Phát triển du lịch thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 2017 (Luận văn thạc sĩ)Phát triển du lịch thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 2017 (Luận văn thạc sĩ)Phát triển du lịch thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 2017 (Luận văn thạc sĩ)Phát triển du lịch thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 2017 (Luận văn thạc sĩ)Phát triển du lịch thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 2017 (Luận văn thạc sĩ)Phát triển du lịch thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 2017 (Luận văn thạc sĩ)Phát triển du lịch thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 2017 (Luận văn thạc sĩ)Phát triển du lịch thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 2017 (Luận văn thạc sĩ)Phát triển du lịch thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 2017 (Luận văn thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
––––––––––––––––––
TRỊNH THỊ THUYẾT
PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA GIAI ĐOẠN 2010 - 2017
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA LÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Văn Trưởng
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả phân tích và nghiên cứu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Thuyết
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu, phòng Đào tạo Sau đại học, các thầy, cô Khoa Địa lý - Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên
đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Văn Trưởng - Trường Đại học Hồng Đức đã tận tình hướng dẫn khoa học trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tác giả trân trọng cảm ơn Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch tỉnh Thanh Hóa, UBND và Phòng Văn hóa - Thể thao - Du lịch, Chi cục Thống kê Thành phố Sầm Sơn và các cơ quan liên quan đã cung cấp số liệu, tài liệu giúp tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã rất cố gắng song luận văn vẫn còn những thiếu sót nhất định Tác giả chân thành cảm ơn sự đóng góp ý kiến của quý thầy, cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn!
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Thuyết
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 2
3 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 3
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5
5 Những đóng góp chính của đề tài 8
6 Cấu trúc của luận văn 8
NỘI DUNG 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 9
1.1 Cơ sở lí luận 9
1.1.1 Các khái niệm về du lịch 9
1.1.2 Các điều kiện phát triển du lịch 14
1.1.3 Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch 16
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch 17
1.2 Cơ sở thực tiễn 18
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch biển của một số địa phương 18
1.2.2 Tình hình phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa 19
Tiểu kết chương 1 21
Chương 2: HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ SẦM SƠN GIAI ĐOẠN 2010 - 2017 22
2.1 Khái quát về TP Sầm Sơn 22
Trang 62.1.2 Lịch sử phát triển 22
2.2 Các điều kiện phát triển du lịch Sầm Sơn 25
2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên 25
2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn 27
2.2.3 Nguồn nhân lực phục vụ du lịch 32
2.2.4 Hạ tầng kỹ thuật phục vụ phát triển du lịch 32
2.3 Thực trạng hoạt động du lịch ở TP Sầm Sơn giai đoạn 2010 - 2017 33
2.3.1 Khách du lịch 33
2.3.2 Tổng thu du lịch 35
2.3.3 Lao động trong hoạt động du lịch 37
2.3.4 Công tác quản lý nhà nước về du lịch 38
2.3.5 Sản phẩm du lịch 39
2.3.6 Thị trường du lịch 39
2.3.7 Đầu tư cho phát triển du lịch 40
2.3.8 Xúc tiến quảng bá du lịch 41
2.3.9 Các tổ chức không gian lãnh thổ du lịch 42
2.4 Tổng hợp đánh giá thực trạng sự phát triển điểm đến du lịch TP Sầm Sơn giai đoạn 2010 - 2017 45
2.4.1 Đánh giá điểm đến du lịch Sầm Sơn dựa trên các tiêu chí của Bộ VHTT&DL 45
2.4.2 Đánh giá điểm đến Sầm Sơn dựa trên lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch 51
2.4.3 Đánh giá sự phát triển du lịch thành phố Sầm Sơn dựa theo 12 tiêu chí xây dựng 55
2.4.4 So sánh Sầm Sơn với một số điểm đến có điều kiện tương đồng ở vùng Bắc Trung Bộ 56
2.4.5 Những kết quả đạt được và hạn chế 62
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ SẦM SƠN TRONG GIAI ĐOẠN 2018 - 2025 TẦM NHÌN ĐẾN 2030 66
Trang 73.1 Cơ sở để xây dựng 66
3.1.1 Cơ hội và thách thức đối với phát triển điểm đến du lịch Sầm Sơn giai đoạn 2018 -2025, tầm nhìn đến năm 2030 66
3.1.2 Quan điểm phát triển du lịch tỉnh Thanh hóa 67
3.1.3 Quan điểm và chiến lược phát triển du lịch TP Sầm Sơn 68
3.1.4 Các mục tiêu phát triển 68
3.2 Dự báo một số chỉ tiêu cơ bản về phát triển du lịch 69
3.2.1 Các căn cứ dự báo 69
3.2.2 Các chỉ tiêu dự báo cụ thể 69
3.3 Giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch 74
3.3.1 Các giải pháp về nâng cao nhận thức, huy động sự vào cuộc của các tổ chức chính trị, xã hội 74
3.3.2 Các giải pháp về quản lý du lịch 74
3.3.3 Các giải pháp thu hút đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phục vụ du lịch 76
3.3.4 Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Sầm Sơn 76
3.3.5 Các giải pháp xây dựng sản phẩm du lịch Sầm Sơn 77
3.3.6 Các giải pháp về đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch 78
3.3.7 Các giải pháp tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá 79
3.3.8 Các giải pháp về nâng cao khả năng tiếp cận các điểm đến du lịch Sầm Sơn 79
3.3.9 Các giải pháp bảo vệ môi trường và tăng cường năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng của điểm đến du lịch Sầm Sơn 79
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
6 VHTT&DL Văn hóa thể thao và du lịch
Trang 9
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Thống kê số lượng khách du lịch đến Sầm Sơn giai đoạn 2010 - 2017 33
Bảng 2.2: So sánh tổng lượng khách đến Thanh Hóa và Sầm Sơn giai đoạn 2010 - 2017 34
Bảng 2.3: Thống kê tổng thu từ du lịch trên địa bàn Sầm Sơn so với toàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 - 2017 35
Bảng 2.4: Thống kê số lượng cơ sở lưu trú tại Sầm Sơn giai đoạn 2010 - 2017 37
Bảng 2.5: Số lượng lao động du lịch tại Sầm Sơn giai đoạn 2010 - 2017 37
Bảng 2.6: Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn TP Sầm Sơn giai đoạn 2010 - 2017 40 Bảng 2.7: Tổng hợp kết quả đánh giá điểm đến khu du lịch Sầm Sơn 46
Bảng 2.8 Bảng tỷ lệ % tương ứng với số điểm về sự hài lòng của du khách 47
Bảng 2.9 Bảng tổng hợp kết quả chung điều tra mức độ hài lòng của khách du lịch 48
Bảng 2.10: Tổng hợp kết quả phiếu điều tra mức độ hài lòng của du khách theo nhóm nội dung đánh giá đối với khu du lịch Sầm Sơn 49
Bảng 2.11: Quy ước đánh giá khu du lịch Sầm Sơn theo 32 tiêu chí 50
Bảng 2.12: Tổng hợp tiêu chí đánh giá khu nội thành 52
Bảng 2.13: Tổng hợp tiêu chí đánh giá khu sinh thái Quảng Cư 53
Bảng 2.14: Tổng hợp tiêu chí đánh giá khu ngoại thành 54
Bảng 2.15: Tổng hợp 12 tiêu chí đánh giá khu du lịch Sầm Sơn 56
Bảng 3.1: Dự báo khách du lịch đến khu du lịch Sầm Sơn giai đoạn 2020 - 2030 70
Bảng 3.2: Dự báo tổng thu từ khách du lịch tại Sầm Sơn giai đoạn 2020 - 2030 71
Bảng 3.3: Dự báo chỉ tiêu GDP du lịch và nhu cầu vốn đầu tư du lịch tại Sầm Sơn giai đoạn 2020 - 2030 71
Bảng 3.4: Dự báo nhu cầu cơ sở lưu trú cho khách du lịch tại Sầm Sơn giai đoạn 2020 - 2030 72
Bảng 3.5: Dự báo nhu cầu lao động trong du lịch tại Sầm Sơn giai đoạn 2020 - 2030 72
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1.Giả thuyết chu kỳ sống của khu du lịch của Butler (1980) 25
Hình 2.1 Bản đồ Vị trí TP Sầm Sơn 22
Hình 2.2 Bản đồ Hành chính TP Sầm sơn 31
Hình 2.3 Bản đồ Tài nguyên du lịch TP Sầm sơn 31
Hình 2.4 Biểu đồ So sánh tổng lượng khách đến Thanh Hóa và Sầm Sơn giai đoạn 2010 - 2017 35
Hình 2.5 Biểu đồ Tổng thu từ du lịch trên địa bàn Sầm Sơn so với toàn tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 - 2017 36
Hình 2.6 Biểu đồ Tổng số lượt khách và tổng thu của Sầm Sơn giai đoạn 2010 - 2017 36
Hình 2.7 Biểu đồ Cơ cấu lao động hoạt động du lịch Sầm Sơn phân theo trình độ đào tạo năm 2017 38
Hình 2.8 Biểu đồ Các giai đoạn phát triển của điểm đến Sầm Sơn 55
Hình 2.9 Bản đồ Hiện trạng phát triển du lịch Sầm Sơn 55
Hình 3.1 Bản đồ điều chỉnh quy hoạch chung TP Sầm Sơn đến 2040 73
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay du lịch đã và đang trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của mỗi người dân Trong những năm gần đây, ngành du lịch, nhất là du lịch biển, đảo trên thế giới có tốc độ tăng trưởng rất nhanh và là nguồn thu lớn của nhiều quốc gia, cộng đồng địa phương đặc biệt là những nước phát triển
Việt Nam có tài nguyên du lịch biển, đảo phong phú, đa dạng là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch Thực tế hơn 30 năm đổi mới ngành Du lịch có sự tăng trưởng nhanh, liên tục, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Tốc độ tăng trưởng trung bình của khách du lịch quốc tế đạt 10,2%/năm, khách
du lịch nội địa đạt 11,8%/năm Năm 2016, du lịch Việt Nam đã đạt mức tăng kỷ lục
cả về tốc độ và số tăng tuyệt đối, đã đón hơn 10 triệu lượt khách du lịch quốc tế, tăng 26% so với năm 2015, 62 triệu lượt khách du lịch nội địa Tổng thu từ du lịch đạt hơn 400.700 tỷ đồng, tăng 19% so với năm 2015 đóng góp không nhỏ vào GDP của cả nước Đầu tư của Nhà nước và tư nhân vào du lịch ngày càng tăng Hệ thống khu, tuyến, điểm du lịch, doanh nghiệp du lịch được hoàn thiện, làm thay đổi diện mạo và ngày càng khẳng định vị thế của ngành du lịch trong đời sống KT-XH Du lịch đã có tác động lan tỏa đến nhiều ngành, lĩnh vực; làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống, cải thiện diện mạo đô thị và nông thôn; bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc; đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ vững môi trường hòa bình, hữu nghị, tăng cường hiểu biết và nâng tầm vị thế quốc gia trên trường quốc tế
Thanh Hóa có 102 km đường bờ biển, tiềm năng phát triển du lịch phong phú,
đa dạng với những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh độc đáo đã tạo cho du lịch có
vị thế đáng kể trong ngành du lịch Việt Nam, tạo dấu ấn trong lòng du khách quốc tế
Sầm Sơn là điểm đến du lịch biển nổi tiếng không chỉ của Thanh Hóa mà của
cả nước với những bãi biển đẹp, cảnh quan hấp dẫn cùng những giá trị di tích văn hóa lịch sử Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại các Quyết định
Trang 12định vị trí quan trọng của Sầm Sơn với vai trò là khu vực có tiềm năng phát triển thành khu du lịch quốc gia và đô thị du lịch Trong nhiều năm qua, lượng khách du lịch đến với Sầm Sơn ngày càng tăng Du lịch Sầm Sơn đã có những đóng góp nhất định cho phát triển KT-XH địa phương, du lịch vùng Bắc Trung Bộ và cả nước Tuy nhiên, bên cạnh những thành công trên, du lịch Sầm Sơn vẫn chưa thực sự phát triển tương xứng với vị thế và tiềm năng của mình: hiệu quả kinh doanh du lịch còn hạn chế, thiếu sản phẩm đặc sắc có sức cạnh tranh, ảnh hưởng của tính mùa vụ trong hoạt động du lịch lớn, thiếu hình ảnh và thương hiệu, v.v
Vậy làm thế nào để du lịch Sầm Sơn phát triển nhanh và bền vững và tương xứng với vị thế, tiềm năng, có nhiều đóng góp hơn nữa cho phát triển KT-XH của Thanh Hóa và Du lịch Việt Nam Trong bối cảnh đó việc nghiên cứu gắn lý luận với thực tiễn và đưa ra các giải pháp để đẩy mạnh phát triển du lịch Sầm Sơn là rất quan
trọng và cần thiết Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi chọn đề tài “Phát triển du lịch
Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 - 2017” để làm luận văn Thạc
sĩ chuyên ngành Địa lý học
2 Mục tiêu, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu của đề tài
Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch, luận văn tập trung nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng và thực trạng phát triển du lịch của thành phố Sầm Sơn giai đoạn 2010 – 2017 Từ đó, đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp cụ thể cho phát triển du lịch của thành phố giai đoạn 2018 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030
2.2 Nhiệm vụ của đề tài
Tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về địa lý du lịch, phát triển du lịch, nhất là
du lịch ven biển để vận dụng vào việc nghiên cứu phát triển du lịch và xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch ở TP Sầm Sơn
Thu thập tài liệu, tư liệu, số liệu có liên quan phục vụ cho nội dung của đề tài luận văn Khảo sát, kiểm kê, nghiên cứu các nguồn tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng
và cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ du lịch của TP Sầm Sơn
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động du lịch của TP Sầm Sơn trong giai đoạn 2010 - 2017
Trang 13Đề xuất định hướng và những giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch TP Sầm Sơn giai đoạn 2018 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030
2.3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
3 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
3.1 Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam
Lịch sử ngành du lịch Việt Nam được đánh dấu bắt đầu từ năm 1960, từ đó đến nay các công trình nghiên cứu địa lý du lịch tập trung vào các vấn đề về tổ chức không gian du lịch, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu du lịch với một số tác giả tiêu biểu như PGS.TS Vũ Tuấn Cảnh, GS.TS Lê Thông, PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ, PGS.TS Đặng Duy Lợi, PGS.TS Phạm Trung Lương… Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị trong lĩnh vực này đã được thực hiện như: Đề tài “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” do Vũ Tuấn Cảnh chủ trì (1991); “Cơ sở lý luận phương pháp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và tài nguyên du lịch biển Việt Nam” do Nguyễn Trần Cầu
và Lê Thông chủ trì (1993); “Quy hoạch quốc gia và vùng, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu” do Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông thực hiện (1994); Hai cuốn sách “Địa lý du lịch” (1996) và “Địa lý du lịch Việt Nam” (2010) do Nguyễn Minh Tuệ chủ biên; “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” do Phạm Trung Lương chủ biên (2000) … Nhiều địa phương cũng đã xây dựng quy hoạch tổng thể cho phát triển du lịch dưới sự giúp đỡ và hướng dẫn của Tổng cục du lịch như Thái Nguyên,
Trang 14Phú yên, Khánh Hòa, TPHCM… với sự tham gia của các nhà khoa học có uy tín trong và ngoài nước [33]
Du lịch biển, đảo Việt Nam những năm gần đây có các công trình nghiên cứu như: Đề án phát triển du lịch biển, đảo và vùng ven biển Việt Nam đến năm 2020 của viện nghiên cứu phát triển du lịch, 2013; Ngoài ra còn có nhiều đề tài tiêu biểu về du lịch của các địa phương được thực hiện như luận án tiến sỹ: “Tổ chức lãnh thổ du lịch
TP Hải Phòng” - Nguyễn Thanh Sơn (1997); Đề tài, Một số giải pháp đột phá phát triển du lịch vùng biển và ven biển Việt Nam của Lê Trọng Bình, 2007; Phát triển du lịch biển Đà Nẵng, luận văn thạc sĩ của Huỳnh Thị Mỹ Lệ, 2012…
3.2 Các công trình nghiên cứu ở Thanh Hóa
Nghiên cứu về du lịch và phát triển du lịch biển ở Sầm Sơn đã có một số nhà nghiên cứu, nhà báo trong nước và địa phương đề cập tới, Charles Robeguain (1929) Nhà xuất bản G.Van trong cuốn “Tỉnh Thanh Hoá” đã nhắc tới cảnh đẹp Sầm Sơn Hoàng Tuấn Phổ trong cuốn “Thắng cảnh Sầm Sơn”, xuất bản năm 1983 đã đi sâu giới thiệu về những cảnh đẹp và phong tục tập quán truyền thống, những huyền thoại, sự tích của đất và người Sầm Sơn [14]; [9]
Năm 2007 để chuẩn bị cho lễ hội 100 năm du lịch Sầm Sơn, Ban tuyên giáo tỉnh uỷ Thanh Hoá đã xuất bản cuốn “Sầm Sơn xanh vẫy gọi” nêu khái quát lịch sử phát triển du lịch Sầm Sơn Hay cuốn “Thị xã Sầm Sơn 30 năm xây dựng và phát triển (1981 - 2011)” của Thị Uỷ - Hội đồng Nhân dân - Uỷ ban Nhân dân - Uỷ ban Mặt trận Tổ Quốc Thị xã Sầm Sơn đã giới thiệu và có những đánh giá rất xác đáng về tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hoá nhân văn của Thị xã [2]
Một số luận văn thạc sĩ cũng đề cập đến phát triển du lịch ở Sầm Sơn như: Hiện trạng, định hướng và giải pháp phát triển du lịch ở điểm du lịch Sầm Sơn (Thanh Hoá) - Luận văn thạc sĩ địa lý của Mai Duy Lục (1999), luận văn thạc sĩ Kinh
tế của Nguyễn Thị Phương Thanh (2015) Phát triển du lịch bền vững tại thị xã Sầm Sơn Tiềm năng, thực trạng và giải pháp phát triển du lịch Sầm Sơn - Luận văn thạc sĩ địa
lý của Lưu Thị Ngọc Diệp (2008) Thực trạng dịch vụ du lịch biển tại thị xã Sầm Sơn - Luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh của Phan Viết Linh Định hướng nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch tại thị xã Sầm Sơn - Luận văn thạc sỹ ngành du lịch của Trần Quốc
Trang 15Hưng (2013); Trịnh Thị Tuyết (2017) “Nghiên cứu chất lượng sản phẩm du lịch biển Sầm sơn” Luận văn thạc sĩ Du lịch - Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội [25]
Như vậy, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về du lịch nói chung
và du lịch Sầm Sơn nói riêng Tuy nhiên, những nghiên cứu về Sầm Sơn mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu nhằm giới thiệu quảng bá du lịch Nếu có nghiên cứu sâu
về tiềm năng, thực trạng du lịch Sầm Sơn thì thời gian cũng đã cách đây nhiều năm, hoặc nghiên cứu về du lịch Sầm Sơn ở góc độ kinh tế, kinh doanh, du lịch Dưới góc
độ Địa lý học trước đây tuy có, nhưng chưa có đề tài nào xây dựng các tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch Sầm Sơn, hoặc chưa phỏng vấn, phát phiếu điều tra về mức
độ hài lòng của du khách đối với khu du lịch Sầm Sơn Do vậy thiếu cơ sở để đánh giá sự phát triển du lịch và xây dựng các giải pháp đẩy mạnh phát triển cho du lịch Sầm Sơn hiện tại và trong tương lai
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
4.1.1 Quan điểm hệ thống
Hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống mở phức tạp gồm nhiều thành phần có mối liên hệ chặt chẽ với nhau mang tính chất tổng hợp, có đủ các thành phần: tự nhiên, kinh tế - xã hội và chịu sự chi phối của nhiều qui luật cơ bản Vì vậy quan điểm hệ thống luôn được tác giả quán triệt trong quá trình thực hiện đề tài
Việc nghiên cứu phát triển du lịch Thành phố Sầm Sơn không thể tách rời với hiện trạng và xu hướng phát triển du lịch của Thanh Hóa, của Việt Nam Quá trình phát triển du lịch của Sầm Sơn là một phần trong quá trình phát triển du lịch của tỉnh Thanh Hóa và của cả nước Đồng thời TP Sầm Sơn chia ra các lãnh thổ nhỏ hơn như khu vực nội thành, khu vực ngoại thành, khu vực bãi biển, bờ biển, sông, núi …
4.1.2 Quan điểm tổng hợp - lãnh thổ
Trong một lãnh thổ, các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo nên một thể tổng hợp thống nhất và hoàn chỉnh Cơ cấu lãnh thổ TP Sầm Sơn được coi như một thể tổng hợp tương đối hoàn chỉnh Vì thế, nghiên
Trang 16kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, hoàn cảnh lịch sử và các chính sách phát triển kinh tế của thành phố, cũng như trong bối cảnh cả nước thực hiện công cuộc đổi mới Trên
cơ sở đó có những đánh giá mang tính tổng thể, nhằm khai thác tổng hợp tiềm năng
và đề xuất những định hướng cũng như giải pháp cho phát triển trong tương lai
4.1.3 Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Mọi sự vật, hiện tượng đều có sự vận động và biến đổi không ngừng Trong nghiên cứu du lịch cần xem xét quá khứ, đánh giá hiện trạng (giai đoạn 2010 - 2017)
để có thể đưa ra những dự báo hoặc định hướng phát triển trong tương lai (đến năm 2030) Quan điểm này được tác giả quán triệt và vận dụng xuyên suốt quá trình thực hiện đề tài
4.1.4 Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu phát triển KT - XH của toàn nhân loại trong thế kỷ XXI Phát triển du lịch bền vững trở thành xu hướng và mục tiêu phát triển ngành kinh tế du lịch của nhiều quốc gia trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong hiện tại và tương lai Vì vậy quan điểm phát triển này cần được soi sáng, vận dụng trong việc tổ chức quản lý, triển khai đánh giá các hoạt động du lịch trong nghiên cứu phát triển du lịch TP Sầm Sơn
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp thu thập, xử lý số liệu, tài liệu
Thu thập, xử lí thông tin, thu thập những tài liệu có liên quan ở các nguồn tin cậy, sắp xếp và xử lí tài liệu một cách khoa học, có hệ thống, phân tích từng nội dung đưa ra những kết luận đúng đắn nhất Các thông tin, số liệu đã thu thập sẽ được thống kê, sắp xếp lại sao cho phù hợp với cấu trúc của đề tài, trình tự thời gian và lập ra các bảng biểu về quá trình phát triển KT - XH của TP nói chung và ngành du lịch nói riêng
Đây là phương pháp cơ bản được sử dụng phổ biến trong hầu hết các công trình nghiên cứu khoa học Phương pháp này được sử dụng đặc biệt có hiệu quả trong nghiên cứu tự nhiên và tổ chức khai thác lãnh thổ du lịch
4.2.2 Phương pháp thực địa
Công tác thực địa có mục đích cơ bản là kiểm tra chỉnh lý và bổ sung những tư liệu về tài nguyên, cơ sở hạ tầng phục vụ trực tiếp cho hoạt động du lịch và các tài
Trang 17liệu liên quan khác; đối chiếu và lên danh mục cụ thể từng địa danh, thể loại liên quan
du lịch và sơ bộ đánh giá các yếu tố cần thiết cho việc hình thành tổ chức không gian
du lịch Tác giả đã trực tiếp khảo sát thực địa tại các điểm, khu du lịch ở Sầm Sơn như khu vực bãi biển, khu vực Núi trường lệ, khu sinh thái Quãng Cư, khu nghỉ dưỡng sinh thái FLC, hòn Trống Mái, các đền, chùa tại TP Sầm Sơn
4.2.3 Phương pháp bản đồ - GIS
Bản đồ - biểu đồ là phương pháp thể hiện trực quan, sinh động nhất các đối tượng nghiên cứu của Địa lý nói chung và Địa lý du lịch nói riêng Bằng ngôn ngữ kí hiệu, bản đồ mô phỏng hình ảnh thu nhỏ một cách trung thực nhất các đối tượng nghiên cứu Địa lý du lịch với sự phân bố về mặt không gian lãnh thổ cũng như một số mặt về định lượng và định tính của đối tượng Một số bản đồ tác giả xây dựng như: Bản đồ vị trí TP Sầm Sơn, bản đồ Tài nguyên du lịch TP Sầm Sơn, bản đồ Hiện trạng phát triển du lịch Tp Sầm Sơn, bản đồ Các giai đoạn trong chu kỳ phát triển của điểm đến Sầm Sơn Các bản đồ trên được xây dựng bằng kỹ thuật GIS với phần mềm MapInfo đảm bảo tính chính xác và trực quan Tác giả đề tài cũng sử dụng nhiều biểu
đồ thể hiện về sự phát triển du lịch Sầm Sơn (khách du lịch, doanh thu du lịch, lao động du lịch …)
đó, sẽ có cái nhìn trung thực nhất về du lịch TP Sầm Sơn với những thông tin đã được tinh lọc có độ tin cậy cao
4.2.5 Phương pháp thống kê du lịch
Phương pháp này nghiên cứu về mặt định lượng của các tiêu chí phát triển trong hoạt động du lịch ở TP Sầm Sơn Những thông tin, số liệu có liên quan đến hoạt động du lịch ở địa phương sẽ thu thập, thống kê làm cơ sở cho việc xử lí, phân tích và
Trang 184.2.6 Phương pháp điều tra xã hội học
Tác giả sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp phỏng vấn viết (đây là một nội dung của phương pháp điều tra xã hội học) để lấy ý kiến chủ quan của các chuyên gia, các nhà quản lý và du khách để đánh giá sự phát triển và mức độ hài lòng đối với khu du lịch Sầm Sơn về tài nguyên du lịch, chất lượng các dịch vụ, sản phẩm du lịch, về cơ sở hạ tầng, công tác quản lý du lịch Chúng tôi đã điều tra 200 du khách, 30 chuyên gia và các nhà quản lý du lịch trên địa bàn theo phiếu đánh giá và phiếu điều tra [phụ lục 1, phụ lục 2]
4.2.7 Phương pháp dự báo
Phương pháp dự báo có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu, tổ chức hướng khai thác xây dựng các điểm, tuyến du lịch; sử dụng tài nguyên du lịch một cách hiệu quả Tác giả đã sử dụng phương pháp ngoại suy để dự báo về số lượng khách, doanh thu du lịch, lao động làm du lịch, thị trường khách du lịch; dự báo về khả năng đầu tư, tôn tạo, nâng cấp các điểm du lịch; dự báo về phát triển cơ sở hạ tầng, tốc độ tăng trưởng và phát triển của ngành du lịch
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung của luận văn có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch
Chương 2: Hiện trạng phát triển du lịch TP Sầm Sơn giai đoạn 2010 - 2017 Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch TP Sầm Sơn giai đoạn
2018 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030
Trang 19Tổ chức Du lịch Thế giới coi “Du lịch bao gồm tất cả những hoạt động của cá nhân đi, đến và lưu lại ngoài nơi ở thường xuyên trong thời gian không dài (hơn một năm) với những mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền hàng ngày”
Luật Du lịch 2017 quan niệm về du lịch và hoạt động du lịch như sau:
“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi
cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”
“Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch và cơ quan, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư có liên quan đến du lịch” [16]
1.1.1.2 Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là điều kiện quan trọng để hình thành và phát triển du lịch của bất kỳ quốc gia hay lãnh thổ nào Tài nguyên du lịch là tất cả các yếu tố thiên nhiên, nhân văn, xã hội và sự kiện có thể kích thích động cơ du lịch của khách du lịch, thu hút khách du lịch đến, được ngành du lịch khai thác để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích kinh tế xã hội cho quốc gia, địa phương
Theo Luật Du lịch 2017 “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự
Trang 20du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa” [16]
Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn
* Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch thiên nhiên bao là những yếu tố thuộc về tự nhiên được ngành du lịch đưa vào khai thác và phục vụ tham quan du lịch Tài nguyên du lịch thiên nhiên là điều kiện hết sức quan trọng để phát triển loại hình du lịch sinh thái, thể thao, nghỉ dưỡng, nghiên cứu,… Đây cũng là thành phần không thể thiếu trong điều kiện hình thành và phát triển du lịch [23]
* Tài nguyên du lịch nhân văn
"Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể sử dụng phục vụ mục đích du lịch" [23]
1.1.1.3 Khách du lịch
Tổ chức Du lịch Thế giới cho rằng: “Khách du lịch là người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình trên 24 giờ và nghỉ qua đêm tại đó với nhiều mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền”
Theo Luật Du lịch 2017 “Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến” [16]
Khách du lịch được phân thành khách du lịch quốc tế và Khách du lịch nội địa
* Khách du lịch quốc tế (International Tourist)
Tổ chức du lịch thế giới đưa ra khái niệm khách du lịch quốc tế “Khách du lịch quốc tế là những người lưu trú ít nhất là một đêm nhưng không quá 01 năm tại một quốc gia khác với quốc gia thường trú với nhiều mục đích khác nhau ngoài hoạt động để được trả lương ở nơi đến”
Luật Du lịch 2017 (Điều 10) của Việt Nam phân biệt:
Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch
Trang 21Khách du lịch ra nước ngoài là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch nước ngoài [16]
* Khách du lịch nội địa (Internal Tourist)
Theo Luật Du lịch 2017(Điều 10) “Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú ở Việt Nam đi du lịch trong lãnh thổ Việt Nam” [16]
1.1.1.4 Sản Phẩm du lịch
Luật Du lịch của Việt Nam do Quốc hội ban hành vào tháng 6 - 2005, có hiệu lực từ ngày 01/01/2006 ghi: “Sản phẩm du lịch là toàn bộ những dịch vụ tạo ra các hàng hóa văn hóa mang tính đặc thù do các cá nhân và tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp để phục vụ những nhu cầu của các đối tượng du khách khác nhau; nó phù hợp với những tiêu chí nghề nghiệp theo thông lệ quốc tế đồng thời chứa đựng những giá trị văn hóa đặc trưng bản địa; đáp ứng và làm thỏa mãn các mục tiêu KT-XH đối với các cá nhân, tổ chức và địa phương nơi đang diễn ra các hoạt động kinh doanh du lịch” [17]
Theo Luật Du lịch 2017 “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch” [16]
Sản phẩm du lịch là một loại sản phẩm đặc biệt do nhiều loại dịch vụ và hàng hóa hợp thành với mục đích cơ bản là thỏa mãn nhu cầu tiêu thụ của khách du lịch trong quá trình đi du lịch Sản phẩm du lịch là sự kết hợp của những sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần và dịch vụ [33]
Có nhiều quan niệm về Sản phẩm du lịch, tuy nhiên tác giả theo quan niệm:
“Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” Sản phẩm du lịch gồm sản phẩm du lịch đơn lẻ và sản phẩm du lịch hoàn chỉnh Sản phẩm du lịch đơn lẻ là một số dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ
ăn uống, dịch vụ lưu trú Sản phẩm du lịch hoàn chỉnh gồm nhiều sản phẩm du lịch đơn
lẻ liên kết với nhau Nhu cầu của khách du lịch đòi hỏi một sản phẩm du lịch hoàn chỉnh
1.1.1.5 Phát triển du lịch
Khái niệm phát triển: Theo quan điểm của triết học phát triển là một quá trình vận động của sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng từ trình độ thấp đến trình độ cao, từ đơn
Trang 22Phát triển du lịch là sự gia tăng sản lượng và doanh thu cùng mức độ đóng góp
du lịch cho nền kinh tế đồng thời có sự hoàn thiện về mặt cơ cấu kinh doanh, thể chế
và chất lượng kinh doanh của ngành du lịch
Theo Butler (1980) và được trích lại từ [1]; [10]; [13], các giai đoạn trong chu
kỳ phát triển của điểm đến du lịch gồm:
Hình 1.1 Giả thuyết chu kỳ sống của khu du lịch của Butler (1980)
* Thăm dò (exploration)
Giai đoạn này, điểm đến du lịch chưa được khai thác để phục vụ du lịch Những người đến đây chủ yếu là các đối tượng thích phiêu lưu, mạo hiểm, các nhà thám hiểm Họ bị hấp dẫn bởi những giá trị tài nguyên du lịch thiên nhiên còn hoang
sơ hay những nền văn hóa chưa bị tàn phá ở điểm đến Số lượng du khách đến đây rất
ít vì khả năng tiếp cận điểm đến (giao thông đi lại) còn hạn chế; các tiện nghi, dịch vụ
du lịch còn nghèo nàn, chưa phát triển Hầu như, tại các điểm hấp dẫn du lịch chưa bị thay đổi bởi đầu tư du lịch và có mối liên hệ chặt chẽ với người dân địa phương
* Tham gia (involvement)
Giai đoạn này bắt đầu có sự tham gia của địa phương trong việc cung cấp những tiện nghi và dịch vụ cho du khách và sau đó tiến hàng quảng bá cho điểm đến Điều này làm cho lượng khách du lịch đến đây thường xuyên và ngày càng tăng lên
Trang 23Mùa du lịch bắt đầu xuất hiện và chi phối đến hoạt động kinh doanh Điểm đến cũng bắt đầu tạo áp lực cho các cơ quan nhà nước trong việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng đề phục vụ nhu cầu du lịch ngày càng tăng
* Phát triển (development)
Biểu hiện rõ nét của giai đoạn này là khách du lịch đến viếng thăm với số lượng lớn và tăng nhanh, thậm chí quá tải (vượt quá sức chứa của điểm đến) vào những thời kỳ cao điểm Hoạt động du lịch có thể vượt xa tầm kiểm soát của địa phương Điểm đến đã thu hút những nhà đầu tư từ bên ngoài cung cấp những tiện nghi và dịch vụ du lịch hiện đại hơn, làm thay đổi diện mạo của điểm đến du lịch Tuy nhiên, điểm đến cũng bắt đầu nảy sinh những tiêu cực nhất định Các vấn đề sử dụng quá mức và sự xuống cấp của các tiện nghi tồn tại do sự tăng nhanh của lượng khách du lịch đến thăm Lúc này, vấn đề qui hoạch và kiểm soát hoạt động du lịch ở phạm vi quốc gia, vùng trở nên cần thiết, một phần khắc phục những vấn đề tồn tại, mặt khác có thể khai thác được một số thị trường khách quốc tế mới Tại những thị trường này, du khách thường đi du lịch thông qua các chuyến đi của các đơn vị kinh doanh lữ hành
* Suy giảm (decline)
Biểu hiện của giai đoạn này là số lượng khách giảm sút đáng kể do các điểm
Trang 24trở thành một khu trung chuyển khách mang tính chất địa lý cho các chuyến tham quan trong ngày hoặc là nơi nghỉ cuối tuần Do ế ẩm nên các tài sản có sự luân chuyển quyền sở hữu cao; một số tiện nghi phục vụ du lịch như khách sạn, nhà hàng chuyển sang mục đích sử dụng hoặc kinh doanh lĩnh vực khác Các cơ quan có trách nhiệm và thẩm quyền có thể đánh giá, xem xét giai đoạn này để đưa ra quyết định phục hồi điểm đến
* Hồi phục lại (rejuvenation)
Các chủ thể có liên quan tiến hành thực hiện các quyết định về chuyển mục đích sử dụng mới, các thị trường mới, kênh phân phối mới và thực hiện định vị lại điểm đến du lịch Hay nói cách khác điểm đến du lịch được làm mới lại để tiếp tục thu hút khách Chẳng hạn như thay đổi điểm hấp dẫn của điểm đến bằng cách khai thác thêm các tiềm năng tài nguyên du lịch của địa phương; thay đổi các tiện nghi, dịch vụ bổ sung, giải trí mới Việc thực hiện các hướng phục hồi này thường có sự phối hợp giữa nhà nước và các doanh nghiệp tư nhân nhằm đầu tư đúng hướng để tìm kiếm thị trường mới hay bắt đầu phát triển một chu kỳ mới
1.1.2 Các điều kiện phát triển du lịch
1.1.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Vị trí địa lý
Vị trí địa lý của điểm đến du lịch gần hay xa nơi cư trú ảnh hưởng đến khách
du lịch trên các khía cạnh: kinh phí đi lại, thời gian ở lại nơi du lịch và ảnh hưởng tới sức khỏe Tuy nhiên, ngành hàng không đang phát triển mạnh và có xu hướng giảm giá có thể khắc phục phần nào những bất lợi trên cho khách du lịch
Địa hình
Địa hình là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên phong cảnh và sự đa dạng của điểm đến Địa hình càng đa dạng, càng tương phản, độc đáo, phong phú càng có sức hấp dẫn khách du lịch Việt Nam có 125 bãi biển có các điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghỉ dưỡng, tắm biển và vui chơi giải trí, trong đó có nhiều bãi biển hấp dẫn như Lăng Cô, Trà Cổ, Sầm Sơn, Non Nước Có nhiều vịnh đẹp có tiềm năng phát triển du lịch lớn như vịnh Hạ Long, vịnh Vân Phong, vịnh Cam Ranh Trong tổng
số có 2700 đảo lớn nhỏ ven bờ như Cù Lao Chàm, Cát Bà, Tuần Châu Với các hệ sinh thái phong phú, cảnh quan đẹp là nơi có điều kiện hình thành các khu, điểm hấp
Trang 25dẫn du lịch; hơn 200 hang động đã được phát hiện, điển hình là động Phong Nha đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới [1]
Khí hậu
Những nơi có khí hậu ôn hoà thường được khách du lịch ưa thích Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi từng loại khí hậu khác nhau Nghỉ biển đòi hỏi khí hậu không mưa, không lạnh; trong khi trượt tuyết đòi hỏi khí hậu rất lạnh Những nơi có nhiệt
độ thích hợp có thể cho phép khách phơi nắng vào ban ngày, còn ban đêm thì mát mẻ
có thể dạo chơi, giải trí thì sẽ thu hút được nhiều du khách Nhiệt độ nước biển từ 20 -
25oC thích hợp cho khách du lịch tắm biển, nếu nhiệt độ nước biển dưới 20oC và trên
30oC là không thích hợp Việt Nam có nhiều khu vực núi cao quanh năm mát lạnh như
Sa Pa, Đà Lạt, Tam Đảo, Mẫu Sơn, Ba Vì… thích hợp để phát triển du lịch
Hệ động thực vật
Du lịch về với thiên nhiên đang trở thành một xu thế và nhu cầu phổ biến Việt Nam có hệ sinh thái động thực vật rừng đa dạng Đây là nguồn tài nguyên du lịch sinh thái quí giá, nơi bảo tồn khoảng 12.000 loài thực vật, gần 7000 loài động vật với nhiều loại đặc hữu và quí hiếm Việt Nam có nhiều vườn quốc gia, khu bảo tồn rải khắp đất nước, tạo thuận lợi cho du lịch phát triển Hệ thực vật của Thanh Hóa cũng rất đa dạng và phân bố ở Vườn Quốc gia Bến En, Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Khu bảo tồn Pù Hu, … khá hấp dẫn du khách …
Sông ngòi
Chế độ thủy văn tạo ra bầu không khí mát mẻ, trong lành đồng thời có ảnh hưởng tốt đến sức khỏe, là phương thuốc khá hiệu nghiệm để chữa bệnh cho con người Vì vậy, không ít nơi trên thế giới xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng ven hồ, biển thu hút nhiều khách du lịch Trong đó nguồn nước khoáng là tiền đề không thể thiếu được đối với sự phát triển du lịch chữa bệnh Nguồn nước khoáng ở nước ta phong phú, có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển du lịch Thành phần hóa học của nước khoáng rất đa dạng từ bicabonat natri đến clorua natri với độ khoáng cao có ý nghĩa đối với du lịch nghỉ dưỡng, chữa bệnh [1]; [10]
1.1.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Các tài nguyên có giá trị lịch sử, có sức hấp dẫn đặc biệt với du khách có trình
độ, ham hiểu biết như Kim Tự Tháp Ai Cập, Công viên đá Thạch Lâm (Côn Minh,
Trang 26Tài nguyên du lịch nhân văn của Việt Nam phong phú với lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước Trong số khoảng 40.000 di tích, có gần 3.000 di tích được Nhà nước chính thức xếp hạng
1.1.3 Các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch
1.1.3.1 Điểm du lịch
Điểm du lịch là cấp thấp nhất trong hệ thống phân vị Về mặt lãnh thổ, điểm
du lịch có quy mô nhỏ, là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hoá
- lịch sử hoặc kinh tế - xã hội) hoặc một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ Vì thế, điểm du lịch có thể được phân thành 2 loại: điểm tài nguyên và điểm chức năng
Theo Luật Du lịch (2017) “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch được đầu
tư, khai thác phục vụ khách du lịch” [16]
1.1.3.2 Khu du lịch
Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút lượng khách du lịch cao, có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch đồng bộ, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất một triệu lượt khách du lịch một năm, trong đó có
cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch cần thiết phù hợp với đặc điểm của khu du lịch Có diện tích tối thiểu hai trăm héc ta, trong đó có diện tích cần thiết để xây dựng các công trình, cơ sở dịch vụ du lịch
Theo Luật Du lịch (2017) khái niệm “Khu du lịch là khu vực có ưu thế về tài nguyên du lịch, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch Khu du lịch bao gồm khu du lịch cấp tỉnh và khu du lịch quốc gia” [16]
1.1.3.3 Tuyến du lịch
Tuyến du lịch là nối các khu du lịch, điểm du lịch, trong đó có khu du lịch, điểm du lịch, có tính chất liên vùng, liên tỉnh, kết nối với các cửa khẩu quốc tế; có biện pháp bảo vệ cảnh quan, môi trường và cơ sở dịch vụ phục vụ khách du lịch dọc theo tuyến
1.1.3.4 Điểm đến du lịch
Trong tiếng Anh, từ “Tourism Destination” được dịch ra tiếng Việt là điểm đến du lịch Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO), đã đưa ra quan niệm về điểm đến
Trang 27du lịch (Tourism Destination): “Điểm đến du lịch là vùng không gian địa lý mà khách du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường” (A practical guide to tourism destination management, UNWTO, 2005)
Theo Vũ Đức Minh [13], điểm đến du lịch là nơi xuất hiện các yếu tố du lịch quan trọng và gây ấn tượng nhất; là nơi tồn tại ngành du lịch đón khách và cũng là nơi du khách có thể tìm được tất cả các tiện nghi, dịch vụ hỗ trợ cần thiết cho chuyến viếng thăm của mình Điểm đến du lịch là sự tập trung các tiện nghi và dịch vụ được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của du khách
1.1.4 Các tiêu chí đánh giá sự phát triển du lịch
1.1.4.1 Căn cứ lựa chọn
Dựa vào những cơ sở lý luận trên đây, nhất là Lý thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch của Butler (1980) và Bộ tiêu chí đánh giá điểm đến du lịch của Bộ VHTT& DL ban hành ngày 28/12/2016, Chúng tôi lựa chọn 12 tiêu chí dùng để đánh giá sự phát triển du lịch TP Sầm Sơn dưới đây :
1.1.4.2 Tiêu chí đánh giá điểm đến du lịch
- Đầu tư phát triển du lịch
- Khả năng tiếp cận (giao thông đi lại)
- Cơ sở lưu trú
- Dịch vụ du lịch (ăn uống, giải trí, mua sắm )
- Quảng bá du lịch
Trang 281.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch biển của một số địa phương
* Kinh nghiệm phát triển du lịch biển, đảo ở Quảng Trị
Với chiều dài hơn 75 km bờ biển cát trắng, nước trong xanh, có nhiều bãi tắm đẹp hấp dẫn; là nơi hình thành khu dịch vụ - du lịch Cửa Tùng, Cửa Việt, đảo Cồn
Cỏ Bãi biển Cửa Tùng có cảnh quan đẹp, từng được mệnh danh là ‘Nữ hoàng của các bãi biển’ Khu dịch vụ - du lịch Cửa Việt được xác định là điểm nhấn để phát triển du lịch của tỉnh Quảng Trị, là vùng động lực để tỉnh tiếp tục phát triển tuyến du lịch ven biển Cửa Tùng, Cửa Việt và đảo Cồn Cỏ Cụm Cửa Việt - Cửa Tùng - Cồn
Cỏ là ba điểm hình thành nên tam giác du lịch biển đảo với các thế mạnh bổ sung cho nhau và có thể được xem xét phát triển thành một khu du lịch quốc gia tiềm năng
Du lịch biển đảo là một thế mạnh của Quảng Trị, thời gian qua tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng du lịch đúng quy hoạch theo hướng tập trung trọng tâm, trọng điểm Trước hết là hệ thống giao thông phục vụ du lịch kết hợp với phát triển các ngành kinh tế và phục vụ dân sinh; Hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật các khu, điểm du lịch quan trọng gắn với quảng bá, xúc tiến đầu tư, công tác quản
lý, khai thác tiềm năng du lịch; Xây dựng lộ trình tôn tạo, nâng cấp các di tích văn hóa, lịch sử một cách hợp lý để phát huy hiệu quả đầu tư; Khai thác hiệu quả cơ sở vật chất hiện có, nhất là hệ thống khách sạn, nhà hàng cao cấp mới được xây dựng Đặc biệt tập trung đầu tư xây dựng Đảo Cồn Cỏ thành Đảo Du lịch, xây dựng hạ tầng thiết yếu cho hoạt động du lịch; Có chính sách thỏa đáng kêu gọi thu hút đầu tư du lịch đảo [34]
* Mô hình phát triển du lịch tại biển Mỹ Khê - TP Đà Nẵng
Bãi biển Mỹ Khê từng được Tạp chí FORBES bình chọn là 1 trong 6 bãi biển quyến rũ nhất hành tinh (năm 2005) Trong những năm qua, T.P Đà Nẵng đã có nhiều
sự đổi mới nhằm phát triển du lịch theo hướng bền vững tại biển Mỹ Khê Nhiều hoạt động du lịch được tổ chức thường xuyên nhằm thu hút sự tham gia của khách du lịch
và cộng động dân cư như: khám phá chợ cá Mỹ Khê vào buổi sáng sớm, lướt vát, bơi thuyền cùng ngư dân Đặc biệt, thời gian gần đây, TP Đà Nẵng đã áp dụng một
Trang 29chuỗi các hoạt động dịch vụ du lịch thút hút được nhiều sự quan tâm, tham gia nhiệt tình của du khách và nhân dân địa phương như: với hoạt động lặng ngắm san hô, du khách được ngâm mình trong làn nước trong xanh, ngắm nhìn những rạng san hô đủ hình dạng và màu sắc, với nhiều loài cá cảnh đang trú ngụ bơi tung tăng trước mắt bạn, bên cạnh những giây phút lắng đọng như mê lòng người đó, du khách sẽ được cùng trải nghiệm với nhóm lặn săn tìm những con cá nặng ký với những pha rượt đuổi, mai phục hết sức phấn khích Ngoài ra, du khách còn được tham gia các hoạt động dã ngoại, cắm trại, câu cá với các chủ đề bảo vệ môi trường tự nhiên tại khu vực bãi tắm Tiên Sa [20]
* Mô hình phát triển du lịch MICE tại Nha Trang - Khánh Hòa
Du lịch MICE là loại hình du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức
sự kiện Đây là loại hình du lịch có số lượng khách hàng lớn với mức chi tiêu cao Tân dụng các lợi thế sẵn có, trong những năm quan, TP Nha Trang đã có nhiều giải pháp nhằm phát triển Nha Trang thành một trung tâm tổ chức loại hình du lịch MICE trọng điểm của quốc gia TP thường xuyên tổ chức các sự kiện thu hút khách du lịch như: Lễ hội Festival biển, hội thi đắp tượng cát, các cuộc thi hoa hậu và người đẹp tầm cỡ quốc gia Bên cạnh đó là sự quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch với sự phát triển của khu vui chơi giải trí Vinpearl Land, sự đời nhà hát có sức chứa 7.500 chỗ của Diamond Bay Resort và các trung tâm hội trợ, trung tâm triễn lãm Ngoài ra còn có các lễ hội đặc sắc như: Lễ hội Tháp Bà, Lễ hội Cá Voi, Lễ hội Am chúa đã thu hút được đông đảo du khách, đặc biệt là khách quốc tế [20]
Kinh nghiệm phát triển du lịch biển với các mô hình ở Quảng Trị, Mỹ Khê, Nha Trang là những bài học tốt để Sầm Sơn có thể áp dụng trong việc phát triển du lịch của
TP Sầm Sơn trong hiện tại và tương lai
1.2.2 Tình hình phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa
Nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ, cách Thủ đô Hà Nội 150km về phía nam, Thanh Hóa là vùng đất có tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, đặc sắc Những năm gần đây, du lịch Thanh Hóa ngày càng phát triển, trở thành điểm đến thân thiện và hấp dẫn du khách
Trang 30Với đường bờ biển dài 102km, Thanh Hóa có nhiều bãi tắm đẹp như Sầm Sơn (TP Sầm Sơn), Hải Tiến (huyện Hoằng Hóa), Hải Hòa (huyện Tĩnh Gia), trong đó tiêu biểu nhất phải kể đến biển Sầm Sơn nằm cách TP Thanh Hóa 16km về phía đông nam Bên cạnh tài nguyên biển, Thanh Hóa còn có tài nguyên rừng phong phú với các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, nơi lưu trữ và bảo vệ nguồn gen động thực vật quý hiếm Điển hình trong số đó là vườn quốc gia Bến En thuộc huyện Như Xuân
và Như Thanh, cách thành phố Thanh Hóa 36km về phía tây nam Thanh Hóa cũng được biết đến như là vùng đất “địa linh nhân kiệt” với bề dày lịch sử hào hùng và truyền thống văn hóa đặc sắc Nhiều di tích lịch sử, văn hóa đã được Thanh Hóa bảo tồn, phát triển, đáp ứng nhu cầu tham quan, tín ngưỡng của nhân dân địa phương và
du khách Với tiềm năng du lịch phong phú, đa dạng, Thanh Hóa có điều kiện để phát triển nhiều loại hình du lịch như du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa – lịch sử…, từng bước khẳng định vị thế của du lịch xứ Thanh trong khu vực Bắc Trung bộ
và cả nước
Trong Chương trình phát triển du lịch Thanh Hóa giai đoạn 2016-2020, tỉnh Thanh Hóa đã xác định phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Đây là lợi thế quan trọng đối với định hướng phát triển kinh tế của tỉnh nói chung và du lịch nói riêng, tạo thuận lợi cho việc tập trung nguồn lực phát triển thương hiệu du lịch tỉnh Thanh Hóa
Kết quả, tăng trưởng du lịch tỉnh duy trì ở mức độ khá, tất cả các chỉ tiêu kinh doanh du lịch đều vượt chỉ tiêu Năm 2016 toàn tỉnh ước đón được 6.277.000 lượt khách, tăng 13,5% so với năm 2015 (trong đó khách quốc tế: 154.500 lượt khách, tăng 21,7% so với năm 2015); tổng thu nhập từ du lịch ước đạt: 6.298 tỷ đồng, tăng 21,6% so với năm 2015 (trong đó tổng thu từ khách quốc tế 39.600.000 USD)
Với sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo tỉnh, sự nỗ lực thực hiện nghiêm túc định hướng phát triển du lịch của các Sở, ban, ngành và sự triển khai đồng bộ trên các lĩnh vực, chắc chắn trong thời gian không xa, Du lịch Thanh Hóa sẽ là điểm sáng trên bản đồ du lịch cả nước.[32]
Trang 31Tiểu kết chương 1
Trong Chương 1 của luận văn, tác giả tập trung làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến du lịch và phát triển du lịch ; các điều kiện phát triển du lich ; các hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch Đồng thời xây dựng các tiêu chí đánh giá điểm đến du lịch Sầm Sơn theo Buler trong thuyết chu kỳ sống của điểm đến du lịch từ đó làm cơ
sở cho việc phân tích thực trạng ở chương 2
Ngoài ra, tác giả cũng đã nghiên cứu thực tiễn phát triển du lịch biển ở một số địa phương có đặc điểm tương tự nhằm tìm ra bài học để Sầm Sơn có thể áp dụng trong thời gian tới
Trang 32Chương 2 HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THÀNH PHỐ SẦM SƠN
GIAI ĐOẠN 2010 - 2017
2.1 Khái quát về TP Sầm Sơn
2.1.1 Vị trí địa lý
Hình 2.1 Bản đồ Vị trí TP Sầm Sơn
(Nguồn: Tác giả biên tập)
TP Sầm Sơn nằm ở phía Đông tỉnh Thanh Hoá, cách TP Thanh Hoá khoảng 16
km theo đường Quốc lộ 47 Phía Bắc giáp huyện Hoằng Hoá (ranh giới là sông Mã); Phía Nam giáp huyện Quảng Xương, phía đông giáp Vịnh Bắc Bộ, phía Tây giáp TP Thanh Hóa Vị trí giáp biển với bãi biển đẹp Sầm Sơn thuận lợi phát triển du lịch tắm biển và nghỉ dưỡng
2.1.2 Lịch sử phát triển
Sầm Sơn là vùng đất có truyền thống lịch sử lâu đời, trước thế kỷ XX, Sầm Sơn chưa xuất hiện trên bản đồ địa lý Việt Nam, vùng đất này thuộc huyện Quảng Xương và chỉ có dãy núi Gầm án ngữ phía Nam vùng đất mà ngư dân đi biển quen gọi là Mũi Gầm, sau dần dần đổi thành núi Sầm (Sầm Sơn), địa danh này cũng còn được gọi là núi Trường Lệ (làng chân núi này cũng gọi là Làng Núi hay làng Trường Lệ) Từ năm 1907, người Pháp đã nhận thấy và bắt đầu khai thác giá trị du lịch của
Trang 33Sầm Sơn để xây dựng thành nơi nghỉ mát phục vụ người Pháp và vua quan Triều Nguyễn Đây là thời điểm đánh dấu sự ra đời của du lịch Sầm Sơn
Ngày 19 tháng 4 năm 1963, Hội đồng Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa ra Quyết định số 50/CP thành lập thị trấn Sầm Sơn bao gồm khu nghỉ mát Sầm Sơn và xã Quảng Sơn, trực thuộc uỷ ban hành chính Tỉnh Thanh Hoá Thị xã Sầm Sơn chính thức được thành lập ngày 18 tháng 12 năm 1981 theo quyết định số 157/QÐ/HÐBT Tháng 4 năm 2012, thị xã Sầm Sơn được công nhận là đô thị loại 3
Thực hiện Nghị quyết số 935/NQ-UBTVQH13 ngày 15/5/2015 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội khóa 13 về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Quảng Xương và Thị xã Sầm Sơn Sầm Sơn được mở rộng thêm 6 xã: Quảng Châu, Quảng Thọ, Quảng Vinh, Quảng Minh, Quảng Hùng, Quảng Đại thuộc huyện Quảng Xương Năm 2017, TP Sầm Sơn có 11 đơn vị hành chính gồm 08 phường và 03 xã với tổng diện tích tự nhiên là 44,94 km2 và 150.902 nhân khẩu [19]
Trang 34Nguồn: Chi cục thống kê, thành phố Sầm Sơn, 2017 Người xây dựng: Tác giả
Hình 2.2 Bản đồ Hành chính TP Sầm Sơn
Trang 352.2 Các điều kiện phát triển du lịch Sầm Sơn
2.2.1 Tài nguyên du lịch tự nhiên
Tài nguyên du lịch tự nhiên của Sầm Sơn phong phú và đa dạng Sự đan xen giữa các loại địa hình (sông, núi, biển), giữa các bãi biển với núi Trường Lệ và cảnh quan sông nước, cùng với các hồ, đầm ở Quảng Cư và những rặng thông, phi lao dọc ven biển là điều kiện rất thuận lợi để Sầm Sơn phát triển nhiều loại hình du lịch hấp
dẫn [14]; [19]; [31]
* Bãi biển Sầm Sơn
Thiên nhiên đã ban tặng cho Sầm Sơn bờ biển dài khoảng 9km, từ cửa Hới (sông Mã) đến Vụng Tiên (Vụng Ngọc) với các bãi biển đẹp như bãi biển nội thị (A,
B, C, D), bãi biển Quảng Cư, bãi Nix, bãi Lãn, bãi Vụng Tiên Hầu hết các bãi biển
có độ nghiêng đều từ Tây sang Đông Các bãi biển có đặc điểm chung là rộng, bằng phẳng, độ dốc thoải, bãi cát trắng mịn, không có đá ngầm và nhiều khoáng chất khác có tác dụng chữa bệnh … rất phù hợp cho tắm biển và các hoạt động vui chơi giải trí biển Biển Sầm Sơn ấn tượng với sóng lớn, từng lớp sóng bạc đầu bọt tung trắng xóa, tạo cảm giác mạnh với du khách Với khí hậu nhiệt đới gió mùa nên biển Sầm Sơn vào mùa đông
ấm, mùa hè mát dịu
Với quyết định mới sáp nhập thêm 6 xã trên bờ biển phía Nam núi Trường Lệ vào địa giới hành chính của TP, đường bờ biển Sầm Sơn được kéo dài hơn gấp đôi trước đây, tạo thêm điều kiện và cơ hội hình thành các sản phẩm du lịch biển mới Tại khu vực chân núi phía Nam dãy Trường Lệ (nơi Bác Hồ về nghỉ dưỡng năm 1960), bắt đầu từ chân núi đến lạch sông Đơ, bãi biển tạo thành hình vòng cung rất đẹp, sóng
lặng và êm Nơi đây có thể tổ chức các môn thể thao trên biển rất phù hợp
* Dãy núi Trường Lệ
Nằm sát bờ biển, phía nam TP Sầm Sơn, Trường Lệ là dãy núi đá granit trong quá trình phong hoá, nhiều nơi còn xuất hiện đá gốc, đặc biệt là phần nhô ra biển, tạo nên những vách đá cheo leo, ngoạn mục Trường Lệ gồm 16 ngọn núi (cao nhất là 84,7m) được che phủ bởi hơn 201,2 ha rừng trồng Trường Lệ có vẻ đẹp hoàn toàn tự nhiên của núi, của biển mà không phải nơi nào có được Mỗi hòn núi gắn với một
Trang 36ngoạn những hình ảnh khác nhau Núi có các vách đá dốc đứng về phía biển đã tạo
nên sự hùng vĩ, thích hợp cho loại hình du lịch leo núi, du lịch mạo hiểm Mặt khác, ở đây có những bãi cỏ rộng, những sườn thoải và các đồi được cấu tạo từ đá granit cổ sinh hay đá biến chất dạng bát úp (điển hình là khối hoa cương Độc Cước) phù hợp cho du lịch cắm trại và các hoạt động vui chơi giải trí khác Sự tương phản giữa cái tĩnh lặng của núi rừng trên dãy Trường Lệ với tiếng sóng vỗ suốt ngày đêm của bãi biển dưới chân núi tạo nên điểm nhấn thú vị cho mỗi du khách khi đến với Sầm Sơn
* Hòn Trống Mái
Hòn Trống Mái là tên gọi của hai hòn đá nổi chênh vênh trên đỉnh dãy núi Trường Lệ tựa hình dáng một đôi chim đá khổng lồ đang chụm đầu, nghiêng mỏ, tiếng sóng biển, thông reo tạo nên những âm thanh cho du khách cảm giác đó là tiếng thủ thỉ trò chuyện tâm tình của cặp chim Trống Mái Điều kỳ diệu là cái thế chênh vênh ấy lại vững bền bất chấp dòng chảy của thời gian Huyền thoại Hòn Trống Mái - đôi chim đá chứa đựng ý nghĩa nhân sinh to lớn phản ánh ước mơ ngàn đời của người dân nơi đây về cuộc sống yên bình, ấm no, hạnh phúc Từ ngàn xưa, hòn Trống Mái vẫn mãi là bức tranh trữ tình thấm đẫm chất nhân văn, là nguồn cảm hứng bất tận cho nhà văn, nhà thơ Ngày nay không biết đã có bao nhiêu đôi bạn trẻ đã tìm đến đây để lưu giữ lại những hình ảnh đẹp nhất, hạnh phúc nhất của đời mình
* Sông Mã, sông Đơ
Cảnh quan tự nhiên dọc hai bờ sông Mã, sông Đơ là điều kiện thuận lợi để Sầm Sơn phát triển các tuyến DLST trên sông, biển Xuất phát từ Cửa Hới ở phía Bắc, du khách có thể đi thuyền đến Hòn Mê và xa hơn về phía Nam, hoặc ngược dòng sông Mã đi thăm các di tích Hàm Rồng, Lam Sơn, di tích triều vua Lê và các di tích, danh thắng khác trong tỉnh Đặc biệt sông Đơ chảy dọc TP (từ Sông Mã ở phía Bắc đến cống Trường Lệ ở phía Nam) có cảnh quan tự nhiên khá hấp dẫn với các đầm sen ở phía Nam đền An Dương Vương là nguồn tài nguyên du lịch tiềm năng của Sầm Sơn để phát triển DLST Sự đan xen giữa các loại địa hình (sông, núi, biển), giữa các bãi biển với núi Trường Lệ và cảnh quan sông nước, cùng với các hồ, đầm ở Quảng Cư và những rặng thông, phi lao dọc ven biển tạo nên sự phóng phú và đa dạng của tài nguyên du lịch, là điều kiện rất thuận lợi để Sầm Sơn phát triển nhiều loại hình du lịch hấp dẫn
Trang 37* Khí hậu
TP Sầm Sơn nằm trong miền khí hậu Bắc Việt Nam, thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt là mùa hạ nóng, ẩm, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa
Nhìn chung, khí hậu ở Sầm Sơn có sự phân chia rõ rệt, nhưng do tác động điều hoà của biển nên khí hậu tương đối dễ chịu, mát vào mùa Hè, ấm vào mùa Đông, khá
tốt cho tắm biển và hoạt động tham quan và nghỉ dưỡng
2.2.2 Tài nguyên du lịch nhân văn
Sầm Sơn là vùng đất có truyền thống lịch sử lâu đời, là địa phương có mật độ
di tích dày đặc, nhiều di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia, cấp tỉnh như đền Độc Cước, đền Cô Tiên, Về Sầm Sơn, du khách còn có thể tham gia nhiều
lễ hội độc đáo như: Lễ hội Cầu phúc đầu năm, lễ hội Bánh chưng - Bánh Dày, lễ hội
Cầu ngư - Bơi chải…[14]; [31]
* Đền Độc Cước
Nằm trên hòn Cổ Giải thuộc Núi Trường Lệ, Phường Trường Sơn Thờ vị Thần Một Chân (Độc Cước) đã có công tự xẻ đôi thân mình, dẹp loài Thuỷ Quái, bảo vệ cuộc sống bình yên cho Dân chài Sầm Sơn, được nhân dân phụng thờ 4 mùa cúng tế Di tích
đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng năm 1962
* Đền Cô Tiên
Nằm trên một vị thế khá đẹp, thoáng đãng phía Nam núi Trường Lệ Truyền thuyết xưa kể rằng: Ngôi đền này thờ một người con gái làm nghề thuốc cứu nhân độ thế Cô gái vì không vâng lời cha lấy một kẻ nhà giàu nên bị cha đuổi đi Sau đó cô đem lòng yêu và lấy Anh chàng nghèo khó mà tốt bụng tên là Côi Cuộc sống đang
êm ả thì Nàng bị bệnh hủi, rồi một cụ già xuất hiện đã chạy chữa bằng thuốc lá nam
và nước suối lấy từ Vụng Tiên Cô gái khỏi bệnh, Bà cụ ra đi để lại cho vợ chồng họ một tay nải để che mưa và một giỏ mây để đựng thuốc lá cứu người
Một lần, hai vợ chồng đi chữa bệnh về khuya gặp trời mưa to, nhớ lời Bà cụ dặn lấy tay nải ra che mưa, rồi thiếp đi lúc nào không biết Sáng dậy, hai vợ chồng thấy mình đang ngồi trong một ngôi nhà 3 gian khang trang, sạch sẽ Từ đó họ ở lại
Trang 38hai vợ chồng ăn mặc rất đẹp, dắt tay nhau đi lên đỉnh núi rồi không thấy trở về Từ đó ngôi nhà được trở thành đền Cô Tiên được dân làng khói hương quét dọn Ngôi đền vinh
dự được Bác Hồ về thăm và nghỉ chân năm 1960 Sau nhiều lần sửa chữa nhỏ, cuối năm
2010, UBND Thị xã Sầm Sơn đã quyết định đầu tư trùng tu, tôn tạo và đã nhiều lần trùng tu, sửa chữa Là Di tích được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng năm 1962
* Đền Tô Hiến Thành
Nằm khiêm tốn ở sườn núi phía Đông Bắc dãy Trường Lệ thuộc Phường Trường Sơn thờ Thái uý Tô Hiến Thành, một vị tướng giỏi, một ông quan thanh liêm, cương trực thời Lý Di tích đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng năm 1962
* Đền Hoàng Minh Tự (Hay còn gọi là Đền Đệ Tam)
Đền Hoàng Minh Tự thuộc Khu phố Sơn Thuỷ - Phường Trường sơn Là Di tích nằm trong tổng thể khu Di tích hết sức có giá trị về mặt lịch sử của Phường Trường Sơn nói riêng và của Thị xã Sầm Sơn nói chung Nhân dân trong làng vẫn thường gọi là Đền Hạ (Theo vị trí địa lý Đền Độc Cước là Đền Thượng, Đền Tô Hiến Thành là Đền Trung)
Ngôi đền thờ vị Nhân Thần Hoàng Minh Tự - Đỗ quan Hoàng Giáp Là biểu tượng cho sự học hành đỗ đạt Đền được Sở Văn hóa - Thông tin Thanh Hoá công nhận là Di Tích lịch sử văn hoá năm 2005
* Chùa Khải Minh
Là ngôi chùa cổ được khôi phục lại (1994) có quy mô lớn nhất trong hệ thống thờ Phật ở Sầm Sơn, chùa có hàng chục pho tượng cổ đẹp, khánh đá to đẹp và chuông đồng có cữ “ Đông Khê áp chung” Chùa Khải Minh nay thuộc Khu phố Bình Sơn Phường Bắc Sơn Được Sở Văn hóa - Thông tin Thanh Hoá công nhận là Di tích Lịch
sử Văn hoá năm 1994
* Chùa Làng Lương Trung (Hay còn gọi là Thanh Am Tự)
Nằm ở khu phố Long sơn thuộc Phường Bắc sơn Đây cũng là một ngôi chùa được khôi phục lại qua thời gian bị phá dỡ Là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh của nhân dân trong vùng Có 2 hệ thống tín ngưỡng chính là thờ Thần (Thần Hoàng Làng) và thờ Phật Di tích đã được Sở Văn hóa - Thông tin Thanh Hoá Công nhận là
Di tích Lịch sử Văn hoá năm 1999
Trang 39* Đền Đề Lĩnh (Thuộc địa bàn Phường Trung Sơn)
Đây là ngôi đền thờ Thần Hoàng làng Lương Trung: Đường Công Quang Lộc, là
Tứ trụ triều đình thời vua Lê Tương Dực (1510 - 1515) có công khai dân, lập ấp nên Làng Lương Trung trong lịch sử Được nhân dân tôn thờ cúng tế và suy tôn là ông tổ của Lò võ vật Lương Trung Vào dịp ngày giỗ Thần 16 tháng giêng nơi đây diễn ra lễ hội truyền thống với các hoạt động văn hoá mang tính giáo dục cho nhiều thế hệ Di tích được Sở Văn hóa - Thông tin Thanh hoá cấp bằng công nhận năm 1995
* Đền thờ Bà Triều
Thuộc Làng Triều Dương cũ, nay là khu phố Xuân Phú và Vĩnh Thành, Phường Trung Sơn Đây là ngôi đền thờ vọng Bà Triều; Tổ sư nghề dệt săm súc, là một loại phương tiện đánh bắt tôm, moi, hải sản của nhân dân Sầm Sơn Hàng năm diễn ra Lễ hội truyền thống vào ngày 10 tháng 2 âm lịch Di tích được Sở Văn hoá - Thông tin Thanh Hoá công nhận là Di tích danh thắng cấp Tỉnh năm 1995
* Đền Cá Lập
Thuộc Phường Quảng Tiến, thờ Tướng quân Trần Đức có nhiều công trạng trong công cuộc đánh đuổi giặc ngoại xâm thời Trần Được vua ban chức sắc Quan Chánh lãnh binh; Trà lệnh hầu Được các triều đại Phong kiến Việt Nam truy phong là: Tây Phương Đại Tướng Quân Được nhân dân trong vùng phong Thần Hoàng Làng Chấp Đây là Di tích được Bộ Văn hoá xếp hạng Quốc gia năm 1999 Đến nay Đền mới được trùng tu, tôn tạo khá quy mô
* Đền làng Lộc Trung (Thuộc Phường Quảng Tiến)
Đây cũng là ngôi đền được khôi phục lại cách đây trên vài chục năm, sau những phế tích còn lại những năm xưa Thờ Tướng quân Nguyễn Sỹ Dũng lập nhiều công trạng trong cuộc kháng chiến giữ nước thời Vua Quang Trung - Nguyễn Huệ
Lễ hội hàng năm cũng vào ngày mồng 5 tết âm lịch, nhân dân trong vùng tổ chức để tỏ lòng ngưỡng mộ, nhớ ơn Ngài và giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau Ngôi đền đã được Sở Văn hoá - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử Văn hoá năm 1993
* Đền Làng Hới
Ngôi đền nằm cạnh Cảng Hới, Phường Quảng Tiến Là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh vùng biển Sầm Sơn nói chung và của nhân dân Làng Hới nói riêng Hàng
Trang 40sông biển Đây cũng là nơi hội tụ của chủ tàu thuyền đánh bắt hải sản đến thắp hương, cầu cúng trước và sau khi ra khơi, vào lộng Di tích được Sở Văn hoá - Thông tin xếp hạng năm 1993
* Lễ hội Bánh Chưng Bánh Dày
Thường niên, vào ngày 12 tháng 5 âm lịch, nhân dân của 4 làng thuộc xã Lương Niệm xưa tổ chức rước kiệu hội đồng, Thần linh tập trung tại sân Đền Độc Cước, tế lễ và thi làm Bánh Chưng - Bánh Dày Đây là Lễ hội cầu mưa (Cầu vũ), cầu cho biển lặng gió êm, cầu cho thôn xóm được mùa, cho làng xóm bình yên, nhân dân vào lộng ra khơi đánh bắt được nhiều tôm cá
Nhiều năm qua, Lễ hội bánh Chưng - Bánh Dày đã trở thành nội dung không thể thiếu và sôi động nhất trong Lễ hội Văn hoá Du lịch Sầm Sơn hàng năm, thu hút hàng ngàn du khách từ bốn phương về chiêm ngưỡng và tham gia Lễ hội
* Lễ hội cầu ngư (Lễ hội đua thuyền - Bơi chải)
Đây là Lễ hội Văn hoá thể thao truyền thống của dân vùng biển Sầm Sơn, được tổ chức vào ngày Rằm tháng 5 âm lịch Trước đây thường có 4 làng trong xã Lương Niệm tham gia Lễ hội thường được tổ chức ở cửa Hới, nơi dòng Sông Mã từ ngọn nguồn non cao đổ về gặp biển Chủ yếu để trai tráng các khu phố thuộc Phường Quảng Tiến đua tài bằng những chiếc thuyền rồng lớn hơn xưa, số tay bơi mỗi thuyền cũng nhiều hơn (Từ 23 đến 25 người), Từ năm 2008, Lễ hội Cầu Ngư Quảng Tiến đã được Chủ Tịch UBND Thị xã Sầm Sơn Quyết định nâng cấp thành Lễ hội Cầu Ngư toàn Thị xã
Bên cạnh đó, Sầm Sơn còn có các làng nghề truyền thống như dệt săm xúc (Triều Dương), làng nghề làm mắm (làng Hới) Cùng với tinh thần mến khách và lòng nhiệt thành của con người Sầm Sơn cũng là nền tảng vững chắc cho ngành du lịch phát triển
Tóm lại, với những tiềm năng và lợi thế về tài nguyên du lịch như trên, du lịch Sầm Sơn hoàn toàn có thể phát triển mạnh, trở thành điểm đến hấp dẫn và lý thú cho nhiều du khách