1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TÀI LIỆU THAM KHẢO SÁCH CHUYÊN đề, đổi mới GIÁO dục đào tạo, THỜI cơ và THÁCH THỨC

502 171 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 502
Dung lượng 2,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I. Giáo dục việt nam trước năm 19451. Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ phong kiến.Việt Nam là dân tộc có truyền thống hiếu học. Trong đời sống xã hội, con người Việt Nam trọng đạo lý và nhân nghĩa, có truyền thống tương thân, tương ái, tôn sư trọng đạo... Trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam tỏ rõ là một dân tộc giàu tài năng, dũng cảm, thông minh và sáng tạo. Sau khi đất nước được độc lập (năm 938), dưới các triều đại phong kiến Ngô, Đinh, Tiền Lê (9391009), việc học tập lúc này chủ yếu được tổ chức trong các trường tư và trường chùa. Mãi đến đời nhà Lý (thế kỷ XI), triều đình phong kiến lúc đó mới thực sự quan tâm đến việc giáo dục. Năm 1076, nhà Lý lập ra Quốc Tử Giám (đây được coi là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam) để dạy con em hoàng tộc. Đến năm 1253, nhà Trần gọi trường này là Quốc Tử Viện, thu nạp các hoàng tử, con các nhà quyền thế và cả con em các thường dân ưu tú để đào tạo quan lại phong kiến. Đến năm 1397, vua Trần Thuận Tông ban Chiếu mở trường công ở châu, huyện, việc học giai đoạn này đã có sự phát triển thêm một bước mới. Đến đời nhà Hồ (14001407), Hồ Quý Ly cũng rất quan tâm đến việc giáo dục để nâng cao dân trí và tuyển chọn người tài. Đến đời nhà Lê (thế kỷ XV), nhất là dưới triều vua Lê Thánh Tông (14601497), quy mô của các trường đã mở rộng hơn cho con em dân thường được đi học.

Trang 1

ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THỜI CƠ VÀ THÁCH THỨC

Phần thứ nhất

Sơ lược Lịch sử phát triển của giáo dục việt nam

I Giáo dục việt nam trước năm 1945

1 Giáo dục Việt Nam trong thời kỳ phong kiến.

Việt Nam là dân tộc có truyền thống hiếu học Trong đời sống xã hội, con ngườiViệt Nam trọng đạo lý và nhân nghĩa, có truyền thống tương thân, tương ái, tôn sư trọngđạo Trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam tỏ rõ là mộtdân tộc giàu tài năng, dũng cảm, thông minh và sáng tạo

Sau khi đất nước được độc lập (năm 938), dưới các triều đại phong kiến Ngô, Đinh,Tiền Lê (939-1009), việc học tập lúc này chủ yếu được tổ chức trong các trường tư vàtrường chùa Mãi đến đời nhà Lý (thế kỷ XI), triều đình phong kiến lúc đó mới thực sựquan tâm đến việc giáo dục Năm 1076, nhà Lý lập ra Quốc Tử Giám (đây được coi làtrường đại học đầu tiên ở Việt Nam) để dạy con em hoàng tộc Đến năm 1253, nhà Trầngọi trường này là Quốc Tử Viện, thu nạp các hoàng tử, con các nhà quyền thế và cả con

em các thường dân ưu tú để đào tạo quan lại phong kiến Đến năm 1397, vua TrầnThuận Tông ban Chiếu mở trường công ở châu, huyện, việc học giai đoạn này đã có sựphát triển thêm một bước mới Đến đời nhà Hồ (1400-1407), Hồ Quý Ly cũng rất quantâm đến việc giáo dục để nâng cao dân trí và tuyển chọn người tài Đến đời nhà Lê (thế

kỷ XV), nhất là dưới triều vua Lê Thánh Tông (1460-1497), quy mô của các trường đã

mở rộng hơn cho con em dân thường được đi học

Nhìn chung, ở thời kỳ này có ba loại trường: Quốc Tử Giám ở Kinh đô do nhà vuatrực tiếp cai quản; một số trường công ở phủ, huyện; phổ biến hơn là loại hình trường tư ở

làng, xã Trong suốt gần 10 thế kỷ, dưới các triều đại phong kiến, nhà nước mới chỉ tập

trung đào tạo quan lại phong kiến các cấp và các trường học đều chịu ảnh hưởng rất lớncủa tư tưởng Nho giáo Tư tưởng Nho giáo lúc đó được các nhà nho đề cập như là mộtthành tố quan trọng trong giáo dục Nho giáo coi giáo hoá con người bằng đức là phươngtiện, biện pháp hiệu quả nhất để đào tạo con người, hoàn thiện con người, từ đó ổn định,

Trang 2

hoàn thiện xã hội Nho giáo đánh giá cao vai trò của giáo dục đối với sự phát triển nhâncách con người Quan niệm của các nhà nho cho rằng: bằng giáo dục, giáo hoá có thể thay

đổi được bản tính vốn có của con người Chính vì vậy, trong sách Luận ngữ, Khổng Tử

đã coi công việc giáo hoá cùng với việc giúp dân làm giàu là công việc chính sự quantrọng nhất của nhà cầm quyền Ông quan niệm: "Khi dân đã đông thì nhà cầm quyền phảigiúp dân làm giàu Và khi họ đã giàu thì phải giáo hoá họ"1 Mạnh Tử coi giáo hoá làcông việc quan trọng nhất của kế sách giữ nước Ông nói: "Người trên không có lễ giáo,người dưới không có học thức, kẻ dân tàn tặc dấy lên, nước mất đến nơi"2

Chính vì coi trọng giáo dục mà chính quyền phong kiến đã đặc biệt khuyến khíchgiáo dục, thi cử, mở trường dạy học, lựa chọn nhân tài qua con đường thi cử Các nhànho đều cho rằng, một xã hội tốt đẹp là một xã hội ổn định, thái bình, có trật tự, có kỷcương và mọi người đều hết sức thánh thiện Song, để có con người thuần tuý hết sứcthánh thiện phải có giáo dục, giáo hoá con người hướng về cái thiện, làm theo điềuthiện Nho giáo khá thành công trong việc khắc hoạ mẫu người trung tâm của xã hội là

kẻ sĩ, người quân tử Sự phân biệt giữa người quân tử với người tiểu nhân ở chỗ có đứchay không có đức Và nhân cách của các bậc quân tử thể hiện sự hết lòng chuyên tâm

"học đạo và hành đạo"

Về đối tượng giáo dục, giáo hoá trong tư tưởng Nho giáo, nhiều nhà nghiên cứu đã

bắt đầu từ tư tưởng của Khổng Tử trong sách Luận ngữ: "Hữu giáo vô loại" (giáo dục

không phân biệt kẻ sang người hèn, kẻ cao người thấp), thể hiện tính nhân văn rất cao

và đã có sự khởi nguồn quan niệm bình đẳng về giáo dục trong tư tưởng Nho giáo(nhưng thực chất chỉ con nhà khá giả mới có điều kiện được đi học)

Nội dung và phương pháp giáo dục trong Nho giáo được định vị một cách chặt chẽ.Nội dung giáo dục có tính phổ cập cho tất cả mọi người là "dạy đạo làm người, đạocương thường" Những nội dung cụ thể của nó phản ánh quan hệ, nghĩa vụ, trách nhiệmcủa con người đối với bản thân, gia đình và xã hội Tư tưởng của Nho giáo toát lên tinhthần khoan dung, sống có trách nhiệm giữa con người với nhau Hiếu học là một đặcđiểm tốt đẹp của Nho giáo, nó được duy trì cho đến ngày nay ở một số nước châu á nhưTrung Quốc, Nhật Bản, Xinhgapo, Hàn Quốc, Việt Nam Ngoài hiếu học, Nho giáocòn đề cao tư tưởng tôn sư trọng đạo, sự hiếu nghĩa Nho giáo đề cao vị trí của gia đình,gia tộc, của cộng đồng và được tuân thủ theo một trật tự, kỷ cương nghiêm ngặt Trong

số những người được học ở các trường, một bộ phận ưu tú được chọn để dạy những trithức về văn chương, chính trị, về các bài học kinh nghiệm của lịch sử nhằm đào tạo họtrở thành những người tài đức, thực hiện "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" Trongnội dung giáo dục của Nho giáo, việc đề cao giáo dục đạo đức, nhân cách là một quanniệm sáng suốt, và vì vậy, được duy trì cho đến ngày nay Trong tư tưởng giáo dục đạo

1 Kh ng T , ổng Tử, ử, Lu n ng , ận ngữ, ữ, Chương Tử Lộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ng T L , ( oàn Trung Còn d ch), ti t 9, Nxb Tài trí, ử, ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ết 9, Nxb Tài trí, Sài Gòn, 1950, tr 203.

2 M nh T Qu c V n gi i thích ạnh Tử Quốc Văn giải thích ử Quốc Văn giải thích ốc Văn giải thích ăn giải thích ải thích (Nguy n H u Ti n và Nguy n ôn Ph c d ch), ễn Hữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch), ữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch), ết 9, Nxb Tài trí, ễn Hữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch), Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ục dịch), ịch), tiết 9, Nxb Tài trí,

Trang 3

đức của Nho giáo đối với con người nói chung, có cả tư tưởng về giáo dục đạo đức chongười làm quan nói riêng cũng rất cụ thể: làm quan thì "phú quý bất năng dâm, bần tiệnbất năng di, uy vũ bất năng khuất".

Những hạn chế lớn trong tư tưởng giáo dục của Nho giáo đã làm cản trở bước tiếncủa lịch sử cần phải được loại bỏ, đó là: Nho giáo không chú ý đến giáo dục các khoahọc tự nhiên, khoa học kỹ thuật, những kiến thức về sản xuất kinh doanh; việc coithường lợi ích cá nhân đã thủ tiêu động lực để phát triển; những tư tưởng bảo thủ, lạchậu như: trọng nam, khinh nữ, coi thường người lao động chân tay, tư tưởng tam cương,

ngũ thường một cách cứng nhắc… Nhưng nhìn tổng quát lại ta thấy: nếu ở nội dung

giáo dục có nhiều điểm đáng phê phán thì trong phương pháp giáo dục của Nho giáo lại

có nhiều điểm hợp lý, nhất là trong việc giáo dục đạo đức như: phương pháp nêu gương,đặc biệt nhấn mạnh sự mô phạm của người thầy giáo; phương pháp cá biệt hoá đốitượng giáo dục; phương pháp khơi dậy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngườihọc

Nền giáo dục của Việt Nam trước kia đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền giáo dụcphong kiến phương Bắc, mà nổi bật ở thời kỳ này là tư tưởng giáo dục của Nho giáo.Tuy nhiên, tư tưởng Nho giáo vào nước ta đã được Việt hoá rất nhiều và đã trở thànhmột nét đẹp trong nền văn hoá Việt Nam Mặc dù Nho học và Nho giáo có nhiều hạnchế, nhưng nếu chúng ta khai thác được những hạt nhân hợp lý và tích cực của Nho giáothì nó cũng vẫn là những công cụ hữu ích để góp phần quản lý xã hội và giáo dục conngười ở nước ta hiện nay1

2 Giáo dục trong giai đoạn thực dân Pháp đô hộ

Từ giữa thế kỷ XIX đến hai thập niên đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp vẫn giữ nguyênnền giáo dục phong kiến Nho học của triều Nguyễn Bên cạnh hệ thống giáo dục phongkiến, thực dân Pháp mở một số trường nhằm phục vụ công việc cho Pháp như: mở một sốtrường Pháp - Việt tại Sài Gòn (năm 1862), chủ yếu đào tạo phiên dịch Mở trường sưphạm thuộc địa tại Sài Gòn (năm 1871) Năm 1886, mở trường sư phạm tiểu học Năm

1889, bắt đầu tuyển học sinh sang Pháp học Năm 1900, lập Viện Viễn Đông bác cổ, lúcđầu đặt tại Sài Gòn, sau dời ra Hà Nội năm 1901 Năm 1905, lập Nha học chính ĐôngDương Năm 1906, lập Hội đồng cải thiện giáo dục bản xứ1 Năm 1917, ban hành bộluật đầu tiên về giáo dục cho Đông Dương Theo luật này, từ năm 1918 không còntrường dạy chữ Hán và bãi bỏ các khoa thi hương, thi hội, thi đình Từ đó, hệ thống giáodục của Việt Nam theo mô hình hệ thống giáo dục của Pháp Cũng trong thời gian này,thực dân Pháp bắt đầu phát triển một số trường chuyên nghiệp Phần lớn các trường này

1 GS Phan Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí,ại Doãn, i Doãn, M t s v n ột số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, ốc Văn giải thích ấn đề về Nho giáo Việt Nam, đề về Nho giáo Việt Nam, ề về Nho giáo Việt Nam, v Nho giáo Vi t Nam, ệt Nam, Nxb Chính tr qu c gia, ịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ốc gia,

H 1999.

1 Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, a chí v n hóa Th nh ph H Chí Minh, ăn giải thích ành phố Hồ Chí Minh, ốc Văn giải thích ồ Chí Minh, t p 2, Nxb Tp H Chí Minh, 1998 ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ồ Chí Minh, 1990, tr 385.

Trang 4

trong ba thập kỷ đầu đều là trường dạy nghề (trường đào tạo công nhân) hoặc trườngtrung cấp chuyên nghiệp đào tạo cán bộ kỹ thuật trung cấp) Năm 1908, một số ngànhtrong các trường này được gộp lại, gọi là Đại học Tổng hợp, nhưng thực chất mãi tớinăm 1919 mới có lớp dự bị đại học đầu tiên về lý - hoá - tự nhiên (sau gọi là lý - hoásinh), đến năm 1923 bắt đầu chiêu sinh lớp đào tạo bác sĩ, năm 1941 mới có Đại họcLuật khoa, Trường đào tạo cử nhân khoa học, Trường đào tạo kỹ sư nông nghiệp(1942) Các trường này hợp thành Đại học Đông Dương Tổng số sinh viên năm học1939-1940 chỉ có 582 Nội dung giảng dạy lúc bấy giờ rất coi nhẹ lịch sử dân tộc ViệtNam, tiếng Việt không được coi trọng và chỉ được dạy như một ngoại ngữ; trong sáchgiáo khoa không nói đến nước Việt Nam mà chỉ nói đến năm xứ Đông Dương thuộcPháp Việc làm này của thực dân Pháp nhằm mục đích xoá bỏ ý thức dân tộc trong họcsinh, sinh viên Việt Nam.

Ngay từ ngày mới thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi chống chính sáchngu dân là một nội dung của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, là một mục tiêu độngviên nhân dân đứng lên giành độc lập cho Tổ quốc Khẩu hiệu lúc đó là: Hủy bỏ nềngiáo dục nô lệ và thuộc địa, xây dựng nền giáo dục quốc dân; Hết thảy con cái người laođộng được học bằng tiếng mẹ đẻ, được học nghề cho đến 16 tuổi

Từ năm 1926 đến năm 1935, tổ chức Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã mởnhiều lớp học chữ quốc ngữ cho nhân dân lao động và thanh niên Trong cao trào cáchmạng 1930-1931, công cuộc chống nạn thất học được đẩy mạnh Năm 1938, HộiTruyền bá Quốc ngữ được thành lập, đã thu hút hàng vạn người đi học, kết hợp việc họcchữ và phát triển phong trào cách mạng, đấu tranh chống thực dân Pháp để giành độclập

Năm 1945, Việt Nam có hơn 90% số dân mù chữ, trong đó, tỷ lệ phụ

nữ và người dân tộc thiểu số còn mù chữ chiếm đa số Số dân Việt Nam năm 1945 có khoảng 22 triệu người, nhưng chỉ có khoảng 3% số dân được đi học, sốnày được đào tạo chủ yếu phục vụ bộ máy cai trị

Việc mở trường của thực dân Pháp nhằm thực hiện chính sách giáo dục nô dịch vàđồng hoá, thực chất là chính sách ngu dân Thực dân Pháp không có chủ trương giáodục ở bậc học cao mà chủ yếu chỉ đào tạo đến hết bậc tiểu học (nhưng ngay cả bậc tiểuhọc cũng rất ít)

Sự xâm nhập nền giáo dục thực dân Pháp trên đất nước ta ngay từ đầu đã gây ra mộtphản ứng quyết liệt trong nhân dân và tầng lớp sĩ phu yêu nước Nhân dân không đi đếntrường học của Pháp tổ chức, nếu có cũng là một số ít trẻ con vùng Thiên Chúa giáo,còn các sĩ phu yêu nước lánh ra vùng tự do, không hợp tác với giặc, tiếp tục mở trườngdạy học, truyền bá tư tưởng yêu nước Ngay Tự Đức, do tác động của thực tế kháchquan, thấy những bất cập của nền giáo dục đương thời cũng đã có những chỉ dụ cho cáchọc thần sửa đổi việc học hành thi cử Tất cả những việc làm kể trên đều hướng vào

Trang 5

mục tiêu chống xâm lược và đã đem lại một số kết quả cụ thể, làm cho người Phápkhông tổ chức được những trường học như ý định của họ Có thể nói đó là những mầmmống của dòng giáo dục yêu nước Dòng giáo dục này lúc mới ra đời chỉ là sự ứng phókịp thời, chưa có một nội dung cụ thể (như dòng văn học yêu nước chẳng hạn) mangtính đối lập với nền giáo dục của thực dân Pháp.

3 Sự hình thành dòng giáo dục yêu nước.

a) Những mầm mống đầu tiên của dòng giáo dục yêu nước.

Đến đầu thế kỷ XX, do những thay đổi chủ quan và khách quan của xã hội ta lúc đó,dòng giáo dục yêu nước đã có những nội dung và mục đích cụ thể hơn: Học để làm chodân giàu, nước mạnh, để đánh đuổi kẻ thù giành độc lập dân tộc Đó là các trường họctrong phong trào Đông Du, Duy Tân mà điển hình là Đông Kinh nghĩa thục, đỉnh caocủa dòng giáo dục yêu nước đương thời Với mục đích như đã nói, dòng giáo dục này

đã bị kẻ thù cấm đoán và đàn áp nên không thể tồn tại lâu dài Mặc dù thế, nó không bịdập tắt mà đã được các nhà yêu nước tiếp theo kế thừa và phát triển lên một trình độ caohơn, không chỉ giành độc lập dân tộc mà còn đưa đất nước tiến tới một chế độ côngbằng, dân chủ xây dựng đất nước giàu mạnh, toàn dân được hưởng hạnh phúc và no ấm

đó là dòng giáo dục cách mạng

Dòng giáo dục yêu nước và cách mạng luôn luôn gắn chặt với mục đích chính trịnên nó thường đi liền với một phong trào yêu nước Có thể nói phong trào học sinh vàthanh niên yêu nước, các trường học trong tù và cả những phong trào công khai như HộiTruyền bá Quốc ngữ, v.v… là hình thức biểu hiện những nội dung của dòng giáo dụcyêu nước và cách mạng rõ rệt nhất là từ thế kỷ XX trở đi

Dòng giáo dục yêu nước lúc đầu mới chỉ là những biểu hiện của tư tưởng chống đốicủa các sĩ phu yêu nước trước kẻ thù xâm lược Nguyễn Đình Chiểu với những dòng cổ

vũ "dân ấp, dân lân" xông lên "đạp rào lướt tới coi giặc cũng như không" Phan Văn Trịvạch mặt Tôn Thọ Tường bán nước: "Bài hòa đã sẵn in tay thợ", khẳng định ý chí củamình: "Lòng ta sắt đá há lung lay", cũng như Nguyễn Thông chép truyện Trương Định,

Hồ Huân Nghiệp, Phan Văn Đạt đề cao những người nghĩa khí, cổ vũ tinh thần giết giặctrước hết họ là những ông thầy, những nhà thơ yêu nước Hẳn rằng những áng thơ văncủa các ông đều qua học trò mà truyền bá rộng rãi trong nhân dân, khích lệ mọi ngườiđánh giặc Hơn nữa, các nhà nho xưa khi dạy học trò trước hết là dạy đạo lý làm người,ông thầy phải là khuôn mẫu cho học trò noi theo, học trò soi mình vào gương ông thầy

mà sửa mình, mà đối nhân xử thế Khi ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ bị giặc chiếm (1867)một số sĩ phu như Phan Văn Trị, Nguyễn Thông… đề xướng phong trào "tị địa" (tránhđất giặc) tạm rời quê hương ra Bình Thuận lập "Đông Châu xã" tập hợp những nhà nhoyêu nước, mở trường dạy học, làm thơ văn truyền bá tinh thần yêu nước chống giặc

Trang 6

Tiến sĩ Phan Hiển Đạo không chịu "tị địa" đã ở lại cộng tác với giặc, Hiển Đạo bị cácnhà nho chỉ trích kịch liệt, xấu hổ, cuối cùng phải tự tử.

Lòng yêu nước đã tác động mạnh mẽ đến cả loại văn chương cử tử, trong bài "Biểu làm thay kẻ sĩ ngày nay tình nguyện tòng chính dẹp giặc" của Lê Khắc Cần1 cũng đã nóilên trách nhiệm của kẻ sĩ trước hoạ xâm lăng Bài biểu tuy chỉ nằm trong khuôn phépvăn chương trường ốc, vẫn có những lời mòn, ý sáo nhưng cũng có những đoạn xúcđộng lòng người

"Thiên hạ không dung quân nghịch tặc, ai cũng có quyền diệt chúng đi

Nhân tâm vốn vẫn đủ trí năng, thấy nghĩa chẳng làm không dũng vậy…";

hay là:

"Vác gươm theo vương sự hoặc nay được đến chốn tiền khu,

Vung kiếm đi diệt thù, mong thỏa tấm lòng người gắng nghĩa"2

Như vậy, dòng giáo dục yêu nước lúc mới đầu chưa có một nội dung cụ thể nhưngtrước nạn nước, các ông thầy với chức năng dạy dỗ con em đã dùng sở trường của mình,truyền đạt cho lớp thanh niên đạo lý làm người cao nhất: chống giặc nước

Tuy vậy, lúc này nói đến dòng giáo dục yêu nước, phải nói đến những quan điểmtoàn diện của Nguyễn Trường Tộ về một nền giáo dục thực nghiệm nhằm canh tân đấtnước

Nguyễn Trường Tộ là một người uyên thâm Hán học, lại sớm được tiếp xúc với nềnvăn minh phương Tây nên ông luôn luôn kết hợp giữa dân tộc và hiện đại một cách sángtạo trong bất kỳ lĩnh vực nào, kể cả giáo dục, nhằm xây dựng một đất nước phú cường

đủ sức chống ngoại xâm

Một trong "tám việc cần làm gấp" là "sửa đổi học thuật, chú trọng thực dụng" (Tếcấp bát điều) Ông đã phân tích những sai lầm về giáo dục của triều đình, ông đề nghịhọc những việc của hiện đại như binh hình luật lệ, tài chính thương mại, xây dựng, canhnông, v.v… để dần dần làm cho nước mạnh dân giàu Về thi cử, Nguyễn Trường Tộ chủtrương bất kỳ bài thi Hương hay thi Hội đều phải chú trọng tình hình hiện tại như luậtlịch (tức những vấn đề thuộc thiên văn, khí tượng, lịch), binh quyền, các chính sự vềcông hình lại lệ (tức là thuộc về bộ máy cai trị của triều đình), tất cả đều được nói thẳng,không giấu diếm Phải chú ý đến những vấn đề thiết thực cho đời sống xã hội, cònnhững kinh sử cũ thì chỉ là thứ yếu

1 Lê Kh c C n (1832-1874) còn có tên là Lê Kh c Ngh ng ịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ười làng Hạnh Thi, huyện An Lão, i làng H nh Thi, huy n An Lão, ại Doãn, ện An Lão,

t nh Ki n An (nay là ngo i thành H i Phòng) ết 9, Nxb Tài trí, ại Doãn, ải Phòng) đỗ Hoàng Giáp năm 1862 đỗ Hoàng Giáp năm 1862 Hoàng Giáp n m 1862 ăm 1862.

2 B n d ch c a Ph m Th Kim, Vi n Hán Nôm ải Phòng) đỗ Hoàng Giáp năm 1862 ịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ủa Phạm Thị Kim, Viện Hán Nôm ại Doãn, ịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ện An Lão,

Trang 7

Để chuyển tải được những nội dung của một chương trình cải cách giáo dục to lớnnày, Nguyễn Trường Tộ đã mạnh dạn đề nghị phải dùng quốc âm để dạy và cả trong cáccông văn giấy tờ từ triều đình đến huyện, xã Ông đã đề ra những nguyên tắc chuyểnchữ Hán thành quốc âm như sau:

Một là, lấy chữ Hán làm âm mẫu rồi lựa âm của chữ nào phù hợp với âm tiếng ta thìđọc như vậy, không cần giải nghĩa vì đọc lên là hiểu ngay1 ; hai là, những chữ nào có âmgần giống tiếng ta thì thêm nét phụ vào, rồi đọc ra tiếng ta; ba là, những chữ nào ta hoàntoàn không có thì lấy chữ Hán chuyển đọc ra quốc âm không cần học nghĩa2

Những quan điểm về một nền giáo dục thực dụng của Nguyễn Trường Tộ vẫn bộc lộnhững thiếu sót, như chưa chú ý đến hệ thống của một nền giáo dục hoàn chỉnh: Một là,chỉ nhấn mạnh đến việc tổ chức những trường dạy nghề mà ít nói đến giáo dục cơ sở;hai là, chưa chú ý đến khoa học xã hội như văn, sử, triết… là những môn cũng rất cầnthiết và khá gần gũi với nền giáo dục bằng chữ Hán Tuy những đề nghị này chỉ dừnglại trên lý thuyết, không được kiểm nghiệm thực tế nhưng đã cùng với những hoạt độngcủa các nhà nho yêu nước đương thời tạo nên những mầm mống đầu tiên cho một dònggiáo dục mới: Dòng giáo dục yêu nước cuối thế kỷ XIX

Nhưng dòng giáo dục yêu nước cuối thế kỷ XIX chỉ mới là những mạch nước ngầmchứ chưa có những biểu hiện cụ thể, nói một cách khác là người ta chưa tìm ra được nộidung mới cho dòng giáo dục yêu nước, trừ Nguyễn Trường Tộ, nhưng những ý kiến củaông lại chưa được thực hiện, tuy vậy dòng chảy này vẫn rất mãnh liệt và ngày càng pháttriển tiêu biểu là các phong trào Đông Du, Duy Tân và nhất là Đông Kinh nghĩa thục

* Trường học trong phong trào Đông Du.

Đầu thế kỷ XX, khi đất nước ta đã hoàn toàn rơi vào tay thực dân Pháp, nhưngnhững sĩ phu yêu nước vẫn tiếp tục lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập Giaiđoạn này tình hình thế giới đã có những chuyển biến mới, ảnh hưởng lớn đến phongtrào giải phóng dân tộc của nhân dân ta Các trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản qua cáctân thư của Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi cũng như lý thuyết về dân quyền củaVônte, Rútxô, Môngteskiơ… cũng bắt đầu truyền bá vào Việt Nam Gương tự cườngcủa Nhật Bản cũng có sức hấp dẫn lớn đối với các sĩ phu yêu nước Nhìn người và tựxét mình, các cụ đều có chung một nhận định: Cái học "hư hèn" như Nguyễn Trường Tộ

đã nói là một trong những nguyên nhân dẫn đến mất nước Phan Bội Châu viết: "Nghĩđến lý do chìm mất của nước ta, duyên cớ khốn đốn của dân ta thì có hai bệnh: ngu dại

1 Ví d : "Tri u ình", "qu c gia" thì c ục dịch), đ ốc gia, ứ đọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả đọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả c y nguyên vì ai c ng hi u ngh a c ũng hiểu nghĩa cả ểu nghĩa cả ĩa cả ải Phòng) đỗ Hoàng Giáp năm 1862.

2 Ví d : " n c m" v n không có trong ch Hán thì dùng "th c ph n" (t c là n c m) r i ục dịch), ! ơng Tử Lộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ốc gia, ữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch), ực phạn" (tức là ăn cơm) rồi đọc ại Doãn, ứ đọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ăm 1862 ơng Tử Lộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ồ Chí Minh, 1990, tr 385 đọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả c luôn là " n c m" lâu d n ng ăm 1862 ơng Tử Lộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ười làng Hạnh Thi, huyện An Lão, i ta s quên "th c ph n" i mà ch nh " n c m" n a thôi ẽ quên "thực phạn" đi mà chỉ nhớ "ăn cơm" nữa thôi ực phạn" (tức là ăn cơm) rồi đọc ại Doãn, đ ớ "ăn cơm" nữa thôi ăm 1862 ơng Tử Lộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch),

Trang 8

và hèn yếu"1 Vậy muốn "hưng dân trí" và "chấn dân khí" thì không có con đường nàokhác là phải "học" Nhưng học ở đâu và học những gì? Tất nhiên là không thể dựa vàotrường học của Pháp và của triều đình phong kiến, vì những trường đó chỉ "đào tạo ranhững người làm nô lệ" mà thôi Phan Bội Châu chủ trương tìm một con đường khác,

đó là "xuất dương du học" Với định hướng đó, năm 1904 Phan Bội Châu thành lập DuyTân hội và đến năm 1905 cụ bắt đầu đưa học sinh sang Nhật Đây là một việc làm vôcùng khó khăn và nguy hiểm Một là phải vượt qua lưới của bọn mật thám Pháp lúc đóđang chăng dày đặc ở các điểm giao thông quan trọng với nước ngoài, hai là lòng yêunước của nhân dân ta và đặc biệt là thanh niên thì có thừa, nhưng "con em nhà giàu, mộtbước không dám ra khỏi cửa, mà những thiếu niên thanh hàn (nhà nghèo) không khác gìtrói chân1 Cho nên, thời gian đầu, sau mấy tháng đi vận động cũng chỉ có được bangười là Nguyễn Thức Canh, Nguyễn Điền người Thanh Chương (tỉnh Nghệ An) và LêKhiết quê Thanh Hóa Sau đó sang Nhật Bản được sự giúp đỡ của lương Khải Siêu, cụ

đã viết bài "Khuyến quốc dân tư trợ du học văn" gửi về nước kêu gọi đồng bào giúp đỡ

tiền của cho học sinh du học Trong bài văn, ngoài việc phân tích những nguyên nhânlàm dân ta ngu hèn, ta phải tìm đường xuất dương du học để tự cứu, cụ đã nêu nguyênnhân vì sao du học sinh còn ít và kinh phí còn thiếu: "Người giàu có thì sợ vạ nênkhông dám tiến lên, kẻ nghèo khổ thì thiếu của nên không thể đứng dậy"2 Sau khi đãkhẳng định sự giúp đỡ của đồng bào là có thể thực hiện được và nhất định vấn đề kinhphí sẽ giải quyết được, cụ đề ra tiêu chuẩn của du học sinh: "Chọn trong đám con emtrẻ tuổi những ai thông minh, có chí, lại chịu được lao khổ thì tốt nhất, nếu không thìchọn những anh em tuy không thông minh lắm nhưng có chí hướng bền bỉ cũng rấttốt, càng trẻ tuổi càng hay"3 Còn trách nhiệm của những thiếu niên du học thì phải

"có lòng gian khổ không sờn" phải có thế "tiến thẳng không lùi" "Tất cả những ý nghĩxằng bậy như rượu chè, cờ bạc, trai gái, đĩ bợm đều hết sức ngăn ngừa Tất cả những

sự thực dụng đã nói trong chương trình nhà trường đều ra sức nghiên cứu Chăm chúhọc tập làm sao cho khỏi phụ tấm lòng nhiệt thành giúp đỡ của đồng bào"4

Trong khi chờ đợi kinh phí từ trong nước gửi ra, một số du học sinh nữa lại tới Nhật,nhưng vì kông có tiền nên họ phải sống rất cực khổ Tuy chỉ có chín người nhưng họphải ở chung trong một gian buồng hẹp, ăn cơm gạo hẩm với muối trắng, phải chịuđựng cái rét ghê người ở đất Nhật, đúng là "áo cơm nhạt chống với cơ hàn" nhưng

1 Phan B i Châu, ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, To n t p, ành phố Hồ Chí Minh, ận ngữ, t p 2, Nxb Thu n Hóa, Hu 1990, tr 37, 40.ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ết 9, Nxb Tài trí,

1 Phan B i Châu, ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, To n t p, ành phố Hồ Chí Minh, ận ngữ, t p 6, Nxb Thu n Hóa, Hu 1990, tr 103.ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ết 9, Nxb Tài trí,

2 , 3, 4 Phan B i Châu, ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, To n t p, ành phố Hồ Chí Minh, ận ngữ, t p 2, Nxb Thu n Hóa, Hu 1990, tr 37, 40.ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ết 9, Nxb Tài trí,

Trang 9

không một ai nản chí buồn bã Họ đã tìm cách tự kiếm sống và tự học tiếng Nhật đểchuẩn bị cho việc vào học sau này, đó là năm 1905.

Nhờ tinh thần yêu nước của nhân dân ba Kỳ và nhiệt tình vận động

từ các đồng chí của Phan Bội Châu như Tăng Bạt Hổ, Tiểu La Nguyễn Thành, v.v…năm 1907, số du học sinh sang Nhật đã có đến 100 người và sang năm 1908 thì lên đến

200 người, trong số này có những người chỉ mới 9, 10 tuổi như Trần Văn An, Trần VănThư, Hoàng Vĩ Hùng Nhờ sự giúp đỡ của một số chính sách Nhật Bản như Phúc Đảo

và Khuyến Dưỡng Nghị, tất cả học sinh đều được vào học trong Đông á đồng văn thưviện ở đây, buổi sáng, anh em được học văn hóa gồm Ngôn ngữ, Văn học, Toán, Sử,Địa, Hóa học, Vật lý, Tu thân, Luân lý, v.v… tất cả đều dạy bằng tiếng Nhật, buổi chiềuhọc quân sự Việc giảng dạy trong lớp học do người Nhật thực hiện, còn ngoài lớp do tađảm nhiệm Để tăng cường công tác quản lý học sinh, giữa năm 1907, Phan Bội Châu

đã tổ chức Việt Nam Công Hiến Hội do Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm Hội trưởng vàPhan Bội Châu làm Tổng lý kiêm Giám đốc Tất cả học sinh đều sống bằng kinh phí dođồng bào trong nước gửi sang, ngoài ra không còn một thu nhập nào khác1

Từ cuối 1907 đến mùa thu 1908, tình hình rất khả quan, một số phụ huynh ở trongnước sang thăm cũng hết sức phấn khởi và tin tưởng ở tiền đồ của dân tộc, đó là thời kỳ

"đắc ý" nhất của Phan Bội Châu Công việc đang tiến hành thuận lợi thì cuối 1908, mậtthám Pháp đã dò biết những hoạt động của Phan Bội Châu ở Nhật Bản, họ đã thỏa thuậnvới chính phủ nước này, buộc giải tán nhà trường và bắt học sinh về nước

Nhìn lại trường học trong phong trào Đông Du do Phan Bội Châu lãnh đạo, tuy tồntại không được bao lâu nhưng nó là trường đầu tiên đào tạo cán bộ cách mạng cho đấtnước ta Nội dung học tập tuy còn dựa vào chương trình của trường học Nhật Bản, khácchăng là ở phương pháp quản lý học sinh chặt chẽ, công tác tư tưởng được quan tâmlàm cho những người đi học ý thức được trách nhiệm của mình mà gia công học tập đápứng được lòng mong mỏi của đồng bào trong nước Tuy chưa có nhiều thành quả,nhưng tinh thần yêu nước đã được nâng lên một mức đáng kể Sau khi nhà trường bịđóng cửa, học sinh phải giải tán về nước, nhưng một số người như Lương Lập Nham(tức Lương Ngọc Quyến), Hoàng Trọng Mậu (tức Nguyễn Đức Công), v.v… đã ở lạitìm cách tự học và mưu đồ khởi nghĩa đánh Pháp nhưng vì thời cơ chưa đến, cách tổchức thiếu khoa học nên bị thất bại Một số khác như Trần Hữu Lực (tức Nguyễn ThứcĐường), Nguyễn Quỳnh Lâm đã sang Trung Quốc tìm cách vào học ở các trường võ bịhoặc kỹ thuật để tiếp tục hoạt động cách mạng và hy sinh ở nước ngoài Năm 1911, khi

1 H c sinh m i tháng ọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ỗ Hoàng Giáp năm 1862 đượp TP Hồ Chí Minh, 1990, tr 385 c 18 đồ Chí Minh, 1990, tr 385 ng, riêng T ng lý kiêm Giám ổng Tử, đốc gia, đượp TP Hồ Chí Minh, 1990, tr 385 c c 24 đồ Chí Minh, 1990, tr 385 ng, các y viên c a ủa Phạm Thị Kim, Viện Hán Nôm ủa Phạm Thị Kim, Viện Hán Nôm

H i Công Hi n l ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ết 9, Nxb Tài trí, ương Tử Lộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ng tháng c ng nh h c sinh, m c d u h v n ph i h c hành và tham gia các ũng hiểu nghĩa cả ư ọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ặc dầu họ vẫn phải học hành và tham gia các ọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ẫn phải học hành và tham gia các ải Phòng) đỗ Hoàng Giáp năm 1862 ọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả sinh ho t khác nh anh em, do ó Phan B i Châu th ại Doãn, ư đ ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ười làng Hạnh Thi, huyện An Lão, ng ph i làm thay công vi c ải Phòng) đỗ Hoàng Giáp năm 1862 ện An Lão,

Trang 10

Phan Bội Châu thành lập Việt Nam Quang Phục Hội một số học sinh cũ của trường đãtham gia tổ chức này2.

* Trường học trong phong trào Duy Tân.

Trong khi Phan Bội Châu đang cố gắng hết sức mình để duy trì cho được sự tồn tại

và hoạt động của gần 200 du học sinh ở Nhật Bản thì trong nước phong trào Duy Tânđược phát động rộng rãi và nhanh chóng lan ra toàn quốc Phong trào này do các sĩ phuyêu nước như Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng… lãnh đạo Họ chủtrương cải cách văn hóa, xã hội đi đôi với động viên lòng yêu nước căm thù giặc để đấutranh giành độc lập dân tộc Một trong những hoạt động quan trọng của phong trào là

mở trường dạy học, trên cơ sở đó mà tuyên truyền những cải cách xã hội khác Tiêubiểu cho cuộc vận động này là những trường học ở Quảng Nam và Đông Kinh nghĩathục ở Hà Nội

Đầu năm 1905, các ông Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng đãlàm một cuộc "Nam du" (đi vào phía nam) để xem xét dân tình và tuyên truyền, cổ độngchủ trương Duy Tân Khi ba người đến tỉnh Bình Định nhân gặp kỳ khảo hạch, họ đãmạo danh vào thi và trong các bài làm đã lên án lối học từ chương khoa cử, phê phánnền giáo dục ngu dân, đề cao tân học và cổ động chủ trương Duy Tân Sau đó cả bangười tiếp tục đi vào Bình Thuận và cùng với các nhà nho tiến bộ khác như NguyễnTrọng Lợi, Nguyễn Quý ảnh (là hai con trai của nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông) tổchức trường Dục Thanh nhằm giáo dục thanh niên đi theo con đường tiến bộ Sau hơnmột tháng, Huỳnh Thúc Kháng và Trần Quý Cáp trở ra Quảng Nam, Phan Châu Trinh ởlại Phan Thiết tổ chức nhà giảng tân thư ở đình Phú Tài Trường Dục Thanh có thể coinhư cơ sở đầu tiên của các trường học trong phong trào Duy Tân ở nam Trung Kỳ Sautrường Dục Thanh là một loạt trường học kiểu mới nữa ra đời Đầu 1906, chỉ tính riêngtỉnh Quảng Nam đã có đến 40 trường lớn nhỏ, nhưng nổi tiếng hơn cả là ba trườngPhước Bình, Phú Lâm và Diên Phong

Trường Phước Bình ở gần xã Quế Sơn, cạnh làng Trung Lộc, giáp với khu Tân Tỉnhcủa Nguyễn Duy Hiệu (1847-1887), một thủ lĩnh của phong trào Cần Vương vùng NamNgãi cuối thế kỷ XIX Trường này do ông Trần Hoành sáng lập Ông vốn là nhân viên

mỏ than Nông Sơn, nhưng do ảnh hưởng của phong trào Duy Tân ông đã bỏ về mởtrường dạy học Trường đã được các nhà giáo nổi tiếng của tỉnh Quảng Nam lúc đó nhưMai Dị, Phan Thành Tài lên dạy Nhà trường đã có sáng kiến dùng rau câu nấu lênthành thạch để in sách giáo khoa phát cho học sinh

2 Lâm Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí,ứ đọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả c M u, ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí,ặc dầu họ vẫn phải học hành và tham gia các ng Binh Thành, Lâm Qu ng Trung, ải Phòng) đỗ Hoàng Giáp năm 1862 Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí,ặc dầu họ vẫn phải học hành và tham gia các ng Xung H ng, v.v… ồ Chí Minh, 1990, tr 385.

Trang 11

Một trường học được các nhà Duy Tân hồi đó hết sức cổ vũ là trường Phú Lâm doông Lê Cơ lãnh đạo Lê Cơ sinh năm 1859 tại làng Phú Lâm, huyện Tiên Phước, ông có

bà con với Phan Châu Trinh và tuy không phải là một nhà khoa bảng lớn nhưng do ảnhhưởng của phong trào, ông đã mạnh dạn đứng lên đấu tranh với bọn cường hào, chốngphù thu lạm bổ Được nhân dân ủng hộ, ông đã ra giữ chức lý trưởng và tiến hànhnhững cải cách dân chủ mà trước hết là mở trường dạy học theo chương trình Duy Tân.Ngoài trường học của nam học sinh, ông còn lập thêm một lớp học cho nữ sinh và đàotạo được hai cô giáo để dạy lớp này Số học sinh chưa biết rõ nhưng theo Huỳnh ThúcKháng thì những kỳ khảo hạch có đến đôi ba trăm người đến dự1 Trường Phú Lâm làmột trong những trường có tiếng hồi đó, giờ dạy hát trong khi một số trường chỉ biết canhững bài cũ thì trường này đã chọn những bài có nội dung sát với phong trào, cổ vũ,giáo dục, thương hội, hợp quần…2

Tuy nhiên nói đến trường học mới của tỉnh Quảng Nam trong phong trào Duy Tânphải nói đến trường Diên Phong Đây là một trường học có quy củ hơn cả về tổ chứccũng như chương trình giảng dạy Trường có hai cơ sở, một tại Hội Thương và một tạichùa Phong Thử do hai nhà yêu nước Mai Dị và Phan Thành Tài điều hành Trườngchia làm hai ban: ban một cho thiếu niên, ban hai cho người lớn, tổng số học sinh có

đến 200 người Sách giáo khoa của ban một gồm những cuốn như Tân văn tự của Trung

Quốc (mở đầu bằng những câu: "Thiên địa anh khí, chung nhi vi nhân, nhĩ mục thôngminh, vị nam tử thấn…" (tức là: khí thiêng trời đất, chung đúc thành người, tai mắt sáng

láng, làm người con trai); Bác vật chí của Phạm Phú Thứ, dạy các môn về vật lý như

điện khí, xe lửa, giải thích các hiện tượng tự nhiên như sấm chớp… Dinh hoàn chí lượcdạy các môn về địa lý, lịch sử thế giới, ngoài ra còn một số sách về địa chí Việt Nam

như Đại Nam nhất thống chí, Quảng Nam dư địa chí cũng được đưa vào làm sách giáo

khoa Còn ban hai thì chương trình giảng dạy chủ yếu lấy từ sách của Khang Hữu Vi,Lương Khải Siêu và thuyết dân quyền của Rútxô và Môngteskiơ, v.v…

M t chúc th ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ương Tử Lộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ng cu c ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, đặc dầu họ vẫn phải học hành và tham gia các ng lâu

L i quy n gi l i cho mình h u sanh ời làng Hạnh Thi, huyện An Lão, ữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch), ại Doãn,

… H c th c ta s a l i sao ây ọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ứ đọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ử, ại Doãn, đ

Ph i lo giáo d c nhân tài ải Phòng) đỗ Hoàng Giáp năm 1862 ục dịch),

Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ư ở bài phương châm, v.v… ương Tử Lộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí,

(Theo Nguy n V n Xuân, S d, tr 221) ễn Văn Xuân, Sđd, tr 221) ăn giải thích đ

Trang 12

Trong khi những trường học mới do các nhà yêu nước chủ trì đang hoạt động sôi nổi

ở Quảng Nam thì ở Hà Nội một trường học lớn mang tên Đông Kinh nghĩa thục xuấthiện

Đông Kinh nghĩa thục khai giảng vào tháng 3 năm 1907 tại nhà số 4 phố Hàng Đào.Đông Kinh là tên của Hà Nội thời nhà Hồ còn nghĩa thục thì có người cho là trường dạyhọc vì nghĩa, không lấy tiền, nhưng ta cũng có thể hiểu rộng ra là trường học vì nghĩalớn (đại nghĩa) vì mục đích cao cả của các nhà lãnh đạo đề ra: Học để làm cho dân giàunước mạnh, để duy tân tự cường Đông Kinh nghĩa thục ra đời sau trường Dục Thanh vàcác trường ở Quảng Nam hơn một năm, nhưng nhờ ưu thế là ở giữa đất "ngàn năm vănvật" đã tập hợp được trí tuệ và tài năng của nhiều nhà nho học và tân học đều đã hơnhẳn so với cả những trường lớn ở phía Nam

Một công trình được người ta nhắc nhiều nhất khi nói đến Đông Kinh nghĩa thục là

Văn minh tân học sách; kim chỉ nam cho mọi hoạt động của trường cũng có thể nói là cương lĩnh cho tổ chức chính trị nào muốn canh tân đất nước lúc đó Văn minh tân học sách đã tìm nguyên nhân bế tắc của dân trí nước ta đó là tính chất "tĩnh" của nền văn

minh Việt Nam, còn phương Tây tiến nhanh hơn vì văn minh của họ "động" hơn Saukhi đã chứng minh tai hại của văn minh "tĩnh" và lợi ích của văn minh "động", tác phẩm

đã phân tích vấn đề trên năm lĩnh vực (mà tác giả gọi là "năm giới"): tư tưởng, giáo dục,kinh tế1 tính tình, phong tục và tìm ra bốn "nguyên nhân khởi điểm", tức là bốn nhậnthức chính đã ngăn cản sự tiến bộ của dân tộc ta Một là "nội hạ ngoại di" không thèmhỏi đến chính thuật và kỹ năng của nước khác Hai là "trọng vương khi bá", không thèmgiảng đến cái học phú cường cơ xảo của nước ngoài Ba là cho xưa hơn nay, nay kémxưa, không chịu xem xét, kiến thức và bàn luận của người sau Bốn là trọng quan khinhdân không thèm kể đến tình hình hay dở của chốn hương thôn Để khắc phục những trìtrệ do văn minh "tĩnh" gây ra; tác giả đã đề xuất "sáu đường" tức là sáu biện pháp Một

là dùng văn tự nước nhà, tức là chữ Quốc ngữ, đó là "bước đầu tiên trong việc mở mangtrí khôn" Hai là hiệu đính sách vở, lấy Nam sử làm chính, Bắc sử chỉ đọc qua cho biết,còn sử Tây cũng chỉ học một số quyển sách chính mà thôi Ba là sửa đổi phép thi, chỉdùng văn sách và luận, lấy kinh truyện và ba sự đã nói trên đặt đề mà hỏi và cho học tròđược bàn bạc tự do không gò bó về thể cách, ngoài ra còn phải thi toán pháp và làm vănQuốc ngữ Bốn là cổ vũ nhân tài, phải tìm cách sử dụng cho hết những người đã đượcđào tạo từ các trường Giám và trường Quốc học ra Năm là chấn hưng công nghệ, vìcông nghệ ta đã kém mà những người được đào tạo ra lại không được sử dụng đúng khảnăng, nên cần phải mời thầy, mở trường và khuyến khích bằng nhiều cách, nhất là đối

1 Kinh t dây t c là "kinh bang t th ", có ngh a là chính tr ch không ph i ết 9, Nxb Tài trí, ở bài phương châm, v.v… ứ đọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ết 9, Nxb Tài trí, ết 9, Nxb Tài trí, ĩa cả ịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ứ đọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ải Phòng) đỗ Hoàng Giáp năm 1862.

là nh ng ho t ữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch), ại Doãn, độ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ng v công, nông nghi p, khai khoáng, giao thông v n t i, v.v… nh ện An Lão, ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ải Phòng) đỗ Hoàng Giáp năm 1862 ư

Trang 13

với những người thông minh, giỏi giang để mọi người cùng trổ tài đua khéo Sáu là mởtoà báo, cả nước ta chỉ mới có vài ba tờ, vậy báo ta nên in cả chữ Quốc ngữ và chữ Hán,nội dung phải thật phong phú về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của trong

nước và thế giới để thông tin cho mọi người cùng biết Nội dung của Văn minh tân học sách còn nhiều hạn chế như giáo dục và thi cử vẫn chưa vượt được cái cũ là bao nhiêu,

quan niệm về nhân tài vẫn còn hẹp, v.v… Tuy vậy, trong tình hình đất nước ta đầu thế

kỷ XX, đây là một văn kiện đơn giản nhưng có hệ thống về đường lối cứu nước theohướng dân chủ tư sản, là một bước tiến trong nhận thức và biện pháp của các nhà nhoyêu nước đương thời và những hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục đã đi theo conđường đó

Về tổ chức, Đông Kinh nghĩa thục do cụ cử Lương Văn Can làm thục trưởng, mộtnhà nho có uy tín và cao tuổi nhất trong đám sĩ phu lúc đó Giúp việc cho thục trưởng làgiám học Nguyễn Quyền, nguyên huấn đạo tỉnh Lạng Sơn, một người có kinh nghiệmtrong việc tổ chức giáo dục đảm nhận Dưới thục trưởng và giám học là các ban côngtác có quan hệ mật thiết với nhau gồm: Tài chính, Cổ động, Giáo dục và Tu thư BanTài chính lo việc thu phát tiền nong, lương bổng cho giáo viên; Ban Cổ động thì côngviệc chính là tổ chức mỗi tháng hai kỳ bình văn và diễn thuyết, còn trụ cột của nhàtrường là Ban Giáo dục và Tu thư

Ban Giáo dục chủ yếu tổ chức việc giảng dạy Đông Kinh nghĩa thục cũng dạy cả bathứ tiếng Việt, Pháp và Hán như các trường ở Quảng Nam nhưng thầy giáo ở đây đềuđược đào tạo rất cơ bản: Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn tốt nghiệp trường Thôngngôn Bắc Kỳ chuyên dạy tiếng Pháp và tiếng Việt1 cùng với Nguyễn Bá Học và Bùi Đình

Tá Môn Hán văn thì do những nhà nho nổi tiếng ở đất Thăng Long lúc đó như cử nhânĐào Nguyên Phổ, phó bảng Hoàng Tăng Bí, cử nhân Lương Trúc Đàm, tú tài NguyễnQuyền, v.v… Ngoài ra còn các ông Trần Đình Đức và Phạm Đình Đối dạy các môn Sử,Địa và Toán Pháp Chính ông Trần Đình Đức là người đầu tiên đã vẽ bản đồ Việt Nam

cỡ lớn treo ở phòng học để học trò hình dung được đất nước mình, còn ông Phạm ĐìnhĐối là người đã đưa môn hình học vốn đang xa lạ với học sinh ta lúc đó vào chươngtrình nhà trường

Ban Tu thư do thục trưởng Lương Văn Can trực tiếp chỉ đạo cũng đã hoạt động rất

mạnh và đã có những sách giáo khoa phù hợp với đường lối của nhà trường như Quốc dân độc bản, Nam quốc giai sự, Nam quốc địa dư, Quốc văn giáo khoa thư Những

sách này đều đề cao tinh thần dân tộc, đa số nói đến đất nước con người Việt Nam mộtcách cụ thể

1 Nguy n V n V nh sau này ã d ch r t hay nh ng bài th ng ngôn c a ễn Hữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch), ăm 1862 ĩa cả đ ịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ất hay những bài thơ ngụ ngôn của ữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch), ơng Tử Lộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ục dịch), ủa Phạm Thị Kim, Viện Hán Nôm Laphôngten, còn Ph m Duy T n là tác gi c a nh ng truy n ng n xu t s c nh ại Doãn, ốc gia, ải Phòng) đỗ Hoàng Giáp năm 1862 ủa Phạm Thị Kim, Viện Hán Nôm ữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch), ện An Lão, ất hay những bài thơ ngụ ngôn của ư S ng ốc Văn giải thích

ch t m c bay, N ết mặc bay, Nước đời lắm nỗi, ặp lúc cạnh tranh" ước đời lắm nỗi, đời trong Đông á" ắm nỗi, c i l m n i, ỗi, v.v…

Trang 14

Sợi chỉ xuyên suốt nội dung giáo dục của Đông Kinh nghĩa thục là lòng yêu nước,nên bất kỳ môn học nào dù văn thơ hay lịch sử địa dư…, đều đề cập vấn đề này.Nguyễn Quyền, giám học Đông Kinh nghĩa thục đã nói rõ: "Lớp trung đại học thì họcchữ Pháp, chữ Hán, còn từ trung tiểu học trở xuống bất cứ nam nữ đều học chữ Quốcngữ, nhưng ở lớp trên, lớp dưới cũng vậy, chỉ cốt học để làm người dân, chứ không họclối từ chương khoa cử"1 Quốc dân độc bản, một cuốn sách "vỡ lòng" của học viên Đông

Kinh nghĩa thục mà "mục đích cốt để khai thông dân trí, để gây cơ sở cho nền học mới"

đã giải thích: "Học làm người, làm quốc dân, tức là để kiềm thúc lòng mình và biết cách

xử lý chuyện gia đình, xã hội, quốc gia"2 Trong những bài sau, Quốc dân độc bản mở

rộng thêm khái niệm này, đặt trách nhiệm cho một công dân là phải "biết giữ pháp luậtcủa nước, yêu mến đồng loại của nước mình, xem việc nước như việc nhà", còn nhữngngười "quốc gia trị hay loạn mạnh hay yếu đều mặc kệ, không thèm hỏi, thậm chí quênnước thờ kẻ thù cam tâm làm nô lệ cho giống khác thì không được gọi là quốc dân"3.Sách này cũng nói thêm về những vấn đề khác như lòng nhân ái, lòng tự hào về nền vănhiến lâu đời, lòng trung nghĩa, chí tiến thủ, v.v… Như vậy, "học làm người" tức là đểhiểu biết quyền lợi nghĩa vụ của công dân gắn liền với sự mất còn, hưng thịnh của đấtnước

Thơ ca yêu nước như những bài Đề tỉnh quốc dân ca, Đề tỉnh quốc dân hồn, Hải ngoại huyết thư, v.v đều được đem giảng dạy trong trường nhằm giới thiệu gương tự

cường của Nhật Bản, hoặc vạch tội ác man rợ của kẻ thù và tay sai, suy nghĩ về tươnglai dân tộc:

Nỗi diệt chủng bề thương bề sợ

Nòi giống ta biết có còn không?1

Kêu gọi nhân dân đứng dậy:

Nghĩ lắm lúc bầm gan tím ruột

Vạch trời kêu và tuốt gươm ra2

Để giải phóng đất nước, giải phóng dân tộc:

Dựng cờ độc lập tự cường

Đem đoàn nô lệ làm phường văn minh3

Lịch sử là một môn học có ưu thế giáo dục tinh thần yêu nước vì có thể lấy gươngngười xưa giáo dục người nay cho nên môn học này cũng được các nhà soạn sách giáo

1 ào Trinh Nh t, Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ất hay những bài thơ ngụ ngôn của ông Kinh ngh a th c H N i, Đ ĩa thục Hà Nội, ục Hà Nội, ành phố Hồ Chí Minh, ột số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, Nxb Mai L nh, 1937, tr 22.ĩa cả.

2 , 3 Ch ương Tử Lộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ng Thâu - ông Kinh ngh a th c và phong trào c i cách v n hóa Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ĩa cả ục dịch), ải Phòng) đỗ Hoàng Giáp năm 1862 ăm 1862 đ u th ết 9, Nxb Tài trí,

k XX, Nxb Hà N i, H 1982, tr 147 ỷ XX, Nxb Hà Nội, H 1982, tr 147 ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí,

1 , 2, 3, 4, 5, 6 Ch ương Tử Lộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ng Thâu, Đ ông Kinh ngh a th c v phong tr o c i cách v n hóa ĩa thục Hà Nội, ục Hà Nội, ành phố Hồ Chí Minh, ành phố Hồ Chí Minh, ải thích ăn giải thích đầu u

th k XX, ết mặc bay, Nước đời lắm nỗi, ỷ XX, Nxb Hà N i, H 1982, tr 166, 167, 158, 212, 154 ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí,

Trang 15

khoa hết sức quan tâm Lời bạt của sách Quốc sử giáo khoa thư có đoạn viết: "Có kiến

thức mênh mông, có tài năng uyên bác mà không biết sử Nam thì không thể có lợi gìcho nước Nam Như vậy thì đọc sử Nam là nghĩa vụ thứ nhất hiện nay"4 Ngô Quý Siêu

trong bài ca "Địa dư lịch sử nước nhà" sau khi đã giới thiệu những sự kiện lịch sử oanh

liệt của các bậc tiền bối đáng "làm gương cho chúng ta ngồi mà soi" cũng đã kêu gọi:

Sinh ra cũng giống con nòi

Cũng trong đất nước là người đồng thân

Phải thương, phải xót cho gần

Một gan, một ruột quây quần lấy nhau

Phúc cùng hưởng, họa cùng đau

Chữ "đồng" cùng đúc chung nhau một lò5

Môn địa dư dạy khái quát về sông núi, tài nguyên, cư dân, v.v… nhưng trong mục

"nhân vật" của Nam quốc địa dư bên cạnh các anh hùng cứu nước từ thời xưa như NgôQuyền, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi… tác giả còn kể đến những thủ lĩnh các cuộc khởinghĩa chống Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX, như Trương Định, Nguyễn Hữu Huân,Phan Đình Phùng, Cao Thắng6 Những nhân vật này trong các trường Pháp - Việt haycác trường dạy chữ Hán hẳn rằng không bao giờ dám nhắc đến

Tuy nhiên, giáo dục lòng yêu nước không phải bao giờ cũng chỉ nói đến việc dám xảthân vì nước, mà một nhiệm vụ được luôn luôn bàn tới là phải học cách làm cho đất

nước giàu mạnh Sách Quốc dân độc bản sau khi đã bàn nhiều đến nghĩa vụ quốc dân còn khuyên những người đi học "nên chuyên sức ở lối học hữu dụng" Còn Văn minh tân học sách như đã nói trên cũng nhiều lần nhấn mạnh đến chấn hưng công nghệ Vì có

như vậy thì tài nguyên mới khỏi bị người ngoài khai thác, dân mình mới giàu lên, mớicạnh tranh để sinh lợi, và đó cũng là thể hiện lòng yêu nước

Dòng giáo dục yêu nước hình thành trên cơ sở tinh thần yêu nước của dân tộc Nó cómầm mồng từ cuối thế kỷ XIX, nhưng sang đầu thế kỷ XX mới thể hiện rõ nét Với cáctrường học trong phong trào Đông Du của Phan Bội Châu, các "nghĩa thục" ở QuảngNam và các tỉnh ở Bắc Kỳ mà đỉnh cao là Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, mục đích,nội dung của dòng giáo dục yêu nước đã hình thành Tuy nhiên, nhà cầm quyền Phápkhông thể để yên cho dòng giáo dục này phát triển công khai đối lập với nền giáo dụcPháp - Việt lúc đó, nên họ đã thẳng tay đàn áp Những trường học yêu nước bị đóng cửanhưng dòng giáo dục yêu nước không vì thế mà bị dập tắt, nó sẽ được các nhà yêu nướclớp sau tiếp thu và phát triển lên một bước mới, tạo ra dòng giáo dục cách mạng

b) Dòng giáo dục cách mạng - sự kế thừa và phát triển dòng giáo dục yêu nước.

Trang 16

Sau khi những trường "nghĩa thục" bị đóng cửa, dòng giáo dục yêu nước mới hìnhthành tưởng chừng như bị chặn lại Nhà cầm quyền Pháp đã đưa ra những quy định rấtngặt nghèo để kiểm soát các trường học Trường tư không được dạy theo chương trìnhriêng, lý lịch các thầy giáo dù chỉ là trường hương học nhưng cũng phải được chínhquyền cấp tỉnh xét duyệt; hiệu trưởng phải chịu trách nhiệm trước chính quyền về nộidung giảng dạy, nhất là chữ Hán và tư cách của giáo viên… Như vậy, việc mở trường tưtheo mô hình của Diên Phong, Phú Lâm, đặc biệt của Đông Kinh nghĩa thục là hoàntoàn bất hợp pháp và bị cấm đoán Những biện pháp khắc nghiệt đó đã làm cho dònggiáo dục yêu nước trong một thời gian khá dài hầu như bị ngừng trệ Song không phải vìthế mà dòng giáo dục này đã bị chặn đứng hoàn toàn mà nó vẫn như những dòng suốinhỏ, những mạch nước ngầm len lỏi qua những tảng đá khổng lồ để chảy ra biển cả.Đây là một quá trình mà những nhà yêu nước, tiêu biểu là Nguyễn ái Quốc tìm tòi, suynghĩ, học tập, thể nghiệm để tìm ra một con đường cứu nước phù hợp.

* Nguyễn ái Quốc - người mở đầu dòng giáo dục cách mạng.

Sinh ra và lớn lên trên một địa phương có truyền thống lâu đời về yêu nước và hiếuhọc, Nguyễn ái Quốc ngay từ khi đang học chữ Hán với thân phụ là ông Nguyễn SinhSắc, đến khi được đi học trường Pháp - Việt, luôn luôn suy nghĩ về một con đường cứunước Trước hết, Nguyễn ái Quốc đã tham gia những phong trào yêu nước bằng sởtrường của một người có học (phiên dịch, viết đơn cho những người chống thuế…) Khi

ra nước ngoài, Nguyễn ái Quốc đã kiên trì tự bồi dưỡng cho mình kiến thức của một nhàhoạt động chính trị trên nhiều lĩnh vực văn hóa, xã hội, tiếp tục đi tìm đường cứu nướcbằng phương pháp tự học trong sách vở, với bạn bè, trong thực tế công tác, nghiên cứu

và tiếp thu lý luận cách mạng tiên tiến của thời đại và đặc biệt coi trọng hoạt động thựctiễn trong phong trào công nhân lúc đó Khi đã trở thành người cộng sản đầu tiên củadân tộc, Nguyễn ái Quốc vẫn luôn luôn đứng vững trên vị trí của một người cộng sảntrong một nước thuộc địa có hơn 90% là nông dân mà vận dụng chủ nghĩa Mác - Lêninvào thực tiễn cách mạng của đất nước

Cuối năm 1924, Nguyễn ái Quốc rời Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc) để xúctiến những công việc đã dự định Tại đây, Nguyễn ái Quốc bắt liên lạc với Tâm Tâm xã1

và tổ chức yêu nước của cụ Phan Bội Châu; Nguyễn ái Quốc chọn những thanh niêntrong các tổ chức nói trên và một số thanh niên yêu nước vừa vượt lưới mật thám Pháp

từ nước nhà trốn sang, mở lớp huấn luyện chính trị để đào tạo họ thành những cán bộcho phong trào cách mạng trong nước

Là một người am hiểu khá sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin, nhưng không phảiNguyễn ái Quốc đã dạy ngay những vấn đề thuộc về lý luận cách mạng còn rất xa lạ với

1 Tâm Tâm xã, t c Tân Vi t Thanh niên oàn, thành l p n m 1923, m t t ch c ứ đọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ện An Lão, đ ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ăm 1862 ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ổng Tử, ứ đọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả cách m ng c a ng ại Doãn, ủa Phạm Thị Kim, Viện Hán Nôm ười làng Hạnh Thi, huyện An Lão, i Vi t Nam Qu ng Châu, tiêu bi u là H Tùng M u, Lê H ng S n, ện An Lão, ở bài phương châm, v.v… ải Phòng) đỗ Hoàng Giáp năm 1862 ểu nghĩa cả ồ Chí Minh, 1990, tr 385 ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ồ Chí Minh, 1990, tr 385 ơng Tử Lộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí,

Trang 17

thanh niên ta lúc đó Đầu năm 1925, Nguyễn ái Quốc biên soạn tập đề cương bài giảng

mà sau này, năm 1927, được Bộ Tuyên truyền của "Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức

ở á Đông" xuất bản thành sách dưới tiêu đề "Đường cách mệnh".

Bài đầu tiên của tập đề cương là "Tư cách một người cách mạng" mà ta có thể rútgọn lại là "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư" Tiếp theo là bài dạy vì sao phải làmcách mạng, muốn làm cách mạng thì phải làm thế nào Đó cũng là mục đích của cuốn

sách Nội dung chính của "Đường cách mệnh" gồm 13 bài2 Sau khi đã nêu phần khái luận

về "cách mạng" với những định nghĩa, tính chất, đối tượng, động lực, giai cấp lãnh đạo,cuốn sách đề cập phần chủ yếu là lịch sử các cuộc cách mạng tiêu biểu cho đến lúc đó:Cách mạng Mỹ năm 1776, cách mạng Pháp năm 1789, cách mạng Nga năm 1919 Mặcdầu nội dung mỗi bài đều rất ngắn gọn, súc tích, cuốn sách vẫn luôn luôn dành mộtphần thích đáng nêu tính chất của cuộc cách mạng và liên hệ với Việt Nam Nguyễn áiQuốc đánh giá cao hai cuộc cách mạng tư sản Mỹ và Pháp, nhưng không quên tínhkhông triệt để của chúng, vì sau khi cách mạng thành công chính quyền vẫn chưa thuộc

về tay nhân dân, và nhấn mạnh: "Cách mạng Việt Nam nên nhớ những điều này"1 Cũngnhư khi nói về Công xã Pari, Nguyễn ái Quốc hết sức ca ngợi khí thế của những ngườixông lên "đoạt trời" nhưng không quên rút ra bài học kinh nghiệm: "Vì tổ chức khôngkhéo và vì không liên lạc với dân cày, đến nỗi thất bại"2

Riêng đối với Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917, Nguyễn ái Quốc nêu rõ sựkhác biệt đối với những cuộc cách mạng Mỹ và Pháp, đồng thời rút ra những kinhnghiệm rất cơ bản: "Muốn cách mạng thành công thì phải dân chúng (công nông) làmgốc; phải có Đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất Nói tóm lạiphải theo chủ nghĩa Mác - Lênin"3

Ngoài những bài về lịch sử cách mạng các nước, "Đường cách mệnh" còn ghi những

bài giảng về lịch sử các quốc tế như quốc tế cộng sản (đệ nhất, đệ nhị, đệ tam quốc tế),quốc tế thợ thuyền, phụ nữ, thanh niên… Cách tổ chức các hội quần chúng như cônghội, dân cày (tức nông hội), hợp tác xã mua bán…

Nguyễn ái Quốc vừa là người tổ chức vừa là giảng viên chính của lớp học Bằngkinh nghiệm phong phú của mình kết hợp với phương pháp giáo dục mới, Nguyễn áiQuốc đã xây dựng một chương trình huấn luyện phù hợp với trình độ người học Vớicách diễn đạt gọn gàng, sáng sủa, cô đọng, một số vấn đề cơ bản về cách mạng vô sản

đã được Nguyễn ái Quốc trình bày Khâu thảo luận tổ cũng được chú ý chỉ đạo chặt chẽ,

L ch s cách m ng Nga; 5 Qu c t ; 6 Ph n qu c t ; 7 Công nhân qu c t ; 8 C ng s n ịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ử, ại Doãn, ốc gia, ết 9, Nxb Tài trí, ục dịch), ữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch), ốc gia, ết 9, Nxb Tài trí, ốc gia, ết 9, Nxb Tài trí, ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ải Phòng) đỗ Hoàng Giáp năm 1862 thanh niên qu c t ; 9 Qu c t giúp ốc gia, ết 9, Nxb Tài trí, ốc gia, ết 9, Nxb Tài trí, đỡ; 10 Quốc tế cứu tế đỏ; 11 Cách tổ chức công hội; ; 10 Qu c t c u t ốc gia, ết 9, Nxb Tài trí, ứ đọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ết 9, Nxb Tài trí, đỏi ; 11 Cách t ch c công h i; ổng Tử, ứ đọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí,

12 T ch c dân cày; 13 H p tác xã ổng Tử, ứ đọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ợp TP Hồ Chí Minh, 1990, tr 385.

1 , 2, 3 H Chí Minh, ồ Chí Minh, 1990, tr 385. Tuy n t p, ển tập, ận ngữ, t p 1, Nxb S th t, H 1980, tr 242, 246, 255.ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ực phạn" (tức là ăn cơm) rồi đọc ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998.

Trang 18

mọi người đều được tự do tư tưởng, trao đổi ý kiến sao cho sau mỗi bài học đều thấysáng tỏ, thông suốt, tin tưởng Phương hướng chính của lớp học là đào tạo những cán bộvừa có lý luận vừa biết cách vận động quần chúng làm cách mạng, nên mỗi học viêncòn phải đóng vai trò một cán bộ tuyên truyền Những người khác ngồi nghe và cùngnhau góp ý cho những vấn đề đã nêu, ngoài ra học viên còn được thâm nhập thực tế sôiđộng của Quảng Châu lúc đó Để chuẩn bị cho việc thành lập Đảng của giai cấp côngnhân, tháng 6 năm 1925 Nguyễn ái Quốc đã tổ chức Việt Nam Thanh niên cách mạngđồng chí Hội, có hạt nhân là Cộng sản Đoàn, ra tờ báo Thanh niên để tuyên truyềnđường lối cách mạng của Hội vào trong nước.

Từ năm 1925 đến tháng 4 năm 1927, Nguyễn ái Quốc đã mở được 10 khóa học, mỗikhóa từ một tháng rưỡi đến ba tháng, tổng số học viên lên đến trên 200 người Ta thấy

nội dung "Đường cách mệnh" không phải là lý luận cao xa, khó hiểu, khó nhớ mà đó là

những bài học về lịch sử cách mạng thế giới có liên hệ với thực tế cách mạng Việt Nam;đúng như trong bài "Vì sao phải viết sách này" đã nói: "Đem lịch sử cách mạng cácnước làm gương cho chúng ta soi; đem phong trào thế giới nói cho đồng bào ta rõ Ai làbạn ta? Ai là thù ta? Cách mạng thì phải làm thế nào?"1 Phương châm "Học để mà làm"của Nguyễn ái Quốc đã tỏ ra hoàn toàn chính xác Hầu hết những học viên được đào tạo

ở Quảng Châu đã về nước hoạt động, đa số trở thành hội viên của Việt Nam Thanh niêncách mạng đồng chí Hội Trong quá trình đó, họ đã tự khẳng định là có trình độ lý luận

và thực tiễn, có tinh thần kiên định và đã đóng góp vào việc truyền bá chủ nghĩa Mác Lênin vào Việt Nam, tạo điều kiện to lớn cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Namvào ngày 3 tháng 2 năm 1930

-Lớp huấn luyện cán bộ ở Quảng Châu do Nguyễn ái Quốc chủ trì, đúng là trườnghọc đầu tiên của dòng giáo dục cách mạng về nội dung cũng như hình thức tổ chức họctập, phương pháp giảng dạy và nhất là kết quả cụ thể của nó Trong quá trình đấu tranhgiành độc lập dân tộc, những nhà yêu nước đầu thế kỷ XX cũng đã tổ chức nhữngtrường học nhằm đào tạo những người làm nòng cốt cho công cuộc chống Pháp, nổi bậtnhất là trường học trong phong trào Đông Du của Phan Bội Châu Nhưng đây chỉ làtrường học văn hóa và quân sự theo chương trình của người Nhật Bản Những vấn đềgiáo dục lý luận, phương pháp hoạt động cụ thể, v.v…, đều chưa được đề cập Điều nàycũng dễ hiểu, vì các nhà yêu nước của chúng ta lúc đó ra đi tìm đường sống cho dân tộc,ngoài bầu máu nóng, các vị chưa được trang bị gì về lý luận, hoặc nếu có thì cũng chưa

hệ thống, chưa đầy đủ Những vấn đề này, sau Cách mạng tháng Mười thành công,Nguyễn ái Quốc đã có điều kiện hơn các bậc tiền bối và những kết quả đạt được cũng đãkhẳng định điều đó Nguyễn ái Quốc chính là người đã đi đầu, đã khai phá dòng giáodục cách mạng

1 H Chí Minh, ồ Chí Minh, 1990, tr 385. Tuy n t p, ển tập, ận ngữ, t p 1, Nxb S th t, H 1980, tr 233.ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ực phạn" (tức là ăn cơm) rồi đọc ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998.

Trang 19

* Biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng.

Sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh quyết liệtchống lại ách thống trị của đế quốc Pháp và bọn phong kiến tay sai Kẻ thù đã thẳng tayđàn áp hòng bóp chết Đảng Cộng sản non trẻ, hàng vạn đảng viên và quần chúng cáchmạng đã bị cầm tù và tra tấn dã man Nhưng những người cách mạng đã vượt lên trênmọi sự tàn bạo, trên cả cái chết, các đồng chí luôn luôn tin tưởng ở thắng lợi cuối cùngcủa cách mạng và tích cực chuẩn bị cho ngày được tháo cũi sổ lồng trở về hoạt động.Một trong những công tác được đa số tù nhân chính trị hồi đó nhất trí là phải biến nhà tù

đế quốc thành trường học lý luận cách mạng "Biến nhà tù thành trường học", mới nghetưởng đơn giản nhưng sự thực không phải dễ dàng Chế độ nhà tù của đế quốc Pháp ởViệt Nam là một chế độ khét tiếng tàn bạo, dã man kiểu trung cổ Người tù bị bắt đi làmkhổ sai vô cùng nặng nề nhưng chỉ được ăn gạo mục, rau già và mắm thối Tất cả quàbánh người nhà mang vào không kể loại nào đều bị cắt nhỏ, hoặc bị đục tung ra khôngnhững để tìm tài liệu cất giấu mà còn để cho người tù không dùng được nữa Bằngnhững hành động dã man đó, bọn thống trị muốn làm cho những chiến sĩ cộng sản chếtdần chết mòn trong các nhà lao Trong 295 chính trị phạm bị giam ở Đắc Pao đã có 215người chết, chỉ còn 80 người sống sót ở Sơn La, Côn Đảo số tù nhân bị chết hàng nămcũng chiếm một tỷ lệ khủng khiếp: "Với 200 tù chính trị đày đi Sơn La tháng 2 năm

1933, ba chục người đã bị chết trong vòng chín tháng"1 Những người còn lại đa số bịtàn phế hoặc mắc những bệnh tật hiểm nghèo như lao phổi, gan do hậu quả của nhà tù

đế quốc Mọi hoạt động trong tù đều bị những con mắt của bọn cai ngục, mật thám ngàyđêm rình mò theo dõi, đó là chưa nói đến một trang sách, một mảnh giấy, một mẩu bútchì cũng bị coi là vật cấm thì nói gì đến tài liệu học tập, sách bút để ghi chép

Tuy vậy, nhờ có kinh nghiệm hoạt động bí mật, các chiến sĩ cộng sản đã khắc phụcnhững khó khăn, tổ chức được những lớp học cho nhiều đối tượng khác nhau Tùy theotrình độ, thời hạn ở tù của từng người mà ban lãnh đạo chia học viên thành lớp Lớp dàihạn dành riêng cho những đồng chí có trình độ cao, bị tù từ 5 năm trở lên Những đồngchí này nghiên cứu tương đối có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối chínhsách của Đảng, còn những đồng chí bị tù từ 5 năm trở xuống thì học lớp ngắn hạn.Chương trình của lớp này gồm Duy vật sử quan (tức Chủ nghĩa duy vật lịch sử), Chủnghĩa cộng sản sơ giản, Luận cương chính trị của Đảng, Năm bước công tác, Công tác

bí mật, v.v Mỗi lớp có độ 15 đến 20 người do một đồng chí có trình độ khá phụ trách.Khi nghe giảng, khi thảo luận anh em thường ngồi sát hoặc bá vai rất thân mật làm nhưngồi nói chuyện phiếm Đây là không khí học chính trị của những người tù cộng sản ởHỏa Lò, Hà Nội: "Tại mỗi lớp đồng chí phụ trách đọc một đoạn sách rồi nêu câu hỏi đểmọi người thảo luận Cuộc thảo luận thường là sôi nổi Nhiều khi chỉ một từ như "kinh

Trang 20

tế" chẳng hạn, chúng tôi đã tranh cãi gần một tháng Trong giờ ra tắm giặt, chúng tôivẫn tranh luận Đôi khi chúng tôi tranh luận cả vào bữa ăn nữa"1

Ngoài những lớp học theo phương pháp nói trên còn có những lớp học bằng vấn đápcho anh em công nhân, nông dân mới vào tù Người giảng nêu câu hỏi như: Cộng sản làgì? Giai cấp là gì? Đấu tranh giai cấp là gì? v.v rồi giảng bằng những lời lẽ hết sức dễhiểu Lớp dài hạn gồm những anh em có trình độ khá, chủ yếu là học các tác phẩm kinh

điển của chủ nghĩa Mác - Lênin như Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; Luận cương chính trị; Chủ nghĩa Lênin; Công nhân vận động; Nông dân vận động; Vấn đề dân tộc; Vấn đề tổ quốc; Chủ nghĩa cộng sản vấn đáp, v.v Những

sách này thường do nhiều đường dây bí mật của bạn bè, người thân, của các đồng chí ởngoài chuyển đến qua tay những anh em lính gác có cảm tình với cách mạng mà vào vớicác đồng chí trong tù Bởi vậy, nói là những bảo vật vô giá nhiều khi phải đánh đổi bằngxương máu Để tránh tài liệu rơi vào tay địch, anh em phân công những người chữ tốtchép lại trên những tập giấy cỡ nhỏ như giấy cuốn thuốc lá và chuyền tay nhau đọc.Những bản gốc được cất giấu cẩn thận trong các "thư viện" bí mật cạnh hố xí, dưới gầmsàn hoặc trên mái nhà Ngoài những sách vở có sẵn, anh em trong tù còn tự biên soạnnhững tài liệu học tập cho hợp với trình độ chung Những tài liệu này thường được tậpthể Ban Huấn luyện của nhà tù thảo luận, thống nhất ý kiến và giao cho một đồng chí

chấp bút Đồng chí Ngô Gia Tự viết cuốn Những vấn đề cơ bản của cách mạng Đông Dương; đồng chí Trường Chinh viết cuốn Duy vật sử quan, Gia đình và Tổ quốc; một

số đồng chí khác viết Lịch sử tóm tắt ba quốc tế (chủ yếu là Quốc tế thứ ba) Các đồng chí Ngô Gia Tự, Hà Huy Giáp còn dịch Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản; Làm gì? Bệnh

ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản; Hai sách lược; Nguyên lý chủ nghĩa Lênin,

v.v Đi đôi với việc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, chi bộ nhà tù còn chú trọng việctổng kết kinh nghiệm Tại xà lim án chém (Hoả Lò, Hà Nội) các đồng chí đã tổng kếtkinh nghiệm vận động công nhân, nông dân, phụ nữ, thanh niên, binh lính địch, v.v… ởnhà tù Côn Đảo, đồng chí Ngô Gia Tự và một số đồng chí khác đã chỉ đạo việc nghiêncứu các giai cấp trong xã hội Việt Nam, rút kinh nghiệm về đường lối cách mạng ViệtNam, v.v…

Học văn hóa cũng được các đồng chí trong tù chú ý Ngoài những lớp dạy cho anh

em công nhân, nông dân chưa biết chữ hoặc trình độ văn hóa còn thấp, có người cònhọc thêm chữ Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh hoặc Quốc tế ngữ, cũng có người học toán, lý,hóa, v.v… Về học ngoại ngữ người ta thường nhắc tới tấm gương kiên trì và say mê củađồng chí Trần Huy Liệu đã học thuộc lòng hết cuốn từ điển tiếng Pháp Larútxơ(Larousse) trong những năm ở tù, đồng chí Hoàng Đình Rong cũng học tiếng Pháp quaPháp - Hoa từ điển

1 Tr ười trong Đông á" ng h c sau song s t, ọc sau song sắt, ắm nỗi, Nxb Thanh niên, H 1969, tr 27.

Trang 21

Ngoài ra còn nhiều đồng chí học thuộc lòng cả những cuốn sách khó như "ChốngĐuy rinh", "Làm gì?" v.v… để làm kim chỉ nam cho hoạt động sau khi ra khỏi tù.

Từ 1942 trở đi, trong một số nhà tù ở Sơn La, Hà Nội và Buôn Mê Thuật các đồngchí còn được học tập các Nghị quyết Trung ương; Chương trình, Điều lệ của mặt trậnViệt Minh Trong thời kỳ tiền khởi nghĩa ở một số nhà tù như Sơn La, Chợ Chu, BaVân, Ba Tơ, v.v… các đồng chí còn tổ chức học tập quân sự

Trường học trong tù với nội dung hết sức phong phú và đa dạng, đã rèn luyện chonhững người cách mạng trưởng thành ngay trong môi trường khắc nghiệt nhất Do đóĐảng đã vận dụng linh hoạt lý luận cách mạng vào từng giai đoạn lịch sử, cuối cùng khithời cơ đến đã lật đổ ách thống trị của đế quốc Pháp và tay sai giành lại độc lập cho Tổquốc

* Hoạt động của hội truyền bá quốc ngữ, một bộ phận của dòng giáo dục cách mạng

Đi đôi với việc tổ chức và lãnh đạo học tập lý luận, Đảng ta luôn luôn chú trọng đếnviệc chống nạn thất học cho nhân dân lao động Trong mục "Cách tổ chức công hội" của

"Đường Cách mệnh" Nguyễn ái Quốc viết: "Khi có tiền thừa thãi, thì nên làm nhữngviệc này: 1- Lập trường học cho công nhân 2- Lập trường cho con cháu công nhân 3-Lập nơi xem sách, xem báo…"1 Những tổ chức tiền thân của Đảng như Việt NamThanh niên Cách Mạng Đồng chí Hội (VNTNCMĐCH) Đông Dương Cộng sản đảng(ĐDCSĐ) đều có chủ trương chống nạn thất học2 Sau khi Đảng đã thành lập thì "Phổthông giáo dục theo công nông hóa" là một trong những điều được ghi trong "Chánhcương vắn tắt của Đảng"3 Đồng thời ở một số tỉnh Bắc, Trung, Nam đã có những nhàgiáo, sinh viên, học sinh tiến bộ có sáng kiến tổ chức các lớp "tráng học" (lớp ngườilớn) "dạ học" (học ban đêm) dạy cho những người lao động nghèo

Trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh, chỉ một thời gian ngắn từ tháng 9 năm 1930đến cuối 1931, Đảng đã tổ chức được 815 lớp học, có 436 giáo viên dạy cho 11.626người1 Chỉ tính riêng tỉnh Hà Tĩnh số học sinh ở các làng có xô viết cao hơn cả số họcsinh các trường Pháp - Việt hồi đó2 Đi đôi với chủ trương chống nạn thất học, tổ chức

1 Ban Nghiên c u L ch s ứu Lịch sử Đảng Trung ương Các tổ chức tiền thân của Đảng, ịa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, ử Quốc Văn giải thích Đải thích ng Trung ương Các tổ chức tiền thân của Đảng, ng Các t ch c ti n thân c a ổ chức tiền thân của Đảng, ứu Lịch sử Đảng Trung ương Các tổ chức tiền thân của Đảng, ề về Nho giáo Việt Nam, ủa Đảng, Đải thích ng, Nxb Sực phạn" (tức là ăn cơm) rồi đọc

th t, H 1977, tr 69 ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998.

2 "Chính c ương Các tổ chức tiền thân của Đảng, ng t i ê h n ốc Văn giải thích đ ạnh Tử Quốc Văn giải thích đột số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, " c a VNTNCM CH ghi: " ánh ủa Đảng, Đ Đ đổ chức tiền thân của Đảng, giáo d c c a th ng ục Hà Nội, ủa Đảng, ốc Văn giải thích

tr giai c p, ịa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, ấn đề về Nho giáo Việt Nam, đề về Nho giáo Việt Nam, ước đời lắm nỗi, x ng v s p ành phố Hồ Chí Minh, ắm nỗi, đặp lúc cạnh tranh" t giáo d c Giáo d c b t bu c, t n phí nh n ục Hà Nội, ục Hà Nội, ắm nỗi, ột số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, ổ chức tiền thân của Đảng, ành phố Hồ Chí Minh, ước đời lắm nỗi, c ch u ph ịa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, ục Hà Nội, trách" Các t ch c ti n thân c a ổng Tử, ứ đọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ủa Phạm Thị Kim, Viện Hán Nôm Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí,ải Phòng) đỗ Hoàng Giáp năm 1862 ng ã d n, tr 116 đ ẫn phải học hành và tham gia các

- Chính sách v n hóa c a D S ghi: "T do xem sách báo; t do m tr ăn giải thích ủa Đảng, Đ Đ Đ ự do xem sách báo; tự do mở trường; tự do học ự do xem sách báo; tự do mở trường; tự do học ở trường; tự do học ười trong Đông á" ng; t do h c ự do xem sách báo; tự do mở trường; tự do học ọc sau song sắt,

h nh ", (S d, tr 225) ành phố Hồ Chí Minh, đ

3 V n ki n ăn giải thích ệt Nam, Đải thích ng - 1930-1935, S th t, H 1977, tr 18 ực phạn" (tức là ăn cơm) rồi đọc ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998.

1 Nh ng s ki n l ch s ữ, ự do xem sách báo; tự do mở trường; tự do học ệt Nam, ịa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, ử Quốc Văn giải thích Đải thích ng, (1920-1945), t p 1, S th t, H 1976 Trang th ng k ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ực phạn" (tức là ăn cơm) rồi đọc ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ốc gia, ết 9, Nxb Tài trí,

2 S h c sinh các làng có xô vi t Hà T nh: 5.213 ng ốc gia, ọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ết 9, Nxb Tài trí, ở bài phương châm, v.v… ĩa cả ười làng Hạnh Thi, huyện An Lão, i, s h c sinh các tr ốc gia, ọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ở bài phương châm, v.v… ười làng Hạnh Thi, huyện An Lão, ng Pháp

- Vi t Hà T nh: 3.265 ng ện An Lão, ĩa cả ười làng Hạnh Thi, huyện An Lão, i (Theo Tr n Kinh, đốc gia, c h c Hà T nh ọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ĩa cả Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí,ịch), tiết 9, Nxb Tài trí, a d t nh Hà T nh 1941, ư ĩa cả.

Trang 22

các lớp học dạy cho người lao động nghèo, báo chí của Đảng cũng đã phát triển rấtmạnh Theo thống kê từ 1925 đến trước này thành lập Đảng, đã có 37 tờ báo được pháthành và từ sau đó đến Cách mạng Tháng Tám số báo đã lên đến 219 tờ, tổng cộng 256

tờ3 được phát hành hoặc bí mật hoặc công khai khắp Trung, Nam, Bắc Tuy nhiên dotrình độ văn hóa của nhân dân lao động còn kém nên những chủ trương, đường lối củaĐảng chỉ mới đến được với anh em học sinh, viên chức và một số ít công nhân có trình

độ văn hóa khá mà thôi Đồng chí Hoàng Quốc Việt kể lại: "Chúng tôi nhận thấy sáchbáo của ta tuy ra nhiều nhưng số đông độc giả là công nhân, nông dân và những tầnglớp lao động khác còn chiếm một tỷ lệ rất ít, vì đại đa số anh chị em không biết đọc biếtviết Để giải quyết vấn đề khó khăn ấy, chúng tôi nảy ra ý kiến cử anh Phan Thanh đếnmời cụ Nguyễn Văn Tố đứng ra xin lập hội Truyền Bá Quốc Ngữ"4

Hội Truyền Bá Quốc Ngữ được thành lập vào tháng 8 năm 1938 và hoạt động chotới tháng 8 năm 1945 Căn cứ vào tình hình hoạt động của Hội, ta có thể chia ra làm bathời kỳ:

- Từ tháng 8 năm 1938 đến tháng 9 năm 1940

- Từ tháng 10 năm 1940 đến tháng 7 năm 1944

- Từ tháng 8 năm 1944 đến tháng 8 năm 1945

Thời kỳ thứ nhất: Từ tháng 8 năm 1938 đến tháng 9 năm 1940

Đây là giai đoạn chuẩn bị về mọi mặt như thảo điều lệ, xây dựng quỹ Hội, huấnluyện giáo viên, biên soạn sách giáo khoa và mở một số lớp học có tính chất thí điểmxung quanh Hà Nội Thời kỳ này Hội mới thành lập chưa có nhiều kinh nghiệm, đồngthời nhà cầm quyền Pháp cũng chỉ muốn cho Hội hoạt động cầm chừng nên phạm viảnh hưởng của Hội cũng chưa lan rộng Cụ Nguyễn Văn Tố được mời làm hội trưởng,ngoài ra còn có các đồng chí Trần Huy Liệu, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp cùng vớimột số trí thức khác tham gia Hội có Ban Trung ương đóng ở Hà Nội và một số chi hội

ở các tỉnh Giúp việc cho ban Trung ương còn có các ban Tu thư, Giáo dục và Tuyêntruyền Khánh tiết1

Mục đích của Hội như tên gọi, là:

"Truyền bá quốc ngữ, dạy người Việt Nam biết viết tiếng mình

tr 15).

3 Nguy n Thành ễn Hữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch), Báo chí cách m ng Vi t Nam 1925-1945 ạnh Tử Quốc Văn giải thích ệt Nam, Nxb Khoa h c xã h i, H ọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí,

1984, tr 324, 345.

1 Đển tập, biên so n ph n n y chúng tôi có dùng m t s t li u trong H i Truy n Bá Qu c ạnh Tử Quốc Văn giải thích ầu ành phố Hồ Chí Minh, ột số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, ốc Văn giải thích ư ệt Nam, ột số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, ề về Nho giáo Việt Nam, ốc Văn giải thích

Ng c a hai ông V ữ, ủa Đảng, ương Các tổ chức tiền thân của Đảng, ng Kiêm To n v V Lân Chúng tôi xin c m n hai tác gi ành phố Hồ Chí Minh, ành phố Hồ Chí Minh, ũ Lân Chúng tôi xin cảm ơn hai tác giả ải thích ơng Các tổ chức tiền thân của Đảng, ải thích

Trang 23

- Khi nào có thể được thì dạy cho người Việt Nam biết ít điều thường thức cần thiếtcho cuộc sinh hoạt hiện thời"2.

Đối tượng dạy của Hội là những người nghèo thất học không có điều kiện để theocác trường công hay trường tư, họ không phải trả học phí mà còn được cấp phát giấybút, sách vở

Ngân sách của Hội chủ yếu dựa vào tiền quyên góp của những nhà hảo tâm, tiền thuđược trong các cuộc vui do Hội tổ chức, ngoài ra còn có một khoản tiền trợ cấp bấtthường của nhà nước Tất cả các hội viên đều làm việc không ăn lương, còn lớp học thìthường dạy về ban đêm trong các trường học hoặc đình đền chùa và cả nhà tư Trongviệc giảng dạy các giáo viên (hội viên) không dùng sách vỡ lòng cũ dạy từ a, b, c rồisang vần bằng, vần trắc mà Hội đã biên soạn cuốn Vần quốc ngữ dạy bằng phương pháp

"đọc lên thành tiếng" hợp lý và khoa học hơn Chỉ sau 10 bài, người học đã bắt đầu cónhững bài học hoàn chỉnh về một nội dung nhất định3 Theo phương pháp này mỗi họcviên chỉ cần học trong 80 giờ là có thể đọc và viết được chữ Quốc ngữ Như vậy nếumỗi ngày học 4 giờ thì chỉ 20 hôm là có thể coi như bước đầu thoát nạn "mù chữ".Trong thời gian này, đi đôi với việc chuẩn bị các mặt, Hội đã mở được 4 khoá họccho hơn 1.000 người lao động

ở Trung Kỳ ngay từ cuối 1938, một số đảng viên và trí thức tiến bộ đã đứng ra xinphép thành lập Hội Truyền Bá Quốc ngữ nhưng mãi tối năm 1939 mới đưọưc duyệt y

và cũng chỉ mới mở được vài lớp xung quanh Huế và Đà Nẵng

Thời kỳ thứ hai: Từ tháng 10 năm 1940 đến tháng 7 năm 1944

Trên cơ sở những kinh nghiệm đã tích luỹ được thời kỳ này Hội đã củng cố ban lãnhđạo và bắt đầu mở rộng phạm vi hoạt động ra các tỉnh Bắc Kỳ và Trung Kỳ

Mặc dầu bị nhà cầm quyền Pháp tìm cách gây khó dễ, nhưng Hội đã có những yêusách vừa hợp lý vừa mềm dẻo nên họ phải nhượng bộ ở Hà Nội ngoài những lớp học đãđược tổ chức từ trước, tháng 11 năm 1940 Hội mở thêm được một số lớp học ở ngoạithành như Bạch Mai, Yên Phụ, Cầu Giấy, Thái Hà ấp và phát triển sang các tỉnh lân cận

2 H i Truy n Bá Qu c Ng i u l , ột số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, ề về Nho giáo Việt Nam, ốc Văn giải thích ữ, Đ ề về Nho giáo Việt Nam, ệt Nam, Hu 1939, tr 1.ết 9, Nxb Tài trí,

3 B i s 11 d y: d ai oi ôi i có nh ng câu ành phố Hồ Chí Minh, ốc Văn giải thích ạnh Tử Quốc Văn giải thích đ ơng Các tổ chức tiền thân của Đảng, ữ,

Tôi đợi bạn mà bạn lại đi - Tội nói dối là tội to lắm i b n m b n l i i - T i nói d i l t i to l m ạnh Tử Quốc Văn giải thích ành phố Hồ Chí Minh, ạnh Tử Quốc Văn giải thích ạnh Tử Quốc Văn giải thích đ ột số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, ốc Văn giải thích ành phố Hồ Chí Minh, ột số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, ắm nỗi,

B i 13: g gh ngh thì có: b n gh l ghê t m l m m nên ngh ng i h n l l bái ành phố Hồ Chí Minh, ở trường; tự do học ẩn ghẻ lở ghê tởm lắm ốm nên nghỉ ngơi hơn là lễ bái ẻ lở ghê tởm lắm ốm nên nghỉ ngơi hơn là lễ bái ở trường; tự do học ở trường; tự do học ắm nỗi, ốc Văn giải thích ỉ ngơi hơn là lễ bái ơng Các tổ chức tiền thân của Đảng, ơng Các tổ chức tiền thân của Đảng, ành phố Hồ Chí Minh, ễn Văn Xuân, Sđd, tr 221) Ngo i ra còn có nh ng câu ca dao ành phố Hồ Chí Minh, ữ, đển tập, giúp ng ười trong Đông á" i h c d nh n d ng v phân bi t ch ọc sau song sắt, ễn Văn Xuân, Sđd, tr 221) ận ngữ, ạnh Tử Quốc Văn giải thích ành phố Hồ Chí Minh, ệt Nam, ữ,

h c Ví d : ọc sau song sắt, ục Hà Nội,

i t có móc c hai ời trong Đông á" ải thích

i ng n có ch m, t d i có ngang ắm nỗi, ấn đề về Nho giáo Việt Nam, ời trong Đông á" ành phố Hồ Chí Minh,

ho c l : ặp lúc cạnh tranh" ành phố Hồ Chí Minh,

O tròn nh qu tr ng g ư ải thích ứu Lịch sử Đảng Trung ương Các tổ chức tiền thân của Đảng, ành phố Hồ Chí Minh,

Ô th i ời trong Đông á" đột số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, i nón, l thêm râu, v.v ơng Các tổ chức tiền thân của Đảng, ành phố Hồ Chí Minh,

Trang 24

như Hà Đông, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên Để chỉ đạo phong trào đang phát triển,Ban Trị sự Hội đã bổ sung một số hội viên tích cực và có kinh nghiệm hoạt động Ngoài

ra ban Dạy học, ban Khánh tiết bà Tài chính, ban Thanh tra cũng được thêm cán bộ vàchấn chỉnh lại tổ chức, riêng ban Dạy học và ban Tu thư đã kịp thời sửa đổi chươngtrình Ngoài những cuốn sách biên soạn ở thời kỳ đầu như "Vần quốc ngữ" và "Tậpđọc" ban Dạy học còn soạn thêm một chương trình cho lớp "Cao đẳng" để dạy chonhững người đã thoát nạn mù chữ học thêm những kiến thức phổ thông Ban Tu thư thìvạch kế hoạch biên soạn một bộ sách "Thường thức" và đã ra được hai cuốn như "Vệsinh thường thức" của bác sĩ Trịnh Văn Tuất, "Truyện bác Hai Bền" của Hoàng ĐạoThúy - nói về cách đối xử với họ hàng làng xóm v.v… Ban Dạy học còn tổ chức đượcnhững lớp huấn luyện giáo viên dài hạn ngày 29 tháng 7 năm 1944 Hội đã tổ chức "Hộinghị giáo khoa toàn quốc" tại Hà Nội nhân dịp kỷ niệm 6 năm ngày thành lập Hơn 700đại biểu của các chi hội ở miền Bắc và miền Trung đã về dự Hội nghị đã nghe báo cáotổng kết đánh giá phong trào của ông hội trưởng, khẳng định: Mặc dầu gặp muôn vànkhó khăn, trở ngại trong mấy năm qua Hội vẫn không ngừng phát triển và cho tới lúc đóphương pháp dạy vỡ lòng của Hội đã được coi là hoàn hảo1 Tiếp đó các đại biểu các chihội trao đổi ý kiến về kinh nghiệm giảng dạy, phương pháp tổ chức, duy trì một trườnghọc, cách khắc phục những khó khăn, cách tạo ra đồ dùng học tập cho học viên v.v…Thời kỳ thứ ba: Từ tháng 8 năm 1944 đến tháng 8 năm 1945 có thể gọi là giai đoạncao trào vì Hội đã mở rộng hoạt động ra toàn quốc Sau Hội nghị giáo khoa nói trên đếntháng 11 năm 1944, Ban Trị sự đã bổ sung nhiều ủy viên mới bao gồm một số anh emsinh viên, trí thức, công chức đã đứng trong hàng ngũ cứu quốc Mặt trận Việt Minhhoặc có cảm tình với Việt Minh, ông Nguyễn Văn Tố đã được bầu lại làm Hội trưởng.Đặc điểm của thời gian này là Hội đã phát triển khắp Trung Nam Bắc, miền núi nhưBắc Giang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, miền biển như Hải Phòng, Thái Bình đều có chihội Phong trào không chỉ ở các thị trấn mà còn đi sâu vào nông thôn và các khu laođộng như khu Găng (Lục Nam - Bắc Giang) Đồng Mỏ (Lạng Sơn) Riêng chi hội TháiNguyên còn tổ chức lớp học cho cả binh lính, ở Phát Diệm còn có lớp học cho đồng bàocông giáo

Các chi hội ở Trung Kỳ còn có sáng kiến mở xổ sổ lấy tiền mua giấy bút cho họcviên ở Quảng Trị, từ sau khi Nhật đảo chính Pháp (9-3-1945) một số chính trị phạmmới được tha về cũng tham gia dạy học và tranh thủ thời cơ tuyên truyền cách mạng

ở Nam Kỳ những năm trước nhà cầm quyền cố tình cản trở không cho mở thêm,nhưng đến tháng 8 năm 1944 thống đốc Nam Kỳ cũng đã phải ký giấy phép cho Hội

1 H N i s tr ở trường; tự do học ành phố Hồ Chí Minh, ột số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, ốc Văn giải thích ười trong Đông á" ng t ng t 9 lên 35, s giáo viên t ng t 70 (3-1940) lên 245 ng ăn giải thích ừ 9 lên 35, số giáo viên tăng từ 70 (3-1940) lên 245 người, ốc Văn giải thích ăn giải thích ừ 9 lên 35, số giáo viên tăng từ 70 (3-1940) lên 245 người, ười trong Đông á" i,

s h c viên t 1.100 lên 4.000 ng ốc Văn giải thích ọc sau song sắt, ừ 9 lên 35, số giáo viên tăng từ 70 (3-1940) lên 245 người, ười trong Đông á" i S chi h i B c K m i th nh l p thêm l 11: B c ốc Văn giải thích ột số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, ở trường; tự do học ắm nỗi, ỳ mới thành lập thêm là 11: Bắc ớc đời lắm nỗi, ành phố Hồ Chí Minh, ận ngữ, ành phố Hồ Chí Minh, ắm nỗi, Giang, áp C u, L ng S n, Thái Nguyên, Ki n An, Uông Bí, Qu ng Yên, H ông, Thái Đ ầu ạnh Tử Quốc Văn giải thích ơng Các tổ chức tiền thân của Đảng, ết mặc bay, Nước đời lắm nỗi, ải thích ành phố Hồ Chí Minh, Đ Bình, H Nam ành phố Hồ Chí Minh,

Trang 25

hoạt động Nhiều chi hội đã được thành lập ở các tỉnh Cần Thơ, Bến Tre, Mỹ Tho, LongXuyên, Sa Đéc, Biên Hòa v.v… ở một số địa phương cơ sở của Hội đã xuống tới quậnhoặc xã, ngoài học viên người Việt còn có cả người dân tộc thiểu số Các kiều bào ởnước ngoài cũng đã mở được những lớp học như Nông Pênh (Campuchia), Viên Chăn,Pắc Xế (Lào).

Tính từ ngày 25 tháng 5 năm 1938 đến Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công Hội

đã hoạt động được hơn 7 năm Trong thời gian đó Hội đã:

- Lập được 30 chi hội ở Bắc Kỳ; 15 chi hội ở Trung Kỳ và 6 chi hội ở Nam Kỳ

- Mở được 857 lớp học bao gồm 59.827 học viên sơ cấp và gần 1 vạn người học lớp

bổ túc Số giáo viên lên đến 1.917 người

- Đã in và phát không cho học viên 17.500 cuốn Vần quốc ngữ và sách bổ túc.Nếu chỉ nhìn đơn thuần số người thoát nạn mù chữ thì quả là còn ít ỏi, nhưng nếunhìn chung cả phong trào mang tính chất xã hội thì kết quả hoạt động của Hội đã vượt

xa hơn nhiều

Trước hết Hội đã hướng những công việc của mình vào nhân dân lao động là tầnglớp bị thiệt thòi nhiều nhất dưới chế độ hà khắc của thực dân Pháp, cho nên việc dạyhọc cho tầng lớp này là: đưa họ xích gần tới ánh sáng của tiến bộ, là thực hiện một chủtrương lớn của Đảng Thực tế trước Cách mạng Tháng Tám nhiều người lao động, dobiết đọc biết viết mà đã sớm tiếp xúc với sách báo của Đảng, đã giác ngộ và trở thànhnhững cán bộ trung kiên của phong trào cách mạng

Đối với những người chỉ đạo phong trào từ Trung ương tới các chi hội ở tỉnh cũngnhư những giáo viên trực tiếp giảng dạy đã có nhiều sáng tạo trong tổ chức, nội dung vànhất là phương pháp phù hợp với từng đối tượng và lứa tuổi Những người lãnh đạo đã

tỏ ra mềm dẻo nhưng kiên quyết trước kẻ thù, đã phân hóa chúng tránh những va chạmkhông cần thiết đảm bảo đưa phong trào đi lên1

Những giáo viên của Hội đa số là thành niên, trí thức, học sinh; lúc đầu họ quanniệm việc dạy chữ Quốcngữ cho những người thất học là một "việc thiện" mang tínhchất ban ơn cho người nghèo, dần dần đã nhận thấy đó là trách nhiệm và vinh dự củathanh niên mà tự nguyện tham gia với phương châm của Hội đề ra: Hy sinh, kiên quyết,

kỷ luật, thân ái Cuối cùng cũng cần phải nói đến một ảnh hưởng, tuy chưa rộng khắp

1 B n m t thám c a Pháp ã ghi vào "s en" nh ng ng ọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ủa Phạm Thị Kim, Viện Hán Nôm đ ổng Tử, đ ữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch), ười làng Hạnh Thi, huyện An Lão, i ho t ại Doãn, độ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ng cho H i; ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ở bài phương châm, v.v… Trung K thì m t viên quan cao c p trong b H c ã - ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ất hay những bài thơ ngụ ngôn của ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả đ đượp TP Hồ Chí Minh, 1990, tr 385 c b trí vào ban lãnh ốc gia, đại Doãn, o H i ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, Lúc đ u Sô nhi, công s Trung K không cho thành l p H i, nh ng sau ta bàn v i c ứ đọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả - ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ư ớ "ăn cơm" nữa thôi ục dịch),

H ồ Chí Minh, 1990, tr 385 Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, c Hàm m t v quan ã v h u, v n ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ịch), tiết 9, Nxb Tài trí, đ ư ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 độ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ng Sô Nhi ký gi y cho phép Trong nh ng ất hay những bài thơ ngụ ngôn của ữu Tiến và Nguyễn Đôn Phục dịch),

cu c h p l n ta c ng ã m i các quan cai tr Pháp, Nam t i d Nh v y ta ã t ra tôn ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ớ "ăn cơm" nữa thôi ũng hiểu nghĩa cả đ ời làng Hạnh Thi, huyện An Lão, ịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ớ "ăn cơm" nữa thôi ực phạn" (tức là ăn cơm) rồi đọc ư ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 đ ỏi

tr ng pháp lu t, m t khác bu c h ph i th a nh n s ho t ọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ặc dầu họ vẫn phải học hành và tham gia các ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ọc y nguyên vì ai cũng hiểu nghĩa cả ải Phòng) đỗ Hoàng Giáp năm 1862 ừa nhận sự hoạt động của Hội là hợp pháp ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ực phạn" (tức là ăn cơm) rồi đọc ại Doãn, độ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ng c a H i là h p pháp ủa Phạm Thị Kim, Viện Hán Nôm ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ợp TP Hồ Chí Minh, 1990, tr 385.

Trang 26

nhưng bước đầu đã có tác động tốt là việc đẩy lùi một số hủ tục ở những xóm làng màHội đến mở lớp như Hương Ngãi (Thạch Thất, Sơn Tây), Thượng Đình (ngoại thành HàNội), Văn Trì v.v… Những hoạt động nhiều mặt của Hội đặc biệt là nội dung vàphương pháp giảng dạy là những kinh nghiệm quý giá cho cuộc vận động xoá nạn mùchữ sau Cách mạng Tháng Tám thành công Tính chất yêu nước và cách mạng của hộiTruyền Bá Quốc Ngữ chính là những điều đã phân tích trên.

Như vậy, dòng giáo dục cách mạng là sự kế thừa của dòng giáo dục yêu nước đầuthế kỷ, mục đích của nó là đào tạo những cán bộ biết vận động quần chúng làm cáchmạng, giành độc lập dân tộc, xây dựng một xã hội mới công bằng và nhân ái Do cốgắng khắc phục những khó khăn chủ quan và khách quan, có kinh nghiệm và phươngpháp tổ chức thích hợp, có tinh thần cách mạng kiên cường, biết kết hợp giữa bí mật vàcông khai, dòng giáo dục cách mạng không bị dập tắt mà đã phát triển một cách bền

bỉ, liên tục và cuối cùng đã thắng lợi cùng với thành công của Cách mạng tháng Támnăm 1945

II sự phát triển của giáo dục việt nam

thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp và đế quốc mỹ

1945-1975

1 Tư tưởng Hồ Chí Minh vê giáo dục

Trong Di chúc của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân: bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết" 1 Người

chỉ rõ cho chúng ta thấy mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục với cách mạng; giữagiáo dục với sự nghiệp giải phóng dân tộc và kiến thiết đất nước Bác khẳng định:

"Muốn vững nền độc lập,

Muốn cho dân mạnh, nước giàu,

Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợ của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà, và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ" 2 , như vậy, muốn biết chữ thì phải học Muốn cho dân

mạnh, nước giàu thì dân trí phải cao, muốn vậy phải "… đa dạng hoá các loại hình đàotạo, mở trường vừa học vừa làm để tạo điều kiện cho người lao động, cán bộ, chiến sĩđược đi học" Khi dân trí đã cao thì sẽ xuất hiện nhiều nhân tài tham gia xây dựng đấtnước Bác đã chỉ cho chúng ta con đường đưa đất nước thoát khỏi cảnh yếu hèn, đó là

1 , 2 H Chí Minh, ồ Chí Minh, 1990, tr 385. S d, đ t p 12, tr 510, t p 4, tr 36.ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998.

Trang 27

con đường phát triển giáo dục Bác nói: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu", Bác kêugọi mọi người thi đua học tập để đưa dân tộc ta trở thành một dân tộc "thông thái".Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giáo dục lại càng có vị trí quan trọng vì

nó vừa là nền tảng, vừa là động lực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội Người đãkhẳng định giáo dục là một mặt trận đặc biệt quan trọng trong công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội ở nước ta mà mỗi cô giáo, thầy giáo là một chiến sĩ cách mạng trên mặttrận quan trọng đó Mục đích của nền giáo dục cách mạng là "phục vụ Tổ quốc, phục vụnhân dân, phục vụ đường lối chính trị của Đảng và Chính phủ, gắn liền với sản xuất vàđời sống của nhân dân" Giáo dục phải tạo ra được những người lao động mới, đó lànhững người có lòng yêu nước nồng nàn, "trung với nước, hiếu với dân", tuyệt đối trungthành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, có đạo đức cách mạng trongsáng, có ý chí hăng hái vươn lên, không sợ hy sinh gian khổ, có tinh thần gan dạ, dũngcảm, khiêm tốn, thật thà, cần cù, tiết kiệm, trong sạch, giản dị, có tri thức và có sứckhoẻ để trở thành những người chủ tương lai của đất nước, những người kế thừa xâydựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng", vừa "chuyên"1 Bác thường xuyên nhắc nhở nhữngngười làm công tác giáo dục phải luôn chú ý giáo dục toàn diện cho học sinh, phải kếthợp chặt chẽ "học đi đôi với hành", học không phải chỉ chạy theo bằng cấp, mà phảithực học Người chỉ rõ: Học để làm việc, làm người, làm cán bộ, trong đó học để làmngười là khó nhất Bác luôn đánh giá rất cao vai trò của các cô giáo, thầy giáo đối với xãhội, Bác nói: "Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vangnhất Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song nhữngngười thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh"2 Muốn được như vậy, các cô giáo, thầygiáo trước hết phải trau dồi đạo đức cách mạng, không ngừng rèn luyện chuyên môn,phải là tấm gương trong sáng để học sinh noi theo, phải gương mẫu từ lời nói đến việclàm, phải thương yêu, chăm sóc học sinh như con em ruột thịt của mình, phải thật sựyêu nghề, yêu trường, phải không ngừng học hỏi để tiến bộ mãi Bác luôn tin tưởng vàmong muốn các thế hệ học sinh luôn cố gắng học tập và rèn luyện tốt để mai sau trởthành những người có ích cho Tổ quốc Trong thư gửi học sinh nhân ngày khai trườngtháng 9 năm 1945, Bác đã viết: "non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dântộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châuđược hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em"3 Tư tưởng giáodục của Hồ Chí Minh được thể hiện qua câu nói bất hủ của Người: "Vì lợi ích mườinăm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người"4 Những câu nói củaBác đã đi sâu vào lòng người, tạo thành động lực thúc đẩy mạnh mẽ cho hàng triệu thầy

1 H Chí Minh, ồ Chí Minh, 1990, tr 385. S d đ , t p 12, tr 510, ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998.

2 H Chí Minh, ồ Chí Minh, 1990, tr 385. S d, đ t p 11, tr 331.ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998.

3 H Chí Minh, ồ Chí Minh, 1990, tr 385. S d, đ t p 4, tr 33.ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998.

4 H Chí Minh, ồ Chí Minh, 1990, tr 385. S d, đ t p 9, tr 222.ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998.

Trang 28

giáo và học sinh thi đua dạy tốt - học tốt Câu nói đó đã trở thành chân lý của thời đại,

hoàn toàn phù hợp với quy luật phát triển của các nước đi từ lạc hậu lên tiên tiến và hiệnđại, từ nông nghiệp đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá và là tư tưởng chỉ đạo cho toànĐảng, toàn dân ta phải hết sức chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, chăm sóc và dạy dỗ chuđáo thế hệ trẻ

Bác thường xuyên quan tâm đến vấn đề đại đoàn kết các dân tộc, đặc biệt quan tâm

đến vấn đề giáo dục cho học sinh đồng bào các dân tộc thiểu số Bác nói: " muốn phát

triển văn hoá của mình thì chúng ta phải tẩy trừ những thành kiến giữa các dân tộc, phảiđoàn kết, thương yêu, giúp dỡ nhau như anh em một nhà

Nhiệm vụ của các cháu là thi đua học tập để sau này góp phần mở mang quê hươngcủa mình và xây dựng nước Việt Nam yêu quý của chúng ta"1 Bác rất chú ý đến việcnâng cao dân trí, Bác coi dốt là một loại "giặc" và nhiệm vụ diệt giặc dắt được xếp thứhai sau "diệt giặc đói" Người căn dặn: "Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng"2, do đó,các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành các giới, các đoàn thể quần chúng và toàn xãhội phải thật sự quan tâm đến công tác giáo dục, giúp đỡ nhà trường về mọi mặt, cầnphát huy cao độ dân chủ trong nhà trường để tạo nên sự đoàn kết, nhất trí giữa thầy vớithầy, thầy với trò, trò với trò, tạo ra mối quan hệ mật thiết giữa nhà trường - gia đình -

xã hội cùng cộng đồng trách nhiệm để phát triển giáo dục Tư tưởng của Bác Hồ từngay sau ngày nước nhà giành được độc lập đã đặt nền móng xây dựng và phát triển hệthống giáo dục quốc dân Đó là:

Trước hết, hệ thống giáo dục của nước ta phải là "một nền giáo dục hoàn toàn ViệtNam" Nền giáo dục của nước ta được hình thành và phát triển từ trong lòng cách mạng,cho đến ngày nay, nền giáo dục quốc dân của nước ta có đầy đủ các bậc học từ giáo dụcmầm non đến giáo dục sau đại học Ngay từ năm học đầu tiên sau khi nước nhà giànhđược độc lập, ở tất cả các trường, các bậc học đều dùng chữ quốc ngữ (tiếng Việt) đểgiảng dạy và học tập Trong các môn học, nhà trường đã coi trọng dạy và học quốc văn,quốc sử cùng với các môn khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật hiện đại Đó chính là

"một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam", "một nền giáo dục của một nước Việt Namđộc lập"

Tiếp đến, mục đích cao nhất của giáo dục là "đào tạo các em nên những người côngdân hữu ích cho nước Việt Nam" Muốn vậy, trước hết là phải giáo dục các em họcsinh, sinh viên trở thành những người có lòng yêu nước nồng nàn, "thành những người

1 H Chí Minh, ồ Chí Minh, 1990, tr 385. S d, đ t p 7, tr 496.ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998.

2 H Chí Minh, ồ Chí Minh, 1990, tr 385. S d, đ t p 12, tr 403.ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998.

Trang 29

dân xứng đáng với nước độc lập tự do"3, tức là giáo dục các em thành những con người

có nhân cách, có tư tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Ngay từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mới thành lập, Chính phủ, do Chủtịch Hồ Chí Minh đứng đầu, đã nêu ra một trong những mục tiêu hàng đầu là diệt giặcdốt Sau 55 năm phấn đấu gian khổ, tháng 12-2000, nước ta đã long trọng tuyên bố vớithế giới "Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học"

để bước vào giai đoạn mới là phổ cập trung học cơ sở trong cả nước

Bác luôn luôn mong đợi và tin tưởng thanh niên học sinh, sinh viên đóng góp côngsức, trí tuệ vào việc xây dựng và kiến thiết nước nhà, tư tưởng đó được thể hiện: 'Trongcông cuộc kiến thiết đó, nhà nước đang mong chờ đợi ở các em rất nhiều"1 Đây làphương hướng tổng quát để chấn hưng giáo dục Những năm qua, trong quá trình thựchiện công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta coi giáo dục và đào tạo, khoa học vàcông nghệ là quốc sách hàng đầu Bác Hồ đánh giá rất cao "công lao học tập của cácem" Vận mệnh của non sông, tương lai của dân tộc phụ thuộc vào giáo dục, và giáo dục

đóng góp một phần lớn làm cho non sông tươi đẹp, dân tộc vinh quang.

Tư tưởng xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác giáo dục luôn toả sángtính cách mạng, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc Cả cuộc đời hoạt động cáchmạng, Người chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc là: "làm sao cho nước tađược độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, aiCũng được học hành"

Những lời Bác dạy năm xưa về công tác giáo dục đến nay vẫn còn nguyên giá trị Vàhôm nay, những người làm công tác giáo dục vẫn luôn thấy Bác bên cạnh chỉ lối, dẫnđường, động viên để làm tốt hơn nữa sự nghiệp "trồng người"

2 Tình hình giáo dục Việt Nam giai đoạn 1945-1954 và cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất.

Ngay sau khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập, ngày 3 tháng 9năm 1945, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãđưa ra đề nghị: Nạn dốt là một trong những phương pháp độc ác mà bọn thực dân Phápdùng để cai trị chúng ta Hơn 95% đồng bào chúng ta mù chữ Nhưng chỉ cần 3 tháng là

đủ để học đọc học viết tiếng ta theo vần quốc ngữ Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu

Vì vậy tôi đề nghị mở chiến dịch chống nạn mù chữ Đề nghị của Bác được Hội đồngChính phủ thông qua thành quyết định Ngày 8 tháng 9 năm 1945 Chính phủ ký 3 sắclệnh quan trọng về bình dân học vụ:

1 Sắc lệnh số 17/SL thành lập Nha bình dân học vụ

3 H Chí Minh, ồ Chí Minh, 1990, tr 385. S d, đ t p 4, tr 32.ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998.

1 H Chí Minh, ồ Chí Minh, 1990, tr 385. S d, đ t p 4, tr 33.ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998.

Trang 30

2 Sắc lệnh số 19/SL quy định hạn trong 6 tháng, làng nào, thị trấn nào cũng phải cólớp học với ít nhất 30 người theo học.

3 Sắc lệnh số 20/SL cưỡng bách học chữ quốc ngữ và không mất tiền, hạn một nămtất cả mọi người Việt Nam từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc biết viết chữ quốc ngữ

Tháng 10 năm 1945, Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi chống nạn thất học Trong lời kêugọi, Hồ Chủ tịch đã chỉ rõ tình trạng gần như hoàn toàn mù chữ của nhân dân Việt Nam

và đó là một trở lực to lớn đối với sự tiến bộ và giàu mạnh của đất nước sau này, Ngườikhẳng định: Một trong những công việc phải thực hiện cấp tốc trong lúc này là nâng caodân trí, Người khuyên mọi người Việt Nam "trước hết phải biết đọc biết viết chữ quốcngữ" Người kêu gọi "Những người biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ,những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết" Người đặc biệt chú ý đếnphụ nữ, những người cần phải học vì đã lâu bị kìm hãm, và thanh niên, những ngườigiàu khả năng và giàu nhiệt tình

Chỉ trong một thời gian ngắn phong trào chống nạn mù chữ đã lan rộng khắp cảnước, tạo nên một "chiến dịch" với sự tham gia của đông đảo đồng bào Nơi nào cóngười cần học, ở đó có lớp học Những người tham gia chiến dịch - người dạy và ngườihọc - thuộc đủ mọi tầng lớp, lứa tuổi, không phân biệt nam nữ, giãu nghèo Chủ tịch HồChí Minh luôn theo sát các bước tiến của phong trào bình dân học vụ thực hiện việcchống nạn mù chữ, dù trong hoàn cảnh rất khó khăn và bận rộn của năm đầu dựng nước

và giữ nước Người luôn có những huấn thị quý báu cho anh chị em giáo viên bình dânhọc vụ mà Người thân ái tặng cho danh hiệu "Vô danh anh hùng"

Trong những điều kiện cực kỳ khó khăn, phức tạp của năm đầu tiên dưới chínhquyền cách mạng, chiến dịch chống nạn mù chữ chưa đạt được mục tiêu mong muốn.Nhưng những bài học thu được là vô cùng quý báu và chúng ta có quyền tự hào về

những kinh nghiệm có được từ chiều dịch chống nạn mù chữ năm 1945-1946 sau này đã

trở thành những kinh nghiệm quý báu trong xây dựng nền giáo dục nước nhà

Cùng với việc chống nạn mù chữ Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã cónhững chủ trương cải tổ và xây dựng bước đầu đổi với toàn bộ hệ thống giáo dục quốcdân

Ngay trong tháng 9 năm 1945, Gác trường tiểu học, trung học đã khai giảng nămhọc mới trong bầu không khí hào hứng phấn khởi của kỷ nguyên độc lập Chủ tịch HồChí Minh đã gửi thư cho học sinh nhân ngày khai giảng năm học đầu tiên của chế độmới, của nước Việt Nam độc lập Bác viết: Các em hãy nghe lời tôi, lời của một ngườianh lớn lúc nào cũng ân cần mong mỏi cho các em được giỏi giang Trong năm học tớiđây, các em hãy cố gắng siêng năng hợp tập ngoan ngoãn, nghe thầy, yêu bạn Sau 80

năm giời nô lệ làm cho nước nhà bị yếu hèn, ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại

cơ đồ mà tổ tiên đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác

Trang 31

trên toàn cầu Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mong chờ đợi ở các emrất nhiều Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam

có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không,chính là nhờ một phần lớn ở công hơn tập của các em

Tháng 11 năm 1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị "Kháng chiến kiếnquốc" vạch rõ những nhiệm vụ của giáo dục nhở đại học và trung học, cải cách việc họctheo tinh thần mới, bài trừ sách dạy học nhồi sọ"

Thun hiện lời dạy của Bác và Chỉ thị của Đảng, sắc lệnh của Chính phủ, năm học1945- 1946 nền giáo dục cách mạng trong bước phát triển đầu tiên của mình giữa muônvàn khó khăn về chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế đã có những thành tựu đáng tựhào Theo thống kê (lưu trữ của Bộ Giáo dục) cuối năm học đầu tiên đó, trên đất nước ta

đã có: 4.952 trường tiểu học với 284.314 học sinh; 29 trường trung học với 2.378 họcsinh

Riêng bậc đại học, chưa có điều kiện tuyển sinh mới vào các trường, nhưng ngày 15tháng 11 năm 1945 đã chính thức khai giảng lại các trường Y dược, Văn khoa Bộ Giáodục đã mở theo lớp chính trị - xã hội thay thế cho trường Luật khoa dưới chế độ cũ.Một thành tựu đáng tự hào của nền giáo dục Việt Nam dân chủ cộng hoà là ngaytrong năm học đầu tiên của nhà trường dưới chế độ mới, chúng ta đã sử dụng tiếng Việtlàm ngôn ngữ chính thức để giảng dạy trong nhà trường từ bậc tiểu học đến bậc đại học.Nền giáo dục non trẻ của nước ta thời đó - thông qua tuyên bố của Bộ Giáo dục,tháng 10 năm 1945 - đã khẳng định mục đích cao cả của nền giáo dục mới là "tôn trọngnhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng" của mọi người để "phụng sự đoàn thể

và góp phần vào cuộc tiến hoá chung của nhân loại" Bản tuyên bố nói trên còn nhấnmạnh phương pháp của nền giáo dục mới là xoá bỏ lối học nhồi sọ, lối học hình thức,chú trọng phần thực học, "phần học về chuyên môn nghề nghiệp sẽ chiếm một địa bịquan trọng", hết sức đề cao tinh thần khoa học, nhằm trau dồi cho học sinh một lối nhậnthức có quy củ, một phương pháp tư duy khoa học, phát triển óc phê bình, óc phân tích

và tổng hợp, tinh thần sáng tạo và gắn liền với thực tế

Để xây dựng cơ sở pháp lý cho việc triển khai chính sách giáo dục mới, Chính phủ

đã ban hành các Sắc lệnh số 146/SL ngày 10 tháng 8 năm 1946, khẳng định ba nguyêntắc căn bản của nền giáo dục mới: đại chúng hóa, dân tộc hóa và khoa học hóa và theotôn chỉ phục sự lý tưởng quốc gia và dân chủ Nền giáo dục mới theo quy định của sắclệnh gồm 3 bậc học:

- Bậc học cơ bản gồm 4 năm và bắt đầu từ năm 1950 sẽ là bậc học cưỡng bách

- Bậc học tổng quát và chuyên nghiệp

- Bậc đại học

Trang 32

Sắc lệnh số 147/SL cùng ngày 10 tháng 8 năm 1946, ấn định thêm những điều khoảnpháp lý để thực hiện bậc học cơ bản: không phải trả tiền, các môn học dạy bằng tiếngViệt, kể từ năm 1950 trở đi tất cả trẻ em từ 7 đến 13 tuổi đều có thể vào các trường học.Những sắc lệnh nói trên có ý nghĩa lịch sử lớn lao, nếu đặt trong hoàn cảnh đất nướcnăm 1945-1946 (Sau này, năm 1991 Nhà nước, ta mới ban hành "Luật phổ cập giáodục tiểu học" và năm 1998, ban hành Luật Giáo dục quy định hệ thống quốc dân, tấtnhiên với nội dung đầy đủ hơn, sát với thực tế xã hội ngày nay để điều chỉnh các hoạtđộng giáo dục đào tạo trong cả nước).

Nhà trường trong chế độ mới đã bắt đầu chuyển hướng từ nền sư phạm quyền uysang nền sư phạm dân chủ, cùng sự đổi mới về phương pháp giáo dục dạy học của cácnhà giáo, đã bước đầu hình thành ý thức và hành động tự quản của học sinh thông qua

sự thành lập các đoàn thể của học sinh

Nhà giáo dục được chế độ mới đặc biệt quan tâm Để động viên giáo dục giới trong

cả nước tích cực tham gia và công cuộc kháng chiến kiến quốc, vào việc xây dựng nềngiáo của chế độ mới, từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 8 năm 1946 Đại hội Giáo dục giớitoàn quốc đã được tiến hành tại Hà Nội Đây là cuộc họp mặt đầu tiên gồm đủ các đạibiểu giáo giới các bậc học trong cả nước từ Nam chí Bắc Đại hội là diễn đàn đầu tiêncủa Giáo giới để trao đổi những vấn đề về quan điểm giáo dục mới và khẳng địnhnguyên lý xây dựng nền giáo dục mới của nước Việt Nam là dân tộc, khoa học, đạichúng Một nguyên lý mà đến ngày nay chúng ta vẫn hẳng theo đuổi

Ngày 19 tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp quaylại xâm lược nước ta chính thức bắt đầu với lời hiệu triệu vang vọng núi sông của Chủtịch Hồ Chí Minh: chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất quyết không chịu làm nô lệ.Sau một thời gian ngắn gián đoạn vì việc tản cư, sắp xếp lại trường sở, Đảng ta đãchỉ ra nhiệm vụ quan trọng nhất của ngành giáo dục trong thời kỳ đầu của cuộc khángchiến chống thực dân Pháp là phải tìm mọi biện pháp khôi phục lại các hoạt động giảngdạy và học tập của các loại trường học phù hợp với hoàn cảnh mới và đáp ứng nhữngyêu cầu mới của cuộc kháng chiến kiến quốc Chính sách của Đảng và Nhà nước ta vềgiáo dục trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp đã được thể hiện trongNghị quyết của Hội nghị cán bộ Trung ương lần thứ tư (tháng 4-1947) Cụ thể là:Chương trình học phải thiết thực nhằm mục đích đào tạo nhân tài, cần dùng cho khángchiến trước hết về tất cả các ngành y tế, canh nông, quân giới cũng như thương mại,ngoại giao…; Học sinh phải vừa học, vừa tham gia sản xuất để tự túc một phần nào;Tiếp tức phát triển bình dân học vụ; Chú ý mở trường ở các vùng quốc dân thiểu số.Đồng thời Đảng và Nhà nước ta đã rất chú trọng bồi dưỡng đội ngũ giáo viên mớibước vào cuộc cách mạng còn nhiều bở ngỡ Vì vậy, ngành giáo dục có trách nhiệm tập

Trang 33

hợp lực lượng giáo viên xây dựng lực lượng này thành một khối thống nhất vì mục đíchchung là phục vụ cuộc kháng chiến kiến quốc.

Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mở rộng tháng 1 năm

1948 đã chỉ rõ những biện pháp để ngành giáo dục thực hiện tốt yêu cầu về việc xâydựng một nền giáo dục của chế độ mới phục vụ nhiệm vụ kháng chiến kiến quốc Dướiánh sáng của Nghị quyết này, các ngành học đã có những chuyển biến làm thay đổi rõrệt tình trạng giáo dục thấp kém do chế độ giáo dục thực dân để lại

Trước hết, bình dân học vụ đã nhanh chóng khôi phục hoạt động sau ba bốn thánggián đoạn kể từ tháng 12 năm 1946 Khẩu hiệu vận động lúc này là "Đi học là khángchiến": "Mỗi lớp bình dân là một ổ tuyên truyền kháng chiến", "Có học thì kháng chiếnmới thắng lợi" Giáo viên bình dân học vụ vừa dạy chữ vừa phổ biến những tin tức,những chủ trương công tác của địa phương Bình dân học vụ đã thực sự đáp ứng đượcnhiệm vụ xoá nạn mù chữ sau khi "chiến dịch diệt dốt" được phát động vào tháng 7 năm

1948 Bình dân học vụ trong kháng chiến chống Pháp là ngành học sử dụng tốt sứcmạnh tổng hợp của toàn xã hội Chính vì vậy, đến ngày 30 tháng 6 năm 1949, ngànhbình dân học vụ đã đạt được thắng lợi có ý nghĩa quyết định đối với công cuộc chốngnạn thất học: trên 10 triệu người từ 8 tuổi trở lên đã thoát nạn mù chữ, bao gồm đồngbào ở khắp mọi miền, mọi vùng trong cả nước kể cả ở vùng bị thực dân Pháp tạm thời

chiếm đóng

Để củng cố thắng lợi của chiến dịch chống nạn mù chữ, cũng trong năm 1948 Đảng

ta đã nêu rõ tầm quan trọng của việc giáo dục sau xoá mù chữ, bổ túc văn hoá: tiếp tụcquét nạn mù chữ, đi đến bình dân học vụ bổ túc dạy kiến thức phổ thông

Về giáo tiếc phổ thông, chấp hành các Nghị quyết của Trung ương Đảng (tại hộinghị tháng 4 thăm 1947 và tháng 1 năm 1948), Bộ Giáo dục đã gấp rút khôi phục và mởthêm một số trường, mở hội nghị bàn về sửa đổi chương trình, cải tổ hệ thống trườnghọc, chuẩn bị cho một cuộc cải cách giáo dục

Đối với các trường tiểu học, cuối năm học 1946-1947, Bộ Giáo dục vẫn mở các kỳthi tốt nghiệp ở các vùng chưa có chiến sự Từ năm học 1947-1948 bắt đầu áp dụng hệthống bậc tiểu hoc 4 năm theo Sắc lệnh 146/SL ngày 10 tháng 8 năm 1946 Đối vớitrường trung học phổ thông và trung học phân khoa, việc giảng dạy và học tập đã đượckhôi phục đối với những trường từ các tỉnh, thành phố lớn di chuyển đến như Trườngtrung học kháng chiến Việt Bắc khai giảng năm học kháng chiến đầu tiên 1947-1948,tập hợp giáo viên và học sinh của hai trường trung học Chu Văn An và Nguyễn Trãi củathủ đô Hà Nội Tiếp theo, các trường chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng (Khu IV),Nguyễn Thượng Hiền (khu III) cũng bắt đầu năm học kháng chiến của mình

Trang 34

Để đón tiếp con em các gia đình cán bộ, chiến sĩ tản cư chưa có chỗ học, con emđồng bào các dân tộc thiểu số, Chính phủ đã mở các trường tiểu học, phổ thông trunghọc nội trú ở Việt Bắc có Trường trung học phổ thông Việt Bắc (1948), ở liên khu IV

có Trường trung học phổ thông Bình Trị Thiên (1948), Trường Nguyễn Chí Diểu(1949), ở liên khu V có Trường trung học bình dân, ở Nam Bộ có Trường Huỳnh PhanHộ

Sau một thời gian ổn định tổ chức các trường học kháng chiến, tháng 7 năm 1948,

Bộ Giáo dục đã mở "Đại hội nghị giáo dục toàn quốc" để tăng cường sự thống nhấttrong toàn ngành về cải tổ chương trình, xây dựng nền nếp và phương pháp giảng dạyphù hợp với thời chiến và theo đúng tinh thần dân chủ mới Đây là cuộc họp đầu tiêncủa ngành giáo dục trong thời kỳ kháng chiến gồm đủ các đại biểu liên khu và trườnghọc (từ liên khu IV trở ra) Hội nghị đã vinh dự đón nhận thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh

do Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên chuyển tới Trong thư Người đã chỉ thị:

1 Phải sửa đổi triệt để chương trình giáo dục cho phù hợp với sự nghiệp kháng

chiến và kiến quốc

2 Phải có sách kháng chiến và kiến quốc cho các trường

3 Phải sửa đổi cách dạy cho hợp với sự đào tạo nhân tài kháng chiến và kiến quốc

4 Phải đào tạo cán bộ mới và giúp đỡ cán bộ cũ theo tôn chỉ kháng chiến và kiếnquốc

5 Về bình dân học vụ, sau khi số đông đồng bào đã biết viết biết đọc, phải có mộtchương trình để nâng cao thêm trình độ văn hoá phổ thông của đồng bào

Những chỉ thị của Người thực sự đã chỉ ra phương hướng cho một cuộc cải cáchgiáo dục sẽ diễn ra vào đầu những năm 1950

Đầu năm 1950 nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã phá được thế bao vây của kẻđịch, thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa Chiến thắng biên giớinăm 1950 mở ra cục diện mới về chính trị quân sự Những tiến bộ về kinh tế tài chínhtăng thêm sức mạnh của chính quyền dân chủ nhân dân Toàn dân tộc bước vào mộtthời kỳ mới của cuộc kháng chiến chống xâm lược Trong đà chung đó ngành giáo dụctiến hành cải cách giáo dục lần thứ nhất nhằm thay hệ thống giáo dục do thực dân Pháp

để lại bằng chế độ giáo dục mới

Đề án của cuộc cải cách giáo dục năm 1950 đã chỉ rõ: giáo dục là công cụ của mộtgiai cấp nhất định, không có giáo dục trung lập, giáo dục đứng ngoài chính trị Nhândân Việt Nam sau khi đã giành được quyền làm chủ về chính trị nhất thiết phải xâydựng được nền giáo dục dân chủ nhân dân phù hợp với lợi ích cơ bản của mình Mụcđích của cải cách giáo dục lần này là phải hủy bỏ triệt để nền giáo dục nô lệ cùng với

Trang 35

những tàn dư của nó về nội dung, về phương pháp, phải xây dựng cơ sở tư tưởng mới vềnền giáo dục dân chủ nhân dân theo những thiết chế giáo dục và hệ thống tổ chức giáodục tương ứng.

Đề án xác định: Tính chất nền giáo dục của dân, do dân, vì dân Nguyên tắc nền giáodục: dân tộc, khoa học, đại chúng phục vụ lợi ích của nhân dân Việt Nam, đấu tranhchống đế quốc và phong kiến, giành độc lập dân tộc và ruộng đất cho dân cày Mục tiêuđào tạo của nhà trường là giáo dục bồi dưỡng thế hệ trẻ thành những người "Công dânlao động tương lai" trung thành với chế độ dân chủ nhân dân và có đủ phẩm chất nănglực phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân Nội dung giáo dục nhằm vào việc bồidưỡng người học có tinh thần dân tộc, lòng yêu nước, chí căm thù giặc, tinh thần yêuchuộng lao động, tôn trọng của công, tinh thần tập thể phương pháp suy luận và thóiquen làm việc khoa học

Hệ thống giáo dục phổ thông gồm ba cấp học: cấp I: 4 năm (lớp 1, 2, 3 và 4) thay thếcho bậc tiểu học cũ (không kể một năm học lớp ấu trĩ hay vỡ lòng) Cấp II: 3 năm (lớp 5,

6 và 7) thay thế cho bậc trung họp phổ thông cũ 4 năm Cấp III: 2 năm (là 8 và 9) thay thếcho bậc trung học chuyên khoa cũ 3 năm

Các kỳ thi tiểu học, trung học phổ thông đều bãi bỏ Cuối năm lớp 9 học sinh qua

một kỳ thi tốt nghiệp có tính chất như một kỳ tổng kiểm tra nhằm mục đích đánh giátổng quát kết quả học tập và rèn luyện của học sinh sau 3 năm học

Hệ thống bình dân học vụ phục vụ người lớn gồm có: Sơ cấp bình dân: Thời gianhọc 4 tháng thanh toán được nạn mù chữ Dự bị bình dân: Thời gian học 4 tháng đưatrình độ người học đến lớp 3 Bổ túc bình dân: Thời gian học 8 tháng đưa trình độngười học đến lớp 5 Trung cấp bình dân (hoặc trung học bình dân): Thời gian học 18tháng dạy đến lớp 8 hoặc cao hơn một chút

Hệ thống giáo dục chuyên nghiệp gồm có: Chuyên nghiệp sơ cấp thu nhận họcsinh học xong cấp I trong bổ túc bình dân vào học nghề Chuyên nghiệp trung cấp thunhận học sinh học xong cấp II hoặc trung cấp bình dân vào đào tạo cán bộ kỹ thuật.Thời gian học của hệ này tùy theo tính chất ngành nghề, thường thì học 1 đến 2 nămcho hệ sơ cấp, từ 2 đến 4 năm cho hệ trung cấp

Năm 1952, Hội đồng Chính phủ thông qua "Chính sánh giáo dục chuyên nghiệp"trong đó quy định tổ chức các trường trung học chuyên nghiệp, cụ thể hoá đường lối cảicách giáo dục trong ngành chuyên nghiệp Chính sách nhấn mạnh: phải thực hiện đượcmục đích là đào tạo những cán bộ chuyên nghiệp nắm vững kỹ thuật, giàu tinh thầntrách nhiệm, những cán bộ thực tiễn mới, phục vụ kháng chiến và sản xuất, phục vụnhân dân, trước hết là công nông

Trang 36

Đề án cải cách giáo dục tháng 7-1950 có quy định bậc dự bị đại học 2 năm (sau chỉthực hiện 1 năm) nhằm bổ túc cho học sinh đã tốt nghiệp phổ thông 9 năm có đủ kiếnthức tiếp tục học đại học Hệ thống đại học thời kỳ này có đại học y khoa, cao cấp sưphạm, cao đẳng công chính thu nhận học sinh tốt nghiệp cấp III (lớp 9) hoặc đã qua dự

bị đại học

Quản lý các nhà trường: đề án tháng 7-1950 xác định nguyên tắc lãnh đạo tập thể vàdân chủ tập trung trong các nhà trường ở mỗi nhà trường - đặc biệt là các trướng lớp cócác hội đồng: Hội đồng chuyên môn; Hội đồng khen thưởng kỷ luật; Hội đồng quản trị;Thành lập Hôi đồng quản trị gồm có đại biểu giáo viên, đại biểu cha mẹ học sinh và đạibiểu Hiệu đoàn học sinh Các hội đồng trên đều do Hiệu trưởng làm Chủ tịch Các thànhviên của các hội đồng đều có quyền thảo luận, biểu quyết như nhau

Nhà trường "Cải cách" đã tạo ra những cơ sở thực tế để phối hợp giáo dục nhàtrường, giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, phối hợp công tác nhà trường và công táccủa địa phương, tạo ra những nhân tố mới để thực hiện được sự lãnh đạo của Đảng đốivới trường học

Để có điều kiện tập trung vào yêu cầu giáo dục của thời kỳ chống ngoại xâm,chương trình phổ thông 9 năm đã phải bỏ hoặc tạm gác một số môn chưa thật cần thiết

hoặc chưa đủ điều kiện giảng dạy tốt, song cũng đưa thêm một số môn để thiết thực

phục vụ nhân dân kháng chiến

Ngày 30-10-1951, Bộ Giáo dục quy định kế hoạch giảng dạy giai đoạn như sau: cấpI: lớp 1 và lớp 2 mỗi tuần hơn 17 giờ; lớp 3 và lớp 4 mỗi tuần học 19 giờ; cấp II: lớp 5,lớp 6, lớp 7 mỗi tuần học 20 giờ; cấp III: lớp 8, lớp 9 mỗi buổi học 21 giờ; các môn tạmgác: ngoại ngữ, nhạc, vẽ, nữ công gia chánh; các môn đưa thêm: thời sự - chính sách,giáo dục công dân, tăng gia sản xuất Các lớp đều có giờ sinh hoạt tập thể hàng tuần; ởcấp II, cấp III giờ sinh hoạt lớp do Hiệu đoàn phụ trách; giáo viên phụ trách lớp (lúc đóchưa gọi là giáo viên chủ nhiệm) đóng vai trò cố vấn

Mùa hè năm 1950, Bộ Giáo dục thành lập trại tu thư tập hợp 30 giáo viên giỏi cáccấp tại Đào Dã (Phú Thọ) để biên soạn sách giáo khoa theo chương trình mới Đồng chíTrường Chinh - Tổng Bí thư của Đảng đã đến huấn thị cho cán bộ tham gia trại tu thư.Đồng chí chỉ rõ những vấn đề mà nền giáo dục mới (tính chất, mục tiêu, đào tạo ) cầnphải quán triệt vào việc biên soạn sách giáo khoa Trong hoàn cảnh kháng chiến lúc đóđang khẩn trương, đồng chí Trường Chinh đề nghị tập trung khả năng trước hết vào việcbiên soạn các môn học: quốc văn, lịch sử, toán, lý, hoá, chính trị thường thức

Vì tình hình chiến sự, trại hoạt động không được liên tục nhưng đến năm 1952 vớitinh thần làm việc khẩn trương, trại tu thư đã hoàn thành biên soạn lại toàn bộ sách giáokhoa cấp I theo chương trình mới Các sách cấp II, cấp III soạn được một số tài liệu về

sử, chính trị, giáo dục công dân

Trang 37

Thực hiện tinh thần của cuộc cải cách lần này, ngành giáo dục đã thực hiện dạy tiếngViệt ở bậc đại học, hoàn tất việc đưa tiếng Việt vào dạy ở các nhà trường vốn đã đượctriển khai sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945.

Tháng 2 năm 1951, Đại hội Đảng lần thứ II họp quyết định Đảng ra công khai hoạtđộng, đổi tên Đảng Cộng sản Đông Dương thành Đảng Lao động Việt Nam Sự kiệntrọng đại này diễn ra khi ngành giáo dục bắt đầu triển khai cải cách giáo dục Nó có ýnghĩa đặc biệt cho sự phát triển của ngành

Chính cương của Đảng do Đại hội thông qua đã xác định phương hướng nhiệm vụđào tạo con người mới: "Để đào tạo con người mới, cán bộ mới và đẩy mạnh khángchiến kiến quốc, phải bài trừ những tàn tích văn hoá giáo dục thực dân và phong kiến,phát triển nền văn hoá giáo dục có tính chất dân tộc khoa học đại chúng" Chính cươngcũng xác định nhiệm vụ chủ đạo của giáo dục: thủ tiêu nạn mù chữ, cải cách chế độ giáodục, mở các trưởng chuyên nghiệp

Tháng 7 năm 1951, Bộ Giáo dục triệu tập Đại hội Giáo dục toàn quốc họp tại Việt Bácnhằm mục đích rút kinh nghiệm các thí điểm bước đầu của cải cách giáo dục và quyết định

mở rộng triển khai hệ thống giáo dục mới Dù đang ở thời kỳ kháng chiến khẩn trươngnhưng đại hội đã có sự tham gia đông đảo của đại biểu mọi miền đất nước: vùng tự do,vùng bị định tạm chiếm

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đại hội và gợi ý cần kiểm thảo kỹ công tác cảicách về chương trình và cách thi hành Người viết: "Đại hội nên kiểm thảo kỹ công tác

"Cải cách" về chương trình, chủ trương và cách thi hành để tìm thấy những khuyết điểm

mà sửa đổi, nhưng ưu điểm mà phát triển thêm

Đại hội nên chú ý làm thế nào cho việc giáo dục liên kết với đời sống nhân dân, vớicông cuộc kháng chiến và kiến quốc của dân tộc Làm thế nào để phối hợp giáo dục củatrường học với việc tuyên truyền và giáo dục chính trị chung của nhân dân"

Trong thư Bác khích lệ những thành tích và sự cố gắng chung của toàn ngành, đặcbiệt người biểu dương nam nữ cán bộ bình dân học vụ và tiểu học Người viết: Tôi rấtvui lòng nhờ Đại hội chuyển lời khen ngợi và khuyến khích các chiến sĩ ấy"1

Bức thư của Bác Hồ là kim chỉ nam cho Đại hội làm việc Từ thư của Bác, Đại hội

đã "kiểm thảo" tìm ra ưu, khuyết điểm thực sự của ngành và nêu ra được nhiều đề nghịđích đáng với Bộ Giáo dục để triển khai tốt cuộc cải cách giáo dục

Về phương châm giáo dục: Đại hội chỉ ra: Giáo dục phục vụ kháng chiến chủ yếu là

tiền tuyến, giáo dục phục vụ nhân dân chủ yếu là công nông binh, giáo dục phục vụ sảnxuất chủ yếu là nông nghiệp Về nội dung giáo dục: Đại hội đề nghị chuyển các mônhọc sử, địa, khoa học thường thức ở các lớp cấp I thành môn học thống nhất là "Tậpđọc" để tinh giản nội dung giảng dạy và dễ cải tiến phương pháp giảng dạy phù hợp với

1 H Chí Minh: ồ Chí Minh, 1990, tr 385. To n t p, ành phố Hồ Chí Minh, ận ngữ, t p 6, Nxb Chính tr qu c gia, H 2002, tr 266.ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ốc gia,

Trang 38

lứa tuổi Về tổ chức nhà trường: Đại hội kiến nghị đưa "tăng gia sản xuất" và sinh hoạttập thể" vào chính khoá, đề cao "Hiệu đoàn học sinh", bỏ tổ chức "Học sinh quân", xâydựng "Công đoàn giáo dục"

Theo những đề nghị này, Bộ Giáo dục đã có những sự điều chỉnh cần thiết đối vớicác nhà trường Bộ đã quyết định tổ chức năm học theo hình thức: Năm học bắt đầu từngày 1 tháng 1 năm dương lịch và kết thúc vào ngày 31 tháng12 Thời gian gồm 2 học

kỳ, mỗi học kỳ 4 tháng xen vào giữa có hai đợt nghỉ, mỗi đợt nghỉ 2 tháng gọi là nghỉmùa tức là nghỉ hè và nghỉ đông Thời gian nghỉ tương ứng với vụ gặt và vụ cấy Quy

định này bắt đầu được thực hiện từ năm 1952.

Hệ thống giáo dục mới và phương thức vận hành được triển khai từ liên khu V trở

ra Các tỉnh cực Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, miền Đông và miền Tây Nam Bộ vẫn tiếptục theo chương trình cũ đã cải tiến Cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 1952 Hội nghị giáodục miền Tây (Nam Bộ) họp đã ra quyết nghị sửa đổi thời gian biểu ở các trường tiểuhọc, trung học theo tinh thần của Đại hội giáo dục toàn quốc Hội nghị ra quyết địnhtăng cường công tác giáo dục tư tưởng trong học sinh, bớt mỗi ngày 3 giờ học để họcsinh có thời gian tham gia dạy các lớp bình dân Sở Giáo dục Nam Bộ đề ra chủ trươngchuyển mạnh về bình dân họp vụ Cần nhấn mạnh rằng trong suốt thời kỳ kháng chiếnNam Bộ chỉ có 1 lần được Trung ương đến kiểm tra không có sự chi viện nào về cán bộ,nhưng giáo dục phổ thông Nam Bộ trong vùng kháng chiến vẫn hoạt động liên tục theotinh thần của nền giáo dục mới

Cuộc cải cách giáo dục được vạch ra từ tháng 7 năm 1950 song trước đó 2 thángcuộc cải cách này đã được định hướng bằng một văn bản rất hữu ích Đó là tài liệu "Nói

về công tác huấn luyện và học tập của Chủ tịch Hồ Chí Minh" Đây là bài nói của Báccho Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và họp tập khai mạc tại ViệtBắc ngày 6 tháng 5 năm 1950

Bài nói không dài khoảng 4.000 từ nhưng bao quát toàn diện vấn đề huấn luyện(dạy) và học tập của phương thức giáo dục mới Người đã vạch ra các bệnh hình thức

"hữu danh vô thực" trong công tác huấn luyện và học tập, "làm chỉ cốt nhiều mà khôngthiết thực chu đáo" Chính ở tài liệu này Người đã kết hợp những ý tưởng sâu sắc củaKhông Tử và Lênin với những lời dạy bất hủ "Học không biết chán, dạy không biếtmỏi" - "Học, học nữa, học mãi" để hun đúc một chí khí mới về sự học ở nước ta trongbối cảnh của xã hội mới

Tài liệu của Bác là một "cương lĩnh có ý nghĩa kim chỉ nam" cho việc tổ chức quátrình đào tạo, giáo dục ở mọi nhà trường với việc phân tích rất sâu sắc các nhân tố tạo raquá trình này Từ thực tiễn đã trải qua cần hoạt động sư phạm và tư duy chính trị cách

vấn đề

Trang 39

* Huấn luyện ai? Ai huấn luyện? Huấn luyện gì? Huấn luyện thế nào? Điều kiệnhuấn luyện? Học để làm gì? Học ở đâu? Bác còn có những lời bàn rất sâu sắc về việcphải biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo đối với người học.

Trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc" Bác nhấn mạnh: " không phải có thày thì học,thày không đến thì đùa, phải biết tự động học tập"1 Người coi cán bộ phụ trách công táchuấn luyện là người đảm nhiệm việc làm ra một loại hàng Người căn dặn họ:

"Làm ra hàng phải đúng với nhu cầu của người tiêu thụ Nếu người ta cần nhiều xe

mà mình làm ra nhiều bình tích thì hàng ế"

Hồ Chí Minh sớm mẫn cảm được sự lãng phí của việc tổ chức huấn luyện (ngày nay

ta gọi là quản lý giáo dục) không chu đáo khi chỉ ra: "Vì mở nhiều lớp nên thiếu người

giảng Thiếu người giảng thì học viên đâm chán nản Thiếu người giảng thì phải đi "bắtphu", vì thế người đến giảng khi nào cũng hấp tấp, lướt qua lớp này một chút, lớp khácmột chút như "chuồn chuồn đạp nước", dạy không đúng chu đáo Thiếu người giảng thìthường khi lại phải "bịt lỗ", người "bịt lỗ" năng lực kém, nói sai, có hại cho học sinh,nghĩa là có hại cho Đoàn thể "Rốt cuộc chỉ tốn gạo mà học thì học táp nhoáng"2

"Sửa đổi lối làm việc" và "Nói về công tác huấn luyện và học tập" của Bác Hồ đãđược truyền thông đến nhiều cơ quan quản lý giáo dưới nhiều nhà trường của vùngkháng chiến

Trong các trường trung học và đại học hai tài liệu quan trọng này đã được các nhómnghiên cứu chủ nghĩa Mác tổ chức cho giáo viên học tập một cách hệ thống Kết quả củacác đợt học tập này giúp cho cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên không chỉ có nhãnquan mới về công cuộc kháng chiến, về nền giáo dục mới, mà còn hiểu được tính cáchmạng của phương thức đào tạo mới

Sau Cách mạng tháng Tám, Bộ Giáo dục đã thành lập Phòng Giáo dục ấu trĩ3chuyên trách xây dựng ngành học mẫu giáo và đã có chủ trương mở một số lớp mẫugiáo có tính chất thí điểm tại ngoại thành Hà Nội Song phương pháp giáo dục dùng ápdụng ở những kịp này còn chịu nhiều ảnh hưởng của nền giáo dục cũ

Tại Hội nghị giáo dục tháng 6 năm 1950 bàn về cải cách giáo dục khi đề cập vấn đềgiáo dục mẫu giáo, đồng chí Trường Chinh đã nêu phương hướng bổ khuyết Trườngmẫu giáo nên sửa đổi cách dạy hiện nay vì cách dạy đó thiên về lối tư sản và hướng đạo.Trong các trường mẫu giáo cần dạy cho các em chơi những trò vui không phải chỉ để

mở mang trí não mà thôi, mà còn làm cho trẻ em hiểu ngay từ tuổi nhỏ giá trị của sứclao động và công việc sản xuất của xã hội và giá trị sáng tạo của con người

1 , 2 S d, t p 6, tr 50, 52 đ ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998.

3 Phòng Giáo d c u tr ục dịch), ất hay những bài thơ ngụ ngôn của ĩa cả đượp TP Hồ Chí Minh, 1990, tr 385 c thành l p theo Ngh ập 2, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1998 ịch), tiết 9, Nxb Tài trí, địch), tiết 9, Nxb Tài trí, nh s 104/N -BT ngày 17 ốc gia, Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, tháng 7 n m 1948 c a B tr ăm 1862 ủa Phạm Thị Kim, Viện Hán Nôm ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ưở bài phương châm, v.v… ng B Giáo d c ộ, (Đoàn Trung Còn dịch), tiết 9, Nxb Tài trí, ục dịch),

Trang 40

Tháng 7 năm 1950, Bộ Giáo dục ký Nghị định thành lập Ban mẫu giáo Trung ươngthay cho Phòng Giáo dục ấu trĩ Bắt đầu từ năm 1952 - năm triển khai hệ thống giáo dụcmới theo tinh thần của cải cách giáo dục - các lớp học trước khi vào học lớp 1 đều gọi làlớp vỡ lòng Do hoàn cảnh kháng chiến lớp vỡ lòng tạm thời chưa thực hiện các yêu cầugiáo dục khác mà trọng tâm đảm bảo cho trẻ biết đọc, biết viết và một số thói quentrong học tập để các em vào học lớp 1 phổ thông được dễ dàng.

Kể từ năm 1952 trở đi công tác giáo dục thông qua hình thức lớp vỡ lòng đã cónhững bước tiến quan trọng Năm 1954 số trẻ vào lớp vỡ lòng lên đến 357.800 tăng gấp

20 lần so với năm 1952 Số giáo viên dạy vỡ lòng cũng tăng lên 13 lần Tuy vậy mạnglưới lớp vỡ lòng vẫn chưa đáp ứng đáp ứng yêu cầu xã hội Nhiều nơi trẻ đến tuổi vàolớp 1 vẫn chưa học qua vỡ lòng; giáo viên vỡ lòng được tuyển từ nhiều nguồn khácnhau, phần lớn chưa qua lớp huấn luyện sư phạm nên chất lượng giáo dục ở các lớp vỡlòng còn chưa đồng đều

Giáo dục phổ thông được phát triển mạnh ở vùng tự do Mạng lưới nhà trường được

mở rộng về tận các xã, mỗi xã ở đồng bằng có một trường cấp I hoàn chỉnh, mỗi xãmiền trung du và đông dân miền núi có những lớp đầu cấp Các huyện đồng bằng xâydựng được trường cấp II Một số thị xã miền núi cũng có trường cấp II Cao Bằng, BắcKạn, Quảng Yên là những tỉnh miền núi đầu tiên ở phía bắc đã mở được trường phổthông cấp II tại thị xã từ năm 1952 và đến 1954 có trường cấp II hoàn chỉnh Số liệuthống kê thời đó cho thấy năm 1950 mới có 71 trường cấp II ở vùng tự do thì đến năm

3 năm 1954 thấy sáng kiến này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng nên đã đồng ý với chủ

trương của Bộ chuyển đại bộ phận giáo viên cấp I sang chế độ nhân dân đài thọ Chủtrương này được tiếp tục thực hiện và mở rộng đến một số giáo viên cấp II, cấp III trongnhững năm sau

Một thành tựu nổi bật của giáo dục phổ thông trong thời kỳ này là tiếp quản thắnglợi hệ thống giáo dục vùng mới giải phóng vào các năm 1954, 1955 Chiến thắng oanhliệt tại Điện Biên Phủ đã kết thúc cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp Hoà bìnhđược lập lại mở ra trên đất nước ta một kỷ nguyên mới

Tháng 3 năm 1955, Hội nghị lần thứ 7 của Trung ương Đảng khoá II nêu rõ nhiệm

vụ phát triển mau chóng giáo dục trước mắt là phải: "Chấn chỉnh và củng cố giáo dụcphổ thông thống nhất hai hệ thống giáo dục ở vùng tự do và của vùng mới giải phóng"

Ngày đăng: 18/08/2018, 22:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w