1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng mô hình hóa xác định nhu cầu năng lượng và protein để phát triển thức ăn cho cá lóc (channa striata) (tt)

28 221 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 852,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên các nghiên cứu còn ít, chưa hoàn chỉnh nhu cầu dinh dưỡng cho một chu kỳ nuôi, vì vậy, việc áp dụng mô hình năng lượng sinh học để xác định nhu cầu dinh dưỡng cho cá lóc làm c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Trang 2

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

Người hướng dẫn chính: PGs.Ts Trần Thị Thanh Hiền Người hướng dẫn phụ: PGs.Ts Bùi Minh Tâm

Luận án được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án tiến sĩ cấp trường

Họp tại:

Vào lúc … giờ … ngày … tháng … năm …

Phản biện 1: PGS.TS Nguyễn Như Trí

Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Anh

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

Trung tâm Học liệu, Trường Đại học Cần Thơ

Thư viện Quốc gia Việt Nam

Trang 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

1) Ngô Minh Dung, Nguyễn Thị Long Châu, Bùi Minh Tâm, Phạm

Thị Tú Nga và Trần Thị Thanh Hiền, 2017 Nghiên cứu sự thay

đổi hoạt tính một số enzyme tiêu hóa của cá lóc (Channa striata)

từ giai đoạn bột đến 35 ngày tuổi với thức ăn khác nhau Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số 49b: 84-90

2) Ngô Minh Dung và Trần Thị Thanh Hiền, 2017 Phương pháp thu

phân và khả năng tiêu hóa của cá lóc (Channa striata) với nguồn

nguyên liệu protein khác nhau Tạp chí khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, số 8 (81): 114-120

3) Ngô Minh Dung và Trần Thị Thanh Hiền, 2017 Nhu cầu duy trì

và hiệu quả sử dụng protein, năng lượng của cá lóc (Channa

striata) Tạp chí khoa học Trường Đại học Cần Thơ, số 53b: 1-9

Trang 4

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong sản xuất thủy sản, thức ăn luôn đóng vai trò rất quan trọng

vì chi phí thức ăn chiếm 60-70% chi phí sản xuất Bên cạnh vấn đề chi phí, chất lượng thức ăn còn ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, sức khỏe và môi trường nuôi Để làm cơ sở cho việc xây dựng công thức thức ăn cho thủy sản, phù hợp với đối tương nuôi thì việc xác định nhu cầu dinh dưỡng, đặc điểm dinh dưỡng của thức ăn là rất cần thiết Trong những năm gần đầy, các nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã áp dụng những kỹ thuật, phương pháp nghiên cứu mới nhằm tối ưu hóa thức ăn cho động vật thủy sản Ứng dụng mô hình hóa được gọi là “mô hình năng lượng sinh học” để xác định nhu cầu dinh dưỡng của loài cá đã được sử dụng phổ biến (NRC, 2011) Một

số tác giả đã ứng dụng mô hình này trong việc xác định nhu cầu dinh

dưỡng cho một số loài cá như cá tráp (Sparus aurata) (Lupatsch et

al., 2003); cá cam (Seriola lalandi) (Mark et al., 2010); cá tra

(Pangasianodon hypophthalmus) (Glencross et al., 2010), cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) (Trung et al., 2011), cá kèo

(Pseudapocryptes elongatus) (Trần Thị Bé, 2016) Mô hình năng

lượng sinh học với ưu điểm là xác định nhu cầu dinh dưỡng của cá trong suốt chu kỳ nuôi thương phẩm, giúp tiết kiệm được thời gian

và chi phí nghiên cứu

Cá lóc là loài ăn động vật nên các nghiên cứu về sử dụng thức

ăn chế biến trong nuôi cá lóc cũng được quan tâm nhằm tìm ra loại thức ăn chế biến phù hợp với đặc tính của loài, mang lại hiệu quả cao, chủ động được mùa vụ và giảm ô nhiễm môi trường Một vài nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc đã được thực hiện, chủ yếu trên giai đoạn cá bột và cá giống như nghiên cứu về nhu cầu protein, lipid của Mohanty and Samantaray (1996, 1997); tỉ lệ

protein/lipid ((Aliyu-Paiko et al., 2010) hay khả năng sử dụng một nguồn protein thực vật thay thế cho bột cá (Trần Thị Thanh Hiền và

ctv, 2015, 2016) Tuy nhiên các nghiên cứu còn ít, chưa hoàn chỉnh

nhu cầu dinh dưỡng cho một chu kỳ nuôi, vì vậy, việc áp dụng mô hình năng lượng sinh học để xác định nhu cầu dinh dưỡng cho cá lóc làm cơ sở xây dựng công thức thức ăn phù hợp cho từng giai đoạn phát triển của cá lóc là cần thiết, góp phần hoàn thiện quy trình nuôi

đối tượng này Xuất phát từ tình hình thực tế trên “Ứng dụng mô

hình hóa xác định nhu cầu năng lượng và protein để phát triển

thức ăn cho cá lóc (Channa striata)” được thực hiện

Trang 5

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định nhu cầu dinh dưỡng (năng lượng, protein, acid amin)

của cá lóc (Channa striata) và khả năng tiêu hóa một số nguồn

cho các giai đoạn nuôi cá lóc thương phẩm

1.3 Nội dung nghiên cứu

1) Đặc điểm phát triển ống tiêu hóa của cá lóc giai đoạn bột đến

35 ngày tuổi khi sử dụng thức ăn chế biến;

2) Xác định thời điểm thu phân và phương pháp thu phân thích hợp để xác định độ tiêu hóa thức ăn của cá lóc

3) Ứng dụng mô hình năng lượng sinh học xác định nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc bao gồm nhu cầu protein, năng lượng; methionine, lysine;

4) Đánh giá khả năng tiêu hóa một số nguồn nguyên liệu phổ biến làm thức ăn cho cá;

5) Xây dựng công thức thức ăn nuôi cá lóc thương phẩm dựa trên kết quả nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cho từng giai đoạn 6) Nuôi thử nghiệm nhằm đánh giá hiệu quả của thức ăn nghiên cứu

1.4 Ý nghĩa của nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cung cấp dẫn liệu khoa học về đặc điểm phát triển ống tiêu hóa, phương pháp xác định độ tiêu hóa, nhu cầu dinh dưỡng bao gồm nhu cầu protein và năng lượng, hiệu quả sử dụng thức ăn và khả năng tiêu hóa một số nguồn nguyên liệu phổ biến cung cấp protein và carbohydrate được sử dụng trong chế biến thức

ăn cho cá lóc Kết quả nghiên cứu chính là cơ sở cần thiết cho các nhà sản xuất lựa chọn nguồn nguyên liệu phù hợp để phát triển công thức thức ăn cho cá lóc hiệu quả Người nuôi lựa chọn thức ăn phù hợp với các mức năng lượng và xác định tỷ lệ cho ăn hợp lý trong từng giai đoạn nuôi cá lóc thương phẩm

1.5 Điểm mới của luận án

- Xác định được sự biến đổi về enzyme tiêu hóa khi cá chuyển từ thức ăn tươi sống sang thức ăn chế biến, từ đó cho thấy khả năng

sử dụng thức ăn chế biến của cá lóc

- Xác định được thời điểm và phương pháp thu phân thích hợp đáp dụng cho nghiên cứu xác định độ tiêu hóa của thức ăn và nguyên liệu ở cá lóc

- Nghiên cứu đầu tiên ứng dụng mô hình năng lượng sinh học xác định nhu cầu protein, năng lượng, methionine và lysine tiêu hóa của cá lóc ở các giai đoạn nuôi thương phẩm

- Phát triển được công thức thức ăn phù hợp để nuôi cá lóc thương phẩm cho từng giai đoạn khác nhau

Trang 6

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là Cá lóc (Channa striata)

Thời gian từ 11/2011–11/2017

Địa điểm nghiên cứu tại Khoa Thủy sản-trường Đại học Cần Thơ Bảng 2.1: Nguyên liệu sử dụng làm thức ăn trong các thí nghiệm (trừ thí nghiệm nuôi thử nghiệm)

Thành phần Premix vitamin: vitamin A (400.000 IU), vitamin D 3 (80.000 IU), vitamin E (12g), vitamin K 3 (2,4g), vitamin B 1 (1,6g), vitamin B 2 (3g), vitamin B 6 (1g), niacin (1g), vitamin B 9 (0,8g), vitamin B 12 (0,004g), acid folic (0,032g), biotin (0,17g), vitamin C (60g), choline (4,8g), inositol (1,5g), ethoxyquin (20,8g), Cu (10g), FeSO 4 (20g), Mg (16,6g), Mn (2g), Zn (11g) (IU/kg; g/kg)

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu đặc điểm phát triển ống tiêu hóa của cá lóc giai đoạn bột đến 35 ngày tuổi

Mục tiêu thí nghiệm: Thí nghiệm ghi nhận sự phát triển hình thái,

mô học và đặc điểm biến đổi enzyme tiêu hóa của cá lóc từ giai đoạn bột khi chuyển đổi sang thức ăn chế biến Thí nghiệm với 2 nghiệm thức thức ăn: (i) Nghiệm thức TĂTS (thịt cá tạp biển), khi bắt đầu ăn

ngoài cá được cho ăn Moina sp., đến ngày tuổi thứ 10 Moina sp

được thay thế bằng TĂTS, với tỉ lệ thay thế tăng dần 20% TĂTS/ngày; (ii) Nghiệm thức TĂCB, ban đầu cá được cho ăn như nghiệm thức TĂTS, đến ngày tuổi thứ 17 TĂTS được thay thế bằng TĂCB, với tỉ lệ thay thế tăng dần 10% TĂCB/ngày

Trang 7

Thu mẫu: Mẫu cá lóc được thu ngẫu nhiên vào buổi sáng trước

khi cho cá ăn và nhịp thu mẫu vào các ngày tuổi thứ 1; 3; 5; 7; 9; 12; 15; 18; 21; 25; 30 và 35 sau khi nở Thu mẫu hình thái ống tiêu hóa,

mô học và phân tích enzyme

2.2.2 Xác định phương pháp thu phân thích hợp cho nghiên cứu

độ tiêu hóa thức ăn ở cá lóc

2.2.2.1 Thức ăn và hệ thống bể thí nghiệm

Hệ thống bể thí nghiệm, tất cả các thí nghiệm đều được tiến hành trên hệ thống thu phân lắng (170 L/bể) thiết kế chuyên cho nghiên

cứu xác định độ tiêu hóa theo Hien et al (2010) Nhiệt độ trong các

bể sáng chiều dao động từ 28,3-29,7 và pH dao động từ 7,8-7,9

Bảng 2.2: Công thức thức ăn và thành phần hóa học của thức ăn TN

2.2.2.2 Bố trí thí nghiệm

a Thí nghiệm 2: Nghiên cứu xác định thời điểm thu phân

Thí nghiệm nhằm tìm ra thời điểm thu phân thích hợp để xác định

độ tiêu hóa thức ăn ở cá lóc Cá được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với mật độ 15 con/bể, cá được cho ăn theo nhu cầu (ăn no đến khi ngừng ăn) 1 lần/ngày vào lúc 8 giờ sáng Cá được cho ăn 7 ngày để quen dần với thức ăn trước khi tiến hành thu phân Nhịp thu mẫu phân mỗi

2 giờ thu trong 24 giờ (thời điểm thu mẫu sau khi cho cá lóc ngưng ăn: 2; 4; 6; 8;10; 12; 14; 16; 18; 20; 22 và 24) và bắt đầu thu mẫu phân ở ngày nuôi thứ tám Các chỉ tiêu cần xác định: lượng phân thu được và độ tiêu hóa thức ăn mỗi 2 giờ

b Thí nghiệm 3: Nghiên cứu xác định phương pháp thu phân thích hợp

Thí nghiệm gồm 3 nghiệm thức tương ứng với 3 phương pháp thu phân khác nhau: thu phân bằng phương pháp lắng; vuốt và mổ Thời gian thí nghiệm kéo dài 14 ngày Phân tích thành phần hóa học của

hóa của thức ăn và dưỡng chất trong thức ăn để chọn ra phương pháp thu phân thích hợp cho cá lóc

Trang 8

Bảng 2.3: Thời điểm thu phân

(ngày)

Thời điểm thu phân (ngày nuôi)

Ghi chú

lóc vẫn cho ăn bình thường)

Hình 2.1: Hệ thống bể thí nghiệm thu phân lắng (trái); Phương pháp thu

phân vuốt (giữa); Phương pháp thu phân mổ (phải)

2.2.3 Ứng dụng mô hình năng lượng sinh học xác định nhu cầu protein, năng lượng và acid amin của cá lóc

2.2.3.1 Khảo sát đặc điểm sinh trưởng và thành phần hóa học cá lóc nuôi thương phẩm

Chọn 30 ao nuôi cá lóc thâm canh để tiến hành khảo sát tháng 5 đến 10/2013 Mẫu cá được thu định kỳ hàng tháng với số lượng 30 con/ao trong một lần thu Các chỉ tiêu xác định: tốc độ tăng trưởng

và thành phần hóa học của từng giai đoạn cá nuôi thương phẩm

2.2.3.2 Thí nghiệm 4: Xác định protein và năng lượng tiêu hao ở

cá lóc

Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức tương ứng với 5 nhóm kích cỡ cá khác nhau 10, 50, 100, 200, 500 g, các nghiệm thức được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với thời gian thí nghiệm là 28 ngày Cá lóc ở tất cả các nghiệm thức không được cho ăn trong suốt quá trình thí nghiệm Điều kiện nhiệt độ và pH trong các bể thí nghiệm duy trì lần lượt là

cá, thành phần hóa học của cá, năng lượng và protein tiêu hao từ đó xác định số mũ trao đổi năng lượng và protein ở cá lóc

2.2.3.3 Thí nghiệm 5: Khả năng tiêu hóa thức ăn và các dưỡng chất trong thức ăn của cá lóc

Thức ăn được được phối trộn từ các nguyên liệu gồm bột cá Kiên Giang, bột đậu nành ly trích dầu, bột mì lát, chất kết dính, dầu cá, vitamin, khoáng Thức ăn được trộn chất đánh dấu chromic oxide

methionine 0,85%, lysine 2,7% Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại trong 3 hệ thống bể thu phân lắng Điều

Trang 9

kiện nhiệt độ trung bình của thí nghiệm từ 27,1±0,25C đến

Chỉ tiêu phân tích gồm thành phần hóa học (ẩm độ, protein, lipid,

mẫu phân từ đó xác định độ tiêu hóa vật chất khô, năng lượng, protein và acid amin trong thức ăn thí nghiệm

2.2.3.4 Thí nghiệm 6: Xác định nhu cầu duy trì và hiệu quả sử dụng protein, năng lượng và acid amin tiêu hóa của cá lóc

Thí nghiệm bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 5 nghiệm thức tương ứng với các mức cho ăn là 0%; 0,75%; 1,5%; 2,25% và 3% (mức ăn tối đa) khối lượng thân/ngày, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần Thời gian thí nghiệm là 28 ngày

Thí nghiệm được bố trí trong

hệ thống bể nhựa (500 L/bể)

với mật độ 25 con/bể Thức ăn

được sử dụng giống thức ăn

thí nghiệm 5 Cá được cho ăn

2 lần/ngày với các mức cho ăn

tương ứng với từng nghiệm

sử dụng P, hiệu quả sử dụng E và hiệu quả sử dụng acid amin (AA)

2.2.3.5 Xác định nhu cầu protein, năng lượng, acid amin

Dựa kết quả về đặc điểm tăng trưởng, thành phần hóa học cá nuôi thương phẩm, độ tiêu hóa thức ăn, tiêu hao năng lượng và protein và nhu cầu duy trì và hiệu quả sử dụng protein, năng lượng

và acid amin tiêu hóa của cá lóc ứng dụng mô hình năng lượng sinh học xác định nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc ở các giai đoạn nuôi thương phẩm

2.2.4 Xác định khả năng tiêu hóa một số nguyên liệu phổ biến làm thức ăn

2.2.4.1 Thí nghiệm 7: Khả năng tiêu hóa một số nguyên liệu protein

a Thức ăn thí nghiệm

Thí nghiệm gồm 5 NT (NT đối chứng và 4 NT tương ứng với 4 loại nguyên liệu cần xác định độ tiêu hóa: bột cá, bột đậu nành li

Trang 10

trích, bột thịt xương và bột huyết), mỗi nghiệm thức được lặp lại 3 lần, áp dụng phương pháp thu phân lắng Nghiệm thức thức ăn đối

thức ăn cần xác định độ tiêu hóa có chứa 30% lượng nguyên liệu và 70% lượng thức ăn đối chứng

Bảng 2.4: Thành phần nguyên liệu của thức ăn thí nghiệm 7 (% khối lượng khô)

100 g/con Các chỉ tiêu phân tích gồm thành phần hóa học (ẩm độ,

liệu, thức ăn và mẫu phân của cá lóc từ đó xác định độ tiêu hóa thức

ăn, dưỡng chất trong trong thức ăn, độ tiêu hóa của nguyên liệu

2.2.4.2 Thí nghiệm 8: Khả năng tiêu hóa một số nguồn nguyên liệu carbohydrate

Các nguồn nguyên liệu được đánh giá độ tiêu hoá là cám gạo, cám ly trích, mì lát và bột cọ Thức ăn thí nghiệm, bố trí thí nghiệm, cách thu phân và các chỉ tiêu phân tích: được thực hiện tương tự như thí nghiệm xác định độ tiêu hóa các nguồn protein

2.2.5 Xây dựng công thức thức ăn nuôi cá lóc thương phẩm

Công thức thức ăn của cá lóc được xây dựng dựa trên kết quả nghiên cứu nhu cầu và các nghiên cứu về thức ăn cho cá lóc, cụ thể: (i) Xác định nhu cầu dinh dưỡng của cá lóc được thực hiện ở nội dung 4, (iii) Độ tiêu hóa của các nguồn nguyên liệu được thực hiện ở nội dung 5 (iii) Các nghiên cứu về khả năng sử dụng các nguồn

nguyên liệu và các chất bổ sung (Hien et al., 2015; Hien et al., 2016; Hien et al., 2018) Ứng dụng chương trình Solver trên Excel version

5.0 thiết lập công thức thức ăn với nhu cầu dinh dưỡng của cá

Trang 11

2.2.6 Nuôi thử nghiệm

Thí nghiệm thực hiện nuôi cá lóc khối lượng ban đầu 7-9 g/cá

loại thức ăn: (i) Thức ăn A (TA-A): thức ăn cá lóc công nghiệp (phổ biến) có hàm lượng protein 40%; lipid 7% trong suốt chu kỳ nuôi; (ii) Thức ăn B (TA-B): thức ăn được sản xuất theo thí nghiệm đã nghiên cứu, gồm 3 loại thức ăn có hàm lượng protein B1 (42% protein tiêu hóa) cho 1,5 tháng đầu; từ 1,5-2,5 tháng sử dụng B2 (36% protein tiêu hóa) từ 2,5 tháng đến thu hoạch là B3 (33% protein

thu toàn bộ cá thí nghiệm để xác định các chỉ tiêu tỷ lệ sống (SR), tốc độ tăng trưởng (SGR), hệ số thức ăn (FCR), hiệu quả sử dụng protein (PER)

Mô hình hóa sử dụng theo mô hình năng lượng sinh học của

Lupatsch et al (2003), Glencross et al (2010) Xác định hiệu quả sử

dụng protein và năng lượng dựa vào phương trình y = ax + b Xây dựng nhu cầu protein và năng lượng của cá dựa trên nhu cầu duy trì, nhu cầu cho tăng trưởng

Trang 12

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm phát triển ống tiêu hóa của cá lóc từ giai đoạn bột đến 35 ngày tuổi

3.1.1 Sự phát triển của cá bột

3.1.1.1 Kích thước và khối lượng, kích cỡ miệng

Chiều dài tổng, chiều dài ruột, kích thước miệng và tương quan chiều dài ruột tăng cùng với sự gia tăng tuổi của cá Trong thí

nghiệm này sử dụng Moina sp làm thức ăn cho cá từ 1-10 ngày tuổi,

sau đó thay thế cá tạp ở ngày tuổi thứ 10 và thức ăn chế biến ở ngày

17 là hoàn toàn phù hợp với cỡ miệng và tập tính bắt mồi của cá Khối lượng cá 35 ngày tuổi nghiệm thức TĂTS nghiệm thức TĂCB lần lượt là 401 mg và 407 mg, khác biệt không có ý nghĩa thống kê

(p>0,05)

3.1.1.2 Cấu trúc ống tiêu hóa của cá lóc

Ống tiêu hóa của cá lóc ở ngày tuổi thứ 1 sau khi nở có dạng ống thẳng nằm ở mặt lưng với khối noãn hoàng lớn Vào ngày thứ 3, khi

cá bắt đầu sử dụng thức ăn ngoài thì ống tiêu hóa bắt đầu phân hóa thành 4 phần bao gồm khoang miệng, thực quản, dạ dày và ruột Các phần của ống tiêu hóa bắt đầu có sự phát triển như sau: (i) Thực quản

là một ống ngắn và phân biệt được khi cá bột bắt đầu sử dụng thức

ăn ngoài; Dạ dày: dạ dày xuất hiện vào ngày tuổi thứ 3 khi cá bắt đầu

sử dụng thức ăn ngoài, tuyến dạ dày xuất hiện ở ngày thứ 12 sau khi

nở, giai đoạn này dạ dày đã hoàn thiện chức năng tiêu hóa Vào ngày thứ 30 tuyến dạ dày được quan sát một cách rõ ràng; (iii) Ruột: ruột

cá lóc có thể xác định ở ngày tuổi thứ 3, vào ngày thứ 7 sau khi nở, lớp cơ ở ruột chỉ là một lớp cơ trơn bao vòng quanh ruột, Ruột cá chia làm 4 phần: Lớp niêm mạc, lớp dưới niêm mạc, lớp cơ trơn và lớp màng ngoài Tuy nhiên, lớp cơ trơn ở ruột mỏng hơn ở dạ dày và nếp gấp niêm mạc của ruột hẹp

3.1.2 Hoạt tính của enzyme

Hoạt tính của enzyme tiêu hóa trên cá lóc tăng chậm ở giai đoạn 1-9 ngày và sau đó tăng nhanh ở giai đoạn 12-35 ngày Tất cả các enzyme tiêu hóa protein: pepsin, trypsin và chymotrypsin đều được tìm thấy với mức thấp ở giai đoạn mới nở và duy trì liên tục cho đến ngày thứ 12 ngoại trừ trypsin với mức tăng ý nghĩa ở ngày thứ 21

3.1.2.1 Pepsin

Hoạt tính enzyme pepsin ở cá lóc được tìm thấy ở giai đoạn cá mới nở và tăng chậm trong giai đoạn 1-9 ngày tuổi Đến ngày thứ 12, hàm lượng pepsin tăng nhanh và đạt giá trị cao nhất vào ngày 25 ở nghiệm thức TĂTS với mức 1,44±0,26 mU/mg protein Có sự khác biệt về hoạt tính của enzyme của cá ở 2 nghiệm thức thức ăn từ ngày

Trang 13

21 trở đi, ở nghiệm thức TĂTS có hàm lượng pepsin cao hơn so với nghiệm thức cho ăn TĂCB và khác biệt có ý nghĩa thống kê

(p<0,05)

3.1.2.2 Trypsin

Hoạt tính enzyme trypsin của cá lóc bột tăng ở giai đoạn 1-18 ngày tuổi, sau đó tăng nhanh ở giai đoạn 21 ngày tuổi và đạt mức cao nhất là 333±19,9 mU/mg protein vào ngày 35 ở nghiệm thức TĂCB Hoạt tính của trypsin ở nghiệm thức TĂCB trong giai đoạn 18-30

ngày tuổi thấp hơn so với nghiệm thức TĂTS (p<0,05) Tuy nhiên,

đến ngày thứ 35, ở nghiệm thức TĂCB hoạt tính enzyme trypsin tăng

3.1.2.3 Chymotrypsin

Hoạt tính của enzyme chymotrypsin biến động trong giai đoạn

1-7 ngày tuổi và 15-25, tăng trong giai đoạn 1-7-15 và 25-35 ngày tuổi Giai đoạn 25-35 ngày tuổi, hàm lượng enzyme chymotrypsin tăng đáng kể, đạt mức cao nhất vào ngày thứ 35 ở cả 2 nghiệm thức với hàm lượng tương ứng là 1,708±124 mU/mg protein ở nghiệm thức TĂTS và 1,773±62.3 mU/mg protein ở nghiệm thức TĂCB Không

có sự khác biệt về hoạt tính của enzyme chymotrypsin ở hai nghiệm

thức thí nghiệm (p>0,05)

3.1.2.4 Amylase

Hoạt tính của enzyme α-amylase ở cá lóc được phát hiện ở ngày thứ 1 sau khi cá nở Khi chuyển đổi sang thức ăn chế biến (từ ngày 17) thì hoạt tính của enzyme amylase ở nghiệm thức TĂCB cao hơn

có ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức TĂTS (p<0,05) Kết quả này

là do trong TĂCB có chứa carbohydrate cao hơn hẳn trong nghiệm thức cho ăn cá tạp Carbohydrate sẽ kích thích hoạt động tiết enzyme

α – amylase ở cá lóc

Như vậy, phát triển của ống tiêu hóa có liên quan đến hoạt động tiết các enzyme tiêu hóa của cá lóc Carbohydrate sẽ kích thích hoạt động tiết enzyme α – amylase ở cá lóc Do đó những hiểu biết về mô học của ống tiêu hóa là rất quan trọng, nó cho phép chúng ta lựa chọn thời điểm thích hợp để chuyển đổi thức ăn một cách có hiệu quả nhất, từ đó khuyến cáo người nuôi phương thức cho ăn và loại thức ăn phù hợp với từng giai đoạn phát triển của cá

Trang 14

3.2 Phương pháp xác định độ tiêu hóa của cá lóc

3.2.1 Thời điểm thu phân

Lượng phân của cá lóc thu

được sau 2 giờ cho ăn

(0,15 g/bể) tăng dần đến

10 giờ sau cho ăn (0,76

g/bể), sau đó giảm dần sau

12h cho ăn (0,56 g/bể)

giảm đến sau 24 giờ cho

ăn (0,14 g/bể) Độ tiêu hóa

vật chất khô ở cá lóc tại

các thời điểm khác nhau

khác biệt không có ý nghĩa

thống kê (p>0,05) Kết

quả nghiên cứu này cho

thấy thời gian thu phân

thích hợp cho nghiên cứu

về độ tiêu hóa ở cá lóc là 8

giờ sau khi cá ăn

Hình 3.1 Khối lượng phân và độ tiêu hóa thức ăn của cá lóc tại các thời điểm khác

nhau

3.2.1 Phương pháp thu phân thích hợp

Độ tiêu hóa thức ăn ở cá lóc bằng 3 phương pháp thu phân khác nhau được trình bày ở (Bảng 3.1) Lượng phân thu được bằng phương pháp vuốt rất ít, không đủ lượng phân để phân tích độ tiêu hóa, do cấu trúc ống tiêu hóa cá lóc gấp khúc, vách ruột dày nên khó vuốt phân Phương pháp mổ thu được phân ít do ruột cá nhỏ, ngắn, thành ruột dầy, dễ lẫn thức ăn chưa tiêu hóa hoàn toàn, máu Vì vậy, kết quả thu được độ tiêu hóa vật chất khô và protein ở phương pháp thu phân mổ lần lượt là 21,0% và 41,1% thấp hơn rất nhiều và

khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) so với phương pháp thu mẫu

phân bằng phương pháp lắng lần lượt là 70,8% và 89,9% Như vậy ở

cá lóc thì phương pháp thu phân thích hợp nhất là phương pháp lắng Bảng 3.1: Độ tiêu hóa thức ăn ở cá lóc với 3 phương pháp thu phân khác nhau

Giá trị thể hiện là số trung bình ± độ lệch chuẩn Các giá trị trên cùng một cột có các chữ cái

Ngày đăng: 17/08/2018, 09:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm