1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN TRIẾT học tư TƯỞNG NHÂN TRONG học THUYẾT của KHỔNG tử, ẢNH HƯỞNG của nó đối với xã hội và CON NGƯỜI VIỆT NAM

22 248 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 126 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KHỔNG TỬ (551 479 TCN) Người sáng lập ra Nho giáo, nhà giáo dục và tư tưởng lớn của Trung Quốc thời cổ đại. Khổng Tử, tên chính là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni, sinh trưởng ở nước Lỗ (tỉnh Sơn Đông hiện nay). Cha là Khổng Lương Ngột đến năm 64 tuổi, mới sinh ra Khổng Khâu. Thuở nhỏ, Khổng Khâu được dạy dỗ và học hành cẩn thận. Khi cha mẹ qua đời, ông sống tự lập. Lúc đầu, ông làm việc cho gia đình họ Quý một dòng quý tộc lâu đời nước Lỗ. Sau đó, ông rời bỏ nước Lỗ đi chu du khắp các nước chư hầu của nhà Chu. Nhưng ở đâu ông cũng không được trọng dụng. Cuối cùng, ông trở về nước Lỗ, mở trường dạy học. Ông được mọi người gọi là Khổng Tử (ông thầy họ Khổng).

Trang 1

TƯ TƯỞNG “NHÂN” TRONG HỌC THUYẾT CỦA KHỔNG TỬ

ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI VIỆT NAM

KHỔNG TỬ (551 - 479 TCN)- Người sáng lập ra Nho giáo, nhà giáo dục và tưtưởng lớn của Trung Quốc thời cổ đại Khổng Tử, tên chính là Khổng Khâu, tự làTrọng Ni, sinh trưởng ở nước Lỗ (tỉnh Sơn Đông hiện nay) Cha là Khổng LươngNgột đến năm 64 tuổi, mới sinh ra Khổng Khâu Thuở nhỏ, Khổng Khâu được dạy

dỗ và học hành cẩn thận Khi cha mẹ qua đời, ông sống tự lập Lúc đầu, ông làm việccho gia đình họ Quý - một dòng quý tộc lâu đời nước Lỗ Sau đó, ông rời bỏ nước

Lỗ đi chu du khắp các nước chư hầu của nhà Chu Nhưng ở đâu ông cũng khôngđược trọng dụng Cuối cùng, ông trở về nước Lỗ, mở trường dạy học Ông được mọingười gọi là Khổng Tử (ông thầy họ Khổng) Học trò theo học ngày một đông, tươngtruyền có hơn 3000 học trò, trong số đó có 72 "người hiền" (người tài giỏi) Vừa dạy

học, Khổng Tử vừa biên soạn sáu bộ sách làm sách giáo khoa (lục kinh), đó là Kinh

Thư, Thi, Dịch, Lễ, Nhạc, Xuân Thu Sau khi ông mất, học trò đã sưu tập những lờidạy của ông, soạn thành bộ "Luận ngữ" Luận điểm chính trị, đạo đức cơ bản của

Khổng Tử là đề cao chữ "Nhân" và thuyết "Chính danh định phận" Hoàn cảnh đất

nước Trung Quốc lúc bấy giờ, chiến tranh, loạn lạc xảy ra khắp nơi, giai cấp thốngtrị sử dụng bạo lực để chống lại nhau và đàn áp nhân dân, Khổng Tử chủ trươngdùng "lễ trị" trong quan hệ giữa giai cấp thống trị và dùng "nhân nghĩa" để cai trịnhân dân Khổng Tử khuyên mọi người hãy sống nhẫn nhục theo đúng cương vị củamình, theo một định mệnh dường như đã được Thượng đế an bài: "vua ra vua, tôi ratôi, cha ra cha, con ra con" Sau này những tư tưởng ấy trở thành khuôn mẫu đạođức, tư tưởng cho lối sống của con người trong xã hội phong kiến Trung Quốc cũngnhư một số nước phương Đông trong đó có Việt Nam

Thời đại của Khổng Tử là thời đại “vương đạo suy vi, bá đạo trị vì”, lễ nhạccủa nhà Chu bị đảo lộn Với hoài bão chính trị của mình, ông đã xây dựng học thuyết

Trang 2

“Nhân - Lễ - Chính danh” nhằm góp phần lập lại kỷ cương, lễ nhạc của nhà Chu,

giải quyết những vấn đề xã hội - những vấn đề cấp bách đặt ra trong thời đại ôngđang sống Do sự chi phối mang tính quyết định của điều kiện xã hội lịch sử, sự hạnchế của bản thân Khổng Tử, nên bên cạnh những cống hiến to lớn còn tồn tại một sốhạn chế nhất định của học thuyết này, những hạn chế ấy đã bộc lộ ngay cả khi được

áp dụng vào trong xã hội của thời đại Khổng Tử, cũng như trong thời đại mới - thờiđại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới

Khổng Tử đã có những đóng góp đáng kể trong những quan niệm của ông vềthế giới, khi ông nêu lên những tư tưởng về trời, đạo trời, mệnh trời, nhiều khi ông

đã coi trời là giới tự nhiên, như quy luật vận hành của tự nhiên, muôn vật luôn tự vậnđộng không ngừng “Thiên hà ngôn tại? Tứ thời hành yên, bách vật sinh yên”, nghĩa

là trời có nói gì đâu, bốn mùa vẫn thay đổi, trăm vật vẫn sinh ra Nhưng cống hiếnlớn hơn cả của khổng tử là ở tư tưởng triết học chính trị xã hội của ông, mà trong đó

tiêu biểu nhất, trung tâm nhất là học thuyết về “Nhân - Lễ - Chính danh”

“Nhân - Lễ - Chính danh” tuy là ba phạm trù khác nhau, nhưng giữa chúng

luôn có mối quan hệ biện chứng với nhau, nếu tách rời nhau sẽ không chỉ làm hạnchế tác dụng của nhau mà còn làm cho chúng không thể tồn tại, không có giá trị gìtrong cuộc sống; bởi vì trong Nhân đã có Lễ và Chính danh, cũng như trong Lễ đã

có Nhân và Chính danh, và đương nhiên trong Chính danh cũng đã có Nhân và Lễ.Song, không phải vị trí vai trò của ba phạm trù ấy như nhau, mà phạm trù “nhân”luôn được xem là cốt lõi, là hạt nhân bao trùm toàn bộ học thuyết chính trị của ông

Do dung lượng một bài thu hoạch có hạn nên trong phạm vi bài thu hoạch này tôichỉ tập trung đi sâu nghiên cứu phạm trù “nhân”

“Nhân” là quan niệm chủ chốt của Nho giáo “Nhân” không chỉ là một đứctính mà còn là nền tảng cho các đức tính khác Hàm nghĩa của khái niệm "nhân"này gồm hai điểm:

Trang 3

Thứ nhất, ý thức về cái chung và tâm vì mọi người (“đại công chi tâm”) Bởi vì,

con người có tấm lòng vì mọi người nên mới có thể thoát khỏi hạn chế của bản năngđộng vật để lừ đó truy cầu sự hợp lý Đây chính là nền tảng của mọi đức tính khác

Thứ hai, nhân cũng là để chỉ ý chí mong muốn làm cho mọi vật được thành

tựu Nếu con người có thể thực sự làm cho tất cả mọi vật đều đạt được thành tựu

của nó thì con người có thể trở thành động lực cho mọi hoạt động xây dựng hayphát triển, tức là có thể sáng tạo ra văn hóa

Có một số học giả dùng khái niệm “Bác ái” để dịch chữ “nhân” trong Nhogiáo, chính là dịch nghĩa thứ hai của khái niệm này Tống nho và Minh nho đặc biệtnhấn mạnh đến khía cạnh “công”, lấy chữ “công” để dịch chữ “nhân”, khôi phục lạinghĩa thứ nhất của khái niệm “nhân” Nghĩa thứ hai gần gũi với cách dùng từ củangôn ngữ cuộc sống thường ngày, do đó mọi người thường hiểu “nhân” với bìnhdiện nhân đức Nghĩa thứ nhất lại là quan niệm mang tính triết học, tương đối xa lạ

với các nhận thức thông thường Tuy nhiên trong "Luận ngữ", Khổng Tử đã dùng

hai câu để giải thích đạo nhân: "Mình muốn đứng vững thì làm cho người đứngvững, mình muốn thông suốt thì làm cho người thông suốt" (Kỷ dục lập nhi lậpnhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân), tức là đã xác định coi người khác như bản thânmình, thể hiện ý thức về cái chung và tâm vì mọi người, khẳng định hàm nghĩacông tâm chủ yếu của khái niệm “nhân", cũng chính là nghĩa thứ nhất của kháiniệm này, và nghĩa thứ hai dựa trên nghĩa thứ nhất mà có

Trong "Luận ngữ", khái niệm "Nhân" (仁) được nhắc tới rất nhiều lần, đủ

chứng tỏ tầm quan trọng và vị trí của "nhân" Trong Nho giáo nói riêng và trongvăn hóa Trung Quốc nói chung, đức hạnh “nhân” và khái niệm “nhân” với nghĩa là

người nhiều lúc được đồng nhất với nhau “Thuyết văn giải tự” giải thích chữ

“nhân” nghĩa là "hai người", mang hàm nghĩa thân thích, yêu thương (Nhân, thân

dã, tòng nhân, nhị) Với nghĩa nguyên sơ này, “nhân” nghĩa là sống với người khác,đối xử với người khác một cách lương thiện và tốt đẹp, vì vậy “nhân” không chỉ làsản phẩm giữa hai người hay nhiều người với nhau, mà còn là đặc tính căn bản của

Trang 4

đạo làm người Tư tưởng này được khẳng định lại trong nhiều kinh điển Nho giáo

khác: "Đạo nhân chính là con người" (Nhân dã giả, nhân dã) “Nhân” là người,

ngược lại, con người cũng chính là đại diện của nhân nghĩa Nho giáo khẳng định

quan điểm này: "nhân tắc nhân nghĩa", coi nó là nền tảng của giá trị đời sống Nhân

nghĩa không chỉ là tiêu chuẩn giá trị của nền tảng đạo làm người mà còn là tiêuchuẩn giá trị của các hành vi hiện thực của các cá thể trong xã hội chính vì vậy, nó

có thể đóng vai trò lý luận định hướng cho việc xây dựng sự hài hòa trong xã hội ởTrung Quốc hiện nay

“Nhân” trong tư tưởng triết học của Khổng Tử không phải là cái bất biến,chật hẹp, mà là một nội dung có sự “biến hoá” linh hoạt, tuỳ vào từng điều kiệnhoàn cảnh cụ thể để nội dung của “Nhân” biểu hiện ra, do đó “Nhân” còn luôn hàmchứa nhiều vấn đề rất sâu sắc theo ông, “Nhân” là đức tính toàn thiện, là cái gốcđạo đức của con người, là lòng yêu thương con người, giúp đỡ mọi người Nên đã

có lần học trò của ông (Phàn Trì) hỏi thầy, thế nào là “nhân”, ông trả lời “thươngngười (ái nhân) là nhân”, “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” nghĩa là điều gì mà mìnhkhông muốn thì cũng đừng đem áp dụng cho người khác; ông còn nói, “kỷ dục lậpnhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” nghĩa là mình muốn lập thân thì cũng giúpngười khác lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt ấy là

“nhân” Tư tưởng ái nhân của Khổng Tử rõ ràng là thời đại nào cũng rất cần, nhất

là trong thời đại khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện nay Nếu như ở thời đạiKhổng Tử do xã hội loạn lạc, do tồn tại chế độ áp bức bóc lột, nên tư tưởng ái nhân

là một tư tưởng tiến bộ và cần thiết, thì ngày nay không kể là xã hội loạn lạc hay ápbức bóc lột tư tưởng ái nhân ấy vẫn rất cần thiết, thậm chí còn là vấn đề bức thiếtkhi trong xã hội đang có không ít người trà đạp lên nhân phẩm, coi thường tínhmạng người khác, đối xử với nhau trên cơ sở giá trị của đồng tiền, trong nhiều mốiquan hệ xã hội hiện nay đã và đang có xu hướng “tiền hoá”, thậm chí ngay cả trongquan hệ huyết thống, gia đình, dòng họ.v.v Có lẽ vì thế mà ngay từ xa xưa Khổng

Tử đã nhận thức được mối quan hệ giữa gia đình và xã hội, nên ông đã cho rằng ái

Trang 5

nhân là phải biết lấy “hiếu đễ” làm gốc, muốn có quan hệ xã hội tốt thì phải có cácquan hệ huyết thống tốt Trong luận ngữ ông đã viết “quân tử tử tế với người thân,tất dân hứng khởi làm điều nhân” nghĩa là cẩn thận nhớ tới người thân xa dời, thìnhân đức đầy đặn Tư tưởng ái nhân của khổng tử được xuất phát từ nguyện vọngđiều chỉnh có tinh phổ biến của quan hệ giữa con người với con người, của quan hệđạo đức có tính chất giai tầng Từ đó dẫn tới tư tưởng “vi chính dĩ đức”, tức là làmchính sự phải lấy đạo đức làm nền tảng, phải biết “sát thân thành nhân” (bỏ thân bénhỏ để đạt được nhân lớn Để có ái nhân tốt thì không được phân biệt đẳng cấp,sang hèn mà phải luôn yêu thương lẫn nhau “ái hữu sai đẳng”, phải có “ôn, cung,nhượng, khoan, tín, mẫn, huệ…” nghĩa là phải ôn hoà, cung kính, nhường nhịn,khoan dung, tín cẩn, cần cù và ra ơn…Nhưng, trong tư tưởng về “nhân” của Khổng

Tử lại chứa đựng sự phân biệt giai cấp, điều này vừa làm hạn chế tư tưởng ái nhân,vừa làm “bó hẹp” phạm vi phát triển của “nhân”, ông cho rằng chỉ có người quân

tử (tức giai cấp thống trị) mới có thể đạt được đức nhân, còn kẻ tiểu nhân (tức nhândân lao động) không thể có đức nhân, ông nói, “quân tử nhi bất nhân giả hữu hỹ, vị

hữu tiểu nhân nhi nhân giả dã” (đạo nhân chỉ là đạo của người quân tử, của giai cấp

thống trị, bậc tiểu nhân không có đạo nhân)

“Nhân” trong triết học của Khổng Tử còn được thể hiện ở tư tưởng “thượnghiền” (tôn trọng người hiền tài), đã là người hiền tài thì ta phải kính trọng, phảinhường nhịn, nếu không nhường tức là “ăn cắp địa vị”, ông cho rằng “học tập lễnhạc trước, rồi mới làm quan, chính là những kẻ dã nhân (tức dân thường), làm quantrước rồi mới học lễ nhạc chính là người quân tử (con cháu quý tộc); nếu dùng người

thì ta chọn những người học tập lễ nhạc trước” Tư tưởng “thượng hiền” của Khổng

Tử được nhiều triết gia, nhiều nhà nghiên cứu về chính trị xã hội sau này tiếp tụcphát triển, đến thời đại của C.Mác và Ph.Ăngghen tư tưởng ấy được nâng lên thành

tư tưởng về vị trí, vai trò của cá nhân lãnh tụ trong phong trào quần chúng

Trong triết học chính trị xã hội của Khổng Tử “nhân” còn bao hàm nội dung

“lấy hiếu đễ làm gốc”, phàm việc gì cũng phải coi trọng chữ hiếu, phải biết yêu

Trang 6

quý, kính trọng cha mẹ, vợ phải trọng chồng Ông cho rằng khi cha mẹ mất thì đạolàm con phải để tang cha mẹ ba năm mới được coi là có hiếu, và có như thế mới là

có “nhân” Có lần ông nói với học trò Tử Lộ, ngươi đã quên rồi sao, cha mẹ mấtphải để tang ba năm, ấy mới là người có hiếu, nếu chỉ để tang cha mẹ có một nămthì sao gọi là có hiếu, sao gọi là có “nhân” Ở nước ta hiện nay tư tưởng này vẫncòn nhiều nơi, nhiều gia đình thực hiện, có nơi cho rằng sau ba năm cha hoặc mẹmất mới gọi là “hết khó”, con cái không phải đeo băng tang; nếu chồng mất (hoặc

vợ mất) thì cũng phải sau ba năm mới được đi lấy người khác

“Nhân” trong tư tưởng của nhà triết học Khổng Tử không phải chỉ là yêuthương người khác, mà còn phải biết yêu thương, quý trọng chính bản thân mình,phải biết làm cho mọi người yêu quý mình, tôn trọng mình Song, đây không phải

là tư tưởng đề cao cá nhân, không phải là cá nhân chủ nghĩa, mà thực chất đây làmột đức tính đáng quý, một yêu cầu rất cao để có thể đạt được “nhân” Ngày nay,

tư tưởng ấy được chúng ta hiểu tôn trọng hay yêu thương người khác chính là tôntrọng hay yêu thương bản thân mình, tôn trọng bản thân mình cũng chính là đã tôntrọng người khác Việc làm cho người khác yêu thương, quý trọng mình là một yêucầu đòi hỏi rất cao, mỗi người phải bằng chính phẩm chất, năng lực của bản thân,bằng chính “ngôn khẩu”(lời nói) và “động” (việc làm) để tạo ra uy tín, thu phụcngười khác chứ không phải là dùng “thủ đoạn” mà tạo uy tín, vì đó chỉ là thứ uy tín

giả của một số kẻ tư lợi, “tiểu nhân” Do vậy, Khổng Tử cho rằng phẩm chất chất

phác, tình cảm chân thực là điều kiện cần thiết để trau dồi đức nhân (mộc cột cậnnhân), những người thích trau truốt, hình thức, khéo nói là ít đức nhân (xảo ngônlệnh sắc, tiểu hỹ nhân) Tư tưởng này của Khổng Tử như một thang giá trị trongquá trình xây dựng, thực hiện các chuẩn mực đạo đức xã hội, nó cần được nhânrộng và phát huy vai trò hơn nữa trong xã hội ta hiện nay

Theo kết quả nghiên cứu của giáo sư Phan Đại Doãn, chữ “nhân” được xuấthiện 109 lần trong “Luận ngữ”, trong đó khái quát và yêu cầu cơ bản là “khắc kỷ”

và “ái nhân” “Khắc kỷ” được hiểu là sự ràng buộc bản thân vào lễ, mọi hành vi

Trang 7

đều tuân thủ theo lễ, “phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vậtđộng” (không nhìn điều trái lễ, không nghe điều trái lẽ, không nói điều trái lễ,không làm điều trái lễ), có như vậy mới có thể đạt được đức nhân, nói cách khácnếu gọi là “nhân” mà không gắn với “lễ” thì không thể là “nhân”, đã là nhân thì baogiờ cũng phải quyện chặt với lễ Do đó, để đạt được đức nhân toàn vẹn theo đạolàm người thì phải “khắc kỷ phục lễ nhân” (phải kìm chế ham lợi của bản thân,tuân theo các quy định của xã hội, đấy mới là “nhân”) Với Khổng Tử, cuộc sống,chí hướng, lý tưởng, tu dưỡng là khát vọng tinh thần, một người có lý tưởng, có chíhướng mà lấy ăn kém, mặc xấu, làm xấu hổ, nhục nhã thì ông không thèm bàn đến

“sĩ chí vu đạo nhi xỉ ố thực giả, vị túc dữ nghĩa dã” (Luận ngữ , lý nhân), ngay bảnthân ông cũng sống rất giản dị, dồn tất cả cho cuộc sống và hoạt động tinh thần;chính vì thế nên quan niệm “khắc kỷ phục lễ nhân” của ông không phải là cấm dục,tiết dục như quan niệm của Phật giáo, càng không phải là diệt dục, mà theo ông cáilợi nào hợp với đạo lý “hợp nghĩa chi lợi”, cái lợi nào là chính đáng và xứng đángđược hưởng thì vẫn được hưởng thụ, thậm chí ông còn cho rằng cái đáng đượchưởng mà không biết hưởng thụ cũng là “xỉ nhục”, bên cạnh đó ông cũng kịch liệtlên án những kẻ cố giành lấy những cái lợi không chính đáng, trái với đạo lý “bất

nghĩa chi lợi”; ông nói, “không đáng phú quý mà hưởng phú quý thì là xỉ nhục,

đáng phú quý mà không hưởng được thì cũng là xỉ nhục”

Trong thời đại của Khổng Tử, các tầng lớp thống trị, một mặt, dùng chiếntranh để tranh giành quyền lợi, mặt khác, sử dụng chiến tranh để lôi kéo kẻ sĩ,sai khiến họ bầy mưu tính kế nhằm thu phục thiên hạ và giành quyền bá chủ chomình Đứng trước tình hình xã hội như vậy, các kẻ sĩ muốn đùng đạo của mình

để cải tạo xã hội và Khổng Tử cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Suốtcuộc đời mình, Khổng Tử luôn quan tâm tới vấn đề này Ông nói: "Ta 15 nămtuổi để chí vào việc học (đạo), 30 tuổi biết tự lập (tức khắc kỷ phục lễ, cứ theođiều lễ mà làm), 40 tuổi không nghi hoặc nữa (tức có trí đức nên hiểu rõ ba đứcnhân, nghĩa, lễ), 50 tuổi biết mệnh trời (biết được việc nào sức người làm được,

Trang 8

việc nào không làm được), 60 tuổi đã biết theo mệnh trời, 70 tuổi theo lòngmuốn của mình mà không vượt ra ngoài khuôn khổ đạo lý" Với một con ngườisuốt đời "học không chán, dạy người không mỏi", lúc nào cũng chỉ muốn đemcái đạo của mình ra giúp đời và giúp cho đời ổn định thì đó phải là người cólòng “nhân” rộng lớn biết bao

Trong Luận ngữ, khái niệm "nhân" được Khổng Tử nhắc tới nhiều lần và tùytừng đối tượng, từng hoàn cảnh mà "nhân" được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theonghĩa sâu rộng nhất "nhân" là một nguyên tắc đạo đức trong triết học Khổng Tử

“Nhân" được ông coi là cái quy định bản tính con người thông qua "lễ", "nghĩa", quyđịnh quan hệ giữa người và người từ trong gia tộc đến ngoài xã hội "Nhân" có quan hệchặt chẽ với các phạm trù đạo đức khác trong triết học Khổng Tử để làm nên một hệthống triết lý nhất quán, chặt chẽ và do vậy, đã có người cho rằng, nếu coi các phạm trùđạo đức trong triết học Khổng Tử như những vòng tròn đồng tâm thì "nhân" là tâmđiểm, bởi nó đã chỉ ra cái bản chất nhất trong bản tính con người "Nhân" cũng có thểhiểu là "trung thứ", tức là đạo đối với người, nhưng cũng là đạo đối với mình nữa.Trong một cuộc nói chuyện với các học trò Khổng Tử đã nói: Đạo của ta chỉ có một lẽ

mà thông suốt cả Về điều này, Tăng Tử - một học trò của Khổng Tử cho rằng, Đạo củaKhổng Tử là "trung thứ" "Trung" ở đây là làm hết sức mình, còn "thứ" là suy từ lòngmình ra mà biết lòng người, mình không muốn điều gì thì người cũng không muốn điều

đó "Trung thứ" là sống đúng với mình và mang cái đó ứng xử tốt với người

Dù trong “Luận ngữ” có nhiều sự giải thích khác nhau về "nhân", song sựgiải thích trong thiên "Nhan Uyên" là có tính chất bao quát hơn cả Có thể nói, ởđây "nhân" trong quan niệm của Khổng Tử là "yêu người" (Luận ngữ, Nhan Uyên,21) Nếu nhìn toàn bộ tư tưởng của ông, phải xem nội dung trên là tiêu biểu chođiều "nhân" "Nhân" là "yêu người", nhưng người nhân cũng còn phải biết "ghétngười" Với Khổng Tử thì chỉ có người có đức nhân mới biết "yêu người" và "ghétngười" Khổng Tử nói: "Duy có bậc nhân mới thương người và ghét người mộtcách chính đáng mà thôi" (Luận ngữ, Lý nhân, 3)

Trang 9

Có người cho rằng, "nhân" (người) trong "ái nhân" (yêu người) là chỉ conngười trong giai cấp thống trị và yêu người trong tư tưởng Khổng Tử chỉ là yêungười trong giai cấp phong kiến Thực ra, khái niệm "nhân" (người) mà Khổng

Tử dùng ở đây là để đối với "cầm thứ' Do đó, đi liền với "nhân" (người) là cáckhái niệm "thiện nhân", "đại nhân", "thành nhân", "nhân nhân", "thánh nhân",

"tiểu nhân" Các khái niệm này nhằm chỉ những con người có tính cách khácnhau, trình độ đạo đức khác nhau "Thánh nhân" là người có đạo đức cao siêu,

"tiểu nhân" là người có tính cách thấp hèn… "nhân" ở đây là chỉ con người nóichung và "ái nhân" là yêu người, yêu bất cứ người nào, không phân biệt giai cấp,địa vị xã hội của họ

Trong “Luận ngữ”, có chỗ Khổng Tử không dùng khái niệm "nhân" (yêungười), nhưng nội dung thể hiện ở đó lại thấm đượm tình yêu thương cao cả Quanhững trường hợp sau có thể thấy rõ Có lần một học trò của Khổng Tử là Tử Duhỏi về “hiếu”, Khổng Tử trả lời: "Điều hiếu ngày nay chỉ có nghĩa là có thể nuôicha mẹ Nhưng đến loài chó ngựa cũng đều được nuôi, nếu không có lòng kính thìlàm thế nào phân biệt được" "Hiếu” ở đây vừa có ý nghĩa là nuôi nấng, chăm sóccha mẹ, vừa phải có lòng kính yêu cha mẹ, yêu thương rất mực đối với cha mẹ Lạimột lần khác, Khổng Tử xong việc ở triều đình về, nghe nói chuồng ngựa cháy, câuđầu tiên ông hỏi là: có ai bị thương không và không nói gì tới ngựa cả Điều đó chothấy, ông quan tâm đến sinh mệnh con người (dù đó là những người hầu hạ) hơn là

sự sống còn của ngựa (tức là của cải) Tư tưởng "nhân" là "yêu người" của ôngthực sự đã được thể hiện ra mọi nơi, mọi lúc

Coi "nhân" là "yêu người", trong “Luận ngữ”, Khổng Tử đã dành không ítlời để nói về đạo làm người Khi Nhan Uyên hỏi Khổng Tử về "nhân", Khổng Tử

đã nói: “Sửa mình theo lễ là nhân Ngày nào cũng khắc kỷ phục lễ, ngày đó mọingười trong thiên hạ tự nhiên cảm hoá mà theo về đức nhân Vậy “nhân” là domình, chớ há do người sao?" (Luận ngữ, Nhan Uyên, l) Trọng Cung - một học tròkhác của Khổng Tử hỏi về "nhân", Khổng Tử cho rằng, những cái gì mà mình

Trang 10

không muốn thì đừng đem thi hành cho người khác - đó là đức hạnh của ngườinhân (Xem: Luận ngữ, Nhan Uyên, 2) Còn khi Phàn Trì hỏi về “nhân", Khổng Tửgiảng giải rằng, “khi ở nhà thì giữ điện mạo cho khiêm cung, khi tìm việc thì thihành một cách kính cẩn, khi giao thiệp với người thì giữ đã trung thành Dẫu có điđến các nước rợ Di, Địch cũng chẳng bỏ ba cái đó, như vậy là người có đức nhân"(Luận ngữ, Tử Lộ, 19) Người nhân trong quan niệm của Khổng Tử còn là ngườiphải làm cho năm điều đức hạnh được phổ cập trong thiên hạ Năm điều đức hạnh

đó là: cung, khoan, tín, mẫn, huệ Ông nói: "Nếu mình nghiêm trang cung kính thìchẳng ai dám khinh mình Nếu mình có lòng rộng lượng thì thu phục được lòngngười Nếu mình có đức tín thật thì người ta tin cậy mình Nếu mình cần mẫn,siêng năng thì làm được công việc hữu ích Nếu mình thi ân, bố đức, gia huệ thìmình sai khiến được người" (Luận ngữ, Dương Hoá, 6) Không chỉ thế, ngườinhân, theo Khổng Tử, còn là người mà "trước hết phải làm điều khéo, rồi sau mớiđến thu hoạch kết quả" (Luận ngữ, Ung dã, 20), và "người cứng cỏi, can đảm, kiêntâm, quyết chí, chất phác, thật thà, ít nói thì gần với nhân" (Luận ngữ, Tử Lộ, 27).Với Khổng Tử, chỉ có người nhân mới có thể có được cuộc sống an vui lâu dài vớilòng nhân của mình và dẫu có ở vào hoàn cảnh nào, cũng có thể yên ổn, thanh thản

Do vậy, theo ông, người nhân "bậc quân tử không bao giờ lìa bỏ điều “nhân”, dẫuchỉ trong một bữa ăn Người quân tử không bao giờ ở sai điều nhân, dẫu trong lúcvội vàng, khi ngả nghiêng cũng vẫn theo điều nhân" (Luận ngữ, Lý nhân, 5)

Như vậy, có thể nói, trong quan niệm của Khổng Tử, "nhân" không chỉ là

"yêu người", "thương người", mà còn là đức hoàn thiện của con người, và do vậy,

"nhân chính" là đạo làm người - sống với mình và sống với người, đức nhân là cáibền vững như núi sông Với ông, nếu thịnh đức của trời - đất là sinh thành, bắtnguồn từ đạo trung hoà, trung dung thì cái gốc của đạo lý con người là "trung thứ"

và đạo đức, luân lý con người là "nhân", người có đạo nhân là bậc quân tử, nước

có đạo nhân thì bền vững như núi sông Tuy nhiên, trong thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc đã có nhiều học thuyết phê phán chữ "nhân" (yêu người) của Khổng

Trang 11

-Tử Có người cho đó là giả đối, có người cho đó là nói suông, có người lại cho đó

là nguồn gốc của bất nhân, bất nghĩa Thế nhưng không phải vì thế mà tư tưởng

"nhân" của Khổng Tử không đi vào lòng của nhiều người đương thời, gây cho họbiết bao sự xúc động và làm cơ sở cho hành động nhân đạo của họ Thực tế chochúng ta thấy, "từ đời Hán trở đi, suốt trên hai nghìn năm đạo Khổng được độctôn, Vua Chúa đời nào cũng ráng áp dụng nó, mặc dầu không đúng Nó thực tếhơn đạo Mặc, đạo Lão, nhân bản hơn thuyết của Pháp gia" Cũng cần phải nóithêm rằng, trong “Luận ngữ”, tư tưởng "Nhân" của Khổng Tử còn bao gồm nhiềuđức khác, như: Trực (ngay thẳng, không giả dối), Kính (nghiêm trang, cẩn trọng,cẩn thận trong công việc), Nghĩa, Lễ

Để hiểu rõ hơn về tư tưởng "nhân" của Khổng Tử cần so sánh nó với tưtưởng Kiêm ái của Mặc Tử, tư tưởng Từ bi của đạo Phật Nếu tư tưởng Kiêm áicủa Mặc Tử coi ai cũng như mình, người thân của người cũng là người thân củamình, không phân biệt riêng tư thì "nhân" phân biệt mình và người, lấy mìnhlàm khởi điểm để phân biệt từ thân đến sơ, từ gần tới xa, phân biệt người tốt, kẻxấu Người “nhân” trong quan niệm của Khổng Tử coi trọng đạo đức, chú ýphần thiện trong bản tính con người thì người Kiêm ái chỉ chú trọng đến sự cứugiúp vật chất, chú ý đến"giao tương lợi" Tư tưởng "nhân" của Khổng Tử cũngkhác xa tư tưởng Từ bi của đạo Phật Phật thương người và thương cả vạn vật.Lòng thương của Phật có một nỗi buồn vô hạn, buồn cho sự mê muội của sinhlinh, tìm cách giải thoát mọi sinh linh ra khỏi vòng sinh, lão, bệnh, tử Còn đạoKhổng tìm mọi cách giúp cho con người sống một cuộc sống vui vẻ hơn, cónghĩa lý hơn và tìm kiếm hạnh phúc ngay trên cõi trần chứ không phải ở trên cõiniết bàn Chính vì vậy, ngay cả khi tư tưởng từ bi, cứu khổ, cứu nạn của Phậtgiáo du nhập và có chỗ đứng trong đời sống tinh thần của con người Đông Á thì

nó cũng không thể thay thế được vai trò của đạo Khổng Có thể nói "nhân" củaKhổng Tử là tư tưởng nhân đạo chủ nghĩa tiêu biểu nhất trong lịch sử các nước ởphía đông của Châu Á này Có thể nói, chế độ phong kiến Đông Á kéo dài được

Ngày đăng: 18/08/2018, 19:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w