1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

su dung ban do tu duy trong day hoc phan mon tieng viet 6 THCS

25 229 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 3,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề được Đảng, Nhà nước, nhân dân,... và Bộ GDĐT rất quan tâm. Để đổi mới phương pháp dạy học tích cực, chủ động, sáng tạo là một điều khó, không phải một sớm một chiều và rất cần sự năng động nhiệt tình của người giáo viên ở tất cả các bộ môn. Dạy học tích cực chính là: Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng bộ môn, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh.

Trang 1

I ĐẶT VẤN ĐỀ:

Hiện nay, đổi mới phương pháp dạy học là vấn đề được Đảng, Nhà nước,nhân dân, và Bộ GD&ĐT rất quan tâm Để đổi mới phương pháp dạy học tíchcực, chủ động, sáng tạo là một điều khó, không phải một sớm một chiều và rấtcần sự năng động nhiệt tình của người giáo viên ở tất cả các bộ môn Dạy học

tích cực chính là: Phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng bộ môn, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh

Bộ môn Ngữ văn là bộ môn đã được các nhà biên soạn và làm chương

trình Sách giáo khoa thiết kế tích hợp ba phân môn vào một (Văn học, tiếng Việt

và tập làm văn) vào làm một Để phát huy tính chủ động sáng tạo của học sinh

khi dạy bộ môn ngữ văn, người giáo viên có nhiều cách để thực hiện đổi mới vềphương pháp dạy học Trong môn Ngữ văn, phân môn tiếng Việt là một phầnkhông thể thiếu và rất quan trọng Phân môn tiếng Việt cung cấp cho học sinhnhững kiến thức chuẩn về mặt từ ngữ, ngữ pháp, Từ đó giúp học sinh hình

thành các kỹ năng nghe – nói - đọc - viết để phục vụ công việc giao tiếp có hiệu

quả trong sinh hoạt, cũng như công việc

Như chúng ta đã biết: học sinh lớp 6 mới được chuyển cấp từ bậc Tiểu họclên nên phương pháp học tập nói chung và phương pháp học tập bộ môn Ngữvăn nói riêng còn nhiều hạn chế và chưa thích ứng hiệu quả được Phần tiếngViệt lớp 6 gồm khá nhiều nội dung kiến thức quan trọng làm cơ sở, nền tảngkhông chỉ cho việc học tiếng Việt ở các lớp và các bậc học tiếp theo mà cònđóng vai trò lớn trong việc giúp học sinh cảm thụ, phân tích các tác phẩm vănhọc ở phân môn văn học; giúp học sinh xây dựng tạo lập các văn bản ở phânmôn tập làm văn

Nhận thức được tầm quan trọng của phân môn Tiếng Việt nói chung vàphần tiếng Việt lớp 6 nói riêng trong chương trình THCS, cũng như hướng tớiviệc đổi mới phương pháp dạy học tiếng Việt, dạy phân môn văn học và tập làm

Trang 2

văn nói chung, bản thân tôi luôn cố gắng tìm tòi và thử nghiệm để lựa chọnnhững phương pháp dạy học mới, những kỹ thuật dạy học mới,… cho phù hợpvới đối tượng học sinh của mình Trong quá trình đổi mới đó, tôi nhận thấyphương pháp dạy học sử dụng bản đồ tư duy (BĐTD) rất phù hợp với bộ mônNgữ văn cũng như phân môn tiếng Việt 6 Việc sử dụng bản đồ tư duy vào đổimới phương pháp góp phần giảm bớt được tâm lý ngại học văn, khơi dậy tronghọc sinh tình yêu, cái nhìn và tư duy mới về môn học Vậy thế nào là phươngpháp dạy học bằng bản đồ tư duy? Cần sử dụng sơ đồ tư duy như thế nào khi dạyphần tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn 6 đạt hiệu quả? Hơn nữa, trong quátrình công tác, tôi cũng ít thấy các đồng nghiệp có những SKKN chia sẻ liênquan đến vấn đề sử dụng bản đồ tư duy trong dạy phân môn tiếng Việt 6 Với lý

do đó, tôi mạnh dạn viết SKKN: “ Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học phân môn tiếng Việt, ngữ văn 6 – cấp THCS”.

Trang 3

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Phần 1: Thực trạng của vấn đề

Nhân dân ta thường có câu: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam” Ngữ pháp Việt Nam phong phú, đa dạng và cũng rất phức tạp Tiếng Việt

là ngôn ngữ chung của người dân Việt Nam nhưng trong thực tế không phải aicũng nói và hiểu tiếng Việt một cách chuẩn xác Muốn giao tiếp có hiệu quả, đòihỏi chúng ta cần có một vốn từ vựng phong phú, cần phải nắm chắc các quy tắcngữ pháp, cùng các quy tắc sử dụng từ ngữ trong từng trường hợp, tình huống,

Và để giúp học sinh có được điều đó không một ai khác chính là người giáo viêndạy bộ môn Ngữ văn trong đó có phân môn tiếng Việt

Học tiếng Việt không chỉ hỗ trợ tích cực cho học sinh về kĩ năng viết bài

mà còn quan trọng trong việc sử dụng ngôn ngữ hiệu quả khi giao tiếp Khi hiểucặn kẽ về đặc điểm cấu tạo, các hình thức cấu trúc tiếng Việt người học mới có ýthức vận dụng linh hoạt khi giao tiếp, nếu dạy học không hiệu quả sẽ ảnh hưởngkhông nhỏ tới việc sử dụng tiếng Việt của học sinh Và để giúp học sinh hiểuđược, giáo viên nhất thiết phải đổi mới phương pháp dạy học, phải tìm tòi vàthiết kế nội dung bài giảng khoa học, lô gic, cô đọng, phù hợp với đối tượnghọc sinh Với thời lượng 45 phút/ tiết học, giáo viên cần linh hoạt, chủ động đểlàm sao vừa đảm bảo việc hình thành kiến thức mới lại vừa giúp học sinh vậndụng để làm các bài tập thực hành Phân môn tiếng Việt của sách giáo khoa hiệnhành có rất ít các tiết luyện tập riêng để củng cố kiến thức cho học sinh

Là một giáo viên dạy văn cấp THCS, tôi trăn trở rất nhiều về thực trạnghọc văn hiện nay, đặc biệt việc giảng dạy các đơn vị kiến thức liên quan đếnphân môn tiếng Việt Nhiều giáo viên giảng dạy phân môn tiếng Việt chưa đạthiệu quả làm học sinh không có hứng thú tìm hiểu, học tập và hợp tác Rất khótin rằng: một học sinh lớp 6 lớp 7 thậm chí lớp 8 phân tích cấu trúc ngữ pháp củamột câu đơn còn sai; không phân biệt được danh từ, động từ, tính từ; Giáoviên đứng lớp cũng rất lúng túng trong việc giải quyết một đơn vị kiến thức tiếngViệt, chưa tìm ra phương pháp, cách thức, kỹ thuật dạy học hợp lý để cuốn họcsinh vào bài giảng của mình Việc dạy tiếng Việt tưởng chừng đơn giản nhưng

Trang 4

thật sự khó khăn Một đơn vị kiến thức khó phải biến nó thành đơn giản, một bàiđơn giản những vẫn phải tạo được tính tò mò khám phá cho học sinh Do đóphương pháp mà người giáo viên vận dụng vào dạy các bài tiếng Việt phải linhhoạt, có chiều sâu, khai thác và sử dụng hợp lý để học sinh phát hiện ra kiến thứcmới, đồng thời khơi lại được kiến thức cũ một cách chủ động sáng tạo, biết vậndụng hiệu quả trong thực hành

Thực tế, học sinh lớp 6 trường THCS Hùng Lô học phần tiếng Việt cònyếu, các em còn thụ động, chưa tích cực học tập, chưa biết ghi nhớ kiến thứctrọng tâm một cách xâu chuỗi, khái quát Về phía giáo viên, qua dự giờ thăm lớptôi nhận thấy đôi khi vẫn còn chậm đổi mới về phương pháp dạy học, còn nặng

sử dụng phương pháp thuyết trình, rất ít giáo viên có sử dụng bản đồ tư duyhoặc dạy cho học sinh các kỹ năng ghi nhớ tiếp nhận bài học bằng bản đồ tưduy; nhiều giáo viên còn cho học sinh ghi nhiều nên chưa phát huy được tínhtích cực, chủ động và sáng tạo của các em; nói cách khác học sinh có hiểu bàinhưng hiểu chưa sâu, chưa nắm được bản chất của vấn đề để vận dụng vào bàitập, thực tế

Từ thực trạng và một số nguyên nhân ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượnghọc phân môn tiếng Việt trong Ngữ văn nói chung và học phân môn tiếng Việt 6nói riêng ở trên, để khắc phục tôi thường xuyên tham khảo tài liệu hướng dẫnđổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy năng lực của học sinh; tìmtòi và áp dụng khái quát hóa các nội dung bài học bằng cách sử dụng bản đồ tưduy giúp học sinh ghi nhớ được nhanh hơn, hiệu quả hơn,… Qua quá trìnhnghiên cứu, áp dụng tôi thấy việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học là rất cầnthiết và giáo viên nên làm thường xuyên Qua việc sử dụng đó, tôi thấy đây cũng

là một phương pháp đổi mới dạy học vì đó là phương pháp trình bày ý tưởngbằng hình ảnh, giúp não bộ phát huy tối đa khả năng ghi nhớ, giúp người tư duytìm ra phương pháp hữu hiệu nhất để giải quyết vấn đề một cách tối ưu Đâycũng là một phương pháp giúp học sinh nâng cao cách ghi chép Bằng cách dùnggiản đồ ý, tổng thể của vấn đề được chỉ ra dưới dạng một hình trong đó các đốitượng thì liên hệ với nhau bằng các đường nối Với cách thức đó, các dữ liệu

Trang 5

được ghi nhớ và nhìn nhận dễ dàng và nhanh chóng hơn Từ đó, hiệu quả ghinhớ bài học cao hơn; các em hứng thú học tập, thích sáng tạo, đổi mới, khámphá và hiệu quả giảng dạy phân môn tiếng Việt cũng tăng cao.

Phần 2: Các biện pháp giải quyết vấn đề:

Chương I : Một số vấn đề chung về bản đồ tư duy:

1 Khái niệm và sự ra đời của bản đồ tư duy:

Vào những năm 60 của thế kỉ trước, lí thuyết về bản đồ tư duy lần đầu tiênxuất hiện gắn với cái tên Tony Buzan đã tạo được tiếng vang lớn

Bản đồ tư duy (Mind Map) còn gọi là sơ đồ tư duy hay lược đồ tư duy làhình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ýchính của một nội dung, hệ thống hoá một chủ đề … bằng cách kết hợp sử dụnghình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực Bản đồ tư duyphản ánh khả năng tư duy, tổng hợp và phát triển ý của người thực hiện

Phương pháp này, giúp ta khai thác khả năng ghi nhớ và liên hệ các dữkiện lại với nhau bằng cách sử dụng màu sắc, một cấu trúc cơ bản được pháttriển rộng ra từ trung tâm, chúng dùng các đường kẻ, các biểu tượng, từ ngữ vàhình ảnh theo một bộ các quy tắc đơn giản, cơ bản, tự nhiên và dễ hiểu Với mộtbản đồ tư duy, một danh sách dài những thông tin đơn điệu có thể biến thànhmột bản đồ đầy màu sắc, sinh động, dễ nhớ, được tổ chức chặt chẽ Nó kết hợpnhịp nhàng với cơ chế hoạt động tự nhiên của não chúng ta Việc nhớ và gợi lạithông tin sau này sẽ dễ dàng, đáng tin cậy hơn so với khi sử dụng kỹ thuật ghichép truyền thống

2 Tác dụng của bản đồ tư duy:

Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, bản đồ tư duy sẽgiúp con người trên nhiều mặt

2.1 Bản đồ tư duy tận dụng được các nguyên tắc của trí nhớ siêu đẳng: a/ Sự hình dung: BĐTD có rất nhiều hình ảnh để bạn hình dung về kiến thức cần nhớ Đây là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của trí nhớ siêu đẳng Đối với não bộ, BĐTD giống như một bức tranh lớn đầy hình ảnh

màu sắc phong phú hơn là một bài học khô khan, nhàm chán

Trang 6

b/ Sự liên tưởng, tưởng tượng: BĐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng

một cách rất rõ ràng

c/ Làm nổi bật sự việc: Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt đơn điệu, BĐTD

cho phép giáo viên và học sinh làm nổi bật các ý tưởng trọng tâm bằng việc sửdụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng Hơn nữa, việc BĐTD dùng rấtnhiều màu sắc khiến giáo viên và học sinh phải vận dụng trí tưởng tượng sángtạo đầy phong phú của mình Nhưng đây không chỉ là một bức tranh đầy màusắc sặc sỡ thông thường, BĐTD giúp tạo ra một bức tranh mang tính lý luận, liênkết chặt chẽ về những gì được học

2.2 Bản đồ tư duy để hỗ trợ học tập, phát triển tư duy lôgic:

Học sinh tự có thể sử dụng bản đồ tư duy để hỗ trợ việc tự học ở nhà: Tìmhiểu trước bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng cách vẽ bản đồ tư duy trêngiấy, … hoặc để tư duy một vấn đề mới, qua đó phát triển khả năng tư duy lôgic,củng cố khắc sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép

Việc học sinh tự vẽ bản đồ tư duy có ưu điểm là phát huy tối đa tính sángtạo của học sinh, phát triển năng khiếu hội họa, sở thích của học sinh, các em tự

do chọn màu sắc (xanh, đỏ, vàng, tím,…), đường nét (đậm, nhạt, thẳng, cong…),các em tự “sáng tác” nên trên mỗi bản đồ tư duy thể hiện rõ cách hiểu, cách trìnhbày kiến thức của từng học sinh và qua đó các em sẽ yêu quí, trân trọng “tácphẩm” của mình

2.3 Tiết kiệm thời gian, công sức:

Nhờ vào việc tận dụng những từ khóa và hình ảnh sáng tạo, một khốilượng kiến thức dài vài trang giấy có thể được ghi chú hết sức cô đọng chỉ trongmột trang, mà không bỏ sót bất kì một thông tin quan trọng nào Tác dụng này

có hiệu quả tối đa khi chúng ta sử dụng bản đồ tư duy trong việc khái quát, hệthống hóa kiến thức đã được học của học sinh Khi cần phải hệ thống kiến thứccủa chương sách dài 20 trang chúng ta chỉ cần cụ thể qua 2-3 trang bản đồ tưduy Những người khác có thể mất một tiếng hoặc hơn thế nữa để hoàn tất việc

ôn lại cùng một chương sách mà vẫn có thể bỏ sót thông tin trong khi chúng tachỉ cần 20 phút để ôn lại toàn bộ kiến thức một cách hoàn chỉnh Như vậy, so

Trang 7

sánh với cách học truyền thống, bản đồ tư duy có những ưu thế vượt trội giúpchúng ta tiết kiệm được nhiều thời gian công sức mà vẫn đạt hiệu quả như mongmuốn.

2.4 Sử dụng rộng rãi, hiệu quả và dễ dàng ở mọi lĩnh vực:

Bản đồ tư duy được sử dụng rộng rãi, hiệu quả và dễ dàng ở mọi lĩnh vựcnhư: học tập, nghiên cứu, thuyết trình, kinh doanh, các hoạt động kinh tế, chínhtrị, xã hội… Hầu hết các tập đoàn kinh tế lớn trên thế giới hiện nay đều sử dụngbản đồ tư duy như là một phương pháp củng cố, hệ thống, tìm ra cách thức, giảipháp nâng cao năng suất và hiệu quả công việc cho tập đoàn của mình

3 Cách thiết kế bản đồ tư duy:

Trong cuốn Lập bản đồ tư duy của tác giả Tony Buzan, ông đã chỉ ra 7bước để tạo lập một bản đồ tư duy thông thường Tuy nhiên để có thể hiểu mộtcách ngắn gọn và dễ nhất, tôi xin thu gọn 7 bước trên thành 4 bước cơ bản sau:

- Bước 1: Vẽ chủ đề trung tâm trên một mảnh giấy (đặt nằm ngang) hoặc

trên máy

+ Người vẽ sẽ bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề Hình ảnh có thểthay thế cho cả ngàn từ và giúp chúng ta sử dụng tốt hơn trí tưởng tượng củamình Sau đó có thể bổ sung từ ngữ vào hình vẽ chủ đề nếu chủ đề không rõràng

+ Nên sử dụng màu sắc vì màu sắc có tác dụng kích thích não như hình ảnh

+ Có thể dùng từ khó, kí hiệu, câu danh ngôn, câu nói nào đó gợi ấn tượng sâusắc về chủ đề

- Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ vào chủ đề trung tâm

+ Tiêu đề phụ có thể viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh to để làm nổi bật.+ Tiêu đề phụ được gắn với trung tâm

+ Tiêu đề phụ nên được vẽ chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể được vẽ tỏa

ra một cách dễ dàng

- Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ.

+ Khi vẽ các ý chính và chi tiết hỗ trợ chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh

Trang 8

+ Nên dùng những biểu tượng, cách viết tắt để tiết kiệm không gian vẽ và thờigian.

+ Mỗi từ khóa, hình ảnh nên được vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh.Trên mỗi khúc nên chỉ có tối đa một từ khóa

+ Sau đó nối các nhánh chính cấp 1 đến hình ảnh trung tâm, nối các nhánh cấp 2đến các nhánh cấp 1, nối các nhánh cấp 3 đến các nhánh cấp 2…bằng đường kẻ.Các đường kẻ càng gần trung tâm thì càng được tô đậm hơn

+ Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường kẻ thẳng vì đường kẻ congđược tổ chức rõ ràng sẽ thu hút sự chú ý của mắt nhiều hơn

+ Tất cả các nhánh tỏa ra cùng một điểm nên có cùng một màu Chúng ta thayđồi màu sắc khi đi từ ý chính ra đến các ý phụ cụ thể hơn

- Bước 4: Chỉnh sửa, bổ sung, hoàn thiện BĐTD Ở bước này GV vẽ

trang trí màu sắc, font chữ, tích hợp thêm hình ảnh để minh hoạ, giúp cho bàigiảng thêm sinh động, hấp dẫn

Bản đồ tư duy sẽ hỗ trợ tích cực nhất cho GV và HS khi dạy – học các bàinghiên cứu kiến thức mới, bài ôn tập, tổng kết, hoặc luyện tập củng cố, hệ thốnghoá kiến thức sau mỗi bài, mỗi phần…

Chương 2: Thực hiện sử dụng bản đồ tư duy vào dạy tiếng Việt 6

-cấp THCS:

1 Đặc điểm các bài tiếng Việt lớp 6:

Như đã nói, tiếng Việt có vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong việchọc môn Ngữ văn cũng như trong đời sống hàng ngày Là một bộ phận của tiếngViệt, tiếng Việt lớp 6 cũng góp phần hoàn thiện vai trò đó Tiếp nối phần luyện

từ và câu trong chương trình tiếng Việt bậc Tiểu học, phần tiếng Việt lớp 6không chỉ nhắc lại mà còn đi sâu vào tìm hiểu các đơn vị kiến thức về từ, cụm

từ, câu, dấu câu, giúp học sinh hoàn thiện dần kiến thức về từ ngữ và ngữ pháptiếng Việt đồng thời tăng khả năng sử dụng tiếng Việt trong học tập và đời sốnghàng ngày Với hai đơn vị kiến thức chính: Từ và Câu, phần tiếng Việt 6 giữ vaitrò làm cơ sở, nền tảng cho việc học và sử dụng tiếng Việt cho các lớp tiếp theo

Trang 9

Để có cái nhìn tổng quan về chương trình tiếng Việt 6, chúng tôi xin hệthống lại các tiết học của học phần này Trong 140 tiết học của môn Ngữ văn(Theo Phân phối chương trình Ngữ văn lớp 6 hiện hành của Bộ GD&ĐT) có 34

tiết Tiếng Việt, 1 tiết Ôn tập tổng hợp (bao gồm cả ba học phần Văn học – Tiếng Việt – Tập làm văn) Cụ thể như sau:

Trang 10

22 Ẩn dụ

24 Các thành phần chính của câu

25 Câu trần thuật đơn

26 Câu trần thuật đơn có từ là

27 Câu trần thuật đơn không có từ là

28 Kiểm tra Tiếng Việt

29 Chữa lỗi về chủ ngữ, vị ngữ

30 Chữa lỗi về chủ ngữ, vị ngữ (tiếp)

31 Trả bài kiểm tra Tiếng Việt

32 Ôn tập về dấu câu: dấu hỏi, dấu chấm hỏi, dấu chấm than

33 Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy)

34 Tổng kết phần Tiếng Việt

Nhìn vào bảng thống kê ở trên có thể thấy số bài lí thuyết hình thành kiến

thức mới chiếm đa số, số bài ôn tập có rất ít ( 4 bài trong đó có 2 bài ôn tập riêng: Ôn tập về dấu câu: dấu hỏi, dấu chấm hỏi, dấu chấm than; Ôn tập về dấu câu (dấu phẩy) và 2 tiết ôn tập chung: Ôn tập Tiếng Việt; Tổng kết phần Tiếng Việt) Đối với các bài dạy lí thuyết có nhiều phần kiến thức học sinh cần nắm

vững, nếu không nắm vững học sinh sẽ dễ nhầm lẫn kiến thức giữa các bài, hiểuchung chung, mơ hồ Còn các tiết ôn tập thì rất ít mà lượng kiến thức trong mộttiết là tương đối nhiều, đòi hỏi giáo viên cần có phương pháp ôn tập phù hợp để

hệ thống kiến thức cho học sinh một cách rõ ràng, dễ hiểu và giúp các em có khảnăng ghi nhớ nhanh và lâu Vì vậy sử dụng bản đồ tư duy để khái quát lại kiếnthức của các bài một cách rõ ràng, dễ hiểu nhất là điều rất cần thiết và phù hợpkhi dạy tiếng Việt

Ví dụ: Dạy bài “Từ và cấu tạo từ Tiếng việt”:

* Cách dùng lời và dạy thường: “Từ chỉ gồm một tiếng là từ đơn Từ gồmnhiều tiếng là từ phức Những từ phức được tạo ra bằng cách ghép các tiếng có

Trang 11

quan hệ với nhau về nghĩa được gọi là từ ghép Còn những từ phức có quan hệláy âm giữa các tiếng được gọi là từ láy

* Cách dùng bản đồ tư duy: Mức độ cụ thể (phức tạp) hay sơ lược (đơngiản) trong nội dung của sơ đồ tùy thuộc vào dụng ý của người tạo lập Chẳnghạn, với nội dung trên, ta cũng có thể cụ thể hoá bằng việc cung cấp một cáchchi tiết hơn, đầy đủ hơn nội dung cho mỗi nhánh của sơ đồ

So sánh hai cách thể hiện nội dung bài học: “Từ và cấu tạo từ củaTiếngViệt” như trên, dùng lời và dùng bản đồ tư duy, chúng ta thấy rõ là cách dùng lờichủ yếu mới tập trung cung cấp cho học sinh những khái niệm khoa học, cònmối quan hệ giữa các khái niệm trong ngôn ngữ như đã bị nhoà đi Dùng bản đồ

tư duy các em hứng thú hơn so với những tiết học dùng lời mà không dùng bản

đồ như đã nêu ở phần so sánh trên

2 Giáo viên sử dụng BĐTD để hỗ trợ quá trình dạy học:

2.1 Sử dụng bản đồ tư duy để huớng dẫn học sinh lập kế hoạch học tập:

GV tiến hành khi hướng dẫn học sinh tự học ở nhà, chuẩn bị bài mớinhằm rèn luyện tính tự giác, chuyên cần và chủ động trong học tập giúp tăngtính hiệu quả, sau khi kết thúc một bài học trên lớp GV chiếu màn hình bài tập

về nhà, định hướng cho học sinh phác thảo đề cương của bài sẽ học bằng BĐTD

về những nội dung liên quan như : khái niệm, đặc điểm, cấu tạo …

Ví dụ: Sau khi dạy văn bản “Thánh Gióng” ( Ngữ văn 6 tập 1), tiết tiếp

theo là bài “ Từ mượn” GV có thể hướng cho học sinh phác thảo đề cương củabài sẽ học bằng sơ đồ tư duy nội dung như sau:

Trang 12

Qua bản đồ minh họa trên, học sinh sẽ chủ động hơn trong việc học bài vàchuẩn bị bài mới.

2.2 Sử dụng bản đồ tư duy trong kiểm tra bài cũ:

Kiểm tra bài cũ là một hoạt động thường xuyên và liên tục trong các tiếthọc Thông qua hoạt động kiểm tra bài cũ, giáo viên sẽ đánh giá ý thức và nănglực học tập của học sinh Hoạt động này thường diễn ra vào khoảng 5 – 7 phútđầu mỗi tiết học Hình thức kiểm tra có thể là hỏi – đáp các câu lí thuyết thôngthường hoặc cho bài tập để học sinh lên bảng trình bày Nội dung kiểm tra:những đơn vị kiến thức của bài cũ, thường là kiến thức của bài học tiết trước.Ngoài cách kiểm tra bài cũ theo lối truyền thống như trên, giáo viên hoàn toàn

có thể sử dụng bản đồ tư duy vào hoạt động này Giáo viên có thể sử dụng mộttrong hai cách:

Cách 1: Yêu cầu học sinh tạo bản đồ tư duy để nhắc lại các kiến thức củabài học trước (đối với câu hỏi lí thuyết) hoặc giải bài tập (đối với câu hỏi vậndụng), yêu cầu có giải thích/thuyết trình

Cách 2: Giáo viên đưa ra bản đồ tư duy khuyết và yêu cầu học sinh hoànthiện Đối với việc yêu cầu học sinh tự tạo bản đồ tư duy, mặc định học sinh đã

có kiến thức về lí thuyết bản đồ tư duy, đã qua làm quen và thực hành tạo bản đồ

tư duy, khi đó vai trò của giáo viên sẽ thể hiện ở hai bước: Một là: giáo viên sẽ

là người lựa chọn nội dung câu hỏi để việc sử dụng bản đồ tư duy được diễn rathuận lợi và phù hợp Hai là: giáo viên sẽ đánh giá bản đồ tư duy mà học sinh

Ngày đăng: 16/08/2018, 16:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w