TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA GIÁO DỤC MẦM NON ====== NGUYỄN THỊ XINH PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN THÔNG QUA CÁC BÀI THƠ TRONG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ K
Trang 1VĨNH YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
HÀ NỘI, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
======
NGUYỄN THỊ XINH
PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN
THÔNG QUA CÁC BÀI THƠ TRONG CHƯƠNG
TRÌNH PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ (KHẢO SÁT TẠI
TRƯỜNG MẦM NON NGÔ QUYỀN – THÀNH PHỐ
VĨNH YÊN - TỈNH VĨNH PHÚC)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Giáo dục mầm non
Người hướng dẫn khoa học
TS LÊ THỊ THÙY VINH
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình làm khóa luận này Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo Lê Thị Thùy Vinh – người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình để em
có thể hoàn thành khóa luận
Trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận, dù đã cố gắng nhưng do thời gian và năng lực có hạn, đề tài chắc chắn vẫn còn nhiều thiếu sót và hạn chế
Vì vậy, em mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Xinh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi với sự hướng dẫn tận tình của cô giáo TS Lê Thị Thùy Vinh Đề tài chưa được công
bố trong bất cứ một công trình khoa học nào khác
Hà Nội, tháng 5 năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Thị Xinh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Cấu trúc khóa luận 4
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Cơ sở lý luận 6
1.1.1 Cơ sở tâm lí 6
1.1.2 Cơ sở sinh lí 8
1.1.3 Cơ sở nhận thức 9
1.1.4 Cơ sở ngôn ngữ 10
1.2 Cơ sở thực tiễn 22
1.2.1 Vai trò của thơ ca đối với trẻ mầm non 22
1.2.2 Chương trình thơ ca của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 24
1.2.3 Thực trạng vốn từ của trẻ 5 – 6 tuổi tại trường mầm non Ngô Quyền – thành phố Vĩnh Yên – Tỉnh Vĩnh Phúc 26 CHƯƠNG 2 – BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN VỐN TỪ CHO TRẺ THÔNG QUA CÁC BÀI THƠ TRONG CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN NGÔN
Trang 6NGỮ (KHẢO SÁT TẠI TRƯỜNG MẦM NON NGÔ QUYỀN, THÀNH
PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC) 29
2.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 29
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục đích 29
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính tích cực của trẻ 31
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với vốn sống và kinh nghiệm của trẻ 33
2.2 Biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ thông qua các bài thơ trong chương trình phát triển ngôn ngữ cho trẻ tại trường mầm non Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc 34
2.2.1 Biện pháp đàm thoại, giảng giải 34
2.2.2 Đọc diễn cảm cho trẻ nghe và dạy cho trẻ học thuộc thơ 37
2.2.3 Sưu tầm các bài thơ theo từng chủ đề dạy học 39
2.2.4 Biện pháp sử dụng các phương tiện trực quan 46
2.2.5 Sử dụng từ có cùng trường nghĩa 48
KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 7Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai, trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là tương lai của đất nước, lớp người sẽ tiếp tục sự nghiệp của ông cha để lại, ghánh vác mọi công việc xây dựng Tổ quốc Mọi trẻ em sinh ra đều có quyền được giáo dục chăm sóc, được tồn tại và phát triển, được yêu thương trong gia đình cộng đồng Khi xã hội càng phát triển thì giá trị con người càng được nhận thức và đánh giá đúng đắn, do vậy việc chăm sóc và giáo dục trẻ lại càng mang ý nghĩa nhân văn cụ thể và trẻ trở thành đạo lý của thế giới văn minh
Việc giáo dục trẻ mầm non phải dựa trên nhu cầu cơ bản, thỏa mãn những mong muốn tốt đẹp của trẻ, khơi gợi sự phát triển khả năng vốn có của trẻ Trong trường mầm non, việc “cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học” và
“phương pháp phát triển ngôn ngữ” là những môn học trọng tâm có vị trí quan trọng trong tất cả các môn học Trong đó mở rộng vốn từ là nền móng
để phát triển ngôn ngữ Mở rộng vốn từ được tăng cường thông qua các môn học và các hoạt động trong trường mầm non của trẻ Đặc biệt thông qua môn
Trang 82
học làm quen với các tác phẩm văn học, cụ thể là qua hoạt động dạy thơ cho trẻ Dạy thơ cho trẻ giúp trẻ tiếp cận cái hay, cái đẹp trong tiếng nói của dân tộc để từ đó làm giàu cảm xúc của trẻ, phát triển trí tưởng tượng, giúp trẻ khám phá những điều mới lạ của thế giới xung quanh
Giai đoạn 5 – 6 tuổi của trẻ là giai đoạn then chốt cần trang bị và hình thành vốn từ phong phú để phát triển ngôn ngữ một cách tối đa Dạy thơ cho trẻ 5 – 6 tuổi là biện pháp hiệu quả để nâng cao mở rộng vốn từ ngữ Chính vì
lý do trên, bằng sự tìm hiểu và tâm huyết của mình, đồng thời dựa trên những tiếp thu, học hỏi những thành tựu nghiên cứu thành công khác, chúng tôi
mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Phát triển vốn từ cho trẻ mẫu giáo
lớn thông qua các bài thơ trong chương trình phát triển ngôn ngữ (khảo sát tại trường mầm non Ngô Quyền – thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc)”
2 Lịch sử vấn đề
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là công việc quan trọng và cấp thiết, tạo điều kiện để trẻ có sự tự tin trong giao tiếp Vấn đề này đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Tác giả Nguyễn Xuân Khoa trong cuốn “Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo” (2004) đã nghiên cứu rất kĩ sự phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo Trên cơ sở những đánh giá chung về đặc điểm tâm sinh
lý của trẻ ở lứa tuổi này, dựa trên mối quan hệ của bộ môn ngôn ngữ học với
bộ môn khác ông đã đưa ra một số phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non, trong đó bao gồm cả vấn đề phát triển lời nói mạch lạc cho trẻ
Nguyễn Xuân Khoa trong: Phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua thơ,
truyện (1979), cũng đề cập đến nội dung phương pháp nhằm hình thành và
phát triển vốn từ ngữ cho trẻ
Cùng với Nguyễn Xuân Khoa, Đinh Hồng Thái trong cuốn “giáo trình
phương pháp phát triển lời nói của trẻ” (2007) đã viết rất chi tiết về lời nói
Trang 9Nghiên cứu Phạm Thị Phú và Lê Thị Ánh Tuyết: “Phương pháp làm
quen với tác phẩm văn học ở trẻ mẫu giáo; Phương pháp và hình thức cho trẻ làm quen với các tác phẩm văn học”
Bên cạnh các công trình nghiên cứu chuyên sâu còn có các khóa luận nghiên cứu như: Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Thủy Tiên, Trường
Đại học Kinh Bắc, năm 2003: Biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6
tuổi thông qua thơ Phạm Hổ
Tuy nhiên các nghiên cứu trên chỉ tập trung vào các hình thức, biện pháp
để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ chứ chưa đi sâu vào việc mở rộng vốn từ cho trẻ Vì vậy đề tài này đi sâu vào nghiên cứu việc phát triển vốn từ cho trẻ thông qua các bài thơ trong chương trình phát triển ngôn ngữ của trẻ Mẫu giáo lớn tại trường Mầm non Ngô Quyền - thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là thấy được vai trò và tác dụng của thơ
ca đối với sự phát triển ngôn ngữ nói chung và phát triển vốn từ nói riêng ở trẻ em thuộc lứa tuổi mầm non đặc biệt là trẻ 5 đến 6 tuổi
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu đã đặt ra, chúng tôi thực hiện các nhiệm
vụ nghiên cứu sau:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc phát triển vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các bài thơ trong chương trình phát triển ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo lớn
Trang 104
- Tìm hiểu phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các bài thơ trong chương trình phát triển ngôn ngữ (khảo sát tại trường mầm non Ngô Quyền – thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc)
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Phát triển vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các bài thơ trong chương trình là một hình thức để phát triển ngôn ngữ cho trẻ nên đối tượng nghiên cứu của nó cũng không nằm ngoài đối tượng nghiên cứu của bộ môn “phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ”, đó là quy luật hoạt động sư phạm nhằm hình thành và phát triển ngôn ngữ cho trẻ Cụ thể ở đây là phương pháp phát triển vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các bài thơ trong chương trình phát triển ngôn ngữ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chỉ tìm hiểu việc phát triển vốn từ thông qua các bài thơ trong chương trình phát triển ngôn ngữ trên đối tượng trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non Ngô Quyền – Tp Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu của đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
-Phương pháp nghiên cứu tài liệu lý luận
-Phương pháp quan sát
-Phương pháp trò chuyện
-Phương pháp phân tích, tổng hợp…
6 Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận gồm 2 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Trang 115
Chương 2: Một số biện pháp phát triển vốn từ cho trẻ 5-6 tuổi thông qua các bài thơ trong chương trình phát triển ngôn ngữ (khảo sát tại trường mầm non Ngô Quyền, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc)
Trang 126
NỘI DUNG CHƯƠNG I – CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Cơ sở tâm lí
Quan điểm tâm lí học duy vật biện chứng cho rằng con người trở thành người không bằng cơ chế di truyền sinh học mà bằng cơ chế lĩnh hội nền văn hóa Bằng hoạt động, bằng tác động của nền văn hóa xã hội con người hình thành, phát triển và hoàn thiện chính mình Tâm lí người mang tính quy luật
về sự chuyển đoạn trong tiến trình phát triển Sự phát triển ngôn ngữ trẻ em lứa tuổi mầm non cũng không nằm ngoài những quy luật của tâm lí con người Ngôn ngữ không phải là một hiện tượng tự nhiên, trẻ em lĩnh hội ngôn ngữ thông qua giao tiếp hoạt động chứ không phải qua cơ chế di truyền và ứng với mỗi giai đoạn lứa tuổi lại có những đặc trưng khác nhau
Khác với nhà trẻ, lứa tuổi mẫu giáo lớn đã sử dụng thành thạo tiếng mẹ
đẻ trong sinh hoạt hàng ngày Sự hoàn thiện tiếng mẹ đẻ này ở trẻ được diễn
ra theo các hướng:
Hướng thứ nhất là: Nắm vững ngữ âm và ngữ điệu khi sử dụng tiếng mẹ
đẻ Trẻ mẫu giáo lớn đã biết sử dụng ngữ điệu một các phù hợp với nội dung giao tiếp hay nội dung câu chuyện mà trẻ kể Trẻ thường dùng ngữ điệu êm ái
để biểu thị tình cảm yêu thương trừu mến Ngược lại, khi giận dữ, trẻ lại dùng ngữ điệu thô và mạnh
Hướng thứ hai là: Phát triển vốn từ và cơ cấu ngữ pháp Vốn từ của trẻ mẫu giáo lớn tích lũy được khá phong phú không chỉ về danh từ mà cả về động từ, tính từ, liên từ, … không chỉ hiểu được từ ngữ mà trẻ còn nắm vững ngữ pháp một các vững vàng đủ để diễn đạt các mặt trong đời sống hàng ngày
Trang 137
Hướng thứ ba là: Sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc Trẻ mẫu giáo lớn đã
có khả năng nắm được ý nghĩa của từ vựng thông dụng, phát âm đúng sự phát
âm của người lớn, biết dùng ngữ điệu phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, và đặc biệt là nói đúng hệ thống ngữ pháp phức tạp bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh vi nhất về phương diện cú pháp và về phương diện tu từ, nói năng mạch lạc thoải mái Tóm lại, trẻ đã nắm vững tiếng mẹ đẻ
Hướng thứ tư là: Sự xác định ý thức bản ngã và tính chủ định trong hoạt động tâm lý Tuổi mẫu giáo lớn, trẻ có thể biểu hiện ý chí tương đối lâu Trong sự phát triển các hành động ý chí của trẻ có thể thấy được sự liên kết giữa ba mặt: thứ nhất là sự phát triển tính mục đích của hành động, thứ hai là
sự xác lặp quan hệ giữa mục đích của hành động với động cơ, thứ ba là tăng vai trò điều chỉnh của ngôn ngữ trong việc thực hiện các hành động
Hướng thứ năm là: Xuất hiện kiểu tư duy trực quan hình tượng mới – tư duy trực quan sơ đồ và những yếu tố của kiểu tư duy lôgic Trẻ mẫu giáo lớn
có khả năng hiểu một cách dễ dàng và nhanh chóng về cách biểu diễn sơ đồ
và sử dụng có hiệu quả những sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật
Ở tuổi mẫu giáo, trẻ đã bắt đầu hình thành sự chú ý, ghi nhớ có chủ định: trẻ học suy ghĩ về đối tượng thật khi tham gia trò chơi nghĩa là trò chơi đã góp phần vào việc chuyển từ tư duy trực quan – hành động sang tư duy trực quan – hình tượng
Tiến vào bước ngoặt 6 tuổi (tuổi mẫu giáo lớn), là thời kì trẻ đang tiến vào bước ngoặt 6 tuổi với sự biến đổi của hoạt động chủ đạo Hoạt động vui chơi vẫn giữ vai trò chủ đạo trong suốt thời kì mẫu giáo, nay những yếu tố của hoạt động học tập bắt đầu nảy sinh để tiến tới giữ vị trí chủ đạo ở giai đoạn sau bước ngoặt 6 tuổi Do đó, bước ngoặt 6 tuổi là sự kiện quan trọng khiến các nhà giáo dục cần phải quan tâm, một mặt là để giúp trẻ hoàn thiện những thành tựu phát triển tâm lý trong suốt thời kì mẫu giáo, mặt khác là tích
Trang 14hệ thống tín hiệu thứ hai tăng lên Tư duy bằng từ ngày càng tăng, ngôn ngữ bên trong xuất hiện Chức năng khái quát hóa của từ đã có bước nhảy vọt gần như ở người lớn ở chỗ, sự khái quát hóa được thể hiện theo hoạt động với đồ vật, vì thế tư duy bằng hành động vẫn giữ vai trò quan trọng trong thần kinh cấp cao của trẻ Ở lứa tuổi này trẻ có thể học đọc và học viết Ngoài ra, do sự phát triển của hệ thần kinh nên số lần ngủ trong ngày và thời gian ngủ của trẻ cũng giảm xuống còn 11 giờ trên ngày
Về hệ vận động, trẻ 5 – 6 tuổi có sự phối hợp vận đọng của nhiều nhóm
cơ như ở người lớn Còn việc tiếp thu những thói quen và vận động còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng cơ thể trẻ, nhất là sự luyện tập phù hợp
Về hệ tuần hoàn, thành phần máu của trẻ cũng tăng lên và biến đổi về chất: Huyết sắc tố 80 – 90%; hồng cầu 4,5 – 5 triệu đơn vị; bạch cầu 7 – 10 nghìn; tiểu cầu 200 – 300 nghìn Ngoài ra, tần số co bóp của tim cũng tăng lên
từ 80 – 110 lần /phút
Về hệ hô hấp, nhịp thở của trẻ giảm dần, cơ quan phát âm của trẻ cũng phát triển và hoàn thiện làm cho ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển
Trang 159
1.1.3 Cơ sở nhận thức
Trẻ 5 – 6 tuổi, các hiện tượng tâm lý như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng về
cơ bản là sự nối tiếp sự phát triển ở lứa tuổi từ 4 – 5 tuổi nhưng chất lượng mới hơn Thể hiện ở:
- Mức độ phong phú của các kiểu loại
- Mức độ chủ định của các quá trình tâm lý rõ ràng hơn, có ý thức hơn
- Tính mục đích hình thành và phát tiển ở mức độ cao hơn
- Độ nhạy cảm của các giác quan được tinh nhạy hơn
- Khả năng kiềm chế các phản ứng tâm lý được phát triển
Ở đây chúng ta chỉ đề cập tới quá trình tâm lý phát triển mạnh mẽ và đặc trưng nhất, đó là tư duy
Sự phát triển tư duy ở độ tuổi này mạnh mẽ về kiểu loại, các thao tác và thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượng, thông tin giữa mới và cũ, gần và xa
Đặc tính chung của sự phát triển tư duy:
Trẻ đã biết phân tích tổng hợp không chỉ dừng lại ở đồ vật, hình ảnh mà ngay cả từ ngữ
Tư duy của trẻ dần dần mất đi tính duy trì, tiến dần đến khách quan, hiện thực hơn
Trang 1610
Ở trẻ 5 – 6 tuổi phát triển cả ba loại tư duy, tư duy hành động trực quan vẫn chiếm ưu thế Tuy nhiên nhiệm vụ hoạt động mà cả loại tư duy hình ảnh trực quan, tư duy trừu tượng được phát triển ở trẻ Loại tư duy này giúp trẻ đến gần với hiện thực khách quan
1.1.4 Cơ sở ngôn ngữ
1.1.4.1 Những vấn đề chung về ngôn ngữ
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản
và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người Ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hóa- lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác Lênin từng khẳng định: Con người người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng Giao tiếp là một hoạt động đặc trưng của con người Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất Ngôn ngữ có vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người, nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể trao đổi với nhau những hiểu biết, truyền cho nhau những kinh nghiệm, tâm sự với nhau những nỗi niềm thầm kín Không có ngôn ngữ con người không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại được, nhất là trẻ em, một sinh thể yếu ớt rất cần sự chăm sóc và bảo vệ của người lớn
Ngôn ngữ là một trong những phương tiện thúc đẩy trẻ trở thành thành viên của xã hội loài người Ngôn ngữ là công cụ giúp trẻ học tập, vui chơi Ngôn ngữ là công cụ hữu hiệu để trẻ thực hiện nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia mọi hoạt động và hình thành nhân cách trẻ Ngôn ngữ cần cho tất cảcác hoạt động của trẻ và ngược lại mọi hoạt động tạo điều kiện thúc đẩy ngôn ngữ của trẻ phát triển
Sự phát triển ngôn ngữ hay vốn từ của trẻ bị ảnh hưởng nhiều bởi tác phẩm văn học đặc biệt là thơ ca Trong hoạt động học tập khi mà trẻ được
Trang 1711
nghe những bài thơ hay và học những bài thơ đó sẽ giúp trẻ mở rộng vốn từ một cách dễ dàng và hiệu quả Vì trẻ mầm non rất dễ bắt nhịp với vần điệu, nhịp điệu dễ nhớ, dễ thuộc của thơ ca Qua đó làm giàu vốn từ cho trẻ bằng những từ mới, giải nghĩa từ khó cho trẻ hiểu, đào sâu phân tích, chính xác hóa vốn từ để trẻ hiểu chính xác nghĩa của từ, tích cực hóa vốn từ cho trẻ Bằng vốn từ ngôn ngữ của mình trẻ có thể biểu đạt sự hiểu biết của mình để người khác hiểu cũng như hiểu lời nói của người khác Trong giáo dục mầm non, giáo viên cần chú ý rèn luyện phát triển ngôn ngữ đặc biệt là phát triển vốn từ cho trẻ để trẻ có thể áp dụng vào cuộc sống hàng ngày
1.1.4.2 Vai trò của ngôn ngữ
Ngôn ngữ là công cụ để giao tiếp Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội (C Mác) Con người muốn tồn tại thì phải gắn bó với cộng đồng Giao tiếp là một đặc trưng quan trọng của người “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người” (V.I Lênin) Nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể hiểu nhau, cùng nhau hành động vì những mục đích chung: lao động, đấu tranh, xây dựng và phát triển xã hội
Không có ngôn ngữ, không thể giao tiếp được, thậm chí không thể tồn tại được, nhất là đứa trẻ, một sinh thể yếu ớt rất cần đến sự chăm sóc, bảo vệ của người lớn
Ngôn ngữ làm cho đứa trẻ trở thành một thành viên của xã hội loài người Ngôn ngữ là một công cụ hữu hiệu để trẻ có thể bày tỏ những nguyện vọng của mình từ khi còn rất nhỏ để người lớn có thể chăm sóc, điều khiển, giáo dục trẻ, là một điều kiện quan trọng để trẻ tham gia vào mọi hoạt động và trong hoạt động hình thành nhân các của trẻ
Ngôn ngữ là công cụ để phát triển tư duy, nhận thức Quá trình trưởng thành của một đứa trẻ bên cạnh thể chất là trí tuệ Công cụ để phát triển tư duy, trí tuệ chính là ngôn ngữ Ngôn ngữ chính là hiện thực (sự hiện hữu) của
Trang 1812
tư duy Tư duy của con người có thể hoạt động được (nhất là tư duy trừu tượng) cũng chính là nhờ có phương tiện ngôn ngữ Tư duy và ngôn ngữ có mối quan hệ mật thiết với nhau Nếu không có ngôn ngữ thì tư duy của con người không diễn ra được Ngôn ngữ làm cho các kết quả của tư duy được cố định lại, do đó có thể khách quan hóa nó cho người khác và cho bản thân chủ thể tư duy Ngược lại, nếu không có tư duy với các sản phẩm của nó thì ngôn ngữ chỉ là những âm thanh vô nghĩa
Phát triển ngôn ngữ của trẻ không chỉ có mục đích tự thân Có ngôn ngữ,
tư duy của trẻ được phát triển Đây là hai mặt của một quá trình biện chứng có tác động qua lại ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhau (Galperin: ngôn ngữ giữ vai trò quyết định sự phát triển của tâm lí trẻ em) Ngôn ngữ phát triển làm cho tư duy phát triển Ngược lại, tư duy phát triển càng đẩy nhanh sự phát triển của ngôn ngữ Mối quan hệ đó có thể sơ đồ hóa như sau:
Tư duy Ngôn ngữ
Ngôn ngữ là công cụ để trẻ học tập, vui chơi – những hoạt động chủ yếu của trường mầm non Giống như việc dạy trẻ tiếng mẹ đẻ ở các cấp học khác, phát triển lời nói cho trẻ ở trường mầm non thực hiện mục tiêu “kép” Đó là, trẻ học để biết tiếng mẹ đẻ, đồng thời sử dụng nó như một công cụ để vui chơi, học tập Ngôn ngữ được tích hợp trong tất cả các loại hình hoạt động giáo dục, ở mọi nơi, mọi lúc Như vậy, ngôn ngữ cần cho tất cả các hoạt động
và ngược lại, mọi hoạt động tạo cơ hội cho ngôn ngữ trẻ phát triển
Ngôn ngữ là phương tiện để giáo dục trẻ một cách hoàn thiện Sự phát triển toàn diện của đứa trẻ bao gồm cả sự phát triển về đạo đức, chuẩn mực hành vi văn hóa Điều gì tốt, điều gì xấu.? cần phải giao tiếp ứng xử như thế nào cho phù hợp? không chỉ là sự bắt chước máy móc Ngôn ngữ phát triển
sẽ giúp cho trẻ mở rộng giao tiếp Điều này làm cho trẻ có điều kiện học hỏi những gì tốt đẹp xung quanh trẻ Cô giáo bằng lời cũng sẽ dễ dàng hơn trong
Trang 19Ý nghĩa của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ từ sơ sinh đến 6 tuổi Giai đoạn từ sơ sinh đến 6 tuổi, nhất là từ 3 đến 6 tuổi, là giai đoạn “siêu tốc” phát triển ngôn ngữ Thành tựu phát triển tối ưu nhất thiết đòi hỏi phải có sự giáo dục ngôn ngữ “kịp thời”, “đúng lúc” (khái niệm của các nhà giáo dục Nga
“vovremia”) Những thành tựu phát triển lời nói ở lứa tuổi này là rất to lớn Chẳng hạn, đây là giai đoạn hoàn thiện cơ quan phát âm Đến 6 tuổi về cơ bản trẻ đã phát âm chính xác tất cả các âm vị, thanh điệu của tiếng mẹ đẻ Trẻ đã nói năng tương đối lưu loát, biểu cảm Về mặt ngữ pháp, hầu hết các mẫu câu tiếng việt trẻ cũng đã sử dụng vào lúc 6 tuổi Sự thực là những giờ học ngôn ngữ đầu tiên đối với mỗi con người là ngay từ khi lọt lòng mẹ Trường mầm non là trường học đầu tiên Ở đây, có điều kiện, có cơ hội lớn hơn để giáo dục ngôn ngữ cho trẻ Có thể khẳng định rằng: Học tiếng mẹ đẻ là sự học tập quan trọng nhất, cần thiết nhất, bắt đầu sớm nhất và cần được quan tâm nhất
về từ tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu trong “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”
Từ tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang theo những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất
Trang 20 Phân loại từ
Phân loại theo cấu tạo từ
Từ đơn: là từ do một tiếng có nghĩa tạo nên
Đại bộ phận các từ đơn là một âm tiết, chúng mang những đặc trưng ngữ nghĩa chủ yếu của từ vựng Tiếng Việt Ví dụ: Nước, cơm, cây, … có một số ít
từ đơn đa âm tiết như: bù nhìn, mồ hôi, bò hóng Có một số từ đơn đa âm tiết
là từ vay mượn của các ngôn ngữ ẩn ấu như: cà phê, ô tô, …
Từ phức: Từ láy và từ ghép
Từ láy là từ trong đó các âm tiết có quan hệ với nhau về ngữ âm (bàn
bạc, làm lụng, chắc chắn, …) hoặc giống nhau ở vần (bối rối, lộp bộp, lì xì,
…) hoặc có những âm tiết khác nhau (chuồn chuồn, xanh xanh, …) Từ láy bao gồm láy đôi (bối rối, tôn tốt, …), láy ba (dửng dừng dung, khít khìn khịt, ) và láy bốn (lơ thơ lẩn thẩn, …)
Từ ghép là từ trong đó các thành tố có ý nghĩa được kết hợp với nhau,
các thành tố này có thể độc lập hoặc không độc lập Từ ghép bao gồm từ ghép đẳng lập (nhà cửa, to lớn, đẹp tươi, …) và từ ghép chính phụ (áo dài, nhà ăn, sân bay, …)
Phân loại theo đặc điểm ngữ pháp
Căn cứ vào tiêu chí phân định từ loại và ý nghĩa của từ loại, từ được chia thành ba nhóm:
Trang 2115
a Nhóm 1: Thực từ là những từ có ý nghĩa từ vựng chân thực và có thể làm thành phần câu gọi là thực từ Nhóm từ này gồm: danh từ, động từ, tính
từ
Danh từ: là từ loại bao gồm những từ có ý nghĩa khái quát sự vật Đó là
những thực từ chỉ vật thể - người, động vật, thực vật, đồ vật, những hiện tượng tự nhiên, hiện tượng xã hội và những khái niệm trừu tượng, … được con người nhận thức và phản ánh như các vật thể tồn tại trong hiện thực Danh từ bao gồm: Danh từ riêng và danh từ chung
- Danh từ riêng: là danh từ gọi tên sự vật, hiện tượng cụ thể riêng biệt, thường đứng sau danh từ chung làm định ngữ cho danh từ chung
Danh từ riêng bao gồm: tên riêng chỉ người, tên địa danh, tên con vật, tên sự vật
VD: Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Lê Thị Thùy Vinh, …
- Danh từ chung: là những từ biểu thị tên gọi cho hàng loạt các sự vật, hiện tượng không phải cho các sự vật, hiện tượng đơn lẻ
VD: ngôi nhà, học sinh, cô giáo, …
Động từ: là những từ có ý nghĩa khái quát chỉ hoạt động, trạng thái nhất
định của sự vật, hiện tượng
Động từ bao gồm: Động từ độc lập và động từ không độc lập
- Động từ độc lập: là những động từ tự thân đã có nghĩa Chúng có thể đứng độc lập, không cần một động từ khác đi kèm, và có thể giữ chức vụ làm thành phần chính của câu
VD: đi, chạy, nhảy, ném, chém, tặng, …
- Động từ không độc lập: là những động từ thường không đứng một mình, đảm nhiệm vai trò ngữ pháp trong câu, mà phải cùng với một động từ khác hoặc cụm từ đi sau làm thành tố phụ
VD: cần, nên, định, nỡ, có thể, …
Trang 2216
Tính từ: là những thực từ biểu thị tính chất, đặc trưng của sự vật, hiện
tượng về các phương diện như hình thể, màu sắc, kích thước, …
- Tính từ không xác định theo thang độ: chúng không có khả năng kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ Bản thân chúng đã hàm chứa ý nghĩa tuyệt đối
về đặc trưng, tính chất hoặc là đặc trưng ấy không có gì để so sánh
VD: Trên, dưới, trái, phải, đen xì, trắng toát, …
- Tính từ chỉ tính chất đặc trưng theo thang độ: chúng có khả năng kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ bao gồm:
+ Tính từ chỉ màu sắc: xanh, đỏ, tím, vàng, lục, lam, …
+ Tính từ chỉ kích thước: dài, ngắn, …
+ Tính từ chỉ hình dáng: cao, thấp, gầy, béo, …
+ Tính từ chỉ mùi vị: ngọt, thơm, chua, cay, …
+ Tính từ chỉ tính chất vật lí: lỏng, rắn, mềm, …
+ Tính từ chỉ phẩm chất: tốt, xấu, …
+ Tính từ chỉ đặc điểm tâm lí: hiền, dữ, lành, ác, …
+ Tính từ chỉ trí tuệ: thông minh, đần, ngu, khôn, …
b Nhóm 2: Hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, mà chỉ có tác dụng làm công cụ ngữ pháp để chỉ các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau của từ Nhóm này gồm: phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ
Phụ từ: Là những từ hư không dùng để gọi tên các sự vật, hiện tượng
trong thực tế khách quan mà chỉ có chức năng dẫn xuất hoặc biểu niệm về tình thái
- Phân loại: căn cứ vào bản chất ngữ pháp của các hư từ và phụ từ thường đi kèm, có thể chia phụ từ thành hai nhóm:
+ Phụ từ chuyên phụ cho danh từ: là những hư từ mà ý nghĩa chỉ số Bổ sung ý nghĩa về mặt số lượng cho danh từ
VD: các, những, mọi, …
Trang 2317
+ Phụ từ đi kèm với động từ và tính từ: các phụ từ này làm thành tố phụ trước hoặc thành tố phụ sau, bổ sung ý nghĩa ngữ pháp cho động từ, tính từ VD: đang, hơi, rất, lắm, …
Quan hệ từ: Là những hư từ không dùng để gọi tên các sự vật, hiện
tượng trong thế giới khách quan mà chỉ để liên kết, để nối từ và các từ, cụm
từ với cụm từ, câu với câu
Tình thái từ: Là những từ chỉ thái độ, tình cảm của người nói đối với nội
dung của câu nói hoặc đối với người cùng tham gia hoạt động giao tiếp
Phân loại:
+ Tình thái từ nghi vấn: hà, không, à, ư, …
+ Tình thái từ cầu khiến: nhé, nào, đi, với, …
+ Tình thái từ biểu thị sắc thái biểu cảm: cơ, mà, nhé, …
+ Tình thái từ cảm thán: sao, biết bao, …
c Nhóm 3: Lớp từ trung gian gồm: đại từ và số từ
Đại từ: là những từ dùng để chỉ người, sự vật, hoạt động, tính chất, …
được nói đến trong một ngữ cảnh nhất định của lời nói hoặc dùng để hỏi
VD : tôi, cô ấy, anh ta, …
Số từ : Là những từ loại dùng để chỉ số lượng và thứ tự của sự vật nào
đó
Phân loại :
Trang 2418
+ Số từ chỉ số lượng của sự vật
VD : ba cái bút, bốn quyển vở, …
+ Số từ chỉ thứ tự của sự vật
VD: canh bốn, canh năm, …
Trường mầm non chủ yếu sử dụng hai cách phân loại trên để phát triển vốn từ cho trẻ Ngoài ra, từ còn được phân loại theo một số cách khác nhau:
- Phân loại theo nghĩa: Từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa
- Phân loại theo nguồn gốc: Từ thuần Việt, từ Hán – Việt, …
- Phân loại theo phạm vi sử dụng: Từ toàn dân, từ địa phương
b Vốn từ
Vốn từ của một ngôn ngữ là “tổng số và hệ thống toàn bộ từ và cụm từ
cố định của ngôn ngữ đó” Mỗi một ngôn ngữ phát triển có một khối lượng từ phong phú có thể lên tới hàng chục vạn từ Vốn từ vựng của một ngôn ngữ bao gồm nhiều lớp từ, nhiều nhóm từ không đồng nhất và có đặc trưng khác nhau Trong vốn từ vựng của bất kì ngôn ngữ nào cũng tồn tại những từ mới
và những từ cũ, những từ phổ biến chung và những từ địa phương, những từ chuẩn mực và những từ vay mượn, từ chuyên môn
Ví dụ: Vốn từ của ngôn ngữ Tiếng Việt có nhiều từ vay mượn từ tiếng Hán hoặc tiếng Pháp (ghi – đông, gác – ba – ga, …)
Với mỗi cá nhân, vốn từ không tỷ lệ thuận với vốn từ trong ngôn ngữ chung của cả cộng đồng mà nó phụ thuộc vào sự phát triển trí tuệ, nhận thức, văn hóa của mỗi cá nhân Theo kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học thì vốn từ của những người có trình độ văn hóa cao là khoảng 6000 – 9000 từ, của một nhà thiên tài là xấp xỉ 20.000 từ
Dựa vào tần số sử dụng của các từ trong đời sống xã hội, người ta phân chia vốn từ thành hai loại: vốn từ tích cực và vốn từ thụ động Vốn từ tích cực
là những từ được con người nắm vững, có tần số sử dụng cao trong cuộc sống
Trang 2519
hàng ngày Vốn từ thụ động gồm những từ ít hoặc không được sử dụng Đó là những từ không còn phù hợp với cuộc sống hiện tại (bao cấp, tem phiếu, …) hoặc mang nghĩa riêng, chưa được sử dụng rộng rãi
Đối với trẻ mầm non, vốn từ tích cực là những từ trẻ hiểu được và biết vận dụng trong các tình huống giao tiếp Còn vốn từ thụ động là những từ trẻ chưa hiểu ý nghĩa hoặc có hiểu nhưng không biết vận dụng trong giao tiếp (không nói ra được) Như vậy nghiên cứu phát triển vốn từ cho trẻ không chỉ
là mở rộng vốn từ, làm giàu vốn từ về mặt số lượng mà phải tích cực hóa vốn
từ trong giao tiếp
c Vấn đề mở rộng vốn từ
Phát triển vốn từ cho trẻ là cơ sở của công tác phát triển ngôn ngữ Bởi
vì từ là đơn vị có nghĩa của lời nói, có thể dùng độc lập, bao gồm đầy đủ cả hai mặt: âm thanh và ý nghĩa Trong từ phản ánh những sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh cũng như các đặc điểm của nó Việc phát triển vốn từ cho trẻ phải được tiến hành cùng với việc mở rộng và nâng cao nhận thức của trẻ về thế giới xung quanh Đây là hai mặt có quan hệ hữu cơ và không thể tách rời nhau Trường mầm non có nhiệm vụ phát triển vốn từ cho trẻ cả về số lượng và chất lượng Dạy trẻ không chỉ biết nhiều từ, mà còn phải hiểu từ, sử dụng từ đúng, loại ra những từ không đẹp trong lời nói của trẻ, dạy trẻ biết cách sử dụng một số biện pháp tu từ đơn giản trong giao tiếp hàng ngày
Phát triển vốn từ được hiểu như là một quá trình lâu dài trẻ tích lũy vốn
từ, hiểu nghĩa của từ và hình thành cách sử dụng từ trong các tình huống giao tiếp cụ thể Trẻ chỉ lĩnh hội nghĩa của từ khi nào từ được sử dụng trong câu, trong lời nói Vì vậy, công tác phát triển vốn từ cần được tiến hành chặt chẽ với việc phát triển ngôn ngữ lạch lạc ở trẻ Xem xét quá trình hình thành và phát triển vốn từ ở trẻ, ta thấy được ở trẻ lĩnh hội nghĩa cụ thể của từ và nội dung khái niệm của từ, nó có liên quan đến quá trình nhận thức của trẻ, đồng
Trang 2620
thời trẻ còn lĩnh hội vốn từ như là một yếu tố của lời nói như các sử dụng từ, dùng từ thay thế, dùng từ có mức độ khác nhau, dùng từ trái nghĩa, đồng nghĩa, … cách sử dụng từ trong câu
Phát triển vốn từ có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của trẻ Lĩnh hội vốn từ là điều kiện quan trọng để phát triển trí tuệ và để giải quyết nhiệm vụ tích lũy và chính xác hóa biểu tượng, hình thành khái niệm phát triển tư duy Vốn từ nghèo nàn ảnh hưởng đến giao tiếp của trẻ Cùng với việc phát triển vốn từ, chúng ta thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức và thẩm mỹ
Do đó, công tác phát triển vốn từ là hoạt động giáo dục có chủ định, có
kế hoạch nhằm giúp trẻ lĩnh hội vốn từ có hiệu quả
1.1.4.4 Đặc điểm vốn từ của trẻ 5-6 tuổi
Số lượng từ của trẻ
So với tuổi nhà trẻ thì trẻ mẫu giáo có số lượng từ nhiều hơn hẳn Về số lượng từ của trẻ mẫu giáo, các nhà ngôn ngữ học và tâm lí học có đưa ra những số liệu khác nhau:
ND Levitốp : 3.5 tuổi: 1000 từ
YU U Pratuxevich: 4 tuổi: 1900 từ
5 tuổi: 2500 từ
M Becgiơrông : 3,5 tuổi: 1222 từ
Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Khoa về ngôn ngữ của trẻ nội thành
Hà Nội thì vốn từ của trẻ mẫu giáo là:
Trang 2721
giả khẳng định: số lượng từ của trẻ phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố khác nhau, trong đó quan trọng nhất là các tác động của môi trường như: Sự tiếp xúc ngôn ngữ thường xuyên của những người xung quanh, trình độ của bố,
mẹ
Về từ loại
Theo Xtecnơ, trong ngôn ngữ trẻ em xuất hiện trước hết là danh từ, rồi đến động từ và sau đó mới đến các loại từ khác
Theo Lưu Thị Lan, trẻ em mẫu giáo có tỷ lệ các từ loại như tính từ, trạng
từ, quan hệ từ được tăng lên, động từ giảm đi so với trẻ tuổi nhà trẻ
Nếu trẻ 3 tuổi: Danh từ chiếm 40,2%
Về danh từ: nội dung ý nghĩa của từ được mở rộng, phong phú hơn ở
những từ có nghĩa rộng
VD: từ “kẹo” có khoảng 20 kẹo khác nhau (cũng như từ “đồ gỗ”, “hoa”,
“cây”, …)
Những từ chỉ nghề nghiệp của người lớn tăng, ở trẻ còn có những danh
từ mang tính văn học VD: đóa hoa, áng mây, …
Trang 2822
Trẻ biết sử dụng một số từ chỉ những khái niệm trừu tượng VD: kiến trúc tài năng… mặc dù trẻ chưa hiểu hết nghĩa của những từ đó
Về động từ: phần lớn là những động từ gần gũi, tiếp tục phát triển thêm
những nhóm từ mới như: ngo ngoe, nhảy nhót, leng keng, … nhữngđộng từ chỉ sắc thái khác nhau như: chạy vù vù, chạy lung tung, chạy loạn xoạn, … xuất hiện thêm những động từ có tính trừu tượng: khánh thành, giáo dụ, …
ngày xưa, hồi trước, …
Về quan hệ từ: trẻ biết nhiều từ đơn hơn từ ghép, trẻ hiểu nhiều từ láy và
1.2.1 Vai trò của thơ ca đối với trẻ mầm non
1 Thơ ca giúp trẻ cảm nhận được cái hay cái đẹp trong tiếng nói dân tộc
Trang 2923
Ngay từ khi lọt lòng trẻ được nghe tiếng hát ru của mẹ cũng là lần đầu tiên trẻ được nghe giọng nói của con người – tiếng mẹ đẻ Tuy đứa trẻ chưa thể hiểu được những nội dung của câu thơ mẹ hát nhưng lại dễ tiếp nhận nhạc điệu, vần điệu của nó Thật tuyệt khi một đứa trẻ bắt đầu học nói lại được tiếp xúc với thơ ca, ngày qua ngày ấn tượng của nó cứ thấm dần vào tâm hồn của trẻ Lời hay ý đẹp của thơ ca sẽ giúp các cháu biết nói đúng, nói hay, được miễn dịch khỏi thói ăn nói bừa bãi, thô lỗ, thói nói tục chửi bậy, giúp trẻ gần hơn tới cái đẹp của tiếng mẹ đẻ
2 Thơ ca làm giàu thế giới cảm xúc của trẻ
Thơ ca thể hiện thế giới nội tâm ở nhiều sắc thái, cung bậc khác nhau
Có những câu thơ đọc lên nghe thật vui tai, thật sảng khoải Ngược lại có những câu thơ nghe sao mà da diết, day dứt lòng người Những sắc thái tình cảm đó đã khơi dậy ở trẻ những cảm xúc phong phú về con người, hun đúc ở trẻ một tâm hồn nhạy cảm và giàu lòng nhân ái Thơ ca giúp nuôi dưỡng và phát huy những đặc tính vốn có của trẻ như xúc động, dễ đồng cảm khi tiếp xúc với con người và cảnh vật thế giới xung quanh Đó là cái vốn quý giá để sống và làm việc cần cho mọi người Nhiều công trình nghiên cứu gần đây chứng minh rằng để có chất lượng cuộc sống cao và để thành đạt, người ta không chỉ cần có chỉ số trí tuệ (IQ) cao mà rất cần có hệ số cảm xúc (EQ) cao Một tâm hồn giàu cảm xúc, giàu lòng yêu thương đó là tâm hồn của người biết hướng thiện, biết chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với mọi người Thơ ca là nguồn năng lượng dồi dào bồi bổ cho thế giới cảm xúc của trẻ khi trẻ lớn lên trẻ luôn có được những trạng thái tinh thần lành mạnh, cân bằng giúp thành đạt trong cuộc sống
3 Thơ ca phát triển mạnh trí tưởng tượng của trẻ
Sự phản ánh hiện thực của thơ ca vừa thực lại vừa hư điều đó giúp trẻ phát triển mạnh trí tưởng tượng Hơn nữa nghệ thuật nhân cách hóa trong thơ