1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Tiểu luận cao học triết những tư tưởng cơ bản trong học thuyết kiêm ái của mặc tử ý nghĩa trong xây dựng con người mới ở việt nam hiện nay

17 443 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 122,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. MỞ ĐẦUTrung Quốc cổ đại là một trong những quốc gia có nền văn minh hình thành sớm nhất và rực rỡ nhất trên thế giới. Theo tiến trình phát triển của lịch sử, Trung Hoa đã để lại nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực khác nhau, trong đó có triết học. Có thể nói, lịch sử triết học cổ đại Trung Quốc đã lưu truyền cho kho tàng tri thức của nhân loại nhiều học thuyết giá trị. Học thuyết “Kiêm ái” của Mặc Tử là một trong những học thuyết điển hình mang tính chính trị xã hội lớn ở Trung Quốc thời kỳ Xuân thu chiến quốc. Đó là thời kỳ lịch sử đánh dấu sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ chuyển sang chế độ phong kiến, mâu thuẫn xã hội sâu sắc, nội chiến kéo dài làm đời sống nhân dân cực khổ.Là một quốc gia láng giềng của Trung Quốc, Việt Nam chịu ảnh hưởng không nhỏ của những tư tưởng triết học Trung Quốc, trong đó có việc hình thành, xây dựng con người. Đặc biệt là trong giai đoạn đổi mới, đất nước ta đang nỗ lực sánh vai cùng bạn bè năm châu về mọi mặt thì vấn đề xây dựng con người mới được đặc biệt chú trọng. Nó đòi hỏi phải dựa trên những nền tảng tư tưởng truyền thống như Nho gia, Mặc gia, đạo Phật… Ở mỗi học thuyết, tôn giáo chúng ta đều cần chọn lọc những giá trị đạo đức tốt đẹp, phù hợp với cuộc sống của con người. Trong 10 nội dung lớn của Học thuyết Mặc Gia (bao gồm: Thượng Hiền, Thượng Đồng, Tiết dụng, Tiết táng, Phi lạc, Phi mệnh, Thiên chí, Minh quỹ, Kiêm ái, Phi công), học thuyết “Kiêm ái” đề cập đến tư tưởng của Mặc Tử về tình yêu thương đồng cùng với người dân trong thời buổi loạn lạc. Do vậy nó mang tư tưởng nhằm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đưa xã hội đi lên xuất phát từ tình yêu thương giữa con người với con người. Với lý do này tôi lựa chọn đề tài tiểu luận: “Những tư tưởng cơ bản trong học thuyết Kiêm ái của Mặc Tử Ý nghĩa trong xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay”.Tiểu luận gồm các phần chính:Phần 1: Mặc Tử và hoàn cảnh ra đời của học thuyết “Kiêm ái”. Phần 2: Những tư tưởng cơ bản trong học thuyết “Kiêm ái” của Mặc TửPhần 3: Ý nghĩa của tư tưởng “Kiêm ái” đối với việc xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay.

Trang 1

A MỞ ĐẦU

Trung Quốc cổ đại là một trong những quốc gia có nền văn minh hình thành sớm nhất và rực rỡ nhất trên thế giới Theo tiến trình phát triển của lịch

sử, Trung Hoa đã để lại nhiều thành tựu quan trọng trên các lĩnh vực khác nhau, trong đó có triết học

Có thể nói, lịch sử triết học cổ đại Trung Quốc đã lưu truyền cho kho tàng tri thức của nhân loại nhiều học thuyết giá trị Học thuyết “Kiêm ái” của Mặc Tử là một trong những học thuyết điển hình mang tính chính trị xã hội lớn ở Trung Quốc thời kỳ Xuân thu chiến quốc Đó là thời kỳ lịch sử đánh dấu sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ chuyển sang chế độ phong kiến, mâu thuẫn xã hội sâu sắc, nội chiến kéo dài làm đời sống nhân dân cực khổ

Là một quốc gia láng giềng của Trung Quốc, Việt Nam chịu ảnh hưởng không nhỏ của những tư tưởng triết học Trung Quốc, trong đó có việc hình thành, xây dựng con người Đặc biệt là trong giai đoạn đổi mới, đất nước ta đang nỗ lực sánh vai cùng bạn bè năm châu về mọi mặt thì vấn đề xây dựng con người mới được đặc biệt chú trọng Nó đòi hỏi phải dựa trên những nền tảng tư tưởng truyền thống như Nho gia, Mặc gia, đạo Phật… Ở mỗi học thuyết, tôn giáo chúng ta đều cần chọn lọc những giá trị đạo đức tốt đẹp, phù hợp với cuộc sống của con người Trong 10 nội dung lớn của Học thuyết Mặc Gia (bao gồm: Thượng Hiền, Thượng Đồng, Tiết dụng, Tiết táng, Phi lạc, Phi mệnh, Thiên chí, Minh quỹ, Kiêm ái, Phi công), học thuyết “Kiêm ái” đề cập đến tư tưởng của Mặc Tử về tình yêu thương đồng cùng với người dân trong thời buổi loạn lạc Do vậy nó mang tư tưởng nhằm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đưa xã hội đi lên xuất phát từ tình yêu thương giữa con người với

con người Với lý do này tôi lựa chọn đề tài tiểu luận: “Những tư tưởng cơ bản trong học thuyết " Kiêm ái" của Mặc Tử - Ý nghĩa trong xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay”.

Tiểu luận gồm các phần chính:

Phần 1: Mặc Tử và hoàn cảnh ra đời của học thuyết “Kiêm ái”

Phần 2: Những tư tưởng cơ bản trong học thuyết “Kiêm ái” của Mặc Tử Phần 3: Ý nghĩa của tư tưởng “Kiêm ái” đối với việc xây dựng con người mới ở Việt Nam hiện nay

Trang 2

B NỘI DUNG CHÍNH

I MẶC TỬ VÀ HOÀN CẢNH RA ĐỜI CỦA HỌC THUYẾT

“KIÊM ÁI”

1 Thân thế, sự nghiệp của Mặc Tử

Trong lịch sử tư tưởng triết học Trung Hoa cổ đại vào cuối thời Xuân Thu - Chiến Quốc đã xuất hiện một trường phái triết học lớn, cùng với Nho gia, Đạo gia cùng thống trị đời sống tinh thần nhân dân thời kỳ này, đó là trường phái triết học Mặc gia Người sáng lập ra trường phái triết học Mặc gia

với học thuyết “ Kiêm ái” nổi tiếng được coi là “kẻ thù” của Khổng giáo, đó

là Mặc Địch, hiệu xưng Mặc Tử Tư tưởng của Mặc Gia là kiêm ái Chủ trương của kiêm ái là "Thiên hạ giai bạch, duy ngã độc hắc, phi công mặc môn, kiêm ái bình sinh" (có nghĩa: Thiên hạ đều mê, chỉ mình ta tỏ, mặc môn chủ trương không dùng vũ lực, cả đời yêu thương con người). Học thuyết này

được bảo vệ và phát triển bởi các triết gia hậu Mặc vào thế kỷ thứ IV - III trước công nguyên, với tư tưởng nổi bật nhất về lôgic và nhận thức luận trên

cơ sở duy vật của họ

Cuộc đời và sự nghiệp của Mặc Tử có nhiều cách xác định khác nhau, tuy nhiên đều cho rằng Mặc Tử sinh vào khoảng giữa thời Khổng Tử và Mạnh Tử, hay vào khoảng giao thời giữa Xuân Thu và Chiến Quốc (khoảng

478 - 392 trước CN) Mặc Tử ừng làm thợ đóng xe, sau được thăng lên giới

“sĩ”, cũng có lúc làm quan Ðại phu Thuở còn trẻ ông từng theo học Nho gia, sau đó bỏ Nho rồi đề xướng Mặc học, đối đầu gay gắt với Nho học Các đệ tử của Mặc Tử phần lớn xuất thân từ hạ tầng xã hội, toàn những người khắc khổ

và gan dạ, cùng theo ông sinh hoạt thành đoàn thể hơn một trăm người Họ chủ trương sống tự túc bằng lao động và cho rằng “không lao động mà hưởng thụ là bất nhân phi nghĩa” Về sau, các đệ tử ghi lại lời của thầy làm thành bộ Mặc Tử gồm 71 thiên Mặc Tử là người sáng lập Mặc gia - một trong sáu hệ phái triết học lớn của Trung Hoa cổ đại, nổi sáng ở thời Chiến Quốc, sang đến đời Hán thì chấm dứt, nhưng đến cuối đời Minh, đầu đời Thanh lại được phục

Trang 3

hưng Ông là người thuộc tầng lớp bình dân, sản xuất nhỏ Từ chỗ cảm thông

và lo âu với lớp dân nghèo khốn khổ, ông chủ trương theo Hạ Lễ, kêu gọi thực hành thuyết “kiêm ái”, xem đó là phương sách cứu cánh xã hội Trung Hoa thời Xuân Thu - Chiến Quốc từ hỗn loạn, suy vong đến thái bình thịnh trị Thuyết “Kiêm ái”- chủ thuyết đạo đức cơ bản của Mặc Tử, với tư tưởng chủ đạo là khởi xướng và xây dựng tình yêu thương con người, tình đồng loại, hàm chứa những giá trị nhân bản sâu sắc, quyện bền vào tâm thức của con người từ nhiều thế hệ

Mặc Tử kịch liệt phê phán những nội hàm đạo đức và xã hội trong tư tưởng của Khổng Tử, dựa trên cơ sở rằng Khổng Tử khích lệ mối quan tâm cá biệt cho gia đình, thân tộc của mỗi người, gây nhiều thương tổn cho cảm giác phổ quát của loài người về thiện chí Mặc Tử tuyên bố rằng lòng trung thành

ưu tiên cho gia tộc - thân thân: thân yêu người thân - là cội rễ của cái ác Ông tìm cách thay thế nó bằng quan điểm xã hội hòa hợp dựa trên “kiêm ái: yêu hết thảy mọi người”, một học thuyết làm nảy sinh cảm giác thiết thực về phúc lợi của toàn thể xã hội

Là một tư tưởng gia vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc, Mặc Tử cũng

có chủ trương tư tưởng chính thể, thể hiện phân tán ở các thiên: Kiêm ái (yêu tất cả mọi người), Thượng hiền (coi trọng người hiền), Phi công (phản đối chiến tranh), Phi nhạc (phản đối âm nhạc thái quá), Tiết dụng (tiết kiệm trong tiêu dùng), Tiết táng (tiết kiệm trong lễ tang), Thiện chí (bàn về chí của trời), Minh quỷ (làm rõ lễ thờ quỷ thần) chỉ rõ tính cách của giai cấp tiểu sinh sản

vì vậy mà Mặc Tử trở thành nhà đại biểu tư tưởng và phát ngôn viên cho tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội Tập sách về “Mặc Tử” ngày nay thể hiện

tư tưởng triết học của ông đi theo một dòng phái triết học đồng nhất, đồng thời biểu hiện thành một hình thái ý thức giai cấp xã hội đồng nhất

Thế giới quan của Mặc Tử cơ bản là duy tâm và hữu thần Song Mặc

Tử đã bài bác lại học thuyết “thiên mệnh” và mọi người đều có quyền lợi như nhau đối với việc thờ cúng quỷ thần, bình đẳng trước quyền lợi về tín ngưỡng

Trang 4

tôn giáo, đó là sự phản ánh nhu cầu đòi quyền bình đẳng xã hội của giai tầng

mà ông đại diện

Bên cạnh đó, thời Mặc Tử sống, Lão giáo được phát triển rất mạnh Do vậy quan điểm của Mặc Tử không chỉ đối lập với Nho gia mà còn đối lập với

tư tưởng tự nhiên chủ nghĩa, “vô vi” phóng túng của Đạo gia Tư tưởng trung tâm của Mặc Tử là “kiêm ái” như một công cụ hữu hiệu nhất để chống lại đạo đức Nho gia

2 Hoàn cảnh ra đời của học thuyết “Kiêm ái”

2.1 Về kinh tế - xã hội

Năm 771 trước công nguyên Chu Bình Vương lên ngôi đưa xã hội Trung Quốc bước vào thời kỳ đặc biệt, đó là thời kỳ Xuân Thu Ở thời kỳ này, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời đại đồ sắt Tiền tệ đã xuất hiện, trong xã hội hình thành một tầng lớp thương nhân giàu

có và ngày càng có thế lực gây nhiều ảnh hưởng đối với chính trị đương thời Chính việc xuất hiện tầng lớp này đã tạo ra sự thay đổi trong cơ cấu giai cấp

xã hội, dần dần xuất hiện một loại quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìm cách tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ

2.2 Về chính trị

Ở thời kỳ này tầng lớp quý tộc tăng cường bóc lột nhân dân lao động.

Người dân ngoài việc phải tham gia các chiến trận chinh phạt của các lãnh chúa còn phải chịu sưu thuế, phu phe và lao dịch nặng nề Cùng với đó là

gánh nặng của thiên tai và nạn trộm cướp hoành hành khắp nơi làm cho đời

sống nhân dân ngày càng thêm cực khổ Dân lưu vong đầy rẫy, ruộng đồng

thì bị bỏ hoang Trong nước xuất hiện những trung tâm, tụ điểm mà ở đó “kẻ

sĩ bàn ngang” hay “bàn việc nước Hầu hết họ đều đứng trên lập trường giai cấp mình mà phê phán trật tự xã hội cũ, xây dựng xã hội tương lai và tranh luận, phê phán, đả kích lẫn nhau Lịch sử gọi thời kỳ này là thời kỳ “bách gia chư tử” (trăm nhà trăm thầy), “bách gia tranh minh” (trăm nhà đua tiếng) Học thuyết triết học “kiêm ái” của Mặc Tử đã ra đời trong hoàn cảnh này, nó

Trang 5

phản ánh một phần những tư tưởng, tình cảnh và những yêu cầu của tầng lớp nông dân bị bóc lột, thống trị nặng nề trong xã hội

II NHỮNG TƯ TƯỞNG CƠ BẢN TRONG HỌC THUYẾT

“KIÊM ÁI” CỦA MẶC TỬ

1 Quan điểm chính trị xã hội

Quan niệm của Mặc Tử cho rằng muốn cho thế giời hòa bình và nhân dân khang lạc thì chúng ta không những cần có thượng đế trên trời mà còn cần có thượng đế ở trần gian Ông phê phán kịch liệt những nội hàm đạo đức

và xã hội trong tư tưởng của Khổng Tử, dựa trên cơ sở rằng Khổng Tử khích

lệ mối quan tâm cá biệt cho gia đình, thân tộc của mỗi người, gây nhiều thương tổn cho cảm giác phổ quát của loài người về thiện chí Mặc Tử tuyên

bố rằng lòng trung thành ưu tiên cho gia tộc - thân nhân, thân yêu người thân

- là cội rễ của cái ác Ông tìm cách thay thế nó bằng quan điểm xã hội hòa hợp dựa trên kiêm ái (yêu hết thảy mọi người), một học thuyết làm nảy sinh cảm giác thiết thực về phúc lợi của toàn thể xã hội

Khác với Khổng Tử kỳ vọng người dân sống thuận theo tôn ti trật tự của xã hội, thì Mặc Tử muốn họ tránh hết những thứ đó vì chúng gây bất lợi cho người khác, và ông đề ra một hình thức nhân ái khác với Khổng Tử Khổng Tử dạy rằng “Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân: Ðiều gì mình không muốn

ai làm cho mình thì mình đừng làm cho ai”, còn Mặc Tử dạy rằng “Ái nhân nhược ái kỳ thân: yêu người như yêu thân mình”, và “Vi bỉ do vi kỷ dã: Vì người khác cũng như vì mình” Ông cổ vũ con người nên hành động để tạo phúc lợi cho xã hội như một toàn bộ và rằng điều đó có hàm ý mọi người nên giúp đỡ nhau trong tinh thần vô phân biệt

Về chính trị, Mặc Tử tin rằng chỉ nên đề cử vào vai trò cai trị những kẻ biết và hiểu rõ người dân thường Về mặt thực tiễn, Mặc Tử chủ trương lối sống tiết kiệm, thanh đạm, gần như khắc khổ; ông đặc biệt phê phán việc hoang phí tài nguyên cho các nghi lễ ma chay tống táng Ðáp lại chủ trương

ấy, Nho gia tuyên bố rằng nếu không có quốc chủ và không có phụ mẫu tức là

Trang 6

loài người trở lại như chim muông thuở hồng hoang, và rằng ta phải yêu thương kẻ ở sát bên ta trước khi có thể phát triển tình yêu thương đó tới những kẻ ở quá xa ta

Trên bình diện triết học chính trị, Mặc Tử đã đưa vào một số nguyên tắc quan trọng nhằm tạo thế cân bằng giữa hai cực đoan gây ra bởi Nho giáo truyền thống chủ nghĩa và Ðạo giáo cá nhân chủ nghĩa Ở đây, Mặc Tử thiết lập cơ sở cho thể chế dân chủ, kinh tế thị trường tự do và chủ nghĩa thiết thực Ðặc điểm cốt lõi trong tư duy của Mặc Tử là niềm tin rằng người dân thật sự hiểu rõ cái gì tối ưu cho họ, và ta không cần phải nhờ vào truyền thống mới

có thể phát hiện những gì được dân chúng chấp nhận công khai

2 Nội dung học Thuyết “Kiêm ái”

2.1 “Kiêm ái” là yêu thương tất cả mọi người không phân biệt đẳng cấp, sang hèn

Có thể hiểu về “Kiêm ái” trong học thuyết của Mặc Tử: “Ái” là “nhân”,

“kiêm” là “nghĩa”, “kiêm ái” là “nhân nghĩa” Cho nên khi thực hiện được cái đức căn bản ấy sẽ làm cho đạo đức luân lý xã hội trở nên tốt đẹp và người ta

có thể đạt được tất cả những phẩm chất đạo đức khác như huệ, trung, từ, hiếu, kính đễ…, người người no đủ, nhà nhà hạnh phúc, quốc gia yên lành, thiên hạ bình trị Tuy nhiên, “kiêm ái” trong quan điểm của Mặc Tử không chỉ là con người yêu thương những người thân với mình, gần với mình, mà nó còn có một bước phát triển cao hơn đó là mọi người trong xã hội đều yêu thương nhau

“Vì sao phải yêu thương nhau? Theo Mặc Tử, căn nguyên của sự chiến tranh hỗn loạn là do không yêu thương nhau, hiềm thù nhau mà ra Ông nói:

“Thử xét loạn ở đâu ra? Ở chỗ không biết yêu nhau mà ra Tôi con không hiếu với vua cha, gọi thế là loạn Con chỉ yêu mình không yêu cha, cho nên mới làm thiệt cha để lợi cho mình, em chỉ yêu mình không yêu anh, cho nên mới làm thiệt anh để lợi cho mình Bề tôi chỉ yêu mình không yêu vua, cho nên mới làm thiệt vua để lợi cho mình, thế gọi là loạn Dẫu đến cha không thương

Trang 7

con, anh không thương em, vua không thương bề tôi, cũng là những điều thiên hạ vẫn gọi là loạn Cha chỉ yêu mình không yêu con, cho nên mới làm thiệt con để lợi cho mình; anh chỉ yêu mình không yêu em, cho nên mới làm thiệt em để lợi cho mình; vua chỉ yêu mình không yêu bề tôi, cho nên mới làm thiệt bề tôi để lợi cho mình Dẫu đến kẻ trộm giặc thiên hạ cũng vậy Kẻ

ăn trộm chỉ yêu nhà mình không yêu nhà khác, cho nên mới ăn trộm nhà khác

để làm lợi cho nhà mình; kẻ làm giặc chỉ yêu thân mình mà không yêu thân người, cho nên mới hại người khác để làm lợi cho thân mình… Dẫu đến các quan đại phu làm loạn nhà nhau, các nước chư hầu đánh lẫn nước nhau cũng vậy Các quan đại phu đều yêu nhà mình không yêu nhà khác, cho nên mới làm loạn nhà khác để làm lợi nhà mình; các nước hầu đều yêu nước mình không yêu nước khác, cho nên mới đánh nước khác để làm lợi cho nước mình Các vật gây loạn cho thiên hạ đều thế thôi”

Vì vậy, để giải cứu cho cảnh hỗn loạn của xã tắc, sự tranh cướp nhau, làm hại nhau, bắt nạt nhau, khinh rẻ, lừa phỉnh nhau thì con người phải từ bỏ cái “biệt”, cấm chỉ thù ghét nhau, khuyến khích yêu thương nhau Ở thiên Kiêm ái thượng, Mặc Tử nói: “Nếu như thiên hạ gồm cùng yêu nhau, ai ai cũng yêu cha anh và vua như yêu thân mình, ghét làm những điều bất hiếu, coi con em và bề tôi như yêu thân mình, ghét làm những điều bất từ, thì sự bất hiếu, bất từ sẽ không còn nữa Còn có trộm giặc nữa chăng? Đã coi nhà người như nhà mình, thì ai ăn trộm? Đã coi thân người như thân mình, thì ai làm giặc? Đã coi nước người như nước mình thì ai đánh nhau? Cho nên cái nạn làm loạn nhà nhau, chư hầu đánh lẫn nước nhau sẽ không còn nữa Nếu như thiên hạ đã gồm yêu nhau, nước nọ với nước kia không đánh lẫn nhau, nhà nọ với nhà kia không làm loạn nhau, trộm giặc không có, vua tôi cha con đều hiếu từ, như thế thì thiên hạ trị Cho nên, thánh nhân làm việc cai trị thiên hạ, không thể không cấm chỉ sự ghét nhau và khuyến khích sự yêu nhau”

Trang 8

2.2 Mối quan hệ giữa “kiêm” với “lợi”

Theo Mặc Tử, tiêu chí để xem xét xã hội có thực sự “kiêm ái” hay

không phải dựa trên “lợi” “Kiêm ái” là cái quyết định bộ mặt đạo đức của xã hội, vậy nó là “lợi” Và “lợi” phải luôn được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với “nhân” và “nghĩa” Nếu như ở Nho gia của Khổng Tử, “lợi” là cái gì đó hoàn toàn đối lập với “nhân”, “nghĩa” thì ở Mặc Tử “lợi” lại gắn bó không tách rời với hai phạm trù này Về “nhân”, Mặc Tử nói “người nhân làm việc

gì cũng mang lấy cái lợi, trừ cái hại cho thiên hạ Về “nghĩa”, Mặc Tử nói thiên hạ có lợi thì thịnh trị, có lợi là có nghĩa, vô nghĩa thì xã hội sẽ loạn Do vậy “lợi” luôn được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với thiên hạ Ông cho rằng kiêm ái là cái đạo của thánh nhân, bậc quân vương, đại phu nhờ nó mà yên ổn, đời sống nhân dân nhờ nó mà no đủ Thi hành nó thì vua chúa ắt có lòng huệ, bề tôi ắt có lòng trung, cha mẹ ắt có lòng từ, con ắt có lòng hiếu, anh ắt có lòng thương em, em ắt có lòng kính anh… Kiêm ái là đạo của thánh nhân mà là cái lợi của muôn dân

Sự yêu thương nhau sẽ loại trừ tai họa cho thiên hạ Ví như kẻ sĩ thực hành “Kiêm ái” trở thành cao sĩ trong thiên hạ là “vì thân bạn như thân mình”,

họ “thấy bạn đói thì cho ăn, rét thì cho mặc, ốm đau thì thăm nuôi, chết thì chôn cất” Hoặc, vua thực hành kiêm ái “trước phải vì thân muôn dân, sau mới vì đến thân mình… là bậc minh quân trong thiên hạ Thực hành “Kiêm ái” còn làm cho “những người già nua không vợ con, có kẻ hầu nuôi cho trọn tuổi thọ, những kẻ nhỏ yếu mồ côi không cha mẹ, có chỗ nương tựa cho lớn cái thân”… “Kiêm ái” mang lại cái lợi cho người thực hành nó và cho người khác, cho xã hội, đó là công lợi – “làm lợi cho hết thảy mọi người như nhau”

và cuối cùng, cái lợi lớn nhất là quốc thái dân an, thiên hạ thái bình thịnh vượng “Kiêm ái” phải vì công lợi và công lợi chính là tiêu chí để xét xã hội

có thực sự “Kiêm ái” hay không Đó chính là chủ trương dùng “kiêm tương

ái, giao tương lợi” thay thế cho “biệt tương ố, giao tương tặc” của Mặc Tử

Trang 9

Yêu thương, làm lợi cho cả thiên hạ lý tưởng mà “Kiêm ái” vạch ra -quả là có ý nghĩa và công dụng to lớn, nhưng liệu nó có thực hành được chăng trong cái xã hội tranh đoạt khốc liệt từng ngày “đánh nhau giành đất thây chết đầy đất, đánh nhau giành thành thây chất đầy thành” thời đó? Mặc

Tử biện thuyết rằng: Nâng núi Thái Sơn vượt Hoàng Hà, Tế Thủy phải mất bao nhiêu là sức lực! Xưa nay chưa ai làm nổi! Việc yêu thương giúp đỡ lẫn nhau hoàn toàn khác cái đó Tứ vị thánh nhân xưa như Hạ Vũ, Thang Thương, Chu Văn Vương, Chu Vũ Vương đều đã từng làm, cho nên yêu thương giúp đỡ lẫn nhau không phải là không làm được Ví như vua Vũ nhà

Hạ tự thân cầm sọt, cuốc, dẫn dân chúng đi chống lũ, khơi thông sông ngòi, nối liền các sông ngòi Ông đã vượt trăm sông nghìn núi, mưa gió dầm dề, gió thổi dựng tóc, đi đến mức teo hết các cơ đùi, lông chân trơ trụi hết Hoặc như Thang vương khấn cầu Thượng đế miễn trừ tai họa cho chúng sinh, xin nhận hết tội lỗi về thân mình…

Theo Mặc Tử, thực hành “Kiêm ái” không có gì khó cả, vấn đề là ở chỗ các bậc bề trên, bậc quân vương có muốn làm hay không Ông nói: “Ngay cả đánh nhau giành thành, tự giết mình để giữ danh tiếng, đó là việc làm trăm họ đều cho là khó nhưng khi vua đã muốn thì bề tôi vẫn làm được, huống hồ thương yêu nhau, làm lợi cho nhau chẳng giống đánh thành, giết mình Yêu người thì người yêu lại mình Làm lợi cho người thì người làm lợi cho mình Cái đó đâu có khó Chỉ vì các bậc bề trên không muốn đưa nó thành việc chính sự, kẻ sĩ không muốn đưa nó thành một đức hạnh nên mới không thực hiện được mà thôi” Ở đây, “Kiêm ái” phải trở thành đạo lý trước hết của bậc thánh nhân, vì nó quyết định đến trị hay loạn của thiên hạ Đây là tư tưởng rất

có ý nghĩa của Mặc Tử, thông qua các bậc quân vương, mượn chính trị làm phương tiện để truyền bá và thực hành “Kiêm ái”

2.3 Quan điểm về thiên mệnh quỷ thần

Về tri thức luận, Mặc Tử là người duy nghiệm chủ nghĩa Vì vậy ông còn phê phán Khổng Tử về việc không tin vào quỷ thần, tiêu phí tiền bạc vào

Trang 10

cúng tế và ủng hộ tôn ti trật tự Ông muốn đặt sang một bên cái gọi là tôn trọng cổ truyền và thế giá để bắt đầu nhìn vào xã hội trên căn bản lý trí Ông lập luận rằng vì mọi người đều bình đẳng trong con mắt của trời, do đó chúng

ta nên yêu thương nhau một cách bình đẳng Song lập luận đó về sau cũng chính ông cho là xúc phạm tới toàn bộ cảm xúc nhân tính

Ông nói người dân hiểu rõ cái gì có lợi cho họ và cái gì có hại cho họ

Vì thế, điều chân chính phải làm chính là đáp ứng được cái thiện chung Do

đó, sự thăng tiến của người dân nên đặt cơ sở trên công trạng của họ chứ không nên tùy thuộc vào dòng dõi của họ Và nên lấy các thiện ích chung cùng sự đồng thuận của xã hội về chúng làm nguyên tắc cai trị đất nước

III Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG “KIÊM ÁI” ĐỐI VỚI VIỆC XÂY DỰNG CON NGƯỜI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1 Thực trạng về con người mới ở Việt Nam hiện nay

Trong công cuộc đổi mới ở đất nước ta hiện nay, bên cạnh những thành tựu lớn, mặt trái của nền kinh tế thị trường đang ngày một bộc lộ rộ rõ và ảnh hưởng nghiêm trọng đến mọi mặt đời sống xã hội, gây cản trở sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững cũng như sự hình thành, phát triển các chuẩn mực con người mới xã hội chủ nghĩa Thuyết “Kiêm ái” của Mặc Tử với những giá trị nhất định có thể góp phần vào việc khắc phục mặt trái về con người xã hội mới

Cụ thể, việc đất nước ta chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, nó vừa có tính tích cực, vừa có tính tiêu cực đối với con người mới hiện nay, đặc biệt là về vấn đề đạo đức

1.1 Mặt tích cực

Đối với nền kinh tế thị trường, lợi ích cá nhân, trước hết là lợi ích vật chất của chủ thể kinh tế, không những được thừa nhận cả về mặt pháp luật và đạo đức, mà còn được quan tâm, trở thành động lực trực tiếp, thúc đẩy tính năng động, tích cực xã hội của mỗi cá nhân Cùng với sự tăng trưởng kinh tế,

Ngày đăng: 19/08/2018, 15:40

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w