1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TIỂU LUẬN KINH tế CHÍNH TRỊ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN lực CHẤT LƯỢNG CAO để HÌNH THÀNH nền KINH tế TRI THỨC VIỆT NAM

52 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 252 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nền kinh tế tri thức (KTTT) lμ một môi tr−ờng KT XH tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự sản sinh, phổ biến, sử dụng tri thức; trong đó diễn ra quá trình chuyển biến tri thức thμnh sức mạnh sản xuất đạt tới trình độ cao và tri thức trở thμnh yếu tố sản xuất quan trọng nhất.Như vậy, xét về bản chất, nền KTTT là một sự biến đổi mang tính cách mạng so với nền kinh tế công nghiệp (KTCN). Các nhà nghiên cứu đã tổng kết những chỉ tiêu so sánh những khác biệt cơ bản giữa nền KTTT với nền kinh tế tồn tại trước nó – nền KTCN. Các chỉ tiêu đó bao gồm: Yếu tố sản xuất chủ yếu, công nghệ chủ đạo, ngành kinh tế chủ yếu, cơ cấu xã hội chủ yếu, yếu tố quyết định sức cạnh tranh, mô hình đổi mới...Tuy nhiên, tất cả sự khác biệt nêu trên đều được quyết định bởi một sự khác biệt mang tính bản chất của nền KTTT so với nền KTCN, đó là tri thức thay thế vốn và lao động, trở thành yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất quyết định sức mạnh phát triển trong thời đại ngày nay.

Trang 1

PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO

ĐỂ HÌNH THÀNH NỀN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM

================================

I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO ĐỂ HÌNH THÀNH NỀN KINH TẾ TRI THỨC

1.1 Sự hình thành nền kinh tế tri thức trong thời đại ngày nay

a Bản chất của nền kinh tế tri thức

Nền kinh tế tri thức (KTTT) lμ một môi trường KT - XH tạo điều kiệnthuận lợi nhất cho sự sản sinh, phổ biến, sử dụng tri thức; trong đó diễn ra quá

trình chuyển biến tri thức thμnh sức mạnh sản xuất đạt tới trình độ cao và tri

thức trở thμnh yếu tố sản xuất quan trọng nhất.

Như vậy, xét về bản chất, nền KTTT là một sự biến đổi mang tính cách

mạng so với nền kinh tế công nghiệp (KTCN) Các nhà nghiên cứu đã tổng

kết những chỉ tiêu so sánh những khác biệt cơ bản giữa nền KTTT với nềnkinh tế tồn tại trước nó – nền KTCN Các chỉ tiêu đó bao gồm: Yếu tố sảnxuất chủ yếu, công nghệ chủ đạo, ngành kinh tế chủ yếu, cơ cấu xã hội chủyếu, yếu tố quyết định sức cạnh tranh, mô hình đổi mới Tuy nhiên, tất cả sựkhác biệt nêu trên đều được quyết định bởi một sự khác biệt mang tính bản

chất của nền KTTT so với nền KTCN, đó là tri thức thay thế vốn và lao động,

trở thành yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất quyết định sức mạnh phát triển trong thời đại ngày nay

b Điều kiện thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế tri thức

* Theo cách tiếp cận của Ngân hàng thế giới

Ngân hàng thế giới đã tổng kết bốn trụ cột của nền KTTT hay bốn điềukiện cốt yếu nhất để một nước có đủ khả năng tham gia vào nền KTTT, baogồm:

- Giáo dục và đào tạo theo tiêu chuẩn cao;

- Cơ sở hạ tầng thông tin (từ radio đến Internet) năng động hữu hiệu,

Trang 2

thuận lợi cho việc truyền bá, xử lý thông tin.

- Môi trường kinh tế và thể chế phải rất thuận tiện cho lưu thông cácdòng tri thức, khuyến khích đầu tư vào ICT, khuyến khích mạnh mẽ các hoạtđộng sản xuất kinh doanh tăng cường ứng dụng và phát triển các công nghệmới

- Hệ thống đổi mới: đó là hệ thống tổ chức và cơ chế chính sách nhằmliên kết chặt chẽ các cơ quan nghiên cứu, các đại học, các doanh nghiệp vàcác tổ chức xã hội, nhằm tăng cường khả năng truy cập vào các kho tri thứctoàn cầu đang gia tăng nhanh, tiếp nhận và thích nghi nó cho nhu cầu phát triểncủa mình và tạo ra các công nghệ mới

b, Theo cách tiếp cận của OECD

Báo cáo của OECD, năm 2001 với tiêu đề “Nền kinh tế mới – huyền

thoại hay thực tế” đã phân tích khá sâu sự dịch chuyển cơ cấu đã làm tăng tốc

độ tăng trưởng trong các nền kinh tế OECD và đưa ra các kiến nghị liên quantới việc thúc đẩy các điều kiện tăng trưởng nền kinh tế mới:

- Tăng cường nền tảng kinh tế và xã hội, giữ vững sự ổn định kinh tế vĩ

mô, khuyến khích sự mở cửa trong thương mại, đầu tư , hệ thống tài chính

hỗ trợ đắc lực cho đổi mới, huy động ở mức cao nguồn nhân lực thích nghivới sự chuyển đổi cơ cấu, bảo đảm cho lợi ích của sự tăng trưởng được chia sẻ chomọi người

- Mở rộng việc sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): ICT

là một động lực thúc đẩy sự tăng trưởng và đổi mới kinh tế ; ICT được sửdụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực để tăng năng suất và đổi mới; tăngcường sự cạnh tranh và tiếp tục cải cách chính sách trong công nghiệp viễnthông, giảm giá, tạo điều kiện thuận lợi cho việc truy nhập vào hạ tầng truyềnthông; chính phủ điện tử phải trở thành ưu tiên hàng đầu

- Thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới; khích lệ các yếu tố mới về tăng

trưởng: ưu tiên cho nghiên cứu cơ bản nhằm tăng năng lực cạnh tranh; nâng

cao hiệu quả đầu tư của chính phủ cho đổi mới; sử dụng nhiều hơn nữa cơ chế

Trang 3

cạnh tranh trong đầu tư; có cách đánh giá nghiêm túc kết quả nghiên cứu; giữđược sự thăng bằng giữa bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ với quyền được truy cậpthông tin của mọi người Tháo gỡ các rào cản và những quy định pháp lý làmhạn chế mối liên kết giữa các đại học, doanh nghiệp và các cơ quan nghiêncứu công.

- Ưu tiên đầu tư vào vốn con người, nâng cao kỹ năng và năng lực trí

tuệ của lực lượng lao động, khắc phục khoảng cách về thông tin và tri thức;xây dựng nền tảng vững chắc cho giáo dục cơ bản; tăng cường mối liên hệgiữa trường học và thị trườn việc làm; huy động các doanh nghiệp tham giavào việc xác định nội dung, chương trình đào tạo; thu hút nhiều người laođộng vào giáo dục đại học; đẩy mạnh chiến lược học tập suốt đời; thiết lập hệthống đánh giá chất lượng thực sự nghiêm túc

- Khuyến khích mạnh sự phát triển các doanh nghiệp mới, bằng cách

tạo điều kiện thuận lợi trong việc sử dụng vốn đầu tư mạo hiểm, giảm thủ tụchành chính phiền hà, thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động sản xuất kinh doanhứng dụng công nghệ thông tin và các công nghệ khác

Từ những cách tiếp cận trên của WB và OECD, có thể khái quát về cácđiều kiện thiết yếu để hình thành nền KTTT (đặc biệt áp dụng cho các nướcđang phát triển) như sau:

Một là, thể chế chính trị – xã hội dân chủ, thường xuyên khuyến khích

sự sáng tạo và nâng cao sức cạnh tranh, khuyến khích sử dụng một cách có

hiệu quả những tri thức hiện có và tri thức mới, phát huy mọi khả năng sángtạo, thúc đẩy phát triển nhanh các doanh nghiệp mới, nhất là các doanhnghiệp dựa vào công nghệ mới

Hai là, tăng cường tiềm lực và chất lượng nguồn vốn tri thức thông qua

chiến lược phát triển nguồn nhân lực có kỹ năng, được đào tạo tốt

Ba là, nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia, xây dựng hệ

thống đổi mới quốc gia (NIS)

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng, phát triển mạnh mẽ và sâu rộng những tri

Trang 4

thức mới vào quá trình phát triển, trong đó coi trọng việc đẩy mạnh ứng dụng,phát triển tri thức về công nghệ thông tin và truyền thông.

Sự hình thành nền KTTT là một xu thế phát triển tất yếu trong thời đạingày nay Ở mỗi quốc gia, sự hình thành nền KTTT phụ thuộc vào rất nhiềuđiều kiện nhưng xét đến cùng, các điều kiện đó bị tác động bởi một điều kiệnbao trùm và mang tính chủ động nhất, đó là điều kiện về nguồn nhân lực có

kỹ năng, được đào tạo tốt – nguồn nhân lực CLC Các chuyên gia Liên hiệpquốc cũng đã khẳng định rằng, vào khoảng cuối thập kỷ thứ 3 của thế kỷ XXI,công nghệ cao sẽ tác động mạnh mẽ, sâu rộng đến toàn bộ nền kinh tế của các

nước phát triển, và lúc bấy giờ, các nước phát triển sẽ thực sự chuyển sang nền KTTT Các nước công nghiệp mới đang tăng tốc phát triển KTTT để đuổi

kịp các nước phát triển, nhiều nước trong nhóm đó có khả năng trở thành nền

KTTT sau vài ba thập kỷ tới Với phần lớn các nước đang phát triển, thì

khoảng cách đến nền KTTT hiện còn rất xa, vì khoảng cách về tri thức KH

-CN, về tổ chức, quản lý…khó mà khắc phục Tuy nhiên, Liên hiệp quốc cũngkhẳng định: Nếu các quốc gia này có chiến lược và chính sách đúng đắn hội

nhập vào nền KTTT toàn cầu, phát triển mạnh mẽ nguồn nhân lực có thể làm

chủ tri thức mới của thời đại – nguồn nhân lực chất lượng cao (CLC), thì có

thể đến nửa sau của thế kỷ XXI, các nước này cũng đi đến nền KTTT

1.2 Khái niệm, phân loại và vai trò Nguồn nhân lực chất lượng cao

là thể lực, trí lực và tâm lực

Trang 5

Nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội thông qua những khả năng về thể lực, trí lực và tâm lực của người lao động Nguồn nhân lực là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định sự phát triển KT – XH của mọi quốc gia

Xét về hình thức, cách hiểu trên là một cách hiểu về nguồn nhân lựctheo nghĩa hẹp Tuy nhiên, xét về bản chất, đó là cách hiểu nhấn mạnh tới khả

năng của lực lượng lao động - yếu tố quyết định nhất chất lượng nguồn nhân

lực Dựa vào đó, ta có thể phân biệt được chất lượng nguồn nhân lực, đồngthời thấy rõ được ý nghĩa của sự phân biệt ấy khi đánh giá những đóng gópquan trọng của nguồn nhân lực CLC vào quá trình sản xuất, tạo ra sản phẩmcho nền kinh tế và phát triển xã hội

* Nguồn nhân lực chất lượng cao

Thuật ngữ “Nguồn nhân lực CLC” xuất hiện phổ biến ở Việt Nam

trong những năm gần đây do những yêu cầu ngày càng cao về chất lượng

nguồn nhân lực của một nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập quốc tế.Trước thực tế này, Đại hội Đảng lần thứ X (2006) đã chính thức ghi trong

Văn kiện thuật ngữ “Nguồn nhân lực CLC” để khẳng định sự hiện diện của

một bộ phận nhân lực đầu tàu trong quá trình phát triển của đất nước Vănkiện nêu rõ: “Thông qua việc đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển

nguồn nhân lực CLC, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam”.

Khi bàn tới thuật ngữ nguồn nhân lực CLC, đại từ điển Kinh tế thị

trường của Trung Quốc cho rằng, đó là những người, trong điều kiện xã hội

nhất định, có tri thức chuyên môn nhất định, có năng lực và kỹ năng cao, vớitính lao động sáng tạo của bản thân trong điều kiện hoạt động xã hội, có khảnăng góp phần cống hiến nào đó đối với sự phát triển của xã hội

Ở Việt Nam, thuật ngữ nguồn nhân lực CLC thường được tiếp cận theonhiều cách thức khác nhau

Cách tiếp cận nhấn mạnh tới khả năng và vai trũ của nguồn nhõn lực

CLC gắn với quỏ trỡnh CNH, HĐH ở Việt Nam Cách tiếp cận này cho rằng,

Trang 6

nguồn nhân lực CLC là đội ngũ nhân lực có trỡnh độ và năng lực cao, là lựclượng xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên tiến, thực hiện có hiệuquả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực của mỡnh

đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa được mở rộng theo kiểu “vết dầu loang”,bằng cách dẫn dắt những bộ phận có trỡnh độ và năng lực thấp hơn, đi lên với

tốc độ nhanh Theo cách tiếp cận này, khả năng của nguồn nhân lực CLC thể hiện ở trình độ và năng lực cao ; vai trò của nguồn nhân lực CLC thể hiện ở

vai trò xung kích trong tiếp nhận và chuyển giao công nghệ tiên tiến và vai tròdẫn dắt những bộ phận nhân lực có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độnhanh

Cách tiếp cận nhấn mạnh tới trình độ chuyên môn cao và khả năng thích ứng nhanh của nguồn nhân lực CLC Cách tiếp cận này cho rằng, nguồn

nhân lực CLC là lực lượng lao động có học vấn, cú trỡnh độ chuyên môn cao

và nhất là có khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng củacông nghệ sản xuất

Cách tiếp cận về nguồn nhân lực CLC với tư cách là cá nhân người lao động riêng lẻ gắn với tiêu thức phân loại về chuyên môn, kỹ thuật Theo cách

tiếp cận này, nhân lực CLC là khái niệm để chỉ một con người, một người laođộng cụ thể có trỡnh độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với mộtngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuậtnhất định (trên đại học, cao đẳng, công nhân lành nghề)

Cách tiếp cận nhấn mạnh tới trình độ cao và khả năng thích ứng nhanh, đồng thời nhấn mạnh tới phẩm chất và khả năng sáng tạo tri thức của

nguồn nhân lực chất lượng cao Theo cách tiếp cận này, nguồn nhân lực CLC

là bộ phận tinh túy nhất của nguồn nhân lực Lực lượng này có trỡnh độ họcvấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động giỏi và có khả năngthích ứng nhanh với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất, cóphẩm chất tốt và có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹnăng đó được đào tạo vào quá trỡnh lao động sản xuất nhằm đem lại năng

Trang 7

suất, chất lượng, hiệu quả cao.

Dù các nhà nghiên cứu có những góc độ tiếp cận khác nhau về nguồnnhân lực CLC nhưng tổng hợp lại, có thể nhấn mạnh tới những đặc trưng cốtlõi sau của lực lượng này :

Một là, về vai trò và tầm quan trọng : Nguồn nhân lực CLC là lực

lượng lao động ưu tú nhất, thực hiện vai trò dẫn đường đối với nguồn nhân

lực nói chung trong quá trình phát triển KT – XH

Hai là, về số lượng : Nguồn nhân lực CLC chỉ bao gồm một bộ phận

nhân lực trong tổng số nguồn nhân lực quốc gia

Ba là, về chất lượng : Nguồn nhân lực CLC được đánh giá thông qua

các yếu tố cơ bản sau : (1) Phẩm chất đạo đức, (2) Trình độ chuyên mônnghiệp vụ được đào tạo, (3) Khả năng thích ứng và sáng tạo trong công việc.Tổng hợp từ những cách tiếp cận nêu trên, có thể khẳng định rằng:Nguồn nhân lực CLC là một bộ phận nhân lực quan trọng nhất của nguồnnhõn lực, cú trỡnh độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng laođộng giỏi, có năng lực sáng tạo, đặc biệt là khả năng thích ứng nhanh, đápứng được những yêu cầu của thực tiễn, biết vận dụng tri thức, kỹ năng đóđược đào tạo vào trong quá trỡnh lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất,chất lượng và hiệu quả cao; có phẩm chất đạo đức tiêu biểu

Như vậy, mặc dù thuật ngữ “Nguồn nhân lực CLC” còn đang được giớinghiên cứu bàn luận rất nhiều và chưa có một sự thống nhất chính thức nàođược thừa nhận, nhưng có ba điểm cốt lõi gắn liền với nguồn nhân lực CLClà: (1) trình độ được đào tạo cao, (2) phẩm chất đạo đức tốt, (3) khả năng đápứng được yêu cầu phức tạp của công việc trong những ngành có đóng gópquyết định vào sự tăng trưởng của nền kinh tế

* Nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền KTTT

Nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT, ngoài những đặc trưngchung, sẽ có đặc trưng riêng biệt để phù hợp và thích ứng với bối cảnh hìnhthành nền KTTT

Trang 8

Đặc trưng riêng của nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT bị

quy định bởi đặc trưng bản chất của nền KTTT Trong nền KTTT, tri thức

thay thế vốn và lao động, trở thành yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất quyếtđịnh sức mạnh phát triển trong thời đại ngày nay Vì vậy, có thể khẳng định:

“Nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT là lực lượng lao động ưu túnhất của nguồn nhân lực; có trình độ được đào tạo cao, có những phẩm chất

đạo đức tiêu biểu, những khả năng nổi trội trong việc thích ứng và sáng tạo tri

thức KH – CN hiện đại; lực lượng này đóng vai trò tiên phong trong quá trình

tạo ra những chuyển biến cơ bản để hình thành nền KTTT”

Quan niệm nêu trên nhấn mạnh tới khả năng nổi trội trong việc thíchứng và sáng tạo tri thức KH – CN hiện đại và coi đó là một đặc trưng cơ bảnnhất của nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT

* Phân loại nguồn nhân lực CLC

Việc phân loại nguồn nhân lực CLC nói chung thường căn cứ vào trình

độ được đào tạo và căn cứ vào tính chất phức tạp của những nghề nghiệp chuyên môn, kỹ thuật.

Căn cứ vào trình độ được đào tạo, nguồn nhân lực CLC bao gồm lao động qua đào tạo nghề cấp trình độ lành nghề cao và lao động chuyên môn.

Đó là những lao động có trình độ được đào tạo bậc Đại học (bao gồm cả Caođẳng, Đại học và Sau đại học)

Căn cứ vào tính chất phức tạp của những nghề nghiệp chuyên môn, kỹ thuật, nguồn nhân lực CLC bao gồm 2 nhóm: (1) Nhóm thứ nhất bao gồm

nhân viên kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ, kỹ sư thực hành Lực lượng lao độngnày làm việc trong những ngành nghề đòi hỏi trình độ kỹ thuật và tay nghềcao và phải được được đào tạo nghề cấp trình độ cao đẳng, đại học; (2) Nhómthứ hai bao gồm lao động quản lý, lao động nghiên cứu và lao động chuyêngia Đây là lực lượng lao động làm việc trong những ngành nghề đòi hỏi phải

có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo chuyên môn ở bậc đại học và sauđại học

Trang 9

Tuy nhiên, hai cách phân loại nêu trên là những cách phân loại nguồnnhân lực CLC nói chung, chưa gắn với đặc thù của nguồn nhân lực CLC đểhình thành nền KTTT.

Trong xu hướng hình thành và phát triển nền KTTT, cách phân loại laođộng được xem xét theo một cách mới, khác với những cách phân loại thông

thông thường trước đây Đó là cách phân loại theo tiếp cận công việc nghề

nghiệp của người lao động Theo cách phân loại này, lực lượng lao động được

chia thành: Lao động thông tin và lao động phi thông tin

- Lao động thông tin có thể chia thành hai loại: Lao động tri thức và laođộng dữ liệu Lao động dữ liệu (nhân viên kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ, kỹ

sư thực hành ) làm việc chủ yếu với thông tin đã được mã hoá, trong khi đólao động tri thức (lao động nghiên cứu và lao động chuyên gia) phải đươngđầu với việc sản sinh ra ý tưởng hay chuẩn bị cho việc mã hoá thông tin Laođộng quản lý nằm giữa hai loại hình này

- Lao động phi thông tin được chia ra lao động sản xuất hàng hoá vàlao động cung cấp dịch vụ Lao động phi thông tin dễ dàng được mã hoá vàthay thế bằng kỹ thuật, công nghệ

Như vậy, có thể phân loại lực lượng lao động ra thành năm loại: Laođộng tri thức, lao động quản lý, lao động dữ liệu, lao động cung cấp dịch vụ

và lao động sản xuất hàng hoá Mỗi loại lao động có những đóng góp khácnhau vào việc tạo ra sản phẩm, trong đó, nồng độ trí tuệ cao hay thấp trongsản phẩm lao động phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp của lực lượng lao độngtri thức, quản lý và phần nào của lao động dữ liệu Vì vậy, nếu phân loại lựclượng lao động theo cách tiếp cận công việc nghề nghiệp thì lực lượng lao

động CLC trong nền KTTT bao gồm ba lực lượng: Lao động tri thức, lao

động quản lý và lao động dữ liệu Đây là lực lượng lao động có trình độ đào

tạo bậc đại học (bao gồm cả cao đẳng, đại học và sau đại học) thì mới đáp ứngđược những yêu cầu về kỹ thuật và chuyên môn nghiệp vụ của công việc nghềnghiệp

Trang 10

* Vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao với việc hình thành nền KTTT

Nguồn nhân lực CLC là lực lượng ưu tú nhất của nguồn nhân lực, làlực lượng thực hiện vai trò tiên phong của mình trong quá trình hình thànhnền KTTT Vai trò tiên phong thể hiện ở tính luôn đi đầu, luôn định hướng vàluôn thúc đẩy mọi yếu tố dẫn tới sự hình thành nền KTTT cả trong ngắn hạn vàdài hạn Có thể nhấn mạnh vai trò tiên phong của nguồn nhân lực CLC để hìnhthành nền KTTT ở trên những khía cạnh sau:

- Vai trò tiên phong trong nắm bắt và định hướng quá trình hình thành nền

KTTT

Xu thế hình thành nền KTTT là một xu thế mới của thời đại trong thế

kỷ XXI Bất kỳ quốc gia nào muốn hình thành nền KTTT, trước tiên, phải

hiểu và nắm bắt được một cách chính xác, ở trình độ bản chất xu thế đó Đốivới các quốc gia đang phát triển, nơi mà trình độ nhận thức và tư duy của đại

bộ phận nguồn nhân lực còn bị hạn chế bởi chính những giới hạn thấp củatrình độ phát triển kinh tế đất nước, thì việc có một lực lượng đủ khả năngđóng vai trò tiên phong trong nắm bắt và định hướng quá trình hình thành nềnKTTT là điều kiện quan trọng hàng đầu để xây dựng nền móng cho quá trình

đó Nếu không có lực lượng đảm nhận vai trò này, việc hình thành nền KTTT

sẽ không bao giờ được hiện thực hoá ở các nước đang phát triển

Vậy, ở mỗi quốc gia, lực lượng nào sẽ là lực lượng có sứ mệnh đảmnhiệm vai trò tiên phong này? Đó chắc chắn không thể là đông đảo lực lượnglao động, mà trước hết phải là lực lượng lao động có trình độ được đào tạocao, có phẩm chất đạo đức tiêu biểu và có khả năng thích ứng và sáng tạo trithức hiện đại - đó là nguồn nhân lực CLC Nếu lực lượng này không đủ khátvọng, tầm nhìn, tư duy để thực hiện vai trò tiên phong của mình trong nắmbắt, định hướng cho quá trình hình thành nền KTTT của thời đại ngày nay, thìdân tộc họ sẽ không có lực khởi động trên hành trình hướng tới nền KTTT.Trong lực lượng đó, vai trò tiên phong có tính đột phá của cá nhân có thể tạo

Trang 11

nên những bước nhảy vọt cho công cuộc phát triển

Như vậy, nguồn nhân lực CLC chính là lực lượng tiên phong trong việcnắm bắt xu thế mới của thời đại để định hướng cho sự hình thành nền KTTTcủa quốc gia trong tương lai

- Vai trò tiên phong trong ứng dụng và triển khai tri thức hiện đại để hình thành nền KTTT

Vai trò tiên phong của nguồn nhân lực CLC không chỉ dừng lại ở việcnắm bắt và định hướng mà còn ở việc thúc đẩy trên thực tế các yếu tố để hiệnthực hoá quá trình hình nền KTTT Các yếu tố đó chính là việc ứng dụng vàtriển khai tri thức hiện đại để thực hiện quá trình thay đổi môi trường kinh tế-văn hoá- xã hội, tạo thuận lợi nhất cho việc học hỏi, đổi mới, sáng tạo để hìnhthành nền KTTT Tri thức hiện đại đó, trước hết bao gồm: tri thức quản trịquốc gia, tri thức KHXH, tự nhiên và công nghệ, tri thức quản trị kinh doanh.Vai trò tiên phong trong ứng dụng và triển khai tri thức hiện đại để hình thànhnền KTTT của nguồn nhân lực CLC bắt nguồn từ những yêu cầu sau của thựctiễn:

Một là, dưới tác động của cuộc CMKHCN, những tri thức hiện đại luôn

luôn thay đổi với quy mô và tốc độ cực nhanh Với những thay đổi nhanh

chóng đó, chỉ có nguồn nhân lực CLC mới có khả năng theo kịp để tiếp thu,ứng dụng và triển khai tri thức mới Thông qua vai trò tiên phong của họ, đại

bộ phận nguồn nhân lực mới có cơ hội tiếp xúc và triển khai trên quy mô rộngnhững tri thức hiện đại phục vụ thành công cho mục tiêu phát triển nềnKTTT

Hai là, ở các nước đang phát triển, khả năng cập nhật tri thức hiện đại

là rất kém Do đó, khoảng cách giữa trình độ tri thức hiện tại của những quốcgia kém phát triển so với trình độ tri thức hiện đại của thế giới là vô cùng lớn.Chỉ có thể trông cậy vào nguồn nhân lực CLC trong việc tăng tốc để bật lên,bắt kịp với tốc độ phát triển ngày càng nhanh của nguồn tri thức hiện đại, từ

đó ứng dụng cho quá trình hình thành nền KTTT Có như vậy, quốc gia đó

Trang 12

mới có những cơ hội xây dựng thành công nền KTTT trong tương lai.

- Vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức hiện đại để hình thành nền KTTT

Hình thành nền KTTT là một quá trình đòi hỏi tất yếu phải liên tục có

sự đổi mới và sáng tạo tri thức Tuy nhiên, sáng tạo tri thức, đặc biệt là nhữngtri thức theo kịp với xu hướng phát triển của thời đại, có giá trị kinh tế lớnkhông phải là khả năng vốn có của nguồn nhân lực nói chung Chỉ có nhữnglực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao, được làm việc trong nhữngmôi trường chuyên nghiệp mới tạo lập được khả năng sáng tạo tri thức khoahọc để hình thành nền KTTT Vai trò tiên phong trong sáng tạo tri thức khoahọc để hình thành nền KTTT của nguồn nhân lực chất lượng cao thể hiện ởnhững nội dung lớn sau :

+ Sáng tạo nên những con đường và cách thức phù hợp với đặc tính củadân tộc nhằm thực hiện thành công chiến lược hình thành nền KTTT ở mỗiquốc gia cụ thể

+ Sáng tạo lên những tác phẩm trong lĩnh vực KHXH nhằm khai sáng

tư tưởng cho cả dân tộc trong hành trình hướng tới nền KTTT – nền kinh tếbao hàm nhiều đặc tính mới và nhiều sự đột phá

+ Sáng tạo lên những tri thức khoa học tự nhiên và công nghệ – yếu tốđầu vào không thể thiếu trong quá trình sản sinh nền KTTT

+ Sáng tạo lên những mô hình, cách thức tổ chức, quản lý xã hội ; môhình, cách thức tổ chức, quản lý kinh tế mới, phù hợp với hành trình hướngtới nền KTTT

Tóm lại, nguồn nhân lực CLC chính là lực lượng đi đầu trong việc tạo

ra một chuỗi sáng tạo đồng bộ để góp phần hình thành nền kinh tế mới của

tương lai – nền KTTT

Như vậy, nguồn nhân lực CLC- thông qua trình độ, phẩm chất và khảnăng tiêu biểu của mình sẽ là lực lượng đóng vai trò tiên phong trong mọicông cuộc phát triển ở mỗi quốc gia Tại quốc gia nào, nguồn nhân lực CLCkhông được phát triển để thực thi vai trò tiên phong này thì quốc gia đó không

Trang 13

thể khởi động cho hành trình hướng tới nền KTTT trong tương lai

1.3 NỘI DUNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO ĐỂ HÌNH THÀNH NỀN KINH TẾ TRI THỨC

Phát triển nguồn nhân lực CLC là quá trình tạo ra sự chuyển biến cả về

số lượng và chất lượng nguồn nhân lực CLC Sự chuyển biến này phải gắn và

phải tương xứng với những chuyển biến mang tính cách mạng của thời đạiKTTT ngày nay Vì vậy, nội dung của quá trình phát triển nguồn nhân lựcCLC để hình thành nền KTTT nhất thiết phải bao gồm những vấn đề cơ bảnsau:

1.3.1 Gia tăng số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao

Để hình thành nền KTTT, cần phải có một lực lượng lao động được đàotạo tốt, có đủ kiến thức và kỹ năng cần thiết cho ngành mình làm việc, khôngngừng nâng cao kiến thức và kỹ năng, thích nghi được với sự phát triển nhanhchóng của khoa học và công nghệ

Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu, một trong những chỉ tiêu đểxác định sự hình thành và phát triển của một nền kinh tế ở trình độ KTTT là,

trong nền kinh tế đó “70% lực lượng lao động là công nhân tri thức” Tuy

nhiên, khái niệm “công nhân tri thức” chưa có sự thống nhất trong cách hiểu,

có rất nhiều định nghĩa khác nhau về công nhân tri thức Có quan điểm chorằng, công nhân tri thức “là những người làm việc bằng trí óc để trực tiếp làm

ra sản phẩm, như những lập trình viên, những nhà thiết kế công nghệ, thiết kếsản phẩm trên máy tính, những người điều khiển máy móc đòi hỏi có trình độ

tri thức nhất định…” “Có nước coi những người làm công tác quản lý, những

viên chức chính phủ cũng là công nhân tri thức” Có quan điểm lại khẳng

định, công nhân tri thức là “những người lao động, được đào tạo có kiến thức

và trình độ nghề nghiệp cao” Tuy có những cách hiểu khác nhau về côngnhân tri thức, nhưng nhìn chung, ở các nước đang dần hiện hữu nền KTTT,lực lượng công nhân tri thức tăng lên rất nhanh Đặc biệt, ở các nước OECD,lượng công nhân tri thức theo dự báo, “sẽ tăng lên 80%” so với 50% những

Trang 14

năm đầu thế kỷ XXI.

Như vậy, muốn phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành nềnKTTT, trước tiên phải gia tăng nhanh chóng số lượng lao động tri thức, laođộng quản lý và lao động dữ liệu Lực lượng này phải chiếm tỷ trọng vượt trộitrong tổng lực lượng lao động quốc gia Trong đó, phải đặc biệt chú trọng tới

việc gia tăng số lượng lao động tri thức và lao động dữ liệu (bao gồm đội ngũ

nhân lực khoa học – công nghệ) - đó là lực lượng nòng cốt tiếp thu, ứng dụng

và sáng tạo tri thức khoa học công nghệ hiện đại để đưa nền kinh tế quốc giathích ứng với trình độ phát triển của nền KTTT Việc gia tăng số lượng nguồnnhân lực CLC là điều kiện cần để phát triển lực lượng này

Trong nền KTCN, cách thức tổ chức lao động phổ biến là mô hình sảnxuất hàng loạt kiểu Taylo Đây là cách thức tổ chức lao động đề ra yêu cầu tốithiểu về kỹ năng đối với lực lượng lao động Chỉ cần thành thạo một số độngtác lặp đi, lặp lại và không cần phải động não, lực lượng lao động có thể hoànthành được nhiệm vụ của họ

Trong nền KTTT, do tác động của rất nhiều yếu tố, nhu cầu của ngườitiêu dùng trở nên cao cấp hơn Sản phẩm của phương thức sản xuất hàng loạtkhông thu hút được người tiêu dùng trên toàn cầu Sự tinh tế và khác biệttrong mỗi sản phẩm trở thành một thị hiếu nổi trội và đồng thời cũng mang lạinhững giá trị kinh tế rất cao cho sản phẩm Do đó, mô hình sản xuất linh hoạt,

sử dụng công nghệ chế tạo theo chuyên môn hoá linh hoạt đang dần đượcthay thế bởi mô hình sản xuất hàng loạt Quan điểm nền tảng trong cách tổchức này cho rằng: chính những người lao động trực tiếp là người biết đượccách thức nào là tốt nhất, tiết kiệm nhất để thực hiện quy trình công việc trêndây chuyền linh hoạt, do vậy, hệ thống sáng kiến được triển khai từ dưới lên

và sản xuất được cải tiến liên tục theo hệ thống sáng kiến đó

Như vậy, nhu cầu đối với nguồn nhân lực CLC tồn tại ở mọi xã hội

nhưng trong nền KTTT, nhu cầu này có một sự phát triển về chất Trong nền

KTCN, nhu cầu đối với nguồn nhân lực CLC tuy rất cần thiết song chỉ ở quy

Trang 15

mô không lớn Nền sản xuất hàng loạt theo dây chuyền với sự phân tách chi

tiết chức năng lao động trí óc và lao động chân tay chỉ sản sinh cầu đối vớinguồn nhân lực CLC không phải trong các vị trí lao động giản đơn mà chủyếu là quản lý cấp cao chủ chốt, vốn chiếm một tỷ phần rất nhỏ trong toàn bộlực lượng lao động Trong nền KTTT, ngược lại, nhu cầu cầu lớn hơn đối vớinguồn nhân lực CLC không chỉ thể hiện ở lực lượng lao động gián tiếp, cácnhà phân tích xử lý thông tin, thiết kế và tư vấn và còn đối với lực lượng laođộng trực tiếp tham gia các nhóm làm việc trong mô thức tổ chức sản xuấtlinh hoạt Sự mở rộng quy mô nhu cầu này chính là sự đột biến về chất củanhu cầu đối với nguồn nhân lực CLC trong nền kinh tế, cho phép nền kinh tế

có bước nhảy vọt về phát triển so với các nền KTCN và nền KTNN trước đó

để hình thành nền KTTT

1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực CLC

Xu hướng hình thành nền KTTT gắn với xu hướng phát triển một sốngành đặc thù, được gọi là ngành công nghiệp tri thức (knowledge intensiveindustry) Ngành công nghiệp tri thức là những ngành sản xuất, dịch vụ dựanhiều vào tri thức, có hàm lượng tri thức cao, trong đó có những ngành đượccoi là những ngành sản xuất quan trọng nhất của nền KTTT như: giáo dục đàotạo, đặc biệt là giáo dục đại học, những ngành ứng dụng KH - CN…

Ngành giáo dục và đào tạo được coi là ngành sản xuất cơ bản nhấttrong nền KTTT Bởi đó được coi là ngành sản xuất ra tri thức – yếu tố đầuvào quan trọng nhất của nền KTTT Bởi vậy, yêu cầu phát triển ngành giáodục - đào tạo, trong đó thúc đẩy nhanh việc phát triển giáo dục đại học là mộtchiến lược cần thực hiện nếu các quốc gia muốn theo kịp xu hướng của thờiđại ngày nay Vì vậy, cần phải có một đội ngũ giảng viên tương ứng để thựcthi quá trình phát triển giáo dục đại học Lực lượng lao động tri thức cần được

thu hút để chuyển dịch sang ngành này Đây sẽ là lực lượng sáng tạo ra

những người sáng tạo trong nền KTTT.

Ngành CNTT được coi là ngành công nghiệp tri thức cơ bản dùng làm

Trang 16

nguồn cho các ngành công nghiệp tri thức chuyên ngành trong các lĩnh vực cụthể khác Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà nhiều người gọi nền kinh tế mới

là nền kinh tế thông tin Sự phát triển của dòng thông tin (tức nguồn thông tin

và việc xử lý thông tin) và CNTT là tiền đề của nền KTTT, thậm chí là mộtmặt nổi trội của nền KTTT CNTT ra đời và phát triển kéo theo nhu cầu sửdụng nhiều kỹ sư máy tính và các nhà quản lý mạng Trong khi đó dòng thôngtin đòi hỏi nhiều hơn các nhà xử lý và phân tích thông tin Số lượng thông tintrong thời đại ngày ngày nay là vô cùng lớn và luôn thay đổi vì vậy cùng cầnmột số lượng nhiều tương ứng những nhà xử lý và phân tích thông tin, các kỹ

sư máy tính và các nhà quản lý mạng để phát triển ngành CNTT và truyềnthông – một ngành nền tảng để phát triển KTTT trong thời đại ngày nay

Như vậy, cơ cấu nguồn nhân lực CLC phải có sự dịch chuyển mạnhsang những ngành công nghiệp tri thức để tạo lực cho sự hình thành nềnKTTT Sự chuyển dịch này phải làm gia tăng nhanh chóng lực lượng giảngviên đại học có trình độ cao, đồng thời phải làm gia tăng nhanh chóng đội ngũnhân lực KH - CN Sự chuyển dịch này phải làm cho cơ cấu nguồn nhân lựcCLC có sự thay đổi đột phá đối với những lực lượng kể trên Sự chuyển dịchnày chủ yếu hướng tới sự chuyển dịch cơ cấu nhân lực CLC ở những ngànhcông nghiệp tri thức cơ bản

1.3.3 Hình thành và phát huy những tố chất phù hợp với yêu cầu của thời đại kinh tế tri thức ở nguồn nhân lực chất lượng cao

Để hình thành nền KTTT – một nền kinh tế có sự khác biệt cơ bản vềchất so với nền KTCN, nguồn nhân lực CLC cũng phải thể hiện sự khác biệttương xứng Vì vậy lực lượng này phải hình thành được và phát huy trên thực

tế những tố chất đặc trưng của nguồn nhân lực CLC thời đại KTTT

* Hình thành và phát huy tố chất dân tộc

Tố chất dân tộc của nguồn nhân lực CLC thể hiện ở lòng yêu nước vàtinh thần dân tộc Tuy nhiên, tố chất dân tộc không phải là những biểu hiện vềlòng yêu nước và tinh thần tự tôn dân tộc như một tình cảm, ý thức đơn thuần,

Trang 17

mà chúng phải biến thành khát vọng thay đổi để thúc đẩy đội ngũ nhân lựcCLC thực hiện những hành động cụ thể, góp phần tạo lên sự chuyển biến thực

sự cho đất nước trong quá trình hình thành nền KTTT Đối với những quốcgia đang phát triển, việc hình thành và phát huy tố chất dân tộc là nội dungnền gốc trong phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT Sựkhẳng định này dựa trên những lý do cơ bản sau:

Về mặt lý luận, bất kỳ một công cuộc phát triển nào cũng cần sự kết

hợp của sức mạnh vật chất và sức mạnh tinh thần Sức mạnh vật chất là cóhạn, nhưng sức mạnh tinh thần, khi đã trở thành khát vọng, “nó sẽ giải phóngmột năng lượng khủng khiếp của con người; nó sẽ cung cấp nhiên liệu để đẩycác tổ chức, các quốc gia vượt lên trước và thành công” Vì vậy, dù sức mạnhvật chất có hạn chế đến đâu, thì sự phát triển vẫn có thể hiện hữu và hiện hữumột cách “thăng hoa”, nếu biết khai thác kho sức mạnh tinh thần Các nướcđang phát triển là những nước có nền tảng vật chất cho phát triển KTTT vôcùng hạn chế, nhưng nếu các quốc gia này biết khai thác và phát huy hiệu quảsức mạnh tinh thần của toàn dân tộc, đặc biệt là của lực lượng ưu tú trong xãhội, thì cuộc hành trình đến nền KTTT sẽ có lực đẩy để thành công

Về mặt thực tiễn, không ít các quốc gia trên thế giới đã chứng minh giá

trị hàng đầu của sức mạnh tinh thần trong việc tạo ra những đột phá để pháttriển kinh tế Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc là những tấm gương sáng củathế kỷ XX trong việc phát huy tối đa hiệu quả sức mạnh tinh thần để vươn lênmạnh mẽ từ nghèo đói và lạc hậu

Như vậy, việc hình thành tố chất dân tộc là một nội dung không thểthiếu trong quá trình phát triển nguồn nhân lực CLC để hình thành nền KTTT

Tố chất này lại càng cần thiết đối với nguồn nhân lực CLC tại các quốc giađang phát triển, nơi có điểm xuất phát rất thấp trong hành trình hướng tới nềnKTTT Tố chất dân tộc biểu hiện một cách đa dạng thông qua những đội ngũnhân lực tiên phong nhất: (1) Sự quan tâm đến thực trạng phát triển lạc hậucủa đất nước ở đội ngũ lãnh đạo quốc gia, (2) Sự dũng cảm của đội ngũ nhà

Trang 18

khoa học xã hội trong việc đề xuất ý tưởng táo bạo nhằm tạo bước phát triểnđột phá cho đất nước, (3) Mức độ trong sạch (thông qua chỉ số tham nhũng)của đội ngũ cán bộ trong bộ máy công quyền, (4) Khát vọng của đội ngũdoanh nhân trong việc tạo lập văn hoá kinh doanh thích ứng với xu hướngphát triển KTTT…

* Hình thành và phát huy tố chất thích ứng

Tố chất thích ứng được biểu hiện ra ở khả năng tự điều chỉnh, khả năng

thích nghi để làm chủ trước sự thay đổi nhanh chóng của vốn tri thức nhân loại Chỉ khi nào nguồn nhân lực CLC hình thành được khả năng này ở tầm

cao tương xứng với thời đại thì quốc gia đó mới có thể hình thành nền KTTTtrong tương lai Sự khẳng định này dựa vào những lý do cơ bản sau:

Thứ nhất, nền KTTT là một nền kinh tế mà ở đó có những thay đổi toàn

diện so với nền KTCN Sự thay đổi diễn ra cả về nội dung, quy mô và tốc độphát triển Trong tất cả những thay đổi đó, sự thay đổi mang tính bản chất

nhất và quyết định nhất tới tất cả những thay đổi khác, đó là vai trò của tri

thức đối với sự phát triển trong nền KTTT có sự khác biệt cơ bản so với nền

KTCN

Thứ hai, đối với các nước đang phát triển, khả năng thích ứng và linh

hoạt còn là sự thể hiện bản lĩnh “hai tốc độ” của nguồn nhân lực CLC tronghấp thụ, trong cải biến vốn tri thức của thời đại Bởi, nguồn nhân lực CLC củacác nước đang phát triển có một điểm xuất phát rất thấp trên con đường hấpthụ và cải biến vốn tri thức ấy Họ vừa phải tiếp thu những thành quả của nềnKTCN để tiến hành công nghiệp hoá, vừa phải học tập những tri thức mớinhất của thời đại để hiện đại hoá thì mới có thể thực hiện thành công quá trìnhhình thành nền KTTT Như vậy, sự cần thiết của việc hình thành tố chất thíchứng ở nguồn nhân lực CLC tại các nước đang phát triển còn tăng lên gấp hailần để giúp các nước này rút ngắn khoảng cách phát triển và tạo đà theo kịp

xu hướng phát triển của KTTT

* Hình thành và phát huy tố chất sáng tạo

Trang 19

Thời đại CMKHCN, mà tựu trung là thời đại của văn minh trí tuệ hiệnnay, thực chất là thời đại của những phát minh và sáng tạo Nếu tố chất thíchứng cao độ của nguồn nhân lực CLC giúp cho các quốc gia bắt nhịp được vớicuộc CMKHCN để hình thành nền KTTT, thì tố chất sáng tạo vượt trội củanguồn nhân lực CLC sẽ là yếu tố giúp cho các quốc gia đạt tới đỉnh cao của

sự phát triển nền KTTT Điều này có nghĩa là, xét về lâu dài, “chỉ đơn thuầnbắt kịp cái mà người khác đã làm là cần thiết để tiếp tục sự có mặt trong cuộcchơi, nhưng cuối cùng thì kẻ chiến thắng sẽ là những ai có khả năng sáng tạo

ra các cuộc chơi hoàn toàn mới”

Đối với các quốc gia phát triển, sáng tạo trở thành dòng chính của triết

lý sống trong thế kỷ XXI Vì vậy, tại những quốc gia phát triển nhất, “Khoa

học sáng tạo” (Heuristics Creatology) đã tách ra thành một khoa học riêng,

nhằm “khoa học hoá tư duy sáng tạo” Cùng với sự ra đời của “Khoa học sáng

tạo”, rất nhiều Học thuyết sáng tạo đã hình thành như: Six Hats của Edward

de Bôn; Mindmapping của Tony Buzan, TRIZ, ARIZ của Altshuller…, trong

đó Genrich Saulovich Altshuller được coi là cha đẻ của phương pháp luậnsáng tạo với học thuyết sáng tạo TRIZ (Theory of Inventive Problem Solving)– học thuyết xây dựng “con người sáng tạo” bằng những phương pháp giúpcon người có thể học rất tự nhiên, không hề gò bó, nhưng mang lại cho họ khảnăng nhạy bén và sáng tạo hơn hẳn Theo học thuyết TRIZ, sự sáng tạo thểhiện ở năm mức độ khác nhau trong việc giải quyết vấn đề nảy sinh:

Mức độ 1: Không cần sự sáng tạo, chỉ cần vận dụng những phương pháp

trong chuyên ngành để giải quyết vấn đề Có 32% sử dụng cách thức này để giảiquyết vấn đề

Mức độ 2: Cải tiến chút ít hệ thống đã có bằng những phương pháp đã

biết trong chuyên ngành và thường có một vài thoả hiệp Khoảng 45% sửdụng cách thức này để giải quyết vấn đề

Mức độ 3: Cải tiến cơ bản hệ thống đã có bằng phương pháp đã biết

ngoài chuyên ngành Khoảng 18% sử dụng cách này để giải quyết vấn đề

Trang 20

Mức độ 4: Tạo ra những nguyên lý mới mang tính khoa học nhiều hơn

công nghệ để giải quyết những vấn đề cơ bản Có 4% sử dụng phương phápnày để giải quyết những vấn đề cơ bản

Mức độ 5: Có một phát hiện khoa học hiếm hoi hay một phát minh tiên

phong để giải quyết những vấn đề hoàn toàn mới Khoảng 1% sử dụng phươngpháp này để giải quyết vấn đề

Các nước phát triển, đặc biệt là các nước phát triển hàng đầu, đang nỗlực phát huy tối đa mức độ sáng tạo của nguồn nhân lực để luôn tạo ra nhữngthành tựu KH-CN đỉnh cao của thời đại, hình thành nền KTTT với nghĩa đầy

- Hai mức độ sau của sự sáng tạo sẽ không nhằm mục đích vận dụng để

sáng tạo ra những thành tựu khoa học mới, mang tính đột phá, đại diện tiêubiểu cho trình độ phát triển cao của nền KTTT Quan trọng là, vận dụng haimức độ sáng tạo đó để hình thành lên những tư tưởng mới, để tìm ra conđường, cách thức, mô hình độc đáo, tạo nên sự đột phá trong việc chuyển biếnmôi trường kinh tế- văn hoá- xã hội Đó là môi trường tạo điều kiện tốt nhấtcho sự đổi mới và sáng tạo, hình thành văn hoá đổi mới và sáng tạo cho đấtnước

Như vậy, trong thời đại ngày nay, sáng tạo và đổi mới đã trở thành một

đặc tính văn hóa của những dân tộc biết vươn lên thích ứng với xu hướng

phát triển mới, nó không chỉ là khả năng ở mỗi cá nhân riêng lẻ Vì vậy, đểhình thành nền KTTT, nguồn nhân lực CLC của mỗi quốc gia phải hình thành

và phát huy được đặc tính tiêu biểu này của thời đại Tố chất sáng tạo của

Trang 21

nguồn nhân lực CLC không những thể hiện ra ở khả năng phát minh, sáng chế

ra những sản phẩm KHCN mà quan trọng và cốt lõi nhất là ở sự cách mạng vàđổi mới trong quan niệm, trong lối tư duy, trong cách nghĩ và cách làm chủ quátrình phát triển

Sự hình thành và phá huy ba tố chất nêu trên là sự kết hợp giữa tố chấtdân tộc và những tố chất thời đại Chúng được gọi chung là những tố chất thờiđại KTTT của nguồn nhân lực CLC Khát vọng đổi thay, sự thích ứng và sángtạo của nguồn nhân lực CLC ở thời đại nào cũng là yêu cầu cần thiết nhưngtrong thời đại KTTT, chúng phải được hình thành và phát huy ở một đội ngũnhân lực CLC đông đảo Điều quan trọng hơn là, khát vọng đổi thay, sự thíchứng và sáng tạo phải nhanh và phải nhiều tương xứng với với sự thay đổi như

vũ bão của thông tin và tri thức trong thời đại ngày nay

Tóm lại, những nội dung nêu trên hướng tới việc phát triển nguồn nhânlực CLC để hình thành nền KTTT cả về số lượng và chất lượng Đó là những

nội dung hướng tới việc phát triển về chất, phát triển mang tính bước ngoặt

đối với nguồn nhân lực CLC trong thời đại có sự chuyển biến mang tính cáchmạng của nhân loại hiện nay

II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO

ĐỂ HÌNH THÀNH NỀN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Thực trạng gia tăng số lượng nguồn nhân lực chất lượng cao

2.1.1 Sự gia tăng số lượng lao động trình độ đại học trên tổng số lao động

Theo số liệu thống kê, năm 2001, lao động bậc đại học ở Việt Nam là

Trang 22

độ cao đẳng, đại học là 1.381.999 và sau đại học là 25.224 Đến năm 2007,lao động bậc đại học là 3.130.365 người, chiếm 7% tổng lực lượng lao động.Như vậy, trung bình từ năm 2001 đến 2007, lao động bậc đại học ở Việt Namtăng 246.163 người/năm Như vậy, tốc độ gia tăng hàng năm của lao độngtrình độ đại học là rất cao Tuy nhiên, do có số lượng ít, nên tỷ trọng của laođộng trình độ đại học của Việt Nam còn ở mức thấp, chỉ khoảng 7% tổng lựclượng lao động.

Bảng 2.1: Quá trình gia tăng lực lượng lao động trình độ đại học giai

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và đào

tạo và Báo cáo của Bộ lao động, thương binh, xã hội năm 2008.

Như vậy, trong những năm gần đây, mặc dù số lượng nguồn nhân lựctrình độ đại học ở Việt Nam có sự gia tăng nhanh chóng nhưng vẫn chiếmmột tỷ lệ rất ít trong tổng lực lượng lao động Đây là một tỷ lệ còn ở khoảngcách rất xa so yêu cầu về phát triển số lượng nguồn nhân lực trình độ đại học

để hình thành nền KTTT Tỷ lệ này ở Mỹ hiện nay là 40% và ở các nướctrong khối OECD là 34% Ở Hàn Quốc, những năm đầu thập kỷ 90 (XX), tỷ

lệ này là 19%

Trong tổng số nhân lực trình độ đại học, cả nước hiện có hơn 14.000tiến sĩ khoa học và Tiến sĩ, 1.131 Giáo sư, 5.253 Phó Giáo sư và khoảng20.000 thạc sĩ Với số lượng trên, Việt Nam là một nước có số lượng lớn laođộng có bằng cấp trình độ sau đại học trong khu vực Đông Nam Á

2.1.2 Sự gia tăng chỉ số sinh viên trên một vạn dân

Trang 23

Theo số liệu tổng hợp từ Bộ Giáo dục đào tạo, từ Bộ Lao động, thươngbinh và xã hội, năm 2000, Việt Nam có 135 sinh viên/vạn dân, năm 2007 là

165 sinh viên/vạn dân, năm 2009 là 196 sinh viên/vạn dân

Bảng 2.2: Tỷ lệ sinh viên/vạn dân của Việt Nam

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và đào tạo và

Báo cáo của Bộ lao động, thương binh, xã hội năm 2009.

Từ năm 2000 đến 2009, số lượng sinh viên/ vạn dân tăng trung bình 7,8người một năm Với mức độ tăng như trên, năm 2010, tỷ lệ sinh viên/vạn dân

sẽ đạt khoảng 200 Điều này có nghĩa là mục tiêu tăng tỷ lệ sinh viên/vạn dân

mà Nghị quyết về Đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam

2006 – 2020 của Chính phủ đề ra sẽ được thực hiện Tuy nhiên, theo kinh

nghiệm của các nước đã thành công trong phát triển đột phá ở khu vực Đông

Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore, thì phải đạt chỉ số sinh viên/vạn dân

từ 300 đến 400 mới đủ nguồn nhân lực trình độ cao, tạo bước nhảy vọt trongphát triển kinh tế Vì vậy, dù đạt được chỉ tiêu đề ra đến năm 2010 nhưng chỉ

số này của Việt Nam còn thấp so với nhu cầu phát triển đột phá để hình thànhnền KTTT trong bối cảnh hiện nay Điều này cũng có nghĩa là, những quanđiểm cho rằng, Việt Nam đang ở trong tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” làkhông hợp lý Thực ra, Việt Nam đang thiếu cả “thầy” và “thợ” cho nhu cầuphát triển theo hướng KTTT

2.1.3 Nguồn hình thành nhân lực trình độ đại học

Sự gia tăng số lượng nhân lực trình độ đại học phụ thuộc rất lớn vào sốlượng sinh viên, quy mô tuyển mới và sinh viên tốt nghiệp hàng năm Năm

2007, tổng số sinh viên của cả nước là 1.603.484, trong đó có 504,9 nghìnsinh viên tuyển mới và 233,9 nghìn sinh viên tốt nghiệp So với năm học

2001, số lượng sinh viên tăng 629,4 nghìn người, với tốc độ tăng trung bình9%/năm

Trang 24

Bảng 2.3: Số lượng sinh viên, quy mô tuyển mới và tốt nghiệp đại học – cao

Nguồn: Bộ Giáo dục và đào tạo và Báo cáo của Bộ lao động,

thương binh, xã hội năm 2008.

Tốc độ gia tăng số lượng sinh viên ở Việt Nam là tương đối cao, tuynhiên mới chỉ đáp ứng được 1/6 nhu cầu học đại học của thanh niên ViệtNam Như vậy, nguồn hình thành nhân lực trình độ đại học ở Việt Nam mặc

dù gia tăng với một tốc độ tương đối cao nhưng so với nhu cầu học tập củangười dân còn một khoảng cách rất lớn Hơn thế nữa, so với tỷ lệ sinh viêntrong độ tuổi 20 – 24 của một số nước trong khu vực thì tỷ lệ này ở Việt Namthấp hơn Thái Lan tới 4 lần, thấp hơn Trung Quốc 1,5 lần và thấp hơn HànQuốc tới 8,9 lần Đây thực sự là một thách thức rất lớn trong quá trình giatăng nguồn nhân lực CLC phục vụ cho quá trình phát triển đột phá để hình thànhnền KTTT ở Việt Nam

2.2 Thực trạng điều chỉnh cơ cấu nguồn nhân lực chất lượng cao

2.2.1 Biến động nguồn nhân lực trình độ đại học theo vùng miền

Trang 25

Từ năm 2001 đến năm 2007, mặc dù tỷ trọng nhân lực trình độ đại họccủa khu vực Đồng bằng sông Hồng – nơi tập trung khoảng 1/3 số nhân lựctrình độ đại học của cả nước có giảm nhưng sự chênh lệch lớn về số lượng sovới các vùng khác còn rất lớn Đặc biệt, so với khu vực Tây nguyên, Trung dumiền núi phía Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long, sự chênh lệch này là rấtlớn Tính đến năm 2007, nếu tổng số nhân lực trình độ đại học tập trung ởĐồng bằng sông Hồng là 1.054.805 người thì ba vùng đã nêu lần lượt chỉ có:153.070, 371.696 và 372.648 người.

2.2.2 Điều chỉnh cơ cấu giảng viên đại học

Trong thời đại KTTT, khi khả năng sáng tạo tri thức của nguồn nhânlực được đề cao và là một tố chất không thể thiếu thì vai trò của đội ngũ giảngviên đại học lại càng trở nên đặc biệt Ở Việt Nam, đội ngũ giảng viên đại học

có sự gia tăng nhưng mức tăng thấp hơn mức gia tăng chung của đội ngũ nhânlực trình độ đại học và mức tăng số sinh viên đại học

a, Điều chỉnh cơ cấu giảng viên đại học trong đội ngũ nhân lực trình độ đại học

Bảng 2.4: Cơ cấu giảng viên đại học trong đội ngũ nhân lực trình

độ đại học giai đoạn 2001 -2007

Năm

Giảng viên đại học (người)

Nhân lực trình

độ đại học (người)

Số nhân lực trình độ đại học/giảng viên

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và đào tạo và

Báo cáo của Bộ lao động, thương binh, xã hội năm 2007.

Như vậy, từ năm 2001 đến 2007, số lượng giảng viên đại học tăng từ35.938 lên 62.350 người, với tốc độ tăng trung bình là 10%/năm, trong khi đó

số nhân lực trình độ đại học tăng hơn 20%/năm làm cho cơ cấu giảng viên đại

Trang 26

1,99% năm 2007 và tỷ lệ nhân lực trình độ đại học/giảng viên đại học tăng từ

39 người năm 2001 lên 58 người năm 2007 Điều này tạo lên sức ép rất lớnđối với đội ngũ giảng viên đại học trong quá trình đào tạo nhân lực trình độđại học cho đất nước Vì muốn hình thành nền KTTT, lực lượng nhân lựctrình độ đại học cần phải gia tăng một cách mạnh mẽ và mang tính đại trà ỞViệt Nam, lực lượng này mới chỉ chiếm 7% lực lượng lao động quốc gia Nếugia tăng hơn nữa việc đào tạo nhân lực trình độ đại học thì đội ngũ giảng viênđại học sẽ phải làm việc quá tải khiến cho chất lượng GDĐH càng trở lên yếukém Cơ cấu ngày càng giảm của đội ngũ giảng viên đại học trong tổng nhânlực trình độ đại học thể hiện sự bị động của ngành giáo dục nói riêng và củachiến lược phát triển nguồn nhân lực CLC ở Việt Nam nói chung

b, Điều chỉnh tỷ lệ sinh viên/giảng viên

Bảng 2.5: Cơ cấu giảng viên đại học trong tổng số sinh viên và tỷ

lệ sinh viên/giảng viên giai đoạn 2001 -2007

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và đào tạo và

Báo cáo của Bộ lao động, thương binh, xã hội năm 2007.

Tốc độ tăng của giảng viên không theo kịp tốc độ tăng của sinh viênnên tỷ lệ sinh viên/giảng viên đã tăng từ 27 lên đến 30 từ năm 2001 đến 2007

So sánh tỷ lệ này vào những năm 1990 – 1995 mới càng thể hiện rõ sự giatăng không theo kịp của đội ngũ giảng viên đại học so với sinh viên Năm

1990, tỷ lệ sinh viên trên giảng viên là 5,9 rồi tăng lên 13,1 năm 1995 tức làlớp học hiện nay đông gấp 5 lần năm 1990 và gấp 3 lần năm 1995 Tỷ lệ nàyvượt xa tỷ lệ trung bình của các đại học Mỹ Đại học hàng đầu như Harvard,Yale, tỷ số sinh viên trên một giảng viên là 7 Đặc biệt như California

Ngày đăng: 18/08/2018, 09:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w