CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu Trong sản xuất thủy sản, thức ăn luôn đóng vai trò rất quan trọng vì chi phí thức ăn chiếm 60-70% chi phí sản xuất. Bên cạnh vấn đề chi phí, chất lượng thức ăn còn ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, sức khỏe và môi trường nuôi. Để làm cơ sở cho việc xây dựng công thức thức ăn cho thủy sản, phù hợp với đối tượng nuôi thì việc xác định nhu cầu dinh dưỡng, đặc điểm dinh dưỡng của thức ăn là rất cần thiết. Phương pháp xác định nhu cầu dinh dưỡng của động vật thủy sản thường được thực hiện ở một giai đoạn và chỉ thực hiện nghiên cứu trên một thông số cụ thể như xác định nhu cầu dinh dưỡng cho tăng trưởng, tỉ lệ sống hoặc sinh sản... Nhu cầu dinh dưỡng sẽ được định lượng dựa trên khả năng đáp ứng tối ưu của đối tượng (về tăng trưởng, tỉ lệ sống hoặc sinh sản, ...) đối với các khẩu phần ăn có chứa các mức dinh dưỡng khác nhau (Lupatsch, 2003), mối liên hệ sẽ được xác định bằng các mô hình đường thẳng, đường gẫy khúc (Broken-Line model), phương trình mũ (Exponenal model)… Vì vậy khi muốn xác định nhu cầu dinh dưỡng ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau của đối tượng sẽ mất nhiều thời gian nghiên cứu. Mô hình năng lượng sinh học là mô hình hiệu quả được sử dụng để dự đoán tăng trưởng, tỷ lệ cho ăn, FCR và sản phẩm thải của cá với các thành phần dinh dưỡng của thức ăn và điều kiện nuôi khác nhau (Cho and Bureau, 1998; Lupatsch and Kissil, 2005; Lupatsch et al., 2001a, 2003; Azevedo et al., 1998). Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã áp dụng những kỹ thuật, phương pháp nghiên cứu này nhằm tối ưu hóa thức ăn cho động vật thủy sản. Hiện nay, ứng dụng mô hình năng lượng sinh học để xác định nhu cầu dinh dưỡng của loài cá đã được sử dụng phổ biến (NRC, 2011). Một số loài cá đã được các tác giả áp dụng mô hình này trong việc xác định nhu cầu dinh dưỡng như cá tráp (Sparus aurata), cá vược Châu Âu (Dicentrarchus labrax) và cá mú trắng (Epinephelus aeneus) (Lupatsch et al., 2003; Lupatsch et al., 2010); cá cam (Seriola lalandi) (Mark et al., 2010); cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) (Glencross et al., 2010) và cá rô phi (Oreochromis niloticus) (Trung et al., 2011), cá kèo (Pseudapocryptes elongatus) (Trần Thị Bé, 2016). Mô hình năng lượng sinh học với ưu điểm là xác định nhu cầu dinh dưỡng của cá trong suốt chu kỳ nuôi thương phẩm, giúp tiết kiệm được thời gian và chi phí nghiên cứu. Đặc biệt phương pháp này xác định nhu cầu dựa trên độ tiêu hóa các dưỡng chất trong thức ăn. Ưu điểm của phương pháp này đã được ứng dụng để xác định nhu cầu dinh dưỡng cho một số loài cá có giá trị kinh tế trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Cá lóc (Channa striata) là đối tượng nuôi phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bởi chất lượng thịt ngon và giá cả hợp lý. Mô hình nuôi cá lóc đa dạng như nuôi ao, nuôi lồng, nuôi vèo, nuôi trong bể lót bạt (Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung, 2010). Số liệu thống kê năm 2017 từ Chi cục Thủy sản của 5 tỉnh nuôi cá lóc chủ yếu ở ĐBSCL gồm An Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Vĩnh Long và Cần Thơ cho thấy diện tích chủ yếu nuôi trong ao đất và sản lượng cá lóc nuôi tăng mạnh trong thập niên 2006-2016 từ 132,2 ha tăng lên 552,9 ha và từ 15,9 ngàn tấn tăng lên 85,6 ngàn tấn, điều này dẫn đến nhu cầu về sản lượng thức ăn công nghiệp cho cá lóc tăng theo từ 22,3 ngàn tấn tăng lên 119,9 ngàn tấn trong cùng thời gian. Chi phí thức ăn cũng chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng cơ cấu chi phí nuôi cá lóc, lên tới 88,4% năm 2015 (Ngô Thị Minh Thúy và Trương Đông Lộc (2015), trên 81% ở mô hình nuôi cá lóc trong ao đất (Huỳnh Văn Hiền và ctv, 2018). Cá lóc là loài cá dữ, ăn động vật nên các nghiên cứu về sử dụng thức ăn chế biến trong nuôi cá lóc cũng được quan tâm nhằm tìm ra loại thức ăn chế biến phù hợp với đặc tính của loài, mang lại hiệu quả cao, chủ động được mùa vụ và giảm ô nhiễm môi trường. Một vài nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc đã được thực hiện, chủ yếu trên giai đoạn cá bột và cá giống như nghiên cứu về nhu cầu protein, lipid của Mohanty and Samantaray (1996, 1997); tỉ lệ protein/lipid (Aliyu-Paiko et al.,2010) hay khả năng sử dụng một nguồn protein thực vật thay thế cho bột cá (Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 2014). Tuy nhiên các nghiên cứu còn ít và chưa hoàn chỉnh nhu cầu dinh dưỡng cho một chu kỳ nuôi, vì vậy việc áp dụng áp dụng mô hình hóa để xác định nhu cầu dinh dưỡng cho cá lóc làm cơ sở xây dựng công thức thức ăn phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của cá lóc là cần thiết, góp phần hoàn thiện quy trình nuôi đối tượng này. Xuất phát từ tình hình thực tế trên “Ứng dụng mô hình hóa xác định nhu cầu năng lượng và protein để phát triển thức ăn cho cá lóc (Channa striata)” được thực hiện.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NGÔ MINH DUNG
ỨNG DỤNG MÔ HÌNH HÓA XÁC ĐỊNH NHU CẦU NĂNG LƯỢNG VÀ
PROTEIN ĐỂ PHÁT TRIỂN THỨC ĂN CHO
CÁ LÓC (Channa striata)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Mã ngành 62 03 01
Trang 22.8.2 Cách xác định một số nhân tố trong mô hình năng lượng sinh học 32
2.8.2.1 Tốc độ tăng trọng của cá 32
2.8.2.2 Nhu cầu trao đổi chất cơ sở 33
2.8.2.2 Nhu cầu protein, năng lượng duy trì 33
2.8.2.3 Hiệu quả sử dụng protein, năng lượng 34
2.8.3 Ứng dụng của mô hình năng lượng sinh học để xác định nhu cầu dinh dưỡng 35
2.9 Một số nguồn nguyên liệu phổ biến sử dụng trong chế biến thức ăn cá 38 2.9.1 Nguồn nguyên liệu protein 38
2.9.2 Nguồn nguyên liệu carbohydrate 43
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46
3.1 Đối tượng nghiên cứu 46
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 46
3.3 Phương pháp nghiên cứu 46
3.3.1 Nội dung 1: Nghiên cứu đặc điểm phát triển ống tiêu hóa của cá lóc giai đoạn bột đến 35 ngày tuổi khi sử dụng thức ăn chế biến 49
3.3.1.1 Nguồn cá lóc thí nghiệm 49
3.3.1.2 Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm 49
3.3.1.3 Bố trí thí nghiệm 50
3.3.2 Nội dung 2: Xác định phương pháp thu phân thích hợp đánh giá độ tiêu hóa của cá lóc 52
3.3.2.1 Nguồn cá lóc thí nghiệm 52
3.3.2.2 Thức ăn thí nghiệm và hệ thống bể thí nghiệm 52
3.3.2.3 Bố trí thí nghiệm 53
3.3.3 Nội dung 3: Ứng dụng mô hình năng lượng sinh học xác định nhu cầu protein, năng lượng và acid amin của cá lóc 56
3.3.3.1 Khảo sát đặc điểm sinh trưởng và thành phần hóa học cá lóc nuôi thương phẩm 56
3.3.3.2 Thí nghiệm 4: Xác định protein và năng lượng tiêu hao ở cá lóc 57 3.3.3.3 Thí nghiệm 5: Khả năng tiêu hóa thức ăn và các dưỡng chất trong thức ăn của cá lóc 58
3.3.3.4 Thí nghiệm 6: Xác định nhu cầu duy trì và hiệu quả sử dụng protein, năng lượng và acid amin tiêu hóa của cá lóc 60
3.3.4 Nội dung 4: Khả năng tiêu hóa của cá lóc đối với một số nguyên liệu phổ biến làm thức ăn 62
Trang 33.3.4.1 Thí nghiệm 7: Khả năng tiêu hóa một số nguyên liệu protein 62
3.3.4.2 Thí nghiệm 8: Khả năng tiêu hóa một số nguồn nguyên liệu carbohydrate 64
3.3.5 Nội dung 5: Xây dựng công thức thức ăn nuôi cá lóc thương phẩm 66
3.3.6 Nuôi thử nghiệm 67
3.4 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 68
3.4.1 Phương pháp xác định một số yếu tố môi trường 68
3.4.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu sinh học 68
3.4.3 Phương pháp xác định các chỉ tiêu về độ tiêu hóa 69
3.4.5 Phương pháp xác định chỉ tiêu hóa học 69
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 70
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 71
4.1 Đặc điểm phát triển ống tiêu hóa của cá lóc từ giai đoạn bột đến 35 ngày tuổi khi sử dụng thức ăn chế biến 71
4.1.1 Sự phát triển của cá bột 71
4.1.1.1 Kích thước và khối lượng 71
4.1.1.2 Sự phát triển hình thái 73
4.1.2 Cấu trúc ống tiêu hóa của cá lóc 75
4.1.2.1 Khoang miệng 75
4.1.2.2 Thực quản 76
4.1.2.3 Dạ dày 76
4.1.2.4 Ruột 79
4.1.3 Hoạt tính của enzyme 81
4.1.3.1 Hoạt tính của nhóm enzyme phân giải protein 82
4.1.3.2 Hoạt tính enzyme amylase 85
4.1.4 Mối liên hệ giữa hàm lượng enzyme và sự phát triển ống tiêu hóa 86 4.2 Phương pháp xác định độ tiêu hóa của cá lóc 88
4.2.1 Thời điểm thu phân 88
4.2.2 Phương pháp thu phân thích hợp 89
4.3 Ứng dụng mô hình năng lượng sinh học xác định nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc 91
4.3.1 Khảo sát đặc điểm sinh trưởng và thành phần hóa học cá lóc nuôi thương phẩm 91
Trang 44.3.1.1 Sinh trưởng của cá lóc nuôi thương phẩm 91
4.3.1.2 Thành phần hóa học của cá lóc nuôi thương phẩm 93
4.3.2 Protein, năng lượng và acid amin tiêu hao 95
4.3.2.1 Tỉ lệ sống và khối lượng cá trước và sau quá trình bỏ đói 95
4.3.2.2 Thành phần hóa học của cá lóc trước và sau quá trình bỏ đói 96 4.3.2.3 Protein tiêu hao sau 28 ngày bỏ đói 99
4.3.2.4 Năng lượng tiêu hao sau 28 ngày bỏ đói 100
4.3.3 Khả năng tiêu hóa thức ăn và các dưỡng chất trong thức ăn của cá lóc 102 4.3.4 Hiệu quả sử dụng protein, năng lượng và acid amin của cá lóc 104 4.3.4.1 Tỷ lệ sống 104
4.3.4.2 Tăng trưởng của cá lóc ở các mức cho ăn khác nhau 105
4.3.4.3 Thành phần hóa học của cá lóc 106
4.3.4.4 Hiệu quả sử dụng protein của cá lóc 108
4.3.4.5 Hiệu quả sử dụng năng lượng của cá lóc 110
4.3.4.5 Hiệu quả sử dụng acid amin của cá lóc 112
4.3.5 Xác định nhu cầu protein, năng lượng, methionine, lysine tiêu hóa của cá lóc 115
4.4 Khả năng tiêu hóa một số nguyên liệu phổ biến 122
4.4.1 Khả năng tiêu hóa một số nguyên liệu protein 122
4.4.1.1 Độ tiêu hóa thức ăn thí nghiệm 122
4.4.1.2 Độ tiêu hóa của nguyên liệu protein 124
4.4.2 Khả năng tiêu hóa một số nguyên liệu carbohydrate 127
4.4.2.1 Độ tiêu hóa thức ăn thí nghiệm 127
4.3.2.2 Độ tiêu hóa của nguyên liệu carbohydrate 129
4.5 Xây dựng công thức thức ăn cho cá lóc từng giai đoạn 130
4.6 Nuôi thử nghiệm thức ăn cá lóc 131
4.6.1 Điều kiện chất lượng môi trường nước ao nuôi thực nghiệm 131
4.6.2 Tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá lóc sau 5 tháng nuôi thực nghiệm 132
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 134
5.1 Kết luận 134
5.2 Kiến nghị 134
Trang 5DANH MỤC TỔNG HỢP CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG
BỐ 136 TÀI LIỆU THAM KHẢO 137 PHỤ LỤC 158
Trang 6DANH SÁCH BẢNG
Bảng 2.1: Enzyme, vị trí tiết và sản phẩm tiêu hóa của cá 13
Bảng 2.2: Giá trị pH tối ưu của pepsin ở các loài cá 13
Bảng 2.3: Nhu cầu acid amin đối với một số loài cá 21
Bảng 2.4: Nhu cầu về năng lượng, protein và khẩu phần ăn của một số loài cá được xác định trên mô hình năng lượng sinh học 36
Bảng 2.5: Tỷ lệ bột cá sử dụng trong thức ăn thủy sản 39
Bảng 2.6: Thành phần hóa học của một số lọai bột cá thành phẩm 39
Bảng 2.7: Thành phần dinh dưỡng của lúa mì và các phụ phẩm (%) 44
Bảng 3.1: Xuất xứ nguyên liệu sử dụng làm thức ăn trong các thí nghiệm 48
Bảng 3.2: Thành phần nguyên liệu của TĂCB 49
Bảng 3.3: Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn sử dụng trong thí nghiệm 49
Bảng 3.4: Phương thức cho ăn của các nghiệm thức trong thí nghiệm 1 50
Bảng 3.5: Công thức thức ăn và thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm 52 Bảng 3.6: Thời điểm thu phân 54
Bảng 3.7: Thành phần nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm 5 59
Bảng 3.6: Thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm 5 59
Bảng 3.7: Thành phần hóa học của nguyên liệu thí nghiệm 6 62
Bảng 3.8: Thành phần nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm 6 63
Bảng 3.9: Thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm 6 63
Bảng 3.10: Thành phần hóa học của nguyên liệu thí nghiệm 7 65
Bảng 3.11: Thành phần nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm 7 65
Bảng 3.12: Thành phần hóa học của thức ăn thí nghiệm 7 66
Bảng 3.13: Loại thức ăn và hàm lượng protein (%) sử dụng trong thời gian nuôi 67
Bảng 4.1: Chiều dài trung bình của cá lóc từ giai đoạn bột đến 35 ngày tuổi 71 Bảng 4.2: So sánh chiều dài và khối lượng cá lóc của hai nghiệm thức 73
Bảng 4.3: Hoạt tính enzyme pepsin (mU/mg protein) trên cá lóc giai đoạn 1-35 ngày tuổi 82
Bảng 4.4: Hoạt tính enzyme trypsin (mU/mg protein) trên cá lóc từ 1 đến 35 ngày tuổi 83
Bảng 4.5: Hoạt tính enzyme chymotrypsin (mU/mg protein) trên cá lóc thí nghiệm 85
Trang 7Bảng 4.6: Hoạt tính enzyme α-amylase (mU/mg protein) trên cá lóc giai đoạn 1-35 ngày tuổi 86
Bảng 4.7: Độ tiêu hóa thức ăn ở cá lóc với 3 phương pháp thu phân khác nhau
90
Bảng 4.8 : Khối lượng và tỉ lệ sống của cá trước và sau thí nghiệm 95
Bảng 4.9: Thành phần hóa học của cá lóc trước và sau 28 ngày bỏ đói (tính theo khối lượng tươi của cá) 97 Bảng 4.10: Độ tiêu hóa thức ăn và dưỡng chất của thức ăn thí nghiệm 102 Bảng 4.11: Tỷ lệ sống, tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá lóc ở các mức cho ăn khác nhau 105 Bảng 4.12: Thành phần hóa học của cá lóc khi cho ăn với các mức khác nhau (tính theo khối lượng tươi của cá) 107 Bảng 4.12: Nhu cầu protein và năng lượng của cá lóc dựa trên sự tiêu hóa protein, năng lượng và acid amin trong thức ăn 117 Bảng 4.13: Độ tiêu hóa vật chất khô, protein, lipid và năng lượng của thức ăn 122 Bảng 4.14: Độ tiêu hóa của nguyên liệu protein 124 Bảng 4.15: Độ tiêu hóa vật chất khô, protein, lipid và năng lượng của thức ăn 127 Bảng 4.16: Độ tiêu hóa vật chất khô, protein, lipid và năng lượng của nguyên liệu 129 Bảng 4.17: Thành phần dinh dưỡng trong thức ăn cho cá lóc dựa trên độ tiêu hóa protein, năng lượng, methinine, lysine mức năng lượng 16MJ/kg thức ăn 130 Bảng 4.18: Công thức thức ăn nuôi cá lóc từng giai đoạn 131 Bảng 4.19: Tỉ lệ sống, tăng trưởng và hiệu quả sử dụng của cá lóc sau 5 tháng nuôi với 2 loại thức ăn 132
Trang 8DANH SÁCH HÌNH
Hình 2.1: Hình thái cá lóc (Channa striata) 4
Hình 2.2: Sơ đồ chuyển hóa năng lượng trong cơ thể động vật thủy sản 24
Hình 2.3: Sơ đồ tóm tắt quy trình ứng dụng mô hình tăng trưởng đa nhân tố xác định thành phần thức ăn của cá 32
Hình 2.4: Tương quan giữa tốc độ tăng trường và khối lượng cá 32
Hình 2.5: Nhu cầu duy trì và trao đổi chất cơ sở của cá (NRC, 2011) 34
Hình 3.1: Sơ đồ nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng và xây dựng công thức thức ăn cho cá lóc (Channa striata) 47
Hình 3.1: Hệ thống bể thí nghiệm thu phân (phương pháp thu phân lắng) 54
Hình 3.2: Phương pháp thu phân vuốt 55
Hình 3.3: Phương pháp thu phân mổ (thu phân từ ruột cá) 55
Hình 3.4: Bố trí thí nghiệm 4 57
Hình 3.5: Hệ thống thí nghiệm cho cá ăn các mức khác nhau 61
Hình 4.1: Tăng trưởng về chiều dài và khối lượng của cá lóc từ 1 đến 35 ngày tuổi 72
Hình 4.2: Sự phát triển hình thái của cá lóc (Channa striata) 74
Hình 4.3: Mặt cắt dọc của cá lóc một ngày tuổi (HE, 10x20) 75
Hình 4.4: Mặt cắt dọc khoang miệng của cá lóc ở ngày tuổi thứ 7 (HE, 10x20) 76
Hình 4.5: Mặt cắt dọc của thực quản ở cá lóc 7 ngày tuổi (HE, 10x40) 76
Hình 4.6: Mặt cắt dọc dạ dày cá lóc ngày tuổi thứ 3 (HE, 10x10) 77
Hình 4.7: Mặt cắt dọc dạ dày cá ở ngày thứ 12 (HE, 10x10) 77
Hình 4.8: Mặt cắt dọc dạ dày cá ở ngày thứ 18 (HE, 10x40) 78
Hình 4.9: Mặt cắt dọc dạ dày cá lóc ở ngày tuổi 12 (HE, 10x40) 78
Hình 4.10: Mặt cắt dọc dạ dày cá lóc ở ngày tuổi 30 (HE, 10x40) 79
Hình 4.11: Ruột cá lóc ở giai đoạn 7 ngày tuổi (HE; 10x10) 79
Hình 4.12: Ruột cá lóc ở giai đoạn 3 ngày tuổi (HE; 10x40) 80
Hình 4.13: Mặt cắt ngang của ruột cá lóc ngày thứ 18 (HE, 10x10) 80
Hình 4.14 Khối lượng phân và độ tiêu hóa thức ăn của cá lóc tại các thời điểm khác nhau 89
Hình 4.15: Mối tương quan giữa khối lượng cá và tăng trưởng tuyệt đối của cá lóc 91
Hình 4.16: Mối tương quan giữa thành phần hóa học và khối lượng cá 93
Hình 4.17: Mối tương quan giữa hàm lượng acid amin và khối lượng cá 94
Trang 9Hình 4.18: Tương quan giữa protein tiêu hao và khối lượng cá lóc 99
Hình 4.19: Tương quan giữa năng lượng tiêu hao và khối lượng cá lóc 100
Hình 4.20: Tỷ lệ sống của cá lóc sau 28 ngày thí nghiệm 104
Hình 4.21: Tương quan giữa protein tiêu hoá và protein tăng trưởng của cá lóc
Hình 4.25: Tăng trưởng của cá lóc sau 5 tháng nuôi thử nghiệm với
2 loại thức ăn khác nhau (TA-A và TA-B) 132
Trang 10DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
AB: Chiều dài hàm trên
ADC: Apparent digestibility coefficient (Độ tiêu hóa)
CMC: Carboxylmethyl Cellulose (Chất kết dính)
DAH: Day after hatching (Ngày sau khi nở)
DE: Digestibility Energy (Năng lượng tiêu hoá)
DP: Digestibility Protein (Protein tiêu hoá)
DWG: Daily Weight Gain (Tăng trưởng tuyệt đối trên ngày)
đ: Đồng
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
FAO: Tổ chức nông lương thế giới
FCR: Feed Conversion Ratio (Hệ số thức ăn)
FI: Feed Intake (Lượng thức ăn ăn vào)
LG: Chiều dài ruột
NFE: Nitrogen free extract (Dẫn xuất không đạm)
NT: Nghiệm thức
PER: Protein Efficiency Ratio (Hiệu quả sử dụng protein)
PUFA: Poly Unsaturated Fatty Acids (A-xít béo không no cao phân tử) RGL: Raletive Gut Length (Tương quan chiều dài thân và chiều dài ruột) SGR: Specific Growth Rate (Tăng trưởng tương đối trên ngày)
TĂCB: Thức ăn chế biến
TĂTS: Thức ăn tươi sống
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu
Trong sản xuất thủy sản, thức ăn luôn đóng vai trò rất quan trọng vì chi phí thức ăn chiếm 60-70% chi phí sản xuất Bên cạnh vấn đề chi phí, chất lượng thức ăn còn ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, sức khỏe và môi trường nuôi
Để làm cơ sở cho việc xây dựng công thức thức ăn cho thủy sản, phù hợp với đối tượng nuôi thì việc xác định nhu cầu dinh dưỡng, đặc điểm dinh dưỡng của thức ăn là rất cần thiết
Phương pháp xác định nhu cầu dinh dưỡng của động vật thủy sản thường được thực hiện ở một giai đoạn và chỉ thực hiện nghiên cứu trên một thông số
cụ thể như xác định nhu cầu dinh dưỡng cho tăng trưởng, tỉ lệ sống hoặc sinh sản Nhu cầu dinh dưỡng sẽ được định lượng dựa trên khả năng đáp ứng tối ưu của đối tượng (về tăng trưởng, tỉ lệ sống hoặc sinh sản, ) đối với các khẩu phần ăn có chứa các mức dinh dưỡng khác nhau (Lupatsch, 2003), mối liên hệ
sẽ được xác định bằng các mô hình đường thẳng, đường gẫy khúc (Broken-Line model), phương trình mũ (Exponenal model)… Vì vậy khi muốn xác định nhu cầu dinh dưỡng ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau của đối tượng sẽ mất nhiều thời gian nghiên cứu
Mô hình năng lượng sinh học là mô hình hiệu quả được sử dụng để dự đoán tăng trưởng, tỷ lệ cho ăn, FCR và sản phẩm thải của cá với các thành phần dinh dưỡng của thức ăn và điều kiện nuôi khác nhau (Cho and Bureau, 1998;
Lupatsch and Kissil, 2005; Lupatsch et al., 2001a, 2003; Azevedo et al., 1998)
Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã áp dụng những kỹ thuật, phương pháp nghiên cứu này nhằm tối ưu hóa thức ăn cho động vật thủy sản Hiện nay, ứng dụng mô hình năng lượng sinh học để xác định nhu cầu dinh dưỡng của loài cá đã được sử dụng phổ biến (NRC, 2011) Một số loài cá đã được các tác giả áp dụng mô hình này trong việc xác định nhu cầu dinh dưỡng như cá tráp
(Sparus aurata), cá vược Châu Âu (Dicentrarchus labrax) và cá mú trắng (Epinephelus aeneus) (Lupatsch et al., 2003; Lupatsch et al., 2010); cá cam (Seriola lalandi) (Mark et al., 2010); cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) (Glencross et al., 2010) và cá rô phi (Oreochromis niloticus) (Trung et al., 2011), cá kèo (Pseudapocryptes elongatus) (Trần Thị Bé, 2016) Mô hình năng
lượng sinh học với ưu điểm là xác định nhu cầu dinh dưỡng của cá trong suốt chu kỳ nuôi thương phẩm, giúp tiết kiệm được thời gian và chi phí nghiên cứu Đặc biệt phương pháp này xác định nhu cầu dựa trên độ tiêu hóa các dưỡng chất trong thức ăn Ưu điểm của phương pháp này đã được ứng dụng để xác định
Trang 12nhu cầu dinh dưỡng cho một số loài cá có giá trị kinh tế trên thế giới nói chung
và Việt Nam nói riêng
Cá lóc (Channa striata) là đối tượng nuôi phổ biến ở Đồng bằng sông Cửu
Long (ĐBSCL) bởi chất lượng thịt ngon và giá cả hợp lý Mô hình nuôi cá lóc
đa dạng như nuôi ao, nuôi lồng, nuôi vèo, nuôi trong bể lót bạt (Lê Xuân Sinh
và Đỗ Minh Chung, 2010) Số liệu thống kê năm 2017 từ Chi cục Thủy sản của
5 tỉnh nuôi cá lóc chủ yếu ở ĐBSCL gồm An Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Vĩnh Long và Cần Thơ cho thấy diện tích chủ yếu nuôi trong ao đất và sản lượng
cá lóc nuôi tăng mạnh trong thập niên 2006-2016 từ 132,2 ha tăng lên 552,9 ha
và từ 15,9 ngàn tấn tăng lên 85,6 ngàn tấn, điều này dẫn đến nhu cầu về sản lượng thức ăn công nghiệp cho cá lóc tăng theo từ 22,3 ngàn tấn tăng lên 119,9 ngàn tấn trong cùng thời gian Chi phí thức ăn cũng chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng cơ cấu chi phí nuôi cá lóc, lên tới 88,4% năm 2015 (Ngô Thị Minh Thúy
và Trương Đông Lộc (2015), trên 81% ở mô hình nuôi cá lóc trong ao đất
(Huỳnh Văn Hiền và ctv, 2018)
Cá lóc là loài cá dữ, ăn động vật nên các nghiên cứu về sử dụng thức ăn chế biến trong nuôi cá lóc cũng được quan tâm nhằm tìm ra loại thức ăn chế biến phù hợp với đặc tính của loài, mang lại hiệu quả cao, chủ động được mùa
vụ và giảm ô nhiễm môi trường Một vài nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của
cá lóc đã được thực hiện, chủ yếu trên giai đoạn cá bột và cá giống như nghiên cứu về nhu cầu protein, lipid của Mohanty and Samantaray (1996, 1997); tỉ lệ
protein/lipid (Aliyu-Paiko et al.,2010) hay khả năng sử dụng một nguồn protein thực vật thay thế cho bột cá (Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 2014) Tuy nhiên các
nghiên cứu còn ít và chưa hoàn chỉnh nhu cầu dinh dưỡng cho một chu kỳ nuôi,
vì vậy việc áp dụng áp dụng mô hình hóa để xác định nhu cầu dinh dưỡng cho
cá lóc làm cơ sở xây dựng công thức thức ăn phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của cá lóc là cần thiết, góp phần hoàn thiện quy trình nuôi đối tượng này
Xuất phát từ tình hình thực tế trên “Ứng dụng mô hình hóa xác định nhu cầu
năng lượng và protein để phát triển thức ăn cho cá lóc (Channa striata)”
được thực hiện
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định nhu cầu dinh dưỡng (năng lượng, protein, acid amin) của cá lóc
(Channa striata) và khả năng tiêu hóa một số nguồn nguyện liệu phổ biến nhằm
làm cơ sở xây dựng công thức thức ăn cho các giai đoạn nuôi cá lóc thương phẩm
Trang 131.3 Nội dung nghiên cứu
1) Nghiên cứu đặc điểm phát triển ống tiêu hóa của cá lóc giai đoạn bột đến
35 ngày tuổi khi sử dụng thức ăn chế biến
2) Xác định thời điểm thu phân và phương pháp thu phân thích hợp để xác định độ tiêu hóa thức ăn của cá lóc
3) Ứng dụng mô hình năng lượng sinh học xác định nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc bao gồm nhu cầu protein, năng lượng; methionine, lysine 4) Đánh giá khả năng tiêu hóa một số nguồn nguyên liệu phổ biến làm thức
ăn cho cá
5) Xây dựng công thức thức ăn nuôi cá lóc thương phẩm dựa trên kết quả nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cho từng giai đoạn
6) Nuôi thử nghiệm nhằm đánh giá hiệu quả của thức ăn nghiên cứu
1.4 Ý nghĩa của nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu cung cấp dẫn liệu khoa học về đặc điểm phát triển ống tiêu hóa, phương pháp xác định độ tiêu hóa, khả năng tiêu hóa một số nguồn nguyên liệu phổ biến cung cấp protein và carbohydrate Cung cấp dẫn liệu khoa học về nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc bao gồm nhu cầu protein và năng lượng, hiệu quả sử dụng thức ăn, từ đó xây dựng được nhu cầu dinh dưỡng cho các giai đoạn nuôi cá lóc Kết quả nghiên cứu chính là cơ sở cần thiết cho các nhà sản xuất lựa chọn nguồn nguyên liệu phù hợp để phát triển công thức thức ăn cho
cá lóc hiệu quả Người nuôi lựa chọn thức ăn phù hợp với các mức năng lượng, protein và xác định tỷ lệ cho ăn hợp lý trong từng giai đoạn nuôi cá lóc thương phẩm
1.5 Điểm mới của luận án
Xác định được sự biến đổi về enzyme tiêu hóa khi cá chuyển từ thức ăn tươi sống sang thức ăn chế biến cho thấy khả năng sử dụng thức ăn chế biến của
cá lóc
Xác định được thời điểm thu phân và phương pháp thu phân thích hợp, làm cơ sở cho việc xác định độ tiêu hóa thức ăn và nguyên liệu đối với cá lóc Ứng dụng mô hình năng lượng sinh học để xác định nhu cầu năng lượng, protein và acid amin cho từng giai đoạn phát triển của cá lóc
Phát triển công thức thức ăn phù hợp để nuôi cá lóc thương phẩm cho từng giai đoạn khác nhau
Trang 14CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Đặc điểm sinh học của cá lóc
2.1.1 Phân loại
Kết quả nghiên cứu hình thái học hiện nay đã công bố có 30 loài cá lóc họ
Channidae, bao gồm 2 giống Channa và Parachanna, phân bố chủ yếu ở Châu
Á (27 loài) và Châu Phi (3 loài) (http://fishbase.org) Trong đó cá lóc (Channa striata) được phân loại như sau:
Lớp: Osteichthyes
Bộ: Perciformes
Họ: Channidae
Giống: Channa
Loài: Channa striata (Block 1973)
Hình 2.1: Hình thái cá lóc (Channa striata)
có thể chịu đựng được ở nhiệt độ trên 30oC Cá thích ở nơi có rong đuôi chó, cỏ, đám bèo, vì ở nơi đây cá dễ ẩn mình rình mồi Vào mùa hè cá thường hoạt động
và bắt mồi ở tầng nước mặt Mùa đông cá hoạt động ở tầng nước sâu hơn (Dương Nhựt Long, 2004)
Trang 152.1.3 Đặc điểm sinh trưởng
Cá lóc có tốc độ sinh trưởng tương đối cao, giai đoạn còn nhỏ cá tăng chủ yếu về chiều dài Cá lóc càng lớn sự tăng trọng lượng càng nhanh Trong tự nhiên sức lớn của cá phụ thuộc vào thức ăn có sẵn trong thủy vực, do vậy tỉ lệ sống của cá trong tự nhiên khá thấp Trong điều kiện nuôi có thức ăn và chăm sóc tốt cá lóc có thể lớn từ 0,8-1 kg/con sau 5-6 tháng nuôi, đạt tỉ lệ sống cao và
ổn định Khi nhiệt độ trên 20oC cá lóc sinh trưởng nhanh, dưới 15oC cá lóc sinh trưởng chậm (Dương Nhựt Long, 2004)
2.1.4 Đặc điểm sinh sản
Cá lóc 1-2 tuổi bắt đầu đẻ trứng, mùa vụ sinh sản từ tháng 4-8, tập trung vào tháng 4-5 Cá thường đẻ vào lúc sáng sớm sau những trận mưa rào một hai ngày nơi yên tĩnh có nhiều thực vật thủy sinh Ở nhiệt độ 25-35oC sau 3 ngày trứng nở thành cá bột, khoảng 3 ngày sau cá tiêu hết noãn hoàng và bắt đầu ăn được thức ăn tự nhiên bên ngoài (Dương Nhựt Long, 2004)
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá lóc là loài cá dữ, thân tròn dài Lược mang dạng hình núm Thực quản ngắn, vách dầy, bên trong thực quản có nhiều nếp nhăn Dạ dày to hình chữ
Y Đ â y là loài cá dữ, ăn động vật điển hình Quan sát ống tiêu hóa của cá
l ó c cho thấy cá chiếm 63,01%, tép 35,94%, ếch nhái 1,03% và 0,02% là bọ gạo, côn trùng và mùn bã hữu cơ (Dương Nhựt Long, 2004) Theo các nghiên cứu trước đây, cá lóc có sự lựa chọn thức ăn khác nhau ở từng giai đoạn phát triển, thức ăn của cá thay đổi khi kích cỡ cá tăng Cá mới nở còn sử dụng dinh dưỡng từ khối noãn hoàng Từ ngày thứ 4-5, khi noãn hoàng hết, cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài Lúc này cá bột ăn được các loài động vật phù du vừa cỡ miệng chúng như luân trùng, trứng nước Khi cá dài cỡ 5-6 cm chúng đã có thể rượt bắt các loài tép và cá có kích cỡ nhỏ hơn chúng Khi cơ thể đạt chiều dài trên 10 cm, cá đã có tập tính ăn như cá trưởng thành (Phạm Văn Khánh, 2003) Theo Qin and Fast (1997), cá bột cá lóc có chiều dài 6-7 mm, độ mở của miệng
là 0,55 mm sẽ chọn thức ăn là ấu trùng Artermia và không ăn TĂCB, khi cá đạt
chiều dài 15-20 mm thì nhóm giáp xác râu ngành và giáp xác chân chèo chiếm 96% lượng thức ăn Cá dài 30-40 mm thức ăn là động vật nổi giảm đáng kể và tăng thức ăn là động vật đáy Cá có thể sử dụng TĂCB khi chiều dài thân 12 mm
và cỡ miệng rộng đến 1 mm
Ở cá lóc, tập tính ăn lẫn nhau là khá phổ biến trong quá trình ương nuôi, đây chính là một trong nhiều nguyên nhân làm giảm tỷ lệ sống trong nuôi cá lóc Sự khác biệt về kích thước cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng ăn nhau, càng khác nhau về kích cỡ thì tỉ lệ ăn nhau càng tăng
Trang 16(Hecht and Pienaar, 1993; Quin and Fast, 1996, 1997) Cá lóc có tỉ lệ ăn nhau là 100% khi tỉ lệ chiều dài của cá nhỏ so với cá lớn là 0,35, tỉ lệ ăn nhau sẽ giảm tới 43% khi tỉ lệ chiều dài của cá nhỏ so với cá lớn tăng đến 0,64 Việc cho ăn cũng làm giảm sự ăn lẫn nhau, nếu không cho ăn thì cá lóc ăn nhau là 83% nhưng sẽ giảm đến 43% khi cho ăn với tỉ lệ 15% khối lượng thân, có thể giảm bớt ăn lẫn nhau bằng nhiều cách như phân cỡ và cho ăn theo nhu cầu (Quin and Fast, 1996)
2.2 Nghiên cứu sử dụng thức ăn chế biến nuôi cá lóc
Cá lóc là loài ăn động vật nên các nghiên cứu về sử dụng TĂCB trong nuôi
cá lóc cũng được quan tâm nhằm tìm ra loại TĂCB phù hợp với đặc tính của loài, mang lại hiệu quả cao, chủ động được mùa vụ và giảm ô nhiễm môi trường Việc cho cá lóc sử dụng TĂCB ngay từ giai đoạn bột cũng đã được nhiều tác giả nghiên cứu Tuy nhiên, theo một số tác giả, trong những ngày đầu ăn ngoài,
cá bột không có đủ men để tiêu hoá TĂCB nên các men bên ngoài được cung cấp từ thức ăn tự nhiên là cần thiết để giúp cho quá trình tiêu hoá ở giai đoạn này được dễ dàng hơn bởi vì TĂCB không chứa hệ men tự phân huỷ nên rất
khó được tiêu hoá (Munilla-Marán et al., 1990, Walford and Lam, 1993) Cá
lóc bột cho ăn hoàn toàn bằng TĂCB trong những ngày đầu ăn ngoài đã chết
100% sau khoảng 2 tuần thí nghiệm (Quin et al., 1997 ; Bui et al., 2004) Do
vậy, trong quá trình chuyển đổi từ thức ăn tự nhiên sang TĂCB, một vài nghiên cứu cho thấy khi sử dụng kết hợp TĂCB với thức ăn tự nhiên với mức độ thay thế dần dần thì hiệu quả sẽ tốt hơn là thay thế hoàn toàn bằng TĂCB ngay từ ban đầu Sinh trưởng và tỉ lệ sống của cá cũng được cải thiện hơn khi kết hợp 2
loại thức ăn này so với chỉ sử dụng TĂCB Qin et al (1997) thử nghiệm trên cá lóc bột (0,2 g) cho thấy việc sử dụng kết hợp TĂCB và Artermia sống cho tỉ lệ
sống cao nhất (82%) Nhóm tác giả này cũng chứng minh rằng có thể tập cho
cá ăn TĂCB theo phương pháp sau: (i) Cho cá ăn ấu trùng Artermia có bổ sung TĂCB trong 30 ngày, sau đó loại bỏ dần ấu trùng Artermia trong giai đoạn 7-
10 ngày; (ii) Chỉ cho cá ăn ấu trùng Artermia sống trong 30 ngày, 7-10 ngày tiếp theo cho ăn kết hợp giữa Artermia sống với TĂCB và sau cùng chuyển hoàn toàn sang TĂCB Trên cùng đối tượng cá lóc (Channa striata) bột, nghiên
cứu phương thức thay thế TĂCB trong ương cá lóc với các thời điểm tập ăn TĂCB khác nhau là 10, 17 và 24 ngày tuổi và phương thức tập ăn khác nhau (thay thế thức ăn tươi sống bằng TĂCB với tỉ lệ TĂCB tăng dần 10% hoặc 20% TĂCB/ngày), kết quả cho thấy tỉ lệ sống và tăng trưởng của cá đạt tốt nhất khi tập ăn ở 17 ngày tuổi với phương thức thay thế 10% TĂCB/ngày (Trần Thị
Thanh Hiền và ctv., 2011b) Tương tự ở cá lóc bông (Channa micropeltes), thức
ăn tươi sống cũng không thể thiếu ở những ngày đầu ăn ngoài và cá bột có thể
Trang 17sử dụng hoàn toàn TĂCB ở thời điểm 7 ngày tuổi, bên cạnh đó ở giai đoạn cá hương TĂCB cũng cho tăng trưởng và tỉ lệ sống cao hơn so với các loại thức
ăn khác, đồng thời có hệ số thức ăn thấp nhất (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2004) Với đặc tính ăn của loài, TĂCB cho cá lóc có nhu cầu protein cao Theo nghiên cứu của Hashim (1994) trên cá lóc bột cho thấy tăng trưởng của cá lóc bột (0,58-0,95g) bị ảnh hưởng bởi hàm lượng protein trong thức ăn Thử nghiệm trên cá lóc bột cho ăn TĂCB có hàm lượng protein khác nhau (350-600 g protein/kg ), kết quả cho thấy cá tăng trưởng tốt nhất và hiệu quả sử dụng thức
ăn cao nhất ở thức ăn có hàm lượng protein 55% (nguồn protein là bột cá)
(Mohanty and Samantaray, 1996) Nghiên cứu tương tự của Long et al (2004)
với TĂCB có các mức protein khác nhau (30%, 40% và 50%) trên cá lóc bột từ 1,13 g-1,8 g, kết quả cho thấy cá tăng trưởng tối ưu ở thức ăn có 50% protein sau 45 ngày nuôi Trên cá lóc giống, thử nghiệm trên các mức protein (35%, 40%, 45% và 50%) và mức năng lượng khác nhau đã cho thấy nhu cầu protein tối ưu là 40%, với tỉ lệ P/E là 90,9 mg protein/kcal cho tăng trưởng tốt nhất, ngoài ra hiệu quả sử dụng protein của cá tăng khi mức năng lượng trong thức
ăn tăng từ 400-480 Kcal/100 g ở tất cả các mức protein (Mohanty and Samantaray, 1997) Đồng nghiên cứu về nhu cầu protein của cá lóc giống, Trieu
et al (2001) thử nghiệm trên 3 mức protein 30%, 40% và 50% đã kết luận thức
ăn chứa 50% protein cho tăng trưởng và tỉ lệ sống cao nhất Cũng trên đối tượng này, Qin and Fast (1996) đã cho cá giống ăn TĂCB (50% protein) ở nhiệt độ 24±1oC với 6 khẩu phần ăn hàng ngày là 0%, 5%, 10%, 15%, 20% và 30% trọng lượng cơ thể cá Sau 29 ngày ương, kết quả nghiên cứu cho rằng khẩu phần ăn 5% trọng lượng thân cho hiệu quả nhất với FCR 0,99 Quin and Fast (1998) tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, mật độ và kích cỡ lên tăng trưởng của
cá lóc giống khi sử dụng TĂCB có hàm lượng 47% protein, 16% lipid và khẩu phần ăn là 5%/trọng lượng thân, kết quả cho thấy với cá có chiều dài lần lượt là 22,9 g và 13,9 cm tăng trưởng tốt ở nhiệt độ 27oC với tỷ lệ sống hơn 80% Như vậy với cùng kích cỡ như nhau thì nhiệt độ cao sẽ làm cá chấp nhận TĂCB nhanh hơn vì cá bắt mồi ở nhiệt độ cao tốt hơn ở nhiệt độ thấp
Với nhu cầu lipid, cá lóc giống có thể sử dụng tốt thức ăn với lượng lipid 13% mà không ảnh hưởng đến tăng trưởng (Mohanty and Samantaray, 1997) Đối với cá lóc bột, thử nghiệm trên 3 mức protein (350, 400 và 450 g/kg) và 3 mức lipid (65, 90 và 115 g/kg) kết quả cho thấy cá có tỉ lệ sống cao ở nhóm thức
ăn có mức lipid 65 g/kg và với tỉ lệ lipid/protein là 65/450 g/kg cho tỉ lệ sống
và tăng trưởng tốt nhất, tuy nhiên hàm lượng lipid trong thức ăn lại không ảnh
hưởng đến hàm lượng lipid trong cơ thể cá (Aliyu-Paiko et al., 2010) Với nhu
cầu carbohydrate, tùy theo loài mà có khả năng sử dụng carbohydrate khác nhau,
Trang 18nhóm cá ăn thực vật có enzyme tiêu hóa carbohydrate mạnh hơn so với cá ăn động vật (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009) Thử nghiệm trên
cá lóc giống với các mức carbohydrate khác nhau (8%, 12%, 17%, 21%, 25%, 30% và 34%) kết quả cho thấy thức ăn có hàm lượng 12% cho tăng trưởng tối
ưu, tuy nhiên tăng trưởng của cá sẽ giảm cùng với sự gia tăng hàm lượng
carbohydrate trong khẩu phần (Arockiaraj et al., 1999) Nghiên cứu về khả năng
sử dụng protein đậu nành ly trích dầu của cá lóc cho thấy với thức ăn cùng mức protein (45%) và năng lượng (4,2 Kcal/g), protein đậu nành ly trích dầu có thể thay thế protein bột cá ở mức 30% không có bổ sung phytase và 40% có bổ sung phytase trong thức ăn (Trần Thị Bé và Trần Thị Thanh Hiền, 2010)
Với các kết quả nghiên cứu trên cho thấy cá lóc tuy là loài ăn động vật nhưng vẫn có thể sử dụng tốt TĂCB nếu như ở giai đoạn tập ăn TĂCB được cho ăn kết hợp thức ăn tự nhiên (với phương thức tăng dần tỉ lệ TĂCB trong khẩu phần ăn) ở giai đoạn trước khi sử dụng hoàn toàn TĂCB Bên cạnh đó, TĂCB cho cá lóc cần có hàm lượng protein chất lượng cao để có thể đảm bảo sinh trưởng tốt nhất
2.3 Tình hình nuôi cá lóc thương phẩm ở Đồng bằng sông Cửu Long
Các mô hình nuôi cá lóc ở ĐBSCL phổ biến gồm nuôi trong ao đất, nuôi
bể bạt, nuôi vèo trong ao, vèo trên sông và nuôi cá lóc trong bè (Lê Xuân Sinh
và Đỗ Minh Chung, 2010) Theo Đỗ Minh Chung và Lê Xuân Sinh (2011) thì qui mô diện tích bình quân các ao nuôi ở ĐBSCL là 993,8-1.514,5 m2/hộ Trong
đó, mỗi hộ có từ 1-6 ao/hộ, những hộ có số lượng 1 ao/hộ là phổ biến nhất (68,7% số hộ) và thả nuôi phổ biến là 2 vụ/năm (52,2% số hộ) Mật độ cá giống thả nuôi bình quân là 21,4-69,9 con/m2 Đối với những hộ nuôi cá lóc bằng thức
ăn viên thả nuôi với mật độ khá cao hơn so với mật độ bình quân chung (91,5 con/m2) của mô hình nuôi cá lóc trong ao sử dụng thức ăn cá tạp (Huỳnh Văn
Hiền và ctv., 2012) Hệ số FCR sử dụng thức ăn viên bình quân là 1,32-1,33, trong khi đó sử dụng cá tạp thì hệ số FCR là 3,9-4,2 (Huỳnh Văn Hiền và ctv.,
2012) Trong năm 2012 thì có 53-65% số hộ sử dụng cá tạp để cho ăn bổ sung trong giai đoạn tập ăn trước khi chuyển sang hoàn toàn bằng thức ăn viên (tháng nuôi đầu tiên) Nhưng đến năm 2014 thì có 99% số hộ nuôi cá lóc trong ao tại
An Giang và Trà Vinh sử dụng thức ăn viên để nuôi cá lóc (Trần Hoàng Tuân
và ctv., 2014) Năng suất cá nuôi cá lóc trong ao đất bình quân là 161-193
tấn/ha/vụ, với kích cỡ thu hoạch bình quân 0,52-0,7 kg/con (Ngô Thị Minh Thúy
và Lê Xuân Sinh, 2015) Số liệu điều tra năm 2014 cho thấy chi phí nuôi cá lóc
là 5.716 triệu đồng/ha/vụ Trong đó, chi phí biến đổi chiếm tỷ trọng ngày càng cao (từ 96,5 đến 99% trong tổng chi phí), trong đó thức ăn cho cá lóc chiếm từ
88 đến 95% do giá cá tạp và thức ăn viên ngày càng tăng cao (Ngô Thị Minh
Trang 19Thúy và Trương Đông Lộc, 2015) Kết quả nghiên cứu của Huỳnh Văn Hiền và ctv., 2018 cho thấy trong tổng chi phí nuôi cá lóc thì chi phí thức ăn là quan
trọng và chiếm tỷ lệ cao nhất từ 78,4 đến 81,5% tùy theo qui mô Chi phí con giống chiếm tỉ trọng thứ hai 3,7- 4,2%, các khoản chi phí khác khoảng 5%, thuốc và hóa chất để phòng, trị bệnh và xử lý nước ao nuôi có tỉ lệ khá thấp 2,3% - 3,6% Trong tổng chi phí nuôi cá lóc thì chi phí khấu hao chiếm tỷ lệ từ 4,9-5,3% Ngoài ra, một số khoản chi phí như cải tạo ao và nhiên liệu chiếm tỷ
lệ khá thấp ở cả ba quy mô nuôi Từ đó cho thấy chi phí thức ăn chiếm tỉ lệ cao,
là khoản chi phí quan trọng ảnh hưởng tới giá thành nuôi cá lóc trong ao ở ĐBSCL Giá thành 26,8 ngàn đồng/kg, lợi nhuận thu được khá cao 3,696 tỷ
đồng/ha/vụ và có 81,4% hộ có lời (Hap et al., 2016)
Số liệu thống kê năm 2017 từ Chi cục Thủy sản của 5 tỉnh nuôi cá lóc chủ yếu ở ĐBSCL gồm An Giang, Đồng Tháp, Trà Vinh, Vĩnh Long và Cần Thơ cho thấy diện tích chủ yếu nuôi trong ao đất và sản lượng cá lóc nuôi tăng mạnh trong thập niên 2006-2016 từ 132,2 ha tăng lên 552,9 ha và từ 15,9 ngàn tấn tăng lên 85,6 ngàn tấn dẫn đến nhu cầu về sản lượng thức ăn công nghiệp cho
cá lóc tăng theo từ 22,3 ngàn tấn tăng lên 119,9 ngàn tấn trong cùng thời gian Kết quả này cho thấy sản lượng cá lóc trong những năm gần đây tăng nhanh Tuy nhiên tùy vào từng vụ mà người nuôi thu được lợi nhuận cao hoặc bị thua
lỗ, nguyên nhân là do giá cả thị trường hoặc kỹ thuật nuôi chưa tốt nên chi phí sản xuất cao Việc sử dụng thức ăn cá tạp hoặc thức ăn chưa đáp ứng nhu cầu
cũng ảnh hưởng đến hiệu quả của người nuôi (Huỳnh Văn Hiền và ctv., 2018)
2.4 Sự phát triển ống tiêu hóa của cá
Nghiên cứu về hệ thống tiêu hóa bằng phương pháp mô học được nhiều
tác giả quan tâm nghiên cứu như trên cá trê phi (Clarias gariepinus) (Verreth et al., 1992), cá bống tượng (Oxyeleotris marmoratus) (Phạm Thanh Liêm và ctv.,
2002), các nghiên cứu đều cho thấy cá bột sau khi nở có hệ thống tiêu hóa rất đơn giản, chỉ là một ống thẳng chưa phân hóa thành các phần khác nhau
Ở giai đoạn bắt đầu sử dụng thức ăn ngoài, cá bột của các loài cá xương
có ống tiêu hóa dạng thẳng hay dạng xoắn và có sự thay đổi nhanh chóng về hình thái giống với cấu trúc tiêu hóa của cá trưởng thành (đối với các loài không
có dạ dày) (Verreth et al., 1992) Nghiên cứu mô học về hệ thống tiêu hoá của
cá vược măng (Sander lucioperca) cho thấy sau khi ăn thức ăn ngoài thì ống
tiêu hóa có sự thay đổi như tăng tiết chất dịch, phân chia thành các vùng khác nhau, sau đó răng phát triển, dạ dày và manh tràng phát triển, ruột dài ra và cuộn lại (Stroband and Dabrowski, 1979) Trên một nghiên cứu khác, cá vược măng giống có thể tổng hợp và vận chuyển chất béo ở 12 ngày tuổi và thức ăn chế
Trang 20biến chất lượng cao có thể được cá chấp nhận ở thời điểm này (Ostaszewska et al., 2005) Một nghiên cứu khác lại chứng minh cá vược măng sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến ở 19 ngày tuổi (Kestemont et al., 2007)
Đối với cá da trơn Châu Âu (Silurus glanis) ống tiêu hóa bắt đầu phân biệt
khi cá từ 3 đến 5 ngày tuổi sau khi nở, noãn hoàng vẫn còn cho đến khi cá ở ngày tuổi thứ 5, đồng thời là sự xuất hiện của thực quản, ống tiêu hóa của cá
hoàn chỉnh ở ngày tuổi thứ 11 sau khi nở (Kozarić et al., 2008) Ở cá bơn, cá
bột ngày thứ 3 sau khi nở có ống tiêu hóa là đường thẳng, trong thời gian từ
3-7 ngày sau khi nở, hệ thống tiêu hóa phân biệt được 5 phần: miệng, xoang miệng, thực quản, dạ dày và ruột, đến ngày thứ 10 trực tràng có thể được nhận
ra từ ruột (Baglole et al., 1997) Mai et al., (2005) nghiên cứu sự phát triển ống tiêu hóa của cá lù đù vàng (Pseudoscianea crocea) cho thấy cá bắt đầu ăn thức
ăn ngoài ở ngày tuổi thứ 3, ống tiêu hóa của cá bao gồm hầu, thực quản và ruột chia làm 3 phần (ruột trước, ruột giữa và ruột sau) Cá sử dụng hỗn hợp thức ăn ngoài và noãn hoàng cho đến ngày thứ 6 sau khi nở, khi hết noãn hoàng, sự chuyển biến hình thái quan trọng xảy ra ở cuối giai đoạn bột chính là sự biến thái của cá Các tuyến dịch vị xuất hiện đầu tiên ở cá 21 ngày tuổi, dạ dày chia làm 3 phần (tâm vị, hạ vị và môn vị), đây cũng là thời điểm hệ tiêu hóa của cá phát triển hoàn chỉnh (giống với hệ tiêu hóa của cá trưởng thành)
Kết quả phân tích mô học của ruột cá thát lát còm (Chitala chitala) giai
đoạn bột cho thấy ở ngày tuổi thứ 3 sau khi nở, ống tiêu hóa bắt đầu phân hóa thành: khoang miệng, thực quản và ruột, đến ngày thứ 5 ống tiêu hóa được thành
4 phần: khoang miệng, thực quản, phần dạ dày và ruột Giai đoạn này, dạ dày của cá giống như một phần kéo về phía sau và phình to ra của thực quản, tuy nhiên dạ dày chỉ phát triển hoàn chỉnh chức năng cùng với sự xuất hiện của các tuyến dạ dày vào ngày thứ 8 sau khi nở chứng tỏ ở giai đoạn này dạ dày cá mới bắt đầu phát triển hoàn chỉnh về chức năng tiêu hoá thức ăn (Trần Thị Thanh
Hiền và ctv., 2007) Tuy nhiên đến ngày tuổi thứ 20 mới là thời điểm cá thát lát
còm sử dụng hiệu quả thức ăn chế biến (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Hương Thùy, 2008)
Nghiên cứu về mô học của hệ tiêu hóa trên cá tráp bột (Sparus aurata) (Sarasquete et al., 1994) cho thấy khi cho cá ăn thức ăn ngoài thì ống tiêu hóa
đã có sự phân chia làm 3 phần: phần trước bao gồm thực quản và một phần dạ dày nguyên thủy, phần giữa và phần cuối Trong giai đoạn này chức năng của
hệ tiêu hóa đã có, mặc dù dạ dày chưa phát triển hoàn thiện Glycogen và những hạt nhỏ zymogen được dự trữ ở gan và tuyến tụy theo thứ tự vào ngày thứ 4 và
thứ 6 sau khi nở Nghiên cứu trên cá tầm trắng (Acipenser transmontatus) trong
giai đoạn 11-36 ngày tuổi cho thấy là loài có khối noãn hoàng khá lớn, nó bắt
Trang 21đầu sử dụng thức ăn ngoài từ ngày thứ 12, cá được cho ăn thức ăn công nghiệp trong vòng 24 ngày, kết quả nghiên cứu cho thấy có sự gia tăng rõ rệt của phosphatase, aminopeptidase M, dipeptidyl dipeptidase IV và γ – glutamyl transpeptidase ở vùng lông hút của nếp gấp ruột Chức năng của môn vị xuất hiện ở ngày thứ 4 và xảy ra đồng thời với sự gia tăng hoạt động của vùng lông
hút và enzyme trao đổi chất (Gawlicka et al., 1995)
Nghiên cứu ở cá bột Solea senegalesis (Ribeiro et al., 1999) đã chỉ ra rằng
sự phát triển của hệ tiêu hóa có sự khác nhau xảy ra trong giai đoạn sớm Ở giai đoạn bắt đầu ăn (2 ngày sau khi nở) cả miệng và hậu môn đã mở và hệ tiêu hóa
có sự phân chia thành từng phần khác nhau: khoang miệng – hầu, thực quản, dạ dày, phần trước và phần sau của ruột, tuyến tụy và gan cũng có sự khác biệt ở giai đoạn này Tuyến dạ dày cũng được quan sát trong vòng 27 ngày sau khi nở Cahu and Infante (2001) khi nghiên cứu về sự phát triển của ống tiêu hóa
ở 3 loài cá: Cá chẽm, cá bơn, cá trống đỏ cho rằng sự phát triển dạ dày sớm hay muộn tùy thuộc vào loài Về phương diện giải phẫu học sự phân chia giữa thực quản và dạ dày có thể quan sát được ở ngày thứ 7 ở cá chẽm bột, sự xuất hiện của tuyến dạ dày về mặt mô học được quan sát ở ngày thứ 25 Trong khi đó ở
cá bơn, dạ dày có thể phân biệt được ở ngày thứ 10 sau khi nở, vào ngày thứ 22 tuyến dạ dày đầu tiên được quan sát Về tuyến tụy ngoại tiết, ở cá chẽm bột có
sự khác biệt của tế bào ngoại tiết và sự xuất hiện của ống bài tiết được tìm thấy
ở ngày thứ 3 trước khi cá mở miệng
Nghiên cứu về sự phát triển của ống tiêu hóa ở cá Paralabrax maculatofasciatus (Pẽna et al., 2002) thực hiện trong 30 ngày từ sau khi cá nở với các loại thức ăn: Brachionus plicatilis từ ngày thứ 2 đến ngày 13, ấu trùng Artemia ngày 12 đến 17, Artemia trưởng thành từ ngày 14 đến ngày 26 và thức
ăn nhân tạo từ ngày thứ 20 trở đi Khối noãn hoàng được duy trì từ sau khi nở cho đến ngày thứ 2, vào ngày thứ 5 ống tiêu hóa đã đầy đủ các bộ phận khác nhau: thực quản, dạ dày, ruột trước, ruột sau và trực tràng Tuyến dạ dày và môn
vị xuất hiện ở ngày thứ 16
Trên cá bống tượng (Oxyeleotris marmoratus), khoang miệng bao gồm
một lớp mỏng biểu mô phân tầng mà sau này bao gồm các tế bào niêm mạc và chồi vị giác xuất hiện vào ngày thứ 3 sau khi cá nở và thực quản xuất hiện ở ngày tuổi thứ 2, các lớp biểu mô và thực quản bắt đầu gấp nếp ở ngày tuổi thứ
3 Từ ngày 10-15 chỉ xác định được khối cơ tròn trong dạ dày, tuy nhiên đến ngày thứ 30 sau khi nở thì xuất hiện hai lớp cơ dọc Ruột cá bắt đầu phát triển
từ ngày tuổi thứ 1, lớp biểu mô ruột bắt đầu gấp nếp ở ngày tuổi thứ 2 và độ dày của lớp biểu mô gia tăng cùng với tuổi của cá, thể vùi protein xuất hiện ở trực
Trang 22tràng vào ngày tuổi thứ 5, trong khi đó không bào lipid xuất hiện ở ngày tuổi thứ 7 (Phạm Thanh Liêm, 2002)
Trong khi đó, Khojasteh et al (2009) khi nghiên cứu trên cá hồi vân (Oncorhynchus mykiss) đã chỉ ra rằng thành ruột ở loài cá này gồm có lớp màng
nhầy, lớp dưới màng nhầy, lớp cơ, lớp màng huyết thanh Trên lớp màng nhầy của ruột có nhiều lông hút và biểu mô hình cột đơn giản kết hợp với các tế bào hình cốc và các tế bào lympho ở bên trong Tế bào bạch cầu được quan sát dọc theo ruột Phân tích mô học cũng chỉ ra rằng các tế bào hình cốc có chứa lớp nhầy acid và trung tính
2.5 Enzyme và sự phát triển enzyme
2.5.1 Enzyme
Enzyme là chất xúc tác sinh học có thành phần cơ bản là protein Chúng
là các protein xúc tác các phản ứng hóa học Trong các phản ứng này, các phân
tử lúc bắt đầu của quá trình được gọi là cơ chất (substrate), enzyme sẽ biến đổi chúng thành các phân tử khác nhau Tất cả các quá trình trong tế bào đều cần enzyme Enzyme có tính chọn lọc rất cao đối với cơ chất của nó Hầu hết phản ứng được xúc tác bởi enzyme đều có tốc độ cao hơn nhiều so với khi không được xúc tác Có trên 4000 phản ứng sinh hóa được xúc tác bởi enzyme (Nguyễn Văn Mùi, 2012) Enzyme có bản chất là protein nên có tất cả thuộc tính lý hóa của protein Đa số enzyme có dạng hình cầu và không đi qua màng bán thấm do
có kích thước lớn, tan trong nước và các dung môi hữu cơ phân cực khác, không tan trong eter và các dung môi không phân cực Không bền dưới tác dụng của nhiệt độ, nhiệt độ cao thì enzyme bị biến tính Môt trường axít hay bazơ cũng làm enzyme mất khả năng hoạt động Enzyme có tính lưỡng tính: tùy pH của môi trường mà tồn tại ở các dạng: cation, anion hay trung hòa điện Enzyme chia làm hai nhóm: enzyme một cấu tử (chỉ chứa protein) như pepsin, amylase
và các enzyme hai cấu tử (trong phân tử còn có nhóm không phải protein) Các
cơ chất kết hợp với trung tâm hoạt động tạo phức hợp enzyme-cơ chất (ES) (Nguyễn Văn Mùi, 2012)
2.5.2 Enzyme tiêu hóa
Tiêu hóa là quá trình qua đó thức ăn trong ống tiêu hóa được thủy phân thành các hợp chất đơn giản để được hấp thu ở ruột và đi vào hệ thống mao mạch Các enzyme tiêu hóa thực hiện sự phân cắt khi thức ăn đi qua ống tiêu hóa Enzyme tiêu hóa có hoạt tính thay đổi theo tuổi cá, trạng thái sinh lý, mùa
vụ và các yếu tố môi trường như nhiệt độ và pH dịch tiêu hóa (Đỗ Thị Thanh Hương và Nguyễn Văn Tư, 2010)
Trang 23Bảng 2.1: Enzyme, vị trí tiết và sản phẩm tiêu hóa của cá
peptides
peptides
monoacylglycerols
Chitinase
Tụy và nhóm vi khuẩn ruột
Glucosamine
(Evans, 1995; trích dẫn bởi Đỗ Thị Thanh Hương và Nguyễn Văn Tư 2010)
Pepsin là một enzyme có tiền chất là pepsinogen được sản sinh bởi các tế
bào gốc trong dạ dày có tác dụng chuyển hóa các protein thành các peptid Đó
là enzyme đầu tiên được phát hiện và vào năm 1929 nó đã trở thành một trong
các enzyme đầu tiên được kết tinh bởi Northrop Pepsin là một protease tiêu
hóa, một enzyme thuộc nhóm protease aspartate (Nguyễn Văn Mùi, 2012)
Trong dạ dày, các tế bào gốc phóng thích ra tiền chất pepsinogen và nó được
kích hoạt bởi HCl được tiết ra từ thành tế bào tạo ra pepsin ở dạng hoạt động
Pepsin chỉ có ở những loài cá có dạ dày thực sự và pepsin ở cá có tính chuyên
biệt khác những động vật hữu nhũ và chim (Đỗ Thị Thanh Hương và Nguyễn
Văn Tư, 2010) pH thích hợp cho men pepsin thường khoảng từ 1,45-3; nhiệt
độ thích hợp khảng 30-50C Men pepsin có tác động lên những thành phần
protein nguyên trạng, biến đổi protein trong thức ăn thành dạng albumose và
peptose rồi sau đó những thành phần này sẽ đi xuống ruột để tiếp tục phân giải
Bảng 2.2: Giá trị pH tối ưu của pepsin ở các loài cá
(Evans, 1995 trích dẫn bởi Đỗ Thị Thanh Hương và Nguyễn Văn Tư 2010)
Trypsin là một trong những enzyme thuộc nhóm thủy phân protein được
Trang 24được sản sinh ở tuyến tụy ở dạng tiền chất trypsinogen không hoạt động Dưới
sự xúc tác của enzyme enterokinase có trong dịch ruột trypsinogen sẽ chuyển hóa thành trypsin ở dạng hoạt động Sự biến đổi này sẽ nhanh hơn nếu có sự hiện diện của Ca2+ Khác với enzyme pepsin, trypsin chỉ hoạt động trong môi trường kiềm Cá không có dạ dày vẫn có enzyme phân giải protein là dịch tiêu hóa chứa trypsin Trypsin không có tác động lên protein nguyên trạng mà chỉ
có tác động ở protein biến tính để cho ra thành phần đơn giản hơn và tiếp tục tiêu hóa để cá có thể hấp thu được (Đỗ Thị Thanh Hương và Nguyễn Văn Tư, 2010)
Chymotrypsin là một endopeptidase serine sản xuất bởi tế bào acinar tuyến tụy Tiền chất của nó là chymotrypsinogen dưới tác dụng của trypsin thì chuyển hóa thành chymotrypsin ở dạng hoạt động Trong khi trypsin thủy phân ở lysine
và arginine thì chymotrypsin chọn lọc cắt các liên kết peptid được hình thành bởi các vòng hydrocarbon thơm (tyrosine, phenylalanine, tryptophan)
(Hedstrom et al., 1992) Có 2 dạng tồn tại của chymotrypsin là chymotrypsin A
và chymotrypsin B đều được tìm thấy với một lượng bằng nhau ở trong tuyến tụy của gia súc Chúng là những protein rất giống nhau (giống nhau khoảng 80%) nhưng có đặc điểm khác biệt đáng kể trong việc phân giải protein Chymotrypsin được kích hoạt thông qua việc phân cắt các mối liên kết giữa arginine và isoleucine (R15 và I16) của chymotrypsinogen bởi trypsin Chymotrypsin ưu tiên xúc tác thủy phân liên kết peptid liên quan đến đồng phân dạng L của tyrosine, phenylalanine và tryptophan (Nguyễn Văn Mùi, 2012) Sự tiêu hóa các carbohydrate lệ thuộc rất nhiều vào độ acid của dịch vị, nhưng các carbohydrase (bao gồm: amylase, chitinase, laminarinase, cellulase) đóng vai trò chính trong thủy phân các carbohydrate ở loài cá α-amylase là enzyme thủy phân tinh bột thành glucose, được tìm thấy hầu hết các loài cá ăn tạp và cá ăn
thực vật như: nhóm cá chép, cá rô phi và cá măng (Chanos chanos) Theo Guillaume et al (2001) thì amylase được tìm thấy trong tất cả các loài cá, ngay
loài cá biển ăn động vật mà thành phần thức ăn thiên nhiên rất ít carbohydrates Amylase thủy phân nối đôi α-1,4 của đường amylose, các nhánh thẳng của amylosepeptin hay của glycogen, nhưng amylase không thủy phân được các nối α-1,6 của các nhánh ngang So sánh hoạt tính amylase trên một số loài cá nuôi người ta thấy amylase ở cá ăn động vật thấp hơn
2.5.3 Sự phát triển enzyme tiêu hóa ở cá
Nhu cầu về dinh dưỡng của động vật nói chung luôn thay đổi theo các giai đoạn phát triển trong vòng đời của chúng Các thay đổi quan trọng về hình thái
và sinh lý của động vật thủy sinh từ lúc mới nở đến khi trưởng thành được thể hiện qua các nhu cầu về dinh dưỡng và tính ăn ở giai đoạn ấu trùng, con giống
Trang 25và trưởng thành Sự thay đổi đó diễn ra ở các cơ quan tiêu hóa và trong tiến trình tiêu hóa (Silva and Anderson, 1995)
Golchinfar et al (2011) khi đánh giá về hoạt động của enzyme trong quá trình phát triển của cá hồi vân giống (Oncorhynchus mykiss) đã xác định rằng
enzyme có một vai trò đáng kể đối với quá trình tiêu hóa và hấp thu thức ăn Cũng trong nghiên cứu này, tác giả cho rằng các enzyme như pepsin, trypsin, chymotrysin, α – amylase và lipase có sẵn trong cơ thể ở ngày đầu tiên sau khi
nở nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê cho đến ngày thứ 12 (p>0,05) Kết quả này cũng phù hợp với các kết quả nghiên cứu trên cá chẽm sọc (Morene saxatilis) (Baragi and Lovell, 1986), cá dẹp (Scophthalmus maximus L.) (Cousin
et al., 1987) Sự gia tăng hoạt động của enzyme từ trypsin, chymotrypsin, lipase
cho đến α – amylase được phát hiện ở giai đoạn sớm và trước khi mở miệng bởi
vì sự hiện diện của tuyến tụy (Ma et al., 2005) Sự hiện diện của một số enzyme
tiêu hóa chính ở giai đoạn sớm của cá bột cũng được phát hiện ở một số loài cá
như Acipenser fulvescens (Buddington, 1985)
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có một sự gia tăng có ý nghĩa của các loại enzyme tiêu hóa ở pha 2 Nghiên cứu trên cá hồi vân giống cho thấy sự gia tăng
có ý nghĩa hoạt tính của enzyme tiêu hóa được thể hiện ở giai đoạn 12 -18 ngày
sau khi nở (p<0,05) (Golchinfar et al., 2011) Đối với loài cá nheo xanh (Mystus nemunrus) hoạt tính của enzyme tăng chậm ở giai đoạn 1-25 ngày và tăng nhanh
có ý nghĩa ở giai đoạn 30-45 ngày (p<0,05), mức cao nhất của pepsin được ghi
nhận vào ngày thứ 45 sau khi nở (22,5±0,62 Unit/mg protein) và mức cao nhất của trypsin và chymotrypsin lần lượt là 566±29,1 và 79,1±0,03 mUnit/mg
protein vào ngày thứ 35 (Manee et al., 2012)
Manee et al (2012) khi nghiên cứu về hoạt động của enzyme tiêu hóa trong quá trình phát triển và ảnh hưởng của thức ăn tự nhiên trên cá chốt (Mystus nemurus) bột mô tả sự phát triển của enzyme tiêu hóa protein (pepsin, trypsin,
chymotrypsin), carbohydrate (α – amylase), lipase và ảnh hưởng của thức ăn tự nhiên từ ngày 1-45 ngày tuổi đã chỉ ra rằng tất cả các enzyme được tìm thấy với nồng độ thấp ở giai đoạn đầu (cho đến ngày thứ 20), sự gia tăng có ý nghĩa hoạt động của các enzyme này được tìm ra ở ngày thứ 25-45 Có mối quan hệ giữa
sự gia tăng kích thước cơ thể với hàm lượng enzyme tiêu hóa Qua nghiên cứu
này cũng cho biết cá bột Mystus nemunrus có khả năng sử dụng tốt protein và
carbohydrate trong khi đó khả năng sử dụng lipid bị hạn chế
2.6 Phương pháp xác định độ tiêu hóa thức ăn
Phương pháp đo độ tiêu hóa gián tiếp thông qua việc sử dụng chất đánh dấu được sử dụng phổ biến Đặc điểm của chất đánh dấu là: (i) có tốc độ di
Trang 26chuyển giống như dưỡng chất; (ii) không được tiêu hóa và tan trong nước; (iii) Không ảnh hưởng đến độ tiêu hóa và hấp thu các dưỡng chất Chất đánh dấu không được tiêu hóa và hấp thụ nên tỉ lệ nồng độ chất đánh dấu trong phân và trong thức ăn chính là độ tiêu hóa thức ăn Một số chất đánh dấu sử dụng trong nghiên cứu như: Cr2O3, HROM, HRA, Cs137, Cr51 trong đó Chrome oxide (Cr2O3) được sử dụng phổ biến nhất với tỉ lệ trộn vào thức ăn 0,5-1% (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009) Hiệu quả của việc sử dụng Cr2O3
trong xác định độ tiêu hóa nguyên liệu trong thức ăn của cá hồi Đại Tây Dương
(Salmo salar) đã được chứng minh trên nhiều nghiên cứu (Austreng, 1978; Windell et al., 1978) Gần đây nhất, Cr2O3 cũng được sử dụng để xác định độ
tiêu hóa nguyên liệu trên cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) (Hien et al., 2010), cá cam (Seriola lalandi) (Booth et al., 2010) và trên cá rô phi (Trung et al., 2011)
Bên cạnh đó việc thu phân cá trong xác định đột tiêu hóa cũng rất quan trọng Theo Vanderberg and Noüe (2001) thì các phương pháp thu phân có thể chia ra thành 3 nhóm chính: (i) thu phân trước khi phân tiếp xúc với nước; (ii) thu phân từ nước bằng cột lắng; (iii) thu phân liên tục từ lỗ thoát nước bằng sàng
Ngoài ra, có thể chia thu phân ra làm 2 nhóm: (i) Phương pháp thu phân trực tiếp từ ống tiêu hóa: gây mê cá sau đó vuốt nhẹ phần phân từ ruột của cá hoặc dùng ống hút phân hoặc cắt phần ruột cuối để thu phân Các phương pháp trên có nhược điểm như lẫn phần thức ăn chưa được hấp thu, lẫn dịch tiêu hóa, nước tiểu, cá chết hoặc bị sốc, lượng phân thu được ít dẫn đến sai số số lớn khi tính toán độ tiêu hóa thức ăn; (ii) Phương pháp thu phân trong hệ thống nuôi:
để có thể xác định chính xác hơn độ tiêu hóa của thức ăn và hạn chế các nhược điểm của thu phân trực tiếp từ ống tiêu hóa, các nhà nghiên cứu áp dụng phương pháp thu phân bằng cách nuôi động vật thủy sản trong bể thí nghiệm Đối với các loài thải phân dạng sợi thì áp dụng phương pháp siphon hoặc dùng vợt để vớt các sợi phân Các loài khác có thể áp dụng hai phương pháp thu phân là
phương pháp thu phân tự lắng và phương pháp thu phân liên tục (Guillaume et al., 2001)
Đã có nhiều nghiên cứu so sánh các phương pháp thu phân thông qua việc
xác định độ tiêu hóa (ADC) Allan et al (1999) so sánh giữa 2 phương pháp thu phân là lắng và mổ trên cá vược (Bidyanus bidyanus) dựa vào ADC, kết quả
cho thấy ADC từ phương pháp thu phân lắng cao hơn so với ADC từ phương pháp mổ, nghiên cứu cũng cho rằng thời điểm thu phân thích hợp nhất là thu phân sau khi cho ăn 18 giờ
Trang 27Theo Amirkolaie et al (2005), kết quả của 2 phương pháp thu phân gián
tiếp là hệ thống thu phân của Choubert và thu phân lắng trên cá rô phi cho thấy thu phân bằng phương pháp lắng thì lượng phân thu hồi sẽ cao hơn Trên cá
tuyết (Gadus morhua), với phương pháp thu phân vuốt bụng và mổ thu phân từ
đoạn ruột cuối của cá cho thấy ADC không có sự khác biệt giữa 2 phương pháp
thu phân này (Hemre et al., 2003)
Nghiên cứu của Storebakken et al (1998) về độ tiêu hóa của cá hồi Đại Tây Dương (Salmo salar) bằng 3 phương pháp thu phân khác nhau: phương
pháp vuốt bụng để tống phân từ đoạn ruột cuối ra ngoài, phương pháp mổ cá cắt phần ruột cuối để thu phân và phương pháp thu phân qua sàng mắc lưới kim loại, kết thúc thí nghiệm cho thấy ADC của phương pháp thu phân qua sàng cao
hơn so với 2 phương pháp còn lại Glencross et al (2005) thí nghiệm so sánh
phương pháp thu phân lắng và thu phân vuốt bụng trên cá hồi vân
(Oncorhynchus mykiss) trên các nhóm nguyên liệu thức ăn khác nhau, kết quả
cho thấy thu phân bằng phương pháp vuốt bụng để lấy phân từ đoạn ruột cuối cho ADC cao hơn so với phương pháp thu phân lắng Gần đây nhất, trên cá tra khi so sánh 3 phương pháp thu phân: thu phân lắng, vuốt bụng và phương pháp
mổ, kết quả cho thấy phương pháp thu phân lắng thích hợp nhất đối với cá tra, nhóm tác giả cũng cho rằng loài cá này không thể áp dụng phương pháp vuốt
do cấu trúc ống tiêu hóa và lớp mỡ bụng quá dày (Hien et al., 2010)
Qua các nghiên cứu cho thấy, phương pháp thu phân tối ưu sẽ khác nhau tùy theo mỗi loài, tùy theo dạng phân cũng như cấu trúc cơ thể của loài
2.7 Nhu cầu dinh dưỡng của động vật thủy sản
2.7.1 Nhu cầu protein
Trong thực tiễn sản xuất nhu cầu protein của một loài cá là 35% Điều đó
có nghĩa là trong 100 g thức ăn có chứa 35 g protein Khái niệm này vẫn chưa
đủ vì chỉ nói lên tính chất thức ăn mà không đề cập đến tính chất của cá (Lê Thanh Hùng, 2008) Khi lượng thức ăn cho cá ăn khác nhau (cho ăn tối đa hay cho ăn giới hạn theo khẩu phần), thì lượng protein cá lấy vào sẽ khác nhau Vì những lý do trên người ta đưa ra khái niệm: (i) Nhu cầu protein tương đối là mức % protein có trong thức ăn Trong thực tiễn sản xuất người ta thường sử dụng giá trị protein tương đối để chế biến thức ăn; (ii) Nhu cầu protein tuyệt đối
là lượng protein động vật thủy sản lấy từ thức ăn trên một đơn vị thể trọng của động vật thủy sản (g protein trong thức ăn trên một kg động vật thủy sản) Nhu cầu protein tuyệt đối cũng được tính như là lượng protein cần thiết cho một đơn
vị thể trọng trong một thời gian (gam protein trong thức ăn/kg ĐVTS/ngày)
Trang 28Ngoài nhu cầu protein tương đối và tuyệt đối, trong dinh dưỡng còn có khái niệm protein cho duy trì và tăng trưởng
Nhu cầu protein tối ưu của một loài nào đó phụ thuộc nguồn nguyên liệu làm thức ăn (tỉ lệ protein và năng lượng, thành phần amino acid và độ tiêu hóa protein), giai đoạn phát triển của cơ thể, các yếu tố bên ngoài khác Nếu thức ăn không cung cấp đủ nhu cầu protein cho cá sẽ dẫn đến cá chậm lớn, hoặc ngừng tăng trưởng, thậm chí có thể giảm trọng lượng Mặt khác, nếu lượng protein trong thức ăn vượt quá nhu cầu thì chỉ một phần được sử dụng để tạo protein mới, phần còn lại sẽ được chuyển sang dạng năng lượng, điều này sẽ làm tăng giá thành thức ăn không cần thiết Chính vì vậy, các nhà khoa học rất chú ý và
đã nghiên cứu nhu cầu protein và amino acid của cá, đến nay, phần lớn các đối tượng nuôi quan trọng và phân bố rộng trên toàn thế giới đã được nghiên cứu
về lĩnh vực này Nhu cầu protein của cá dao động trong khoảng từ 25-55%, trung bình 30%, giáp xác từ 30-60% (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009) Tương tự nghiên cứu ở một số loài cá rô phi của El-sayed and Teshima (1992) có nhu cầu protein trong khẩu phần dao động trong khoảng 20-56%
Nhu cầu protein ở các loài cá có tính ăn khác nhau sẽ khác nhau, những loài cá ăn động vật có nhu cầu protein cao hơn các loài cá ăn tạp hay ăn thực
vật Hung et al (2000) nghiên cứu trên cá basa, cá tra và cá hú cỡ 5-6g có nhu
cầu protein lần lượt là 27,8%; 32,2% và 26,6% Trong khi đó nhu cầu protein của cá tra và basa ở giai đoạn 2-3 g lần lượt là 38% và 35% (Trần Thị Thanh
Hiền và ctv., 2004) Cá da trơn Nam Mỹ (Silurus meridionalis) (6 – 18 g) cho tăng trưởng tối đa với thức ăn có hàm lượng protein 40% (Fu et al., 2006) Cá nheo Mỹ (Ictalurus punctatus) (cỡ 14 g) có nhu cầu protein là 35% (Page and Andrew, 1973) Cá hú (5-6 g) có nhu cầu protein là 26,6% (Liem et al., 2000) Tương tự nghiên cứu ở một số loài cá rô phi (Oreochromis niloticus) của El-
sayed and Teshima (1992) có nhu cầu protein trong khẩu phần dao động trong khoảng 20-56% Trần Lê Cẩm Tú và Trần Thị Thanh Hiền (2006) thí nghiệm trên cá rô đồng giống (2-2,5 g/con) cho thấy hàm lượng protein thích hợp là
32% Đối với cá ông tiên (Pterophyllum scalare) có nhu cầu protein là 26% ở giai đoạn cá 2-3 g (Zuanon et al., 2007) Tuy nhiên, đối với các loài cá ăn động
vật thì nhu cầu protein trong thức ăn cũng cao hơn, cá mú chấm gai
(Epinephelus coioides) có nhu cầu protein là 48% (Luo et al., 2004) Nhu cầu protein của cá hồi nâu (Salmo trutta) là 53% (Arzel et al., 1995) Cá chốt (Mystus nemurus) có khối lượng 7-18 g thì nhu cầu protein giúp cá tăng trưởng tốt nhất là 42% (Khan et al., 1992) Cá bơn (Solea senegalensis) ở mức protein 45% cá tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn cao nhất (Lee, 2002) Nghiên
Trang 29cứu trên cá bơn Đại Tây Dương (Hippoglossus hippoglossus) giai đoạn giống
cho thấy nhu cầu protein là 51% (Helland and Grisdale-Helland, 1998) Cá thát
lát còm (Chitala Chitala) giai đoạn giống (2,42 g/con) cần mức protein từ 45% trong công thức thức ăn (Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 2013)
40-Cá lóc là loài ăn động vật điển hình nên cũng có nhu cầu protein trong thức ăn chế biến cao Mohanty and Samantaray (1996) xác định cá lóc 0,55 g sau 8 tuần nuôi cho tăng trưởng tốt nhất ở thức ăn có hàm lượng protein 55% Tương tự, nghiên cứu trên cá lóc bột từ 1,13-1,8 g cũng cho tăng trưởng tối ưu
ở thức ăn có hàm lượng protein 50% (Long et al.,2004) Theo nghiên cứu của
Hashim (1994) trên cá lóc bột cho thấy tăng trưởng của cá lóc bột (0,58-0,95 g)
bị ảnh hưởng bởi hàm lượng protein trong thức ăn Trên cá lóc giống có khối lượng trung bình 12 g, được thử nghiệm trên các mức protein (35%, 40%, 45%
và 50%) và mức năng lượng khác nhau đã cho thấy nhu cầu protein tối ưu là 40%, với tỉ lệ P/E là 90,9 mg protein/kcal cho tăng trưởng tốt nhất, ngoài ra hiệu quả sử dụng protein của cá tăng khi mức năng lượng trong thức ăn tăng từ 400-
480 Kcal/100g ở tất cả các mức protein (Mohanty and Samantaray, 1997) Trieu
et al (2001) nghiên cứu về nhu cầu protein của cá lóc giống (4,3 g/con) đã kết
luận thức ăn chứa 50% protein cho tăng trưởng và tỉ lệ sống cao nhất Nghiên cứu tương tự trên cá lóc bột, kết quả cho thấy cá có tỉ lệ sống cao ở nhóm thức
ăn có mức lipid 65 g/kg và với tỉ lệ lipid/protein là 65/450 g/kg cho tỉ lệ sống
và tăng trưởng tốt nhất, tuy nhiên hàm lượng lipid trong thức ăn lại không ảnh
hưởng đến hàm lượng lipid trong cơ thể cá (Aliyu-Paiko et al., 2010)
Ở cá lóc Châu Phi (Parachanna obscura) giai đoạn giống (4,08 g), khi cá
được cho ăn 5 loại thức ăn có hàm lượng protein từ 30-60%; dựa vào kết quả tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của cá, nhóm tác giả kết luận nhu cầu
protein của cá lóc Châu Phi dao động từ 42,5-63,5% (Kpogue et al., 2013) Ở
cá Channa punctatus giai đoạn giống (4,58 g) khi được cho ăn theo nhu cầu
bằng 6 loại thức ăn có hàm lượng protein từ 300 đến 550 g/kg và có cùng mức năng lượng (18,39 KJ/g), kết quả được phân tích bằng phương trình đường cong bậc hai cho thấy tăng trọng cao nhất, FCR tốt nhất ở mức protein 462-476 g/kg Trong khi đó hàm lượng protein trong thức ăn (438-444 g/kg) thì hiệu quả sử dụng protein (PER), hiệu quả tích lũy protein và năng lượng (PRE và ERE) trong cơ có kết quả tối ưu (Zehra và Khan, 2012)
Mặt khác, nhu cầu protein của cá còn chịu ảnh hưởng của kích cỡ cá, cá nhỏ có nhu cầu protein cao hơn cá lớn, cá càng lớn nhu cầu protein sẽ càng giảm Nhu cầu protein của đa số các loài cá da trơn bột là 40%, cá hương 30-35%, cá 110 g trở lên là 25-30% (NRC, 1993) Theo nghiên cứu của Hardy
Trang 30đoạn bột là 45 đến 50%, giai đoạn giống là 40%, cá được nuôi sau một năm thì
nhu cầu protein còn 35% Ở cá lóc (Channa striata) có khối lượng cá 0,552
g/con thì có nhu cầu protein trong thức ăn 55% (Mohanty and Samantaray,
1996), ở giai đoạn lớn hơn 4,3 g/con thì nhu cầu protein là 50% (Trieu et al., 2001) Đối với cá lóc bông (Channa micropeltes) giai đoạn cá nhỏ 2,6 g/con là
50,8% và giai đoạn cá giống lớn (6,07 g/con) là 46,5% (Trần Thị Thanh Hiền
và ctv., 2005) Tương tự, nhu cầu protein của cá basa (Pangasius bocourti) giai
đoạn cá giống nhỏ là 41,6% và cá giống lớn là 34,3% (Nguyễn Thanh Phương
và ctv., 1997) Cá rô phi (O niloticus) bột có nhu cầu protein là 40%, khi cá đạt
khối lượng 30 g thì nhu cầu protein là 35%, khi cá lớn hơn 110 g thì nhu cầu protein giảm còn 25-30% (Wilson, 1991), tác giả cho rằng cá nhỏ có nhu cầu protein cao là do cá nhỏ có sức tăng trưởng lớn hơn cá trưởng thành Tương tự nghiên cứu Al Hafedh (1999) đối với cá rô phi có khối lượng nhỏ hơn 1 g thì cần 35-50% protein trong khẩu phần, 1-5 g thì 30-40% và 5-25 g thì 25-35% Nhu cầu protein trên cá basa giống cỡ nhỏ là 41,6% và cá giống lớn là 34,3%
(Nguyễn Thanh Phương và ctv., 1997) Trên đối tượng cá hú với cỡ 6,5 g, Liem
et al (2000) cho biết cá hú tăng trưởng tối đa ở mức 37,9% protein trong thức
ăn, nhu cầu protein của cá hú giai đoạn 0,86 g là 48,5%, giai đoạn 2-3 g là 48%
Trần Lê Cẩm Tú và ctv (2014) xác định nhu cầu protein của cá kèo giống
(3,55g/con) ở hai mức năng lượng 18 KJ/g là 42,8% và 20 KJ/g là 35,4% Qua các nghiên cứu cho thấy những loài cá ăn tạp hay ăn thực vật có nhu cầu protein khoảng 25-35%, thấp hơn nhu cầu protein của các loài cá ăn động vật với nhu cầu khoảng 40-52% Nhu cầu protein của một loài cũng thay đổi tùy theo giai đoạn sinh trưởng, giai đoạn nhỏ nhu cầu protein sẽ cao hơn ở giai đoạn lớn
2.7.2 Nhu cầu acid amin
Nhu cầu protein của của động vật tương ứng với yêu cầu về acid amin Khi nói đến protein, người ta không chỉ quan tâm đến hàm lượng protein trong thức ăn mà còn chú ý đến các acid amin tham gia cấu tạo nên protein (đặc biệt
là thành phần và cấu tạo của các acid amin thiết yếu trong protein Khi xác định giá trị của protein người ta không chỉ xác định độ tiêu hóa mà còn xem xét thành phần acid amin (NRC, 2011) Ngoài nhiệm vụ chính là cấu tạo nên protein, acid amin có vai trò quan trọng cung cấp năng lượng cho tôm cá (Kaushik and Seiliez, 2010) Trong tự nhiên có 20 acid amin, AA thiết yếu là những AA mà
cơ thể sinh vật không tự tổng hợp được từ thức ăn: Arginine, Histidine, Isoleucine, Leucin, Lysine, Methionine, Phenyllalanine, Threonine, Tryptophan
và Valine (Halver and Hardy, 2002)
Trang 31Bảng 2.3: Nhu cầu acid amin đối với một số loài cá (tính % vật chất khô) (Halver and Hardy, 2002)
a thức ăn không có Cystine; b thức ăn không có Tyrosine
Nhu cầu EAA của cá đã được nghiên cứu hơn 50 năm Các nghiên cứu ban đầu với cá hồi Chinook được tiến hành bởi Halver và các đồng nghiệp vào cuối những năm 1950, thông qua sự thay đổi hàm lượng acid amin trong thức
ăn Sau đó, các nghiên cứu dựa trên yêu cầu 10 EAA được nghiên cứu cùng một nhóm dựa vào mô hình cho các loài cá khác (Wilson, 1989)
Hiệu quả sử dụng protein trong thức ăn cho cá phụ thuộc rất lớn vào sự cân bằng giữa nhu cầu và thành phần các acid amin thiết yếu trong thức ăn Trong khẩu phần, nếu chỉ cần một acid amin thiết yếu không được cân đối so với nhu cầu thì công thức đó sẽ dẫn đến thiếu hụt acid amin và không hiệu quả trong việc sử dụng protein trong thức ăn đó Những nghiên cứu về nhu cầu acid amin thiết yếu cho rằng, trong nguồn nguyên liệu cung cấp thường thiếu methionin, lysine, threonine, tryptophan (Halver and Hardy, 2002)
Hầu hết các nghiên cứu về nhu cầu acid amin của động vật thủy sản đề tập trung nghiên cứu nhu cầu methionine và lysine Lysine là một trong những acid amin không thể thiếu trong khẩu phần ăn của cá Lysine thường xuất hiện giới hạn nhất trong amino acid của thức ăn thô, sử dụng thức ăn cho cá nước ấm
(Robinson et al 1980) Bên cạnh việc giảm tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn, thiếu lysine còn dẫn đến sức khỏe của cá (Guillaume et al, 1999)
Methionine rất cần cho sự tăng trưởng, chuyển hóa và thực hiện chức năng bình thường của cơ thể Methionine còn là thành phần sinh tổng hợp các chất choline,
creatine… (Mai et al 2006) Methionine có vai trò quan trọng trong chuyển hoá
protein, lipid và quá trình oxy hóa khử ở các mô trong cơ thể Methionine có tác dụng bảo vệ đặc hiệu tế bào gan, ngăn ngừa tế bào gan thoái hóa mỡ và chống nhiễm độc Thiếu methionine dẫn đến giảm tăng trưởng, như ở cá hồi vân
(Ghomi and Alizadehnajd, 2012) Đối với cá hồi (O.mykiss), sinh trưởng sẽ thỏa
Trang 32mãn khi khẩu phần chứa methionine + cystine ít nhất là 13- 15 g/kg khẩu phần Thừa methionine cũng dẫn đến ức chế sinh trưởng (Corazon and B.Santiago, 1997)
Nhu cầu acid amin của các loài được xác định là bị ảnh hưởng do một số yếu tố bao gồm loài, tuổi, nguồn protein và mức protein trong thức ăn, acid amin tinh khiết hoặc bán tinh khiết và acid amin nguyên liệu, điều kiện môi trường
và hệ thống thí nghiệm (Murthy and Varghese, 1998) Nhu cầu lysine của một
số loài đã được xác định như: cá chốt (Mystus nemurus) là 31,4 g/kg protein (Tantikitti and Chimsung, 2001); cá trắm cỏ (Ctenopharyngodon idella) 59,6 g/kg protein (Wang et al., 2005); cá tra là 53,5 g/kg protein (Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 2009); Lin et al (2013) cho Myxocyprinus asiaticus là 55,2g/kg
protein
Nhu cầu methionine cho cá thường nằm trong khoảng từ 20-40 g
methionine/kg protein, khác nhau tùy theo loài (Wilson et al., 1991) Nhu cầu methionine của cá tra là 26 g/kg protein (Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 2009),
cá nục giống là 25 g/kg protein (Liao et al., 2014) và cá ăn tạp như cá diếc Phổ (Carassius auratus gibelio) là 23 g/kg protein (Wang et al., 2016), Myxocyprinus asiaticus là 32 g/kg protein (Chu et al., 2014) và nhóm cá biển như Sparus macrocephalus là 45,3 g/kg protein (Zhou et al., 2011)
2.7.3 Nhu cầu năng lượng
Các sinh vật sử dụng năng lượng sinh học để thực hiện các quá trình biến dưỡng cần cho sự sống Trong thức ăn cho thủy sản, năng lượng là một giá trị quan trọng để quyết định khẩu phần và thiết lập công thức thức ăn cho từng giống loài cá và giai đoạn phát triển Năng lượng từ thức ăn sẽ được động vật thuỷ sản sử dụng cho nhiều chức năng Sự phân chia năng lượng sử dụng cho từng chức năng phụ thuộc vào năng lượng ăn vào, khả năng tiêu hoá và sự hấp thu năng lượng của động vật thủy sản (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009) Nhu cầu năng lượng của động vật thuỷ sản bao gồm nhu cầu năng lượng duy trì và nhu cầu năng lượng cho tăng trưởng Nhu cầu năng lượng duy trì và tăng trưởng của cá thay đổi tuỳ theo kích cỡ, môi trường sống và loại thức
ăn sử dụng (Lê Thanh Hùng, 2008) Năng lượng thô là nhiệt năng sinh ra trong quá trình đốt cháy thức ăn ở bên ngoài cơ thể sinh vật bằng máy đo hóa học Giá trị năng lượng thô phụ thuộc rất nhiều vào thành phần dinh dưỡng của thức
ăn như: protein, lipid, carbohydrat (Halver and Hardy, 2002) Năng lượng thô
có thể được đo trực tiếp bằng cách đốt cháy một lượng thức ăn trong calorie kế
và đo nhiệt lượng sinh ra Ngoài phương pháp đo trực tiếp năng lượng thô có thể đượctính toán dựa vào giá trị năng lượng của thành phần dinh dưỡng thức
Trang 33ăn (Lê Thanh Hùng, 2008) Năng lượng thức ăn ăn vào khi cho động vật thủy sản ăn, một phần thức ăn không được cá ăn vào mà bị mất đi vào môi trường Năng lượng thức ăn ăn vào là năng lượng thô của thức ăn được động vật thực
sự ăn vào dạ dày Năng lượng tiêu hóa khi vào cơ thể thức ăn được tiêu hóa và biến dưỡng sản sinh năng lượng, tuy nhiên một phần thức ăn không được tiêu hóa và thải ra ngoài Do đó năng lượng tiêu hóa sẽ bằng năng lượng thức ăn ăn vào trừ đi phần năng lượng thải ra qua phân (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009) Theo Lê Thanh Hùng (2008) năng lượng tiêu hóa phụ thuộc vào giống loài, tuổi cá, trạng thái sinh lý, nhiệt độ môi trường, thành phần thức
ăn, lượng cho ăn và tần số cho ăn Để tính giá trị năng lượng tiêu hóa của một loại thức ăn, người ta dùng phương trình hồi quy, dựa vào thành phần hóa học của thức ăn và độ tiêu hóa của từng thành phần hóa cấu tạo nên thức ăn đó
Năng lượng trao đổi hay biến dưỡng là phần năng lượng tiêu hóa hấp thụ qua
thức ăn, trừ đi phần năng lượng mất đi do bài tiết nitrogen qua mang và nước tiểu Trong biến dưỡng động vật thủy sản lượng Ammonia bài tiết không chỉ phụ thuộc vào lượng protein ăn vào hay chất lượng protein mà còn lệ thuộc rất lớn vào tỉ lệ protein (DP) và năng lượng (DE)
Năng lượng từ thức ăn ngoài mất đi qua phân, bài tiết qua mang và nước tiểu còn mất đi do sự tỏa nhiệt, còn gọi là năng lượng tỏa nhiệt Năng lượng tỏa nhiệt này liên quan đến chất lượng thức ăn và nhiệt độ môi trường Năng lượng tỏa nhiệt tổn hao dưới dạng nhiệt do các hoạt động sau: (i) Năng lượng biến dưỡng cơ bản: năng lượng mất đi do quá trình trao đổi chất cơ sở (Basal metabolism - HeE) khi cá ở trạng thái bình thường, cũng bao gồm luôn năng lượng mất đi qua các hoạt động bơi lội, duy trì thăng bằng trong môi trường nước (Voluntary Activity – HjE) (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009); (ii) Năng lượng biến dưỡng hay còn gọi là năng lượng trao đổi chất (HiE): là năng lượng mất đi do hoạt động cơ học (lấy thức ăn, nhai xé và di chuyển thức ăn trong ống tiêu hóa), cho hoạt động sinh hóa (phản ứng hóa học liên quan đến tiêu hóa thức ăn, hấp thụ, vận chuyển và trao đổi dưỡng chất), cũng bao gồm năng lượng mất đi trong quá trình bài tiết sản phẩm (như khử amin protein) (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009)
Năng lượng tích lũy là phần năng lượng mà động vật thủy sản tích lũy
được cho sinh trưởng hoặc tạo sản phẩm sinh dục Năng lượng tích lũy là hiệu giữa năng lượng trao đổi (ME) và năng lượng tỏa nhiệt (HE) (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009)
Trang 34Hình 2.2: Sơ đồ chuyển hóa năng lượng trong cơ thể động vật thủy sản
(Nguồn: Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009)
Nhu cầu năng lượng duy trì là nhu cầu năng lượng cần thiết để động vật
thủy sản đạt trạng thái cân bằng giữa năng lượng hấp thu và tiêu thụ Nghĩa là
động vật thủy sản có trọng lượng không đổi trong khoảng thời gian thí nghiệm
Nhu cầu năng lượng duy trì thay đổi tùy theo loài, kích cỡ cá, môi trường sống
và loại thức ăn sử dụng Do đó năng lượng duy trì được diễn tả theo KJ/kg cá,
trong 24 giờ, ở điều kiện nhiệt độ nhất định (Lê Thanh Hùng, 2008) Nhu cầu
duy trì phụ thuộc vào loài và kích cỡ cá Theo Trần Thị Thanh Hiền và ctv
(2009) nhu cầu năng lượng duy trì của cá chép có kích cỡ 80 g ở nhiệt độ 20oC
là 67 KJ/kg cá/ngày và cá nheo Mỹ 84 KJ/kg cá/ngày (cỡ cá 20 g, nhiệt độ
25oC) Theo Guillaume et al (2001) nhu cầu năng lượng cho cá hồi có khối
lượng 150 g ở 18oC dao động khoảng 85-100 KJ/kg cá/ngày và cá có khối lượng
300 g nhiệt độ là 15oC thì cần năng lượng duy trì là 60 KJ/kg cá/ngày Nghiên
cứu của Storebakken et al (1991) trên cá hồi có kích cỡ 300 g thì có nhu cầu
năng lượng cho duy trì cơ thể là 42 KJ/kg cá/ngày ở 15o C Tương tự McGoogan
et al (1998) cho rằng trên cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus) có khối lượng
khoảng 50 g thì có nhu cầu năng lượng duy trì dao động trong khoảng 92-97
KJ/kg cá/ngày ở 25oC Ở cá cam Nhật Bản (Seriola quinqueradiata) kích cỡ
700 g ở 15oC thì có nhu cầu năng lượng duy trì là 82 KJ/kg cá/ngày (Watanabe
Vận động - HjE
Năng lượng ăn vào - IE
Năng lượng tiêu hóa - DE
Năng lượng trong phân - FE
Năng lượng thải qua mang - ZE/
nước tiểu - UE Năng lượng trao đổi - ME
Năng lượng tỏa nhiệt - ME Năng lượng thực - NE
Năng lượng trao đổi chất cơ sở - HeE Năng lượng tích lũy – RE
(sinh trưởng/chất béo/sinh sản)
Trang 35et al., 2000) Nhu cầu năng lượng cho tăng trưởng là nhu cầu năng lượng cần
thiết để sản sinh được 1 kg động vật thủy sản tăng trọng Mức nhu cầu này thay đổi tùy theo thành phần của thức ăn, đặc biệt là tỉ lệ giữa năng lượng protein và năng lượng phi protein Nói khác đi là tương quan giữa quá trình đồng hóa và
dị hóa (Lê Thanh Hùng, 2008) Ở cá tráp (Sparus aurata) (1-250 g) khi được
nuôi trong điều kiện nhiệt độ từ 23-24oC thì năng lượng cho cá tăng trưởng từ
5-11 MJ/kg và lượng protein là 179 g/kg thức ăn (Lupatsch et al., 1998) Nhu cầu năng lượng cho tăng trưởng của cá đù (Argyrosomus japonicus) với khối
lượng 10 g/con là 2,71 KJ/kg cá/ngày ở 20oC và 1,25 KJ/kg cá/ngày ở 26oC, ở khối lượng cá 800 g là 45,3 KJ/kg cá/ngày ở 20oC và 59,43 KJ/kg cá/ngày ở
26oC (Igor, 2009) Đối với cá vược Châu Âu (Dicentrarchus labrax ) 68 g và
128 g có nhu cầu năng lượng tăng trưởng lần lượt là 320 và 221 KJ/kg
cá/ngày (Edo and Lanari, 2003) Cá mú trắng (Epinephelus aeneus) có nhu
cầu năng lượng cho tăng trưởng là 2,61 KJ/kg cá/ngày ở khối lượng 5 g và 56,5 KJ/kg cá/ngày ở khối lượng 750 g (Lupatsch and Kisil, 2005) Cá cam
(Seriola lalandi) khối lượng 50 g thì có nhu cầu năng lượng cho tăng trưởng là 23,2 KJ/kg cá/ngày và ở khối lượng 1000 g thì là 185,4 KJ/kg cá/ngày (Mark et al., 2010) Một số loài cá ăn tạp có nhu cầu năng lượng thấp hơn, cá rô phi (Oreochromis niloticus) 10 g và 1.000 g có nhu cầu năng lượng cho tăng trưởng
là 7,09 và 88,43 KJ/kg cá/ngày (Trung et al., 2011) Cá tra có nhu cầu cho năng lượng tăng trưởng là 20,9 và 254,7 KJ/kg cá/ngày (Glencross et al.,
2010)
Ngoài ra, tỷ lệ protein/ năng lượng (P/E) là một trong những chỉ số quan trọng của thức ăn để đánh giá sự ảnh hưởng của nó đối với cá Nếu thức ăn cung cấp năng lượng vượt quá nhu cầu của cá sẽ làm giảm sự bắt mồi, ngược lại, nếu thức ăn thiếu năng lượng thì protein trước tiên được dùng để cung cấp năng lượng thoả mãn nhu cầu của cơ thể như vậy hiệu quả sử dụng protein của cá thấp Tỷ lệ P/E tối ưu cho động vật thuỷ sản thay đổi tuỳ theo loài, tuy nhiên thường lớn hơn 20 mg/KJ (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn, 2009) Acid amin đóng vai trò quan trọng trong đáp ứng nhu cầu chuyển hóa năng lượng của động vật thủy sản và nhìn chung là nguồn chuyển hóa năng lượng hiệu quả Việc sử dụng protein như nguồn cung cấp năng lượng cho động vật là điều không mong muốn vì chi phí cao so với các nguồn cung cấp năng lượng khác như tinh bột hay chất béo và giải phóng ammonia do sự chuyển đổi của acid amin Nhìn chung, nếu sử dụng tỷ lệ protein và năng lượng thích hợp có thể tiết kiệm chi phí và giảm thiểu sự giải phóng ammonia do sự chuyển đổi của acid amin Nhiều nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng nghiên cứu về protein tiêu hóa và tỷ lệ năng
Trang 36lượng tiêu hóa là phương thức tiếp cận hiệu quả trong nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng hơn là dựa trên nhu cầu protein thô, phần trăm protein thô trong thức ăn Việc giảm tỷ lệ protein tiêu hóa trên năng lượng tiêu hóa (DP/DE) thông qua giảm mức protein tiêu hóa kết hợp hay không kết hợp với việc tăng năng lượng tiêu hóa từ nguồn cung cấp không phải là protein đã được chứng minh là rất hiệu quả trong cải thiện hiệu quả sử dụng protein và làm giảm
việc giải phóng nitơ ở một số loài cá (Hillestad et al., 1998; Steffens et al., 1999; Azevedo et al., 2004; Satoh et al., 2004) Tỷ lệ protein tiêu hóa trên
năng lượng tiêu hóa DP/DE của các loài cá khác nhau và ở các giai đoạn phát triển khác nhau thì khác nhau Ở hầu hết các loài cá tỷ lệ tối ưu DP/DE dao động từ 84 đến 105 g/Mcal (20-25 g/MJ) (Winfree and Stickney, 1981;
Cho and Woodward, 1989; Azevedo et al., 2004; Wang et al., 2006a) Đối với
một số loài có khả năng sử dụng hiệu quả nguồn năng lượng từ chất béo, tỷ lệ DP/DE tối ưu có thể rất thấp, ở mức 84 g/Mcal (20 g/MJ) (Einen and Roem, 1997) Ở một số loài cá ăn động vật mà có khả năng tiêu hóa năng lượng từ chất béo kém như cá chẽm, cá bớp, cá tuyết, tỷ lệ DP/DE tối ưu dao động từ
117-134 g/Mcal (28-32 g/MJ) (Catacutan and Coloso, 1995; Kim et al., 2004; Tibbett et al., 2005; Webb et al., 2010) Ở một vài loài cá, cho cá ăn thức ăn
có tỷ lệ DP/DE thấp (có hàm lượng chất béo cao) có thể cải thiện khả năng sử
dụng protein nhưng có thể gây tích lũy chất béo trong cá (Tibbett et al., 2005), sự
tích lũy chất béo này có thể dẫn đến giảm chất lượng sản phẩm hay ảnh hưởng đến sức khỏe của vật nuôi
Các nghiên cứu cho thấy nhu cầu protein trong thức ăn cho cá giảm khi
cá có kích cỡ lớn hơn Chẳng hạn như, nhu cầu protein cho cá nheo Mỹ là 25% cho cá ở kích cỡ 114-500 g, nhưng nhu cầu protein cho cá có kích cỡ nhỏ 14-
100 g là 35% (Page and Andrews, 1973) Các nghiên cứu nhu cầu protein trên các đối tượng nuôi khác cũng cho kết quả tương tự như cá hồi, cá chép, cá rô phi (Wilson and Halver, 1986) Tỷ lệ DP:DE tối ưu cho cá hồi giống dao động từ 84-100 g/Mcal (20-24 g/MJ), trong khi đó, cá hồi có kích cỡ lớn hơn 2,5 kg có tỷ lệ DP:DE từ 67-71 g/Mcal (16-17 g/MJ) (Einen and Roem, 1997) Kết quả nghiên cứu tỷ lệ DP:DE tối ưu cho cá tráp là 119 và 82 g/Mcal
(28,5 và 19,5 g/MJ) cho cá có kích cỡ 10 g và 250 g (Lupatsch et al., 2001b)
Khi nghiên cứu về tỷ lệ P/E cho thấy tăng trưởng của cá lóc giống cao nhất, hệ số thức ăn thấp nhất khi cho ăn thức ăn có chứa 40% protein và tỷ lệ
P/E là 90,9 mg/Kcal (Mohanty and Samantaray, 1997) Cá chốt (Mystus nemurus) tăng trưởng tối đa với thức ăn chứa 44% protein và tỷ lệ P/E là 20 mg/KJ (Ng et al., 2001) Thức ăn chứa năng lượng ≥ 3.800 Kcal/kg và tỷ lệ P/E
dao động từ 79–147 mg/KJ đảm bảo cung cấp đủ năng lượng và acid amin thiết
Trang 37yếu cho cá tầm da vàng (Scaphirhynchus albus) giai đoạn giống (Kittel and
Small, 2014) Thức ăn tối ưu cho tăng trưởng, tỷ lệ sống và thành phần hoá học
cho cá chẽm (Lates calcarifer) chứa 42,5% protein, 10% lipid và tỷ lệ P/E là
128 mg/Kcal (Catacutan and Coloso, 1995) Đối với cá vàng (Carassius auratus) tỷ lệ protein tiêu hoá/năng lượng tiêu hoá (DP/DE) tối ưu là 119–125
mg/Kcal khi sử dụng thức ăn có hàm lượng protein dao động từ 38 đến 40% và
mức năng lượng là 3.200 Kcal/kg (Souto et al., 2013) Tỷ lệ DP/DE của cá hồi Đại Tây Dương (Salmo salar ) càng giảm khi khối lượng của cá càng tăng, cá
có khối lượng từ 1 đến 2,5 kg thì DP/DE tối ưu là 19 g/MJ và cá có khối lượng
từ 2,5 đến 5 kg thì DP/DE tối ưu là 16–17 g/MJ (Einen and Roem, 1997) Thử
nghiệm trên cá lóc (Channa striatus) giống (0,39 g) với các mức carbohydrate
khác nhau (8%, 12%, 17%, 21%, 25%, 30% và 34%) kết quả cho thấy thức ăn
có hàm lượng 12% với mức năng lượng và tỉ lệ P/E trong thức ăn là 4,3 Kcal/g
và 100 mg/Kcal sẽ cho tăng trưởng tối ưu, tuy nhiên tăng trưởng của cá sẽ giảm
cùng với sự gia tăng hàm lượng carbohydrate trong khẩu phần (Arockiaraj et al., 1999)
Nhu cầu năng lượng của các loài cá khác nhau không chỉ phụ thuộc vào thành phần loài mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như nhiệt độ môi trường, thức ăn dùng thí nghiệm và cách chăm sóc cho ăn (Dương Thúy Yên, 2000) Dựa vào các hệ số chuyển hóa và ứng dụng mô hình hóa tăng trưởng, ở cùng mức năng lượng thức ăn như nhau, các tác giả đã đưa ra tỉ lệ DP/DE tối ưu cho từng giai đoạn sinh trưởng của loài Mặc dù nhu cầu protein ở cá kích cỡ lớn thấp hơn so với cá nhỏ nhưng cá lớn có hiệu quả tích lũy protein (N tích lũy/N
ăn vào) thấp hơn so với cá nhỏ Nghiên cứu trên cá hồi nước ngọt cho thấy, hiệu quả tích lũy protein (protein retention efficiency) giảm có ý nghĩa thống
kê và tỷ lệ tích lũy lipid và protein (LD:PD) tăng cao khi kích cỡ cá tăng
(Azevedo et al., 2005; Dumas et al., 2007) Đối với cá lớn có nhu cầu protein và
DP:DE thấp hơn nhưng hàm lượng protein tuyệt đối (g protein/kg tăng trọng) cao hơn
Trung et al.(2011) cho rằng có sự thay đổi rõ rệt về nhu cầu protein ở cá
rô phi từ giai đoạn bột đến giai đoạn 100 g, khi ở giai đoạn 10 g nhu cầu DP/DE
là 32,7 g/MJ đã giảm còn 26,3 g/MJ ở giai đoạn 100 g và sự thay đổi ít hơn ở giai đoạn 1.000g (21,4 g/MJ), nhóm tác giả cũng cho rằng cá rô phi là loài có thể sử dụng thức ăn có hàm lượng tinh bột ở mức cao (> 20%) Tương tự, cá tra
có nhu cầu DP/DE ở giai đoạn 100 g là 23,5 g/MJ và 18,1 g/MJ ở 1.000 g
(Glencross et al., 2010) Trên cá chẽm (Lates calcarifer) nhu cầu DP/DE ở giai
đoạn 100 g và 1000 g lần lượt là 30,2 g/MJ và 19,9 g/MJ (Glencross, 2008)
Trang 382.8 Ứng dụng mô hình năng lượng sinh học trong xác định nhu cầu dinh dưỡng của cá
2.8.1 Các phương pháp xác định nhu cầu dinh dưỡng của cá
Trước đây, khi xác định nhu cầu dinh dưỡng của động vật thủy sản thường được thực hiện ở một giai đoạn xác định (cỡ cá nhất định hoặc tuổi cá nhất định)
và chỉ thực hiện nghiên cứu trên một thông số cụ thể (xác định nhu cầu dinh dưỡng cho tăng trưởng, tỉ lệ sống hoặc sinh sản) Sau khi lựa chọn giai đoạn và thông số cần nghiên cứu của đối tượng, nhu cầu dinh dưỡng sẽ được định lượng bằng mối liên hệ hay khả năng đáp ứng tối ưu của đối tượng (về tăng trưởng, tỉ
lệ sống hoặc sinh sản, ) đối với các khẩu phần ăn có chứa các mức dinh dưỡng khác nhau (hàm lượng protein khác nhau, hàm lượng lipid khác nhau hoặc hàm lượng acid amin khác nhau) (Lupatsch, 2003), mối liên hệ sẽ được xác định bằng các mô hình đường thẳng (Broken-line model) (Takeshi and Jame, 1977;
Hung et al., 2000; Luo et al., 2004; Martinez et al., 2004), mô hình phương trình
mũ (Exponenal model) (Liem et al., 2000; Trần Thị Thanh Hiền và ctv., 2004),
mô hình xích ma (Sigmoidal response model) Nghiên cứu xác định nhu cầu
protein và năng lượng của cá bơn vỉ (Paralichthys olivaceus) bằng cách cho cá
ăn các khẩu phần có hàm lượng protein từ 41% đến 50%, tương ứng 2 mức năng lượng (19 KJ/g và 20 KJ/g) Sau 45 ngày thí nghiệm cho thấy cá tăng trưởng tốt
nhất ở khẩu phần ăn (50% protein và mức năng lượng 20 KJ/g) (Yigit et al., 2004) Ở cá trôi Ấn Độ (Labeo rohita) 0,55 g được cho ăn bằng thức ăn (40%
protein và mức năng lượng 3,61 kcal/g) với 6 mức cho ăn từ 2-12% khối lượng thân/ngày trong 8 tuần, tác giả kết luận rằng ở cá trôi Ấn Độ được cho ăn từ 6,5-7% khối lượng thân/ngày với thức ăn có hàm lượng protein (26-28%) và mức năng lượng (23,5-25,3 kcal/100g) thì có kết quả tối ưu về tăng trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn; protein và năng lượng cho cá duy trì hàng ngày là 0,8-1,6
g protein và 7,23-14,5 kcal năng lượng tương ứng lệ cho ăn 2-4% (Ahmed,
2007) Bằng phương pháp như trên, Mohamed et al., (2009) xác định cá rô phi (Oreochromis niloticus) có nhu cầu protein tối ưu trong thức ăn là 30% Tuy
nhiên, nhược điểm của các mô hình này là chỉ có thể xác định nhu cầu dinh dưỡng ở một giai đoạn (cỡ) nhất định của đối tượng, do vậy khi muốn xác định nhu cầu dinh dưỡng ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau của đối tượng sẽ mất nhiều thời gian nghiên cứu
Hiện nay, mô hình năng lượng sinh học (Bioenergetic Modeling) là mô hình hiệu quả được sử dụng để dự đoán tăng trưởng, tỷ lệ cho ăn, FCR và sản phẩm thải của cá với các thành phần dinh dưỡng của thức ăn và điều kiện nuôi
khác nhau (Cho and Bureau, 1998; Lupatsch and Kissil, 2005; Lupatsch et al., 2001a, 2003; Azevedo et al., 1998) Mô hình “Fish-PrFEQ” của Cho and
Trang 39Bureau (1998) là mô hình lý thuyết đầu tiên về nhu cầu thức ăn dựa trên nhu cầu năng lượng (nhu cầu năng lượng duy trì và nhu cầu năng lượng cho tăng trưởng ) Việc xác định nhu cầu năng lượng thông qua việc xác định tăng trưởng của cá đáp ứng với nhiệt độ và tăng trọng của cá ở bất kỳ thời điểm nào trong chu kỳ sinh trưởng Nhu cầu năng lượng trong mô hình năng lượng sinh học của Cho and Bureau (1998) gồm nhu cầu năng lượng cho tăng trưởng + nhu cầu năng lượng duy trì + năng lượng tỏa nhiệt + năng lượng tiêu hao do quá
trình trao đổi chất (Glencross et al., 2002, 2007)
Mô hình của Lupatsch et al (2001a) đơn giản hơn so với mô hình của Cho
and Bureau (1998), năng lượng được chia thành hai phần gồm năng lượng cho tăng trưởng và năng lượng không phải cho tăng trưởng Năng lượng không phải cho tăng trưởng bao gồm năng lượng cho duy trì, tỏa nhiệt và các hoạt động Năng lượng cho tăng trưởng được tính toán chi tiết hơn mô hình của Cho and Bureau (1998), họ sử dụng hệ số trao đổi chất đặc trưng của loài để đánh giá nhu cầu năng lượng tương ứng ở các kích cỡ cá khác nhau Mô hình xác định
nhu cầu dinh dưỡng của cá được Lupatsch et al (2001a) và Lupatsch (2003)
tính toán theo công thức tính sau: Nhu cầu = M x BW (kg)b + G x tăng trưởng; trong đó, BW (kg)b (Metabolic body weight) = khối lượng cơ thể trao đổi chất;
M (maintenance requirement) = nhu cầu duy trì; G (coefficient describing the efficiency of utilisation of dietary energy or protein for growth) = hệ số thể hiện hiệu quả sử dụng protein hay năng lượng cho tăng trưởng
Theo Lupatsch (2003), nhu cầu về protein và năng lượng cho cá tăng trưởng được xác định bằng tổng lượng protein và năng lượng tích lũy cho tăng trưởng + lượng protein và năng lượng của cơ thể cá tiêu hao Trong đó: nhu cầu cho cơ thể cá tiêu hao là tiêu hao mất đi của cá ở các hoạt động trao đổi chất, duy trì, mối quan hệ này được thể hiện bằng số mũ, số mũ này quyết định sự mức độ trao đổi chất của cơ thể cá ở một cỡ cá bất kỳ, nhu cầu cho tích lũy là phần dưỡng chất còn lại cá tích lũy được cho tăng trưởng, sinh sản, …Mặt khác, nhu cầu cho tăng trưởng còn phụ thuộc vào mức cho ăn và thành phần hóa học của thức ăn Do vậy, nhu cầu về protein và năng lượng của một đối tượng được xác định dựa vào hiệu quả sử dụng các dưỡng chất này của đối tượng cho mục đích duy trì và tăng trưởng Vì vậy nhu cầu protein và năng lượng trong mô hình xác định nhu cầu dinh dưỡng sẽ không thể hiện ở phần trăm trong khẩu phần ăn
mà là con số cụ thể của lượng thức ăn ăn vào hàng ngày trên một đơn vị khối lượng và khối lượng tăng trưởng Mô hình tăng trưởng đa nhân tố này đã được
dùng để tính toán nhu cầu dinh dưỡng của cá chẽm (Glencross et al., 2002), cá hồi vân (Glencross et al., 2007), cá bớp (Tien et al., 2016) và cá kèo (Trần Thị
Bé, 2016) Các nhân tố của mô hình này gồm:
Trang 40(i) Công thức đa nhân tố dự đoán mối tương quan của tăng trưởng của cá tương ứng nhiệt độ nước và kích cỡ cá khác nhau;
(ii) Công thức đa nhân tố xác định năng lượng và protein sử dụng của cá; (iii) Thiết lập khẩu phần ăn dựa trên mối tương quan mô hình đa nhân tố giữa tăng trưởng và năng lượng sử dụng của cá;
(iv) Xác định nhu cầu protein và năng lượng tối ưu trong khẩu phần ăn của
cá ở các kích cỡ khác nhau Tất cả các yếu tố này kết hợp lại với nhau và được
xử lý dựa trên phần mềm Excel nhằm cung cấp một mô hình tương tác đa nhân
tố có thể kiểm tra các giả thuyết đặt ra
Mô hình tăng trưởng đa nhân tố có thể tóm tắt như sau: