1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mở rộng vốn từ cho trẻ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề chủ đề nghề nghiệp

44 568 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đề giúp trẻ lĩnh hội được những kinh nghiệm sống, làm giàu vốn từ, phát triển ngôn ngữ đối thoại, học được lời nói diễn cảm và hoàn thiện mình hơn về đạo đức…Thông qua trò chơi đóng vai

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

NGUYỄN THỊ HÀ

MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO TRẺ 4 – 5 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI

THEO CHỦ ĐỀ - CHỦ ĐỀ NGHỀ NGHIỆP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục mầm non

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

======

NGUYỄN THỊ HÀ

MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO TRẺ 4 – 5 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI

THEO CHỦ ĐỀ - CHỦ ĐỀ NGHỀ NGHIỆP

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Giáo dục mầm non

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Sư phạm

Hà Nội 2, các thầy cô khoa Giáo dục mầm non đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình học tập tại trường và tạo điều kiện cho em thực hiện tốt khóa luận tốt nghiệp

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo ThS Lê Bá Miên – người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này

Trong quá trình nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Kính mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp để đề tài này thực sự có chất lượng và hữu ích

Em xin chân thành cảm ơn

Hà Nội, tháng 04 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Hà

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Để hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, em đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của thầy Lê Bá Miên, cùng với

sự giúp đỡ của quý thầy cô và sự đóng góp ý kiến của các bạn trong khoa Mầm non Trong quá trình tiến hành nghiên cứu, em đã đọc những tài liệu tham khảo có liên quan đến những vấn đề trong đề tài của mình Em xin cam đoan những kết quả trong khóa luận này là của riêng em Kết quả nghiên cứu không trùng với bất cứ một kết quả nào của những tác giả khác

Hà Nội, tháng 04 năm 2018

Sinh viên

Nguyễn Thị Hà

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3.1 Mục đích 3

3.2 Nhiệm vụ 3

4 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

5.1 Phương pháp quan sát 3

5.2 Phương pháp trò chuyện 4

5.3 Phương pháp thực nghiệm tác động 4

5.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động 4

6 Cấu trúc khóa luận 4

PHẦN 2: NỘI DUNG 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Cơ sở lí luận 5

1.1.1 Từ và vấn đề mở rộng vốn từ 5

1.1.1.1 Từ 5

1.1.1.2 Vốn từ 5

1.1.1.3 Vấn đề mở rộng vốn từ 6

1.1.2 Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non 7

1.1.2.1.Vốn từ xét về mặt số lượng 8

1.1.2.2 Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại 9

1.1.2.3 Khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ mầm non 10

1.1.2.4 Sự phát triển vốn từ của trẻ 11

1.1.3 Đặc điểm tâm lý của trẻ 4- 5 tuổi 11

Trang 6

1.2 Cơ sở thực tiễn 13

CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP MỞ RỘNG VỐN TỪ CHO TRẺ 4- 5 TUỔI THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO CHỦ ĐỀ- CHỦ ĐỀ NGHỀ NGHIỆP 16

2.1 Trò chơi đóng vai theo chủ đề 16

2.1.1 Khái niệm 16

2.1.2 Đặc điểm của trò chơi đóng vai theo chủ đề 16

2.1.3 Vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với trẻ mẫu giáo 16

2.1.4 Vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề- chủ đề nghề nghiệp đối với trẻ 4- 5 tuổi 18

2.2 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 19

2.2.1 Đảm bảo tính giáo dục 19

2.2.2 Đảm bảo tính tự nguyện, tính tự lập 20

2.2.3 Đảm bảo tính hợp tác 20

2.2.4 Đảm bảo tính sáng tạo của trẻ 20

2.3 Các biện pháp mở rộng vốn từ cho trẻ 4- 5 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề - chủ đề nghề nghiệp 20

2.3.1 Cho trẻ được tiếp xúc, hoạt động nhiều với đồ chơi thuộc chủ đề nghề nghiệp 21

2.3.2 Giới thiệu tranh 22

2.3.3 Trò chuyện cùng trẻ trong tiết học 23

2.3.4 Sử dụng một số trò chơi 24

3.3 Thực nghiệm sư phạm 26

3.3.1 Mục đích thực nghiệm 26

3.3.2 Đối tượng thực nghiệm 26

3.3.3 Thời gian thực nghiệm 26

3.3.4 Nội dung thực nghiệm 26

Trang 7

3.3.5 Giáo án thực nghiệm 27

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 35

3.1 Kết luận 35

3.2 Kiến nghị 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO 37

Trang 8

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân, đặt nền tảng đầu tiên cho việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Những kĩ năng mà trẻ tiếp thu được ở chương trình giáo dục mầm non sẽ là bước đi đầu tiên, là tiền đề của trẻ trên con đường học hành cũng như trong cuộc sống sau này Chương trình giáo dục mầm non ở Việt Nam luôn trú trọng phát triển toàn diện cho trẻ ở các mặt : nhận thức, thể chất, ngôn ngữ, tình cảm – xã hội và thẩm mỹ Trong số đó thì lĩnh vực phát triển ngôn ngữ là một trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của nghành giáo dục mầm non Lê- nin đã từng viết “ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” Thật vậy, trong cuộc sống con người, trong sự phát triển của

xã hội loài người ngôn ngữ là phương tiện để phát triển tư duy, là công cụ để biểu đạt tư tưởng, tình cảm giúp trẻ phát triển hài hòa và toàn diện

Một trong những thành công của giáo dục mầm non là cho trẻ sử dụng được thành thạo tiếng mẹ đẻ của mình trong đời sống hàng ngày Bởi vậy mà vấn đề phát triển ngôn ngữ cho trẻ rất được các nhà giáo dục quan tâm song

do điều kiện từng địa phương, từng vùng miền mà ngôn ngữ của trẻ chỉ phát triển tương đối chứ chưa chính xác và đồng đều Nhiều trẻ chưa phát âm rõ câu, nói ngọng, nói không đủ câu, vốn từ nghèo nàn….dẫn đến việc diễn đạt câu từ, thể hiện ngữ điệu của trẻ kém Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc tiếp thu bài và tham gia các hoạt động khác Do đó việc mở rộng vốn từ , luyện phát âm và dạy trẻ nói đúng ngữ pháp, có biểu cảm là nhiệm vụ cực kì quan trọng

Trò chơi đóng vai theo chủ đề là một trò chơi đặc biệt Khi tham gia vào trò chơi, trẻ sẽ được “hóa thân” vào các vai chơi, hòa mình vào các nhân vật với nội tâm phong phú, phức tạp Kết quả của trò chơi đóng vai theo chủ

Trang 9

đề giúp trẻ lĩnh hội được những kinh nghiệm sống, làm giàu vốn từ, phát triển ngôn ngữ đối thoại, học được lời nói diễn cảm và hoàn thiện mình hơn về đạo đức…Thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề sẽ tạo cho trẻ một không gian rộng lớn về sự sáng tạo , phát triển trí tuệ, nhờ đó mà ngôn ngữ của trẻ trở nên phong phú hơn, mạch lạc hơn, tư duy tưởng tượng và trí nhớ cũng được phát triển

Hiện nay, ở các trường mầm non đã chú trọng việc mở rộng vốn từ cho trẻ thông qua các môn học, các hoạt động của trẻ ở trường Việc sử dụng trò chơi đóng vai theo chủ đề nhằm phát triển vốn từ cho trẻ rất phổ biến, tuy nhiên thường thì trò chơi đóng vai chủ yếu được tổ chức theo các chủ đề: chủ

đề bản thân, chủ đề gia đình, chủ đề động vật, thực vật…Còn ở chủ đề nghề nghiệp vẫn phổ biến nhưng không được giáo viên chú trọng trong việc mở rộng vốn từ cho trẻ Phần lớn giáo viên chưa biết cách sử dụng các phương pháp, chưa để ý đến việc sử dụng từ và hiểu nghĩa của từ là đúng hay không khi trẻ “hóa thân” vào các nghành nghề trong xã hội Trong khi đó đối với trẻ mẫu giáo , đặc biệt là trẻ 4- 5 tuổi thì đây được coi là giai đoạn then chốt cần trang bị và hình thành vốn từ phong phú, toàn diện cho trẻ để trẻ phát triển ngôn ngữ một cách tối đa

Từ những lý do trên, tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài “ Mở rộng vốn từ cho trẻ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề - chủ đề nghề nghiêp” làm đề tài nghiên cứu

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Việc sử dụng trò chơi trong dạy học không phải là vấn đề mới được đặt

ra mà ngay từ đầu thế kỷ XX, nhà tâm lý học Thụy Sỹ J.Paget đã rất quan tâm đến phương pháp này “thông qua hoạt động vui chơi để tiến hành hoạt động học tập”

Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả quan tâm đến việc sử dụng phương

Trang 10

pháp này trong từng môn học cụ thể Đó là PGS.TS Nguyễn Ánh Tuyết với cuốn sách “ giáo dục mầm non những vấn đề lý luận và thực tiễn”, hay “ Tâm

lý học trẻ em lứa tuổi mầm non”,v.v Trong những cuốn sách này tác giả đã

đề cập đến vai trò của trò chơi đóng vai theo chủ đề đối với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ một cách khái quát Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu

cụ thể cách thức xây dựng nội dung chương trình, và phương pháp tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề qua đó phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo nói chung

và trẻ mẫu giáo nhỡ nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Làm giàu vốn từ cho trẻ 4- 5 tuổi và tích lũy tư liệu cho việc giảng dạy

về phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo nhỡ

3.2 Nhiệm vụ

Nghiên cứu cơ sở lý luận về từ, mở rộng vốn từ, trẻ 4- 5 tuổi và trò chơi đóng vai theo chủ đề Nghiên cứu thực trạng việc mở rộng vốn từ của trẻ 4- 5 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề- chủ đề nghề nghiệp ở trường mầm non Từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm mở rộng vốn từ cho trẻ và thực nghiệm tác động các biện pháp đã đề xuất vào quá trình mở rộng vốn từ cho trẻ trẻ 4- 5 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề- chủ đề nghề nghiệp

4 Đối tượng nghiên cứu

Sự phát triển vốn từ của trẻ 4- 5 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề- chủ đề nghề nghiệp

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp quan sát

Dự tiết dạy của giáo viên, qua đó nắm được vốn từ và khả năng diễn đạt của trẻ Quan sát hành động và ghi chép trung thực ngôn ngữ của trẻ

Trang 11

5.2 Phương pháp trò chuyện

Trao đổi với các giáo viên về đề tài nghiên cứu Trò chuyện với trẻ, hỏi trẻ một số câu hỏi nhằm làm rõ hơn vốn từ và khả năng diễn đạt của trẻ, chẳng hạn về cảm xúc, hứng thú của trẻ khi trẻ đóng vai

5.3 Phương pháp thực nghiệm tác động

Đề tài đã sử dụng phương pháp thực nghiệm tác động như sau:

Chia lớp nghiên cứu thành hai nhóm có số lượng trẻ và chất lượng ngôn ngữ tương đương

Nhóm thực nghiệm được tác động bằng nội dung trò chơi đóng vai theo chủ đề trọng tâm là chủ đề nghề nghiệp

Nhóm đối chứng được dạy bằng nội dung và phương pháp tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề - chủ đề nghề nghiệp ở trường mầm non Hùng Vương

Sau một thời gian thực nghiệm tác động xem xét sự phát triển vốn từ ở nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng có khác nhau không?

5.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Người nghiên cứu ghi lại, hệ thống lại những từ ngữ mà trẻ nói ra trong quá trình tham gia trò chơi đóng vai theo chủ đề- chủ đề nghề nghiệp Trên cơ

sở đó đưa ra nhận xét về sự phát triển vốn từ của trẻ

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận và kiến nghị thì phần nội dung còn có hai chương gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương 2: Biện pháp

Trang 12

PHẦN 2: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lí luận

1.1.1 Từ và vấn đề mở rộng vốn từ

1.1.1.1 Từ

Từ là vấn đề được nhiều nhà Việt ngữ học quan tâm và tìm hiểu Cho đến nay, đã có khoảng 300 định nghĩa về từ Ở đây chúng tôi dựa trên quan điểm về từ tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu

“Từ của Tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt”

1.1.1.2 Vốn từ

Vốn từ của một ngôn ngữ là “tổng số và hệ thống toàn bộ từ và cụm từ

cố định của ngôn ngữ đó” Mỗi một ngôn ngữ phát triển có một khối lượng từ phong phú có thể lên tới hàng chục vạn từ Vốn từ vựng của một ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ không đồng nhất và có đặc trưng khác nhau Trong vốn từ vựng của bất kì ngôn ngữ nào cũng tồn tại những từ mới

Với mỗi cá nhân, vốn từ không tỉ lệ thuận với vốn từ trong ngôn ngữ chung của cả cộng đồng mà nó phụ thuộc vào sự phát triển trí tuệ, nhận thức, văn hóa của mỗi cá nhân Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lí học thì vốn từ của những người có trình độ văn hóa cao là khoảng 6000 – 9000 từ, của một nhà thiên tài là xấp xỉ 20.000 từ

Dựa vào tần số sử dụng của các từ trong đời sống xã hội, người ta phân chia vốn từ thành hai loại: vốn từ tích cực và vốn từ thụ động Vốn từ tích cực

là những từ được con người nắm vững, có tần số sử dụng cao trong cuộc sống hàng ngày Vốn từ thụ động gồm những từ ít hoặc không được sử dụng Đó là những từ không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại ( tem, phiếu, bao cấp…)

Trang 13

hoặc mang nghĩa riêng, chưa được sử dụng rộng rãi

Đối với trẻ mầm non, vốn từ tích cực là những từ trẻ hiểu được và biết vận dụng trong các tình huống giao tiếp Còn vốn từ thụ động là những từ trẻ chưa hiểu ý nghĩa hoặc có hiểu nhưng không biết vận dụng trong giao tiếp (không nói ra được) Như vậy nghiên cứu phát triển vốn từ cho trẻ không chỉ

là mở rộng vốn từ, làm giàu vốn từ về mặt số lượng mà phải tích cực hóa vốn

từ trong giao tiếp

1.1.1.3 Vấn đề mở rộng vốn từ

Phát triển vốn từ cho trẻ là một bộ phận trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non Bởi vì từ là đơn vị có nghĩa của lời nói, có thể dùng độc lập, bao gồm đầy đủ cả hai mặt: âm thanh và ý nghĩa Trong từ phản ánh những sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh cũng như các đặc điểm của nó Việc phát triển vốn từ cho trẻ phải được tiến hành cùng với việc mở rộng và nâng cao nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh Đây là hai mặt có quan hệ hữu

cơ và không thể tách rời nhau Trường mầm non có nhiệm vụ phát triển vốn

từ cho trẻ cả về số lượng và chất lượng Dạy trẻ không chỉ biết nhiều từ, mà còn phải hiểu từ, sử dụng đúng từ, loại ra những từ không đẹp trong lời nói của trẻ, dạy trẻ biết cách sử dụng một số biện pháp tu từ đơn giản trong giao tiếp hàng ngày

Phát triển vốn từ được hiểu như là một quá trình lâu dài trẻ tích lũy vốn từ, hiểu nghĩa của từ và hình thành cách sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp cụ thể Trẻ chỉ lĩnh hội nghĩa của từ khi nào từ được sử dụng trong câu, trong lời nói Vì vậy, công tác phát triển vốn từ cần được tiến hành chặt chẽ với việc phát triển ngôn ngữ mạch lạc ở trẻ Xem xét quá trình hình thành

và phát triển vốn từ ở trẻ, ta có thể thấy được trẻ lĩnh hội nghĩa cụ thể của từ

và nội dung khái niệm của từ, nó có liên quan đến quá trình nhận thức của trẻ; đồng thời, trẻ còn lĩnh hội vốn từ như là một yếu tố của lời nói như cách sử

Trang 14

dụng từ, dùng từ thay thế, dùng từ có mức độ khác nhau, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa…cách sử dụng từ trong câu

Phát triển vốn từ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ Lĩnh hội vốn từ là điều kiện quan trọng để phát triển trí tuệ và để giải quyết nhiệm vụ tích lũy và chính xác hóa biểu tượng, hình thành khái niệm, phát triển tư duy Vốn từ nghèo nàn ảnh hưởng đến giao tiếp của trẻ Cùng với việc phát triển vốn từ, chúng ta thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức và thẩm mỹ

Do đó, công tác phát triển vốn từ là hoạt động giáo dục có chủ định, có

kế hoạch nhằm giúp trẻ lĩnh hội vốn từ hiệu quả

1.1.2 Đặc điểm vốn từ của trẻ mầm non

Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp, học tập và vui chơi Ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển của tâm lý trẻ em Bên cạnh đó ngôn ngữ còn là phương tiện để giáo dục trẻ một cách toàn diện bao gồm sự phát triển về đạo đức, tư duy nhận thức và các chuẩn mực hành vi văn hóa Trong đó vốn từ là nền móng để phát triển ngôn ngữ, mà ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong

sự phát triển về trí tuê của trẻ Vốn từ được sử dụng trong lời nói được coi là một phương tiện tác động rất tinh tế trong hệ thống xây dựng môi trường sư phạm có định hướng, bởi trong ngôn ngữ nói không chỉ chứa thông tin mà còn có cả ý nghĩa tình cảm

Ngôn ngữ lúc đầu của trẻ còn sơ khai, xuất phát từ thế giới xung quanh Các câu nói của trẻ chưa hoàn thiện mà phải trải qua quá trình trao đổi, tiếp xúc với nhiều người xung quanh mà vốn từ của trẻ được tăng lên theo thời gian Từ những quá trình học hỏi đó mà câu nói của trẻ dần hoàn thiện và nói được câu hoàn chỉnh Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ diễn ra nhanh nhất là từ 0- 6 tuổi ( độ tuổi mầm non) Bắt đầu từ khi sinh ra trẻ chưa có ngôn ngữ cho đến cuối 6 tuổi thì trẻ đã có thể sử dụng thành thạo ngôn ngữ trong các hoạt

Trang 15

động vui chơi, sinh hoạt hàng ngày Đó được gọi là giai đoạn phát cảm về ngôn ngữ Nếu không có những điều kiện để phát triển ngôn ngữ trong giai đoạn này thì về sau khó có thể phát triển tốt nhất

Từ một năm đến 1 năm 5 tháng, trẻ bắt chước người lớn, lặp lại những

từ nghe được: bà, bố, mẹ, ủ (ngủ)…Số lượng từ có thể đạt từ 30- 40 từ

Từ tháng thứ 6 của năm thứ hai, vốn từ tăng lên vùn vụt và đến cuối năm thứ hai các em có thể có đến 500 từ đến 600 từ Đến năm thứ ba, các em

đã sử dụng được 1300 từ, trong đó phần lớn là danh từ, động từ, còn tính từ

và những loại từ khác chiếm một tỉ lệ rất ít, không đáng kể Theo Nguyễn Xuân Khoa nghiên cứu về ngôn ngữ của trẻ em, ở trẻ 4 tuổi, vốn từ của trẻ có thể có được khoảng 1900 từ đến 2000 từ, trong đó danh từ và động từ vẫn chiếm ưu thế, còn tính từ và các loại từ khác còn ít sử dụng Trẻ 5 tuổi có thể

sử dụng được từ 2500 từ đến 2600 từ, còn trẻ 6 tuổi có khoảng 3000 từ đến

4000 từ, trong đó tính từ và các loại từ khác đã chiếm một tỉ lệ cao hơn

Theo thống kê của Đinh Hồng Thái, ở năm thứ 3 trẻ đã sử dụng được trên 500 từ, phần lớn là danh từ, động từ, tính từ và các từ loại khác rất ít danh

từ chỉ đồ chơi, đồ dùng quen thuộc, các con vật gần gũi như: mèo, chó, chim, động từ chỉ hoạt động gần gũi của trẻ và những người xung quanh như: ăn, uống, ngủ,…Trẻ 4 tuổi có thể nắm được xấp xỉ 700 từ Ưu thế vẫn thuộc về danh từ và động từ Hầu hết các loại từ đã xuất hiện trong vốn từ của

Trang 16

trẻ Từ 5- 6 tuổi vốn từ của trẻ tăng bình quân đến 1033 từ, tính từ và các loại

từ khác chiếm một tỉ lệ cao hơn

Số lượng vốn từ của trẻ do các nhà khoa học nghiên cứu là khác nhau, tuy nhiên đó là sự chênh lệch không lớn: bởi vì vốn từ của trẻ còn phụ thuộc vào các yếu tố khác nhau như sự tiếp xúc với những người xung quanh, trình

độ của bố mẹ…

1.1.2.2 Vốn từ xét về mặt cơ cấu từ loại

Cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ là một tiêu chí để đánh giá chất lượng vốn từ Số lượng từ loại càng nhiều bao nhiêu thì càng tạo điều kiện cho trẻ diễn đạt thuận lợi bấy nhiêu Các loại từ xuất hiện dần dần trong vốn

từ của trẻ Ban đầu chủ yếu là danh từ, sau đó động từ và tính từ và các loại từ khác xuất hiện muộn hơn

Theo nhà nghiên cứu Lưu Thị Lan:

Theo Đinh Hồng Thái, ở trẻ 3- 4 tuổi về cơ bản vốn từ của trẻ đã có đầy

đủ các loại từ Tuy nhiên tỉ lệ danh từ và tính từ cao hơn nhiều so với các loại

từ khác: Danh từ chiếm 38%; động từ chiếm 3%; còn lại là tính từ 6,8%; Đại

từ 3,1%; phó từ 7,8%; tình thái từ 4,7%; quan hệ từ và số từ còn ít xuất hiện (số từ 2,5%; quan hệ từ 1,7%)

Giai đoạn 5- 6 tuổi cũng là giai đoạn hoàn thiện một bước cơ cấu từ loại trong vốn từ của trẻ Tỉ lệ danh từ, động từ giảm đi nhường chỗ cho tính

Trang 17

từ và các loại từ khác tăng lên: Tính từ đạt tới 15%; quan hệ từ tăng lên đến 5,7%; còn lại là các loại khác

1.1.2.3 Khả năng hiểu nghĩa của từ của trẻ mầm non

Khả năng hiểu nghĩa của từ là một quá trình đi từ hình ảnh cảm giác đến sự khái quát ý nghĩa

Theo Fedorenko (Nga), ở trẻ em có 5 mức độ hiểu nghĩa khái quát của từ:

- Mức độ zêro( không): Cuối tuổi lên một, đầu tuổi lên hai, trẻ tương ứng tên gọi với một người cụ thể (Bà, Hùng, bàn, bát…) để chỉ một vật cụ thể, riêng biệt (nghĩa biểu danh)

- Mức độ thứ nhất của sự khái quát: Cuối tuổi lên hai, trẻ nắm được mức độ thứ nhất của sự khái quát, tức là tên gọi chung của đối tượng cùng loại (đồ vật, hành động, tính chất): “ Bóng” chỉ một quả bóng bất kì, “Búp bê” chỉ một con búp bê bất kì nào ( nghĩa biểu niệm ở mức độ thấp)

- Mức độ thứ hai của sự khái quát: Trẻ nắm được mức độ thứ hai của sự khái quát, tức là tên gọi chung của những sự vật không cùng loại: “Quả” có thể chỉ bất kì loại quả nào đó ( quả cam, đu đủ, táo ); “Xe” có thể chỉ bất kì loại xe nào (xe ô tô, xe đạp…) Cam, đu đủ, chuối: mức độ thứ nhất của sự khái quát; Qủa: mức độ thứ hai của sự khái quát

- Mức độ thứ ba của sự khái quát: Trẻ khoảng năm, sáu tuổi có thể nắm được mức độ thứ ba của sự khái quát: “đồ vật” có thể chỉ đồ chơi (búp bê, ô

tô, máy bay…), đồ gỗ (giường, tủ, bàn ghế…), đồ nấu bếp (nồi, chảo, bát, đĩa…)

- Búp bê: mức độ thứ nhất của sự khái quát

- Đồ chơi: mức độ thứ hai của sự khái quát

- Đồ vật: mức độ thứ ba của sự khái quát

- Mức độ thứ tư của sự khái quát: là những từ biểu thị sự khái quát tối

Trang 18

đa như: Vật chất, hành động, trạng thái, chất lượng, số lượng, quan hệ…Khả năng nắm được mức độ thứ tư của sự khái quát xuất hiện vào tuổi thiếu niên Trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi cũng có thể hiểu được một số khái niệm mang tính khái quát ở mức độ thứ tư nhưng phải thường xuyên được làm quen, hiểu đựơc nghĩa của từ, được thực hành với những từ ngữ đó và gắn với những tình huống cụ thể

1.1.2.4 Sự phát triển vốn từ của trẻ

Năng lực tư duy trừu tượng gắn liền với sự phát triển vốn từ Được biết rằng từ 5 đến 9 tuổi vùng trán trên vỏ não đã tham gia tích cực vào sự phát triển lời nói, chữ viết Vốn từ của trẻ được phát triển thuận lợi Từ 1,5 tuổi trở

đi trẻ đã biết mở rộng phạm vi áp dụng vốn từ của mình vào những đối tựơng khác

Theo một nghiên cứu của Lưu Thị Lan (1994) sự phát triển vốn từ của trẻ mẫu giáo ở nước ta như sau :

Điều đó cho thấy nếu trẻ em ở nước ta được đến trường sớm và được các cô giáo có trình độ đạt chuẩn chăm sóc và giáo dục thì chắc chắn ngôn ngữ sẽ tạo điều kiện căn bản cho trẻ vào lớp một

1.1.3 Đặc điểm tâm lý của trẻ 4- 5 tuổi

Để xử lý tình huống xảy ra trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ là cả một nghệ thuật, nhất là khi trẻ em còn ở độ tuổi thơ dại Chính vì vậy để vận

Trang 19

dụng khả năng sư phạm của mình trong việc giải quyết tốt các tình huống xảy

ra giáo viên ở các trường mẫu giáo ngoài tình yêu nghề, yêu trẻ, tinh thần trách nhiệm cao, sự cần mẫn, kiên trì còn cần phải có sự hiểu biết nhất định về đặc điểm tâm lý của trẻ

Đối với trẻ 4- 5 tuổi đặc điểm đầu tiên là đặc điểm về hoạt động vui chơi Ở độ tuổi nào con người cũng đều tham gia vào các hoạt động vui chơi, nhưng chỉ ở tuổi mẫu giáo mà ở chính giữa cái tuổi ấy ( tức là mẫu giáo nhỡ) thì hoạt động vui chơi mới mang đầy đủ ý nghĩa của nó nhất, cũng tức là nó đạt tới dạng chính thức và biểu hiện đầy đủ nhất đặc điểm của hoạt động vui chơi, nhiều hơn cả là trò chơi đóng vai theo chủ đề Do đã có ít nhiều vốn kinh nghiệm về cuộc sống nên trẻ 4- 5 tuổi đã có thể lựa chọn chủ đề và nội dung chơi cũng như cần có bạn chơi “tâm đầu ý hợp” để vui chơi bền hơn, vui hơn

Trong hoạt động vui chơi, trẻ thể hiện rõ rệt tính tự lực, tự do và chủ động Trong quá trình vui chơi, trẻ bộc lộ hoàn toàn tâm trí của mình, nhận thức, tình cảm, ý chí, nói năng đều tỏ ra tích cực và chủ động Trong khi vui chơi, trẻ mẫu giáo nhỡ thể hiện tính tự lực, tự do rất rõ, ít lệ thuộc vào người lớn và hoàn toàn tùy thuộc vào ý thích của mình Và đặc biệt trẻ ở độ tuổi 4- 5 tuổi đã biết thiết lập những quan hệ rộng rãi và phong phú với các bạn cùng chơi Một “xã hội trẻ em” được hình thành

Đặc điểm thứ hai của trẻ 4- 5 tuổi là sự phát triển mạnh tư duy trực quan hình tượng và có khả năng suy luận

Tiếp theo là sự phát triển đời sống tình cảm Trong lứa tuổi ấu nhi cũng như lứa tuổi mẫu giáo thì tình cảm thống trị tất cả các mặt trong hoạt động tâm lý của trẻ; nhưng đặc biệt ở độ tuổi 4- 5 tuổi thì đời sống tình cảm của trẻ

có một bước chuyển biến mạnh mẽ, vừa phong phú vừa sâu sắc hơn so với lứa tuổi trước đó

Trang 20

Nhận xét: Ở trẻ mẫu giáo nhỡ về cơ bản vốn từ của trẻ đã có đầy đủ các

từ loại Tuy nhiên, tỉ lệ danh từ và động từ cao hơn nhiều so với các loại khác

- Danh từ chiếm 30% trong đó danh từ chiếm số lượng nhiều nhất gồm những loại sau:

Danh từ gọi tên các đồ vật : nhiệt kế, ống nghe, dao xây,còi,…

Danh từ chỉ đồ chơi quen thuộc: ô tô, xe máy, các loại quả,

Danh từ chỉ bộ phận cơ thể: mắt, tay, chân, mũi,…

- Động từ chiếm 26%

Ví dụ: Với động từ “ ăn” Những ngữ cảnh cụ thể của từ “ăn” :

Em Hoa ăn đi

Chị Hà ăn hết bánh của con

Con thích ăn thịt

- Tính từ chiếm 6,2% Trong đó tính từ chỉ màu sắc như: xanh, đỏ, đen,…

Trang 21

- Đại từ chiếm 2,9% Ví dụ: em, tôi, tớ, mình,

Khi sử dụng từ ngữ, trẻ thường mắc một số loại lỗi sau:

Dùng danh từ chưa chính xác Ví dụ: Bụi cây gọi là vườn cây

Dùng động từ chưa chính xác Ví dụ: Anh bắt đền em đi ( đáng ra phải nói: Anh đền em đi)

Trẻ thường nhầm lẫn các màu sắc:

Màu xanh có cháu nói là màu vàng Màu đỏ có cháu nói màu hồng

Màu nâu có cháu gọi là màu đen

Qua hai tháng thực tập, tuy không nhiều nhưng được trực tiếp giảng dạy và quan sát giờ tổ chức hoạt động chơi trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non Hùng Vương em đã thấy được thực trạng việc mở rộng vốn

từ cho trẻ mẫu giáo, đặc biệt là ở trẻ 4- 5 tuổi Dưới đây em xin đưa ra những khó khăn và thuận lợi ảnh hưởng đến việc thực hiện mở rộng vốn từ thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề

Trang 22

Phúc lên vị trí xứng đáng là trường chuẩn quốc gia

Bên cạnh những thuận lợi trên, giáo viên ở trường mầm non Hùng Vương gặp phải những khó khăn như

Ngày đăng: 17/08/2018, 16:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Thanh Ân “ giáo dục học mầm non” tập 1,2, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo dục học mầm non
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
12. Tạ Thị Ngọc Thanh(1980), “Dạy trẻ phát âm đúng và làm giàu vốn từ cho trẻ”, NXB giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy trẻ phát âm đúng và làm giàu vốn từ cho trẻ
Tác giả: Tạ Thị Ngọc Thanh
Nhà XB: NXB giáo dục
Năm: 1980
2. Bộ giáo dục và đào tạo(2010), Chương trình giáo dục Mầm non, NXB giáo dục Khác
3. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ trước tuổi đi học. Tài liệu dịch, NXB Hà Nội Khác
4. Lê Thu Hương, Hướng dẫn tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục trong trường mầm non theo chủ đề, NXB giáo dục Việt Nam Khác
5. Nguyễn Xuân Khoa(1997), Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, NXB ĐHQG Hà Nội Khác
6. Hoàng Thị Oanh, Phạm Thị Việt, Nguyễn Kim Đức (2001), phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ dưới 6 tuổi, NXB ĐHQG Hà Nội Khác
7. Nguyễn Ánh Tuyết (2002), Hoạt động vui chơi với trẻ em lứa tuổi mẫu giáo, NXB giáo dục Hà Nội Khác
8. Nguyễn Xuân Khoa, Phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo, NXB ĐHSP Khác
9. Nguyễn Ánh Tuyết, Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB ĐHSP Khác
10. Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp, Tiếng việt thực hành, NXB ĐHQG Hà Nội Khác
11. Lưu Thị Lan (1977), Những bước phát triển ngôn ngữ trẻ em, NXB ĐHQG Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w