Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định “Hai mươi năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử ”. Đây là một kỳ tích của đất nước được cả thế giới ghi nhận và nể phục, trong suốt 25 năm đổi mới, chúng ta đã thực hiện nhiều chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, với nhiều chặng đường khác nhau.
Trang 1MỞ ĐẦU
Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định “Haimươi năm qua, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân,công cuộc đổi mới ở nước ta đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch
sử ” Đây là một kỳ tích của đất nước được cả thế giới ghi nhận và nể phục,trong suốt 25 năm đổi mới, chúng ta đã thực hiện nhiều chiến lược, mục tiêuphát triển kinh tế xã hội, với nhiều chặng đường khác nhau Đó là kếtquả của quá trình tìm tòi, vận dụng sáng tạo và bổ sung phát triển lýluận chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn đất nước ta Trong đó, giaiđoạn 1991-2000 là giai đoạn có tính bản lề, là cơ sở tiền đề để chúng ta
có những bước bứt phá trong phát triển kinh tế xã hội Là giai đoạn đầykhó khăn và thách thức, nhưng với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sựkiên trung, ủng hộ của quảng đại quần chúng nhân dân, đất nước ta đãthoát ra khỏi muôn vàn khó khăn để vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.Việc nắm vững quá trình phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn này
có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc nhận thức đương lối đổi mới kinh
tế của Đảng và thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước Đồng thờichúng ta cũng hiểu được một chặng đường phát triển của kinh tế ViệtNam với nhiều thăng trầm nhưng rất đỗi tự hào, vinh quang của dân
tộc Với ý nghĩa đó tác giả chọn vấn đề “Kinh tế Việt Nam giai đoạn 1991-2000 của thời kỳ đổi mới” làm chủ đề tiểu luận của môn học lịch
sử kinh tế Việt Nam Trong phạm vị nhiệm vụ của môn học, tác giảtrình bày chủ đề trên thành các nội dung cụ thể như sau:
1 Khái lược bối cảnh lịch sử và chủ trương, chính sách pháttriển kinh tế của Đảng giai đoạn 1991-2000
2 Những chuyển biến của nền kinh tế gai đoạn 1991-2000
3 Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm của quá trình phát triển kinh
tế giai đoạn 1991-2000
Trang 2NỘI DUNG
1 Khái lược bối cảnh lịch sử và chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của Đảng giai đoạn 1991-2000.
1.1 Khái lược bối cảnh lịch sử.
Đây là giai đọan chúng ta tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới
do Đại hội VI khởi xướng trong hoàn cảnh thế giới và đất nước cónhững đặc điểm chi phối đến quá trình phát triển kinh tế như sau:
Tình hình thế giới Sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước
tiếp tục phát triển trong tình hình thế giới diễn biến nhanh chóng, phức tạp vàchưa đựng những yếu tố khó lường Với những đặc điểm nổi bật là: Chế độ xãhội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ khiến chủ nghĩa xã hộitạm thời lâm vào tháo trào, nhưng điều đó không làm thay đổi tính chất củathời đại; loài người vẫn đang trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủnghĩa xã hội Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới vẫn tồn tại và phát triển, cómặt sâu sắc hơn, nội dung và hình thức biểu hiện có nhiều nét mới Đấu tranhdân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức Nguy cơchiến tranh thế giới hủy diệt bị đẩy lùi, nhưng xung đột vũ trang, chiến tranhcục bộ, xung đột về dân tộc, sắc tộc và tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt độngcan thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn xảy ra ở nhiều nơi Cách mạng khoa học vàcông nghệ tiếp tục phát triển với trình độ ngày càng cao, tăng nhanh lực lượngsản xuất, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới,quốc tế hóa nền kinh tế và đời sống xã hội Các nước đều đứng trước những
cơ hội để phát triển Nhưng do ưu thế về vốn, công nghệ, thị trường, v.v thuộc về các nước tư bản chủ nghĩa phát triển và các công ty đa quốc gia, chonên các nước chậm phát triển và đang phát triển đứng trước những thách thức
to lớn Chênh lệch giàu nghèo giữa các nước ngày càng mở rộng Cuộc cạnhtranh kinh tế, thương mại, khoa học - công nghệ diễn ra gay gắt Cộng đồngthế giới đứng trước nhiều vấn đề có tính toàn cầu (bảo vệ môi trường, hạn chế
sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những bệnh tật hiểm nghèo …),không một quốc gia riêng lẻ nào có thể tự giải quyết, mà cần phải có sự hợp
Trang 3tác đa phương Khu vực châu Á - Thái bình Dương đang phát triển năng động
và tiếp tục phát triểnvới tốc độ cao Đồng thời khu vực này cũng tiềm ẩn một
số nhân tố có thể gây mất ổn định Trong quan hệ quốc tế; đã và đang nổi lênnhững xu thế chủ yếu sau đây: Hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triểnngày càng trở thành đòi hỏi bức xúc của các dân tộc và quốc gia trên thế giới.Các nước dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, coi phát triển kinh tế có ý nghĩaquyết định đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia Cácquốc gia lớn, nhỏ tham gia ngày càng nhiều vào quá trình hợp tác và liên kếtkhu vực, liên kết quốc tế về kinh tế, thương mại và nhiều lĩnh vực hoạt độngkhác Hợp tác ngày càng tăng nhưng cạnh tranh cũng rất gay gắt Các dân tộcnâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đấu tranh chống lại sự áp đặt
và can thiệp của nước ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và nền văn hóa dântộc Các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản và công nhân, các lựclượng cách mạng, tiến bộ trên thế giới kiên trì đấu tranh vì hòa bình, độc lậpdân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Các nước có chế độ chính trị - xã hội khácnhau vừa hợp tác vừa đấu tranh trong cùng tồn tại hòa bình
Các đặc điểm và xu thế nêu trên đã làm nảy sinh tính đa phương, đadạng trong quan hệ quốc tế và trong chính sách đối ngoại của các nước Tìnhhình thế giới và khu vực tác động sâu sắc đến các mặt đời sống xã hội nước
ta, đưa đến những thuận lợi lớn đồng thời cũng làm xuất hiện những tháchthức lớn
Tình hình trong nước Đại hội VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới
toàn diện, mở ra bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ởnước ta ý nghĩa lịch sử của Đại hội VI là đã phân tích đúng đắn nguyên nhâncủa tình hình khủng hoảng kinh tế - xã hội từ nhiều năm trước, đề ra các địnhhướng lớn để từng bước thoát khỏi tình trạng đó Trong quá trình thực hiệnNghị quyết Đại hội VI, những diễn biến quốc tế phức tạp đã tác động xấu đếntình hình chính trị, kinh tế và xã hội nước ta Nhưng Đảng, Nhà nước và nhândân ta đã nỗ lực khắc phục khó khăn, kiên trì tìm tòi, khai phá con đường đổimới chưa có một khuôn mẫu cho trước, từng bước đưa đường lối Đại hội VI
Trang 4đi vào cuộc sống Mặc dù tình hình còn nhiều khó khăn, kết quả đạt được xácđịnh khả năng tự đổi mới của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam
Chúng ta đã từng bước thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế,xóa bỏ được bao vậy cấm vận của Mỹ và các thế lực thù địch Từng bướctham giai hội nhập và hoạt động có hiệu quả trong các tổ chức kinh tế quốc
tế Những thành tựu ban đầu của công cuộc đổi mới đã và đang tạo ra thế vàlực mới, cả ở bên trong và bên ngoài để chúng ta bước bào một thời kỳ pháttriển mới Nhiều tiền đề cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đượctạo ra Quan hệ của nước ta với các nước trên thế giới mở rộng hơn bao giờhết Khả năng giữ vững độc lập tự chủ và hội nhập với cộng đồng thế giớităng thêm Tuy nhiên đất nước cũng đứng trước những nguy cơ lớn ( bốnnguy cơ mà hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ (1-1994) nêu lên vẫn
là những thách thức lớn) Các nguy cơ ấy có mối liên hệ tác động lẫn nhau vàđều nguy hiểm, không thể xem nhẹ nguy cơ nào Nguy cơ tụt hậu xa hơn vềkinh tế so với nhiều nước trong khu vực vẫn là thách thức to lớn và gay gắt dođiểm xuất phát của ta quá thấp, lại phải đi lên tình hình môi trường cạnh tranhquyết liệt Có những thế lực vẫn tiếp tục mưu toàn thực hiện diễn biến hòabình, thường xuyên dùng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” hòng can thiệpvào nội bộ nước ta Tình hình khu vực châu Á - Thái Bình Dương và BiểnĐông còn diễn biến phức tạp Chệch hướng xã hội chủ nghĩa và quan liêu,tham nhũng vẫn đang thật sự là những nguy cơ lớn Tệ quan liêu, tham nhũng
và suy thoái về phẩm chất, đạo đức của một bộ phận cán bộ, đảng viên làmcho bộ máy đảng và nhà nước suy yếu, lòng tin của nhân dân đối với Đảng,đối với chế độ bị xói mòn, các chủ trương và chính sách của Đảng và Nhànước bị thi hành sai lệch dẫn tới chệch hướng; đó là mảnh đất thuận lợi chodiễn biến hòa bình
Thuận lợi và khó khăn, thời cơ và nguy cơ đan xen nhau Chúng taphải chủ động nắm thời cơ, vươn lên phát triển nhanh và vững chắc, tạo ra thế
và lực mới; đồng thời luôn luôn tỉnh táo, kiên quyết đẩy lùi và khắc phục cácnguy cơ, kể cả những nguy cơ mới nảy sinh, bảo đảm phát triển đúng hướng
Trang 5Điều này được thể hiện trong chủ trương chính sách phát triển kinh tế củaĐảng ta ở giai đoạn này.
1.2 Chủ trương chính sách phát triển kinh tế của Đảng giai đoạn 1991-2000.
Cuối năm 1986, tại Đại hội VI, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánhgiá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng ta đã nghiêm khắc kiểm điểm sự lãnh đạocủa mình, khẳng định những mặt làm được, phân tích những sai lầm, khuyếtđiểm, đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt trong công cuộc xâydựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Tiếp tục đường lối đổi mới của Đại hội VI, cácchủ trương chính sách phát triển kinh tế trong giai đọa này được Đảng ta xác địnhthông qua “cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội”, “ chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội 1991-2000” và các văn kiệncủa Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII
Cương lĩnh xây dượng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xãhội được Đại hội VII thông qua đã xác định chủ trương chính sách phát triển
kinh tế gồm các nội sung sau: Về mục tiêu tổng quát “Mục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ
sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội, với kiến trúc thượng tầng về chính trị và tư tưởng, văn hoá phù hợp, làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình lâu dài, trải qua nhiều chặng đường Mục tiêu của chặng đường đầu là: thông qua đổi mới toàn diện, xã hội đạt tới trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặng sau” Về chủ trương,chính sách là phát triển một nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa Kinh tếquốc doanh giữ vai trò chủ đạo Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và
mở rộng Kinh tế cá thể còn có phạm vi tương đối lớn, từng bước đi vào conđường làm ăn hợp tác trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ và cùng có lợi Tưbản tư nhân được kinh doanh trong những ngành có lợi cho quốc kế dân sinh
do luật pháp quy định Phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình
Trang 6thức Kinh tế gia đình được khuyến khích phát triển mạnh, nhưng không phải
là một thành phần kinh tế độc lập Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kếtvới nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng Các tổ chức kinh tế tự chủ vàliên kết, hợp tác và cạnh tranh trong sản xuất và kinh doanh Khi kết thúc thời kỳ
quá độ, hình thành về cơ bản nền kinh tế công nghiệp với cơ cấu kinh tế công nông nghiệp - dịch vụ gắn với phân công và hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng
-sâu rộng Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế lạc hậu lên cơ cấu kinh tếhiện đại, nền kinh tế quốc dân sẽ bao gồm nhiều ngành, nghề, nhiều quy mô,nhiều trình độ công nghệ Phát triển nông - lâm - ngư nghiệp gắn với côngnghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để
ổn định tình hình kinh tế - xã hội Đẩy mạnh công nghiệp sản xuất hàng tiêudùng, hàng xuất khẩu, mở rộng kinh tế đối ngoại, phát triển kinh tế dịch vụ, xâydựng đồng bộ kết cấu hạ tầng Xây dựng nền công nghiệp nặng với bước đi thíchhợp, trước hết là các ngành trực tiếp phục vụ nông nghiệp Thực hiện chuyênmôn hoá và liên kết kinh tế giữa các vùng, các địa phương Xây dựng các trungtâm kinh tế của từng vùng, để tạo điều kiện liên kết công nghiệp với nôngnghiệp, thành thị với nông thôn, phát triển giao lưu hàng hoá Xoá bỏ triệt để cơ
chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác.
Xây dựng và phát triển đồng bộ các thị trường hàng tiêu dùng, vật tư, dịch vụ,tiền vốn, sức lao động ; thực hiện giao lưu kinh tế thông suốt cả nước và với thịtrường thế giới Xác định quyền của người sở hữu, quyền của người sử dụng tưliệu sản xuất và quyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, bảo đảmcho mọi tư liệu sản xuất đều có người làm chủ, mọi đơn vị kinh tế đều tự chủ, tựchịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình Đổi mới và nâng cao hiệu lực
hướng dẫn, kiểm soát và điều tiết của Nhà nước Khoa học và công nghệ giữ vai
trò then chốt trong sự phát triển lực lượng sản xuất và nâng cao trình độ quản lý,bảo đảm chất lượng và tốc độ phát triển của nền kinh tế Các chiến lược khoahọc và công nghệ nhằm mục tiêu công nghiệp hoá theo hướng hiện đại, vươn lêntrình độ tiên tiến của thế giới Sử dụng có hiệu quả và tăng nhanh tiềm lực khoa
Trang 7học và công nghệ của đất nước Phát triển đồng bộ khoa học xã hội, khoa học tựnhiên, khoa học kỹ thuật đi đôi với phát triển giáo dục và văn hoá, nâng cao dân
trí Giáo dục và đào tạo gắn liền với sự nghiệp phát triển kinh tế, phát triển khoa
học, kỹ thuật, xây dựng nền văn hoá mới và con người mới Nhà nước có chínhsách toàn diện thực hiện giáo dục phổ cập phù hợp với yêu cầu và khả năng củanền kinh tế, phát triển năng khiếu, bồi dưỡng nhân tài Khoa học và công nghệ,giáo dục và đào tạo phải được xem là quốc sách hàng đầu
Trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội 1991-2000, trên
cơ sở đánh giá thực trạng, các lợi thế so sánh của nền kinh tế đất nước Đảng
ta đã xác định quan điểm và mục tiêu phát triển đó là: Phát triển kinh tế - xã hội theo con đường củng cố độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là quá trình thực hiện dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hoá, có kỷ cương, xoá bỏ áp bức, bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người Chiến lược kinh tế - xã hội đặt con người vào vị trí trung tâm, giải
phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể laođộng và của cả cộng đồng dân tộc, động viên và tạo điều kiện cho mọi người
Việt Nam phát huy ý chí tự lực tự cường, cần kiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ra sức làm giàu cho mình và cho đất nước Lợi ích của mỗi người, của
từng tập thể và của toàn xã hội gắn bó hữu cơ với nhau, trong đó lợi ích cá
nhân là động lực trực tiếp Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp Nền kinh tế có nhiều thành phần với nhiều dạng sở hữu và hình thức tổ chức kinh doanh phù hợp với tính
chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển cóhiệu quả nền sản xuất xã hội Mọi đơn vị kinh tế, không phân biệt quan hệ sở
hữu đều hoạt động theo cơ chế tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau bình đẳng trước pháp luật Nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công
cụ khác Khuyến khích tính năng động, sáng tạo đi đôi với thiết lập trật tự, kỷ
Trang 8cương trong hoạt động kinh tế Phát huy lợi thế tương đối, không ngừng nângcao sức cạnh tranh của hàng hoá, đáp ứng tốt nhất nhu cầu của sản xuất và đờisống, hướng mạnh về xuất khẩu, thay thế nhập khẩu những mặt hàng trong
nước sản xuất có hiệu quả Mở rộng quan hệ kinh tế với tất cả các nước, các
tổ chức quốc tế, các công ty và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc giữ vữngđộc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi Phát huy tinh thần độc lập tựchủ, không ỷ lại vào bên ngoài, khai thác tối đa mọi lợi thế và nguồn lực củađất nước là điều kiện cơ bản để mở rộng có hiệu quả kinh tế đối ngoại, bảo
đảm cho nền kinh tế luôn luôn phát triển trong thế chủ động Hiệu quả kinh tế
- xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển Các đơn vị kinh tế
kinh doanh có hiệu quả, có lãi và thực hiện các trách nhiệm xã hội theo luậtpháp Nhà nước có chính sách khuyến khích và hỗ trợ cho các đơn vị kinh tế
bị thua thiệt khi phục vụ lợi ích chung Phát triển mạnh giáo dục và đào tạo, không ngừng nâng cao năng lực khoa học và công nghệ, chú trọng nghiên cứu ứng dụng và triển khai để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Kết hợp nhiều trình độ công nghệ khác nhau, tranh thủ tối đa công nghệ tiên tiến, tận dụng lợi thế của nước đi sau Khai thác các yếu tố phát triển cả về chiều rộng
và chiều sâu, ngày càng hướng mạnh vào chiều sâu Tận dụng lợi thế của loại hình xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến
bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trường Lấy phân
phối theo lao động làm hình thức chính, khuyến khích làm giàu đi đôi vớigiảm số người nghèo, nâng cao phúc lợi xã hội phù hợp với trình độ phát triểnkinh tế, thực hiện nam nữ bình đẳng, tạo cơ hội cho mọi người đều được cốnghiến và được hưởng thành quả của sự phát triển Kết hợp chặt chẽ phát triển
kinh tế - xã hội với ổn định và đổi mới về chính trị, tăng cường củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội Mục tiêu tổng quát của Chiến lược đến năm 2000 là: ra khỏi khủng hoảng, ổn định tình hình kinh tế - xã hội, phấn đấu vượt qua tình trạng nước nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống của nhân dân, củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho đất nước phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ XXI Tổng sản
Trang 9phẩm trong nước (GDP) đến năm 2000 tăng khoảng gấp đôi so với năm 1990.Mục tiêu này bao gồm những nội dung dưới đây:
Một là, vượt qua những khó khăn gay gắt trước mắt, ra khỏi khủng
hoảng, ổn định tình hình kinh tế - xã hội Đẩy lùi và khống chế lạm phát, ổnđịnh và phát triển sản xuất, ổn định đời sống của nhân dân, thu hẹp chênh lệchtrong thanh toán quốc tế; chấm dứt tình trạng xuống cấp về giáo dục, văn hoá,
y tế, đẩy lùi các tệ nạn xã hội; tiếp tục đẩy mạnh cải cách kinh tế, hình thànhđồng bộ cơ chế thị trường; chỉnh đốn và nâng cao hiệu lực quản lý của bộmáy nhà nước, chống tham nhũng, thiết lập trật tự, kỷ cương trong kinh tế và
xã hội Nhiệm vụ này là trọng tâm của kế hoạch 5 năm 1991-1995
Hai là, phấn đấu xoá nạn đói, giảm số người nghèo khổ, giải quyết
vấn đề việc làm, bảo đảm các nhu cầu cơ bản, cải thiện đời sống vật chất, vănhoá và tinh thần của nhân dân, tăng dần tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế, thu hútnhiều nguồn lực bên ngoài; tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, chuyển dịch
rõ rệt cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá
Ba là, củng cố và xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển giáo dục và đào tạo, nâng cao dân trí, năng lực khoa học và công nghệ đáp
ứng nhu cầu của những năm 90 và chuẩn bị cho tương lai
Bốn là, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh trong tình hình mới, bảo
đảm trật tự, an toàn và môi trường hoà bình, ổn định, hợp tác cho sự nghiệp pháttriển kinh tế
Để thực hiện được các mục tiêu đó, chiến lược cũng xác định nhữngđịnh hướng lớn trong xây dựng cơ cấu kinh tế phải thực hiện tốt các vấn đềsau: Khắc phục tính chất tự cấp tự túc, khép kín, chuyển mạnh sang nền kinh
tế hàng hoá, gắn thị trường trong nước với ngoài nước, đẩy mạnh xuất khẩu,đáp ứng nhu cầu nhập khẩu Phát triển nông - lâm- ngư nghiệp gắn với công
nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
để ổn định tình hình kinh tế - xã hội; tăng tốc độ và tỉ trọng của công nghiệp,
mở rộng kinh tế dịch vụ, tăng cường cơ sở hạ tầng, bước đầu đưa nền kinh tếvượt khỏi tình trạng nông nghiệp lạc hậu Tốc độ tăng trưởng bình quân hằng
Trang 10năm của nông nghiệp đạt khoảng 4-5%, của công nghiệp khoảng 10-12% Sắpxếp lại và đổi mới quản lý để bảo đảm sự phát triển có hiệu quả của kinh tếquốc doanh, kinh tế tập thể; khuyến khích mọi loại hình kinh doanh mang lạihiệu quả kinh tế - xã hội cao, tạo môi trường hợp tác và cạnh tranh bình đẳnggiữa các đơn vị kinh tế Hướng trọng điểm đầu tư và phát triển của nền kinh
tế vào những ngành, những sản phẩm, những vùng đem lại hiệu quả kinh tế
-xã hội nhanh nhất và nhiều nhất, tạo nguồn tích luỹ làm đòn xeo thúc đẩy và
hỗ trợ các lĩnh vực và các vùng khác Quá trình chuyển dịch cơ cấu được thựchiện thông qua hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh của mọi thành phầnkinh tế dưới tác động của cơ chế thị trường được Nhà nước hướng dẫn và thúcđẩy bằng các công cụ quản lý vĩ mô và bằng chương trình đầu tư dựa vàonguồn vốn tập trung
Văn kiện Đại hội VII của Đảng xác định chủ trương chính sách vànhững định hướng lớn phát triển kinh tế thông qua kế hoạch phát triển kinh tế
xã hội 5 năm 1991-1995 như sau:
Về mục tiêu tổng quát và phương châm chỉ đạo, mục tiêu tổng quát
của 5 năm tới là vượt qua khó khăn thử thách, ổn định và phát triển kinh tế
-xã hội, tăng cường ổn định chính trị, đẩy lùi tiêu cực và bất công -xã hội, đưa nước ta cơ bản ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay Các mục tiêu cụ thể
là: Tiếp tục kiềm chế và đẩy lùi lạm phát, giữ vững và phát triển sản xuất, bắtđầu có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế; Tạo thêm nhiều việc làm cho người laođộng, giảm mạnh nhịp độ tăng dân số; Ổn định và từng bước cải thiện đờisống vật chất và tinh thần của nhân dân Bảo đảm tiền lương tối thiểu đáp ứngđược nhu cầu thiết yếu của người lao động, ngăn chặn thu nhập phi pháp vàbất công
Những phương châm chỉ đạo là: Tăng cường hơn nữa khối đoàn kết toàn dân, động viên được lực lượng của mọi tầng lớp nhân dân vào việc thực
hiện mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Giữ vững đoàn kết trong Đảng,thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân Kết hợp động lựckinh tế với động lực tinh thần, thực hiện hài hoà lợi ích cá nhân, tập thể và xã
Trang 11hội, phát huy lòng yêu nước và tự hào dân tộc, truyền thống cách mạng vàkháng chiến, ý chí tự lực tự cường, cần kiệm xây dựng đất nước, tạo ra phongtrào quần chúng phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh Tiếp tục đổi mớitoàn diện và đồng bộ, đưa công cuộc đổi mới đi vào chiều sâu với bước đivững chắc, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽviệc đổi mới các lĩnh vực khác, nhất là về dân chủ hoá xã hội, tổ chức vàphương thức hoạt động của hệ thống chính trị, các chính sách giáo dục, vănhoá, xã hội Tạo ra môi trường quốc tế thuận lợi, mở rộng và tăng cường quan
hệ quốc tế về chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học, kỹ thuật trên nguyên tắctôn trọng độc lập, chủ quyền, cùng có lợi, bảo vệ sản xuất, kinh tế và an ninhquốc gia, gìn giữ và phát huy những truyền thống và bản sắc tốt đẹp của vănhoá dân tộc
Về ổn định và phát triển kinh tế Tập trung mọi nỗ lực giải quyết các
vấn đề cấp bách nhất về kinh tế, xã hội, trên cơ sở đó thực hiện thắng lợi mục
tiêu kinh tế của kế hoạch 5 năm 1991-1995: ổn định, phát triển và nâng caohiệu quả nền sản xuất xã hội, ổn định và từng bước cải thiện đời sống nhân
dân và bắt đầu có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế Để thực hiện nhiệm vụ trên
phải phát huy sức mạnh của các thành phần kinh tế; đẩy mạnh ba chươngtrình kinh tế với những nội dung cao hơn trước và từng bước xây dựng cơ cấukinh tế mới theo yêu cầu công nghiệp hoá; đẩy nhanh nhịp độ ứng dụng tiến
bộ khoa học, kỹ thuật; hình thành về cơ bản và vận hành tương đối thông suốt
cơ chế quản lý mới
Về cơ cấu ngành và vùng: Tập trung đầu tư cả chiều rộng lẫn chiềusâu, tạo chuyển biến rõ nét về cơ cấu kinh tế, trước hết đối với những ngành
và vùng trọng điểm, có hiệu quả nhanh Tiếp tục coi nông nghiệp là mặt trận
hàng đầu, phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới Xây dựng
phương án tổng thể trên từng vùng, hình thành cơ cấu hợp lý về nông, lâm,ngư, công nghiệp phù hợp với sinh thái vùng, gắn phát triển sản xuất nông,lâm, ngư nghiệp với phát triển ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp và công
Trang 12nghiệp chế biến bằng công nghệ thích hợp; xây dựng các điểm kinh tế - kỹthuật - dịch vụ ở từng vùng và tiểu vùng; xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật vàkết cấu hạ tầng xã hội ở nông thôn Trong sản xuất nông nghiệp toàn diện, đặttrọng tâm vào chương trình lương thực - thực phẩm nhằm bảo đảm vững chắcnhu cầu trong nước và có khối lượng xuất khẩu lớn, nhất là gạo và sản phẩmchăn nuôi; phát triển cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày trên quy mô lớn
để cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến, xuất khẩu và thay thếnhập khẩu Khai thác tổng hợp kinh tế biển, phát triển kinh tế rừng, đẩy mạnhchương trình hàng tiêu dùng và chương trình hàng xuất khẩu, mở rộng kinh tếđối ngoại, sắp xếp lại và phát triển các loại hình dịch vụ kinh tế- kỹ thuật,phát triển một số ngành công nghiệp
Tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và đổi mớiquản lý kinh tế Phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, vừa cạnh tranhvừa hợp tác, bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất Đẩymạnh việc sắp xếp lại và củng cố các đơn vị kinh tế, khuyến khích và tạo điềukiện thuận lợi cho các đơn vị của các thành phần kinh tế phát triển bình đẳngtrước pháp luật Từng bước hình thành và mở rộng đồng bộ các thị trường baogồm các yếu tố của quá trình tái sản xuất (thị trường hàng tiêu dùng, tư liệusản xuất, dịch vụ, thị trường vốn và tiền tệ, thị trường ngoại hối, thị trườngsức lao động )
Đổi mới và hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô trọng yếu của Nhà
nước Tiếp tục đổi mới và bổ sung hệ thống pháp luật kinh tế Nâng cao chất lượng kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân, bao quát mọi thành phần kinh tế, lấy thị trường làm đối tượng và là căn cứ quan trọng nhất Xây dựng chính sách tài chính quốc gia và thực hiện cải cách cơ bản tài chính nhà nước Cải tiến công tác điều hành của Nhà nước về kinh tế theo hướng tăng cường phối hợp đồng bộ
giữa các cấp quản lý, bảo đảm sự nhất quán trong các quyết định Tăng cườngcông tác kiểm tra, kiểm soát Tiếp tục phân định rõ quản lý nhà nước về kinh tế
và quản lý kinh doanh của các đơn vị cơ sở Cải tiến phân cấp quản lý kinh tếgiữa trung ương và các cấp chính quyền địa phương…
Trang 13Đại hội VIII (1996) của Đảng xác định “Công cuộc đổi mới trong 10năm qua đã thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa rất quan trọng.Nhiệm vụ do Đại hội VII đề ra cho 5 năm 1991-1995 đã được hoàn thành về
cơ bản Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhưng một số mặtcòn chưa vững chắc Nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ
là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa đã cơ bản hoàng thành cho phépchuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện tại hóa là xây dựng nước ta thành mộtnước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý,quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Phấn đấu đến năm 2020 nước
ta cơ bản trở thành nột nước công nghiệp theo hướng hiện đại Giai đoạn từnay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới - đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nhiệm vụ của nhân dân ta làtập trung mọi lực lượng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, đẩy mạnh côngcuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tếnhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phấn đấu đạt và vượt mục tiêu được
đề ra trong Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000:tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững đi đôi với giải quyếtnhững vấn đề bức xúc về xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, cải thiện đờisống của nhân dân, nâng cao tích lũy từ nội bộ nền kinh tế, tạo tiền đề vữngchắc cho bước phát triển cao hơn vào đầu thế kỷ sau Đại hội cũng xác địnhnội dung cơ bản của công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong những năm còn lạicủa thập kỷ 90 là: Đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nôngnghiệp và nông thôn; phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với côngnghiệp chế biên nông, lâm, thủy sản; phát triển công nghiệp sản xuất hàngtiêu dùng và hàng xuất khẩu Nâng cấp, cải tạo, mở rộng và xây dựng mới cótrọng điểm kết cấu hạ tầng kinh tế, trước hết ở những khâu ách tắc và yếu
Trang 14kém nhất đang cản trở sự phát triển Xây dựng có chọn lọc một số cơ sở côngnghiệp nặng trọng yếu và hết sức cấp thiết, có điều kiện về vốn, công nghệ,thị trường, phát huy tác dụng nhanh và có hiệu quả cao Mở rộng thươngnghiệp, du lịch, dịch vụ Đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại Hìnhthành dần một số ngành mũi nhọn như chế biến nông, lâm, thủy sản, khai thác
và chế biến dầu - khí, một số ngành cơ khí chế tạo, công nghiệp điện tử vàcông nghệ thông tin, du lịch Phát triển mạnh sự nghiệp giáo dục và đào tạo,khoa học và công nghệ Tiếp tục thực hiện nhất quán, lâu dài việc phát triểnnền kinh tế hàng hóa nhiều thành phân đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.Với 5 thành phần kinh tế là; Kinh tế nhà nước, Kinh tế hợp tác mà nòng cốt làcác hợp tác xã, Kinh tế tư bản nhà nước, Kinh tế cá thể, tiểu chủ, Kinh tế tưbản tư nhân Đại hội cũng đưa ra nhận thức mới trong quản lý kinh tế của nhànước Việc thừa nhận sản xuất hàng hòa không đối lập với chủ nghĩa xã hội,
mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cầnthiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đãđược xây dựng đã tạo ra bước đột phá trong quá trình nâng cao năng lực, nộidung quan lý kinh tế của nhà nước.Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần ở nước ta, thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một thể thốngnhất với nhiều lực lượng tham gia sản xuất và lưu thông, trong đó kinh tế nhànước giữ vai trò chủ đạo Thị trường trong nước gắn với thị trường thế giới.Thị trường vừa là căn cứ, vừa là đối tượng của kế hoạch Kế hoạch chủ yếumang tính định hướng và đặc biệt quan trọng trên bình diện vĩ mô Thị trường
có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn bị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động
và phương án tổ chức sản xuất kinh doanh.Vận dụng cơ chế thị trường đòi hỏiphải nâng cao năng lực quản lý vĩ mô của Nhà nước, đồng thời xác lập đầy đủchế độ tự chủ của các đơn vị sản xuất kinh doanh, nhằm phát huy tác độngtích cực tô lớn đi đôi với ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục những mặt tiêucực của thị trường Nhà nước quản lý thị trường bằng pháp luật, kế hoạch, cơchế, chính sách, các công cụ đòn bẩy kinh tế và bằng các nguồn lực của khuvực kinh tế nhà nước Thông qua đó tiến hành tạo lập đồng bộ các yếu tố của
Trang 15thị trường; hoàn chỉnh hệ thống luật pháp về kinh tế; tiếp tục đổi mới công tác
kế hoạch hóa; đổi mới các chính sách tài chính, tiền tệ, giá cả; nâng cao nănglực và hiệu quả quản lý kinh tế của Nhà nước…
Như vậy, từ cương lĩnh 1991 đến văn kiện của Đại hội Đảng VIIIĐảng ta đã hình thành một hệ thống lý luận về phát triển kinh tế đất nướctrong điều kiện hoàn cảnh có nhiều biến động và cũng nhiều thời cơ vận hộimới của đất nước Những quan điểm, chủ trương chính sách trên là cơ sở choviệc tổ chức hoạt động thực tiễn của nền kinh tế Thực tiễn thành công củanền kinh tế giai đoạn 1991-2000 đã minh chứng cho tính đúng đắn sáng tạocủa đường lối, chủ trương đó
2 Những chuyển biến của nền kinh tế giai đoạn 1991-2000.
Mười năm thực hiện Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội theo
tinh thần Nghị quyết Đại hội VII và Đại hội VIII, chúng ta đã thu đượcnhững thành tựu rất cơ bản và có ý nghĩa nhiều mặt Nhưng đồng thời cũngbộc lộ không ít những mặt còn hạn chế và yếu kém, cụ thể trên các nội dungsau:
10 năm 1991- 2000 kinh tế Hàn Quốc gấp 2,66 lần với tốc độ tăng bình quânmỗi năm 10,28%; Hai chỉ tiêu tương ứng của Singapo là 2,05 lần và7,43%/năm; Malaixia 1,87 lần và 6,50%/năm; Thái Lan 1,60% lần và 4,80%/
Trang 16năm; Indonexia 1,48 lần và 4,0%/năm; Philipin 1,31 lần và 2,80% năm Đángchú ý là trong cả hai kế hoạch 5 năm của thời kỳ này, các khu vực kinh tế vàcác ngành kinh tế then chốt, trước hết là nông nghiệp và công nghiệp đều đạtđược tốc độ tăng trưởng cao Một trong những thành tựu kinh tế to lớn nhấttrong 10 năm vừa qua là phát triển nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lươngthực Sau nhiều năm kiên trì giải quyết vấn đề lương thực, đến nay an toànlương thực đã được khẳng định Sản lượng lương thực qui thóc năm 2000 đạt35,6 triệu tấn, tăng 14,1 triệu tấn so với năm 1990, bình quân mỗi năm trong
10 năm 1991- 2000 tăng trên 1,4 triệu tấn Do sản lượng lương thực tăngnhanh nên mặc dù trong 10 năm qua dân số nước ta đã tăng thêm gần 12,1triệu người nhưng lương thực qui thóc bình quân đầu người vẫn tăng từ327,5kg năm 1990 lên 458,2kg năm 2000 Nếu chỉ tính lương thực có hạtgồm lúa, ngô và lương thực có hạt khác, không tính khoai lang và sắn theoqui định mới phù hợp với thông lệ quốc tế thì sản lượng lương thực năm 2000đạt 34,5 triệu tấn, tăng 14,5 triệu tấn so với năm 1990 Lương thực bình quânđầu người tăng từ 303,2kg năm 1990 lên 443,9kg năm 2000 Lương thực sảnxuất được hàng năm không những đủ tiêu dùng trong nước mà còn xuất khẩumỗi năm 3-4 triệu tấn gạo, đưa nước ta vào danh sách những nước xuất khẩugạo hàng đầu của thế giới
Sản lượng lương thực bình quân đầu người tương đối cao và lưuthông lương thực dễ dàng, thuận tiện đã tạo điều kiện cho từng vùng, từng địaphương lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp với tiềm năng và lợi thế so sánhcủa mình theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao lượng giá trị trên một đơn
vị diện tích canh tác Do vậy, diện tích cây công nghiệp hàng năm năm 2000
đã đạt 808,7 nghìn ha, gấp gần 1,5 lần năm 1990; diện tích cây ăn quả 541,0nghìn ha, gấp trên 1,9 lần; diện tích cây công nghiệp lâu năm 1,4 triệu ha, gấp2,1 lần Cùng với gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, chè, lạc, rau quả đãtrở thành những mặt hàng nông sản xuất khẩu quan trọng Trong 10 năm1991-1995, bình quân mỗi năm xuất khẩu gạo tăng 7,6 %, hàng rau quả tăng