Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số (Luận văn thạc sĩ)Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM –––––––––––––––––––––––––
VŨ THỊ KIỀU TRANG
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM THỤ THẨM MĨ CHO HỌC SINH LỚP 10 TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU SỬ THI,
TRUYỆN THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ngành: Lí luận và PPDH bộ môn Văn - Tiếng Việt
Mã số: 81.401.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thủy
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung trình bày trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất
cứ một công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Thị Kiều Trang
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả bày tỏ lòng biết ơn và sự kính trọng tới Lãnh đạo trường Đại học sư phạm – Đại học Thái Nguyên, các Thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy và cung cấp những kiến thức cơ bản, sâu sắc, tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu rèn luyện tại nhà trường
Tác giả xin được gửi lời cám ơn sâu sắc nhất tới PGS TS Nguyễn Thị Thu Thủy,
người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học và tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè đã tận tình giúp đỡ động viên tác giả đã hoàn thành khóa học và luận văn này
Do điều kiện về thời gian và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên luận văn này còn nhiều khiếm khuyết, tác giả mong muốn nhận được sự góp ý chân thành của Thầy Cô và các bạn học viên
Xin trân trọng cám ơn!
Thái Nguyên, Ngày 13 tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Thị Kiều Trang
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Cơ sở lí luận 7
1.1.1 Năng lực cảm thụ thẩm mĩ 7
1.1.2 Dạy đọc hiểu văn bản văn chương theo hướng phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh 12
1.1.3 Đặc điểm sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số 14
1.1.4 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 10 22
1.2 Cơ sở thực tiễn 24
1.2.1 Nội dung dạy học các tác phẩm văn học sử thi, truyện thơ của dân tộc thiểu số trong SGK Ngữ văn 10 tập 1 24
1.2.2 Thực trạng việc dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ DTTS theo định hướng phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ 25
1.2.3 Đánh giá thực trạng 31
Tiểu kết chương 1 32
Trang 5Chương 2: BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM THỤ THẨM MĨ TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU SỬ THI, TRUYỆN THƠ DÂN TỘC
THIỂU SỐ 33
2.1 Yêu cầu về dạy học đọc hiểu học sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số trong SGK Ngữ văn 10 tập 1 theo định hướng phát triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ cho học sinh 33
2.1.1 Bám sát chương trình đảm bảo mục tiêu dạy học 33
2.1.2 Phát huy năng lực của học sinh đặc biệt là năng lực cảm thụ thẩm mĩ 35
2.1.3 Các hoạt động dạy học được thực hiện theo lý thuyết kiến tạo 38
2.1.4 Đánh giá phản hồi theo từng nhiệm vụ học tập 39
2.2 Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập 1 40
2.2.1 Biện pháp 1: Tái hiện hình tượng 40
2.2.2 Biện pháp 2: Phân tích cắt nghĩa lý giải chi tiết nghệ thuật văn học 43
2.2.3 Biện pháp 3: Đánh giá giá trị thẩm mỹ của tác phẩm 46
2.2.4.Biện pháp 4: Phát huy vai trò của chủ thể sáng tạo 48
2.3 Thiết kế hoạt động dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số trong sách giáo khoa Ngữ Văn 10 tập 1 50
2.3.1 Thiết kế hoạt động dạy học đọc hiểu đoạn trích “Chiến thắng Mtao - Mxây” trích trong sử thi Đăm Săn 50
2.3.2 Thiết kế hoạt động dạy đọc hiểu đoạn trích “Tiễn dặn người yêu” trích truyện thơ “Lời tiễn dặn” 63
Tiểu kết chương 2 76
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 77
3.1 Mục đích thực nghiệm 77
3.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 77
3.3 Nội dung thực nghiệm 78
3.4 Hình thức thực nghiệm 79
3.5 Giáo án thực nghiệm 79
3.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 93
Trang 63.6.1 Các tiêu chí đánh giá 94
3.6.2 Các phương tiện đánh giá 95
3.7 Kết quả thực nghiệm 95
3.7.1 Đối với giáo viên 96
3.7.2 Đối với học sinh 97
KẾT LUẬN 100
TÀI LỆU THAM KHẢO 102 PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Đổi mới chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học theo yêu cầu PTNL là một định hướng mới do bộ GD-ĐT đề ra trong công văn 791/HD-BGDĐT, nhằm hướng dẫn thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường THPT, PTNL học sinh THPT Mục tiêu là giúp HS được phát triển toàn diện các năng lực sẵn có và cần có Từ đó HS có khả năng vận dụng và giải quyết các tình huống trong thực tiễn Như vậy việc dạy học theo định hướng PTNL cho HS vừa mang tính thời sự đáp ứng được yêu cầu cấp bách do bộ GD-ĐT đề ra vừa mang tính thực tiễn đáp ứng được nhu cầu của người học, nhu cầu của cuộc sống Phương pháp dạy học mới này sẽ khắc phục được những hạn chế của lối dạy học truyền thống, mang lại những hiệu quả tích cực cho việc học của HS, giúp các em có điều kiện phát triển tối đa năng lực của bản thân Vì thế
việc dạy học nói chung và Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh
lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ DTTS là nhiệm vụ cần được chúng ta
quan tâm và hướng tới
1.2 Yêu cầu về tích hợp giáo dục bản sắc văn hóa truyền thống trong dạy học Ngữ văn nói riêng và trong giáo dục phổ thông nói chung là yêu cầu cấp thiết hiện nay Gần đây theo trào lưu phát triển xã hội hướng tới công nghiệp hóa hiện đại hóa nên đôi khi văn hóa truyền thống của chúng ta bị mai một đi Nhất là đối với các em
HS hiện nay hay lơ là trong việc học tập tiếp thu văn học, văn hóa dân gian dẫn đến văn học, văn hóa dân gian bị mai một
1.3 Thực trạng dạy học các tác phẩm văn học sử thi, truyện thơ DTTS chưa được chú trọng chương trình SGK phổ thông chưa có chương trình cụ thể cho hai thể
loại này Theo khảo sát SGK Ngữ văn 10 tập 1 chỉ có một bài thuộc sử thi và một bài
thuộc truyện thơ DTTS vì vậy GV chưa thực sự chú trọng và đầu tư Do đó chưa khơi dạy được ý thức bảo tồn và phát huy giá trị văn học dân gian các DTTS trong người học 1.4 Người học là lứa tuổi trẻ, ít vốn sống, ít kinh nghiệm thì việc tiếp nhận các tác phẩm văn học dân gian còn dựa vào nhiều yếu tố Đặc biệt các tác phẩm văn học dân gian của DTTS vốn xa lạ với HS THPT nhất là đối với các dân tộc thiểu số khác,
HS thành phố chưa thẩm thấu được ngôn ngữ vùng miền, về văn hóa phong tục đặc
Trang 9trưng Từ đó dẫn đến năng lực cảm thụ thẩm mĩ về sử thi, truyện thơ DTTS ở HS còn hạn chế
1.5 Học sinh THPT đang bước vào giai đoạn hoàn thiện cả về thể chất lẫn trí tuệ, tính cách… Việc hình thành và PTNL toàn diện cho HS cũng như hình thành ở các em những phẩm chất tốt đẹp là rất cần thiết Việc các tác phẩm văn học dân gian DTTS có một ý nghĩa quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu đó Nhưng làm thế nào để
HS có hứng thú đối với bài học, thích bàn luận, sưu tập và lưu truyền về các tác phẩm văn học dân gian DTTS để qua đó được phát triển về năng lực cảm thụ thẩm mĩ và phẩm chất là điều mà mỗi người GV dạy văn như chúng tôi luôn trăn trở và suy nghĩ
Xuất phát từ những lí do trên tôi đã chọn đề tài Biện pháp phát triển năng lực
cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số với một mong muốn tìm ra một hướng đi, một giải pháp dù là rất nhỏ để
việc dạy văn nói chung và Dạy học các tác phẩm văn học sử thi, truyện thơ DTTS nói
riêng đạt hiệu quả cao hơn, có ý nghĩa hơn với người học
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu các tác phẩm sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số trong SGK Ngữ văn THPT
Các tác phẩm sử thi, truyện thơ DTTS trong chương trình SGK Ngữ văn 10 tập 1 và
nó đã trở thành đối tượng nghiên cứu của rất nhiều tác giả
Trong cuốn Giảng văn văn học Việt Nam, NXBGD (1997) tác giả Vũ Anh Tuấn bàn về nhóm các tác phẩm văn học dân gian DTTS như Đẻ đất đẻ nước (sử thi Mường) Bài ca Đăm Săn (Sử thi Ê Đê) Tiễn dặn người yêu (Truyện thơ Thái), Vượt
biển (truyện thơ Tày Nùng) Tác giả Vũ Anh Tuấn nghiên cứu hoàn cảnh ra đời, tình
hình văn bản, giải thích bình giảng văn bản và giá trị tác phẩm Nhưng vẫn theo cách tiếp cận cũ là bình giảng
Giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam tập 1 của các tác giả Bùi Văn Nguyện,
Nguyễn Ngọc Côn, Nguyễn Nghĩa Dân, Hoàng Tiến Tựu, Đỗ Bình Trị đã viết về truyện thơ DTTS Ở giáo trình này các nhà nghiên cứu đề cập đến thuật ngữ truyện
thơ và xếp nó vào chương “Trường ca Dân tộc” Ở tác phẩm Xống chụ xôn xao (Tiễn
dặn người yêu) đặt đồng đẳng với Đăm Săn gọi là trường ca Phân tích nó là “Một
Trang 10thảm kịch đầy nước mắt về tình yêu trong xã hội cũ” Tác giả khẳng định là trường ca nhưng cũng ít nhiều có dáng dấp một truyện thơ
Trong bài Văn hóa nghệ thuật quân đội chuyên mục: Văn học nghệ thuật được
đăng ngày 18/10/2011 Khan sử thi Ê đê: Bức tranh toàn cảnh của tộc người Ê đê cổ
truyền trong bài báo tác giả đã đề cập đến nhân vật và thái độ thẩm mĩ của công
chúng khan sử thi Tác giả nghiên cứu nhân vật trung tâm đó là nhân vật anh hùng là con người hướng tới sự hoàn tất có phẩm giá cao nhất Nhân vật trung tâm bao giờ cũng đại diện cho mơ ước khát vọng về sức mạnh, tài năng và phẩm chất của cộng đồng Bên cạnh nhân vật anh hùng còn là nhân vật tù trưởng tham lam hiếu sắc và nhân vật nữ tài sắc Phần thứ hai tác giả bàn đến là vấn đề chiến tranh trong khan sử thi Ê đê là chiến tranh khiên cưỡng chứ không phải xung đột cộng đồng nguyên nhân
là do sự bội bạc bạn bè trả thù về cướp đoạt phụ nữ Tác giả phân tích sử thi Đăm Săn
cụ thể cho những nhận định của mình Bài viết này nói đến khía cạnh mới hơn những
bài viết khác về tính chất chiến tranh trong sử thi Đăm Săn và sử thi Ê đê Tuy nhiên
vẫn chưa khơi gợi được nguồn văn hóa của tộc Ê đê để HS có thể thẩm thấu được
2.2 Tình hình nghiên cứu dạy học phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số
Trong cuốn Tài liệu tập huấn thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà
trường phổ thông Bộ GD-ĐT đã đề cập đến việc PTNL cho HS Trong đó nhấn mạnh
việc cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học, để phát huy được một cách toàn
diện các năng lực sẵn có của HS, bao gồm cả năng lực chung và năng lực riêng
Trong cuốn Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương của tác giả Nguyễn
Viết Chữ - NXBGD Việt Nam tác giả đề cập ba vấn đề
- Vấn đề thứ nhất: Đề cập đến vấn đề dạy văn và phương pháp dạy văn, tác giả đưa ra việc cảm thụ văn học ở các lứa tuổi Tâm lý ở mỗi lứa tuổi có cách cảm thụ và quan niệm về nghệ thuật khác nhau, các em càng lớn thì lí trí càng phát triển và thể hiện mình càng tăng, ở độ tuổi THPT cá tính các em bộc lộ rõ qua việc đánh giá, phân tích tính cách nhân vật trong văn học nghệ thuật từ đó GV có thể đưa ra phương pháp và biện pháp dạy học phù hợp
Trang 11- Vấn đề thứ hai: Theo tác giả thì bản chất của quá trình dạy học văn là bồi dưỡng kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Tuy nhiên phương pháp này chỉ phù hợp với chương trình cũ theo đổi mới thì chưa đáp ứng được việc PTNL cho HS
- Vấn đề ba: Tác giả đề cập dạy học tác phẩm theo đặc trưng thể loại Đó là những phương diện dấu hiệu chung cho cách nhận diện tác phẩm tự sự và cụ thể là thể loại sử thi chúng ta đang nghiên cứu Tác giả đưa ra đặc trưng của sử thi và phương pháp dạy học sử thi tuy nhiên đây là phương pháp cho thể loại sử thi nói chung chưa phải là công trình nghiên cứu về sử thi DTTS theo định hướng phát triển cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh
Giáo trình Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học của Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan,
Nguyễn Văn Thàng, NXB - ĐHQG Hà Nội (2000), cũng đã nghiên cứu về các năng lực
của HS-THPT Tuy nhiên việc PTNL HS THPT trong dạy học đọc hiểu Ngữ văn 10 thì
chưa được nêu cụ thể
Kĩ năng đọc hiểu Văn của Nguyễn Thanh Hùng, NXBĐHSP đưa ra cách thức
dạy đọc hiểu tác phẩm văn chương theo thể loại ở trung học Trong đó ông đã nghiên cứu mô hình dạy học đọc hiểu tác phẩm theo thể loại và đề cập đến hai thể loại sử thi
và thơ trữ tình Phương pháp đề cập đến ở đây cho GV là hướng dẫn HS chiếm lĩnh tác phẩm thông qua đọc hiểu, thông qua ngôn ngữ để nắm rõ hình tượng nhân vật Tuy nhiên Nguyễn Thanh Hùng chỉ cung cấp lý thuyết chung cho mỗi thể loại chưa nghiên cứu đến phương pháp dạy học các tác phẩm văn học dân gian DTTS Đây là phương pháp dạy học cũ chưa phát huy năng lực riêng đặc biệt là năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho HS
Trong Thiết kế dạy học Ngữ văn 10 của Hoàng Hữu Bội, NXBGD đã đưa ra hướng dạy học cho GV đối với đoạn trích Chiến thắng Mtao- Mxây, Lời tiễn dặn trích Tiễn dặn người yêu truyện thơ dân tộc Thái về định hướng dạy học và tiến trình
dạy học Phương pháp dạy học ở đây theo sự hướng dẫn của GV thông qua phân tích tác phẩm, nhân vật, cốt truyện, ngôn ngữ để HS tiếp nhận tác phẩm Ở đây GV sử dụng câu hỏi liên quan đến tác phẩm HS đọc hiểu và trả lời Phương pháp tuy đã phát triển được việc tự học của HS nhưng chưa thể hiện hết được sự sáng tạo và PTNL cảm thụ thẩm mĩ cho HS
Trang 12Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10 tập I của Nguyễn Văn Đường chủ biên, NXB Hà
Nội đã hình thành hệ thống hoạt động dạy học trong từng tiết, từng bài đã chú trọng đến các định hướng tích hợp (ngang, dọc) và tích cực hóa các hoạt động của HS trong
từng bài học Trong đó có đoạn trích Chiến thắng Mtao - Mxây và Lời tiễn dặn với
những hình thức dạy học phong phú như gợi mở, nêu vấn đề, tuy nhiên đây vẫn là cách dạy học cũ chưa theo phương pháp dạy học mới là theo định hướng PTNL Như vậy, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về sử thi, truyện thơ DTTS Tuy nhiên những định hướng cụ thể về việc dạy học đặc biệt là dạy học theo định hướng PTNL cho các tác phẩm văn học dân gian DTTS thì rất hiếm hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào cụ thể
Căn cứ vào tình hình thực tế trên với mong muốn đóng góp một phần dù là rất nhỏ nhằm đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng dạy và học hướng tới mục tiêu
PTNL toàn diện cho HS, tôi mạnh dạn đưa ra một phương án Biện pháp phát triển
năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh
trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số nhằm góp phần thể nghiệm
định hướng dạy học mới do Bộ GD đề ra và nâng cao chất lượng dạy học, phát huy năng lực của HS đáp ứng được nhu cầu của xã hội, bồi dưỡng ý thức phát huy và bảo
tồn giá trị văn hóa ở HS
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học các tác phẩm sử thi, truyện thơ của DTTS trong SGK Ngữ văn 10 tập 1 theo định hướng PTNL cảm thụ thẩm mĩ cho HS
- Đề xuất định hướng: Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học
sinh lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của đề tài
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm
mĩ cho học sinh lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số 4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hai đoạn trích trong SGK Ngữ văn 10 tập 1
- Đoạn trích “Chiến thắng Mtao- Mxây” trích sử thi Đăm Săn
- Đoạn trích “ Lời tiễn dặn” trích truyện thơ Tiễn dặn người yêu
Khảo sát thực trạng và thực nghiệm ở trường THPT Nguyễn Khuyến - Bình Lục
- Hà Nam và THPT A Bình Lục - Bình Lục - Hà Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình làm đề tài, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp để nghiên cứu thực hiện đề tài đó là: Phương pháp hồi cứu tư liệu, phương pháp phân tích, phương pháp quan sát sư phạm, phương pháp khảo sát điều tra, phương pháp thống kê-so sánh, phương pháp liên nghành ( văn hóa học, dân tộc học .) phương pháp thực nghiệm…
6 Cấu trúc đề tài
Đề tài này gồm 3 phần: Phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương 2: Biện pháp phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14NỘI DUNG Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Năng lực cảm thụ thẩm mĩ
- Khái niệm năng lực
Có rất nhiều định nghĩa về năng lực và khái niệm này đang thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu Theo cách hiểu thông thường, năng lực là sự kết hợp của tư duy, kĩ năng và thái độ có sẵn hoặc ở dạng tiềm năng có thể học hỏi được của một cá nhân hoặc tổ chức để thực hiện thành công nhiệm vụ [49]
Theo định nghĩa của các nước có nền kinh tế phát triển (OECD), năng lực cốt lõi bao gồm: những năng lực nền tảng như năng lực đọc hiểu, năng lực tính toán, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp
Ở Việt Nam, khái niệm năng lực cũng thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như công luận khi giáo dục đang thực hiện công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện, chuyển từ giáo dục kiến thức sang giáo dục năng lực Dự thảo đề án đổi mới CT& SGK giáo dục phổ thông sau 2015 nêu rõ một trong những quan điểm nổi
bật là phát triển CT theo định hướng năng lực Năng lực được quan niệm là Sự kết
hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm giá trị, động cơ cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định Định hướng xây dựng chương chình GDPT sau 2015 đã
xác định một số năng lực chung cốt lõi mà mọi HS Việt Nam đều cần có để thích ứng với nhu cầu phát triển xã hội như:
- Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm:
Trang 15+ Năng lực giao tiếp
+ Năng lực hợp tác
- Năng lực công cụ,bao gồm:
+ Năng lực tính toán
+ Năng lực sử dụng ngôn ngữ
+ Năng lực ứng dụng công nghệ thông tin (ITC) [5,46]
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Các năng lực hình thành trên
cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân nó đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn đo tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có Tâm lý học chia năng lực thành các dạng khác nhau như năng lực chung
và năng lực chuyên môn
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê có nêu Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao [35,32]
Hay trong cuốn Tài liệu chuyên văn, tập 2 của PGS.TS Đỗ Ngọc Thống: Năng lực
là một tiêu chuẩn đòi hỏi ở một cá nhân khi thực một công việc cụ thể Nó bao gồm sự vận dụng tổng hợp các tri thức, kĩ năng và hành vi ứng xử trong thực hành Nói một cách khái quát, năng lực là một trạng thái hay một phẩm chất, một khả năng tương xứng để có thể thực hiện một công việc cụ thể [42,12]
Như vậy, cho dù là khó định nghĩa năng lực một cách chính xác nhất nhưng các nhà nghiên cứu của Việt Nam và thế giới đã có cách hiểu tương tự nhau về khái niệm này
Năng lực là "tổ hợp tất cả các nhân tố, thuộc tính" của một cá nhân nào đó phù
hợp với những yêu cầu của một hoạt động, một kế hoạch nào đó được đặt ra và phải đảm bảo cho hoạt động hay kế hoạch đó được hoàn thành một cách nhanh chóng và đạt được hiệu quả cao nhất Một số nhân tố tiêu biểu của năng lực như: tài năng, kỹ năng, kiến thức
Trang 16- Khái niệm tiếp nhận văn học
Từ điển thuật ngữ Văn học, tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi đồng chủ biên cho rằng “Tiếp nhận văn học là một hoạt động có quy luật Lí luận văn học truyền thống ghi nhận tiếp nhận văn học ở cấp độ cá thể, do các đặc điểm của
cá tính, sự tu dưỡng của người đọc quy định Tri âm là sự tiếp nhận tác phẩm đúng như
ý định tác giả, kí thác là sự tiếp nhận mà người đọc mượn tác phẩm dể bộc lộ nỗi lòng của mình đối với người đời Người đọc cũng có thể phát hiện những giá trị tư tưởng thẩm mĩ của tác phẩm ngoài tầm kiểm soát của tư tưởng tác giả, dựa trên các ấn tượng chủ quan về tác phẩm, hoặc khám phá những ý tưởng ngược hẳn với ý của tác giả” [14,326]
Trong cuốn Từ điển văn học (bộ mới), nhà xuất bản Thế giới, 2004 viết: “Tiếp
nhận (thưởng thức, cảm thụ tác phẩm) không phải là sự tái hiện giản đơn tác phẩm nghệ thuật trong ý thức, mà là một quá trình phức tạp, quá trình cùng tham dự và cùng sáng tạo của chủ thể tiếp nhận”
Theo SGK Ngữ văn 12, tập2 (2008): “Tiếp nhận văn học chính là quá trình
người đọc hóa mình vào tác phẩm, rung động với nó, đắm chìm trong thế giới nghệ thuật được dựng lên bằng ngôn từ, lắng nghe tiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp, tài nghệ của người nghệ sĩ sáng tạo [27, 180]
Sách SGK Ngữ văn 12 nêu: “Đặc điểm nổi bật của tiếp nhận văn học là tính đa
dạng và không thống nhất của nó, tính chất này bộc lộ ở chỗ cùng một tác phẩm nhưng cảm thụ và đánh giá của công chúng có thể rất khác nhau” Ngoài ra còn phụ thuộc vào độ tuổi, kinh nghiệm sống, học vấn hay tâm trạng người đọc, người nghe lúc tiếp xúc với tác phẩm văn chương [27,180]
Do đó ta thấy rằng hiện tượng tiếp nhận văn học là một hoạt động phức tạp có nhiều mức độ, quá trình tác động thẩm mĩ, người đọc tham gia vào mục đích sáng tạo cùng nhà văn,qua ý đồ của nhà văn mở ra những hiểu biết mới về cuộc đời
- Các năng lực tiếp nhận văn học
+ Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của các tác phẩm văn học: Năng lực
tái hiện hình tượng là người đọc sách đã đi từ vỏ ngôn ngữ của tác phẩm để nhận ra thế giới nghệ thuật do tác giả dựng lên Sự khác nhau trong hiệu quả đọc đó chính là
Trang 17sự khác nhau trong năng lực tưởng tượng tái hiện Đây cũng là dấu hiệu của năng khiếu văn học
+ Năng lực liên tưởng trong tiếp nhận văn học: Năng lực liên tưởng trong tiếp
nhận văn học là từ gợi ý của nhà văn thông qua những chi tiết, những hình ảnh, những con người, những tâm trạng, người đọc liên tưởng đến hiện thực cuộc sống, với vốn sống trực tiếp hoặc gián tiếp của mình bắt gặp được ý, lời tâm tình của nhà văn
+ Năng lực cảm thụ cụ thể kết hợp với năng lực khái quát hóa các chi tiết nghệ
thuật của tác phẩm trong chỉnh thể của nó: Hiểu một cách đơn giản, cảm thụ văn học
chính là sự kết hợp hài hòa giữa việc hiểu và rung động trong quá trình cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc tế nhị và đẹp đẽ của một văn bản nghệ thuật (cuốn truyện, bài văn, bài thơ ) hay của một bộ phận văn bản (đoạn văn, đoạn thơ, thậm chí một từ ngữ, hình ảnh có giá trị trong câu văn, câu thơ)
+ Năng lực nhận biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận: Có ba loại: tự
sự, trữ tình, kịch và từng loại lại có các thể nhỏ Người giáo viên dạy văn không chỉ chiếm lĩnh mà còn giúp người khác chiếm lĩnh tác phẩm, và do đó việc xác định “chất của loại” trong thể rất cần chính xác Để khi đi vào từng tác phẩm, từng loại thể người đọc cần có những năng lực nhận diện loại thể và khả năng vận dụng thi pháp từng loại thể vào việc chiếm lĩnh tác phẩm văn học
+ Năng lực cảm thụ (cảm xúc) thẩm mĩ: Năng lực cảm thụ thẩm mĩ thể hiện khả
năng của mỗi cá nhân trong việc nhận ra được các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống, thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp
và cái thiện, từ đó biết hướng những suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện Như vậy, năng lực cảm thụ (hay năng lực trí tuệ xúc cảm) thường dùng với hàm nghĩa nói về các chỉ số cảm xúc của mỗi cá nhân Chỉ số này mô tả khả năng tự nhận thức để xác định, đánh giá và điều tiết cảm xúc của chính mỗi người, của người khác, của các nhóm cảm xúc
+ Năng lực tự nhận thức: Cái kì diệu nhất của văn học chính là ở chỗ với sức
mạnh riêng của mình văn học thức tỉnh được lương tâm mỗi con người Văn học giáo dục bằng cách trò chuyện, tâm tình thông qua đối thoại ngầm giữa nhà văn với người đọc Nếu đọc văn mà chỉ để biết cốt truyện, để hiểu thêm, biết thêm những câu
Trang 18chuyện về con người, về cuộc đời thì chưa đủ Văn học khác ở chỗ là làm lay động tâm hồn con người
+ Năng lực đánh giá: Năng lực đánh giá tác phẩm là năng lực tự nhìn nhận,
phát hiện giá trị của tác phẩm ở tầm khái quát, vĩ mô trong nhiều quan hệ giữa tác phẩm với tác giả, với những tác phẩm khác của các tác giả khác, với đời sống xã hội phát sinh của tác phẩm, với đời sống xã hội ngày nay
- Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ
Trong Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát
triển năng lực học sinh môn Ngữ văn có viết: Năng lực cảm thụ (hay năng lực trí
tuệ xúc cảm) thường dùng với hàm nghĩa nói về các chỉ số cảm xúc của mỗi cá nhân Chỉ số này mô tả khả năng tự nhận thức để xác định, đánh giá và điều tiết cảm xúc của chính mỗi người, của người khác, của các nhóm cảm xúc [5,51] Năng lực cảm xúc thẩm mĩ được thể hiện ở một số khía cạnh:
- Nhận thức được cảm xúc của bản thân: Đó là chúng ta nhận biết các xúc cảm
của mình từ đó điều khiển nó theo ý mình một cách có lý trí sẽ làm cho cuộc sống của mình tốt hơn Những người không biết cảm xúc của mình sẽ thường phó mặc tình
cảm của mình đó là cở sở của năng lực cảm xúc
- Làm chủ các cảm xúc của bản thân: Đó là năng lực làm cho những cảm xúc
của mình thích nghi trong mọi hoàn cảnh, tuy nhiên còn phụ thuộc vào ý thức và lý trí bản thân Những người có năng lực làm chủ cảm xúc của bản thân có thể vượt qua một cách tốt nhất và dễ dàng nhất những thất bại và những khó khăn bản thân gặp trong cuộc sống Tránh được sự buồn rầu, giận dữ thậm trí cả những hậu quả tiêu cực Người có năng lực này biết ứng xử, biết thể hiện tình cảm, cảm xúc của bản thân
trong những hoàn cảnh giao tiếp nhất định
- Nhận biết các cảm xúc của người khác và những biểu hiện của cuộc sống từ
phương diện thẩm mĩ: Đó chính là sự đồng cảm, nhạy cảm trước những hoàn cảnh
của người khác xuất phát từ ý thức của bản thân đây chính là yếu tố cơ bản tạo nên mối quan hệ qua lại giữa cá nhân và những người xung quanh Người đồng cảm là người biết chia sẻ, hiểu được những mong muốn, nhu cầu của người khác, cũng như
sự nhạy cảm và sự tương giao giữa cảm xúc của cá nhân với những thay đổi của các
Trang 19hình ảnh cuộc sống Biết thể hiện tình cảm, thái độ phù hợp trước những biểu hiện của cái đẹp, cái thiện cũng như cái ác, cái xấu trong cuộc sống
- Làm chủ những liên hệ, những giá trị của con người và cuộc sống: Luôn biết
giữ quan hệ tốt với những người xung quanh, đó chính là biết chủ động điều khiển các cảm xúc của mình Những người biết làm cho mình có được tình cảm yêu mến của người khác, biết điều khiển và định hướng một cách có hiệu quả những mối liên
hệ của mình với những người khác đều có thể làm chủ cảm xúc ở mức cao nhất Đó cũng là người biết nhận thức được những giá trị sống của phương diện thẩm mĩ, biết hành động vì những gì tốt đẹp trong môi trường sống của mình Đây chính là yếu tố quan trọng tạo nên thành công của mỗi người trong cuộc sống
Như vậy, năng lực cảm thụ thẩm mĩ là năng lực đặc thù của môn Ngữ văn nó gắn với tư duy hình tượng trong tiếp nhận văn bản văn học Qua việc tiếp xúc với văn bản người đọc bước vào thế giới hình tượng của tác phẩm và thế giới tâm hồn của nhà văn
1.1.2 Dạy đọc hiểu văn bản văn chương theo hướng phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh
Dạy đọc hiểu văn bản theo hướng năng lực định hướng
Dạy đọc hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản Cách dạy đọc hiểu không phải truyền thụ một chiều cho HS những cảm nhận của GV về văn bản được học, mà hướng đến việc cung cấp cho HS cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành cho HS năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động, có sắc thái cá nhân Khi hình thành năng lực đọc hiểu của HS cũng chính là hình thành năng lực cảm thụ thẩm mĩ, khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng và tư duy
Để đọc hiểu bất kì một văn bản nào người đọc cần thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Tìm kiếm thông tin từ văn bản
- Giải thích cắt nghĩa, phân loại, so sánh, kết nối thông tin để tạo nên hiểu biết chung về văn bản
- Phản hồi và đánh giá thông tin trong văn bản
Trang 20- Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc vào việc đọc các loại văn bản khác nhau, đáp ứng những mục đích học tập và đời sống
Để đạt được nhiệm vụ trên HS cần phải thực hiện 3 nội dung cơ bản:
- Huy động vốn kiến thức và kinh nghiệm của bản thân là những hiểu biết về chủ đề hay hiểu biết về các vấn đề văn hóa xã hội có liên quan đến chủ đề, thể loại của văn bản
- Thể hiện những hiểu biết về văn bản
- Vận dụng những hiểu biết về các văn bản đã đọc hiểu vào việc đọc các loại văn bản khác nhau, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sống yêu cầu dùng đến hoạt động đọc hiểu
Như vậy, việc dạy đọc hiểu không chỉ rèn luyện cho HS năng lực đọc hiểu văn bản mà còn rèn luyện năng lực tạo lập văn bản, đặc biệt năng lực viết sáng tạo Thể hiện khả năng trình bày, thể hiện những cảm nhận, suy nghĩ của cá nhân về đối tượng vấn đề đặt ra
Dạy đọc hiểu văn bản theo hướng phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ
Ở môn Ngữ văn, năng lực thẩm mĩ gồm hai năng lực nối tiếp nhau trong quá trình tiếp xúc với vẻ đẹp của tác phẩm văn chương và tiếng Việt đó là: năng lực khám phá cái đẹp và năng lực thưởng thức cái đẹp
- Năng lực khám phá cái đẹp gồm năng lực phát triển cái đẹp và những rung động thẩm mĩ
- Còn năng lực thưởng thức cái đẹp là năng lực cảm thụ cái đẹp
Năng lực cảm thụ thẩm mĩ được thể hiện ở những phương diện sau:
- Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trước những hình ảnh, hình tượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con người cuộc sống qua ngôn ngữ nghệ thuật
- Nhận ra được giá trị thẩm mĩ được thể hiện trong tác phẩm văn học, cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi, cái cao cả, cái thấp hèn từ đó nhận được những giá trị tư tưởng cảm hứng nghệ thuật của nhà văn được thể hiện qua tác phẩm
- Hiểu được những giá trị của bản thân qua việc cảm hiểu tác phẩm văn học, hình thành và nâng cao nhận thức và cảm xúc thẩm mĩ cá nhân, biết cảm nhận và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống, có những hành vi đẹp
Trang 21đối với bản thân và các mối quan hệ xã hội, hình thành thế giới quan thẩm mĩ cho bản thân qua việc tiếp nhận tác phẩm văn chương
Biểu hiện của cảm xúc thẩm mĩ là sự rung động, khoái cảm trước cái đẹp, buồn rầu trước cái xấu, ngưỡng mộ trước cái cao cả, ghê tởm trước cái thấp hèn, buồn đau trước cái bi Cảm xúc thẩm mĩ là cái đầu tiên để nhà nghệ sĩ sáng tạo và là cảm xúc
có giá trị nhân văn nhất đối với loài người Và từ cái đẹp của nghệ thuật mà họ cảm nhận ra cái đẹp trong cuộc sống của con người đây chính là sự đánh giá cái đẹp đúng đắn nhất, và sự đánh giá này là điều không thể thiếu trong năng lực thẩm mĩ của người học để họ có thể chiếm lĩnh được cái đẹp ấy
Như vậy, trong năng lực thẩm mĩ có cả yếu tố cảm xúc (rung động thẩm mĩ) và yếu tố lí trí (nhận xét đánh giá ) hai yếu tố này thường gắn bó, hòa quyện với nhau trong quá trình người học tiếp xúc với vẻ đẹp của văn chương và tiếng Việt
Phát triển năng lực thẩm mĩ ở đây chính là bồi dưỡng cho thế hệ trẻ về cả hai mặt cảm xúc và lí trí qua các khâu phát hiện cái đẹp, cảm thụ cái đẹp, đánh giá cái đẹp… Điều này GV có thể làm được thông qua việc học trên lớp cũng như việc hướng dẫn HS tự đọc tác phẩm ở nhà
Từ việc tiếp xúc với các văn bản văn học, HS sẽ biết rung động trước cái đẹp, biết sống và hành động vì cái đẹp, nhận ra cái xấu và phê phán những hình tượng, biểu hiện không đẹp trong cuộc sống, biết đam mê và mơ ước cho cuộc sống tốt đẹp hơn
1.1.3 Đặc điểm sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số
1.1.3.1 Đặc điểm sử thi và sử thi dân tộc thiểu số
* Khái niệm sử thi
Tìm hiểu khái niệm sử thi là tiền đề quan trọng để đi vào các phương diện khác
của sử thi
Theo cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi thuật ngữ sử thi được hiểu như sau: “Sử thi còn gọi là anh hùng ca,
là thể loại tác phẩm tự sự dài xuất hiện sớm trong lịch sử văn học các dân tộc nhằm
ca ngợi sự nghiệp anh hùng có tính dân tộc trong buổi bình minh lịch sử, về kết cấu
sử thi là một câu chuyện được kể lại có đầu có đuôi với quy mô lớn, các nhân vật chính của sử thi là các anh hùng, tráng sĩ tiêu biểu cho sức mạnh thể chất và tinh thần, cho ý chí và trí thông minh, lòng dũng cảm của cộng đồng được miêu tả khá tỉ mỉ,
Trang 22đầy đủ từ cách ăn mặc, trang bị đi đứng đến những trận giao chiến với kẻ thù, những chiến công lừng lẫy và đôi khi cả trong những nét sinh hoạt đời thường, điều đáng chú ý là tất cả những cái này được miêu tả kỳ diệu khác thường Sở dĩ như vậy là vì
sử thi ra đời vào thời điểm nối tiếp sau thần thoại, tức là từ thế giới của các vị thần bắt đầu chuyển sang thế giới của con người, do đó cái nhìn đậm màu sắc thần kỳ nói trên đối với các nhân vật trong sử thi là không tránh khỏi Trong sử thi thì chủ yếu miêu tả hành động của nhân vật hơn là rung động Những câu chuyện kể, cốt truyện thường được bổ sung thêm những mô tả có tính chất tĩnh tại và những cuộc đối thoại trang trọng có tính nghi thức” [14,376]
Trong quyển Lí luận văn học tác giả Phương Lựu giải thích về anh hùng ca (sử
thi) như sau: “Anh hùng ca (sử thi) là thể loại tự sự thể hiện tập trung cho loại chủ đề lịch sử dân tộc, điều chủ yếu ở chỗ anh hùng ca là thể loại tự sự miêu tả các sự kiện quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với đời sống tinh thần và vận mệnh của dân tộc
và nhân dân” [29,380]
V.E.Guxep cho rằng: “đó là những truyện kể bằng lời ca hoặc nửa ca về sự đấu tranh của thị tộc - bộ lạc - nhân dân cho sự tồn tại và nền độc lập của mình trong sự xung đột với những lực lượng thù địch Trung tâm của loại sử thi này là người anh hùng mang phẩm chất ưu tú của tập thể và đại diện cho tập thể trong mọi hành động
Sử thi anh hùng là những trang sử thi hùng tráng của quá khứ, nó giáo dục tình cảm yêu nước của các thế hệ mới, chức năng sinh hoạt xã hội của những bài ca này thực
sự là ở chỗ đó” [45,168]
Sử thi (thuật ngữ châu Âu: épos, épic) là khái niệm được tiếp nhận từ các nền
học thuật chịu ảnh hưởng quan niệm văn học và mỹ học thuộc truyền thống châu Âu dưới hai phạm vi rộng và hẹp: trong nghĩa rộng, thuật ngữ chỉ một thể loại tự sự, một trong ba loại thể văn học phân biệt với kịch và trữ tình Ở phạm vi hẹp, hiện nay được dùng một cách tương đối phổ biến trong các nền văn học dân tộc nói chung, thuật ngữ chỉ thể loại sử thi anh hùng
* Đặc điểm của thể loại sử thi
Về nội dung:
Theo Hêghen: “ hành động trong sử thi xuất phát từ những cá nhân (thậm chí từ một cá nhân) là những người trọn vẹn đã biểu lộ sự phát triển của nếp tư duy dân tộc
Trang 23và phương thức hành động có tính chất dân tộc” “Hành động cá nhân trong sử thi xuất hiện trên cơ sở một trạng thái chung có tính chất sử thi trên thế giới, trạng thái đó đã được sự thống nhất hài hòa giữa tự sự thể hiện những tính cách sử thi dưới hình thức cá nhân và những mục đích sử thi có tính chất toàn dân” Hêghen cho rằng “ trong sử thi là toàn bộ những gì làm thành cuộc sống nên thơ của con người” [29,165]
+ Biểu hiện ý thức cộng đồng của nhân dân, dân tộc đối với quá khứ vẻ vang của mình Mở rộng ra, nội dung của anh hùng ca là các sự kiện có ý nghĩa toàn dân toàn dân tộc Đó là chiến tranh, cách mạng, là sự thay đổi, thử thách tồn vong của đất nước [29,328]
+ Các anh hùng là người đại diện cho sức mạnh hồn hậu của toàn thể nhân dân thời đó… [29,381]
+ Đặc điểm của nhân vật anh hùng là tầm cỡ dân tộc Cái đẹp của họ là vẻ đẹp dân tộc Cái giàu mạnh là giàu mạnh dân tộc, cái tính của họ cũng là của dân tộc [29,381]
+ Anh hùng ca miêu tả với quy mô rộng lớn toàn bộ đời sống nhân dân từ sinh hoạt đạo đức, phong tục, tín ngưỡng Mọi phương diện của đời sống nhân dân từ lớn nhất đến nhỏ nhất đều được thể hiện cùng với các sự kiện được miêu tả [29,382]
Tiến sĩ Baumann (Đại học India - Hoa Kỳ) cũng đưa ra những tiêu chí cần phải
có trong nghệ thuật của sử thi:
+ “Có kết cấu thể thức thơ (có độ dài tương đối)” [32,165]
+ “Có tính truyện kể” [32,165]
+ “Có diễn xướng trong công chúng” [32,165]
Tác giả Phương Lựu viết “đặc điểm văn học nổi bật trong lời văn anh hùng ca là lối trần thuật khoan thai, trầm tĩnh, tường tận mang sắc thái ngợi ca, phong cách cường điệu cao cả Văn anh hùng nói chung không bị câu thức bởi cảm giác thời gian” [29,387]
Trang 24Võ Quang Nhơn đưa ra quan điểm “một trong những yếu tố góp phần tạo nên giá trị độc đáo và trường cửu của các bản sử thi là yếu tố ngôn ngữ Đó là thứ “ngôn ngữ tình cảm” “ngôn ngữ giàu nhạc điệu” cách nói có vần điệu, tạo nên âm hưởng hài hòa và có sự liên kết chặt chẽ với nhau giữa các vế trong một câu” [34,310]
Nhìn chung, những vấn đề lý thuyết liên quan đến khái niệm, những đặc điểm
về nội dung và nghệ thuật của thể loại sử thi đều được giới nghiên cứu mổ xẻ, làm rõ
ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng giữa các ý kiến vẫn chưa có sự thống nhất
Sử thi Đăm Săn
* Quá trình sưu tầm sử thi Đăm Săn
Sử thi Đăm Săn là một tác phẩm có giá trị trong kho tàng văn học các DTTS Việt Nam sử thi Đăm Săn được người Pháp biết đến khá sớm Năm 1928, viên công
sứ Đắc Lắc là L.Sabatier đã sưu tầm được từ những người kể, sau đó dịch ra tiếng
Pháp và cho xuất bản ở Paris Năm 1959 Đào Chí Tử dịch tác phẩm Đăm Săn do
L.Sabatier sưu tầm từ tiếng Pháp sang tiếng Việt, đây được xem là một bước đột phá giúp bạn đọc Việt Nam lần đầu tiên được biết tới tác phẩm nổi tiếng này Năm 1988,
tác giả Nguyễn Hữu Thấu cho ra đời một văn bản khan Đăm Săn khác cũng dưới hình
thức song ngữ Ê Đê - Việt, đây là văn bản được biên soạn và chú thích khá công phu
Tính từ lúc phát hiện đến nay sử thi Đăm Săn đã có đến năm văn bản được dịch ra
“Căn cứ theo thực tế lịch sử được ghi nhận ở các di tích khảo cổ thì người Chàm
đã lên cư trú ở Tây Nguyên ít nhất là vào khoảng thế kỷ XII đến thế kỷ XIV Và chúng ta có thể nêu lên giả thuyết khan Đăm Săn (và một số khan khác của người Ê Đê) ít nhất có thể ra đời vào khoảng thế kỷ XII đến thế kỷ XIV, thời kỳ mà người Chàm xuất hiện nhiều trong các tác phẩm khan Tây Nguyên với cách xưng hô quen thuộc của các nhân vật thường gặp trong tác phẩm: “Hãy nhìn xem, người Chàm (khách lạ) đến nhà!” [8, 401]
Từ những căn cứ trên có thể đưa ra suy luận thời điểm ra đời của sử thi Đăm Săn là vào khoảng thế kỷ XII hoặc trễ hơn là từ khoảng thế kỷ XII đến thế kỷ XIV
* Tóm tắt tác phẩm
Theo lời dặn của ông Mtao Kla khi lớn lên Đăm Săn sẽ nối dây với HơNhị và HơBhị Hai chị em nhớ lời dặn của ông nên nhờ anh em của họ đến nhà Đăm Săn hỏi cưới chàng Đăm Săn lớn lên trong một buôn làng giàu có, đẹp và vui không đâu
Trang 25bằng, là một chàng trai tuấn tú và “ngang tàng ngay trong bụng mẹ” Đăm Săn lẫn tránh không nhận lời hỏi cưới của HơNhị vì chàng đã có người yêu là nàng Hbia Điêt Kluich ở cùng buôn làng Chàng nhờ chị mình là HơÂng bồi thường bằng vật chất nhưng anh em của HơNhị không chấp nhận Giữa lúc đó, ông Đu, ông Điê chống gậy đến nhà HơNhị, HơBhị để giúp hai chị em thu xếp việc cưới hỏi với Đăm Săn và chàng phải chấp nhận Trên đường về Đăm Săn thi chạy với HơNhị và HơBhị nếu chàng thắng thì sẽ không lấy họ Nhưng kết quả chàng đành phải thuận lòng theo
họ về làm chồng Lễ cưới diễn ra nhộn nhịp, đông vui có sự chứng kiến của dân làng
và hai bên dòng họ Đăm Săn về làm nuê, chàng vẫn tiếp tục chống lại cuộc hôn nhân
đó Chàng trễ nải công việc nhà vợ chỉ biết bày trò chơi đẩy cây thâu đêm suốt sáng
Vợ tỏ thái độ không bằng lòng chàng tức giận bỏ về nhà chị ruột Sau đó hai nàng đi tìm và gọi Đăm Săn về Trong một lần đi bắt voi dữ cho hai chị em, chàng bị voi đưa vào tận rừng và tình cờ chàng gặp hoa thiêng của vợ Đăm Săn tìm mọi cách khèo hoa rồi chàng mệt ngủ lịm trên cây Hồn Đăm Săn gặp được Trời, Đăm Săn không chịu lấy HơNhị nên bị Trời gõ đầu bảy lần Tỉnh dậy gặp HơNhị hai người cùng trở
về, Đăm Săn trở lại nhà chị lấy khố áo và ngủ quên Voi dữ đưa HơNhị vào rừng sâu phải đổ chì nấu chảy vào tai chàng mới tỉnh dậy tìm vợ Về đến nhà vợ chàng vẫn mãi mê chơi đùa Mtao Grự là một tù trưởng láng giềng được biết HơNhị là một cô gái xinh đẹp hắn tìm cách bắt cóc HơNhị Đăm Săn tìm đến chỗ ở của hắn, đánh nhau
và giết chết được Mtao Grự giành lại được vợ, chàng có thêm nhiều nô lệ và của cải, Đăm Săn tổ chức ăn mừng và làm lễ tạ thần linh sau đó chàng kêu gọi dân làng bắt tay vào việc nương rẫy Biết Đăm Săn vắng nhà, một tù trưởng khác là Mtao Mxây giả làm bạn Đăm Săn, vờ đến thăm và HơNhị lại bị bắt cóc một lần nữa Đăm Săn đánh một trận quyết liệt với hắn, nhờ sự giúp đỡ của Trời, Đăm Săn đã chiến thắng và giành lại được vợ Một hôm nọ, chàng gọi dân làng đi đốn cây, Đăm Săn tình cờ gặp cây Smuk, cây Smuk chàng không biết đây là cây thiêng của HơNhị và HơBhị chàng đốn cây quên cả thời gian Hai chị em van xin nhưng Đăm Săn vẫn chặt, cây ngã và HơNhị, HơBhị chết Vợ chết Đăm Săn đau buồn khóc cả ngay lẫn đêm, sau đó chàng tìm gặp Trời, định chặt đầu Trời nhưng Trời đã cứu HơNhị, HơBhị sống lại Đăm Săn quyết định đi bắt nữ thần Mặt Trời để về làm vợ bất chấp sự ngăn cản của vợ và hai
Trang 26anh em Tăng Măng, Đam Par Kvây Gặp nữ thần Mặt Trời chàng ngỏ lời cầu hôn nhưng bị nàng từ chối Đăm Săn vì quá tức giận mà không nghe lời khuyên của nữ thần, chàng vội về ngay nhưng Mặt Trời đã lên, đất mềm làm cho cả người lẫn ngựa
bị chết ngập ở rừng Sáp Đen nhão như bùn nước Hồn Đăm Săn biến thành con ruồi bay vào miệng chị gái là HơÂng khiến nàng có mang và sinh ra môt đứa con trai Thần Phán đặt tên cho nó là Đăm Săn, thằng bé lớn chẳng bao lâu mà đã biết mua chiêng, sắm voi Theo quy định của tục “cậu chết thì cháu phải thay” HơNhị đến cầu hôn Đăm Săn và thành vợ chồng Đăm Săn cháu lại đi tiếp con đường của người cậu anh [34, 125]
1.1.3.1 Đặc điểm truyện thơ và truyện thơ dân tộc thiểu số
*Khái niệm truyện thơ
Trong Từ điển thuật ngữ văn học không có mục từ truyện thơ, mà chỉ có mục
từ truyện Nôm với lời giải thích như sau: “Thể loại tự sự bằng thơ dài rất tiêu biểu
cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, do viết
bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm nên được gọi là truyện Nôm [14,110]
Cũng trong sách này, có mục từ trường ca, ở cuối mục từ này có đoạn viết: “Ở Việt Nam các truyện thơ dài như Truyện Kiều, Tiễn dặn người yêu,… được gọi
là truyện thơ, các tác phẩm trữ tình dài được gọi là ngâm khúc Tên gọi “trường ca” một thời dùng chỉ các sử thi dân gian như Đam Săn, nay thường được dùng để chỉ sáng tác thơ dài của các tác giả như Bài ca chim chơ rao của Thu Bồn, Theo chân
Bác của Tố Hữu” [14,111]
Nhìn ở góc độ thể thơ, có truyện thơ được sáng tác theo thể thơ Đường luật, có truyện thơ được sáng tác theo thể lục bát.Phần lớn truyện Nôm bác học có tên tác giả, hầu hết truyện Nôm bình dân là khuyết danh.Truyện Nôm bác học được xếp vào dòng văn học viết, còn truyện Nôm bình dân được xếp vào dòng văn học nào? Về vấn đề này, có hai quan niệm
Một quan niệm cho rằng, truyện Nôm bình dân là cái dấu nối giữa văn học dân gian và văn học viết Vì thế, trong giáo trình văn học dân gian của Trường Đại học sư phạm Hà Nội và giáo trình văn học dân gian của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội từ
Trang 27đầu những năm 60 của thế kỉ XX cho đến hơn 20 năm sau, truyện Nôm bình dân không được phân tích với tư cách là một thể loại văn học dân gian
Quan niệm thứ hai cho rằng, truyện Nôm bình dân thuộc phạm trù văn học dân gian Tiêu biểu cho quan niệm này là GS Kiều Thu Hoạch Ông đã triển khai luận điểm của mình trong luận án Tiến sĩ Ngữ văn và sau đó nội dung của luận án đã được
Nhà xuất bản Khoa học xã hội công bố thành sách vào năm 1993: Truyện Nôm nguồn
gốc và bản chất thể loại Trong công trình này, ông đã điểm lại lịch sử nghiên cứu
một cách đầy đủ, khách quan, phân tích nguồn gốc và quá trình phát triển của thể loại, khảo sát thi pháp và chức năng tư tưởng thẩm mĩ của truyện Nôm Cuối cùng, ông kết luận rằng, “truyện Nôm bình dân chính là những sáng tác dân dã nằm trong văn hoá dân gian” Viện Nghiên cứu văn hoá (trước đây là Viện Nghiên cứu văn hoá dân gian) đồng tình với quan niệm của GS Kiều Thu Hoạch Khi Viện Nghiên cứu
văn hoá phối hợp với Nhà xuất bản Khoa học xã hội biên soạn và công bố Tổng tập
văn học dân gian người Việt, truyện Nôm bình dân là một thể loại văn học dân gian
*Đặc điểm truyện thơ dân tộc thiểu số
Ở văn học các DTTS cũng có truyện thơ dân gian: Nam Kim - Thị Đan, Huỳ
Nga - Hai Mối, Tiễn dặn người yêu, Chàng Lú - nàng Ủa,…
Truyện thơ các DTTS là một thể loại văn học dân gian thuộc loại hình tự sự, bao gồm những tác phẩm có hình thức văn vần, được kể, được hát, được ngâm, đọc (kể cả trước và sau khi đã được ghi chép) và thường có nội dung thể hiện thân phận con người và cuộc sống lứa đôi
Có nhiều người đồng nhất giữa hai thể loại sử thi và truyện thơ chúng ta cần phân biệt Theo GS TSKH Phan Đăng Nhật, sự khác nhau giữa truyện thơ và sử thi thể hiện ở chỗ: “Sử thi ra đời chủ yếu do nhu cầu phản ánh và hỗ trợ cuộc chuyển hoá của lịch sử (chủ yếu bằng chiến tranh) để hình thành Nhà nước, hình thành Quốc gia” Còn “truyện thơ ra đời do nhu cầu lịch sử - xã hội của thời đại của nó Lúc bấy giờ trong xã hội các DTTS đã xuất hiện nhiều mâu thuẫn Mâu thuẫn giữa tình yêu chân chính của đôi lứa với đòi hỏi khắt khe, lạnh lùng nhiều khi tàn bạo của gia đình và xã hội; mâu thuẫn giữa người nghèo khó và kẻ giàu sang; mâu thuẫn giữa chính nghĩa và
Trang 28phi nghĩa Lúc này vấn đề thân phận của con người được đặt ra và đòi hỏi phải đáp
ứng thoả đáng [31, 401]
Về các hình thức diễn xướng (kể, hát, ngâm, đọc) thì không phải truyện thơ của dân tộc nào cũng được thể hiện bằng tất cả bốn hình thức đó Chẳng hạn Người
Chăm không kể thơ bao giờ, họ chỉ ngâm còn về truyện thơ Thái, H’mông, Tày thì có
phương thức diễn xướng là hát hoặc ngâm
*Đề tài của truyện thơ
- Chúng đề cập đến nhiều mặt trong hiện thực xã hội của các dân tộc anh em; hoặc thân phận những đứa trẻ mồ côi; hoặc cuộc sống cực nhục của những người lao động nghèo khổ; hoặc khát vọng lập công cứu nước trả thù nhà của các chàng trai; hoặc các mốc lịch sử lớn trong đời sống các dân tộc…
- Đặc biệt là đề tài về cuộc đấu tranh cho tự do yêu đương, cho quyền sống của người phụ nữ trong lòng xã hội cũ là một đề tài khá phổ biến Đó là khát vọng dân chủ thiết tha, mãnh liệt của quần chúng trong lòng xã hội phong kiến mà quyền sống con người bị chà đạp, bóp nghẹt nặng nề, được phản ánh vào trong nền văn học truyền thống các dân tộc anh em.[34,395 - 396]
* Giá trị, các tác phẩm tiêu biểu
- Căn cứ vào đề tài, phương thức diễn xướng thì người ta phân loại truyện thơ thành ba nhóm: Nhóm truyện thơ về đề tài tình yêu, nhóm truyện thơ về đề tài nghèo khổ, nhóm truyện thơ về đề tài chính nghĩa
- Truyện thơ Tiễn dặn người yêu là truyện thơ về đề tài tình yêu , bên cạnh còn
có một số chuyện như Chàng Lú - nàng Ủa (Thái), Nam Kim - Thị Đam (Tày), nàng
Đợ - chà Tăng (Mông)
*Tóm tắt tác phẩm Tiễn dặn người yêu
Truyện thơ Tiễn dặn người yêu được kể từ khi Anh yêu và Em yêu còn là bào thai Họ biết nhau từ trong lòng mẹ sinh gần như cùng ngày, cùng giờ và cùng bản Ngày thơ ấu hai đứa chơi chung cát, chung đất Rồi khi lớn lên họ đã yêu nhau và hẹn ước bên nhau
Nhưng điềm báo tình yêu của họ chả lành khi cha mẹ Em yêu chê Anh yêu nghèo và ép gả Em yêu cho một gã con trai mặt gãy như khỉ Em yêu vô cùng đau đớn đành nhắm mắt đưa chân nhận người ta về ở rể ngoài Với hy vọng Anh yêu sẽ
Trang 29trở về đúng lúc để chuộc lại mình nhưng năm tháng trôi qua đã hết thời gian người kia ở rể Em yêu tìm mọi cách trì hoãn từ tháng hai đến tháng chạp cũng không thấy Anh yêu quay về Đến ngày bố mẹ đưa con về nhà chồng thì Anh yêu trở về, bây giờ anh giàu có nhưng đành nhìn bước Em yêu về nhà chồng Bất chấp nguy hiểm Anh yêu vẫn đưa tiễn Em yêu về nhà chồng
Em yêu phải theo chồng về làm tròn trách nhiệm làm dâu, làm mẹ và làm vợ Cuộc sống của Em yêu về nhà chồng như địa ngục trần gian Em yêu bị nhà chồng đuổi về, nàng vừa về đến nhà đã bị gả cho người khác Lần lấy chồng này nàng ngẩn ngơ vụng dại tuy nhiên không bị đuổi về như trước mà nàng bị người ta đem ra chợ bán rao giá bằng một cuốn rong Người đổi lấy nàng chính là Anh yêu bây giờ anh đã
có gia đình Còn Em yêu bây giờ dáng hình cũng thay đổi Anh yêu không còn nhận ra
Em yêu tủi nhục trách phận bèn mang chiếc đàn môi kỷ vật ra thổi lên những tiếng xưa
họ đã nhận ra nhau Anh yêu đã tiễn người vợ cũ về nhà mẹ đẻ cẩn thận chu đạo sau đó Anh yêu và Em yêu đã tổ chức đám cới trong cảnh đoàn viên hạnh phúc trọn vẹn
1.1.4 Đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 10
“Học sinh THPT” là thuật ngữ chỉ nhóm HS đầu tuổi thanh niên (từ 15, 16 đến
17, 18 tuổi) theo tâm lý học lứa tuổi, tuổi thanh niên là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dạy thì và kết thúc khi bước vào độ tuổi mới lớn
*Về thể chất
- Lứa tuổi THPT là thời kỳ mà sự phát triển thể chất của con người đang đi vào giai đoạn hoàn chỉnh Nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên Thể chất của các em đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ rất sung sức “17 tuổi bẻ gãy sừng trâu” Sự phát triển về thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách đồng thời nó còn ảnh hưởng đến sự lựa
chọn nghề nghiệp của các em trong tương lai
*Trí tuệ
- Ở giai đoạn tuổi THPT thì tính chủ động được phát triển mạnh ở tất cả các quá trình nhận thức Quan sát có tính mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ
Trang 30-Việc phát triển trí tuệ với việc tiếp nhận văn chương Các em đã có sự tập
trung, chú ý tới tác phẩm các em đọc nhanh, nhớ nhanh có những em đã hiểu được ý của văn bản, vận dụng linh hoạt trong học tập cũng như trong cuộc sống hàng ngày Tuy nhiên vẫn còn những bộ phận nhỏ các em học theo kiểu dập khuôn máy móc Tiếp nhận tác phẩm theo kiểu học vẹt chỉ đọc thuộc lòng mà quên đi ý nghĩa sâu xa
của tác phẩm Học thuộc bài giảng của GV để kiểm tra chứ không hề sáng tạo
Vì vậy GV cần hướng dẫn HS giúp các em có lối tư duy một cách tích cực độc lập Việc PTNL của HS trong tiếp nhận tác phẩm là vô cùng quan trọng nó là một trong những nhiệm vụ của người GV
*Quan điểm sống, định hình về lối sống và cá tính riêng
- Quan điểm sống, định hình về lối sống HSTHPT có nguyện vọng thể hiện cá tính của mình trước mọi người một cách độc đáo, tìm cách để người khác quan tâm đến mình hoặc làm điều gì đó thật nổi bật vì vậy nảy sinh ra cái gọi là cá tính riêng
Cá tính riêng thể hiện ở phong cách thời trang, hoạt động giao tiếp hay trong sự phân biệt với bạn khác giới
- Đời sống tình cảm của HSTHPT ở lứa tuổi này đời sống tình cảm của các em phong phú, sâu sắc được dựa trên, lý tưởng sống và định hướng nghề nghiệp
+ Ở lứa tuổi mơ mộng, khao khát sáng tạo, thích cái mới lạ, chuộng cái đẹp hình thức bên ngoài, có mới nới cũ
+ Lứa tuổi này rất hăng hái nhiệt tình trong công việc, lạc quan yêu đời nhưng cũng rất dễ bi quan chán nản khi gặp thất bại
+ Và tồn tại một số các hành vi chưa phù hợp với các của bản thân, việc chủ động và tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội còn hạn chế
Đây là lứa tuổi đầu thanh niên là tuổi của những người đang lớn nhưng chưa thành người lớn, những người thu nhận thông tin nhưng chưa phải là những người uyên bác, những người ham mê nhưng chưa phải là say mê đây chính là đặc điểm của lứa tuổi thanh niên mới lớn
Trang 31- Đoạn trích “Chiến thắng Mtao Mxây” trích sử thi Đăm Săn của dân tộc Ê Đê
- Đoạn trích “Lời tiễn dặn” trích Tiễn dặn người yêu truyện thơ dân tộc Thái
1.2.1.1 “Chiến thắng Mtao Mxây” trích sử thi Đăm Săn
- Kết quả cần đạt
+ Nhận thức được: lẽ sống, niềm vui của người anh hùng sử thi chỉ có được trong cuộc sống chiến đấu vì danh dự, hạnh phúc và sự thịnh vượng cho cộng đồng + Nắm được đặc điểm nghệ thuật của sử thi anh hùng về cách xây dựng nhân vật, nghệ thuật miêu tả và sử dụng ngôn từ
- Nội dung bài học:
- Nội dung: Đoạn trích “Chiến thắng Mtao- Mxây” trong SGK Ngữ Văn 10 tập
1 đã được trích dẫn chính xác và đây là đoạn trích tiêu biểu thể hiện được vẻ đẹp của người anh hùng Đăm Săn là hình tượng cho cộng đồng Ê Đê
- Hệ thống câu hỏi trong bài học
+ Đối với câu hỏi 1: Hãy tóm tắt diễn biến trận đánh để so sánh tài năng và phẩm chất của hai tù trưởng
Mang tính chất câu hỏi nhận biết vì thế giúp PTNL giao tiếp tiếng Việt vì ở đây
HS được sử dụng hệ thống ngôn ngữ để diễn đạt ý của cá nhân một cách chính xác và
tự tin Trong môn Ngữ văn việc hình thành và phát triển năng lực giao tiếp tiếng Việt
là một mục tiêu quan trọng
+ Đối với câu hỏi 2,3,4 đều là những câu hỏi thông hiểu phân tích sự vật, hành động có trong bài học ở những câu hỏi nay đòi hỏi khả năng hiểu biết về
Trang 32các sự việc trong bài học ở các câu hỏi này không giúp các em phát triển được các năng lực cần có
Trong môn Ngữ văn, để hướng tới mục tiêu dạy học PTNL người học có thể tăng cường những câu hỏi / bài tập mang tính tình huống giúp HS phát huy được sự sáng tạo cá nhân giúp các em hứng thú hơn trong giờ học tuy nhiên hệ thống câu hỏi trong phần hướng dẫn học bài trong SGK đưa ra số câu hỏi còn nhiều hạn chế chưa phù hợp với việc PTNL của HS đặc biệt với năng lực cảm thụ thẩm mĩ Trong đó có 4 câu hỏi đều mang tính chất nhận biết và thông hiểu chưa có các câu hỏi vận dụng từ cấp độ thấp đến cấp độ cao giúp HS có được những năng lực cần thiết của bài học
1.2.1.2.“Lời tiền dặn” trích Tiễn dặn người yêu
- Vì đây là bài đọc thêm HS tự tìm hiểu qua hướng dẫn của GV nên trong SGK không trình bày kết quả cần đạt
- Nội dung bài học:
- Nội dung: Tác phẩm gồm 1846 câu thơ Đoạn trích “Lời tiễn dặn” miêu tả rất
rõ tâm trạng của chàng trai trên đường tiễn cô gái về nhà chồng và phải chứng kiến cảnh cô bị chính người chồng đánh đập đây là đoạn trích tiêu biểu nhất trong tác phẩm nó đã thể hiện rõ nội dung cũng như tính nhân văn của toàn tác phẩm
- Hệ thống câu hỏi trong hướng dẫn bài học
Các câu hỏi đều mang tính chất tái hiện kiến thức các câu hỏi này chỉ giúp
HS tái hiện kiến thức có sẵn chưa phát huy được các năng lực riêng biệt Để phát triển năng lực của HS đòi hỏi các câu hỏi ở các cấp độ tăng dần như vậy các em mới có điều kiện phát triển năng lực của bản thân thể hiện khả năng sáng tạo và cảm xúc cá nhân
1.2.2 Thực trạng việc dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ DTTS theo định hướng phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ
1.2.2.1.Khảo sát qua trưng cầu ý kiến của giáo viên và học sinh
Tìm hiểu về thực trạng biện pháp PTNL cảm thụ thẩm mĩ trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ DTTS cho học sinh lớp 10, chúng tôi tiến hành khảo sát ở các
Trang 33phương tiện trưng cầu ý kiến bằng phiếu điều tra về những khó khăn, những mong muốn của mình trong dạy đọc hiểu các tác phẩm sử thi, truyện thơ DTTS cho HS lớp
10 tại trường THPT A Bình Lục - Bình Lục - Hà Nam và trường THPT Nguyễn Khuyến - Bình Lục - Hà Nam
* Bảng thống kê kết quả đối với phiếu khảo sát số 1
Chúng tôi tiến hành khảo sát qua mẫu phiếu điều tra GV (Phần phụ lục 1, phiếu khảo sát số 1)
1 Thầy (cô) đánh giá như thế nào về
việc tiếp nhận tác phẩm sử thi, truyện
thơ DTTS của học sinh lớp 10 hiện
0
2 Theo thầy (cô) khi dạy tác phẩm
sử thi, truyện thơ DTTS trong SGK
3 Trong quá trình dạy tác phẩm sử
thi, truyện thơ DTTS thầy (cô) có vận
4 Theo thầy (cô) nguyên nhân nào
5 Trong giờ học về các tác phẩm sử
thi, truyện thơ DTTS thầy (cô) chú
trọng PTNL nào của các em?
Trang 34Câu hỏi Đáp án Trả lời
6 Theo thầy (cô) sau khi dạy học
xong tác phẩm sử thi, truyện thơ
7 Thầy (cô ) thấy tầm quan trọng của
việc PTNL cảm thụ thẩm mĩ cho HS
lớp 10 qua dạy đọc hiểu các tác phẩm
sử thi, truyện thơ DTTS như thế nào?
8 Các biện pháp dạy học nào dưới
đây thầy cô đã áp dụng khi dạy học
đọc hiểu các tác phẩm sử thi, truyện
9 Thầy (cô) nhận thấy thái độ như thế
nào HS của mình sau khi học xong
các tác phẩm sử thi, truyện thơ DTTS
10 Thầy (cô) có đề xuất, ý kiến gì về
việc dạy đọc hiểu cho HS lớp 10
trong tác phẩm sử thi, truyện thơ
DTTS?
- Lựa chọn một số tác phẩm văn chương kích thích người học ,một số tác phẩm còn khó hiểu đối với học sinh
- Hệ thống câu hỏi đọc - hiểu cần thay đổi phù hợp với chương trình đổi mới phát huy tính tích cực của HS
- Phương pháp dạy học đổi mới chưa thể áp dụng vào việc đọc hiểu văn học sử thi
- Các đề bài trong nội dung kiểm tra cần thiết thực và gần gũi với các em trong cuộc sống hàng ngày
* Bảng thống kê kết quả đối với phiếu khảo sát số 2
Chúng tôi tiến hành khảo sát qua mẫu phiếu điều tra HS (Phần phụ 1, phiếu khảo sát số 2)
Trang 351 Em đánh giá như thế nào về nội
dung các tác phẩm sử thi, truyện thơ
các dân tộc thiểu số trong SGK Ngữ
3 Trong giờ học về các tác phẩm sử
thi, truyện thơ DTTS thầy (cô) chú
trọng PTNL nào của các em?
4 Sau khi được học và nghiên cứu
các tác phẩm sử thi, truyện thơ dân
tộc thiểu số trong SGK Ngữ văn 10
5 Giá trị thẩm mĩ nào em đã nhận ra
được sau khi đọc hiểu tác phẩm sử
thi, truyện thơ DTTS?
Trang 36Câu hỏi Đáp án Trả lời
Số lượng Phần trăm
7 Các thầy (cô) đã tổ chức dạy học
như thế nào khi dạy các tác phẩm sử
thi, truyện thơ DTTS để các em phát
8 Các thầy (cô) khi dạy các tác
phẩm sử thi, truyện thơ DTTS chú
9 Khi học tác phẩm sử thi, truyện
thơ DTTS các em có muốn thầy cô
dạy theo phương pháp hiện đại ( kết
hợp máy chiếu, bảng phụ,ảnh minh
họa, phỏng vấn, tái hiện hình tượng,
10 Em có mong muốn được học tác
phẩm,sử thi, truyện thơ DTTS như
- Được học theo dự án, trải nghiệm sáng tạo đặc biệt được sân khấu hóa các tác phẩm sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số
- Mong muốn được học theo phương pháp hiện đại có nhiều tranh ảnh minh họa, nhiều ví
dụ phong phú
Trang 371.2.2.2 Khảo sát qua giáo án và dự giờ
Thực hiện khảo sát qua dự giờ dạy đọc học hiểu văn bản “Chiến thắng Mtao -
Mxây” trích sử thi Đăn Săn và văn bản “Lời tiễn dặn” trích Tiễn dặn người yêu dân
tộc Thái theo định hướng PTNL thẩm mĩ tôi xin đưa ra nhận xét sau:
- Đối với văn bản “Chiến thắng Mtao - Mxây” trích sử thi Đăm Săn
+ Dự giờ “Chiến thắng Mtao - Mxây” trích sử thi Đăm Săn của GV trường
THPT Nguyễn Khuyến, tôi nhận thấy rằng trong quá trình giảng phù hợp với nhận thức của HS, hệ thống câu hỏi từ gợi mở đến dẫn dắt HS tư duy sáng tạo bộc lộ khả năng giao tiếp, cũng như giải quyết vấn đề là khá tốt Ví dụ GV đưa ra hệ thống câu
hỏi: Nhắc lại định nghĩa về sử thi Sử thi là thể loại của dân tộc nào? Có mấy loại sử
thi? Nêu định nghĩa về từng thể loại Theo em, tác phẩm sử thi được diễn xướng như thế nào? Tuy nhiên GV còn bám sát giáo án, tham kiến thức không có nhiều câu hỏi
vận dụng Bài giảng chưa cung cấp nhiều tranh ảnh minh họa phong phú GV đề cập đến một số câu hỏi vận dụng nhưng ít và hầu hết các câu hỏi ở vận dụng thấp chưa có câu hỏi vận dụng cao để có thể phát triển năng lực cho HS
+ Các kĩ thuật dạy học tích cực ít được sử dụng ,chỉ phân chia nhóm trong phần luyện tập, HS chưa thực sự hứng thú với bài học Ngoài ra do lượng kiến thức nhiều mà thời lượng trên lớp ít, nên việc truyền tải kiến thức cũng như kĩ năng còn hạn chế Không đáp ứng được phần vận dụng hoặc phần trải nghiệm sáng tạo Chính
vì lý do này GV gặp khó khăn trong việc PTNL đặc biệt năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho HS
- Đối với văn bản “Lời tiễn dặn” trích Tiễn dặn người yêu dân tộc Thái
+ Dự giờ đoạn trích “Lời tiễn dặn” trích Tiễn dặn người yêu dân tộc Thái của
GV trường THPT Nguyễn Khuyến, tôi nhận thấy rằng trong quá trình giảng phù hợp với nhận thức của HS, hệ thống câu hỏi bài tập từ gợi mở đến dẫn dắt để HS tư duy sáng tạo bộc lộ khả năng giao tiếp, cũng như giải quyết vấn đề là khá tốt
+ Tuy nhiên vì đoạn trích “Lời tiễn dặn” là phần đọc thêm chương trình phân phối dạy một tiết trong khi đó nội dung kiến thức nhiều lại là phần văn học thiểu số còn xa lạ với HS vì vậy GV khá vất vả trong việc truyền đạt nội dung Các kĩ thuật dạy học hiện đại hầu như không được đề cập đến trong tiết dạy GV chủ yếu sử dụng
Trang 38câu hỏi trong phần hướng dẫn bài học để hướng dẫn HS tìm hiểu tác phẩm vì vậy bài học chưa được sinh động và thực sự thuyết phục HS
1.2.3 Đánh giá thực trạng
Qua khảo sát thực trạng dạy học PTNL cảm thụ thẩm mĩ sử thi, truyện thơ DTTS ở trường THPT Nguyễn Khuyến - Bình Lục - Hà Nam chúng tôi xin đưa ra những đánh giá sau:
1.2.3.1 Đánh giá thực trạng về hoạt động dạy của GV
- Về nội dung: Các tiết dạy đều đã đảm bảo được mục tiêu của bài học là giúp
HS nắm được nội dung, tư tưởng của tác phẩm Tuy nhiên GV đều đi theo tiến trình như đã sắp xếp trong SGK mà chưa có điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp Học sinh chỉ được tiếp cận với những kiến thức đóng khung trong SGK mà không có sự mở rộng, chưa phát triển được năng lực giao tiếp đặc biệt là năng lực cảm thụ thẩm mĩ
- Về phương pháp dạy học: Giáo án được thiết kế theo phương pháp truyền thống, lấy hoạt động của người dạy làm trung tâm Thầy là chủ thể phát ngôn, là người thuyết trình, diễn giảng chủ yếu, HS lắng nghe, ghi chép và suy nghĩ bị động
- Về hệ thống ngữ liệu và bài tập vận dụng: các bài giảng đã sử dụng toàn bộ ngữ liệu SGK cung cấp, các bài tập để củng cố, rèn luyện kĩ năng cho HS không có
sự điều chỉnh, bổ sung bài tập PTNL
- Ngoài việc dự giờ chúng tôi còn tiến hành điều tra thực trạng dạy học tác phẩm sử thi, truyện thơ DTTS qua mẫu phiếu điều tra GV (Phần phụ lục 1, Phiếu khảo sát 1)
Trong phiếu điều tra thầy cô cũng đã bày tỏ những khó khăn, đề xuất mong muốn của bản thân về việc dạy học các tác phẩm sử thi, truyện thơ DTTS cho HS lớp
10 Về việc nhận thức của HS chỉ dừng lại ở mức độ khá và trung bình Các thầy (cô) mong muốn đưa nhiều tác phẩm vầ sử thi, truyện thơ vào trong chương trình học và
hệ thống câu hỏi đọc - hiểu cần thay đổi để phù hợp với chương trình đổi mới phát huy tính tích cực của HS Đây chính là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu và tìm ra các biện pháp PTNL cảm thụ thẩm mĩ để giúp HS hứng thú hơn đối với các tác phẩm sử thi, truyện thơ DTTS
Trang 391.2.3.2 Đánh giá hoạt động học của HS
Để đánh giá được hoạt động của HS chúng tôi đã dự giờ và thực hiện khảo sát qua phiếu điều tra (phần phụ lục 1, phiếu khảo sát số 2)
- Ta thấy HS đã số nhận thấy tầm quan trọng của các bài sử thi, truyện thơ DTTS tuy nhiên để PTNL đặc biệt là năng lực cảm thụ thẩm mĩ của các em còn hạn chế hầu như là chưa có, các em chưa hiểu hết được bản chất của vấn đề PTNL của mình để tìm hiểu, tiếp nhận tác phẩm
- Hoạt động học của các em còn rất mơ hồ phụ thuộc vào GV chưa chủ động tìm tòi, sáng tạo cho việc học tập của mình Các em chưa mạnh dạn tự bộc lộ suy nghĩ, quan điểm của mình… Như vậy việc PTNL của các em chưa thực sự hiệu quả
- Qua phiếu khảo sát hoạt động học tập của HS bằng hệ thống câu hỏi chúng tôi nhận thấy rằng các em chưa thực sự hứng thú với sử thi, truyện thơ DTTS đa phần các em thấy kiến thức khó, nội dung, ngôn ngữ còn xa lạ với các em Trong phiếu điều tra các em mạnh dạn bày tỏ quan điểm ,mong muốn của mình về việc học đối với các tác phẩm sử thi, truyện thơ DTTS đa phần các em mong muốn đưa nhiều tác phẩm hơn nữa vào trong chương trình, trong quá trình học tập các em mong muốn có được những giờ học trải nghiệm sáng tạo Đây chính là cơ sở để chúng tôi nghiên cứu
và tìm ra những biện pháp PTNL cảm thụ thẩm mĩ trong dạy đọc hiểu sử thi, truyện thơ DTTS cho HS lớp 10
Tiểu kết chương 1
Như vậy, qua việc nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài, ta nhận thấy việc vận dụng các biện pháp PTNL cảm thụ thẩm mĩ cho HS lớp 10 trong dạy học tác phẩm sử thi, truyện thơ DTTS là vô cùng quan trọng, cần thiết, là có cơ sở khoa học
và thực tiễn Việc dạy học PTNL cảm thụ thẩm mĩ này sẽ là phương pháp dạy học mới, tích cực phát huy được năng lực chủ động sáng tạo, năng lực cảm thụ thẩm mĩ… tạo ra không khí học tập hứng thú sôi nổi, hào hứng cho HS và nâng cao chất lượng
dạy Do đó chúng tôi quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu Biện pháp phát triển
năng lực cảm thụ thẩm mĩ cho học sinh lớp 10 trong dạy học đọc hiểu sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số
Trang 40Chương 2 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM THỤ THẨM MĨ TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU SỬ THI, TRUYỆN THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ 2.1 Yêu cầu về dạy học đọc hiểu học sử thi, truyện thơ dân tộc thiểu số trong
SGK Ngữ văn 10 tập 1 theo định hướng phát triển năng lực cảm thụ thẩm mỹ
cho học sinh
2.1.1 Bám sát chương trình đảm bảo mục tiêu dạy học
- Mục tiêu dạy học là một nhân tố quan trọng, là yếu tố đầu tiên phải xác định khi tiến hành công việc soạn giáo án của người GV Mục tiêu bài học phải được xác định một cách chính xác, phải bám sát và dựa trên cơ sở chuẩn kiến thức kĩ năng theo quy định của BGD Bởi mục tiêu bài học có chính xác thì mới dẫn dắt GV và HS đi đúng hướng
- Mục tiêu bài học như là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ nội dung dạy học
- Mục tiêu bài học được GV dựa vào để triển khai xuyên suốt trong quá trình tổ chức dạy học Mọi hoạt động của GV, hoạt động của HS, nội dung giảng dạy đều hướng vào việc thực hiện mục tiêu dạy học đề ra
2.1.1.1 Về kiến thức
- Giúp cho HS hình thành được khái niệm, đặc điểm của sử thi, truyện thơ DTTS
- Nắm được giá trị của sử thi, truyện thơ về nội dung và nghệ thuật
+ Đối với sử thi: biết phân tích văn bản sử thi anh hùng mượn việc mô tả chiến tranh
để khẳng định về một cuộc sống hòa hợp hạnh phúc Nhận thức được lẽ sống của mỗi cá nhân là hi sinh, phấn đấu vì danh dự và hạnh phúc, yên vui của cả cộng đồng
+ Truyện thơ: sự kết hợp giữa trữ tình và tự sự Học xong tác phẩm cảm nhận được tình yêu chân thành, thiết tha, thủy chung và khát vọng tự do yêu đương và hạnh phúc lứa đôi của chàng trai và cô gái Thái
2.1.1.2 Về kĩ năng
- Các hoạt động thiết kế dạy học phải đảm bảo tính khoa học Được xây dựng có
cơ sở khoa học vững chắc, phải chính xác về nội dung kiến thức, kĩ năng Các kiến thức huy động phải được chuẩn hoá