó Đến thời Platôn nó còn được dùng ở nhiều nghĩa khác nữa, tuy nhiên một trong những ý nghĩa cổ xưa nhất của thuật ngữ đó là

“phương pháp khoa học” Arixtốt coi Dênon ở Ele là người phát minh ra phép biện chứng Sự khảo sát kỹ lưỡng cho thấy, thuật ngữ “biện chứng” trong triết học Hy Lạp cổ đại có hai nghĩa:

Thứ nhất, Nó chỉ một giai đoạn được coi là xuất phát điểm của triết

học Tây Âu trong lịch sử môn khoa học về các quy luật phổ biến, về sự phát triển của tự nhiên, của xã hội và của tư duy con người

Thứ hai, theo nghĩa cổ đại của từ này thì nó là nghệ thuật hành văn

nhằm giải thích các tư tưởng cho người đối thoại và buộc người đó phải tán thành chúng Đó vừa là nghệ thuật chứng minh vừa là nghệ thuật bác bẻ Nhà biện chứng thời kỳ này được gọi là nhà hiền triết biết cách sắp xếp tri thức của mình thành một hệ thống khúc triết và biết cách làm cho mọi người hiểu

rõ cơ sở lôgic của nó Nhà hiền triết đó làm tăng khả năng phân biệt cái đúng với cái sai trong lập luận của người đối thoại, nhất là của các địch thủ tư tưởng Phép (phương pháp) biện chứng trở thành phương tiện quan trọng bậc nhất trong việc tìm kiếm và luận chứng chân lý Trong truyền thống triết học này, thuật ngữ “biện chứng” được sử dụng ít nhiều đồng nghĩa với từ “lôgíc” Nếu hiểu theo nghĩa thứ nhất, thì trong triết học Hy Lạp cổ đại “biện chứng” phải là sự kết hợp giữa thuật ngữ “biện chứng khách quan” như Hêghen đã dùng với thuật ngữ “biện chứng tự phát” do Ăngghen đưa ra và cũng được V.I Lênin tán đồng Khi phản ánh tính chất biện chứng của tự nhiên, xã hội

Trang 4

tư duy, những tư tưởng biện chứng khách quan tự phát đó của các nhà tư tưởng Hy Lạp luôn luôn tồn tại ở hai dạng

1) Biện chứng khẳng định, tức là khẳng định và phân tích các quy luật khách quan khác nhau tác động trong tự nhiên, xã hội và tư duy

2) Biện chứng phủ định (mang tính chất phản diện), tức là tìm kiếm, phát hiện mâu thuẫn trong ý nghĩ, tư tưởng về sự vật và trên cơ sở sự tồn tại của nó phủ định tính chân thực của những ý nghĩ, tư tưởng đó

Tuy thuật ngữ “biện chứng” được phân biệt theo hai nghĩa đó, nhưng thực ra hai nghĩa này không tuyệt đối biệt lập Ngay từ khi bắt đầu tồn tại, chúng đã liên hệ mật thiết và tác động qua lại với nhau Hơn nữa, nghệ thuật tiến hành tranh luận nhằm phát hiện và chứng minh chân lý ngày càng thể hiện ra khả năng quy những tính quy định đó về một cái thống nhất, khả năng phát hiện ra sự thống nhất của các mặt đối lập, tức là ngày càng trở thành phương pháp nhận thức biện chứng về tự nhiên, xã hội và tư duy Và, đương nhiên, kể từ thời kỳ Xôcrát trở đi, các nhà triết học luôn luôn phát triển phép biện chứng theo cả hai nghĩa trên Phép biện chứng như là kỹ năng hùng biện, đặt ra câu hỏi và trả lời chúng vẫn được Platôn khẳng định ngay từ khi ông còn là học trò của Xôcrát Ông tiếp tục bảo vệ tư tưởng của Xôcrát trong thời

kỳ xây dựng, bổ sung các điểm mới thông qua việc phê phán phương pháp của phái ngụy biện Đôi khi Platôn hiểu phép biện chứng khá hẹp, chỉ như là phương thức ca ngợi cái đẹp, cái thiện và công lý bằng lời nói Với quan điểm

đó, Platôn đã phủ định mọi tính biến đổi và tính mâu thuẫn của ý niệm với tư cách là bản chất loài của sự vật

Đồng thời đó được coi là bằng chứng cho quan niệm Platôn về tính không đáng kể của thế giới vật chất Kết quả là phép biện chứng như là “logos của eidos” (quy luật của bản chất), như là kết cấu tư tưởng của thế giới đã đồng thời và dứt khoát không những bị gạt bỏ khỏi sự đa dạng cảm tính, mà còn đứng đối lập gay gắt với sự đa dạng đó Nhưng điều đó, một mặt, cho phép Platôn khái quát lại phép biện chứng dưới dạng “thuần tuý”, phổ biến

Trang 5

Mặt khác, - phá tan sự thống nhất thiếu phân tích, đầy ngây thơ của vũ trụ vốn

đã được các nhà triết học tự nhiên phỏng đoán và diễn đạt Tư tưởng biện chứng của Platôn luôn hướng về nhiệm vụ kép đó: cái Duy nhất, tức Ý niệm thế giới và cái Đa, tức bản thân thế giới, tương quan với nhau thế nào Sự hiểu biết của ông về vấn đề này trải qua hai giai đoạn

2 Phép biện chứng như là lôgíc học trong học thuyết “sơ kỳ” về ý niệm

Trước hết ở Platôn vẫn còn cách hiểu phép biện chứng như là nghệ thuật dẫn dắt tranh luận, đối thoại Nhà biện chứng là người “biết đặt câu hỏi

và trả lời” Về thực chất, ở đây Platôn chưa đi xa hơn Xôcrat và không tạo ra

lý thuyết mới về đối thoại Thế nhưng thực tiễn đối thoại ở ông lại phong phú hơn gấp bội Các hội thoại của Platôn đã đi vào lịch sử văn hoá thế giới như là những tượng đài không chỉ của lập luận triết học, mà còn như những tác phẩm văn học kiệt xuất Cách hiểu thứ hai về phép biện chứng vốn có ở các hội thoại của tất cả các thời kỳ sáng tạo của Platôn là hiểu nó như nghệ thuật suy nghĩ Vả lại nghệ thuật đó không nên hiểu như “suy nghĩ” trong các khoa học

cụ thể Platôn so sánh chúng với những người thợ săn bắt thú rừng hoặc ngư dân đánh cá tôm về giao cho các đầu bếp Nhà biện chứng được ví chính như

là người đầu bếp, còn phép biện chứng thể hiện là nghệ thuật áp dụng các kết quả khoa học sẵn có nhằm nhận thức lý luận về đối tượng Vì thế theo nghĩa này phép biện chứng là sự nghiên cứu riêng triết học, nó đối lập với tri thức

dữ kiện và ý kiến, nó là “cái nhìn trí tuệ” khác với tri thức riêng lẻ về các sự vật riêng rẽ Theo Platôn, có hai loại tư duy biện chứng Trong Phedrơ (255de) ông viết rằng, loại thứ nhất – “khả năng bằng cái nhìn chung dẫn đến

ý niệm duy nhất về cái vốn bị phân tán khắp nơi để định nghĩa cho từng thứ, làm cho đối tượng trở nên rõ ràng… loại thứ hai, ngược lại, là khả năng phân chia tất cả ra thành các chủng, ra các bộ phận tự nhiên cấu thành, trong khi vẫn cố không đập vỡ cái nào trong số chúng…” Đó cũng chính là các thao tác “kết hợp” và “phân chia” nổi tiếng của Platôn

Trang 6

Vậy thì theo nghĩa hiện đại một khía cạnh của phép biện chứng ở ông chính là

lôgic học thực hiện các việc “quy giản” và “phân chia” khái niệm Nó mang lại cho con người khả năng nắm bắt đối tượng bằng một quan niệm chung, quy cái bị phân tán về một ý niệm thống nhất để đem lại quy định cho mỗi sự vật và làm cho đối tượng được xem xét trở nên rõ ràng hơn ở các dạng tồn tại khác nhau với sự đa dạng các bộ phận cấu thành Với những chức năng

đó, phép biện chứng được Platôn xây dựng là phương pháp kết hợp và phân chia khái niệm Nhưng đây đã lại là lập trường bản thể luận mới Hoá ra tương tác với nhau không chỉ có các sự vật cảm tính, mà chính các ý niệm cũng tương tác Các hội thoại Philebos, Nguỵ biện và Parmenit đều có đề cập đến sự tương tác hay giao tiếp của chúng Dĩ nhiên, học thuyết “ngây thơ” về

ý niệm - bản chất vĩnh cửu và bất động – đã không thể giữ vai trò là định hướng lý luận cơ bản của chúng được nữa

3 Phép biện chứng với việc khắc phục học thuyết “sơ kỳ - ngây thơ” về ý niệm

Có thể nói rằng, hai hội thoại cuối trong số ba nêu trên chứa đựng sự phê phán đến tận cùng quan điểm sơ kỳ về ý niệm, - gay gắt đến mức khiến người ta nghi ngờ về tác quyền của Parmenit - liệu có phải nó do người phản biện vĩ đại học thuyết ý niệm là Arixtôt viết ra hay không Tuy nhiên, có thể cho rằng, đúng hơn đó là sự “tự phê bình” của Platôn vốn đã ý thức được những khó khăn mà phương án đầu tiên của học thuyết ý niệm dẫn đến Hẳn

là, Platôn viết những hội thoại đó, trong khi đã biết những kết luận cực đoan vốn đã được trường phái Mega rút ra từ chủ nghĩa duy tâm Xôcrat, trong đó thế giới hiện thực hoàn toàn biến mất đằng sau “tính hiện thực” của các khái niệm chung Ở Platôn không có chuyện “thủ tiêu” cả thế giới cảm tính, lẫn nhị nguyên luận cản trở mọi lý trí nhất quán, mà có nghĩa là cần phải xét lại lập trường xuất phát Tuy nhiên, phỏng đoán thiên tài về quy luật khách quan

mà Heraclít thể hiện trong phép biện chứng của logos lại có những lợi thế mà

Trang 7

Platôn chưa để ý tới Dường như lúc đầu Platôn đã nhất trí với Hêraclít, cho rằng mọi cái thiện trong thế giới đều được hình thành từ những mặt đối lập Chúng chuyển hóa lẫn nhau ví như cái đẹp và cái xấu, công bằng và bất công, hay hàng nghìn mặt đối lập khác Sự chuyển hóa như vậy diễn ra ở khắp mọi nơi Quan hệ về lượng cũng vậy, ví dụ khi một cái gì đó trở nên to hơn, thì điều đó tất yếu rằng lúc đầu nó đã là nhỏ, Platôn dẫn ra vô số các ví dụ về sự chuyển biến của các mặt đối lập này thành mặt đối lập khác và dẫn ra một kết luận mang tính khái quát: cái đối lập xuất hiện từ cái đối lập Tuy nhiên theo ông kết luận luận đó chỉ đúng với thế giới các sự vật cảm tính Trong khi chống lại phép biện chứng của Hêraclít, Platôn còn đưa ra luận điểm khẳng định Phép biện chứng của tồn tại và không tồn tại trong Nguỵ biện (236c – 259c) được đưa đến chỗ, tồn tại tất yếu đòi hỏi không tồn tại, sao cho tồn tại

và không tồn tại, chân lý và giả dối ở nghĩa nào đó phải tương thích với nhau

Từ đây rút ra cả điều này nữa: tồn tại như là thứ không đổi và bất động là không thể nhận thức “Nếu nhận thức – có nghĩa là phải tác động thế nào đó, thì đối tượng nhận thức, ngược lại, tất yếu chịu sự tác động Như vậy, theo lập luận này, tồn tại nhận thức được bằng nhận thức, chừng nào còn nhận thức được, thì chừng đó còn phải nằm trong sự vận động do phải chịu đựng sự tác động vốn, như đã nói ở trên, không thể xuất hiện ở thứ đứng yên

Như vậy đã xuất hiện ba phạm trù cơ bản: tồn tại (và không tồn tại), vận động và đứng yên Sau đó hai phạm trù được bổ sung thêm vào là đồng nhất và khác biệt Chúng đồng nhất và đồng thời cũng khác nhau Chẳng hạn, vận động và đứng yên không chỉ không điều hoà và đối lập nhau mà còn cùng tuân thủ khái niệm tồn tại chung hơn, bởi vì chúng đều tồn tại Đồng nhất và khác biệt đến lượt mình là không điều hoà, nhưng lại điều hoà với tồn tại, với vận động và đứng yên, trong khi phục tùng chúng Trong khi hoà quyện với tồn tại, vận động trùng với nó, nhưng vẫn là khác biệt với nó; cũng chính là như vậy với đứng yên

Trang 8

Từ điều đã nói ở trên rõ ra là, tính linh động và biến hoá của các phạm trù cơ bản của triết học Platôn đòi hỏi phép biện chứng “… Tồn tại cái duy nhất hay không tồn tại, và cả nó, và cái khác, hoá ra là, đối với chính mình và đối với nhau hoàn toàn và nhất thiết tồn tại và không tồn tại, là và không là” [Parmenit 166c] Đây là chỗ thể hiện nguyên tắc cơ bản của phép biện chứng: các mặt đối lập đồng nhất với nhau, và sự nghiên cứu khái niệm bất kỳ được lấy tự thân hay trong quan hệ với các khái niệm khác, đều dẫn tới chỗ là mỗi một trong số chúng đều chuyển thành mặt đối lập của mình Tuy nhiên, sự đồng nhất đó không loại trừ những khác biệt, khác đi thì thay vì phép biện chứng ta sẽ nhận được phép nguỵ biện Quá trình phát triển của khái niệm không phải là bước chuyển tuỳ ý từ một định nghĩa này sang định nghĩa bất

kỳ khác Sự phân tích cẩn thận việc, những khái niệm nào và bằng cách nào điều hoà được với nhau, còn những khái niệm nào không điều hoà được tiến hành trong các hội thoại đang xét, cho phép nói rằng, từng trong số các mặt đối lập loại trừ nhau tất yếu đều giả định “cái khác của mình” Tồn tại ngầm giả định không tồn tại, cái một – cái nhiều, vận động đứng yên, khác biệt -đồng nhất

Ý niệm của Platôn – đó chính là tồn tại của Parmenit Platôn muốn làm cho tồn tại đó thành thống trị trên cái đặc thù và cái đơn nhất, muốn chỉ ra chúng thấm đẫm ý niệm và ý niệm đã sản sinh ra chúng như thế nào Nhưng ông còn xa mới trình bày được hoạt động của cái phổ biến như là tự hoạt động, và phải nghiêng về tính hướng đích bên ngoài Ông đã đưa thêm vào phép biện chứng khách quan của Hêraclit phép biện chứng của trường phái Ele vốn là hoạt động của chủ thể phát hiện ra các mâu thuẫn Kết quả là tính biến đổi nội tại và sự năng động của chính các sự vật, của “tự nhiên” đã bị thay thế bằng bước chuyển trong các ý niệm của chúng, trong bản chất khác biệt với tồn tại Tư duy vốn đã được Xôcrat làm thành phương tiện hoàn thiện luân lý và đạt tới các nguyên tắc đạo đức, thì Paltôn lại coi là tư duy khách quan của các ý niệm vừa như là tư tưởng phổ biến, vừa như là cái hiện tồn

Trang 9

Nhưng như thế thì Phúc và đời sống luân lý của con người hoá ra là không cùng nhau

Như vậy, triết học Platôn một mặt là sự hoàn thành triết học Xôcrát, mặt khác là sự mở rộng vượt qua nó Cũng như Xôcrát trong nghiên cứu triết học ông đã quan tâm đến đời sống đạo đức và trí thức – vì theo ông hành động đúng không thể tách rời trí thức đúng, triết học không thể tách rời với đạo đức và tôn giáo, vì tất cả là một Platôn là nhà triết học đầu tiên không chỉ biết sử dụng các lý thuyết triết học, mà ông còn có ý thức về việc hoàn thiện các nguyên tắc ấy bằng chính phương tiện của chúng, và cột chặt chúng lại với nhau trong một nguyên tắc cao hơn Trong triết học Platôn chúng ta cũng nhận ra sự đào sâu, thanh lọc và phát triển triết học Xôcrat Từ nguyên lý tri thức khái niệm, ông đã làm nảy sinh như là kết quả trực tiếp của nó, phương pháp biện chứng mà Xôcrat được coi là tác giả Nhưng trong khi Xôcrat bằng lòng với việc triển khai khái niệm này từ việc thuần túy xem xét các mặt của

nó, thì Platôn đã đi xa hơn đòi hỏi phải rút ra khoa học về khái niệm bằng việc phân loại chúng trong hệ thống, trong việc hình thành các khái niệm; trong khi Xôcrat bắt đầu từ các yếu tố ngẫu nhiên của một trường hợp cụ thể, thì Platôn đòi hỏi tư tưởng phát sinh qua sự phân tích liên tục từ cái có điều kiện tới cái vô điều kiện, từ hiện tượng tới ý niệm, từ các ý niệm đặc thù tới các ý niệm phổ quát nhất Vì thế Platôn không chỉ tổng kết các học thuyết trước đó theo cách là chúng không biến mất do việc ông phủ nhận chúng, mà vẫn còn được lưu giữ trong triết học của ông Ông đã kiến tạo một thứ mới và đặc sắc – hình thức đầu tiên của phép biện

chứng duy tâm Platôn không chỉ là sự kết thúc và kết quả của sự hình thành phép biện chứng cổ đại, mà còn, có thể, trước hết là sự phủ định nó Platôn - điểm cuối cùng của sự hình thành phép biện chứng cổ đại Từ ông sẽ bắt đầu sự phát triển toàn diện và tự giác của nó Nhưng đó là chương mới trong lịch sử phép biện chứng, đề tài và đối tượng của những nghiên cứu

Trang 10

khác, mới hơn Còn chúng ta sẽ tiếp tục lý giải những tư tưởng biện chứng của Platôn trên nền chủ nghĩa duy tâm khách quan của ông

4 Mối liên hệ giữa chủ nghĩa duy tâm khách quan với tư tưởng biện chứng ở Platôn

Khi nghiên cứu Platôn, ta tìm thấy ở các chỗ khác nhau những xu hướng quan niệm về các ý niệm dưới dạng những bản chất trừu tượng của các

sự vật cô lập với chính các sự vật và có vị trí của mình ở đâu đó “trên trời” hoặc “ngoài thiên thể” Arixtôt ở đây hoàn toàn đúng: bản chất của sự vật không thể nằm ngoài sự vật Còn nhìn chung, Platôn có rất nhiều lập luận phủ nhận sự cô lập như thế của các ý niệm và đòi hỏi kiến giải các ý niệm như là những nguyên tắc vận động của chính các sự vật Toàn bộ Timei của Platôn là

lý luận về vũ trụ được điều khiển bởi các ý niệm và linh hồn, mà dĩ nhiên, vốn

có sự tồn tại riêng, nhưng đồng thời cũng len lỏi vào toàn bộ vũ trụ từ đầu đến cuối Trong hội thoại Ngụy biện Platôn chỉ rõ: “cái khó khăn và cái chân lý là

ở chỗ vạch ra rằng cái gì là cái khác, thì cũng tức là cùng một cái đó, - và cái

gì cùng một cái đó, thì cũng tức là cái khác, và chính là hoàn toàn cùng ở trong một quan hệ” Và như vậy, Platôn bắt đầu sắp đặt những ý niệm vốn dĩ được suy nghĩ không thể bác bỏ, rõ ràng và rất biện chứng lên trời và hầu như coi chúng là bản chất thần thánh nào đó Hơn thế nữa, trong khi đề cao các ý niệm của mình đến mức trên trời như thế, Platôn lại thường quên chính những

sự vật mà để nhận thức chúng ông mới nghĩ ra thuật ngữ “ý niệm” Học thuyết Platôn về cơ sở (Hypothesis), về phương pháp và quy luật không có bất

kỳ gì đặc thù là duy tâm và cũng không có gì là thần bí Tuy nhiên, hẳn là, chúng ta có thể diễn đạt ngắn gọn toàn bộ học thuyết Platôn là “học thuyết ý niệm như là học thuyết về mô hình sản sinh” Ý niệm sự vật là mô hình lý tưởng, hay cấu trúc sự vật, còn khởi đầu vô điều kiện là mô hình cho chính ý niệm

Ngày đăng: 19/08/2018, 15:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w