Chân Thiện Mỹ là những giá trị văn hoá phổ quát mà loài người đã sáng tạo và lưu truyền qua các thế hệ. Đó là những giá trị “nhân hoá” làm cho con người ngày càng người hơn. Tự nhiên không làm thoả mãn nhu cầu của con người và con người phải tự mình cải tạo thế giới bằng lao động để tồn tại và phát triển. Lịch sử xã hội loài người là lịch sử không ngừng khám phá, chinh phục thế giới, sáng tạo ra đời sống hiện thực với những giá trị văn hoá vật chất, tinh thần ngày càng phong phú, bao gồm cả sự sáng tạo ra chính bản thân con người.
Trang 1QUAN NIỆM VỀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC SỐNG HƯỚNG THIỆN VÀ CON ĐƯỜNG ĐẠT TỚI CÁI THIỆN TRONG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC
PHƯƠNG ĐÔNG
1.1 Khái lược nét đặc sắc của văn hoá phương Đông - đề cao giá trị đạo đức, sống hướng Thiện.
- Chân - Thiện - Mỹ là những giá trị văn hoá phổ quát mà loài người đã sáng tạo và lưu truyền qua các thế hệ Đó là những giá trị “nhân hoá”- làm
cho con người ngày càng người hơn Tự nhiên không làm thoả mãn nhu cầu của con người và con người phải tự mình cải tạo thế giới bằng lao động để tồn tại và phát triển Lịch sử xã hội loài người là lịch sử không ngừng khám phá, chinh phục thế giới, sáng tạo ra đời sống hiện thực với những giá trị văn hoá vật chất, tinh thần ngày càng phong phú, bao gồm cả sự sáng tạo ra chính bản thân con người
- Thiện là giá trị đạo đức lớn nhất, chung nhất, đặc trưng của loài
người Nhiều bậc vĩ nhân trong lịch sử được loài người kính trọng, tôn thờ,
dùng làm mẫu mực để học tập, noi theo; trước hết là bởi đức độ cao dày của
họ, như: Đức Chúa, Đức Phật, Đức Bà, Đức Thánh phản ánh nhu cầu của đời sống cộng đồng là cấu thành hữu cơ của đời sống xã hội
- Phương Đông có lịch sử phát triển lâu dài đã sáng tạo nên những giá trị văn hoá đặc sắc có sức sống mãnh liệt Trong cuộc sống hàng ngày, người
phương Đông đặc biệt đề cao giá trị đạo đức - Cái Thiện luôn được đặt ở vị trí trung tâm là giá trị cao quý nhất Điều này khác với người phương Tây coi Khoa học - Cái Chân là giá trị cao nhất Mọi suy nghĩ và việc làm của người
phương Đông đều được định hướng bởi những giá trị đạo đức sâu sắc, sống
hướng thiện: Đức lớn được ví như ngôi sao Bắc Đẩu dùng làm phương hướng
dẫn dắt hoạt động chân chính của con người, giúp cho con người không bị lầm lạc giữa cuộc đời đầy gian trá
- Cái Thiện được các nhà tư tưởng phương Đông Cổ đại đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau, diễn đạt bằng hệ thống các phạm trù, khái niệm sâu sắc, phong phú mang đậm nét phương Đông: Thích ca, Khổng Tử, Lão Tử là 3
đại biểu tư tưởng kiệt xuất, tiêu biểu của phương Đông cổ đại Các học thuyết
mà họ nêu ra đã phản ánh sâu sắc hiện thực xã hội, nói lên những nhu cầu, ước vọng sâu xa của con người, nhất là người lao động Người phương Đông giàu
Trang 2tình cảm, trọng đạo đức, do vậy những tư tưởng đạo đức của họ có sức sống mãnh liệt, ảnh hưởng tới đời sống tinh thần xã hội
- Sau khi ra đời, các học thuyết đạo đức đó đã được tôn giáo hoá với những vòng hào quang thần thánh làm tăng vẻ đẹp tôn nghiêm, gắn với nhiều giáo lý, niềm tin tôn giáo để người đời tuân theo Tấm gương Đức Phật suốt
đời đi tìm chân lý cứu độ chúng sinh và thuyết pháp quảng bá đạo lý những
mong con người sống "Thiện", tự giải phóng mình khỏi mọi nỗi khổ trần ai;
khuyến khích chúng sinh noi gương Đức Phật sống hướng thiện để tạo lập một xã hội tốt đẹp, tràn đầy nhân tính
- Những tư tưởng lớn mang giá trị đạo đức sâu sắc chứa đựng trong các học thuyết tôn giáo đó đã có lịch sử phát triển rực rỡ không chỉ trên mảnh đất quê hương nó sinh ra, mà còn có sức lan toả mạnh mẽ, vững chắc
tới nhiều quốc gia, nhiều vùng lãnh thổ xa xôi (như: Bắc, Đông - Bắc á và
Nam, Đông - Nam Á) Khi ba tôn giáo lớn - Phật, Nho, Lão được truyền bá
vào Việt Nam, ngay từ những năm đầu công nguyên, chúng đã được con người Việt Nam tiếp nhận một cách hoà bình và đã dần hoà nhập, trở thành nền tảng tư tưởng, giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta trong suốt ngàn năm lịch sử
- Cái Thiện trong lịch sử tư tưởng đạo đức phương Đông Cổ đại có sức sống bền vững trong đời sống tinh thần xã hội qua các thời đại Ngày nay, nó vẫn được nhiều quốc gia bảo tồn và phát triển trở thành động lực tinh thần, mắt khâu trọng yếu quy định sự phát triển bền vững của mình Hiệu quả xã
hội to lớn của đạo đức đối với sự phát triển bền vững của nhiều quốc gia châu
Á hiện nay, như Nhật Bản, Singapo, Hàn Quốc, Trung Quốc, đã gây nên sự chú ý lớn của nhiều nhà nghiên cứu và chính khách phương Tây hiện đại
1.2 Quan niệm về cái Thiện trong tư tưởng đạo đức phương Đông.
- Hai nền văn minh tiêu biểu cho phương Đông cổ đại là Trung Quốc và
ấn Độ đã có lịch sử hình thành và phát triển rực rỡ Trên lĩnh vực văn hoá
tinh thần, nhiều tư tưởng tiêu biểu có giá trị thời đại Đến nay, dẫu đã trải qua bao biến thiên của lịch sử, nhưng những học thuyết đó vẫn khẳng định được giá trị và sức sống của nó, không chỉ trong phạm vi quốc gia, khu vực, mà còn
có giá trị, ảnh hưởng trên thế giới
Trang 3- Có 3 học thuyết lớn của Thích Ca, Khổng Tử, Lão Tử, mà sau đó trở thành cơ sở lý luận của 3 tôn giáo lớn là Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo cùng
có mối quan tâm lớn là chỉ dẫn con người hướng thiện Do vậy, đường đi dẫu
có khác nhau nhưng chúng đều gặp nhau ở tiêu điểm Chân - Thiện - Mỹ Mục
tiêu cao cả của họ là giải phóng con người thoát khỏi mọi khổ đau bằng sức mạnh tinh thần, đề cao giá trị đạo đức, luôn luôn khuyên răn mọi người hướng Thiện, sống có ích với mình và với xã hội.
- Tìm hiểu trong các học thuyết đó, chúng ta thấy đầy ắp những tư tưởng đạo đức hướng thiện lấp lánh hào quang:
Cả 423 lời Phật dạy được ghi trong Pháp cú kinh (PCK);
Hơn 550 bài, đề cập đến mọi hướng sinh hoạt xã hội của Khổng Tử
trong Luận Ngữ (LN) đều đề cao tính thiện;
Phần lớn trong số 81chương ở sách Đạo đức kinh (ĐĐK) của Lão Tử
cũng tập trung nói về cái thiện
Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người nói và bàn đến đức “thiện” ở
các góc độ, khía cạnh khác nhau riêng trong Hồ Chí Minh toàn tập đã có 28
lần Người nhắc đến cụm từ “lương thiện”.
Cái Thiện trở thành tiêu điểm để các nhà tư tưởng phương Đông cổ đại tập trung phân tích, mổ xẻ nhằm khám phá những bí ẩn của đời sống tinh thần đạo đức của con người, để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đạo đức, hình thành nhân cách con người đáp ứng nhu cầu xã hội luôn đề cao gía trị cộng đồng
- Cái Thiện là phạm trù trung tâm của đạo đức học, phản ánh giá trị đặc trưng nhất của đạo đức Mỗi tư tưởng, quy tắc, chuẩn mực và hành vi đạo đức đều chứa đựng những giá trị thiện, hướng tới mục đích đem lại lợi ích
cho cộng đồng, xã hội
Thiện là giá trị khẳng định lợi ích xã hội của đạo đức.
Ngược lại, Ác là sự phủ định giá trị, đối lập với lợi ích xã hội.
Sự đối lập nhau về giá trị, ý nghĩa xã hội trong các phạm trù đạo đức
học (thiện và ác) đã phản ánh thái độ rõ ràng của con người trong đánh giá
các hiện tượng đạo đức là ca ngợi cái thiện, lên án cái ác
Trang 4- Nhưng trên thực tế, trong từng trường hợp cụ thể, việc xem xét để nhận rõ giới hạn đâu là thiện, đâu là ác thật không hề đơn giản Điều đó,
không những phụ thuộc vào trình độ nhận thức, mà còn chủ yếu tuỳ thuộc vào quan điểm, lập trường, lợi ích giai cấp, ý thức cộng đồng, tập quán dân tộc
đã chuyển hoá thành thái độ của chủ thể đó
1.2.1 Với đạo đức Nho giáo:
Khổng Tử: Nêu một tư tưởng có tính cương lĩnh về đạo đức ở sách Đại
học bao quát nhiều khía cạnh khác nhau trong quan niệm về cái Thiện: "Đại học chi đạo tại Minh Minh đức, tại Thân dân, tại Chỉ ư chí Thiện"
Thiện được hiểu trước hết là ý niệm thiện: ý niệm về những điều lành, việc tốt, có ích lợi cho mình, cả cho người - “minh minh đức”.
Đồng thời, Thiện còn thể hiện trong việc làm thiện, trong quan hệ đạo đức với người khác trong xã hội - “thân dân”.
Như vậy, đạo đức bao gồm hai mặt: tri và hành Theo đó, Thiện cũng gồm những điều phải biết và phải làm, là tri - hành hợp nhất Nhưng ở đó, cần chú ý hành thiện có thể là một trá hình Thoạt nhìn, một việc làm được
thấy là thiện, nhưng làm để nhằm vào cái lợi nào lớn hơn cho mình, thì đó là hành vi bất thiện, cái thiện ngoa trá
- Trái với thiện là ác Nhưng cũng cần chú ý với việc làm ác, như hại
một người để cứu muôn người, thì lại được xem là phi ác Thế nên, tri và hành về điều thiện, tức là biết và làm những điều tốt, điều lành cho ta và cho người phải đạt được cái nghĩa đồng nhất của nó
- Ông còn đưa ra quan niệm về "Chí thiện" là cái toàn hảo Nó không
hạn hẹp trong khuôn khổ đạo lý, mà mở rộng ngoài phạm vi đạo lý ý niệm
Thiện thuộc về Tâm - điều suy nghĩ là phạm trù đạo đức thuộc về tri thức Người chí thiện là người hoàn toàn gương mẫu về đức hạnh ở các mặt tâm tư, tình cảm, tác phong, hành vi xử thế và về kiến thức phổ biến.
Ông nói: "Tính tương cận dã, tập tương viễn dã", điều đó có nghĩa, bản tính ban đầu trời phú cho con người là có "tính hướng thiện chứ không
phải đã là thiện"
Trang 5- Khổng Tử còn chỉ ra Đức Nhân của con người là phẩm chất lý tưởng
mà mọi người phải phấn đấu để có nó Người có Đức Nhân đồng nghĩa với người có phẩm chất hoàn thiện nhất với 2 bậc Thánh và Nhân.
Toàn bộ ý tưởng của Khổng Tử là dẫn dắt con người đến Đức Nhân
Theo Khổng Tử: nhân là thương người, điều gì mà mình không muốn thì đừng đem áp dụng với người khác, mình muốn lập thân thì cũng giúp người lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người thành đạt Nhân là tôn trọng người hiền, là lòng thương người, tình người, là quan hệ giữa người với người Những tư tưởng đó của Ông đã đồng nhất Nhân với Thiện:
"Nếu tâm con người luôn hướng về nhân thì không bao giờ con người
nghĩ đến việc phản loạn, miệng không nói những điều xàm bậy và thân không hướng vào việc ác, tà"
Mạnh Tử:
- Ông là người kế tục xuất sắc tư tưởng Khổng Tử ông đề xuất học thuyết có tính hệ thống về tính người - Thuyết tính Thiện hay còn gọi là Nhân tính hướng thiện
Theo ông, “Nhân chi sơ tính bản thiện" con người mới sinh ra bản
tính đầu tiên là thiện chứ không phải là ác Còn ác bắt nguồn từ sự thiếu sót của thiện
Ông nói: "Người có đức nhân được xung quanh kính yêu gọi là Thiện Người làm điều thiện theo lương tâm gọi là tín Đã là bậc đại nhân lại biết cảm hoá người khiến cho thiên hạ quay về nẻo thiện gọi là thánh"(LN).
Ông cho rằng thiện là yêu thương hết thảy mọi người, cho nên ông chủ trương “kiêm ái” và mơ ước xây dựng một xã hội trong đó mọi người không
có sự phân biệt sang - hèn, trên - dưới và “ thương yêu nhau làm lợi cho nhau”
Tuân Tử:
Vốn xuất phát từ Khổng Tử, nhưng có quan niệm đối lập với Khổng
Tử Tuân Tử đã cho rằng, bản tính con người vốn ác Trong Thiên "Tính ác", ông viết: "Tính của con người là ác, còn Thiện là do con người làm ra"
Còn Dương Hùng lại cho rằng, tính người thiện, ác lẫn lộn;
Trang 6Đối với họ, cái gì phù hợp với tư tưởng đạo đức phong kiến là thiện, cái
gì trái lại hoặc gắn với dục vọng của con người là ác
Đổng Trọng Thư:
- Ông lại nêu lên thuyết Tính tam phẩm cho rằng tính người có ba loại: Loại tính dục rất yếu, không dạy cũng có thể thành thiện gọi là tính thánh nhân;
Loại tính dục rất nhiều, tuy dạy cũng không thể trở thành thiện được, chỉ có thể ác, gọi là tính đấu thưng;
Loại tuy có tính dục, nhưng có thể trở thành thiện hoặc thành ác, gọi là tính trung dân
Thiện trong Nho giáo không chỉ là thực hiện lễ nghĩa đạo đức thánh
hiền, đạt đến bậc quân tử; chí thiện là phải đạt đến bậc thánh nhân Con
người thân đạt thiện, thực hành đức trị "Vương đạo dùng đức, bá đạo dùng lực để trị dân"
1.2.2 Với đạo đức Phật giáo:
Mọi giá trị đạo đức của Phật giáo sẽ gắn liền với quá trình giải thoát:
“Nước ở ngoài biển khơi chỉ có một vị mặn, đạo của ta dạy đây cũng chỉ có một vị là vị giải thoát”.
Những gì giúp con người tìm được chân như sẽ được coi là Thiện và những hành vi, tư tưởng nào cản trở hay có hại cho việc làm này đều bị coi là ác.
- Thiện là giá trị đạo đức gắn với phẩm hạnh của con người, thể hiện
rõ nhất ở lòng từ bi.
"Từ" là thương yêu chúng sinh, mang lại cho họ niềm an lạc, vui
sướng
"Bi" là đồng cảm với nỗi khổ, thương xót chúng sinh, tìm cách trừ bỏ
nỗi khổ cho họ
- Thiện trong Phật giáo vô cùng phong phú và có nhiều cấp độ khác nhau, nhưng nhìn chung nó phụ thuộc vào tâm mỗi người Khi xét đoán một
hành động của con người phải toàn diện:
Thứ nhất, là tư tưởng, ý định, cách làm;
Trang 7Thứ hai, là thực hiện bằng hành động, hiện thực hoá tư tưởng;
Thứ ba, kết quả hành động kéo theo tâm trạng hài lòng, không hài lòng,
nuối tiếc, hối hận
Trong đó, Phật giáo luôn đề cao giai đoạn nhận thức, phụ thuộc vào tâm Trần Thái Tông (Tổ sư phái Trúc Lâm) cho rằng: "Phàm tâm là gốc của thiện ác" Một khi, tâm khởi dậy ở điều thiện, tức là niệm thiện và khi niệm
thiện khởi dậy thì thiện nghiệp báo lại; tâm khởi dậy điều ác, tức niệm ác và khi niệm ác nảy sinh thì ác nghiệp ứng theo; trước tâm làm ác như trăng mây che, sau tâm sinh thiện như đuốc tan tối
Tóm lại, trong những hình thức tồn tại của thiện, đối với Phật giáo thì Thiện tâm là cao hơn cả Thiện còn được chia thành nhiều cấp độ khác nhau:
Thiện Nhỏ: một điều tốt lành nho nhỏ như giúp đỡ kẻ nghèo khó đồng
tiền bát gạo
Thiện lớn: khi mọi người nhìn thấy cái lợi lớn, thiện lớn phải làm, dù
có phải bỏ qua cái thiện nhỏ như khi cần phải giết một người để cứu muôn người; cả dân tộc phải đứng dậy cầm gươm giết giặc, giữ gìn đất nước
Thiện vĩ đại: như đức Phật từ bỏ ngai vàng đi tìm con đường cứu vớt
chúng sỉnh ra khỏi sông mê biển khổ Người đã nêu tấm gương Chí Thiện Đó
là sự nghiệp của bậc đại trí, đại hùng, đó là phẩm chất siêu nhân - Phẩm phật như tấm gương sáng để mọi người noi theo
1.2.3 Với đạo đức Lão giáo:
Quan niệm người Thiện là người sống phải vô vi, đạm bạc, giảm dần ham muốn, sống hoà đồng với tự nhiên và luôn biết tri chỉ, tri túc Luôn tôn trọng bản tính tự nhiên của vạn vật.
- Với mỗi người, phải thực hành: vô kỷ (quên mình), vô công (làm không kể công), vô danh (không ham danh vọng), bất tranh (là một đức tính
mẫu mực) Lão Tử ví đức Thiện của con người như nước, mà theo ông đấy là chất thể hiện rõ nhất tính bất tranh Ông còn chủ trương: "Dĩ đức báo oán" là lấy lòng nhân đức để đối xử với người đã gây oán thù với mình
- Mẫu người lý tưởng của ông là Thánh nhân, Chân nhân là người bao
gồm đủ các phẩm chất: vô kỷ, vô công, vô danh, bất tranh, dĩ đức báo oán
Người chí thiện là người đắc đạo đạt đến Chân tiên.
Trang 8Nhưng Lão Tử luôn xem xét sự tồn tại của các giá trị đạo đức trong sự sinh thành của hai mặt đối lập, khi ông nói: "Mất đạo rồi, mới có đức, mất đức rồi, mới có nhân, mất nhân rồi, mới có nghĩa, mất nghĩa rồi mới có lễ Lễ chỉ là cái vỏ mỏng manh của lòng trung tín, mà cũng là đầu mối của hỗn loạn" Như vậy, cho thấy tính linh động của những tư tưởng và hành vi đạo đức xung quanh trục giá trị Thiện vĩnh hằng của đời sống xã hội
* Tất cả những quan niệm khác nhau về cái thiện trong các tôn giáo khác nhau xâm nhập vào việt nam đã được người Việt Nam tiếp thu qua lăng kính của tinh thần yêu nước Việt nam
- Tiêu chí hàng đầu và cao nhất của Cái Thiện truyền thống Việt Nam
là yêu nước Thiện cao nhất, lớn nhất của Nho, Phật, Lão là tình thương yêu
con người, khi vào Việt Nam, qua lăng kính yêu nước, người Việt Nam rất yêu cuộc sống, quý trọng con người, nhưng Tổ quốc là trên hết, nên chấp nhận mọi hy sinh, gian khổ, sẵn sàng xả thân vì đất nước
- Trung trong đạo đức Nho giáo khi sang Việt Nam, không chỉ là trung
với vua, mà còn là trung với nước, bởi "nước mất thì nhà tan" Nước là cái nôi sinh thành, nuôi dưỡng, che trở bao thế hệ con người Việt Nam lớn khôn thành người Do vậy, trung với nước, sẵn sàng xả thân vì quê hương đất nước
đó là cái thiện lớn nhất của con người Việt nam cả trong truyền thống và hiện tại
- Cái Thiện truyền thống của dân tộc ta còn được biểu hiện sinh động
trong cuộc sống, qua bao phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam: hiền lành, từ bi, ngay thẳng, thật thà, không làm điều ác, xằng bậy, không làm hại người lương thiện, sẵn sàng giúp đỡ mọi người, tôn trọng sự sống, sống hoà đồng với thiên nhiên, sống có kỷ cương, đạo lý
Hồ Chí Minh xuất phát từ một người yêu nước, chính lòng yêu nước đó
đã tạo nên một nhân cách cao cả, một tấm gương đạo đức sẵn sằng hy sinh tất
cả của riêng mình vì Tổ quốc, vì nhân dân để mọi người học tập noi theo Toàn bộ tư tưởng và việc làm của Người đều hướng tới cái thiện đó là độc lập cho dân tộc, cuộc sống ấm no cho mọi người dân lao động Việt nam và cả trên thế giới
Theo quan điểm của Người, Người chia thế giới ra làm hai loại người khác nhau và cũng quy việc làm thành hai loại, Người nói: “trên quả đất, có
Trang 9hàng muôn triệu người Song số người ấy có thể chia làm hai dạng người thiện và người ác Trong xã hội tuy có trăm công nghìn việc, song những công việc ấy có thể chia làm hai thứ việc chính và việc tà
Làm việc chính, là người thiện
Làm việc tà, là người ác
Siêng năng (cần), tần tiện (kiệm), trong sạch(liêm) chính là thiện Lười biếng, xa xỉ, tham lam là tà, là ác”
Việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm Việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh Theo người: thiện nghĩa là tốt đẹp, vẻ vang, và như vậy, trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân Theo nghĩa rộng thì cả thế giới và trong một nước có thiện và có ác, theo nghĩa hẹp thì trong bản thân và tư tưởng của mỗi một người thì cũng có thiện và có ác, nhà nước xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân chỉ lo làm lợi cho nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, ngày càng tiến bộ về vật chất và tinh thần, làm cho trong xã hội không còn người bóc lột người - thế là thiện; và Người chỉ rõ
tư bản, đế quốc và phong kiến, chỉ lo bóc lột nhân dân, thậm chí gây chiến tranh giết hại nhân dân, để làm lợi cho một nhóm ít người - thế là ác
Có những lúc Người lại quan niệm thiện là: “làm đúng chính sách của Đảng phục vụ quyền lợi đại đa số nhân dân (công nông), thực hành cần kiệm liêm chính chí công vô tư, để lợi ích cách mạng, nhân dân lên trên hết; trái lại
là ác ” Đối với Đảng và Chính phủ thì Người cho rằng chỉ lo phục vụ lợi ích của nhân dân trước hết là của nhân dân lao động chân tay và lao đông trí óc, thế là thiện Còn chế độ độc tài của Mỹ - Diệm ở Miền Nam chỉ lo cho lợi ích của một nhóm đế quốc phong kiến và tư sản mại bản thế là ác Nói về mỗi người chúng ta nếu hết lòng, hết sức, phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân, thế
là thiện Nếu chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không lo đến lợi ích chung của Nhà nước, của dân tộc thế là ác Thực hành chí công vô tư, cần kiệm liêm chính thế là thiện Nếu phạm phải quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lười biếng thế là ác Giữa thiện và ác là hai cái mâu thuẫn, luôn luôn đấu tranh gay gắt với nhau cuộc đấu tranh ấy phải trường kỳ và gian khổ, nhưng cuối cùng ác nhất định bại, thiện nhất định thắng
Khi được hỏi về thái độ của Người đối với thiện và ác, trả lời phòng vấn của báo FRERES DARMES: Hồ Chí Minh đã nói: điều mà Người ghét
Trang 10nhất là điều ác, điều mà Người yêu nhất là điều thiện, Người mong nhất là nền độc lập của nước nhà và của tất cả các nước trên hoàn cầu
Như vậy, tiếp thu tư tưởng “thiện” của các nhà tư tưởng Phương Đông Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã nâng đức “thiện ” lên một tầm cao mới có tính toàn
vẹn và phổ quát hơn, là cơ sở của nền đạo đức mới và con người mới xã hội chủ nghĩa
2 Con đường để đạt tới cái Thiện trong tư tưởng đạo đức phương Đông.
Những giá trị đạo đức nhất định chứa đựng trong ý thức và hành vi đạo đức của con người làm cho đời sống tinh thần xã hội trở nên lành mạnh, tốt đẹp, có ý nghĩa hơn Mặc dù còn nhiều quan niệm khác nhau về cái thiện và
con đường để đạt tới cái thiện, nhưng tất cả các nhà tư tưởng phương Đông đều có chung niềm tin vững chắc vào con đường mà mình vạch ra là thiết
thực, hướng con người tới sự hoàn mỹ - chí thiện, đạt tới đạo nhân
Khổng Tử đã nói: "Dùng mệnh lệnh pháp luật để hướng dẫn, chỉ đạo
đồng bào, dùng hình phạt để quản lý đồng bào Làm như vậy tuy có thể giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ, sỉ nhục; dùng đạo đức để hướng dẫn, chỉ đạo đồng bào, dùng lễ nghĩa để giáo hoá đồng bào, làm như vậy chẳng những đồng bào hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội, mà còn cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ mặt tư tưởng" (LN)
Vậy các con đường hướng thiện đó, theo các bậc thánh nhân của phương Đông cổ đại là gì?
2.1 Con đường rèn luyện để đạt đến đức thiện theo quan niệm của người Phương đông.
2.1.1 Trước hết rèn luyện thiện từ trong suy nghĩ, tư tưởng.(thiện ý)
* Đức Phật Thích Ca dạy: