LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài và tính cấp thiết của việc nghiên cứu Chúng ta không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của hợp đồng trong đời sống hiện đại. Không phải ngẫu nhiên mà trong hệ thống pháp luật của bất kỳ quốc gia nào, chế định hợp đồng luôn được coi là một chế định pháp lý quan trọng vào bậc nhất. Bởi hợp đồng tạo ra những tiền đề pháp lý cho sự vận động linh hoạt và an toàn của các giá trị vật chất trong xã hội. Khi xây dựng pháp luật về hợp đồng, các nhà làm luật đều quan tâm tới các quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, về xử lý hợp đồng vô hiệu. Các quy định này có tác dụng đảm bảo sự ổn định của xã hội, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ hợp đồng. Việc xử lý hợp đồng vô hiệu như thế nào ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi ích của các bên trong hợp đồng. Do vậy, các quy định về xử lý hợp đồng vô hiệu phải phù hợp với thực tiễn cuộc sống, đảm bảo sự hài hòa giữa quyền của các bên chủ thể và lợi ích của cộng đồng, Nhà nước nói chung. Tuy nhiên, hiện nay các quy định về hợp đồng vô hiệu vẫn còn nhiều vướng mắc. Các quy định có phần còn cứng nhắc, chưa đầy đủ, có quy định còn chồng chéo, gây nên cách hiểu không thống nhất. Ví dụ như: các căn cứ để tuyên bố hợp đồng vô hiệu còn có nhiều điểm chưa rõ ràng; hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu còn quy định chung chung, khó áp dụng. Quyền lợi của các chủ thể tham gia quan hệ dân sự không được đảm bảo thoả đáng khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu. Về phía các cơ quan nhà nước, do tính phức tạp của các quan hệ hợp đồng, những quy định không rõ ràng của pháp luật đã tạo cho họ rất nhiều khó khăn, lúng túng trong công tác xét xử có liên quan tới hợp đồng vô hiệu. Nói cách khác, chính điều đó làm hạn chế năng lực của các cơ quan chức năng trong việc giải quyết các tranh chấp về hợp đồng. Và trên thực tế, cũng không ít trường hợp hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu do một bên giao kết hợp đồng lợi dụng các quy định của pháp luật để “bội ước”, nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ của mình. Với tư cách là một người nghiên cứu pháp luật, chúng tôi thấy rằng cần nghiên cứu một cách nghiêm túc vấn đề xử lý hợp đồng vô hiệu để từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này. Việc xây dựng các quy định pháp lý xử lý hợp đồng vô hiệu hoàn chỉnh, phù hợp với thực tiễn không những là yêu cầu chính đáng của người dân để họ bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình mà còn là điều kiện để cơ quan nhà nước hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước giao. Cùng với sự phát triển của tình hình kinh tế xã hội, các quan hệ xã hội biến đổi ngày càng phức tạp và đa dạng hơn, vấn đề xử lý hợp đồng vô hiệu, đặc biệt là sau khi BLDS 2005 ra đời cũng nảy sinh nhiều vấn đề cấp thiết đòi hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung. Đó cũng là lý do để tác giả chọn đề tài: “Xử lý hợp đồng vô hiệu theo pháp luật dân sự Việt Nam” làm đề tài luận văn cao học luật.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài và tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Chúng ta không thể phủ nhận vai trò đặc biệt quan trọng của hợp đồngtrong đời sống hiện đại Không phải ngẫu nhiên mà trong hệ thống pháp luậtcủa bất kỳ quốc gia nào, chế định hợp đồng luôn được coi là một chế địnhpháp lý quan trọng vào bậc nhất Bởi hợp đồng tạo ra những tiền đề pháp lýcho sự vận động linh hoạt và an toàn của các giá trị vật chất trong xã hội
Khi xây dựng pháp luật về hợp đồng, các nhà làm luật đều quan tâm tớicác quy định về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, về xử lý hợp đồng vôhiệu Các quy định này có tác dụng đảm bảo sự ổn định của xã hội, đảm bảolợi ích chung của cộng đồng cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các bêntham gia quan hệ hợp đồng Việc xử lý hợp đồng vô hiệu như thế nào ảnhhưởng rất lớn đến quyền lợi ích của các bên trong hợp đồng Do vậy, các quyđịnh về xử lý hợp đồng vô hiệu phải phù hợp với thực tiễn cuộc sống, đảmbảo sự hài hòa giữa quyền của các bên chủ thể và lợi ích của cộng đồng, Nhànước nói chung
Tuy nhiên, hiện nay các quy định về hợp đồng vô hiệu vẫn còn nhiềuvướng mắc Các quy định có phần còn cứng nhắc, chưa đầy đủ, có quy địnhcòn chồng chéo, gây nên cách hiểu không thống nhất Ví dụ như: các căn cứ
để tuyên bố hợp đồng vô hiệu còn có nhiều điểm chưa rõ ràng; hậu quả pháp
lý của hợp đồng vô hiệu còn quy định chung chung, khó áp dụng Quyền lợicủa các chủ thể tham gia quan hệ dân sự không được đảm bảo thoả đáng khihợp đồng bị tuyên bố vô hiệu
Về phía các cơ quan nhà nước, do tính phức tạp của các quan hệ hợpđồng, những quy định không rõ ràng của pháp luật đã tạo cho họ rất nhiềukhó khăn, lúng túng trong công tác xét xử có liên quan tới hợp đồng vô hiệu
Trang 2Nói cách khác, chính điều đó làm hạn chế năng lực của các cơ quan chứcnăng trong việc giải quyết các tranh chấp về hợp đồng Và trên thực tế, cũngkhông ít trường hợp hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu do một bên giao kết hợpđồng lợi dụng các quy định của pháp luật để “bội ước”, nhằm trốn tránh thựchiện nghĩa vụ của mình
Với tư cách là một người nghiên cứu pháp luật, chúng tôi thấy rằng cầnnghiên cứu một cách nghiêm túc vấn đề xử lý hợp đồng vô hiệu để từ đó đưa
ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về vấn đề này Việcxây dựng các quy định pháp lý xử lý hợp đồng vô hiệu hoàn chỉnh, phù hợpvới thực tiễn không những là yêu cầu chính đáng của người dân để họ bảo vệquyền lợi ích hợp pháp của mình mà còn là điều kiện để cơ quan nhà nướchoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ mà Nhà nước giao
Cùng với sự phát triển của tình hình kinh tế xã hội, các quan hệ xã hộibiến đổi ngày càng phức tạp và đa dạng hơn, vấn đề xử lý hợp đồng vô hiệu,đặc biệt là sau khi BLDS 2005 ra đời cũng nảy sinh nhiều vấn đề cấp thiết đòi
hỏi phải có sự sửa đổi, bổ sung Đó cũng là lý do để tác giả chọn đề tài: “Xử
lý hợp đồng vô hiệu theo pháp luật dân sự Việt Nam” làm đề tài luận văn
cao học luật
2 Tình hình nghiên cứu đề tài;
Việc nghiên cứu về hợp đồng vô hiệu, việc giải quyết hậu quả pháp lýcủa hợp đồng, giao dịch dân sự vô hiệu đã được nhiều nhà khoa học quan tâmtrong các thời kỳ với nhiều góc độ khác nhau Nhìn chung, vấn đề này đãđược đề cập tới trong Giáo trình trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật Đạihọc Quốc gia, Trường Cao Đẳng Kiểm sát
Các vấn đề liên quan còn được đề cập trong một số ấn phẩm như: Sách
Bình luận khoa học BLDS của Bộ Tư Pháp; trong một số công trình nghiên
cứu như: Luận án tiến sỹ của Nguyễn Văn Cường: “Giao dịch dân sự vô hiệu
Trang 3và hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu” năm 2004; Luận văn thạc
sỹ luật học của Trần Niên Hưng: “Định hướng hoàn thiện các quy định của
pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu trong luật dân sự Việt Nam” năm 2004;
Luận văn thạc sỹ của Cao Thị Thùy Dương: “Những vấn đề lý luận và thực
tiễn về xử lý hợp đồng vô hiệu ở Việt Nam” năm 2004…
Bên cạnh đó, cũng có nhiều bài viết của các tác giả như: TS Bùi Đăng
Hiếu, Giao dịch dân sự vô hiệu tương đối và giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt
đối; Hoàng Thị Thanh: Quy định “Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp
lý của giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức”; TS.
Nguyễn Ngọc Điện: Hoàn thiện chế độ pháp lý về xác lập hợp đồng; TS Ngô Huy Cương: Những bất cập lớn trong các quy định về hợp đồng và những
định hướng cải cách; TS Bùi Thị Thanh Hằng: Chế định hợp đồng dân sự trước yêu cầu sửa đổi BLDS 2005…
Tuy nhiên, sau khi tìm hiểu và nghiên cứu các công trình có liên quanthì chúng tôi thấy rằng các công trình này chỉ nghiên cứu các quy định củaBLDS năm 1995 hoặc mới chỉ nghiên cứu một số khía cạnh trong các quyđịnh về hợp đồng vô hiệu theo BLDS 2005, nhất là việc áp dụng pháp luật đểgiải quyết các tranh chấp trong thực tiễn Do vậy, việc nghiên cứu một cáchtoàn diện các quy định về hợp đồng vô hiệu có ý nghĩa quan trọng
3 Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm ra các luận cứ khoa học vàthực tiễn, từ đó đề ra các giải pháp kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về xử
lý hợp đồng vô hiệu theo quy định của BLDS Để thực hiện mục đích trên,luận văn tập trung làm rõ những vấn đề sau:
+ Phân tích và lý giải nhằm làm rõ cơ sở lý luận cơ bản về hợp đồng vôhiệu, cách thức xử lý hợp đồng vô hiệu trong pháp luật dân sự Việt Nam
Trang 4+ Lược sử quá trình điều chỉnh của pháp luật Việt Nam về hợp đồng vôhiệu qua các thời kỳ và quy định của một số nước trên thế giới về vấn đề này,làm nổi bật sự phát triển của các quy định pháp luật dân sự về vấn đề này
+ Nghiên cứu pháp luật thực định Việt Nam quy định về hợp đồng vôhiệu, hậu quả pháp lý khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu
+ Nghiên cứu thực tiễn xử lý hợp đồng vô hiệu và đánh giá về hiệu quảcủa những quy định pháp luật hiện hành thông qua việc áp dụng pháp luật củacác cơ quan nhà nước
+ Đề xuất phương hướng hoàn thiện các quy định pháp luật và các giảipháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
Tác giả tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn xét xử về hợp đồng vôhiệu Vấn đề này được tiếp cận theo chiều sâu và toàn diện trong hệ thốngpháp luật dân sự Việt Nam và đặc biệt là quy định của BLDS 2005 Tác giả
có sự so sánh với luật nước ngoài về vấn đề nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong luận văn dựa trên cơ sởphương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử của Chủ nghĩa Mác – LêNin, Tư tuởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và phápluật Tác giả còn kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích,tổng hợp, so sánh, điều tra, khảo sát …kết hợp giữa lý luận với thực tiễn
5 Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn làm rõ những vấn đề cơ bản của hợp đồng vô hiệu như kháiniệm, đặc điểm hợp đồng vô hiệu, thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụngpháp luật tại Tòa án về xử lý hợp đồng vô hiệu theo quy định tại BLDS 2005,
Trang 5thông qua đó, đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện quy địnhpháp luật về vấn đề này
Những đề xuất, kiến nghị của luận văn góp phần hoàn thiện các quyđịnh pháp luật dân sự về hợp đồng vô hiệu, đặc biệt là trong xu hướng đangsửa đổi, bỏ sung một số quy định của BLDS 2005 Kết quả nghiên cứu củaluận văn sẽ góp phần nhỏ vào việc nhận thức sâu sắc về hợp đồng vô hiệu nóichung
6 Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về hợp đồng vô hiệu và hậu quả pháp lý
của hợp đồng vô hiệu theo pháp luật dân sự Việt Nam
Chương 2: Xử lý hợp đồng vô hiệu – các quy định pháp luật hiện hành và
thực tiễn áp dụng
Chương 3: Một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về xử lý
hợp đồng vô hiệu
CHƯƠNG 1
Trang 6NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU VÀ HẬU QUẢ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU THEO PHÁP LUẬT
DÂN SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng
Hợp đồng là một trong những chế định pháp lý có bề dày lịch sử Ngay
từ khi xã hội loài người có sự phân công lao động và xuất hiện hình thức traođổi hàng hóa thì hợp đồng đã hình thành và giữ một vị trí quan trọng trongviệc điều tiết các quan hệ tài sản
Hợp đồng theo tiếng latinh là: contractus nghĩa là ràng buộc, được xuấthiện bắt đầu từ thế kỷ V trước công nguyên Lúc đó chỉ xuất hiện một số kháiniệm hợp đồng thông dụng như hợp đồng mua, hợp đồng bán, hợp đồng traođổi, hợp đồng cho vay, hợp đồng cho mượn, hợp đồng gửi giữ, v.v Càng vềsau này, hợp đồng càng phát triển với sự đa dạng về thể loại phản ảnh sự pháttriển của các quan hệ xã hội Có thể khẳng định vai trò và vị trí của chế địnhhợp đồng ngày càng quan trọng trong mọi chế độ xã hội và mọi hệ thống phápluật Kinh tế càng phát triển, xã hội càng văn minh thì chế định hợp đồngngày càng được coi trọng, càng được hoàn thiện
Ngày nay phần lớn các quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng các hợpđồng Đây là phương tiện pháp lý quan trọng để cho các công dân thỏa mãnnhu cầu vật chất, tinh thần trong sản xuất, kinh doanh cũng như sinh hoạt tiêudùng Khái niệm hợp đồng theo phương diện khách quan được hiểu là các quyphạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hộiphát sinh trong quá trình dịch chuyển các lợi ích vật chất giữa các chủ thể vớinhau
Nhìn nhận theo phương diện chủ quan thì hợp đồng được hiểu là sựthỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền vànghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể Hợp đồng được đề cập tới trong
Trang 7BLDS có thể hiểu là hợp đồng dân sự theo nghĩa rộng, bao gồm trong cácquan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động
Điều 388 BLDS 2005 đã định nghĩa hợp đồng dân sự: ”Hợp đồng dân
sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc chấm dứt, thay đổi các quyền và nghĩa vụ dân sự”.
Như vậy hợp đồng được hiểu là sự thể hiện ý chí của các bên bằng việcthoả thuận với nhau về quyền và nghĩa vụ của các bên, xác định khi nào vàtrong điều kiện nào thì các quyền và nghĩa vụ này được xác lập, được thayđổi, thực hiện hay chấm dứt Các chủ thể tham gia hợp đồng có thể là cá nhânhoặc pháp nhân hoặc các loại chủ thể khác Để thể hiện ý chí của mình, ngườigiao kết phải có đầy đủ NLHV để xác lập hợp đồng Mọi hợp đồng phải cóđối tượng cụ thể, được xác định rõ rệt Đối tượng của hợp đồng có thể là tàisản, hàng hoá hoặc dịch vụ
Trong các hợp đồng yếu tố cơ bản nhất là sự đồng thuận giữa các chủthể Khi giao kết hợp đồng các bên được tự do lựa chọn đối tác, tự do quyđịnh nội dung hợp đồng, tự do xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của cácbên Đương nhiên tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối Nhà nướcbuộc các bên khi giao kết hợp đồng phải tôn trọng đạo đức, trật tự xã hội, trật
tự công cộng Trong những trường hợp thật cần thiết, nhân danh tổ chứcquyền lực công, Nhà nước có thể can thiệp vào việc ký kết hợp đồng và do đógiới hạn quyền tự do giao kết hợp đồng Tuy nhiên sự can thiệp này phải là sựcan thiệp hợp lý và được pháp luật quy định chặt chẽ để tránh sự lạm dụng, viphạm quyền tự do hợp đồng
Chỉ được coi là hợp đồng khi những thỏa thuận thực sự phù hợp với ýchí của các bên, tức là có sự đồng thuận đích thực giữa các bên Hợp đồngphải là giao dịch hợp pháp do vậy sự đồng thuận ở đây phải là sự đồng thuậnhợp lẽ công bằng, hợp pháp luật, hợp đạo đức Các hợp đồng được giao kếtdưới tác động của sự lừa dối, cưỡng bức hoặc mua chuộc là không có sự đồng
Trang 8thuận đích thực Những trường hợp có sự lừa dối, đe dọa, nhầm lẫn thì dù có
sự đồng thuận cũng không được coi là hợp đồng, tức là có sự vô hiệu của hợpđồng Như vậy, một sự thỏa thuận không thể hiện ý chí thực của các bên thìkhông phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên
Và một khi hợp đồng được hình thành một cách hợp pháp thì nó cóhiệu lực như pháp luật đối với các bên giao kết [4,Điều 4] Đây là nguyên tắc
cơ bản của pháp luật hợp đồng Sau khi hợp đồng được xác lập với đầy đủ cácyếu tố thì hợp đồng đó có hiệu lực ràng buộc như pháp luật, các bên buộcphải thực hiện cam kết trong hợp đồng, mọi sự vi phạm sẽ dẫn đến tráchnhiệm tài sản mà bên vi phạm sẽ phải gánh chịu Khi giải quyết tranh chấphợp đồng, xử lý vi phạm hợp đồng, Tòa án hoặc Trọng tài phải căn cứ vào cácđiều khoản mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng để ra bản án hoặc quyếtđịnh một cách công bằng và đúng đắn
Nguyên tắc quan trọng và được pháp luật bảo vệ là nguyên tắc tự dothoả thuận, bình đẳng và thiện chí trong việc giao kết, thực hiện hợp đồng,không phân biệt mục đích của hợp đồng là kinh doanh lợi nhận hay nhằmphục vụ cho mục đích tiêu dùng
1.2 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng dân sự vô hiệu
1.2.1 Khái niệm hợp đồng dân sự vô hiệu
Hợp đồng là phương tiện pháp lý quan trọng để thỏa mãn quyền và lợiích hợp pháp giữa các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng Ngoài ra, hợp đồngcòn là căn cứ để Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác giải quyếttranh chấp phát sinh giữa các bên chủ thể tham gia Tuy nhiên, để hợp đồng
có hiệu lực pháp lý thì hợp đồng phải thỏa mãn đầy đủ các điều kiện có hiệulực do pháp luật quy định Khi hợp đồng không đáp ứng các điều kiện dopháp luật quy định, chúng ta dùng thuật ngữ: hợp đồng vô hiệu Vô hiệu theonghĩa thông thường là “không có hiệu lực, không có hiệu quả”[15,tr8.] Mộthợp đồng vô hiệu là một hợp đồng không tồn tại theo luật, không có giá trị
Trang 9pháp lý, không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với các bên tham gia hợpđồng từ thời điểm xác lập do có vi phạm pháp luật hoặc không thực sự thểhiện ý chí của các bên giao kết Khi hợp đồng vô hiệu, pháp luật không côngnhận quyền và nghĩa vụ nào ràng buộc các bên Và ngay cả khi các bên đãtiến hành những hành vi thực hiện hợp đồng thì những hành vi đó cũng khôngphải là hành vi thực hiện hợp đồng
Từ đó có thể suy ra khái niệm hợp đồng vô hiệu: Hợp đồng vô hiệu
được hiểu là giao dịch có sự thể hiện ý chí của các bên tham gia, nhưng có sự
vi phạm điều kiện có hiệu lực của hợp đồng đã được quy định trong BLDS.
Khi hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu, các bên tham gia ký kết hợp đồngphải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi về vật chất và tinh thần như:không đạt được mục đích thỏa thuận ban đầu; nếu chưa thực hiện hợp đồngthì sẽ không thực hiện giao dịch nữa; nếu đang thực hiện thì phải chấm dứtviệc thực hiện đó để quay lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì
đã nhận Nếu một trong các bên có lỗi làm cho hợp đồng vô hiệu thì phải chịubồi thường thiệt hại cho bên kia
1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng dân sự vô hiệu
Hợp đồng vô hiệu thường có những đặc điểm chung như:
1.2.2.1 Hợp đồng không thỏa mãn một trong các điều kiện hợp pháp theo quy định của pháp luật về hợp đồng
Điều 121, BLDS 2005 quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặchành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa
vụ dân sự” Cùng với điều kiện về đối tượng hợp đồng tại Điều 411, BLDS
2005 cũng quy định các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự tại Điều
122, theo đó hợp đồng có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:
a Điều kiện năng lực chủ thể
Trang 10Như chúng ta đã nói ở trên, bản chất của hợp đồng là sự thống nhất ýchí và bày tỏ ý chí của các chủ thể tham gia ký kết Tuy nhiên để bảo vệ trật
tự xã hội, bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia hợp đồng, pháp luật dân sựcăn cứ vào khả năng nhận thức, địa vị pháp lý của các cá nhân cũng như tổchức đặt ra điều kiện cho phép chủ thể tham gia với tư cách là các bên thamgia ký kết hợp đồng
Năng lực chủ thể là một thuộc tính đặc biệt của chủ thể pháp luật đượcNhà nước quy định Thông thường năng lực của chủ thể bao gồm NLPL vàNLHV
NLPL là khả năng mà tổ chức, cá nhân được hưởng các quyền và nghĩa
vụ pháp lý do Nhà nước trao cho Các quyền và nghĩa vụ này được Nhà nướcquy định trong các văn bản pháp luật hiện hành NLPL của cá nhân có từ lúcsinh ra và chỉ mất đi khi cá nhân đó chết Với chủ thể là tổ chức thì NLPL có
từ khi thành lập và mất đi khi tổ chức đó bị giải thể hoặc phá sản NLPL làquyền khách quan, song để quyền khách quan này biến thành quyền chủ quanthì đòi hỏi chủ thể tham gia giao kết hợp đồng phải có NLHV
NLHV là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thựchiện quyền, nghĩa vụ dân sự Khác với NLPL, ở cá nhân, NLHV chỉ xuất hiệnkhi đạt đến độ tuổi do pháp luật quy định và không bị mắc các khuyết tật vềtinh thần Còn đối với tổ chức thì NLHV xuất hiện cùng lúc với NLPL và bịchi phối bởi các giấy tờ làm bằng chứng liên quan tới việc thành lập tổ chức
đó (ví dụ như: quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinhdoanh)
Như vậy, năng lực chủ thể được cấu thành bởi hai yếu tố là NLPL vàNLHV Hai yếu tố có mối quan hệ mật thiết với nhau và tạo nên năng lực chủthể Một người được coi là có năng lực chủ thể thì đồng thời phải có NLPL vàNLHV
Trang 11Về nguyên tắc, pháp luật chỉ cho phép các đương sự có đủ NLPL vàNLHV mới có thể tự mình tham gia vào các quan hệ pháp luật Nếu không đủnăng lực chủ thể, bắt buộc phải có người đại diện hoặc người giám hộ hợppháp cho các bên tham gia giao kết hợp đồng
Trong quan hệ dân sự, các chủ thể có thể tự mình tham gia giao kết hợpđồng hoặc thông qua người đại diện Trong trường hợp thông qua đại diện,nội dung giao kết hợp đồng không được vượt quá thẩm quyền, phạm vi ngườiđại diện được phép quyết định Đại diện thường phân chia ra làm hai nhóm:đại diện theo thẩm quyền và đại diện theo ủy quyền
Đại diện theo thẩm quyền là đại diện được pháp luật quy định hoặc cơquan nhà nước có thẩm quyền quyết định Đối với cá nhân, Tòa án hoặc cơquan nhà nước cử hoặc đại diện đương nhiên theo quy định của pháp luật,như cha mẹ đương nhiên là người đại diện cho con trong trường hợp ngườicon đó không đủ NLHV dân sự
Đại diện theo ủy quyền là đại diện dược xác lập theo sự ủy quyền củangười đại diện và người được đại diện Nếu cá nhân hoặc tổ chức có đủ nănglực chủ thể để tham gia giao kết hợp đồng nhưng uỷ quyền cho người khácđại diện tư cách chủ thể thì cần xem xét phạm vi và nội dung uỷ quyền củangười đại diện Việc giao kết hợp đồng không được trái với thẩm quyền được
uỷ quyền Nếu không thoả mãn điều kiện này, hợp đồng cũng bị tuyên bố vôhiệu
b Điều kiện về mục đích và nội dung thỏa thuận
Nội dung thỏa thuận chính là các điều khoản của hợp đồng đã được cácbên thống nhất Những điều khoản này phản ảnh các quyền và nghĩa vụ củacác bên phát sinh trong hợp đồng Trước đây theo các luật gia đại diện chothuyết tự do lập ước cho rằng các bên tham gia giao dịch hợp đồng có quyềnthỏa thuận bất cứ điều khoản nào mà họ muốn Tuy nhiên, trong một xã hội
Trang 12dân chủ văn minh và công bằng, pháp luật không thừa nhận những điều khoảnnào được thỏa thuận trái với pháp luật hay đạo đức xã hội
Điều cấm của pháp luật được hiểu là những quy định của pháp luậtkhông cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định [4, Điều 123] Ví
dụ như mục đích, nội dung mà các bên thoả thuận khi giao kết hợp đồngkhông được xâm phạm tới lợi ích chung của cộng đồng, của Nhà nước
Đạo đức xã hội được hiểu là những chuẩn mực ứng xử chung giữangười với người trong xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng [4,Điều 123] Nói cách khác các bên có quyền thỏa thuận những điều mà phápluật không cấm và làm những việc mà pháp luật cho phép, không trái với quytắc đạo đức Như vậy pháp luật chính là hành lang, là giới hạn cho hành vi xử
sự của các đương sự Đồng thời cũng không vì lợi ích của cá nhân, của nhóm
mà không quan tâm tới giá trị nhân văn chung của cộng đồng Điều này là cầnthiết vì nếu không quy định như vậy thì các bên có thể sẽ lợi dụng quyền tự
do giao kết hợp đồng mà xâm phạm tới trật tự công cộng, phương hại đến lợiích của Nhà nước, tập thể hay quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Như vậy, để hợp đồng phát sinh hiệu lực thì các bên phải thỏa thuậnphù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội Theo đó tất cả những hợp đồngđược ký kết mà có căn cứ chứng minh rằng thỏa thuận là trái pháp luật vàkhông phù hợp với chuẩn mực xã hội thì hợp đồng đó sẽ vô hiệu Nghĩa là,quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng không được pháp luật côngnhận và bảo vệ
c Điều kiện về thể hiện ý chí trong thỏa thuận
Có hay không có sự tự nguyện trong thỏa thuận là yếu tố có ảnh hưởngmang tính quyết định đến hiệu lực của hợp đồng Bởi vì sự tự nguyện liênquan đến ý chí và mong muốn của các bên tham gia giao kết hợp đồng màpháp luật chỉ cho phép tồn tại những hợp đồng được ký kết khi có sự tự dobày tỏ ý chí và cùng thống nhất ý chí Nói cách khác, sự tự nguyện trong thỏa
Trang 13thuận chính là nội dung của nguyên tắc “tự do ý chí” khi giao kết hợp đồng.Nguyên tắc này được thể hiện bằng sự đồng thuận của những người tham gia
ký kết
Luật pháp của các nước cũng giống như pháp luật Việt Nam đều quyđịnh nếu các thể nhân, pháp nhân tham gia hợp đồng có sự đồng thuận trongviệc ký kết thì tất cả các quyền và nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng đó đềuđược pháp luật công nhận và được bảo vệ khi có sự tranh chấp Với tinh thần
đó, BLDS 2005 quy định: “Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tựnguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cảnbên nào” [4, Điều 4]
Bên cạnh đó, pháp luật cũng dự liệu các trường hợp vi phạm tới nguyêntắc “tự do ý chí” trong giao kết hợp đồng, từ đó có chế tài không công nhậnhiệu lực của hợp đồng đó Chúng ta có thể gọi đó là các khiếm khuyết của sựthống nhất ý chí, đó là sự nhầm lẫn, sự lừa dối và đe dọa khi giao kết hợp đồng
Sự nhầm lẫn: Sự nhầm lẫn được hiểu là “sự đánh giá sai về thực tế
khách quan” tồn tại vào thời điểm giao kết hợp đồng [13] Có thể nói nhầmlẫn là điều thường xảy ra, song để được xem là yếu tố để khẳng định hợpđồng vô hiệu lại cần có đặc điểm riêng Chỉ khi nhầm lẫn về bẩn chất của vậthoặc sự việc là đối tượng hợp đồng hoặc khi nhầm lẫn về tư cách chủ thể màtheo tính chất của nghĩa vụ hoặc theo sự thỏa thuận thì nhân thân của đối tác
là điều kiện quan trọng cho việc giao kết hợp đồng thì hợp đồng mới bị tuyên
bố vô hiệu
Chúng ta phải khẳng định sự nhầm lẫn về động cơ thúc đẩy giao kếthợp đồng không được coi là yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực hợp đồng Ví dụnhư A mua xe máy của B để bán lại kiếm lời nhưng việc bán lại không thuậnlợi do màu sơn, kiểu dáng của xe máy không được khách hàng ưa chuộng.Trong trường hợp này, A không thể căn cứ vào sự nhầm lẫn của mình khi
Trang 14đánh giá nhu cầu của khách hàng để yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng muabán xe máy với B vô hiệu
Sự lừa dối: Tuy sự nhầm lẫn và lừa dối trong giao dịch đều có điểm
chung là bên bị nhầm lẫn và bên bị lừa dối do hiểu sai lệch về tính chất củađối tượng nên đã xác lập hợp đồng Nhưng giữa chúng có điểm khác nhau cơbản đó là: sự nhầm lẫn có thể gây ra bởi lỗi cẩu thả, sơ suất, kém hiểu biết củabên bị nhầm lẫn hoặc do lỗi vô ý của bên kia hay bên thứ ba Còn trongtrường hợp xác lập giao dịch do lừa dối, sự nhầm lẫn lại được gây ra bởi hành
vi mang tính chất cố ý của bên kia hoặc của người thứ ba
Sự đe dọa: Đe dọa là hành vi cố ý tác động vào ý chí của một người
làm cho người đó khiếp sợ, buộc phải xác lập, thực hiện hợp đồng nhằm tránhthiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mìnhhoặc của người thân Rõ ràng, khi người bị đe dọa do khiếp sợ mà phải xáclập, thực hiện hợp đồng ngoài ý muốn của họ thì tất nhiên, ý chí được thể hiệntrong giao dịch không phải là ý chí đích thực của họ Do đó, hợp đồng đượcgiao kết do bị đe dọa sẽ vô hiệu
Xét về mặt hình thức, đe dọa thể hiện dưới hai dạng thức: sự tác động
về thể chất mang tính cưỡng bức như dùng vũ lực gây đau đớn về thể xác chobên đối tác…hoặc gây áp lực về mặt tinh thần như đe dọa làm cho bên đối tácmất danh dự, uy tín…
d Điều kiện về hình thức giao dịch
Sự thỏa thuận giữa các bên tham gia hợp đồng phải được thể hiện dướimột hình thức nhất định Đề bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của cộngđồng và sự an toàn của các bên, pháp luật đã quy định việc tuân thủ các quyđịnh về hình thức đối với một số hợp đồng nhất định
Việc quy định một số hợp đồng phải tuân thủ các quy định về hình thứcnhư việc: phải được thể hiện bằng văn bản, được công chứng, chứng thựchoặc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền dựa trên cơ sở đối tượng
Trang 15của hợp đồng có giá trị lớn hoặc có tính năng đặc biệt, ví dụ như: hợp đồngchuyển nhượng QSDĐ phải được công chứng, chứng thực tại cơ quan nhànước có thẩm quyền Những quy định này còn là cơ sở để cơ quan nhà nước
có thẩm quyền kiểm tra, giám sát việc dịch chuyển tài sản trong giao lưu dân
sự
Có thể khẳng định bằng quy định về hình thức hợp đồng được Nhànước quy định nhằm ngăn chặn các chủ thể trốn tránh, vi phạm nghĩa vụ vớiNhà nước Ví dụ như nghĩa vụ nộp thuế, nghĩa vụ tôn trọng sự kiểm soát củaNhà nước đối với giao dịch liên quan đến các loại tài sản đặc biệt Nếu phápluật không quy định hình thức hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của giao dịchthì cũng đồng nghĩa với việc pháp luật sẽ không hạn chế được việc trốn tránhnghĩa vụ trước Nhà nước của các chủ thể Từ đó, những loại giao dịch ngầm,thị trường ngầm phát triển ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước
Tuy nhiên, quy định hình thức là điều kiện có hiệu lực của hợp đồngcần được quy định một cách thận trọng bởi điều đó chứng tỏ sự can thiệp củaNhà nước vào tự do hợp đồng của các bên chủ thể
Theo quy định pháp luật dân sự Việt Nam, điều kiện về hình thức có sựthay đổi đáng ghi nhận Tại Điều 122 BLDS 2005 chỉ quy định ba điều kiện
có hiệu lực của giao dịch dân sự (hợp đồng) chứ không quy định bốn điềukiện như BLDS 1995 Cụ thể là BLDS 2005 đã bỏ điều kiện về hình thức củagiao dịch BLDS 2005 quy định hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệulực của hợp đồng trong trường hợp pháp luật có quy định Với quy định này,BLDS 2005 đã góp phần hạn chế trong việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu đốivới những hợp đồng có nội dung và mục đích phù hợp quy định của phápluật, phù hợp với ý chí đích thực của các bên nhưng có vi phạm về hình thức;qua đó cũng hạn chế những người không có thiện chí viện dẫn sự vi phạm vềhình thức của hợp đồng mà yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu Quy định nàythể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng tự do ý chí của các bên
Trang 16e, Điều kiện đối tượng hợp đồng: phải thực hiện được
Yếu tố thứ ba không thể thiếu của hợp đồng chính là đối tượng Sựthống nhất ý chí của các bên phải nhằm vào một đối tượng cụ thể Đối tượngcủa hợp đồng phải được xác định rõ rệt và được phép giao dịch Chẳng hạn,đối tượng của hợp đồng mua bán tài sản là vật thì vật phải được xác định rõ,không bị pháp luật cấm lưu thông trong giao dịch dân sự - kinh tế
Theo quy định tại Điều 411 BLDS, hợp đồng có đối tượng vì lý dokhách quan không thể thực hiện được thì hợp đồng đó vô hiệu
1.2.2.2 Các bên tham gia hợp đồng phải chịu hậu quả pháp lý nhất định
Hậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu có thể được hiểu là những hệquả pháp lý phát sinh theo quy định của pháp luật trong trường hợp hợp đồng
bị tuyên bố vô hiệu Hậu quả này chỉ phát sinh khi có quyết định của cơ quannhà nước có thẩm quyền hoặc trên cơ sở một quyết định, bản án của Tòa án
có hiệu lực pháp luật Cơ sở để xác định hậu quả pháp lý này thường đượcpháp luật dân sự quy định, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ ra quyếtđịnh áp dụng chế tài mà không phụ thuộc vào ý chí của các bên chủ thể thamgia hợp đồng
Khi tuyên bố hợp đồng vô hiệu, quyền và nghĩa vụ của các bên giao kếthợp đồng không được pháp luật dân sự công nhận và bảo vệ Thời điểm xácđịnh sự vô hiệu của hợp đồng được tính từ thời điểm hình thành hợp đồng.Hợp đồng đã ký sẽ không có giá trị bắt buộc thực hiện và việc thực hiện vì thế
bị chấm dứt, quay lại tình trạng ban đầu, các bên hoàn trả cho nhau những gì
đã nhận Nếu một trong các bên có lỗi thì phải chịu bồi thường thiệt hại chobên kia
1.3 Phân loại hợp đồng dân sự vô hiệu
Sự vô hiệu của hợp đồng được chia thành hai loại: vô hiệu tương đối và
vô hiệu tuyệt đối
Trang 17Hợp đồng vô hiệu tuyệt đối là những hợp đồng vi phạm điều cấm củapháp luật nên trong thực tế, Tòa án và cơ quan có thẩm quyền không chophép khắc phục dù ý chí của các bên mong muốn được khắc phục Hợp đồng
vô hiệu tuyệt đối mặc nhiên vô hiệu không phụ thuộc vào quyết định của Tòa
án Chính bởi vậy, quyết định của Tòa án (nếu có) đối với hợp đồng vô hiệutuyệt đối không mang tính chất phán xử mà đơn thuần chỉ là việc khẳng định
sự vô hiệu của hợp đồng và xác định hậu quả cưỡng chế đối với các bên dựatrên cơ sở luật định [17,tr15]
Khác với trường hợp vô hiệu tuyệt đối, hợp đồng vô hiệu tương đối chỉgây thiệt hại cho các bên Sự vô hiệu tương đối này không mang tính chấtmặc nhiên mà chỉ trở nên vô hiệu khi có đơn yêu cầu của những người cóquyền và lợi ích liên quan và có quyết định tuyên bố của Tòa án Đối với hợpđồng vô hiệu tương đối thì quyết định của Tòa án là cơ sở duy nhất làm chohợp đồng trở nên vô hiệu Quyết định của Tòa án mang tính chất phán xử,
Khi phân biệt hợp đồng vô hiệu tương đối hay tuyệt đối cũng đồngnghĩa với việc xác định hợp đồng đó xâm phạm tới quyền lợi của ai, quyền lợicủa một người hay nhiều người
1.4 Quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu trong pháp luật dân sự Việt
Nam qua các thời kỳ lịch sử.
1.4.1 Quy định về hợp đồng dưới thời Lê – Nguyễn
Chế định hợp đồng xuất hiện lần đầu tiên trong Luật La mã vào thế kỷ
V đến thế kỷ IV trước công nguyên, sau đó du nhập vào Tây Âu theo phongtrào Phục hưng Ở phương Tây, chế định luật hợp đồng ngày càng phát triển
do bối cảnh lịch sử giao lưu thương mại giữa các nước
Ở Việt Nam, có hai nguyên nhân làm cho chế định này không hìnhthành phát triển được, đó là do chính sách ”Trọng nông ức thương” của triềuđình phong kiến Tuy vậy trong Luật Hồng Đức hay Luật Gia Long cũng có
Trang 18ghi nhận về các loại khế ước chung như: mua bán, cho thuê, cho vay…Các bộluật phong kiến Việt Nam không quy định về vấn đề khế ước một cách có hệthống Pháp luật không có quy định khái quát về sự giao kết khế ước hay hiệulực khế ước và nội dung của các loại khế ước nói riêng
Trong thời kỳ này, pháp luật Việt Nam mang đậm dấu ấn của tư tưởngnho giáo Trung Quốc Điển hình là Quốc Triều Hình Luật (Luật Hồng Đức)được ban hành dưới thời vua Lê Thánh Tông (nhà Lê, thế kỷ thứ XV) Cụ thểhơn, trong Luật Hồng Đức không sử dụng khái niệm hợp đồng hay khế ước,
mà thường dùng khái niệm cụ thể như mua, bán, cầm …và có khái niệm kháiquát hơn đó là khái niệm văn khế Những quy định này được nằm rải rác ởcác phần và tập trung chủ yếu ở quyển III, chương điền sản
Phân tích các quy định liên quan đến khế ước, chúng ta có thể thấy rõyếu tố “thuận mua vừa bán” thể hiện rõ tư tưởng thỏa thuận của các bên Tưtưởng này rất tiến bộ và đến nay vẫn còn giá trị rất lớn
Về giao kết khế ước, thời kỳ này có một số vấn đề:
- Về tự do khế ước: Luật không có một điều khoản nào quy định về tự dokhế ước nhưng cho phép mọi người tự do giao kết khế ước với nhau Luậtphong kiến không quy định được phép hay cấm đoán quyền của chủ thể thamgia giao kết khế ước, nhưng chỉ can thiệp khi kết lập khế ước vi phạm thuầnphong mỹ tục hay rối loạn trật tự xã hội Thuần phong mỹ tục của xã hộiphong kiến được hiểu là những quan điểm tư tưởng trong giai đoạn lịch sửthời bấy giờ như trung quân, quyền gia trưởng hay đề cao chữ tín
Qua nghiên cứu những quy định có liên quan đến các hình thức muabán, vay nợ, cho thuê có thể thấy rõ Luật Hồng Đức không đề cập tới kháiniệm và yêu cầu chung đối với một khế ước hợp pháp hoặc vô hiệu Nhưngxem xét các tính tiết cụ thể thì có thể khái quát khế ước hợp pháp khi có đủcác yếu tố sau:
- Đảm bảo nguyên tắc tự do giao kết khế ước
Trang 19Thời bấy giờ, quan niệm nhân trị có ảnh hưởng rất lớn trong xã hội vớinhững giá trị: “nhân”; “nghĩa”, “lễ”, “tín” Bởi vậy các hành vi cưỡng bứcgiao kết khế ước đều bị nghiêm trị Ví dụ tại Điều 355 Luật Hồng Đức quy
định: “Người nào ức hiếp mua ruộng đất của người khác thì bị xử biếm hai
tư, cho được trả tiền mua”.
Nội dung của khế ước không được trái với thuần phong mỹ tục hoặcđiều cấm được quy định trong Luật Hồng Đức Theo quan niệm thời bấy giờ,mọi khế ước đều phải tôn trọng người chủ gia đình (quyền gia trưởng), nếukhông sẽ bị vô hiệu Nhiều giao dịch muốn xác lập phải được sự đồng ý củaông bà, cha mẹ hay những bậc bề trên trong gia đình, nếu không được sựđồng ý của họ thì khế ước đó vô hiệu Những người liên quan đến việc xáclập khế ước phải chịu hình phạt nhất định Có thể thấy rõ điều này tại điều
378 – Bộ Luật Hồng Đức: “Cha mẹ mà còn sống mà con cái bán điền sản của
cha mẹ, con trai bị phạt 60 trượng, giáng hạ hai bậc, con gái phạt 50 roi, giáng hạ một bậc” Ngoài ra người bán phải trả nguyên tiền cho người mua và
người mua phải trả lại điền sản cho cha mẹ người bán Xét riêng về chế tàidân sự, có thể thấy hậu quả pháp lý trong trường hợp này có sự tương ứngnhư trong cách xử lý trong BLDS hiện hành
Hình thức của khế ước cũng phải tuân theo hình thức nhất định đối với
một số trường hợp luật định Ví dụ như trường hợp “Mua bán nô tì thì phải
đem văn tự trình quan để xem xét, nếu không thì bị phạt tiền” [39, Điều 363].
Luật cũng quy định chế tài nghiêm khắc các trường hợp giao kết khếước không thỏa mãn yếu tố thỏa thuận Trong các trường hợp này, khế ướckhông có giá trị phát lý và bên bán phải trả lại tiền cho bên mua và bên muaphải trả lại tài sản cho bên bán Tùy từng trường hợp vi phạm khế ước cụ thể
mà bên vi phạm phải chịu hình thức trách nhiệm khác nhau Chúng ta có thểthấy điều đó qua các quy định về hợp đồng:
Trang 20Về lừa dối, theo điều 190 “Người dùng thăng, đấu, cân, thước để mua
bán lấy lợi riêng thì tội cũng như tội ăn trộm” Cũng tương tự, Điều 191 phạt
“Những người làm đồ khí dụng giả dối và vải lụa ngắn hẹp để đem bán 50
roi, giáng hạ một bậc, và bắt sung công hàng hóa”
Hoặc trường hợp đe dọa được quy định tại Điều 355, Bộ luật Hồng
Đức: “Người nào ức hiếp để mua ruộng đất của người khác thì phải biếm hai
tư và cho lấy lại tiền mua”
Trong việc xử lý khế ước vô hiệu, chúng ta có thể thấy bên cạnh chế tàidân sự như bồi thường thiệt hại theo thời giá, năm mất mùa sẽ có quy địnhkhác (Điều 367) hoặc bồi thường theo luật định (Điều 370); phạt tiền gấp đôi(ví dụ: gấp đôi số tiền mua bán) … Các chế tài hình sự như trượng, roi, biếm,
đồ, chém, lưu đày châu gần, châu xa v v được áp dụng khá nhiều
Đến thời Nguyễn, các quy định về khế ước không được quy định rõràng trong Luật Gia Long nhưng căn cứ vào một số điều luật cụ thể có thểthấy nguyên tắc này:
Người giao kết phải có năng lực giao kết khế ước: Bộ luật Gia Longvẫn còn những điều khoản hạn chế quyền năng của những người vợ và concháu trong gia đình, chưa tạo ra sự bình đẳng giũa các chủ thể trong việc thamgia giao kết khế ước
Nội dung khế ước không trái với thuần phong mỹ tục trật tự công cộng.Điều này cũng có nghĩa rằng Nhà nước chỉ can thiệp khi các bên bằng việcthực hiện khế ước gây thiệt hại cho người khác, cho cộng đồng và trái với đạo
đức Ví dụ như: “Cấm bán trộm ruộng đất của người khác hoặc đem đất
mình cày cấy không nổi đổi cho người khác rồi mạo nhận đất ruộng của người khác là của mình” [27, Điều 87]
Luật cũng ghi nhận về sự đồng thuận của các bên giao kết, như tại Điều
137: “Khi một người mua và một người bán đồ vật gì, nếu hai bên đương sự
không đồng ý, và một bên cậy mình có tư cách nhà buôn có giấy phép dùng
Trang 21áp lực hoặc những người buôn bán thông đồng với những người có giấy phép
để manh tâm lừa dối bán đắt những đồ vật rẻ tiền hoặc mua những đồ vật quý giá của người khác thì bị phạt 80 trượng”.
Bộ Luật Gia Long không có quy định chung về khế ước vô hiệu mà chỉquy định các trường hợp khế ước thông dụng thời đó như khế ước vay nợ,mua bán…vi phạm quy định đã đề ra Ví dụ như: pháp luật quy định chế tàinghiêm khắc nhằm trừng trị những người lừa dối trong mua bán đồ vật nhưng
không quy định cụ thể về nghĩa vụ dân sự phải trả lại vật đã mua: “Phàm đem
bán trộm đất của người khác, đem đất mình cày cấy không nổi đổi cho người khác, và mạo nhận đất ruộng người khác làm của mình.Ruộng một mẫu, nhà một gian trở xuống thì phạt 50 roi, mỗi năm mẫu ruộng 3 gian nhà thì thêm một bậc tội, mút tội là 80 trượng, đồ 2 năm Liên hệ đến ruộng đất của quan thì tăng hai bậc”[27, Điều 137]
Theo chú thích tại điều này có các trường hợp bán phi pháp sau:
+ Bán mà không có quyền bán, lại nói là tài sản của người khác, vừa cónghĩa chiếm đoạt tài sản của người khác vừa có nghĩa lừa dối người mua.+ Đổi trộm là đem ruộng mình xấu, khô cằn, lồi lõm lén đổi ruộng màu
mỡ của người khác “Trong tất cả trường hợp mà đương sự lừa dối ngườikhác hay lợi dụng sự ngu dốt của họ để chiếm lấy điền sản đều coi là đạomại” (có nghĩa là phi pháp)
+ Mạo nhận ruộng nhà của người ta mà nói láo của mình làm chủ, chorằng chủ ruộng ấy chết rồi
+ Trong văn tự ghi rõ giá tiền phải trầm không chịu trả cho người bán bấtluận bị cưỡng bách hay bị lừa dối
Trong các trường hợp nêu trên, đối với việc bán trộm, lén đổi, mạonhận, đặt giá tiền hờ làm văn khế bán chuộc được, xâm chiếm, cưỡng chiếm,hiến các loại ruộng và bán trộm nhà đất của người ta thì ngoài hình phạt cótính chất hình sự, người vi phạm còn phải chịu chế tài về dân sự như: tiền bán
Trang 22và hoa lợi thu được trong năm ấy thì chiếu theo sổ mà nhập quan để trả lạicho chủ sở hữu
Có thể khẳng định, dù không quy định khái quát về hợp đồng vô hiệunhưng nhìn chung, cổ Luật Việt Nam đã ghi nhận những nguyên tắc mà khigiao kết khế ước các chủ thể phải đảm bảo Khế ước phải đặt trên sự ưngthuận của các bên tham gia, người tham gia khế ước phải có năng lực pháp lýnhất định Khi tham gia vào khế ước phải hoàn toàn ngay thẳng, nghiêm túc,không có sự lừa dối hay cưỡng bách, trong một số giao dịch có tính chất đặcbiệt, có giá trị lớn còn phải tuân theo các quy định về hình thức Hậu quảpháp lý các chế tài được áp dụng trong trường hợp khế ước vô hiệu khôngthuần túy là trách nhiệm tài sản Trong nhiều trường hợp còn áp dụng nhữngchế tài của pháp luật hình sự.[32, tr.43]
Tuy nhiên pháp luật thời đó còn có sự khác biệt với luật hiện hành:không dự liệu được các tình huống xẩy ra trong thực tế, không phân biệt giữaluật dân sự và luật hình sự, các quy định về dân sự còn mang tính khái quát,chưa phân loại được thành các tiểu mục chi tiết, nội dung còn mang nặngnhững quan điểm cổ hủ của chế độ phong kiến Tuy vậy, luật phong kiến ViệtNam vẫn có tính sáng tạo, mang đậm nét tính cách Việt Nam và quy định kháđầy đủ các quan hệ dân sự về hợp đồng so với pháp luật của một số nước trênthế giới thời kỳ đó
1.4.2 Khế ước vô hiệu trong quy định pháp luật thời Pháp thuộc
Thời Pháp thuộc, lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, luật dân sự đượcban hành với tư cách là một ngành luật độc lập Các bộ luật trong thời kỳ nàygồm có Bộ Dân Luật Giản yếu năm 1883, Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và
Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật năm 1936 – còn được gọi là Bộ Dân luậtTrung Kỳ Nhìn chung, các bộ luật này chịu ảnh hưởng trực tiếp của Bộ dân
Trang 23luật Pháp 1804, nhưng có nhiều quy định được sửa đổi cho phù hợp với điềukiện kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của Việt Nam.
Theo quy định của pháp luật thời Pháp thuộc một khế ước được hìnhthành khi có các điều kiện sau:
- Phải có sự thống nhất ý chí giữa các bên về hình thức, nội dung khếước và mọi điểm mà các bên đưa ra thỏa thuận;
- Phải xác định rõ đối tượng của khế ước, đối tượng này thuộc quyền sởhữu hoặc quyền sử dụng hợp pháp của các bên;
- Phải có một việc đích thực và chính đáng [16, Điều 651; 28, Điểu 687]
Sau khi khế ước hình thành phải có đủ hai điều kiện sau khế ước mới
có giá trị, đó là: Các bên giao kết khế ước hoàn toàn tự nguyện không có sựhiểu lầm hoặc cưỡng bách làm cho trái với lòng tự thuận của các bên và bênlập ước phải có đủ tư cách mà pháp luật đã quy định hoặc có người đại diệnhợp pháp Ví dụ: phải là người thành niên, nếu là người chưa thành niên thìphải có người đại diện theo pháp luật là cha mẹ v.v [16, Điều 683 và 28,điều 688]
Khế ước vô hiệu là khế ước không có một trong các điều kiện làm chokhế ước hợp pháp, cụ thể là:
- Trái với nguyên tắc tự do giao kết khế ước như: một bên bị cưỡng báchgiao kết khế ước;
- Người lập khế ước không đủ tư cách mà luật pháp đã quy định hoặcgiao kết khế ước thông qua người đại diện không đủ tư cách;
- Đối tượng của khế ước không thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụnghợp pháp của các bên;
- Có sự hiểu lầm về nội dung và chủ thể của khế ước
Xuất phát từ nguyên tắc khế ước chỉ hình thành khi có sự đồng ý củacác bên, pháp luật quy định khi có sự hiểu lầm thì coi như không có sự đồng
ý Do đó khế ước không có giá trị pháp lý Sự hiểu lầm ở đây có thể là lầm lẫn
Trang 24về yếu tố chủ thể, đối tượng hoặc nội dung của khế ước, hoặc cũng có thể làhiểu lầm về tư cách, tài năng của một người lập ước [16, Điều 657 và 28,Điều 693].
- Hậu quả pháp lý về khế ước vô hiệu: Về nguyên tắc, khế ước vô hiệukhông làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên Pháp luật thời Pháp
thuộc không quy định cụ thể về vấn đề này mà chỉ nêu chung chung: “nghĩa
vụ… có sự giả dối hoặc phi pháp thời không có hiệu lực gì” [16, Điều 603 và
28, Điều 703]
1.4.3 Quy định về hợp đồng dân sự vô hiệu thời kỳ từ 1945 đến nay
Thời kỳ nước ta mới dành được độc lập chưa có điều kiện ban hành vănbản pháp luật để thay thế những bộ luật của chế độ cũ, Nhà nước thời bấy giờ
đã cho phép tạm sử dụng một số luật lệ đã ban hành ở Bắc - Trung - Nam vớinguyên tắc: những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nước ViệtNam và chính thể dân chủ cộng hòa Có nghĩa là ba văn bản pháp luật: Dânluật giản yếu Nam kỳ 1883, Dân luật Bắc kỳ 1931 và Hoàng Việt Trung Kỳ
hộ luật 1936 được tiếp tục áp dụng Tuy nhiên, trong thực tiễn xuất hiện nhiềuquy định trong bộ luật cũ không phù hợp với bản chất của Nhà nước mới, nênngày 22/ 5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 97/SL “Sửa đổi một
số quy lệ và chế định trong dân luật”, với các nguyên tắc mới là:
+ Những quyền dân sự đều được luật bảo vệ khi người ta hành xử nóđúng với quyền lợi của nhân dân;
+ Người ta chỉ hưởng dụng và sử dụng các vật thuộc quyền sở hữu củamình một cách hợp pháp và không gây thiệt hại đến quyền lợi của nhân dân; + Người đàn bà có chồng có toàn năng lực về một hộ;
+ Khi lập ước mà có sự tổn thiệt do sự bóc lột của một bên vì điều kiệnkinh tế của hai bên chênh lệch thì khế ước đó có thể bị coi là vô hiệu
Trang 25Sau khi có Hiến pháp mới 1959, TANDTC đã ra Chỉ thị số TATC về việc đình chỉ áp dụng luật lệ của đế quốc, phong kiến Ở MiềnNam, tháng 12-1972, chính phủ Nguyễn Văn Thiệu cũng công bố thi hànhBLDS của chính quyền Sài Gòn.
772/CT-Sau khi thống nhất đất nước, Nhà nước ta tiếp tục ban hành các văn bảnpháp luật quy định rõ hơn về các giao dịch dân sự trong đó có các văn bảnpháp luật quy định về hợp đồng
Khái niệm hợp đồng vô hiệu lần đầu tiên được nêu ở Công văn số
1477/DS ngày 11/12/1965 của TANDTC: “Là Hợp đồng không có hiệu lực vì
nó trái với pháp luật, không phù hợp với yêu cầu của chính sách và pháp luật của Nhà nước”.
Báo cáo số 158/BC ngày 25/3/1985 của TANDTC tổng kết công tác xét
xử về các tranh chấp về mua bán nhà ở và cho thuê nhà ở của tư nhân tại cácthành phố, thị xã, thị trấn đã xác định hợp đồng mua bán nhà ở có giá trị pháp
lý khi có bốn yếu tố sau:
+ Hợp đồng phải có nội dung đúng chính sách pháp luật;
+ Người tham gia ký kết hợp đồng phải có đủ tư cách về mặt pháp lý;+ Phải có sự thỏa thuận tự nguyện của bên mua và bên bán;
+ Hợp đồng phải làm theo đúng thủ tục luật định
Đồng thời, theo văn bản hướng dẫn này, một nguyên tắc được pháp luậtquy định đó là khi giải quyết các tranh chấp về hợp dồng mua bán thì phải căn
cứ vào các yếu tố này để xem xét hợp đồng có vô hiệu hay không
Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, pháp luật dân sự pháttriển mạnh mẽ, nhiều đạo luật quan trọng ra đời đã tạo nên khung pháp lý chocác hoạt động giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng phát triển Ví dụ nhưviệc ban hành Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991
Theo Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991, về nguyên tắc, hợp đồng dân sựđược giao kết theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, không trái với pháp luật
Trang 26và đạo đức xã hội Đồng thời Pháp lệnh cũng quy định rõ các trường hợp hợpđồng vô hiệu toàn bộ tại Điều 15:
+ Nội dung của hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật hoặc trái vớiđạo đức xã hội;
+ Một hoặc các bên không có quyền giao kết hợp đồng; Hợp đồng dongười dưới mười tám tuổi giao kết mà không có sự đồng ý của cha, mẹ hoặcngười đỡ đầu, thì cha, mẹ hoặc người đỡ đầu có quyền yêu cầu Tòa án xácđịnh hợp đồng vô hiệu
+ Khi một bên trong hợp đồng bị nhầm lẫn về nội dung chủ yếu của hợpđồng, bị đe dọa hoặc bị lừa dối, thì có quyền yêu cầu tuyên bố hợp đồng vôhiệu
+ Hợp đồng vô hiệu từng phần khi nội dung của phần đó vô hiệu khôngảnh hưởng tới nội dung các phần còn lại của hợp đồng
Các nhà lập pháp trên cơ sở áp dụng các nguyên tắc luật để giải quyếthậu quả pháp lý của hợp đồng vô hiệu, đó là:
+ Hợp đồng vô hiệu không có giá trị tại thời điểm giao kết
+ Nếu hợp đồng chưa thực hiện hoặc đã thực hiện một phần, thì các bênkhông được tiếp tục thực hiện
+ Trong trường hợp hợp đồng đã được thực hiện một phần hoặc toàn bộthì các bên có nghĩa vụ hoàn trả cho nhau những gì đã nhận, nếu tài sản đókhông bị tịch thu theo quy định của pháp luật; nếu không hoàn trả bằng hiệnvật thì phải hoàn trả bằng tiền
+ Bên có lỗi trong việc giao kết hợp đồng vô hiệu mà gây ra thiệt hại chophía bên kia, thì phải bồi thường, trừ trường hợp bên bị thiệt hại biết rõ lý dolàm cho hợp đồng vô hiệu mà vẫn giao kết
+ Khoản thu nhập không hợp pháp từ hợp đồng từ việc thực hiện hợpđồng vô hiệu phải bị tịch thu
Trang 27Đến năm 1995, BLDS được ban hành và có hiệu lực kể từ ngày01/07/1996 đồng thời chấm dứt hiệu lực của Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991
là một bước tiến quan trọng trong lĩnh vực lập pháp của nước ta BLDS cótầm quan trọng “sau hiến pháp” điều chỉnh các quan hệ xã hội đa dạng, phứctạp, làm nền tảng và định hướng cho việc phát triển các quan hệ dân sự, kinh
tế Vấn đề xử lý hợp đồng vô hiệu đã được quy định trong phần quy địnhchung về giao dịch dân sự vô hiệu tại chương V BLDS 1995 từ Điều 131 đếnĐiều 147 Theo đó, các quy định chung về điều kiện hợp pháp của giao dịchdân sự, hình thức của giao dịch dân sự, mục đích và nội dung của giao dịchdân sự cũng như hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tỉ mỉ, chitiết Đặc biệt là các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu cụ thể như giao dịchdân sự vô hiệu do không tuân thủ hình thức, do người mất NLHV dân sự kýkết, do bị nhầm lẫn hay bị lừa dối, đe doạ
Kể từ sau khi có BLDS, về cơ bản chúng ta áp dụng các quy định trong
đó để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng dân sự phát sinh sau khi BLDS ra đời.Tuy nhiên thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án còn nhiểu phứctạp, nhiều điều khoản còn chưa phù hợp thực tế cuộc sống của nhân dân Đểkhắc phục vấn đề này Nhà nước đã ban hành một số văn bản quan trọng như:Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH ngày 20/08/1998 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày01/07/1991; Nghị quyết số 01/2003 ngày 10/04/2003 của Hội đồng thẩm phánTANNDTC “Về hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một sốloại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình”; Nghị quyết số 02/2004/NQ/HĐTP ngày 10/08/2004 của Hội đồng thẩm phán TANDTC “Hướng dẫn ápdụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân
và gia đình”
BLDS 1995 ra đời nhưng Pháp lệnh hợp đồng kinh tế vẫn có hiệu lực.Sau đó, Luật Thương mại ra đời (năm 1997) dẫn tới tình trạng tách rời chế
Trang 28định hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại, việc áp dụng các nguyên tắccủa dân luật để giải quyết các tranh chấp hợp đồng phát sinh không được ápdụng ở nước ta Điều này có điểm khác với các nước trên thế giới theo truyềnthống civil law
Để khắc phục tình trạng chưa thống nhất trong việc áp dụng pháp luật,nhằm hoàn thiện hơn các quy định pháp luật dân sự nói chung cũng như vềgiao dịch dân sự nói riêng, BLDS 2005 ra đời Có thể nói BLDS lần này cónhiều điểm ưu việt hơn, vì đã xóa bỏ được những điểm chưa hợp lý trong cácquy định luật đồng thời tiếp thu được những tinh hoa của pháp luật trước đó
và pháp luật quốc tế Đặc biệt là quy định có hiệu lực của giao dịch dân sự tạiBLDS 2005 mang một tinh thần khác so với BLDS 1995 BLDS 2005 chỉ quyđịnh ba điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự chứ không quy định bốnđiều kiện như BLDS 1995, điều kiện về hình thức chỉ là điều kiện có hiệu lựctrong trường hợp pháp luật có quy định Và điều kiện về nội dung và mụcđích cũng có sự thay đổi cơ bản Nếu như BLDS 1995 quy định nội dung vàmục đích không trái quy định pháp luật và đạo đức xã hội thì BLDS 2005 lạiquy định không vi phạm điều cấm pháp luật, không trái đạo đức xã hội Quyđịnh này tôn trọng nguyên tắc hiến định công dân được làm những gì phápluật không cấm
BLDS 2005 là đạo luật chung điều chỉnh quan hệ nhân thân và quan hệtài sản phát sinh trong lĩnh vực quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinhdoanh thương mại, lao động và cũng chấm dứt tình trạng chế định hợp đồngdân sự và thương mại tách biệt Đối với một số loại hợp đồng đặc thù ngànhluật thương mại sẽ áp dụng luật chuyên ngành trước khi áp dụng nguyên tắcchung của luật dân sự để giải quyết Tuy nhiên Bộ luật vẫn còn những điểmchưa hợp lý cần phải được xem xét tiến tới việc bổ sung, sửa đổi cho hoànthiện hơn
Trang 291.5 Quy định về hợp đồng vô hiệu trong pháp luật một số nước trên thế giới
Quy định pháp luật của các nước trên thế giới đều có những đặc trưngriêng khi quy định về hợp đồng nói chung cũng như hợp đồng vô hiệu nóiriêng Mặc dù vậy, các nước đều quy định các yếu tố cơ bản để xác định tínhhợp pháp của một hợp đồng Để hợp đồng hợp pháp, cần đảm bảo những yếu
tố như:
1.5.1 Năng lực chủ thể của người tham gia giao dịch
Người tham gia giao dịch không có NLHV dân sự đầy đủ khi tạo lậphợp đồng sẽ dẫn tới hợp đồng vô hiệu NLHV dân sự của cá nhân là khả năngnhận thức được hành vi và làm chủ được hành vi của họ Những người cóNLHV dân sự đầy đủ, ở mỗi nước có quy định khác nhau Theo pháp luậtNhật Bản, Thái Lan: người từ đủ 20 tuổi trở lên có đủ NLHV dân sự trong khi
đó ở Việt Nam là 18 tuổi Trừ trường hợp bị tuyên bố mất NLHV hoặc hạnchế NLHV dân sự, những chủ thể này có thể tham gia giao kết hợp đồng mộtcách độc lập
Đối với người chưa thành niên, người bị tuyên bố mất NLHV dân sựhoặc hạn chế NLHV dân sự, hầu hết pháp luật các nước đều quy định các chủthể đó phải có người đại diện trong khi giao kết hợp đồng Nếu không thỏamãn điều kiện này sẽ dẫn tới trường hợp hợp đồng vô hiệu, tuy nhiên cũng cómột số trường hợp ngoại lệ
Pháp luật Việt Nam quy định người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có
đủ tài sản riêng để thực hiện nghĩa vụ được xác lập, thực hiện giao dịch vàphải chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản họ có, trừ trường hợp pháp luật cóquy định khác Đối với người chưa đủ tuổi, cũng được phép thực hiện một sốgiao dịch thiết yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng ngày
Pháp luật dân sự Pháp cũng có quy định: “Người vị thành niên, dù
không kết hôn, có quyền tự lập khi đã đủ mười sáu tuổi tròn Nếu có lý do
Trang 30chính đáng và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc của môt trong hai người, quyền
tự lập sẽ do thẩm phán về giám hộ quyết định”[6, Điều 447]
Pháp luật các nước đều quy định về thẩm quyền của người tham gia
giao kết hợp đồng, tuy nhiên ở mỗi nước có những điểm khác biệt Theo Luật
Anh - Mỹ, cha mẹ không là đại diện đương nhiên của con chưa thành niêntrong quan hệ dân sự Bất cứ giao dịch nào có người chưa thành niên tham giađều không có giá trị pháp lý, trừ trường hợp những giao dịch dân sự phục vụnhu cầu sinh hoạt thiết yếu của họ [36, trang 56; 57] Trong khi đó Luật ViệtNam quy định cha, mẹ đương nhiên là người đại diện cho con chưa thànhniên
1.5.2 Hợp đồng có nội dung trái với quy định của pháp luật và đạo đức
xã hội
Sự tự do thể hiện ý chí luôn được đề cao khi các bên tham gia giao kếthợp đồng, song không thể là sự tự do tuyệt đối Trong nhiều trường hợp vì lợiích của xã hội, lợi ích của quốc gia, Nhà nước có thể đưa ra một số hạn chếđối với quyền tự do giao kết và thực hiện hợp đồng đối với các bên trongquan hệ Phần lớn pháp luật các nước trên thế giới đều không công nhận hiệulực của các hợp đồng mà mục đích giao kết và nội dung thỏa thuận của nó tráivới pháp luật và đạo đức xã hội
Có thể thấy rõ điều đó trong các quy định pháp luật của Pháp, Thái Lanhay Nhật Bản
Trong Điều 1133, BLDS Pháp quy định: “Căn cứ là bất hợp pháp khi
bị pháp luật cấm, trái với thuần phong mỹ tục hoặc trật tự công cộng” Trong
luật của Pháp có lý thuyết về nguyên nhân của hợp đồng theo đó động cơ củaviệc xác lập hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Tư tưởng chủđạo đó là: mọi nghĩa vụ kết ước đều phải có nguyên nhân và nguyên nhânphải không được trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, thì nghĩa vụ kết ước mới
có giá trị Bởi vậy, hợp đồng mua bán một căn nhà có thể bị tuyên bố vô hiệu
Trang 31nếu có đủ bằng chứng cho thấy việc mua nhà nhằm mục đích xây dựng khochứa hàng lậu thuế hoặc nhà chứa mại dâm.
BLDS và Thương mại Thái Lan cũng quy định: “Một hành vi pháp lý
bị vô hiệu nếu mục tiêu của nó rõ ràng bị pháp luật ngăn cấm hoặc không thể thực hiện được hoặc trái với trật tự công cộng hoặc trái với đạo đức” [5,
Điều 113] Tương tự, tại Điều 90 BLDS Nhật Bản cũng chỉ rõ: “Các hành vi
pháp lý nhằm thực hiện những việc trái với trật tự công cộng và trái với đạo đức bị coi là vô giá trị và không có hiệu lực” Tuy nhiên, khái niệm thuần
phong mỹ tục, đạo đức xã hội hay những điều cấm của pháp luật được đề cậpđến ở đây phải được nhìn nhận trong bối cảnh chính trị - xã hội của đất nước
đó Đây là những khái niệm có sự khác nhau tùy theo chế độ chính trị, phongtục văn hóa và lịch sử của mỗi quốc gia
1.5.3 Yếu tố thỏa thuận trong giao kết và thực hiện hợp đồng
Hợp đồng dựa trên cơ sở sự tự do thỏa thuận giữa các bên chủ thể thamgia giao kết, do vậy, bất kỳ một trường hợp nào vi phạm yếu tố này đều đượcxem là yếu tố vô hiệu hợp đồng
Trước hết, về sự liệt kê các trường hợp vi phạm sự ưng thuận trongpháp luật các nước cũng có quy định khác nhau Ví dụ như: Luật La Mã phânbiệt bốn khiếm khuyết của sự ưng thuận bao gồm: nhầm lẫn, bạo lực, lừa dối
và thiệt thòi Pháp luật của Anh phân biệt thành nhầm lẫn, biểu lộ sai sự thật,cưỡng ép và ảnh hưởng không chính đáng; Pháp luật Pháp lại phân biệt nhầmlẫn, lừa dối, và bạo lực; Pháp luật Đức phân biệt nhầm lẫn, lừa dối và đe doạkhông chính đáng Pháp luật Hoa Kỳ đề cập tới sáu khiếm khuyết của sự ưngthuận là nhầm lẫn, gian trá, không cố ý biểu lộ sai sự thật, ảnh hưởng khôngchính đáng, cưỡng ép và bất công quá mức [14] Pháp luật Việt Nam phânbiệt các khiếm khuyết về sự ưng thuận thành các trường hợp: nhầm lẫn, lừadối và đe dọa
Trang 32Lừa dối:
Phần lớn pháp luật các nước đều coi lừa dối có tính chất quyết định đến
sự giao kết hợp đồng là yếu tố vô hiệu hợp đồng Tính chất quyết định thểhiện ở chỗ nếu không dùng các mánh khóe như vậy thì sẽ không có giao kết
hợp đồng “Nếu sự man trá chỉ là vô tình, nghĩa là chỉ khiến cho một bên phải
chấp nhận những điều khoản nặng nề hơn so với những điều khoản mà lẽ ra các bên đó được hưởng, thì bên đó chỉ có thể khiếu nại đòi bồi thường chứ không thể đòi hủy bỏ hành vi đó”[5; Điều 123].
Theo BLDS Pháp, người lừa dối là người thực hiện các hành vi có tínhchất thủ đoạn gian dối và “Sự lừa dối là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu khicác thủ đoạn do một bên đã thực hiện mà nếu không có các thủ đoạn đó thìbên kia đã không kí kết hợp đồng” [6; Điều 1116]
Còn theo pháp luật dân sự Anh: sự lừa dối hay hành vi có chủ đích củamột người nhằm làm cho người kia nhầm lẫn về nội dung của giao dịch
Pháp luật một số nước còn dự liệu tình huống lừa dối do người thứ bagây ra và hướng xử lý trong trường hợp đó: “Việc tuyên bố ý chí do bị lừa dốihoặc bị cưỡng ép có thể bị vô hiệu Nếu một người tuyên bố ý chí trước ngườikhác do người thứ ba có lỗi gian lận thì sự tuyên bố này có thể bị vô hiệu, nếungười này biết có sự gian lận Việc hủy bỏ tuyên bố ý chí có yếu tố gian lậnkhông thể được dùng chống lại người thứ ba ngay tình” [9; Điều 96]
Mỗi nước đều đưa ra khái niệm về lừa dối, trên cơ sở đó đều quy định
đó là căn cứ làm cho hợp đồng vô hiệu
Nhầm lẫn: Pháp luật về hợp đồng một số nước như Nhật Bản, Đức,
Pháp vẫn thừa nhận hiệu lực của hợp đồng khi có sự nhầm lẫn đơn phương.Hợp đồng chỉ vô hiệu trong trường hợp mà cả hai bên đều biết trước sự sailệch ý chí đích thực của các bên so với những gì mà các bên thể hiện hoặcbuộc các bên phải biết theo quy định của pháp luật thì sẽ dẫn tới hợp đồng vôhiệu như lừa dối, đe dọa
Trang 33Đe dọa:
Đe dọa bao gồm đe dọa về tinh thần và đe dọa về thể xác Pháp luật cácnước quy định về vấn đề này khá chi tiết Đe dọa về mặt thể xác có thể coi làhành vi trái pháp luật Hành vi này có thể do bên đối tác hoặc người thứ bathực hiện Trong trường hợp có nguời thứ ba thực hiện việc cưỡng bức thìkhông nhất thiết phải có mối liên hệ giữa một bên đối tác và người thứ ba Ởđây chỉ cần thỏa mãn yếu tố bên đe dọa biết về sự cưỡng bức thể chất đó vàlợi dụng để uy hiếp bên kia ký kết hợp đồng [9]
Đe dọa về mặt tinh thần có những yếu tố cần lưu ý:
Theo BLDS Pháp thì không phải bất cứ áp lực tinh thần nào cũng đủ uylực để ép buộc bên bị đe dọa phải giao kết hợp đồng Pháp luật chỉ bảo vệ bên
bị đe dọa trong trường hợp sự đe dọa dưới hình thức áp lực tinh thần phảithực sự nghiêm trọng, tức thời Mặt khác, sự đe dọa dưới hình thức gây áp lựctinh thần phải là hành vi trái pháp luật Dù hành vi gây áp lực tinh thần, dùbản chất là hành vi hợp pháp nhưng thực sự nghiêm trọng thì vẫn được xem
là yếu tố đe dọa dẫn tới hợp đồng vô hiệu
1.5.4 Không tuân thủ quy định về hình thức
Hình thức hợp đồng được hiểu là hình thức thể hiện nội dung thỏathuận giữa các bên tham gia giao kết hợp đồng
Việc quy định hình thức hợp đồng có một ý nghĩa quan trọng trong chếđịnh pháp luật hợp đồng Trước hết, dựa vào hình thức hợp đồng, chúng ta cóthể xác định được giá trị và giá trị chứng cứ của thỏa thuận đã được thiết lập
Pháp luật quy định rằng, hợp đồng phải được xác lập theo một hìnhthức nào đó, thì mới có giá trị Với quy định này, thì hợp đồng được xác lập
mà không tuân thủ điều kiện về hình thức đòi hỏi, thì có thể bị tuyên bố vôhiệu Ví dụ, pháp luật quy định rằng hợp đồng thế chấp phải được lập thànhvăn bản, thì việc thế chấp giao kết bằng lời nói là vô hiệu
Trang 34Hình thức hợp đồng có vai trò trong việc cung cấp chứng cứ giúp cơquan nhà nước có thẩm quyền cũng như các bên giải quyết tranh chấp phátsinh Theo đó luật quy định rằng hợp đồng giao kết theo hình thức nào cũngđược, tuỳ thoả thuận giữa các bên; nhưng để chứng minh nội dung cụ thể củahợp đồng, thì chỉ có thể dùng các phương tiện chứng minh thoả mãn điều kiệnnào đó do pháp luật quy định Chẳng hạn, hợp đồng vận chuyển hành khách,trên nguyên tắc, được giao kết bằng việc các bên có sự đồng thuận, nhưng nộidung chủ yếu của hợp đồng phải được chứng minh bằng vé Bởi vậy, cáctranh cãi về giá vận chuyển phải dựa vào vé để giải quyết.
Việc tuân thủ các điều kiện về hình thức cũng có giá trị công bố vớingười thứ ba Mục đích của quy định các bên giao kết hợp đồng phải thựchiện thủ tục đăng ký hợp đồng tại một nơi được chỉ định chỉ nhằm khẳng định
sự tồn tại của hợp đồng và phát sinh hiệu lực đối với người thứ ba Ví dụ nhưtrong luật của Pháp, việc mua bán bất động sản, trên nguyên tắc, được xác lập
ở thời điểm ý chí của các bên gặp nhau; tuy nhiên, hợp đồng chỉ đối khángđược với người thứ ba sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký công bố Trong trườnghợp thủ tục này không được thực hiện, thì hợp đồng vẫn có giá trị; nhưng nóchỉ có hiệu lực ràng buộc đối với hai bên, không ràng buộc được người thứ
ba, trừ trường hợp người thứ ba biết hoặc buộc phải biết sự tồn tại của hợpđồng ấy
Không như pháp luật của nhiều nước, pháp luật Việt Nam quy định hợpđồng có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụthể, trừ trường hợp pháp luật quy định khác
Hình thức có phải là điều kiện dẫn tới hợp đồng vô hiệu hay không làmột vấn đề đang gây nhiều tranh cãi Và tất nhiên, mỗi quốc gia có một quan
điểm và quy định khác nhau Theo BLDS và Thương mại Thái Lan: “Một
hành vi pháp lý không theo đúng hình thức quy định của pháp luật thì vô hiệu” [5, Điều 115] Trong khi đó Luật Hợp đồng của Trung Quốc có sự phân
Trang 35tách về trường hợp không tuân thủ quy định về hình thức hợp đồng như sau:nếu trong trường hợp các bên chưa thực hiện nghĩa vụ chủ yếu thì hợp đồng
bị coi như chưa xác lập; đối với trường hợp mà các bên đã thực hiện nghĩa vụchủ yếu của hợp đồng mà được phía bên kia chấp nhận thì có nghĩa hợp đồng
đã được xác lập và có giá trị bắt buộc đối với các bên [30; Điều 36;37]
BLDS Pháp không có một điều khoản nào quy định khi hợp đồngkhông tuân thủ các quy định về hình thức thì sẽ dẫn tới vô hiệu So sánh vàobốn điều kiện cần thiết để hợp đồng có hiệu lực tại Điều 1108 BLDS Phápchúng ta không tìm thấy điều kiện về hình thức hợp đồng Bốn điều kiện chủyếu đó bao gồm: “Có sự thỏa thuận của các bên cam kết; có năng lực giao kếthợp đồng; sự cam kết có đối tượng xác thực và nghĩa vụ có căn cứ hợp pháp”
BLDS Nhật Bản cũng theo quan điểm này khi cho rằng việc quy địnhhình thức giao dịch nhằm giúp các bên an toàn khi giao kết và đảm bảo tính
rõ rang của giao dịch, trong trường hợp các bên tham gia không tuân thủ cácquy định về hình thức thì cũng không coi giao dịch đó là vô hiệu [9; tr.123]
Có thể dễ dàng lý giải cho những quy định khác nhau này Đối với cácnước quy định tính bắt buộc trong hình thức hợp đồng, mục đích không nằmngoài việc bảo vệ các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng được an toàn và cóchứng cứ khi giải quyết tranh chấp phát sinh Với các nước không coi hìnhthức là điều kiện để xác lập hiệu lực của hợp đồng, rõ ràng có sự phân táchgiữa hợp đồng vô hiệu và hợp đồng không tuân thủ về hình thức Theo quanđiểm này, hình thức hợp đồng chỉ là chứng cứ an toàn cho các bên tham giagiao dịch chứ không làm mất đi tính hiệu lực của giao dịch và pháp luật tôntrọng quyền tự do lựa chọn của các bên tham gia, nếu không tuân thủ hìnhthức hợp đồng không bị coi là vô hiệu
CHƯƠNG 2
Trang 36XỬ LÝ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ VÔ HIỆU – CÁC QUY ĐỊNH PHÁP
LUẬT HIỆN HÀNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 2.1 Thực trạng các quy định pháp luật về hợp đồng dân sự vô hiệu
theo BLDS 2005
2.1.1 Các trường hợp hợp đồng dân sự vô hiệu
Các trường hợp hợp đồng vô hiệu sẽ áp dụng các quy định của giaodịch dân sự vô hiệu, được quy định từ điều 128 đến điều 134 BLDS 2005
2.1.1.1 Hợp đồng vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội
Điều 128 BLDS 2005 đã quy định: “Giao dịch dân sự có mục đích vànội dung vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu”
So sánh nội dung quy định này với BLDS 1995 có thể thấy rõ về hìnhthức và ngôn từ tại điều 128 thì không có những quy định hoàn toàn mới,song xét về mặt tư tưởng thì có thể thấy thay đổi cơ bản Trước đây pháp luậtquy định mà người dân thực hiện không đúng theo quy định đó hoặc phápluật không có quy định cho phép hay cấm đoán nhưng người dân vẫn thựchiện giao dịch đó thì bị coi là trái pháp luật Vì vậy, BLDS 1995 đã phânthành hai loại với cấp độ khác nhau đó là giao dịch dân sự có mục đích và nộidung trái pháp luật và giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của phápluật với những hậu quả pháp lý khác nhau Hiện nay, BLDS 2005 chỉ còn quyđịnh giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật
Tuy nhiên, trong BLDS 2005 còn chưa sử dụng thống nhất khái niệm
về trái pháp luật hay vi phạm điều cấm pháp luật Khái niệm vi phạm điềucấm pháp luật có phạm vi hẹp hơn so với khái niệm trái pháp luật Khái niệmtrái pháp luật bao trùm khái niệm vi phạm điều cấm pháp luật, nên có thể nóinhững quy định không vi phạm điều cấm pháp luật là một phần nằm trongkhái niệm không trái pháp luật” [15, tr.12] So sánh với BLDS 1995 có thể
Trang 37thấy BLDS 2005 đã sửa đổi theo hướng tăng tự do giao dịch dân sự bằng việcgiới hạn những hạn chế tự do giao dịch
Theo BLDS, hợp đồng là một dạng thức của giao dịch dân sự thì hợpđồng cũng “không vi phạm điều cấm pháp luật” Tuy nhiên, tại Điều 389BLDS 2005 ghi nhận nguyên tắc “tự do giao kết hợp đồng nhưng không đượctrái pháp luật” Rõ ràng việc sử dụng thuật ngữ không thống nhất như trên thìhợp đồng không những “không được vi phạm điều cấm pháp luật” mà còn
“không được trái pháp luật” Rõ ràng nội dung hợp đồng lại được điều chỉnhchặt chẽ hơn nếu nhìn từ hai điều luật này
Chưa nói đến việc xác định điều cấm pháp luật là việc rất khó phânđịnh trên thực tế Điều cấm được hiểu ở phạm vi rất rộng bởi đó là “nhữngquy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhấtđịnh” BLDS hiện hành cũng quy định vi phạm bất cứ điều cấm nào của phápluật cũng bị tuyên vô hiệu, hoàn toàn không phân biệt mức độ vi phạm đó cóphải là vi phạm các quy định nghiêm trọng hay không Xét ở vị trí và lợi íchcủa Nhà nước, việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu trong tất cả các trường hợp đóhoàn toàn không cần thiết vì một số vi phạm chúng ta có thể sử dụng chế tàihành chính hoặc bồi thường thiệt hại để xử lý hợp đồng
Xác định vô hiệu do mục đích vi phạm điều cấm pháp luật và đạo đức
xã hội ở đây cần sự xem xét một cách toàn diện BLDS có nhắc đến mục đíchgiao dịch tại khoản 1 Điều 122 và quy ước hiểu đó là lợi ích hợp pháp mà cácbên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó Tại Điều 123 BLDS 2005
đã khẳng định: nếu giao dịch có mục đích trái pháp luật hoặc trái với đạo đức
xã hội, thì có thể bị tuyên bố vô hiệu Ở đây mục đích đang được hiểu là mụcđích chung mà hai bên cùng hướng tới, còn mục đích riêng của mỗi bên thamgia hợp đồng thường có sự khác biệt Ví dụ như trong hợp đồng cho thuê tàisản, khi giao kết hợp đồng, người cho thuê nhắm đến một số tiền nhất địnhthu được còn người thuê nhắm đến tài sản để sử dụng Vấn đề đặt ra ở đây là
Trang 38nếu chỉ có một bên có mục đích giao dịch không hợp pháp thì hợp đồng đó cóthể bị tuyên bố vô hiệu không?
Nên chăng quy định của pháp luật về vấn đề này được phân tách ra mộtcách cụ thể Đó là động cơ giao kết hợp đồng của hai bên chủ thể phải khôngđược trái luật hoặc trái đạo đức xã hội thì hợp đồng mới có giá trị Tuy nhiên,nếu một bên hoàn toàn ngay tình, nghĩa là không biết về động cơ giao kết hợpđồng trái pháp luật, trái đạo đức của bên kia thì hợp đồng không bị vô hiệu vì
có một bên giao kết với động cơ không chính đáng Mặt khác, ai là người chorằng bên giao kết có động cơ trái luật, trái đạo đức thì phải chứng minh lậpluận của mình
2.1.1.2 Hợp đồng vô hiệu do người tham gia ký kết hợp đồng không có NLHV dân sự, hạn chế NLHV dân sự
Theo Khoản 1, Điều 122 BLDS 2005, người xác lập, thực hiện hợpđồng dân sự có thể là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác và trong một
số trường hợp đặc biệt là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Pháp luật dân sự Việt Nam quy định NLHV với các căn cứ xác định,phân chia thành các mức độ NLHV để phân biệt khả năng nhận thức và làmchủ hành vi của cá nhân
Theo đó dựa theo độ tuổi và khả năng phát triển nhận thức mà phápluật phân biệt NLHV dân sự thành các cấp độ khác nhau như:
+ NLHV dân sự đầy đủ: là cá nhân đủ 18 tuổi trở lên, không bị Toà án
tuyên bố mất NLHV hoặc hạn chế NLHV Người có NLHVDS đầy đủ được
tự do giao kết hợp đồng theo quy định của pháp luật [4, Điều 19]
+ NLHV dân sự một phần: là những người chỉ có thể xác lập, thực hiện
quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trong một giới hạn nhất định do pháp luật dân
sự quy định Đối tượng là những người đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi Những
cá nhân này khi xác lập giao dịch phải có sự đồng ý của người đại diện hoặc
Trang 39người giám hộ trừ những giao dịch nhỏ nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằngngày phù hợp với lứa tuổi.
Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có tài sản riêng được thực hiệngiao dịch và phải chịu trách nhiệm trong phạm vi tài sản họ có, trừ trường hợppháp luật quy định khác
+ Không có NLHV dân sự: đối tượng là người chưa đủ 6 tuổi Mọi giao
dịch của họ phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện
+ Mất NLHV dân sự và hạn chế NLHV dân sự
Người bị tuyên bố mất NLHV là người mắc tâm thần hoặc các bệnhkhác mà không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình Toà án ra quyếtđịnh tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở có kết luận của tổ chứcgiám định có thẩm quyền [4, Điều 22]
Hạn chế NLHV dân sự là người nghiện ma túy, nghiện các chất kíchthích khác dẫn đến phá tán tài sản gia đình
Với các cấp độ trên BLDS 2005 quy định: những hợp đồng dân sự dongười mất NLHV, người không có NLHV xác lập; những hợp đồng dân sự dongười chưa thành niên, người bị hạn chế NLHV xác lập vượt quá khả năngcủa mình thì vô hiệu Để đáp ứng các lợi ích của những đối tượng này trongcác quan hệ xã hội, pháp luật qui định hợp đồng dân sự của họ phải do ngườiđại diện theo pháp luật xác lập và thực hiện
Ngoài ra, pháp luật cũng qui định cá nhân có NLHV đầy đủ có thể ủyquyền cho người khác xác lập, thực hiện hợp đồng dân sự vì lợi ích của mình(đại diện theo ủy quyền) Pháp nhân và các chủ thể còn lại của pháp luật dân
sự giao kết, thực hiện hợp đồng phải thông qua vai trò của người đại diện
Qua nghiên cứu thực tế, còn có nhiều vướng mắc trong quy định phápluật:
Thứ nhất là việc xử lý hợp đồng vô hiệu do người không có NLHV xác lập
Trang 40Truớc hết, xem xét “một người bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác
mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình” là rất khó khăn.Trong thực tiễn, việc xác định loại bệnh nào được liệt kê vào diện “mắc cácbệnh khác” hiện nay chưa có hướng dẫn của Toà án Có ý kiến cho rằng cácbệnh khác ở đây là loại trừ các bệnh liên quan đến bệnh tâm thần và các bệnhnày làm hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi dân sự của người
đó như bệnh viêm màng não, già yếu lú lẫn…Rõ ràng nếu căn cứ vào độ tuổi
để xét mức độ nhận thức của cá nhân là không phù hợp Bởi lẽ, có người caotuổi nhưng tinh thần rất minh mẫn, trong khi cũng có người trẻ hơn nhưng lại
bị hạn chế về khả năng nhận thức Hoặc nếu chỉ căn cứ vào tình trạng thể chấtthì việc xác định cũng rất phức tạp bởi có thời điểm cá nhân làm chủ hành virất tốt và có những thời điểm bị hạn chế
Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tượng này cũng như xácđịnh thẩm quyền của người đại diện cho người mất NLHV còn khá khó khăn.Trong thực tế, có nhiều cá nhân bị hạn chế thể chất không làm chủ được hành
vi của mình, ví dụ như những người bị trầm cảm, những bệnh nhân có dichứng sau chấn thương sọ não hay tai biến sức khoẻ nhưng rất ít được quantâm đến vấn đề cử người giám hộ cho họ Nếu họ bị người khác xúi giục đểxác lập một hợp đồng dân sự dẫn đến quyền lợi của họ hoặc gia đình họ bịthiệt thòi (như ký bán nhà ) thì Toà án cần tuyên bố hợp đồng này vô hiệu vàgiải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật
Một vấn đề cần xem xét nữa là: Điều 130 BLDS mới chỉ qui định mangtính chất một chiều là bảo vệ những người kể trên nhưng chưa tính đến trườnghợp cần phải bảo vệ người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng với ngườichưa thành niên, người mất NLHV, người bị hạn chế NLHV nhưng khôngbiết và không buộc phải biết đối tác là người chưa thành niên, người mấtNLHV, người bị hạn chế NLHV Theo chúng tôi, nên bổ sung thêm qui địnhcho phép bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia xác lập, thực