Văn hóa Việt Nam được hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Nền văn hoá đó là sản phẩm của sự sáng tạo, quy tụ tinh tuý với sức sống trường tồn và bền vững cùng thời gian của bao thế hệ người Việt.Nền văn hóa Việt Nam có rất nhiều loại hình, trong đó lễ hội là loại hình mang tính cộng đồng cao, có sức lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia và trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt. Tìm hiểu về lễ hội là quá trình tìm về cội nguồn, về những nét văn hóa truyền thống, nhằm giữ gìn và phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc; đồng thời, giáo dục truyền thống yêu nước, khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc, giá trị nhân văn và qua đó góp phần củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc.
Trang 1VĂN HÓA LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC VIỆT NAM
Văn hóa Việt Nam được hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Nền văn hoá đó là sản phẩm của sự sáng tạo, quy tụ tinh tuý với sức sống trường tồn và bền vững cùng thời gian của bao thế hệ người Việt.
Nền văn hóa Việt Nam có rất nhiều loại hình, trong đó lễ hội là loại hình mang tính cộng đồng cao, có sức lôi cuốn đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia và trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt
Tìm hiểu về lễ hội là quá trình tìm về cội nguồn, về những nét văn hóa truyền thống, nhằm giữ gìn và phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc; đồng thời, giáo dục truyền thống yêu nước, khát vọng hòa bình, độc lập dân tộc, giá trị nhân văn và qua đó góp phần củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc.
PHẦN MỘT Một số Tết cổ truyền của cộng đồng các dân tộc việt nam
Tết Nguyên đán
Theo cách tính của người Việt (và nhiều dân tộc khác) thì năm cũ kết thúcvào giờ Hợi của ngày cuối cùng năm âm lịch (thường là ngày 30, trường hợptháng thiếu là ngày 29 của tháng Chạp) và năm mới bắt đầu từ giờ Tý củangày mùng 1 tháng Giêng
Để tiễn năm cũ đi, đón năm mới đến, mọi người dân đất Việt đều vuimừng náo nức tổ chức Tết Nguyên đán rất to, không chỉ riêng vật chất màyếu tố tinh thần cũng đặc biệt được coi trọng Trong tâm thức của ngườiViệt, đây là một nghi lễ quan trọng nhất trong chu kỳ một năm, kéo dài trongkhoảng từ 23 tháng Chạp đến mùng 10 tháng Giêng - những ngày cuối thángChạp và đầu tháng Giêng đều được gọi là ngày Tết (như ngày 26 Tết, 27 Tết,mùng 6 Tết, mùng 7 Tết…)
Sắm Tết, chuẩn bị đón Tết là công việc chung của tất cả mọi người, khôngphân biệt già trẻ, trai gái hay giàu nghèo, sang hèn Vì đây là một nghi lễquan trọng, thường xuyên tổ chức theo chu kỳ hàng năm nên nhà nào cũngđều có kế hoạch chuẩn bị rất chu đáo Những ngày trước Tết, không khí rấtnáo nhiệt Chuẩn bị đón Tết không có nghĩa là chỉ chuẩn bị tiền của để muasắm đồ Tết, hàng Tết như bánh chưng, rượu, thịt, hành tỏi, hương hoa, câuđối, hay sửa sang nhà cửa, sắm sửa quần áo mới… mà còn phải làm thế nào
đó cho không khí Tết ùa vào khắp mọi nhà Từ già đến trẻ, mọi người đều rấtkhẩn trương và thành kính trong khi sắm Tết Họ quan niệm, nhà cửa phảiđược dọn dẹp sao cho thật gọn gàng, sạch sẽ, trước là để đón rước tổ tiên,sau là để mời bà con bạn bè đến thăm nhà Và đồ thờ cúng cũng phải đượcsửa soạn một cách thành tâm, xuất phát từ tấm lòng của con cháu
Trang 2Các hoạt động tinh thần diễn ra vào dịp Tết Nguyên đán ở mỗi miền, vùngcũng có những nét đặc trưng riêng Tuy nhiên, về cơ bản, người Việt thường
tổ chức Tết Nguyên đán với một số nghi lễ phổ biến như sau:
- Tết ông Táo: là Tết tiễn đưa ông Táo - vua Bếp về chầu trời, báo cáo vớiNgọc Hoàng kết quả sau một năm trông coi công việc dưới hạ giới
- Dựng cây nêu: từ ngày 23 đến 30 tháng Chạp có tục lệ dựng cây nêu đểtrừ ma quỷ quấy phá vào dịp Tết Đồng thời với việc dựng cây nêu, trước Tếtvài ba hôm, các gia đình quét dọn, bày biện lại bàn thờ, trang hoàng nhà cửa
để đón năm mới
- Ngày 30 Tết: Ngày tất niên, các hoạt động diễn ra khẩn trương, sôi nổinhằm tiễn trừ hết những gì của năm cũ để đón năm mới; đồng thời cũng làngày trừ khử lũ ma quỷ bằng những hành vi cúng lễ theo quan niệm củangười xưa Lễ Tết ngày 30 cũng phong phú: con cháu về Tết ông bà, cha mẹ,trò Tết thầy; người buôn bán, vay mượn thì lo trả mọi nợ nần với niềm tinrằng nếu làm được như vậy thì sang năm mới sẽ làm ăn khấm khá ở khắpmọi miền, từ thành thị đến nông thôn, phiên chợ 30 Tết cũng mang rất nhiều
ý nghĩa
Trong từng gia đình, dòng họ, ngày 30 Tết cũng là ngày đặc biệt quantrọng Mâm cỗ cúng chiều 30 Tết bao giờ cũng thịnh soạn, có đầy đủ cácmón để dâng lên tổ tiên ở một số địa phương, vào chiều 30 Tết, các nghĩatrang lúc nào cũng đông vui, tấp nập Sở dĩ như vậy vì mỗi gia đình trongthôn, xã đều cử một số người đại diện trực tiếp ra mộ, trước là tảo mộ, sau là
lễ cau trầu hương hoa thỉnh cầu tổ tiên về hưởng Tết cùng con cháu
- Lễ Trừ tịch - Lễ Giao thừa: Vào giờ chót của ngày 30 Tết cũng là lúcsắp bước sang năm mới, đó là khoảng thời gian ngắn ngủi nhưng vô cùngquan trọng để tống cựu nghênh tân, mọi nhà làm lễ Trừ tịch, cũng gọi là lễGiao thừa Tuỳ theo điều kiện và tập tục mà mỗi vùng có cách bày bàn thờ,
cỗ cúng và lễ Giao thừa riêng Theo quan niệm truyền thống thì lễ Giao thừa
tế Cựu Vương Hành Khiển, tức người thay mặt Ngọc Hoàng xuống trầntrông coi việc nhân gian trong năm, từ giao thừa năm trước đến giao thừanăm sau Cùng với Hành Khiển là một vị Phán Quan giúp việc ghi chép côngtội của nhân gian để Hành Khiển báo về cho Ngọc Hoàng khi mãn nhiệm.Các vị này được gọi là đương niên chi thần Riêng Hành Khiển có 12 vị, mỗi
kỳ 12 năm một lần
Ngoài gia đình ra, các chi họ và đại tộc, làng xóm, chùa quán, đìnhmiếu… đều trang hoàng và bày biện lễ vật để làm lễ Giao thừa; phần lễ vậtthì tuỳ khả năng, song mặt tinh thần thì không thể khinh suất
- Cúng Thổ công: Sau lễ Giao thừa, cùng với không khí đón năm mới là lễCúng Thổ công, tức vị thần cai quản trong nhà, thường được gọi là ngườichủ số một của nhà Lễ vật cúng Thổ công tuỳ gia chủ song phải thành kính,trang nghiêm và thường có bài văn khấn Thổ công lưu truyền
Trang 3Sau khi tiến hành một số lễ nghi như vừa nêu, từ sau giao thừa trở đi, theotruyền thống còn có các tục từng thịnh hành và lưu truyền đến ngày nay như:xuất hành, lễ đền chùa, hái lộc đầu năm, xông nhà…
- Xuất hành là sau khi cúng giao thừa xong, năm mới cũng vừa bắt đầu
Kể từ giờ phút đó, người ta rất chú trọng đến hướng đi (hướng xuất hành đầunăm) Vì theo quan niệm, nếu đầu năm mà ai chọn được hướng đi đúng thì cảnăm sẽ làm ăn thuận lợi và yên lành
Theo hướng đã chọn, người ta thường đến lễ ở các đền, chùa, miếu cótiếng linh thiêng để cầu mong thần phật phù hộ cho một năm bình an, maymắn
- Hái lộc: Sau giao thừa, dân thành thị, nông thôn đều có tục đi hái lộc đầunăm Người ta đua nhau bẻ một vài cành lá những cây như: đa, đề, si và cáccây cổ thụ sum suê đem về cắm ở bàn thờ cho đến khi tàn khô gọi là háilộc… Những cây đó thường mọc trước cổng chùa,đền hay những nơi đắc địa Theo quan niệm truyền thống thì hái lộc trongđêm giao thừa sẽ đem lại may mắn quanh năm
- Xin lộc: Một số người thay vì hái lộc bằng việc xin lộc tại các đền, chùabằng cách đốt một nắm hương hay một vài cây hương đại, khấn vái xin lộctrước bàn thờ, rồi mang cây hương đó về cắm ở bàn thờ nhà mình Ngọn lửahương đó tượng trưng cho sự phát đạt trong năm mới và hy vọng thần phật sẽphù hộ cho mình
- Xông nhà: Bắt đầu vào năm mới, để sự làm ăn và sức khoẻ của gia đìnhđược thuận tiện, bình an, các gia đình thường chọn người xông nhà, xông đất(một số nơi còn gọi là người mở hàng) Người xông nhà là người đầu tiên từngoài bước chân vào nhà, mở đầu cho việc vào ra của mọi sự trong năm.Theo quan niệm truyền thống, người dễ vía xông nhà thì cả năm gia đình sẽtốt đẹp, nếu ngược lại sẽ xúi quẩy Do vậy, gia đình có thể chọn một ngườitrong nhà, thuộc loại dễ vía nhất và hợp tuổi với năm đó đi ra khỏi nhà từnăm cũ, rồi trở về nhà trong năm mới; cũng có thể chọn ai đó trong số ngườiquen đến xông nhà từ sáng sớm mùng 1 Tết Sau khi đã có người xông nhà,chủ nhà không phải băn khoăn lo lắng nếu có ai nặng vía vào nhà mình nữa
Từ sáng sớm mùng 1 Tết, các hoạt động mừng năm mới là những hoạtđộng chủ yếu như:
- Mừng tuổi và đi chúc Tết: Từ trong gia đình, họ mạc đến làng xóm, sángmùng 1 mọi người đều đi chúc Tết - mừng tuổi nhau Theo tục xưa thì:
"Mùng 1 Tết cha, mùng 2 Tết chú, mùng 3 Tết thầy" Con cháu đến chúc Tết,mừng tuổi ông bà, cha mẹ bằng lễ vật Trong khi đó người lớn tuổi ông bà,cha mẹ, anh chị mừng người ít tuổi con cháu, em út bằng tiền, gọi là tiềnmừng tuổi (lì xì) Hàng xóm, họ mạc cũng mừng tuổi lẫn nhau
- Hội xuân: Từ sáng mùng 1 Tết, dân làng các vùng đều đến bái đình, đền,chùa, miếu, trước là để lễ, sau là để tham gia vào các cuộc chơi xuân, vuixuân như chơi cờ tướng, ném còn, đánh vật, kéo co
Trang 4Trong ngày mùng 1 Tết, hầu hết các nhà đều tôn trọng những kiêng kỵnhư: không quét nhà, không làm đổ vỡ đồ vật, không cãi cọ, không vaymượn, không làm điều gì mất lòng nhau…
Cũng theo quan niệm truyền thống, ngày mùng 1 Tết là ngày đại diện cho
gà, mùng 2 thuộc về chó, mùng 3 là lợn, mùng 4 là dê, mùng 5 là trâu, mùng
6 là ngựa, mùng 7 là người, mùng 8 là cốc (ngũ cốc)…
- Lễ Hoá vàng: Thường được tổ chức vào các ngày mùng 3 hoặc mùng 4Tết tại các gia đình, với cỗ cúng, coi như là lễ tiễn các cụ về cõi âm sau mấyngày ăn Tết cùng con cháu Khi hoá vàng, người ta đổ vào đống tro hoá vàng
đó chén rượu cúng, có như vậy người cõi âm mới nhận được vàng - tiền ởnơi âm phủ Trong khi hoá vàng, người ta lấy hai cây mía - vốn được dựngnguyên cả ngọn ở hai bên bàn thờ - là gậy để các cụ gánh vàng về cõi âm và
là vũ khí chống bọn quỷ dữ trên đường về - hơ lên ngọn lửa hoá vàng, vớinghĩa để gửi theo các cụ
Sau lễ Hóa vàng, Tết tại các gia đình coi như đã kết thúc Cũng từ ngàynày, con cháu lại bắt đầu một cuộc sống mới, người ở lại, kẻ đi làm ăn xa.Trong dịp Tết Nguyên đán, từ mùng 4 trở đi còn có một số lễ nghi nữaliên quan đến Tết như lễ Hạ cây nêu - lễ Khai hạ vào mùng 7 Tết, viếng mộđầu xuân
Trang 5Tết Thượng Nguyên
Tết Thượng nguyên được tổ chức vào ngày rằm tháng Giêng âm lịch nêncòn được gọi là lễ Cúng rằm tháng Giêng (Tết Nguyên tiêu) Theo quan niệmdân gian, Thượng nguyên là một ngày lễ trọng đại: "Lễ Phật quanh nămkhông bằng rằm tháng Giêng" Truyền rằng, đó là ngày Đức Phật giáng lâmtại các chùa chiền để chứng độ lòng thành của thiện nam tín nữ Cho nên ởchùa nào cũng vậy, vào ngày rằm tháng Giêng bao giờ cũng rất đông người
đi lễ Phật
Theo phong tục Trung Hoa thì vốn xưa ngày này là ngày Tết Trạngnguyên Sở dĩ có tên gọi như vậy là bởi ngày này, nhà vua cho mời các ôngTrạng đến thết tiệc ở vườn Thượng uyển Tại đây, các ông Trạng làm thơngâm vịnh ca ngợi tạo hoá và vua
Còn theo các nhà thuật số, thì ngày rằm tháng Giêng là ngày vía ThiênQuan nên người ta làm lễ cúng sao hay là dâng sao để giải trừ tai ách trongnăm: Đàn cúng sao được dựng theo tam cấp: Trên là cúng Trời - Phật - Tiênthánh; ở giữa cúng sao Thủ mệnh; dưới cùng cúng bố thí chúng sinh Lễ vậtcúng sao là hoa quả, trầu cau, oản, chè, vàng mã và hình nhân
Riêng đối với đồng bào miền núi phía Bắc, vào ngày rằm tháng Giêng, họlại làm lễ Cúng Nùng Trí Cao Tương truyền, ông người Vân Nam, vì chốngquân Tống, bị Địch Thanh đánh chết vào ngày rằm, được giờ linh thiêng nêndân chúng tổ chức cúng giỗ mong ông phù hộ
Trang 6Tết Thanh Minh
Thanh minh là Tết thứ năm trong 24 Tết của một năm Đây là dịp tiết trờitrong sáng, mát mẻ nhất Theo phong tục của người Việt, Tết Thanh minhkhông xác định vào một ngày cụ thể nào đó, mà người ta tính bằng cách cứsau ngày lập xuân hàng năm đúng 60 ngày
Trong dịp Tết Thanh minh, ngoài lễ vật cúng gia tiên và đất trời theotruyền thống của Trung Hoa và Việt Nam, dân chúng tổ chức lễ Tảo mộ vàhội Đạp thanh
- Lễ Tảo mộ: Trong năm, để chuẩn bị Tết Nguyên đán, nhiều gia đình,dòng họ đã đi đắp mộ, tảo mộ cho người quá cố, khấn mời họ về ăn Tết, sumhọp cùng với gia đình, con cháu
Tuy nhiên, rất nhiều vùng trong cả nước, người ta lại không tiến hành vàodịp trước Tết mà lại để dành đến Thanh minh Nhiều gia đình, họ không chỉchăm sóc cho mộ của những người thân mà còn hương khói cho cả nhữngngôi mộ của những gia đình không có người thờ tự, mộ của người vô chủ.Thông thường, lễ Tảo mộ chỉ diễn ra trong vài ba ngày, đúng tiết Thanhminh Vì thế, khắp các nghĩa trang, hầu như nơi nào cũng rất đông người đitảo mộ Có mộ thì giẫy sạch cỏ, không đắp thêm phần mộ, có mộ thì đắp caothêm Sau khi đắp mộ, tảo mộ họ thắp hương và cầu khấn cho linh hồn củangười quá cố được thanh thản nơi cõi âm, phù hộ độ trì cho con cháu bình
an, may mắn
- Hội Đạp thanh: Tổ chức vào Tết Thanh minh, có nguyên gốc từ TrungHoa Đạp thanh có nghĩa là giẫm đạp lên cỏ xanh, chỉ việc mọi người đi tảo
mộ trên các nghĩa địa, bãi tha ma cỏ mọc xanh rờn
Sau khi tảo mộ, mọi người tiếp tục vui xuân Nhiều gia đình, dòng họ tổchức ăn uống, bàn chuyện học hành, làm ăn Trai gái gặp gỡ, giao duyên.Cũng có nhiều nơi tổ chức các trò chơi dân gian rất vui và sôi nổi
Trang 7Trước đây, Tết Hàn thực được tổ chức rất to Trước Tết Hàn thực mộtngày, nhà nào cũng lo ngâm đỗ, xay gạo, người nào không có thời gian cũng
ra chợ mua sẵn bột khô về nhào nước, ủ vài tiếng cho mềm Gạo làm bánhtrôi, bánh chay dứt khoát phải kén được nếp cái hoa vàng, thứ gạo tròn hạt,đều tay, như các cụ khoe là "nếp đếm trăm được" Cứ chín phần nếp, chomột phần tẻ hoặc cùng lắm là cho đến non hai phần tẻ Bởi nếu ít tẻ thì bánhdính và chảy, không thành hình tròn đẹp, mà nhiều quá thì lại bị cứng bánh,
ăn dai mất ngon! Đỗ để làm nhân bánh cũng phải là loại giống đỗ tiêu, hạtnhỏ, thơm, đem hấp chín tơi, giã mịn, trộn với đường kính trắng làm nhânbánh chay Đường làm nhân bánh trôi ngon nhất là loại đường phên DươngLiễu, Cát Quế, chặt thành những viên nhỏ như hạt lựu
Thời gian nặn và luộc bánh là lúc cả nhà quây quần đông vui nhất, chẳng
bên nồi bánh chưng ngày Tết Nguyên đán Nồi nước luộc bánh đã sôi, mỗingười lần lượt thả từng chiếc bánh một (không thể tiện tay đổ ào cả mẻ vì sẽ
nồi lạnh đi đột ngột, dễ làm bở bột, vỡ bánh) Bánh chín vớt ra, được ngâm
ngay trong nước lã đun sôi để nguội cho săn mình trở lại Khi vớt bánh, bày
lên bát, lên đĩa, người nội trợ chấm thêm mấy hạt vừng trắng rang thơm trênmặt bánh, chan vào bát bánh chay một chút chè đường quấy với bột đao haybột sắn dây ướp hoa bưởi Tuỳ theo từng nhà, ai thích thì rắc thêm vài sợidừa nạo nhỏ, hoặc dăm hạt đỗ xanh thổi chín còn nguyên hình hoa cau, thế làbát bánh nom như một đóa hoa cánh trắng, nhụy vàng, được bao bọc trongmột làn sương mơ màng trông thật ngon mắt
Cách làm hai loại bánh này khá đơn giản:
Bánh trôi
Trang 8Nguyên liệu gồm có: Gạo nếp lẫn gạo tẻ vo sạch, ngâm mềm, vo lại chosạch rồi đem xay kỹ, trút bột nước vào túi vải treo lên cho róc hết nước, nhàolại bột cho dẻo, mịn rồi viên bột thành những viên nhỏ bằng viên bi đềunhau Đường phên (đường mật mía) chặt thành những viên nhỏ, vuông hoặcđường phèn cũng chọn những viên nhỏ để làm nhân, cho nhân vào giữa viênbột và vê tròn cho kín Bắc xoong nước lên bếp đun, thả bánh vào đun sôinhỏ lửa, khi nào bánh nổi lên là chín, vớt ra, thả vào chậu nước sôi để nguội,vớt bánh ra cho vào đĩa, gạn khô nước Cho vừng (rang vàng, xát bỏ vỏ) lêntrên từng chiếc bánh, rắc nước hoa bưởi cho thơm, ăn nguội.
Bánh chay
Khâu làm bột giống như làm bột bánh trôi Nhân bánh chay được làmbằng đậu xanh ngâm mềm, đãi sạch vỏ, nấu như nấu cơm, khi chín xúc rađem giã nhuyễn Bắc chảo mỡ lên bếp, phi hành, trút chảo mỡ vào trộn đềuvới đậu xanh, vê lại như quả táo nhỏ Chia bột thành những phần bằng nhaukhoảng bằng quả cau, nặn bột mỏng đều ra rồi cho nhân vào giữa, vê tròn lạicho kín nhân, rồi nặn bẹt ra Bắc xoong nước lên đun sôi già, thả bánh vàoluộc, khi bánh nổi lên là bánh đã chín thì lấy muôi vớt ra Cho đường khuấyđều với nước, cho thêm bột sắn dây hoặc bột đao và một chút nước gừng,bắc lên bếp đun sôi, hớt hết bọt, khi nước hơi sánh là được Cho bánh ra bát,múc nước đường vào, rắc vừng (rang vàng, xát bỏ vỏ) lên trên, có thể rắcthêm một ít sợi dừa nạo và chút nước hoa bưởi cho thơm
Trước đây, chỉ Tết Hàn thực mới có bánh trôi, bánh chay Nhưng nay,trên khắp các ngõ đường, hai loại bánh luôn bên nhau như cặp tình nhân ấy
đã trở thành món quà ngon ưa thích của mọi người, có thể dễ dàng tìm thấyquanh năm Tuy vậy, cứ vào ngày mùng Ba tháng 3 âm lịch hàng năm, bánhtrôi, bánh chay vẫn là hai lễ vật không thể thiếu được trên bàn thờ của cácgia đình được cháu con làm (hoặc mua về) để thờ cúng tổ tiên
Trang 9Tháng Tư đong đậu nấu chè
ăn Tết Đoan ngọ trở về tháng Năm.
Tết Đoan ngọ còn được gọi là Tết Đoan dương, Tết Nửa năm Đoan là mởđầu; ngọ là giữa trưa, là lúc khí dương đang thịnh Xét về địa bàn thì ngọ ởvào phương Nam, mà cung Ngọ thuộc dương và tháng 5 cũng là tháng Ngọ,
do vậy tháng 5 âm lịch là tháng khí dương tràn ngập
Người ta còn gọi Tết Đoan ngọ là Tết Trùng ngũ hay Đoan ngũ (ngày 5tháng 5) Do vậy mà các ngày mùng 1, 2, 3, 4 tháng 5 âm lịch được gọi Đoannhất, Đoan nhị, Đoan tam, Đoan tứ
Trong quan niệm của người Việt Nam, Tết Đoan ngọ chỉ đứng thứ hai,sau Tết Nguyên đán Tương truyền, đây là ngày Tết được gắn liền với sự tíchKhuất Nguyên Chuyện rằng, Khuất Nguyên làm quan Tả đồ nước Sở, dướitriều vua Hoài Vương đời Thất quốc (307 - 246 trước CN) Ông là ngườichính trực nên bị bọn nịnh thần sàm tấu Những ý kiến ông tâu trình đềumuốn hưng thịnh cho đất nước Trung Hoa hồi bấy giờ nhưng lại bị vua Sởbác bỏ Có lần Sở Hoài Vương sang Tần, ông can ngăn không được, đến nỗiHoài Vương bị chết ở đất Tần
Tương Vương kế nghiệp cũng bị bọn gian thần thao túng, bác bỏ những ýtrung chính của ông, lại còn bắt ông đi đày Trước những nhiễu nhương đángbuồn đó, Khuất Nguyên làm bài thơ Hoài Sa rồi buộc đá vào người trầm mình tự
tử tại sông Mịch La vào mùng 5 tháng 5 âm lịch
Tương Vương nghe tin mới hối hận, lệnh cho dân làm cỗ cúng và đem thảxuống sông để tạ lỗi cùng Khuất Nguyên Đêm đến Khuất Nguyên báo mộngcho vua rằng, nếu thả cỗ xuống sông thì phải bọc lá bên ngoài và buộc bằngchỉ ngũ sắc, như thế cá tôm mới không ăn được Từ lời báo mộng đó, nhàvua ban lệnh cho dân Do vậy mà hàng năm vào mùng 5 tháng 5 có lệ cúngKhuất Nguyên để tưởng nhớ vị đại thần trung chính, lại gói cỗ bằng lá, buộcchỉ ngũ sắc thả xuống sông cho ông hưởng
Trang 10Trên sông Mịch La, người nước Sở đã mở hội đua thuyền (ý như muốn vớtxác Khuất Nguyên), làm cỗ cúng ông tỏ lòng thương tiếc Và chỉ ngũ sắc saunày trở thành thứ "bùa tui bùa túi" treo cho trẻ em trong Tết Đoan ngọ
ở Việt Nam, ít người biết chuyện Khuất Nguyên, mà chỉ coi mùng 5 tháng
5 là "Tết giết sâu bọ" - vì trong giai đoạn chuyển mùa, chuyển tiết, dịch bệnh
dễ phát sinh Người ta quan niệm, trong ngày này, các loài sâu bọ đều hoảnghốt, trốn chạy vì nhà ai cũng có bữa cỗ "giết sâu bọ" vào sáng sớm, với cácloại hoa quả đầu mùa Nghi thức cúng lễ và tập tục ngày Đoan ngọ cũng rấtphong phú và mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam Tuỳ theo mỗi vùng màngười ta có thể tiến hành các tục sau:
- Tắm nước lá mùi: Là tập tục mà các làng quê thường có Người ta đun
lá mùi, lá tía tô, kinh giới, lá sả, lá tre vào chung một nồi, rồi mọi người giàtrẻ thay nhau múc tắm Mùa nóng lại tắm nước nóng có lá thơm, mồ hôi toát
ra, cảm giác khoan khoái dễ chịu, thơm tho làm cho con người phấn chấn và
có lẽ cũng trị được cảm mạo, bởi nước lá mùi là vị thuốc nam
- Hái thuốc mùng 5: Cây cỏ quanh ta có nhiều thứ trở thành vị thuốc
chữa bệnh Nhưng nếu các loại thảo mộc ấy được hái vào ngày mùng 5 tháng
5 âm lịch, lại đúng vào giờ Ngọ thì tính dược càng được tăng lên, chữa cácbệnh cảm mạo, nhức đầu, đau xương sẽ nhanh khỏi hơn Do vậy, dân gianthường hái ngải cứu, đinh lăng, tía tô, kinh giới đem phơi khô cất đi, khinào lâm bệnh thì sắc uống
- Treo cây ngải cứu trừ tà ma: Người ta còn lấy cây ngải cứu buộc gom
thành nắm, treo ở đầu nhà, trước cửa để trừ tà ma Thực tế thì hương thơm lángải sẽ giúp con người dễ chịu, khoan khoái Lại có thể giảm bớt nhức đầu,đầy bụng nên khi lấy lá mùng 5, mọi người không thể quên lấy lá ngải cứu Giết sâu bọ, hái thuốc mùng 5, tắm nước lá mùi, treo lá ngải trừ tà trongTết Đoan ngọ, nhằm làm cho con người, nhất là thế hệ trẻ, khoẻ mạnh để duytrì nòi giống, truyền thống của cha ông
- Tục đeo "bùa tui bùa túi": Người ta còn phòng xa những bất trắc do
ma quỷ, rắn rết làm nguy hại đến tính mạng nên Tết mùng 5 tháng 5 còn cótục đeo "bùa tui bùa túi" Đây là thứ bùa ngũ sắc để đeo vào vòng cổ cho trẻ
em Người ta dùng vải và chỉ ngũ sắc để may, để buộc thành các túm bùa.Một túm hạt mùi, một túm hồng hoàng rồi một số quả như khế, ớt, mãngcầu được buộc gộp thành bùa treo vào cổ trẻ em Phải chăng hạt mùi kỵgió, hồng hoàng kỵ rắn rết, còn các quả để giết sâu bọ, chỉ ngũ sắc là màusắc của vũ trụ: kim, mộc, thủy, hoả, thổ, thường dùng để trừ ma quái, hyvọng sẽ đảm bảo cho thế hệ trẻ được khoẻ mạnh, tồn tại và phát triển
- Tục nhuộm móng tay, móng chân: Tết mùng 5 tháng 5 còn có tục
nhuộm móng tay, móng chân cho trẻ Họ hái lá móng về giã nhỏ, lấy lá vôngđùm từng nhúm rồi buộc vào móng tay, móng chân Riêng ngón "thần chỉ" làngón tay trỏ thì không buộc Sáng dậy, mở các đầu ngón tay ra sẽ thấy các
Trang 11móng tay, móng chân đỏ tươi, đẹp mắt Ngoài mỹ thuật, tục này còn ẩn dụng
ý trừ tà ma lôi kéo làm hại con người
- Tục khảo cây lấy quả: Phải chăng từ yêu cầu lấy quả giết sâu bọ, nên
người ta đã khảo cây lấy quả Dân gian quan niệm cây cũng có linh hồn nênnhững cây "chây lười" không chịu ra quả phải bị khảo Một người trèo lêncây, một người cầm dao đứng dưới gốc Người đứng dưới gốc hỏi tại sao câychậm ra quả và dọa sẽ chặt bỏ Người trên cây van xin được tha sẽ ra quả vàhứa ra thật nhiều quả Thường thì mỗi dịp này các cành rườm rà được phátbớt và mùa tới cây sẽ ra quả Việc này khó giải thích, nhưng biết đâu quaviệc làm cỏ, phát bớt cành lại kích thích sự ra quả cho cây?
Ngoài ra, ở một số địa phương, Tết Đoan ngọ còn là dịp để các chàng rể
đi sêu, học trò đi Tết các thầy dạy học, thầy lang, thầy dạy nghề để tỏ lòngđền ơn đáp nghĩa Dân gian còn có lệ nhân mùng 5 tháng 5 âm lịch bày tỏvới nhau tình bằng hữu, xóm giềng mật thiết
Mặc dù Tết Đoan ngọ diễn ra giữa mùa dương thịnh, nóng bức nhưng cáctục lệ cũng thật dào dạt tình người Phải chăng cái tình cảm êm thấm này vừabiểu hiện sự nhu, tính âm, khiến cho âm - dương giao hòa, tình người gắn bó
đã làm tăng thêm ý nghĩa nhân văn cho ngày Tết cổ truyền của dân tộc
Trang 12Tết Trung Nguyên
Tết Trung nguyên nhằm vào ngày rằm tháng 7 âm lịch, còn gọi là lễ xá tội
vong nhân Nghĩa chữ Trung nguyên là ở chỗ hàng năm người ta chia ra tam
nguyên: Thượng nguyên là rằm tháng Giêng; Hạ nguyên là rằm tháng 10 vàTrung nguyên là rằm tháng 7
Tết Trung nguyên có nguồn gốc từ lễ Vu Lan Bồn - nghĩa là cứu khổ treongược, lấy bồn đựng trăm vị đem cúng Phật để cứu vớt cái khổ treo ngượcnhằm siêu độ cho vong nhân
Theo tín ngưỡng truyền thống thì ngày rằm tháng 7, các tội nhân ở cõi âmđược tha tội một ngày Bởi vậy, các gia đình ở dương gian làm cỗ bàn cúnggia tiên, đốt vàng mã và cầu khấn những người thân đã quá cố luôn phù hộ
độ trì cho họ
Ngoài các cỗ cúng gia tiên, người ta còn bày cỗ cúng cho các cô hồn tạicầu, quán, đình, chùa Lễ vật cúng thường không cầu kỳ, chỉ là cháo hoa,cơm nắm vắt thành nắm nhỏ, hoa quả, bánh bỏng, trầu cau và đồ vàng mã
Lễ vật bày lên mẹt hay nong Riêng cháo thì múc đổ vào lá mít, lá đa, còn lạicho vào nồi lớn Khi cúng xong các cô hồn, họ thường đem chia lộc chonhững người nghèo, trẻ em, rồi đốt vàng mã
Người Trung Hoa thì vào Tết này còn có thêm tục mua sắm các giường
Vu Lan bằng tre ba chân, có đồ vàng mã, sau khi cúng xong đem hoá
Trang 13Tết Trung Thu
Tết Trung thu được tổ chức vào đêm rằm tháng 8 hàng năm Trăng đêmrằm tháng 8 là to nhất và trong sáng nhất so với trăng rằm các tháng khácnên nhiều người còn gọi Tết Trung thu là Tết trông trăng
Theo tục truyền thì vua Đường Minh Hoàng vào một đêm rằm tháng 8nằm mơ thấy đạo sĩ đưa lên chơi cung Quảng Hàm tận trên mặt trăng Nhàvua đắm mình trong cảnh đẹp lộng lẫy với những nàng tiên lả lướt trong điệuNghê Thường Tan giấc mơ, vua nuối tiếc cảnh đẹp ở cung trăng bèn đặt raTết Trung thu để ngắm trăng và chế soạn ra khúc Nghê Thường
Tuy nhiên, theo quan niệm của người Việt, Tết Trung thu là Tết của trẻ
em Dịp này, ông bà, cha mẹ thường mua sắm cho con cháu mình những mónquà mà chúng yêu thích Cũng vì lẽ đó, nhiều người còn gọi đây là Tết củatrẻ em
Lễ vật cho Tết Trung thu cũng không cầu kỳ, chủ yếu là từ hoa trái trongvườn nhà Thường là trong mâm cỗ trông trăng có nải chuối, quả bưởi, quảhồng, bánh nướng, bánh dẻo… và tùy theo từng vùng mà có thể có thêm cácsản vật của mùa thu Sau khi đã lễ cúng gia tiên, chờ cho trăng lên sáng tỏ,các gia đình mới cùng con cháu quây quần bên mâm cỗ trông trăng chuyệntrò và ăn uống thật vui
Bên cạnh đó, nhiều địa phương trong cả nước cũng tổ chức Tết Trung thucho trẻ em rất vui Có nhiều trò chơi dân gian đặc sắc được diễn ra như múalân, rước đèn ông sao Tết chỉ diễn ra trong một ngày
Trang 14Tết Trùng Cửu
Tết Trùng cửu còn có tên gọi khác là Tết Trùng dương, được làm vào ngàymùng 9 tháng 9 âm lịch Theo Kinh dịch ở chương Bát quái thì quẻ dươnggọi là cửu, quẻ âm gọi là lục Mùng 9 tháng 9 trùng cửu nên trùng dương.Theo tục truyền thời Hán (Trung Hoa) có người tên là Hoàn Cảnh theoPhí Trường Phòng học phép tiên Một hôm, Phí Trường Phòng bảo Cảnhrằng: mùng 9 tháng 9 nhà anh có hạn to, bảo người nhà mang túi lụa đựngthuốc thù du, đeo ở cánh tay, rồi lên núi uống rượu thì qua khỏi nạn Cảnhnghe lời, đem hết người nhà lên núi uống rượu Lạ thay, tối về nhà thấy cáccon vật chết hết Phòng nói với Cảnh rằng những con vật ấy chết thay người.Theo chuyện này, hàng năm, cứ đến mùng 9 tháng 9 âm lịch, người ta làm
lễ rồi cùng bẻ cành thù du, uống rượu với nhau Từ Trung Quốc, Tết Trùngcửu du nhập vào Việt Nam, các văn nhân nước ta cũng vào dịp này thường đi chơi núi uống rượu và hái hoa, ngâm vịnh thơ phú
Trang 15Tết Táo quân
Tết Táo quân còn được gọi là Tết ông Táo, được làm vào ngày 23 thángChạp âm lịch để tiễn ông Táo về trời Theo quan niệm dân gian, ngày nàyhàng năm, theo lệnh Ngọc Hoàng, ông Táo lại cưỡi cá chép về trời để tâu vớiNgọc Hoàng công việc của trần gian trong năm qua Ông Táo chỉ ở Thiênđình bảy ngày và đúng vào lễ Giao thừa lại trở về nhân gian, tiếp tục làm vuaBếp trong nhà
Ông Táo - vua Bếp, là ba ông đầu rau bếp, ba hòn núi hay ba ông Núc.Câu chuyện về ông Táo gắn với một sự tích bi thảm được lưu truyền rộng rãitrong kho tàng truyện dân gian Việt Nam Chuyện kể rằng, ngày xưa có hai
vợ chồng nghèo phải bỏ nhau, vợ đi lấy được người chồng giàu có Một hômđang cúng lễ hoá vàng mã ở sân, thấy có người ăn xin đi vào, người vợ nhận
ra chồng cũ, thương cảm bèn lấy cơm gạo, tiền bạc trong nhà đem cho.Người chồng mới sau khi biết chuyện bèn nghi ngờ vợ Vợ không thanhminh, giải thích được, cùng đường liền đâm đầu vào lửa chết Chứng kiếncảnh ấy, người chồng cũ thương tâm cũng nhảy vào chết theo Và đến lượtngười chồng mới, ân hận vì đã không tin vợ nên cũng đâm đầu vào lửa nốt
Cả ba người cùng chết cháy Thượng đế thương ba người cùng có nhân nghĩabèn phong cho làm vua Bếp Hàng năm, cứ đến ngày 23 tháng Chạp, các giađình lại làm lễ cúng ông Táo
Ngày Tết ông Táo, ngoài lễ vật cúng thường ra, người ta còn mua hai mũông, một mũ bà để thờ và không quên mua một con cá chép Khi làm lễ để cásống bơi trong chậu hay thùng, với ý nghĩa tượng trưng để Táo quân cưỡi vềtrời
Trang 16
Phần hai
Một số Lễ hội lịch sử
Trang 17Hội Đền Hùng
Hội lễ đền thờ các vua Hùng (còn gọi là hội Đền Hùng hay lễ hội Giỗ TổHùng Vương) được tổ chức vào mùng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm, tại khuvực thờ các vua Hùng gồm một quần thể di tích như: lăng mộ, đền thờ cácvua Hùng, chùa, giếng nước và các di vật khác nằm trên núi Hùng với nhiềutên gọi khác như Nghĩa Lĩnh, Nghĩa Cương, Hy Cương, Hy Sơn, Bảo ThiếuLĩnh, Bảo Thiếu Sơn (nay thuộc xã Hy Cương, huyện Phong Châu, tỉnh PhúThọ) Từ thành phố Việt Trì, đi theo lộ đường Việt Trì - Lào Cai khoảng20km là đến núi Hùng
Hiện nay chưa có đủ tài liệu để xác định thời gian hình thành của lễ hội,nhưng theo tục truyền thì vào cuối đời vua Hùng thứ 18 vua Thục An DươngVương dựng cột đá thề trên núi Hy Cương, nơi toạ lạc kinh đô thời vua Hùng
- tức núi Hùng ngày nay, nguyện sẽ đời đời cha truyền con nối phụng thờ 18đời vua Hùng đã dựng nên non nước tươi đẹp này
Hội đền Hùng là một hội lễ tưởng niệm 18 đời vua Hùng Theo sách Việt
sử lược, một bộ sử xưa nhất của nước ta được biên soạn vào cuối thế kỷ XIV
xác nhận rằng, khởi đầu của các vua Hùng ứng vào khoảng đời Trang Vươngnhà Chu (năm 696-682 trước CN) và chấm dứt cùng với sự xuất hiện của AnDương Vương (năm 258 trước CN) Như vậy, 18 đời vua Hùng, mỗi đờichừng 25 năm như ghi chép của sách trên là hợp lý, không kéo dài đến nhữnghơn 2.600 năm như một số truyền thuyết phản ánh
Khu di tích đền Hùng phong phú và đa dạng Đầu tiên là Giếng Ngọc vàđền Giếng, gắn liền với hai công chúa Tiên Dung và Ngọc Hoa - con gái vuaHùng thứ 18; đền Hạ cạnh chùa Thiền Quang với gác chuông, bia đá là nơivua Hùng thứ 17 thường ra làm lễ Đền Trung, nằm ở lưng núi là nơi thờ 18đời vua Hùng, trong có bức hoành phi "Miếu tổ Hùng vương" Chính trênđỉnh núi Hùng là cột đá thề do An Dương Vương dựng, cạnh đó là đềnThượng thờ Thánh Gióng, tương truyền do vua Hùng thứ 6 lập nên
Giỗ Tổ Hùng Vương thật ra là vào ngày 11 tháng 3, còn mùng 10 là lễdâng hương của các chức sắc ngày trước thay mặt triều đình, theo nghi thứcquốc tế Theo truyền thống, khi quan viên tế lễ có kèm theo múa cờ củaphường nhà Tơ Do Nha, cuộc tế bố trí ở đền Thượng
Đồ tế trong Giỗ Tổ Hùng Vương, ngoài hương hoa, các thứ quả, có cỗtam sinh (gồm một con lợn sống cạo lông, bỏ lòng, mỡ chài phủ kín toànthân, bò và dê mỗi thứ một con, thui vàng, bỏ lòng, để nguyên cả con)
Trang 18Nhưng theo truyền thống thì không thể thiếu bánh giầy và xôi màu - vốn là lễvật do dân làng Cổ Tích chuẩn bị Lễ vật này gắn liền với sự tích chàng LangLiêu, con vua Hùng thứ 6, đã lấy nếp giã nhỏ làm bánh giầy và sáng tạo rabánh chưng dâng lên vua cha, sau đó được vua cha truyền cho ngôi báu.Các cuộc rước truyền thống trong hội Đền Hùng rất phong phú, có sự tham giacủa nhiều làng trong vùng như:
- Rước thần của làng Cổ Tích
- Rước bát bửu của làng Cổ Tích
- Rước của làng Hy Cương
- Rước của làng Phương Giao
- Rước của làng Tiên Cương
- Rước Tiên và dùi lọng
- Rước kiệu và long thần
- Rước kiệu và tàn hội
- Rước voi
Các cuộc rước đều được tổ chức trang nghiêm với đầy đủ các thức như:
cờ, quạt đề, chấp kích, quân phù giá, phường bát âm, chiêng, trống… Đặcbiệt, các cuộc rước của làng Cổ Tích thì có thêm các quan viên chức sắc cưỡivoi đi đầu cuộc rước
Một mảng đặc sắc và náo nức nhất của lễ hội Đền Hùng khiến cho rấtnhiều du khách quan tâm, đó là các trò chơi, các cuộc thi mang đậm chất dângian, truyền thống như cờ tướng, đánh vật, đu tiên, hát chèo, hát trống quân,xóc thẻ, xóc đĩa, tổ tôm… Nhưng một số trò thu hút du khách đến xem đôngnhất thường là:
Thi rước kiệu: Trong những năm có hội lễ lớn, tại đền Hùng có nhiều
làng tham dự cuộc thi rước kiệu Mỗi đám rước có khi rước đến hội những
ba cỗ kiệu Trong trường hợp là kiệu bát cống phải có tám tay đòn khiêngkiệu, mặc áo nỉ đỏ nẹp xanh chính giữa thêu hổ phù, cổ áo viền hai lá đề haimàu đen trắng, đầu đội nón chóp nhỏ sơn màu xanh nhạt và chân quấn xàcạp Chỉ huy kiệu là hai ông kiệu, một đi trước và một đi sau kiệu Đi trướckiệu là tám người vác chấp kích, tám người vác cờ vuông và đuôi nheo, xen
kẽ là phường bát âm và đội chiêng trống Kiệu được trang trí lộng lẫy: sơnson thếp vàng, chạm trổ long ly quy phượng và nhiều đồ án hoa văn khác;che kiệu là một quạt cò và một quạt vả được trang trí đẹp Khi cuộc rước bắtđầu, trống chiêng gióng lên đưa nhịp Và theo hiệu cờ của ông hiệu, tiếng húcủa cả đoàn rước vang lên Cuộc rước vui nhất là khi lên dốc, khi qua cầu vàtrên quãng đường trước đền Hạ, tất cả cờ xí đều chạy lượn vòng quanh sânđền trong tiếng chiêng, trống gióng giả
Hội hát xoan: Hát xoan là một loại diễn xướng tổng hợp (gồm múa và
hát) Nó còn có tên khác là "khúc môn đình" (hát cửa đình) Loại hát này gắnvới lễ nghi, phong tục, gắn với hội mùa và thờ Thành Hoàng
Trang 19Nguồn gốc của hát xoan gắn với truyền thuyết của Hùng Vương nên tronghội hát xoan còn có các cảnh hát xướng, kéo co và đánh vật.
Hát xoan thường được tổ chức vào mùa xuân Phường hát xoan là mộtphường hội có tổ chức tương đối chặt chẽ Phú Thọ có một số phường hátxoan như phường An Thái, phường Kim Đơi, phường Phù Đức và phườngThét Mở đầu cho các cuộc hát, các phường hát thường khai xuân ở đình,miếu tại làng, sau đó từ ngày mùng 5 Tết, các phường hát xoan mới đến hát
ở các đình nước nghĩa Mỗi phường xoan thường đến hát ở một số cửa đìnhnhất định để tránh sự chồng chéo lên nhau
Mỗi phường xoan có một ông trùm, thường là người đứng tuổi được dânlàng tín nhiệm, thuộc bài bản và đọc được các bản xoan chữ Nôm Ông trùm
có nhiệm vụ hướng dẫn đào kép hát múa và giao dịch với địa phương màphường đến hát Mỗi phường có từ bốn đến năm kép (trong đó phải có 1 - 2kép con từ 10 - 15 tuổi để múa các điệu giáo phái, giáo trống) và từ 12 -15đào (thường là các cô gái trẻ, xinh đẹp, tuổi từ 18 - 20)
Hát xoan gồm có ba phần: phần lễ nghi tôn giáo, phần trình diễn các quảcách và phần hát bội
Mở đầu là phần nghi lễ Trưởng phường hát trước, sau đó một kép trẻ nhấttrong phường đeo cái trống bồng nhỏ ra làm trò giáo trống và giáo phái Tiếptheo, bốn cô đào xếp hàng ngang trước hương án, hai tay nâng chiếc quạt xoèlên trước mặt, vừa hát vừa làm điệu bộ dâng hương
Phần hai của hát xoan là phần trình diễn các quả cách Hát xoan gồm 14quả cách Xuân, hạ, thu, đông, tứ mùa cách, kiều giang cách, nhàn ngâmcách, hồi liên cách, đốt rẩy cách, chơi dân cách, trường mai cách, ngư tiềucanh mục cách, thuyền chèo cách, tứ dân cách Mỗi quả cách lại gồm baphần: giáo cách (mở đầu), đưa cách (phần giữa) và kết cách (phần cuối) Về
cơ bản, diễn xướng quả cách là lối hát nói và ngâm đọ Mở đầu phần này,một kép hát dùng đôi đũa gõ vào trống và dẫn cách (hát) Các cô đào thì hátphụ hoạ theo bằng cách nhắc lại lời người dẫn cách, xen vào phần hát đệmhoặc xen vào một câu hát dùng tiếng đưa hơi Cứ hết một quả cách, các côlại láy câu "các bạn họ ta, lấy qua làn dậm, là hỡi dậm nào dậm, ấy cho qua"hoặc "cách ấy cho qua hỡi bạn chèo ta, giờ sang cách khác, giã tiệc này ta làđại vương"
Phần cuối của hát xoan là hát bội có các mục sau: bợm gái, bỏ bộc, xinhoa đố chữ, hát đúm và giã cá Bợm gái là một diễn xướng kèm theo vàiđộng tác nhảy múa đơn giản Bỏ bộc là những lời hát có nội dung giao duyênkèm theo những động tác múa minh hoạ Hết mỗi bài hát là một câu xướng:
"Tềnh là tềnh tang tềnh" Xin hoa đố chữ là cảnh hát giữa trai làng sở tại vớicác đào xoan Hát đúm là một hình thức hát trữ tình, giao duyên Quả đúm làmột cái khăn tay, trong bọc một miếng trầu và vài đồng tiền Trai làng sở tạinhận quả đúm từ tay quan viên rồi ném cho các đào xoan, đào xoan vừa đỡ
Trang 20quả đúm vừa hát Cứ thế, quả đúm bay đi bay lại với những câu hát giaoduyên làm say đắm lòng người.
Kết thúc cuộc hát xoan là tiết mục giã cá Các trai làng quây thành vòngtròn, miệng hát, tay múa đong đưa như sóng nước dập dềnh Hát xong, các côđào đóng vai cá bỏ chạy Các chàng trai đuổi theo bắt cá (có nơi là cá namđóng) dâng tiến Thành Hoàng để ngài ban phúc cho dân làng Theo lệ ở đây,lúc cá lao ra và mắc vào lưới, tất cả mọi người kể cả người xem đều có quyềnbắt cá, nếu ai ghen sẽ bị thánh quở Và nếu năm nào hát xoan mà không có tròbắt cá thì năm ấy sẽ gặp nhiều rủi ro
Trang 21Hội đền Cổ Loa
Đền Cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, nằmtrong khu vực Thành Cổ Loa - Kinh đô của vua Thục An Dương, đầu thế kỷIII trước CN Đền Cổ Loa thờ An Dương Vương (gần có am thờ Mỵ Châu),hàng năm dân Cổ Loa vào hội ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch, kỷ niệmngày Thục Phán nhập cung
Sáng ngày mùng 6 dân làng tổ chức cuộc rước văn tế từ nhà vị tiên chỉ rađền để tế thần Theo thông lệ, 12 ông trưởng xóm đến đông đủ, ai nấy đềuphải sửa lễ, văn tế được soạn thảo đặt lên giá Đi đầu đám rước là phường bát
âm, tiếp là quan viên trong làng, sau đó là dân đinh mang lọng, rước giá văn
tế và kiệu long đình Cuộc rước dừng lại giữa sân đền; giá văn tế được đặtlên long đình và long đình được khiêng tới kê trước hương án đồ thờ.Phường bát âm tấu nhạc cùng với các nhạc cụ dân gian khác, chủ tế làm lễ tếthần, sau đó các quan viên và những người dự lễ, lần lượt vào lễ trước banthờ cầu nguyện nhà vua phù hộ cho dân làng
Buổi chiều là đám rước thần, có đông đảo dân làng tham dự, một số ngườihoá trang áo trắng đỏ, đeo râu giả Thứ tự cuộc rước: cờ quạt, long đình, các
tư khí bộ bộ bát bửu, phường bát âm, các quan viên lễ phục bưng theo khígiới của vua (cung, kiếm, tên, nỏ) kỳ mục xóm Chùa khiêng long đình có bài
vị vua, kỳ mục các thôn khác có kiệu và long đình thôn mình, mỗi thôn cũng
có phường bát âm, cờ quạt Đám rước kéo dài chừng vài giờ, từ sân đền CổLoa ra đến đầu làng thì giải tán, thôn nào về thôn ấy, chỉ có xóm Chùa - xóm
sở tại của đền, khiêng long đình, bài vị vua về đền
Hội Đền Cổ Loa còn kéo dài nhiều ngày với nhiều trò vui: đánh đáo, chơi
đu, cờ người… Đặc biệt, các buổi tối lại có hát chèo thờ thần
Trang 22hội hai bà trưng
Căn cứ vào những tài liệu khảo cổ, vào chính sử và dã sử, dễ nhận thấyrằng đất nước Phong Châu - trung du và vùng Vũ Ninh, Kinh Bắc- đồngbằng châu thổ sông Hồng, đã là nơi tổ tiên ta khởi nghiệp và dựng nghiệp Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 39 chống quân Đông Hán xâmlược thắng lợi, giành quyền tự chủ cho đất nước, dù ngắn ngủi (năm 39-43)vẫn đã nuôi dưỡng, đề cao ý chí độc lập cho dân tộc, làm vẻ vang cho nòigiống, cho nữ giới Việt Nam, làm rạng ngời trang chính sử, mở đầu côngnguyên buổi đầu dựng nước
Nhân dân tưởng nhớ Hai Bà và các tướng lĩnh, lập đền thờ, mở hội khắpnơi Nhưng nổi tiếng hơn cả trong cả nước phải kể đến ba ngôi đền chính, đó
là đền Đồng Nhân (Hà Nội), đền Hạ Lôi (Mê Linh, Vĩnh Phúc) và đền HátMôn (Hà Tây)
1 Hội Đền Đồng Nhân.
Đền Đồng Nhân dựng năm 1160, theo huyền tích, đêm mùng 6 tháng 2năm ấy, có hai pho tượng Hai Bà Trưng bằng đá trôi theo dòng sông Hồng,dạt vào bờ, toả sáng bãi Đồng Nhân Cho là điềm lành, dân làng làm lễ rướctượng về Biết chuyện, vua Lý Anh Tông truyền lập đền thờ tại chỗ Từ đó thành
lệ, vào dịp này, làng vào đám
Năm 1819, bãi sông lở, đền chuyển về Sở Võ (Giảng Võ đường thời Lê)thôn Hoàng Viên, nay thuộc phường Đồng Nhân, quận Hai Bà Trưng, HàNội
Hội Đền Đồng Nhân kéo dài bốn ngày, từ mùng 3 tới mùng 6 thángGiêng
Ngày mùng 3: lễ mở cửa đền, thắp hương
Ngày mùng 5 chính hội, có lễ tắm tượng, tế và múa đèn
Lễ tắm tượng diễn ra như sau: từ sớm mùng 5, chủ lễ cùng các chức sắc,
bô lão đã tề tựu đông đủ Các chân kiệu, chân cờ, người vác lọng và phườngnhạc tề tựu đầy đủ Đám rước thánh giá cử hành uy nghi, từ đền ra sôngHồng
Tới bờ sông, Thánh giá được khiêng xuống thuyền, có chủ lễ, cụ từ vàmấy chức sắc, bô lão đi theo Tới giữa dòng nước sạch, các cụ tắm tượng.Xong, thuyền quay về bờ, đám rước trở về Suốt dọc đường đám rước diễuqua, các thôn đều đặt hương án bái vọng
Trang 23Tới đền, khi Thánh giá yên vị rồi, là bắt đầu cuộc tế Năm phong đăng hoàcốc, mà làng cử chọn đủ các bà, các chị đúng tiêu chuẩn (đạo đức, khôngtang chế) thì có tế nữ quan Từ chủ tế đến các chấp sự viên đều là nữ chủ trì
lễ thức trang trọng này
Lễ mục đặc sắc, tươi vui nhất của hội Đồng Nhân là múa đèn thờ Đoànmúa đèn khoảng 10 người đều là các cô gái tuổi thanh xuân, đẹp, tầm vócnhư nhau, mềm mại, đã được luyện tập chu đáo Nữ vũ công mặc áo dài đen,quần hồng, thắt lưng đỏ ngoài áo buộc nút cạnh sườn, đầu chít khăn lụa(hoặc sa tanh) màu Đèn là những chiếc đài gỗ dài nhỏ, xinh, dán hoa giấymàu bọc quanh Ngọn nến thắp sáng cắm giữa lòng đài Mỗi người cầm haiđèn ở hai tay, xếp hàng đôi trước hương án Điệu múa uyển chuyển bước lênbước xuống, đan chéo lúc nhập làm một, lúc tách đôi hàng theo tiếng trốngcơm bập bùng nhịp nhàng của người dẫn đầu Dẫn đầu đoàn múa là một vũcông giỏi, nam đóng giả nữ, điều khiển cuộc trình diễn nghệ thuật Nhân vậtnày mặc áo the, quần trắng, khăn lượt, thắt lưng xanh buộc múi bên sườn;đeo ngang lưng chiếc trống cơm bằng những dải lụa nhiều màu buộc qua cổ.Sau lưng cắm hai hoặc ba lá cờ đuôi nheo nhỏ, vừa đi vừa uốn éo vừa lấy haitay vỗ vào hai mặt trống, tạo nên âm thanh "bập bùng" giữ nhịp cho đoànmúa Cùng lúc ấy, nhân dân - nhất là các bà - đứng sát bục của đình, bướcvào hương án vái lễ
Ngày mùng 6 tháng 2 rã đám, tế và lễ dâng hương kết thúc
2 Hội đền Hát Môn.
Nơi Hai Bà Trưng trằm mình là đoạn sông Hát, thuộc giang phận sôngHát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây cũ, nay thuộc Hà Tây
Hát Môn là cửa sông Đáy, phụ lưu sông Hồng
Đền Hát ban đầu là một am nhỏ Khoảng đầu thế kỷ XI làng mới tu bổ, xây
to lên Đến đời Lê Thần Tông (1623-1657), dựng bia đá để ghi công đức Hai
Bà
Vùng Hát Môn như một hậu cứ của nghĩa quân, nên đã được chứng kiếnnhững sự kiện lịch sử trọng yếu Nơi đây, Hai Bà lập đàn thề khởi nghĩa, lờihịch âm vang sông nước, trước ba quân cờ xí rợp trời, đằng đằng dũng khí.Nơi đây, làm lễ kỷ niệm ngày 24 tháng Chạp năm Kỷ Tỵ, (năm 39 dươnglịch) là ngày quân ta phản công thắng lớn trong trận đánh lại quân Mã Viện.Nơi đây chứng kiến cuộc xuất quân lần cuối của Hai Bà và cũng nơi đây,chứng kiến giờ phút cuối cùng của hai nữ thủ lĩnh nghĩa quân Vì vậy, nhândân đã cử hành tới ba lễ hội trong một năm
Trang 24thuyết rất cảm động Trước lúc nghĩa quân lên đường, có một bà già nghèodâng mừng cả gánh bánh trôi để tỏ lòng mến mộ Hai Bà vui vẻ nhận và cùngnghĩa quân ăn trước lúc ra trận.
Khác mọi nơi, bánh trôi cúng ở đây nặn theo hình quả trứng Và trong lễ trình lên bàn thờ, bánh được nặn đúng 100 viên nhỏ.Sau lễ tế thần, chủ tế cùng chức sắc lấy 49 viên đặt vào lòng bông hoa sen rồiđem ra sông Hát, để sen trôi ra biển, mọi người trầm lặng nhìn theo, tưởngnhớ đến Hai Bà, nhớ đến dòng dõi con Rồng cháu Tiên
Cũng vì vậy, dân Hát Môn không ăn bánh trôi vào ngày Tết mùng 3 tháng
3 (Tết Hàn thực) Chỉ đến ngày mùng 8 tháng 3, cả làng mới làm bánh trôicúng lễ hội, cúng tổ tiên và chỉ sau khi tế xong ở đình dân làng mới dám ănbánh trôi
Hội mùng 4 tháng 9 âm lịch:
Tương truyền ngày mùng 4 tháng 9 năm Kỷ Hợi (năm 39 dương lịch) là ngàyhội quân, hội tướng của nghĩa quân Quân của Hai Bà rút từ Tây Hồ về tậpkết cùng 7 vạn tân binh do bà Man Thiện (thân mẫu của Hai Bà Trưng) tuyểnlựa
Để khích lệ tinh thần quân sĩ, bà tổ chức lễ tế cáo trời đất, truyền hịch kêugọi anh hùng hào kiệt các nơi và bà tuyên đọc bốn lời thề:
Một xin rửa sạch quốc thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻn vẹn thửa công lênh này
Rồi bà sai mổ trâu khao quân
Ngày nay, mỗi khi mở hội, dân làng đều kéo cờ đại uy nghi, khắp đườnglàng cắm cờ ngũ hành rực rỡ, trống, chiêng nổi lên vang lừng mọi nơi
Ngày hội 24 tháng Chạp:
Đây là ngày hội lớn nhất, long trọng nhất trong năm Chuyện kể rằng, vàongày 24 tháng Chạp năm Kỷ Hợi (năm 39 dương lịch), Mã Viện quyết địnhđánh một trận lớn để tiêu diệt hậu cứ của nghĩa quân, giành thắng lợi toàn diện.Cũng tại đây, Hai Bà bố trí trận địa, dồn quân các nơi như quân bà CaoNhị, bà Lê Chân, bà Man Thiện - lập một chiến tuyến vững mạnh, đồng bộ.Quả nhiên, sau trận đụng độ quyết liệt, quân Mã Viện đại bại
Dân làng Hát Môn háo hức chờ đợi lễ hội cuối năm này Trước ngày hội,hàng ngàn trai gái làng đã được tập trung, chia xếp theo tuổi, tầm vóc, tậpdượt nhiều ngày cho thật thuần thục
Vào hội, họ đóng làm nghĩa quân, lập thành đạo tiền binh, hậu binh, nambinh, nữ binh có đồng phục riêng, Các vai tướng uy nghi với quân phục vàgiáo gươm phù giá Làng chọn tám cô gái thanh tân, xinh đẹp nhất theo hầukiệu Hai Bà
Trang 25Đúng nửa đêm 24 tháng Chạp, nghe tiếng trống làng, lập tức trai gái xếpthành quân ngũ, các chân cờ, chân kiệu, các hiệu trống, hiệu chiêng và cácchân vác tàn lọng đều đã đứng vào hàng Đám rước cử hành trong ánh đuốcsáng rực trời, giữa tiếng lễ nhạc âm vang trầm bổng, thực sự như một cuộchành quân lớn, tràn đầy khí thế đấu tranh, biểu dương sức mạnh cộng đồng.Tượng Thánh được rước ra sông làm lễ mộc dục, rồi rước về đền làm lễ dâng
tế, chúc tụng
3 Hội đền Hát Lôi (Mê Linh)
Thần tích ghi, thân phụ Hai Bà Trưng quê ở Hạ Lôi, phủ Yên Lãng, tỉnhPhúc Yên cũ (nay thuộc Vĩnh Phúc) Đền Hạ Lôi ở gần sông Hồng, cách bếnChèm (huyện Từ Liêm) 9km về phía Tây Theo bia khắc năm 1899 thì đềnđược sửa vào năm ấy, còn năm xây không rõ
Hội đền mở ngày mùng 6 tháng Giêng, tương truyền là ngày yến hạ khaoquân Dân trong vùng kéo đến rất đông xem lễ, dự hội Hội có lệ cúng bánhgiầy, có những trò vui cổ truyền như đấu cờ, nhún đu Nhưng dân chúng baogiờ cũng háo hức chờ đợi một lễ rất đặc sắc là lễ rước kiệu hội đồng
Từ giữa tháng Chạp, làng đã tuyển chọn xong khoảng 150 cô gái xinh đẹp và
70 chàng trai tuấn tú làm chân kiệu, chân cờ lọng, đồng thời cho tập luyệnrước xách hàng tuần thật chu đáo Đền có ba cỗ kiệu: hai kiệu rước thánh vịHai Bà, kiệu thứ ba rước thánh vị ông Thi Sách - chồng bà Trưng Trắc Kiệuông Thi Sách sơn đen tuyền, kiệu Hai Bà sơn son thếp vàng Sáng ngàymùng 6 tháng Giêng, sau tiệc tế ba tuần rượu, trống, chiêng nổi ba hồi chíntiếng báo hiệu cuộc "Rước hội đồng" bắt đầu
Dẫn đầu đám rước là hàng dài cờ hội Ba kiệu cử hành từ sân đền, theothứ tự: kiệu ông Thi Sách, kiệu Bà Trưng Trắc, kiệu Bà Trưng Nhị
Kiệu ông Thi Sách do 32 trai làng khiêng, kèm với 32 người dự bị Họđều mang đồng phục nghi lễ: áo dài đen, quần trắng, thắt lưng màu ra ngoài,buộc thành múi ở bên sườn trái, đầu chít khăn lượt Kiệu Hai Bà do các côgái khiêng, cũng với số lượng như vậy, đồng phục của họ là áo tứ thân màunâu, sống (váy) đen, hai vạt thắt lưng màu buộc ra sau, đầu chít khăn màu.Đám rước từ từ chuyển động, rực rỡ, hoành tráng trong tiếng trống,chiêng vang động cùng phường bát âm rộn rã Qua cửa tam quan, tới đườngcái - đường Trống Quân, theo tên gọi của người làng - thì kiệu ông Thi Sáchdừng lại, để kiệu Hai Bà lên trước Tục này gọi là "Giao kiệu", một hànhđộng lễ nghĩa "nội gia huynh đệ, ngoại quốc quân thần" (Trong nhà là anh
em, ra ngoài việc nước là vua tôi) Đám rước tiếp tục lên đường, uy nghi,đúng như một cuộc hành quân lớn Đoàn người đi theo đường Trống Quân,tới đường cái, rồi tiến về đình để "hội đồng" với bốn vị Thành Hoàng: Đô,
Hồ, Hạc và Thánh Cốt Tung
Trang 26Điều hấp dẫn của đám rước còn ở chỗ trong khi vừa múa, đội quân nam
-nữ này hát một khúc ca cổ, tương truyền có từ đời Hai Bà, người ta đặt ra đểnam nữ hát đối đáp nhau, cổ vũ quân lính
Anh em ta khó nhọc bao nài
Tiếp theo, nam nữ đồng ca:
Nỗi niềm tâm sự than thở cùng ai?
Đoàn trông phương Đông: nước rộng mênh mông
Đoàn trông phương Tây: đá trắng gồ ghề
Đoàn trông phương Nam: mây che đầu ngàn
Đoàn trông phương Bắc: núi non cao ngất.
Trang 27Hội Gióng
Làng Phù Đổng trước thuộc tổng Phù Đổng, huyện Tiên Sơn, tỉnh BắcNinh, nay là xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm (ngoại thành Hà Nội) Tổng PhùĐổng xưa gồm năm làng: Phù Đổng, Phù Đức, Đổng Viên, Đổng Xuyên, Hội
Xá Ngày 9 tháng 4 âm lịch hàng năm, ở đây mở hội Gióng để tưởng niệmanh hùng thần thoại Phù Đổng Thiên Vương Đây là một diễn xướng dângian tổng hợp, một hội trận trên quy mô lớn, được mở đầu từ thế kỷ XI
Tổng Phù Đổng có 13 giáp, các giáp luân phiên nhau, mỗi giáp một lầntrong vòng 10 năm làm chủ lễ Giáp chủ hội chịu trách nhiệm tổ chức lễ hội,cắt cử các ông hiệu cờ, hiệu chiêng, hiệu trống, hiệu trung quân, hiệu tiểu cổ
Đó là các tướng trong đội quân Văn lang, có hai lọng đi kèm Riêng ông hiệu
cờ đi bốn lọng vì ông là tượng trưng cho thiên tướng Những người đóng cácvai này là trai làng của giáp, tuổi từ 12 đến 20 Hai làng đóng vai thám báocũng phải cử mỗi làng ba thanh niên để làm hiệu chiêng, hiệu trống và đithám thính
Người ta chọn các trai làng tuổi từ 18 đến 36 để lập đội quân Có tất cả 10đội quân, mỗi đội gồm một chỉ huy
và 13 quân Ngoài ra, còn lấy thêm 12 người để lập đội vệ binh Người đóngvai này mặc đồng phục: mảnh vải đen quấn quanh bụng, có thắt lưng rủxuống như khố che, bên hông đeo một túi vải nhỏ màu đen hình lưỡi liềm cótua viền Túi được đính vào mảnh vải chéo màu hoa cà quấn quanh ngườihoặc buộc bằng những sợi dây đen Tất cả đều cầm quạt, đội mũ đen cóđường thêu rát những mảnh gương nhỏ tròn bao quanh đầu, đi chân đất.Người đóng vai chỉ huy thì mặc áo thụng xanh, đội mũ đen, chân đi giày hạ
Cờ chỉ huy may bằng lụa, nhuộm màu hồng, dài tám vuông khổ vải 35cm
Cờ này do hiệu cờ cầm để sử dụng trong trận đánh
Vai giặc Ân là những bé gái từ 10 đến 13 tuổi Có tất cả 28 nữ tướng, đội
mũ thêu hoa, tay cầm kiếm và một lá cờ đuôi nheo làm hiệu, áo dài màu sặc
sỡ, đeo nữ trang Người dân ở đây quan niệm giặc bị thua - yếu hơn nên phải
là yếu tố âm, ta thắng - mạnh hơn nên phải là yếu tố dương Do đó, đóng vaiquân ta là trai tráng khoẻ mạnh, quân giặc toàn là thiếu nữ đóng
Trận đánh được chuẩn bị từ ngày mùng 6 Tương truyền, bắt đầu từ ngàymùng 6 tháng 12 là những ngày giặc Ân đang đe doạ nước ta Bởi thế, mởđầu hội, ngày 6 tháng 4 là ngày rước nước Người dân tin rằng đây là nướcông Gióng ban cho dân để sinh sống và trồng trọt, đồng thời đây là ngày mởđầu hội trận - lễ rước binh khí sẵn sàng chiến đấu với địch
Trang 28Ngày hôm đấy, các vai quân và tướng rước hai chiếc chum Ngô (chum dongười Tàu làm, tương truyền do Đặng Thị Huệ cung tiến, đặt ở đền Thượng)
từ đền Thượng đến giếng đền Hạ - phường ải Lao múa hát dẫn đường 24binh sĩ của thiên tướng đứng thành hai hàng dọc, mặt quay vào nhau dọcđường ra đến giếng Theo hiệu lệnh tiếng chiêng của vị chỉ huy, người đứngsát giếng cầm chiếc gáo đồng múc nước chuyển cho người trước mặt mình
Họ chuyển chéo nhau cho đến người đứng sát bên chum Người này nhậngáo nước rồi theo hiệu lệnh đổ nước lên miếng vải đỏ che kín miệng chum đểnước được lọc sạch trước khi chảy vào chum Hiệu lệnh lúc này là trống vàchiêng trong khi đó phường ải Lao múa hát trước sân đền
Nước đã đủ (mỗi chum ba gáo), mọi người rước nước về đền Thượng.Chọn ngày lành đầu tháng 4, một vị hương chức chữ tốt được mời đến viếtchữ lệnh lên cờ hiệu Ngày 7 tháng 4, miều được rước từ nhà hiệu cờ ra đền
Hạ, (miều là túi cờ lệnh) Đó là một cái bao hình chữ nhật thêu rồng phượng,đoạn cuối có tua rủ Trong bao này là lá cờ hiệu cuốn lại, một trăm tờ giấybản trắng, hàng ngàn mảnh giấy màu cắt hình con bướm và 60 mẩu gỗ hươngtròn như những đồng xu Đồng thời với việc rước miều, một mâm cỗ chaycũng được rước lên đền Thượng để tế ông Gióng trong lời ca tiếng nhạc củaphường ải Lao Trưa hôm ấy có múa rối nước ở hồ trước đền
Ba hồi trống gióng giả Trong nhà thuỷ đình vang lên tiếng gọi: A! Bớrồi!
Pháo nổ vang, lá cờ hiệu từ dưới nước bật lên, tung bay phấp phới ÔngNhất, nhân vật giáo đầu của Hội Xá xuất hiện và giới thiệu tên các trò trìnhdiễn
1 Trò cô tiên hái hoa: Cô tiên mặc áo tứ thân, dải xanh, dải đỏ xuất hiện,múa lượn mềm mại theo nhịp hát nom thật dịu dàng, rực rỡ
2 Trò đánh đu: Diễn tả một đôi trai gái đang đánh đu Chàng trai quấnkhăn đầu rìu, áo tứ thân màu nâu, quần vàng, thắt lưng điều; cô gái mặc váythâm, áo dài mớ ba thắt vạt trước bụng, thắt lưng, đóng khố bao đen, dải khốdài quàng chéo qua ngực, qua vai, vòng ra sau lưng và thắt lại ở bên hông.Bên hông đeo túi đen hình sừng trâu, đầu đội mũ vải đen thêu kim tuyến,đính mặt gương tròn nhỏ, đằng sau có mái rủ xuống gáy
Theo lệnh xướng, họ xếp hàng hai rồi hàng bốn, quay phải quay trái rồibước đi, lúc đầu chậm rãi, sau chạy rầm rập bốn vòng và đứng lại làm lễ.Theo nhịp trống, chiêng, họ chắp hai bàn tay trước ngực, tiến theo sát bànthờ Gióng thì đứng lại, giơ chân trái đá sang trái, giơ chân phải đá sang phảirồi đi thụt lùi Các động tác được biểu diễn hùng mạnh, nhanh nhẹn, gọngàng và đẹp mắt Đây là những động tác quân sự được cách điệu hoá và biểudiễn theo tiếng trống khẩu "tung" và tiếngkẻng "keng"
Trang 29Tiếng trống khẩu và tiếng kẻng cuối cùng vang lên, tất cả dùng tay phảirút trong túi bên sườn ta chiếc quạt giơ lên quá đầu, miệng "dạ" thật to, xong
bỏ tay xuống Động tác này được lặp lại chín lần Sau đó cả đội dàn hàngngang, thụt lùi, miệng hô "dạ, dạ"
Đến giờ Thìn cùng ngày hôm đó, phường ải Lao diễn trò săn hổ Trò săn
hổ tượng trưng cho sức mạnh hùng hổ đã phải quy phục ông Gióng Đoànmúa trong trò này còn gắn với truyền thuyết vua Lý Thái Tổ nhớ ơn Thiêntướng đã gửi đoàn ca múa đến cung tiến thờ thần
Tất cả vai diễn đều mặc áo dài thâm, chít khăn thâm, đi chân đất, thắtlưng xanh bỏ múi bên sườn trái, trừ người đội lốt hổ
Trò diễn gồm:
- Một người đánh trống nhỏ
- Một người đánh mèn
- Một người đóng vai đi săn, cầm cung nỏ hay súng
- Một người đóng vai đi câu, cầm cần câu
- Hai người cầm cờ lau đóng trẻ đi chăn trâu Cờ lau là hai cái gậy dài,đầu gậy buộc chùm tua giấy ngũ sắc làm bông lau
Hổ làm động tác trên bốn lần rồi đứng về phía bên trái tượng Gióng Tiếp đó,hai người cầm cờ lau, hai người cầm trống con và mèn, hai người cầm cầncâu và cung tên vào quỳ gối, chắp tay lễ rồi đứng sang bên phía hổ
Động tác của họ ăn khớp với nhịp trống và mèn
Sau đó 12 người cầm sênh tiến lên đứng vào chiếu ba xếp thành hai hàng,gài sênh vào thắt lưng, đứng chụm gót chân, hai cánh tay gấp và nâng lênngang vai, bàn tay ngửa về phía bàn thờ, xong quay sang trái và quay sangphải Họ làm động tác này bốn lần, cầm sênh gõ bốn tiếng rồi chia thành haihàng đứng hai bên Ba tiếng trống đánh lên, cả phường đồng thanh hát
Sênh, trống, mèn được đánh lên để giữ nhịp và được cách điệu thành độngtác múa, người đánh trống đánh xong ba tiếng mở đầu, các cặp sênh liền lêntiếng giữ nhịp Mỗi câu hát được ba tiếng sênh điểm, còn trống cứ đánh haitiếng khoan, ba tiếng mau, tiếng cuối bao giờ cũng hoà với tiếng sênh
Bài hát chấm dứt, ông trùm ra nói lớn:
Trang 30- Chiềng hàng đội, đền đây có ông Hổ lang, ai nhân tài ra bắt, chúa hộithưởng.
Hổ nhảy ra múa nhiều động tác đẹp mắt
Người đi săn cầm cung và người đi câu xuất hiện, vừa làm động tác khoatrương vừa đối thoại:
- Tôi với anh!
- Anh với tôi!
- (Vỗ ngực khoe khoang) Mạnh đã có tôi!
- (Làm vẻ hớn hở xắn tay áo) Bạo đã có tôi!
- (Chỉ tay về phía hổ tỏ vẻ sợ sệt) Tối trời tôi không dám ạ!
- (Lo lắng nhìn trước nhìn sau) Có làm sao anh lôi tôi cho chóng
Họ vờn múa, đối đáp trong tiếng khèn, tiếng trống Điệu múa bát hổ diễn
ra trong tiếng nhạc, tiếng hát của phường ải Lao Nội dung lời hát này khôngliên quan gì tới việc săn hổ Rồi hai người đi săn lăn đùng ra chiếu, hai ngườinhảy vào bắt trói trong tiếng hát của phường ải Lao
Sau đó cả phường đứng vào làm lễ trước bàn thờ rồi ra về trong tiếng hát
ca ngợi chiến công
Trong lúc đó, cạnh đầm sen giữa hai con đê cũ và mới ở cuối làng ĐổngViên, trên bãi Đống Đàm, 28 tướng giặc đã chờ sẵn trên 28 kiệu (tượng trưngcho giặc) Tướng Đốc và tướng Ngựa đứng cuối cùng Các tướng giặc ngồikiệu nhỏ có bốn người khiêng, có lọng che, chung quanh có quân hầu hạ, bảo
vệ Các đồn trại giặc đóng thành hàng, cờ quạt đủ màu, binh khí tua tủa,chiêng, trống ầm ĩ giống như cảnh chiến tranh đang diễn ra ác liệt
Giờ Tỵ, quân thám báo chạy về báo tin giặc vây Đống Đàm, chiêng, trốngnổi lên ba hồi liền Tất cả chỉnh đốn hàng ngũ, chuẩn bị xuất quân, phường ảiLao vừa múa vừa hát bài ca ngợi Gióng
Dứt tiếng hát, các ông hiệu - tướng của Gióng đến làm lễ trước bàn thờGióng Các động tác trong lễ rước miếu được nhắc lại Ba hồi trống lệnh nổilên Một tiếng dạ to và đồng loạt của toàn quân vang lên, tất cả nhằm phíaĐống Đàm rầm rập tiến bước
Hai hiệu tiến cổ - tướng tiên phong - mặc áo đỏ, quần vàng chẽn ống, đội
mũ thêu rồng, cầm trống khẩu đi đầu rước các lọng đỏ có tua vàng buônglóng lánh Tiếp theo là đội quân tiên phong gồm làng áo đỏ và áo đen
Làng áo đỏ: mặc áo đỏ, quần vàng, đội nón thường, cầm roi gỗ sơn son,kéo đi ồn ào vui nhộn
Làng áo đen: mặc áo the thâm, quần trắng, thắt lưng xanh và đỏ bỏ, múibên sườn, cầm cờ đủ màu rực rỡ
Tiếp đến là phường ải Lao, áo the thâm, quần trắng, nón dứa, khăn lượt,giấy ban, vừa đi vừa múa hát
Trang 31Sau đó là hiệu trống, hiệu chiêng mặc áo đỏ, quần vàng, thắt đai lưngthêu, đội mũ long, tay cầm dùi gỗ, có hai lọng che Theo hầu các ông là chínquản gia, quần áo xênh xang, vác binh khí trông rất hùng dũng.
Hiệu trung quân là tám người mặc áo vàng nẹp đỏ, quần chẽn ống, cầmbát bửu đi trước giữa hai lọng ngũ sắc che trên và nhiều quản gia vác binhkhí hộ vệ, xem vào là phường bát âm, tiếng nhạc tưng bừng hoà vào nhịphành quân
Đi sau là đội phù giá ngoại, đóng khố bao đen, mình trần, khăn hoa cà vắtchéo qua vai, đeo túi bán nguyệt nhiều màu, cầm dùi đồng, siêu dao, hoạkích phủ việt, cờ trìu, cờ tuyết chạy rầm rập theo tiếng trống và kẻng "tung,keng"
Đội phù giá nội mang lồng mũ, bao đai, phương du, hòm màn, kiếm trần,long đao… tức quân trang, binh khí của thánh đi kèm long giá Long giá làcon ngựa gỗ sơn trắng có bánh xe Khoảng 60 người dùng hai dây dài buộcvào đế gỗ để kéo long giá Sau chín tiếng trống hiệu, long giá được kéo đivùn vụt cuốn cát bụi tung trời
Sát sau long giá là đội quân lương Đám rước kéo dài hàng cây số Khiqua đình ở chợ Gióng thì toán quân báo chờ sẵn nhập vào trước long giá.Đoàn quân kéo đi kín một quãng đê dài 3km
Bãi chiến trường được bài trí rất đơn giản Giữa hai con đê là hồ sen Địch
án ngữ mặt hồ Trên khoảnh đất lô nhô những mô gò trải ba chiếc chiếutrắng, xén đầu Giữa mỗi chiếc chiếu có chiếc bát úp lên trên tờ giấy trắng.Chiếu tượng trưng cho đồng bằng, bát là đồi núi, giấy là mây (ý nói Gióngvượt qua vùng đồng bằng, đạp bằng đồi núi quét sạch mây mù Nhưng cũng
có ý kiến cho đây là những đồn trại giặc đóng nhiều như bát úp) Sát nền con
đê cũ dựng một bàn thờ Ngựa, binh khí, cờ quạt tụ cả ở đây Các ông hiệutập trung quanh mấy chiếc chiếu phía gần bàn thờ Ông thủ chỉ làng PhùĐổng và ông thủ từ mở lá cờ và túi nhiễu Những mẩu giấy vàng hương tung
ra, dân chúng tranh nhau nhặt để lấy khước Ông thủ từ cũng giữ lại một íttrong cái hộp sơn son để sau này sẽ phân phát cho dân trong tổng
Cờ được phất lên, ông hiệu cờ bước ba bước, chân trái chếch sang tả, chânphải sang hữu Ông nhấc chân phải tung chiếc bát và tờ giấy - tượng trưngcho việc vượt qua núi, qua chín tầng mây
Sau đó ông đứng vào giữa chiếu, hai bàn chân sát vào nhau, nhảy múa tạichỗ hai lần Ông quỳ gối bên phải xuống chiếu, chân trái làm thành gócthẳng Hai tay cầm cờ, ông phất sang phải, sang trái rồi múa ba lần Xong,ông đứng dậy đi giật lùi khỏi chiếu Cung cách tấn công thần bí ấy lặp lại hailần trên hai chiếc chiếu còn lại Chiếc chiếu thứ ba cuốn đi là giặc Ân tan vỡ.Quân của Thiên tướng thắng trận, trật tự kéo về đền Tới đền Thượng, ônghiệu cờ cầm cờ trên giá binh khí đặt trước hương án, chiêng, trống dàn hai
Trang 32bên hiên Con ngựa bạch dừng trước bái đường Tiệc lớn được dọn ra để thếttướng sĩ.
Nhưng địch chưa bị đánh bại hẳn, lại tập trung quân kéo đến Phù Đổng.Đội thám báo ở Đổng Xuyên đến trình với Thiên tướng là địch đang lấnđất Mọi người lại lao ra chiến trường Mỗi lần ông hiệu cờ lướt qua đámgiặc, người ta lại đốt một bánh pháo đùng Tới ngôi đền, nơi mà hai nguyênsoái địch đóng quân, đoàn quân liền quay ngoắt lại, tiến tới Sòi Bia đối diệnvới làng Phù Đổng ở đây sẽ diễn ra trận đánh thứ hai Ba cái chiếu lại giăng
ra, ba tiếng trống làm hiệu Ông hiệu cờ diễn lại các động tác như ở trậnđánh thứ nhất Chỉ khác là lần này ông phất lá cờ từ trái sang phải Chiếcchiếu cuối cùng cuốn đi là bọn địch đã hoàn toàn thất bại Chúng xếp thànhhàng trên sườn đê dẫn vào đền Thượng để xin đầu hàng Hai chánh phótướng địch phải rời ghế ngồi, quỳ xuống trước bàn thờ lạy bốn lạy, vái haivái Ông thủ từ cầm lấy thanh gươm của chúng lấy mũi gươm hích mũ áochúng ra, đem vào chính điện dâng lên Thiên tướng - tượng trưng cho sựhành quyết hai tướng đầu sỏ Các tướng khác được tha Quân của Thiêntướng mở tiệc ăn mừng
Hôm sau, ngày 10 tháng 4 là ngày duyệt quân, kiểm tra khí giới, làm lễ tạthần và đặt tiệc để khao tướng sĩ Các tướng giặc quy hàng cũng được dựtiệc
Ngày 14 tháng 4 là ngày xem xét lại bãi trận Cờ trắng treo lên các câysào, cắm dọc đường làng Đổng Viên ra Đống Đàm, chứng tỏ kẻ địch đã hoàntoàn bị khuất phục Dân làng làm lễ lớn dâng thần Đến tối, bốn nghệ nhânxuất sắc nhất trong hội được chọn trình bày Lạc Thành Đến đây là kết thúchội (còn gọi là hạ hội)
Trang 33Hội Đền Đô
Hội Đền Đô hay còn gọi là hội Đền Lý Bát Đế, thờ tám vị vua nhà Lý, từ
Lý Công Uẩn (1010-1028) đến Lý Huệ Tông (1210-1224), nằm ở phía đôngnam làng Đình Bảng, xã Đình Bảng, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc nay làhuyện Từ Sơn, Bắc Ninh Hàng năm, dân làng mở hội đền ba ngày (từ 15 đến
18 tháng 3 âm lịch) kỷ niệm ngày vua Lý Thái Tổ lên ngôi Vì thế, hội cũng
có tên là lễ hội đăng quang
Mở đầu hội là lễ bầu Cai Đám Dân làng tiến hành chọn trong số 32người giáp trưởng để lấy một người điều hành lễ hội, tượng trưng cho vua LýThái Tổ ra đền tạ ơn đức Thánh Mẫu, tổ tiên và thần linh Người được bầulàm Cai Đám phải bày cỗ cúng gia tiên, làng phải rước Cai Đám ra đền trìnhThánh trước khi vào hội
Ngày 15, Cai Đám ra chùa Dâu (chùa Cổ Pháp - nơi sinh vua Lý CôngUẩn) để bái đức Thánh Mẫu, đức Thánh Văn, đức Thánh Tam Bảo Sángngày 16 lại ra chùa dâng oản, chuối rồi về tế lễ ở đền để vào chính hội.Trong các ngày hội, ngày nào cũng có cỗ hiến sinh, mỗi ngày là một con trâumộng thui chín, theo tục truyền: Khi chữa lành bệnh hoá hổ cho vua Lý ThầnTông (1128-1138), nhà sư Không Lộ được vua trả ơn bằng cách khi sư tịchdân làng phải thui trâu mộng tế nhà sư
Cuộc rước kiệu vào ngày chính hội, 16 tháng 3, là cuộc rước long trọng vàđông vui nhất Trước đó mấy tháng, làng phải chọn ba ông thế tướng, 16 namtướng, 16 nữ tướng và hơn một trăm người để khiêng kiệu, cầm kích Đoànrước từ đền Đô đến chùa Dâu để nghe các tăng tụng kinh rồi trở về đền.Trước khi cuộc rước khởi hành, ba ông thế tướng vào đền thắp hương làm lễ,xong xuôi, đám rước mới lên đường Ngoài tám cỗ kiệu ra còn phải có 32 lá
cờ đại của 32 giáp, do trai đinh từ 13 đến 18 tuổi của mỗi giáp vác
Đi đầu đoàn rước là 3 thế tướng, cởi trần, đóng khố vàng, mỗi ông vácmột cái "dùi trái dành" (vốn là để thờ ở đền) được coi là thánh do vua Lý ứngvào trong ngày hội; tiếp theo là phường nhạc, sau đó là hương án tiền rướcThánh Mẫu với bốn kiệu và bốn ngựa gỗ, 16 tướng nữ có lọng che, phụ giácho người rước kiệu, ngựa do các trai đinh kéo Tiếp theo là Cai Đám áothụng xanh, quần trắng, mũ y quan, đi hia, che lọng và cuối cùng là 16 tướng
Trang 34nam Các chức sắc, hương lão và dân chúng cũng đi theo đoàn rước rất đông,cùng với cờ xí rợp trời, tấu nhạc lễ hội tưng bừng suốt cả đoạn đường.
Ngày hôm sau là cuộc thi đấu cờ người Thủ vai quân mỗi bên là 16 namtướng và 16 nữ tướng nam đóng quân đỏ, nữ đóng quân đen; các vai tướng sĩđều có lọng che; các quân cờ khác ăn mặc chỉnh tề nhất loạt Người cầmquân phải nghiêm luật và có người hầu làm các việc cần thiết khi đi quân cờ,chiếu tướng Ai thắng cuộc thi thì vẫy cờ, trống rước vòng quanh ba vòng rồivào đền yết bái tượng trưng cho vũ công đại định của ngày mở nước Tấtnhiên để thắng được cuộc phải trải qua ba cuộc thi: nhất thắng, nhị thắng, tamthắng sau đó mới vào chung kết
Trang 35Ngoài Trần Hưng Đạo, trong đền còn thờ phu nhân Thiên Thành, hai côngchúa con ông là Duyên Thanh, Anh Nguyên cùng con rể Phạm Ngũ Lão vàhai gia thần Dã Tượng, Yết Kiêu
Lễ hội Kiếp Bạc được tổ chức vào ngày 20 tháng 8 (âm lịch) hàng năm.Thực ra vào ngày này, nhiều nơi trên đất nước ta như Bảo Lộc (Nam Hà),Yên Cư (Ninh Bình), phường Võ Thị Sáu (Thành phố Hồ Chí Minh) đều
mở hội để tưởng niệm vị tướng thiên tài Trần Hưng Đạo đã ba lần đánh tanquân Nguyên ra khỏi bờ cõi
Ngày trước, mỗi khi mở hội ở Kiếp Bạc, triều đình đều cử quan về tế.Ngày nay chính quyền sở tại đảm nhận việc tế tự, tổ chức hội hè vui chơi chodân chúng trong vùng và cả du khách thập phương chung hưởng
Sau lễ tế, đám rước được cử hành Rước kiệu ở đền Kiếp Bạc có nhữngnét độc đáo gắn liền với chiến công của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn
Đó là cảnh rước kiệu trên sông nhớ lại cuộc thuỷ chiến oai hùng "chiếnthuyền nhiều như lá tre" mà thuở xưa Trần Hưng Đạo đã cùng tướng quâncủa ông đánh thắng giặc Nguyên giữa sông Bạch Đằng Vào ngày chính hội(19 tháng 8), hàng trăm chiến thuyền từ các vạn chài kéo về vây kín cả bếnVạn Kiếp để chuẩn bị cho đám rước Từ đền qua cổng tam quan, kiệu TrầnHưng Đạo được rước lên thuyền rồng giữa tiếng trống, tiếng chiêng, tiếng tù
và vang rộn Các thuyền hộ tống cũng được trang trí rực rỡ cờ hoa từ từ tiếnlại quanh thuyền rồng rồi cùng nhau rời bến trong tiếng hò reo náo nức củadân chúng Đám rước diễu hành trên sông khoảng chừng ba cây số thì quaytrở lại vị trí xuất phát Tại đấy, đoàn phụ kiệu đã đứng sẵn trên bờ để đónkiệu lên và rước vào đền
Sau rước kiệu, là trò đua thuyền Thuyền ở đây được bài trí theo kiểuthuyền chiến Các trải bơi tập luyện thành thạo để có khả năng tăng tốc độcủa thuyền vun vút như mũi tên lao và biết luồn lách đủ kiểu để bảo đảm antoàn, mục đích của cuộc đua Cùng với việc rước kiệu, trò đua thuyền đãdiễn lại hào khí Đông A trên vùng sông nước mà Hưng Đạo Vương đã sống,
Trang 36chiến đấu trong những ngày giặc Nguyên hoành hành đất nước và chúng phảitrả giá
Trần Hưng Đạo với tư cách là vị tướng thuỷ quân có tài thì thông qua đámrước, qua trò chơi dân gian, trò diễn cũng có thể phần nào biết được NhưngTrần Hưng Đạo là một vị Thánh thì phải vào tận trong đền mới biết Quả lànghi ngút khói hương, tràn đầy lễ phẩm khi bước chân vào đền Kiếp Bạc trongmùa hội Người ta lễ bái, cầu xin Đức Thánh Trần ban phước suốt ngày khôngngớt (có khi còn kéo dài mấy ngày sau hội) Hiện tượng này góp phần phảnánh lòng kính tín vô bờ đối với một vị Thánh vốn xuất thân từ một con ngườitrung thực, từ sự nghiệp đánh giặc cứu nước theo yêu cầu lịch sử Từ lòng tônkính, nhiều nơi đã gọi nhân vật truyền thuyết, danh nhân lịch sử này là cha:
"Tháng tám - giỗ Cha, tháng ba - giỗ Mẹ" là muốn nói về lễ hội Trần HưngĐạo vào tháng 8 và hội Liễu Hạnh vào tháng 3
Trang 37hội trường yên
Hội Trường Yên (Hoa Lư - Ninh Bình) chính thức bắt đầu vào năm nàokhông ai nhớ rõ Trong ký ức những người già ở Hoa Lư, hội Trường Yên đã
có từ rất lâu Song do đất nước gặp chiến tranh khốc liệt, hội Trường Yên đãkhông được tổ chức thường xuyên Tới tận những năm 1982 và nhất là năm
1983, hội mới được mở lại với một quy mô khá lớn
Hội Trường Yên được mở nhằm tưởng niệm công đức lớn lao của ĐinhTiên Hoàng đế và Lê Đại Hành hoàng đế Nhân dân địa phương tổ chức hộiTrường Yên vào ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch, ngày vua Đinh tức vị
Hội kéo dài ba ngày, nhưng ngày chính là ngày mùng 10 tháng 3 Một thờigian dài hội Trường Yên được coi là quốc lễ Sau đó mới trở thành hội làng,
do làng tổ chức Như tất cả các hội làng thông thường, hội Trường Yên gồmhai phần lớn: Lễ và hội
Xưa Trường Yên chỉ có hai làng là Yên Thượng và Yên Hạ Dân YênThượng lo việc tế lễ ở đền Đinh Dân Yên Hạ lo việc tế lễ ở đền Lê Hànggiáp cắt phiên nhau mua sắm lễ vật Ngoài hương hoa, người ta phải lo lợn
và xôi Lợn phải chăm từ một năm trước Trước ba tháng lợn được ăn tinhkhiết Đúng ngày, dân mổ lợn, luộc chín, bày vào mâm lớn, rước ra đền Duychỉ một lệ nhỏ cần nhớ: Vua Đinh bị hại vì món dồi nên không đem dồi vàomâm cúng thần Các đồ tế được mang ra, lau chùi sạch sẽ, rước đặt ở sânrồng
Đền vua Đinh được xây theo kiểu "nội công ngoại quốc", đường vào thànhxây theo chữ vương Qua Ngọ Môn quan (cổng ngoài), tới Nghi Môn ngoại(cửa ngoài) Tiếp theo là Nghi Môn nội (cửa trong), đi tiếp nữa, rẽ sang trái lànhà Khải Thánh, thờ cả mẹ vua Đinh Đối diện, bên trái là nhà Vọng, nơi trướcđây các cụ họp bàn việc tế lễ Qua hai cái trụ tới sân rồng Giữa sân là sập rồng(long sàng) bằng đá, khắc nổi hai con rồng đẹp Hai bên sập là hai con nghébằng đá nguyên khối, tăng vẻ uy nghi Đền có ba toà: Bái đường (ngoài cung)mang biển đề ba chữ thếp vàng lộng lẫy "Chính thống thuỷ" (Mở nền chínhthống); Thiên Hương, nơi thờ tứ vị công thần nhà Đinh, có hương án và cờ
"Thái bình" tượng trưng cho Đinh Tiên Hoàng; trong cùng là chính cung cótượng vua Đinh ở giữa Tượng Đinh Liễu con trai cả bên phải; tượng ĐinhHạng Lang và Đinh Toàn hai con thứ của vua
Đền vua Lê về đại thể không khác nhiều lắm so với đền vua Đinh Duy cóbên hương án, treo cờ "Thiên Phúc" tượng trưng của Lê Đại Hành (giữa),
Trang 38tượng Bảo Quang Thái hậu (tương truyền là Dương Vân Nga) bên phải,tượng Lê Ngoạ Triều, vua thứ ba triều Tiền Lê
Khi lễ hội bắt đầu, đám rước nghiêm trang khởi hành từ đền vua Đinh Điđầu là cờ quạt, rồi tới phường bát âm, tám người đi sóng đôi với nhau Rồiđến kiệu long đình, trên đặt chiếc choé đựng nước Thánh Tất cả trang phụcgần giống nhau: quần trắng, áo the, khăn chụp, thắt lưng xanh đỏ Ngườimang cờ quạt đội thêm nón đúc
Đi theo kiệu là các già làng mặc áo tế, cùng với một chức dịch hoặc nhà
sư Trống, chiêng nổi lên, đám rước chậm rãi lên đường tới bến Trường Yên(Hoàng Long đô), nơi được truyền là Đinh Bộ Lĩnh bị chú đuổi phải vượtqua sông và được rồng vàng rước qua
Trong hội Trường Yên, tế là nghi thức quan trọng nhất Đặc biệt lại tế về
đêm Khi đèn đuốc bật lên, ánh sáng hoả sắc với các đồ tế khí óng ánh, rực
rỡ, buổi lễ càng trở nên uy nghi Hai cây đình liệu, to như hai cây cột dài10m cháy rừng rực từ 6 giờ tới nửa đêm
Ban lễ gồm năm người: một ông chánh lễ, hai ông phân hiến, hai ông bồitrị
Giúp ban có ông thông xưởng, ông hạ xưởng, ông chiêng, ông trống, haiông đem đài (rước đài) Sau cùng là chín ông đọc chín khúc (cửu khúc), mộtbài ca nghi lễ ca ngợi công đức nhà vua, được trình bày như một nghệ thuậtdiễn xướng Vì sau mỗi khúc tế bằng Hán vận thì có hai người phường nhàtrò, nam đàn, nữ hát diễn giải toàn bộ nội dung khúc hát bằng lời ca trù.Cuộc tế kéo dài như vậy khoảng năm, sáu tiếng, trong thời gian ấy quầnchúng náo nức, reo hò trước cây pháo bông
Phần lễ kết thúc ngày 13, ngày quan trọng nhất của hội Sớm ngày 11tháng 3, sau khi cử hành lễ dâng hương ở hai đền, người ta tổ chức các tròvui, các sinh hoạt văn hoá khác
Khách hành hương, trẩy hội đi ra bãi Hang Trâu - phía phải đền Đinh TiênHoàng - xem trò "cờ lau tập trận" Trò chơi bộc lộ khí phách và báo hiệu tàinăng của người anh hùng "Cờ lau tập trận" diễn lại sự tích quãng đời đi chăntrâu cho chủ của Đinh Bộ Lĩnh
Truyền thuyết kể rằng, một buổi đi chăn trâu, Đinh Bộ Lĩnh ngồi trênmình trâu ngâm nga:
Cỏ cây ấy, non nước này
Nước non quanh quất cỏ cây xanh rì
Rừng hoang cỏ rậm để chi
Phen này ta quyết dọn đi cho rồi
Này này chúng bạn ta ơi.
Lũ trẻ chăn trâu reo hò tán thưởng
Trang 39Đinh Bộ Lĩnh ném đá giỏi, khoẻ, nhanh lại tránh né tài tình nên không hề
bị thương tích Hơn nữa, chú bé quyết đoán, chỉ huy giỏi nên chẳng bao lâuquân ba thung nhất loạt suy tôn Bộ Lĩnh làm chủ tướng và ngày nào chúngcũng tụ hội một nơi để chia làm hai phe đánh trận Bên nào có Bộ Lĩnh là ynhư bên ấy lại thắng Cứ mỗi lần như vậy, lũ trẻ lại xúm lại vòng tay kiệuchú lên rước đi quanh vùng như rước một vị anh hùng thật sự
Trò "Cờ lau tập trận" dựa trên những câu chuyện thời thơ ấu của Đinh BộLĩnh ấy mà trình diễn lại hàng năm, nhân ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch,ngày Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong 12 sứ quân, lên ngôi vua
Người ta chọn từ 70 đến 100 em trai, tuổi 15, 16, tầm vóc sàn sàn nhau,sức khoẻ tốt, cho luyện tập, chú bé đóng Đinh Bộ Lĩnh đặc biệt phải linh lợi,sáng sủa, khoẻ mạnh Đinh Bộ Lĩnh được mặc áo vàng - Hoàng bào - áo củavua; quân mặc áo xanh, quần cộc trắng (hoặc xanh)
Số trẻ chia làm hai phe, với màu sắc khác nhau Đạo cụ để diễn có côn,
có kiếm, bông lau làm cờ hiệu những đầu trâu bằng giấy đan nan, dù saocũng phải tỏ rõ đây là trẻ chăn trâu thời Đinh Bộ Lĩnh ngày xưa Trống,chiêng là những dụng cụ dùng làm hiệu ra quân và thu quân Cuộc diễn nhắclại hoạt động thông thường của trẻ chăn trâu trên bãi cỏ và quá trình chinhphục cả ba thung lũng của người anh hùng nhỏ tuổi
Thu phục ba thung lũng về một mối, âu cũng là dấu hiệu của việc thu phục 12
sứ quân sau này của Đinh Bộ Lĩnh
Tham gia diễn trò ngày hội, ông trùm dẫn "trẻ trâu cả ba thung" vào sânrồng, trước bàn thờ vua Đinh để tế tạ và xin phép vua trình diễn trò này.Trong khi lễ, ông trùm đọc bài tấu sau:
Trải mấy nghìn năm
Đội đức cao thâm
Trang 40Hết lòng kỷ niệm
Tích xưa bày diễn
Tập trận cờ lau
Nhắc lại đời sau
Tỏ gương đời trước
Trước kia hội Trường Yên là một hội lớn, trước hết đó là nơi nhà nướcphong kiến đứng ra tổ chức (quốc tế, quốc lễ) Song điều thuyết phục được
du khách thập phương chính là cảnh đẹp tuyệt vời của toàn bộ cấu trúc khuvực cố đô Công trình thiên tạo và nhân tạo dựa vào nhau, tôn nhau lên, tạomột vẻ đẹp kỳ thú, mà nhiều người đã gọi không sai rằng đây là "Hạ Longtrên cạn", sau Chùa Hương, một "Nam Thiên đệ nhất động"
Về thăm và dự hội Trường Yên cũng là dịp may mắn để ôn lại những nămtháng vẻ vang của những năm đầu mở nước của ba triều đại Ngô - Đinh - Lêsau nghìn năm chống Bắc thuộc của cha ông ta, cũng là để hiểu sâu sắc hơnlịch sử của một nhân dân anh hùng và đất nước - Tổ quốc nơi nào cũng inđậm những chiến công