1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân đạm đến năng suất và hàm lượng NO3 trong dưa chuột bao tử vụ đông năm 2016 tại thái nguyên

65 176 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LONG THỊ YẾN Tên đề tài: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG PHÂN ĐẠM ĐẾN NĂNG TRONG DƯA CHUỘT BAO TỬ VỤ ĐÔNG NĂM 2016 TẠI THÁI NGUYÊN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính

Trang 1

LONG THỊ YẾN

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG PHÂN ĐẠM ĐẾN NĂNG

TRONG DƯA CHUỘT BAO TỬ

VỤ ĐÔNG NĂM 2016 TẠI THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Khoa : Nông học

Trang 2

LONG THỊ YẾN

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG PHÂN ĐẠM ĐẾN NĂNG

TRONG DƯA CHUỘT BAO TỬ

VỤ ĐÔNG NĂM 2016 TẠI THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Thực tập tốt nghiệp giữ vai trò quan trọng đối với sinh viên trong quá trình học tập Đây là giai đoạn giúp sinh viên làm quen với thực tiễn, nâng cao chuyên môn và kinh nghiệm để khi ra trường là một cán bộ khoa học đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của xã hội phát triển

Được sự nhất trí của nhà trường, của khoa Nông Học em đã tiến hành

thực tập với đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân đạm đến năng

Tập thể thầy, cô giáo khoa Nông học, đặc biệt các thầy, cô giáo trong

bộ môn Rau, Quả đã trực tiếp giảng dạy giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này

Em xin chân thành cảm ơn bạn bè, gia đình và những người đã nhiệt tình giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Do thời gian có hạn trình độ bản thân còn hạn chế, nên khóa luận của

em không tránh khỏi những khuyết điểm thiếu sót Vì vậy em mong được sự tham gia góp ý kiến của thầy cô và bạn bè để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên ngày, tháng, năm 2017

Sinh viên

Long Thị Yến

Trang 4

MỤC LỤC

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Yêu cầu của đề tài 2

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

1.4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 3

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.2 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài 5

2.2.1 Đặc điểm chung về cây dưa chuột bao tử 5

2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất dưa chuột bao tử trên thế giới và Việt Nam 7

2.2.3 Tình hình nghiên cứu về bón đạm cho dưa chuột bao tử trên thế giới và Việt Nam 17

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 20

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 20

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 20

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 20

3.3 Nội dung nghiên cứu 20

3.4 Phương pháp nghiên cứu 21

3.4.1 Bố trí thí nghiệm 21

Trang 5

3.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 22

3.5 Quy trình kỹ thuật trồng dưa bao tử 24

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 25

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến sinh trưởng của dưa chuột bao tử Surya vụ đông năm 2016 tại Thái Nguyên 26

4.2 Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến năng suất của dưa chuột bao tử Surya 33

4.2.1 Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến một số chỉ tiêu của quả 33

4.2.2 Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến năng suất dưa chuột bao tử 35

4.3 Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến hàm lượng NO3- trong dưa bao tử 37 4.4 Ảnh hưởng của các liều lượng đạm đến tình hình sâu bệnh trên dưa bao tử 38

4.5 Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế 39

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 42

5.1 Kết luận 42

5.2 Kiến nghị 43

TÀI LIỆU THAM KHẢO 44

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất dưa chuột trên thế giới qua các năm 10 Bảng 2.2: Tình hình sản xuất dưa chuột ở một số khu vực trong năm 2014 11 Bảng 4.1: Thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn của các công thức bón đạm khác nhau 26 Bảng 4.2: Động thái tăng trưởng chiều cao cây 28 Bảng 4.3: Động thái tăng trưởng số lá của dưa chuột bao tử vụ Đông 30 Bảng 4.4: Số lượng hoa cái cây dưa chuột bao tử sử dụng các mức bón đạm khác nhau 32 Bảng 4.5: Tỷ lệ đậu quả của cây dưa chuột sử dụng các mức bón đạm

khác nhau 32 Bảng 4.6: Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến kích thước và khối lượng quả dưa chuột bao tử 34 Bảng 4.7: Ảnh hưởng của các mức bón đạm đến năng suất dưa chuột bao tử35 Bảng 4.8: Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến hàm lượng NO3- trong dưa

bao tử 37 Bảng 4.9: Tình hình sâu bệnh hại trên các công thức thí nghiệm 38 Bảng 4.10: Sơ bộ hạch toán hiệu quả kinh tế của các công thức (tính cho 1 sào) 40

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1 Động thái tăng trưởng chiều cao của dưa chuột bao tử 28 Hình 4.2 Động thái tăng trưởng số lá của dưa chuột bao tử vụ Đông 2016 30 Hình 4.3 Ảnh hưởng của các mức bón phân đạm đến năng suất dưa chuột bao tử 36

Trang 8

NSLT : Năng suất lý thuyết

NSTT : Năng suất thực thu

Trang 9

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Rau xanh là nhu cầu không thể thiếu được trong cơ cấu bữa ăn hàng ngày của con người trên khắp hành tinh Đặc biệt khi lương thực và các thức

ăn giàu đạm đã được đảm bảo thì yêu cầu về số lượng và chất lượng rau lại càng gia tăng như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ, rau cung cấp cho cơ thể những chất quan trọng như: Protein, lipit, muối, axit hữu cơ, chất thơm và đặc biệt rau có ưu thế hơn các cây trồng khác

về vitamin, A,B1,B2,C,E…và các chất khoáng Ca, Fe…thông qua bữa ăn hàng ngày của mỗi người Đó là những chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của cơ thể

Trong quyết định 6182/1999/QĐ/TTG của thủ tướng chính phủ phê duyệt “Đề án phát triển rau, quả và hoa cây cảnh thời kỳ 1999 - 2010” [26],

đã xác định mục tiêu phấn đấu đạt mức tiêu thụ bình quân đầu người 85kg rau/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt mức tiêu thụ 960 triệu USD/năm Dưa chuột bao tử là một trong số những cây được ưu tiên phát triển ở nhiều địa phương Dưa chuột bao tử là loại rau ăn quả có thời gian sinh trưởng ngắn trồng được nhiều vụ trong năm, đồng thời lại có tiềm năng năng suất cao (trung bình đạt 25 - 32 tấn/ha) nên dưa chuột bao tử là một trong những loại rau chủ lực trong cơ cấu thâm canh tăng vụ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích, tăng thu nhập cho người lao động Dưa chuột bao tử được sử dụng làm nguyên liệu cho các nhà máy chế biến xuất khẩu và trong các bữa ăn hàng ngày với nhiều hình thưc chế biến như: ăn tươi, muối mặn, đóng hộp, dầm giấm…làm phong phú và tăng chất lượng rau ăn hàng ngày và tăng nguồn thu ngoại tệ, đồng thời giải quyết được việc làm cho người lao động

Trang 10

Vì vậy bón phân là một biện pháp làm tăng năng suất cây trồng để đáp ứng nhu cầu của con người Trong vài thập niên gần đây phân hóa học chiếm lĩnh chủ yếu trong các loại phân được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp của hầu hết các nước trên thế giới Trong khi đó Việt Nam lại là một trong những nước nhập khẩu phân bón nhiều hàng năm chúng ta đã nhập khẩu 90 - 93% Đạm, 30 - 35% lượng phân lân, 100% lượng phân kali (Đường Hồng Dật 2003) [3]

Tuy vậy phân bón vẫn bị người dân sử dụng một cách lãng phí do kiến thức do chưa hiểu hết tác dụng của phân bón hợp lý Chính vì vậy hiện nay hiệu suất sử dụng phân đạm chỉ ở mức 35 - 40% phân lân và kali chỉ đạt 50% (Đường Hồng Dật 2003) [3] Sử dụng phân hóa học liên tục, không hợp lý cân đối dẫn đến dư lượng NO3-

tồn dư trong các sản phẩm nông sản cao gây ra nhiều ảnh hưởng tới sức khỏe của người tiêu dùng

Hàm lượng NO3

trong rau quả được coi là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá rau sạch do một số tổ chức quốc tế một số nước quy định hàm lượng NO3- đó cũng là tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng rau xuất nhập khẩu Ở nước ta đây cũng là chỉ tiêu khiến cho ngành xuất khẩu rau phải điêu đứng

Xuất phát từ những vấn đề trên và để đáp ứng được cho nhu cầu của thực tiễn sản xuất để góp phần vào việc tìm hiểu nâng cao hiệu quả sửa dụng của phân bón nói chung và phân Đạm nói riêng tôi đã tiến hành thực hiện đề

tài: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân Đạm đến năng suất và hàm lượng NO 3 -

trong dưa chuột bao tử vụ Đông năm 2016 tại Thái Nguyên”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Xác định liều lượng đạm bón phù hợp cho dưa chuột bao tử đạt năng suất cao và hiệu quả kinh tế cao nhưng hàm lượng NO3- dưới ngưỡng cho phép

1.3 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá được ảnh hưởng của phân đạm tới khả năng sinh trưởng của dưa chuột bao tử vụ Đông năm 2016 tại Thái Nguyên

Trang 11

- Đánh giá được ảnh hưởng của phân đạm tới các yếu tố cấu thành năng suất của dưa chuột bao tử vụ Đông năm 2016 tại Thái Nguyên

- Đánh giá được ảnh hưởng của lượng đạm đến hàm lượng NO3- trong dưa chuột bao tử vụ Đông năm 2016 tại Thái Nguyên

- Đánh giá được ảnh hưởng của lượng đạm đến mức độ biểu hiện sâu bệnh hại dưa chuột bao tử vụ Đông năm 2016 tại Thái Nguyên

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Thực hiện đề tài giúp sinh viên tiếp cận được với công tác nghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức đã học vào thực hiện đề tài một cách có hiệu quả Qua đó giúp sinh viên nâng cao trình độ chuyên môn và phương pháp nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp tìm ra được mức đạm bón thích hợp nhất cho cây dưa chuột bao tử nhằm nâng cao năng suất mà hàm lượng NO3- trong sản phẩm không vượt quá ngưỡng cho phép và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất

Trang 12

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Trong sản xuất cần nắm vững các đặc trưng và đặc tính của giống để từ

đó có các biện pháp kỹ thuật tác động thích hợp để mang lại hiệu quả kinh tế cao Bón phân là một trong những biện pháp làm tăng năng suất cây trồng để đáp ứng nhu cầu của con người.Trong vài thập niên gần đây, phân hóa học chiếm lĩnh chủ yếu trong các loại phân được sử dụng trong sản xuất nông nghiệp của hầu hết các nước trên thế giới Khi bón phân phải kết hợp phân bón vô cơ và phân bón hữu cơ thì mới phát huy được hiệu quả cao và bền vững Cùng với cuộc cách mạng xanh về giống, nền nông nghiệp thâm canh

ra đời đã vận dụng tối đa tác dụng của phân bón đặc biệt là phân vô cơ

Tuy nhiên bón nhiều phân chưa hẳn đã tốt, nồng độ hóa học cao có thể gây hại đối với cây trồng đồng thời ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khỏe con người, cây trồng cũng như các sinh vật khác, cơ thể có những giới hạn đó

cơ thể bị hủy hoại Bón một lượng phân lớn vượt quá nhu cầu của cây còn gây

ra lãng phí tồn dư trong đất và sản phẩm tăng

Trong mấy thập kỷ qua năng suất cây trồng đã không ngừng tăng lên ngoài vai trò của giống mới phân bón cũng có vai trò quyết định FAO đã tổng kết phân bón không cân đối làm giảm hiệu suất sử dụng 20 - 50% (Nguyễn Ngọc Nông 1999) [9] Bón phân vô cơ là rất tốt cho cây trồng sinh trưởng phát triển tốt tuy nhiên nếu bón không đúng nồng độ, liều lượng thời gian cách ly không đảm bảo sẽ dẫn đến dư lượng NO3-

trong sản phẩm vượt qua ngưỡng cho phép ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm và sức khỏe con người

Trong đó đạm là yếu tố dinh dưỡng cơ bản đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành các cơ quan sinh vật, là thành phần của nhiều hợp chất

Trang 13

như: ancaloit, các chất điều hòa sinh trưởng, glucozit, enzim và diệp lục… Đạm là yếu tố có tính chất quyết định đến năng suất và chất lượng các loại rau Cây thiếu đạm lá có màu vàng, cây sinh trưởng kém, rễ mềm quả bé, chậm quá trình ra hoa, thậm chí thiếu nhiều sẽ gây rụng nụ quả Tuy nhiên nếu bón thừa đạm thời gian sinh trưởng thân lá sẽ bị kéo dài, ra hoa quả chậm, chín muộn thân lá non mềm, giảm khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh rau bón nhiều đạm còn giảm hương vị của rau

Vì vậy trong việc sử dụng phân đạm hay bất cứ loại phân nào khác ta phải sử dụng hợp lý cho từng loại cây trồng đồng thời bón đúng chủng loại đúng lúc đúng cách, đúng nồng độ liều lượng đảm bảo thời gian cách ly như vậy sẽ tăng hiệu suất sử dụng phân bón tránh lãng phí và bảo vệ môi trường Quá trình thâm canh rau, cùng với việc sử dụng mất cân đối phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đã không tăng hiệu quả kinh tế mà còn tạo ra một nền nông nghiệp bền vững Vấn đề đặt ra là nghiên cứu đưa ra được liều lượng phân đạm phù hợp với loại cây trồng để đảm bảo về năng suất cũng như chất lượng

2.2 Các nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.2.1 Đặc điểm chung về cây dưa chuột bao tử

Dưa chuột bao tử là loại cây rau ăn quả quan trọng, được trồng lâu đời trên thế giới và trở thành thực phẩm thông dụng của nhiều quốc gia Những thập kỷ cuối của thế kỷ XX dưa chuột là cây chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất rau trên thế giới Những nước dẫn đầu về diện tích gieo trồng và năng xuất là: Hà Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ai Cập… Dưa chuột được trồng từ châu Á, châu Phi đến 360 vĩ Bắc [1] Nước ta hiện nay dưa chuột bao

tử có nhiều giống như Marinda, Levina Ajax, Mento… là những giống F1 nhập từ Hà Lan,… Ưu điểm của các giống này là năng suất cao, hình dáng đẹp, kích thước quả đồng đều Hiện nay cây dưa bao tử đang là cây được gieo trồng để thay thế các giống dưa chuột quả to Trước đây dưa chuột được dùng

Trang 14

như các loại hoa quả tươi để giải khát là chủ yếu Khi thị trường trong nước

và thế giới mở rộng nhu cầu tiêu dùng ngày càng phong phú, thì việc đa dạng hoá sản phẩm là tất yếu Ngày nay dưa chuột được dùng trong các bữa ăn dưới dạng quả tươi, salát, trộn, sào, cắt lát, muối chua đóng hộp… Trong đó dưa chuột bao tử được đưa vào chế biến rộng rãi, ở các doanh nghiệp chế biến

mà sản phẩm chế biến chủ yếu là dưa bao tử muối đóng lọ thuỷ tinh xuất khẩu Có thể nói đây là cây trồng không chỉ mang lại giá trị kinh tế cao cho ngành chế biến nông sản mà còn là cây đem lại hiệu quả kinh tế cao cho

ngành trồng trọt

Cây dưa chuột bao tử thuộc họ bầu bí Cucurbitaceae, chi Cucumis, là loại rau trồng thông dụng và là loại thức ăn được nhiều người ưa thích Dưa chuột bao tử có tác dụng giải khát, lọc máu, hoà tan axit Uric, các muối của axit uric (urat), lợi tiểu, gây ngủ nhẹ dưa chuột bao tử thường được dùng trong các trường hợp như sốt nhẹ, nhiễm độc, đau bụng và kích thích ruột, thống phong, tạng khớp, sỏi bệnh trực khuẩn Coli [19] Do hàm lượng kali cao nên dưa chuột bao tử rất cần cho những người bị bệnh tim mạch vì nó sẽ đẩy nhanh quá trình đào thải nước và muốn ăn ra khỏi cơ thể Dưa chuột bao

tử là cây ưa ấm thân leo hay bò, có phủ một lớp lông dày, gây ngứa và làm rát da Các giống dưa chuột bao tử hiện nay đều là giống lai F1 có khả năng sinh trưởng khoẻ chịu thâm canh, có tiềm năng năng suất cao Dưa chuột bao tử có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ẩm nên rễ dưa chuột bao tử yếu hơn cây bí ngô, dưa hấu và dưa thơm Hệ rễ ưa ẩm, không chịu khô hạn, không chịu ngập úng Hệ rễ có thể ăn sâu dưới đất 1m, rễ nhánh rễ phụ phát triển tuỳ điều kiện đất đai, hệ rễ phân bố ở tầng đất 0-30cm nhưng tập trung hầu hết ở tầng đất 15 - 20 cm Sau mọc 5 - 6 ngày rễ phát triển mạnh, thời kỳ cây con rễ sinh trưởng yếu Khi cây trưởng thành, hệ thống rễ ăn rộng ra 6 - 7feet (180 - 210 cm), rễ bất định sẽ mọc ra từ vùng điểm của thân leo Dưa

Trang 15

chuột bao tử là loại cây thân leo dài từ 1,7 đến 2,5 m trung bình mỗi cây có

từ 25 - 30 đốt, mỗi đốt dài từ 6-10cm, phân nhánh ít (3 - 8 nhánh), nhánh được mọc ra từ các đốt ở gốc Tua được mọc ra từ các đốt, khả năng leo bám kém, do vậy phải thường xuyên cố định ngọn bằng dây Dưa chuột bao tử thuộc loại cây hai lá mầm, lá có màu xanh đậm, trung bình mỗi cây có từ 20

- 30 lá, lá có 5 cánh, chia thuỳ nhọn hoặc dạng chân vịt, có dạng tròn, trên lá

có lông cứng, ngắn Hoa ra thành chùm ở nách lá, chủ yếu là hoa cái chiếm 99% Trung bình mỗi chùm có từ 4-5 quả, sau khi hoa nở từ 3-4 ngày (tương đương với 100 giờ) thì được thu hoạch Dưa chuột bao tử có thời gian sinh trưởng ngắn (trung bình 80-90 ngày tuỳ giống) Thời gian từ trồng đến thu

hoạch lứa đầu khoảng 35-40 ngày

2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất dưa chuột bao tử trên thế giới

và Việt Nam

2.2.2.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất dưa chuột bao tử trên thế giới

* Tình hình nghiên cứu về dưa chuột bao tử

Dưa chuột là loại cây trồng quan trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới Quả dưa chuột ngoài được sử dụng làm rau ăn còn là nguyên liệu trong các ngành công nghiệp chế biến đồ hộp, dược phẩm,… So với các cây trồng khác như lúa, ngô, dưa chuột thường nhạy cảm với các yếu tố khí hậu hay sâu bệnh hại (Nguyễn Hữu Doanh, 2005) [4] Mặt khác, việc chọn tạo giống ở dưa chuột bằng phương pháp truyền thống cũng gặp khó khăn do sự bất hợp về loài

Nhân giống dưa chuột bằng kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới Bằng phương pháp này có thể tạo ra số lượng cây theo mong muốn

Một số nhóm tác giả khác lại tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của các auxin và xytokinin trong quá trình nuôi cấy đến khả năng nhân nhanh (Zhimin Yin, 2005) [15] Bên cạnh các nghiên cứu hoàn thiện quy trình nhân giống,

Trang 16

một số nhà khoa học đã ứng dụng kỹ thuật chuyển gen cây trồng để cải thiện tính trạng cho các giống dưa chuột Gần hai thập kỷ qua, phương pháp chuyển

gen gián tiếp thông qua vi khuẩn Agrobacterium và phương pháp chuyển gen

trực tiếp đã được áp dụng trên cây dưa chuột (Zhimin Yin, 2005) [15] Cho đến nay, nhiều quy trình chuyển gen cho dưa chuột đã được xây dựng và đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chuyển gen, bao gồm kiểu gen, loại mẫu nuôi cấy và chủng vi khuẩn sử dụng cho biến nạp

Hiện nay, đã giải quyết nhu cầu sản xuất và xuất khẩu dưa chuột, mục tiêu của các cơ quan khoa học là tập trung vào nghiên cứu theo định hướng sau:

Khảo nghiệm tập đoàn giống nhập nội, xác định giống thích hợp, phục

vụ cho nhu cầu sản xuất, xuất khẩu

Lai tạo chọn lọc các giống mới phục vụ cho nhu cầu sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu, chọn giống dưa chuột cho chế biến (quả nhỏ), chọn giống dưa cho ăn quả tươi (quả dài) Việc chọn tạo giống dưa chuột phục vụ cho chế biến và xuất khẩu đã và đang được nhiều người quan tâm và tập trung nghiên cứu

Giống dưa chuột có gai đen chuyển màu da cam khi chín hoàn toàn, có

xu hướng chuyển màu trước khi chín ở điều kiện nhiệt độ cao (cả trên đồng ruộng và trong quá trình bảo quản, vận chuyển) Còn đối với dưa chuột dùng cho chế biến cắt lát thì giống có gai quả màu đen thích hợp hơn giống có gai quả màu trắng vì chúng có màu sắc hấp dẫn hơn sau khi ngâm chúng trong lọ

có dung dịch muối

Giống dưa chuột lai hiện nay có giá trị kinh tế cao, rất nhiều ưu điểm trong việc tăng năng suất, đem lại lợi nhuận cao, thời gian cho thu hoạch dài, khi trồng trong nhà kính ở các nước Tây Âu, đậu quả tập chung thích hợp cho thu hoạch bằng máy và chống lại được nhiều loại bệnh Tất cả các giống lai hiện nay đều là giống 100% hoa cái và không có hạt (trong trường hợp trồng trong nhà kính tại Tây Âu) và chống được rất nhiều bệnh

Trang 17

Năng suất và chất lượng của dưa chuột bao tử phụ thuộc vào giống và phương pháp gieo trồng Hiện nay, có nhiều phương pháp trồng để thu được năng suất cao như trồng trong nhà nilon, trong nhà lưới, trong nhà kính (trồng trên đất và trồng không dùng đất)

* Tình hình sản xuất dưa chuột bao tử trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều chủng loại rau được gieo trồng,diện tích rau càng ngày càng gia tăng để đáp ứng nhu cầu về rau của người dân (Mai Phương Anh và cs, 1996) [1] Năm 1961 - 1965, tổng lượng rau của thế giới là 200.234 tấn; từ năm 1971 - 1975 tổng lượng rau đạt 293.657 tấn và từ năm 1981 - 1985 là 392.060 tấn; đến năm 1996 tổng lượng rau đã lên đến 565.523 tấn Sản lượng rau trên thế giới tăng lên rất nhanh, điều đó chứng tỏ nhu cầu rau của con người ngày càng tăng Trên thế giới, những nước có sản lượng rau tăng nhanh nhất là Ý, năm 1961 đạt 9.859 nghìn tấn; đến năm 1996 sản lượng tăng đạt 13.555 nghìn tấn Ở Hà Lan, năm 1985 bình quân 84 kg/người/năm; đến năm 1990 đạt 202 kg/người/năm Ở Canada, mức tiêu thụ rau bình quân là 70 kg/người/năm (Tạ Thu Cúc và cs) [2] Theo số liệu thống

kê từ FAO, năm 2007 diện tích trồng dưa chuột trên thế giới khoảng 2.583,3

ha, năng suất đạt 17,27 tấn/ha, sản lượng đạt 4.416,094 nghìn tấn Số liệu từ bảng thống kê cho thấy Trung Quốc là nước có diện tích trồng dưa chuột lớn nhất với 1.653,8 ha chiếm 64,02% so với thế giới Về sản lượng Trung Quốc vẫn là nước dẫn đầu với 2.806,2 nghìn tấn, chiếm 62,09% tổng sản lượng dưa chuột của thế giới Sau Trung Quốc là Nhật Bản với sản lượng 634 nghìn tấn chiếm 1,42% của thế giới Như vậy chỉ riêng 2 nước Trung Quốc và Nhật Bản

đã chiếm 64,32% tổng sản lượng của toàn thế giới Theo tính toán thì mức tiêu dùng rau tối thiểu cho mỗi người cần 90-110 kg/người/năm tức khoảng

250 - 300 g/người/ngày Đối với các nước phát triển có đời sống cao đã vượt quá xa mức quy định này: Nam Triều Tiên 141,1 kg/người/năm; Newzealand

Trang 18

136,7 kg/người/năm; Hà Lan lên tới 202 kg/người/năm, ở Canada mức tiêu thụ rau bình quân hiện nay là 227 kg/người/năm Trước nhu cầu về rau ngày càng tăng, một số nước trên thế giới đã có những chính sách nhập khẩu rau khác nhau Năm 2005, nước nhập khẩu rau nhiều nhất thế giới là Pháp đạt 145,224 nghìn tấn; sau Pháp là các nước như: Canada (143,332 nghìn tấn); Anh (140,839 nghìn tấn); Đức (116,866 nghìn tấn) Trong khi đó 5 nước chi tiêu cho nhập khẩu rau lớn trên thế giới là: Đức (149.140 nghìn USD); Pháp (132.942 nghìn USD); Canada (84.496 nghìn USD); Trung Quốc (80.325 nghìn USD); Nhật Bản (75.236 nghìn USD) Riêng đối với dưa chuột đã trở thành mặt hàng xuất khẩu quan trọng ở một số nước trên thế giới

Trong đó tình hình sản xuất dưa chuột trên thế giới không ngừng phát triển cả về diện tích và sản lượng thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất dưa chuột trên thế giới qua các năm

ha)

Năng suất (tấn/ha)

Qua bảng 2.1 ta thấy: Tình hình sản xuất dưa chuột trên thế giới từ năm

2010 trở lại đây có nhiều biến động cả về diện tích, năng suất và sản lượng

- Về diện tích: Từ năm 2010 - 2014 diện tích trồng dưa chuột trên thế giới đã tăng lên nhanh chóng Năm 2010 diện tích trồng dưa chuột trên thế giới chỉ có 2.020,3 nghìn ha nhưng đến năm 2014 lên tới 2.178,6 nghìn ha Như vậy chỉ sau 5 năm diện tích trồng dưa chuột trên thế giới đã tăng 158,3

Trang 19

nghìn ha Qua đó ta thấy được cây dưa chuột chiếm vị trí ngày càng quan trọng trong nền sản xuất nông nghiệp thế giới

- Về năng suất: Nhìn chung trong những năm gần đây tương đối ổn định dao động nhẹ từ 31 - 34,4 tấn/ha

- Về sản lượng: Từ năm 2010 trở lại đây tuy năng suất rau tăng đáng kể

do cải tiến về mặt khoa học kỹ thuật trong sản xuất nên sản lượng rau trên thế giới đã tăng rõ rệt Điều đó chứng tỏ nghề trồng dưa chuột trên thế giới đang

có xu hướng phát triển nhanh chóng, rau xanh cũng như dưa chuột trở thành nhu cầu thiết yếu và ngày càng tăng lên với đời sống của con người

Tuy nhiên, cây dưa chuột phân bố không đều giữa các nước và châu lục trên thế giới, qua tìm hiểu chúng tôi thu được kết quả ở bảng sau:

Bảng 2.2: Tình hình sản xuất dưa chuột ở một số khu vực trong năm 2014

(nghìn ha)

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (nghìn tấn)

- Về năng suất: Châu Á là châu lục có năng suất về dưa chuột là cao nhất thế giới và cao hơn năng suất bình quân của thế giới đạt 40 tấn/ha Đứng

Trang 20

thứ hai là châu Âu có năng suất bình quân lớn hơn thế giới là 32 tấn/ha, tiếp theo là châu Mĩ và châu Úc, thấp nhất là châu Phi có năng suất là 4,4 tấn/ha

- Về sản lượng: Châu Úc có sản lượng dưa chuột thấp nhất đạt 14,7 nghìn tấn và cao nhất là châu Á với sản lượng 65,5 nghìn tấn Trong đó riêng Trung Quốc có sản lượng dưa chuột đạt 47.360,521 tấn, cao hơn rất nhiều so với Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Thái Lan, Việt Nam và nhiều nước khác Sau Trung Quốc là Iran có sản lượng dưa chuột đạt 2.352,140 tấn; Thổ Nhĩ Kỳ đạt 1.749,170 tấn Bên cạnh sự gia tăng về năng suất và sản lượng thì chất lượng dưa chuột cũng được nhiều nước trên thế giới quan tâm, nhiều công nghệ tiên tiến ra đời và việc kiểm soát dư lượng hóa chất tồn đọng trong dưa chuột ngày càng được thực hiện triệt để hơn (FAOSTAT, 2017)

2.2.2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất dưa chuột bao tử ở Việt Nam

* Tình hình nghiên cứu dưa chuột của Việt Nam

Yêu cầu về năng suất và chất lượng dưa chuột ngày càng tăng đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu, chọn tạo giống quan tâm ngày càng nhiều vào việc tìm và sản xuất ra các loại giống mới phù hợp với điều kiện sản xuất của từng vùng, từng địa phương mang lại hiệu quả kinh tế cao Công tác nghiên cứu về dưa chuột đã được thực hiện chủ yếu trên các lĩnh vực:

- Thu thập, nhập nội nguồn gen các giống dưa chuột tạo cơ sở cho lai tạo và nghiên cứu

- Tạo nguồn vật liệu bằng lai tạo và xử lý đột biến bằng các tác nhân hóa học

- Chọn và tạo các giống dưa chuột cho chế biến và sản xuất trái vụ

- Bước đầu nghiên cứu công nghệ sản xuất rau sạch (hàm lượng nitrat,

dư lượng thuốc hóa học, kim loại nặng và vi sinh vật dưới ngưỡng cho phép)

Trang 21

- Tập trung cho việc phát triển các giống dưa chuột tốt trong sản xuất, chuyển giao công nghệ sản xuất rau cho nông dân (Mai Thị Phương Anh, Rau và trồng rau, Giáo trình cao học nông nghiệp, HNN, 1996) [1]

Tại các tỉnh phía Nam, những năm gần đây, các công ty giống Đông Tây, Hoa Sen, Trang Nông, công ty giống cây trồng Miền Nam đã nhập và khảo nghiệm nhiều giống dưa chuột từ các nguồn nhập khác nhau và kết luận giống F1 Happy 14, các dòng của công ty Know-you-seed (Đài Loan) như F1

DN - 3, F1DN6 cho năng suất và chất lượng cao trong điều kiện trồng ở phía Nam

Trong những năm gần đây công tác chọn tạo ra giống dưa chuột có năng suất cao, phẩm chất tốt vẫn không ngừng được các nhà khoa học tập trung nghiên cứu và đạt những thành tựu đáng kể Dưới đây là một số giống dưa chuột đang được sử dụng rộng rãi ở nước ta:

Trong thời gian từ 2001 - 2005, Viện nghiên cứu Rau Quả đã nghiên cứu chọn tạo ra hai giống dưa chuột CV5 và CV11 Qua nghiên cứu và các mô hình thử nghiệm tại các tỉnh như Hưng Yên, Bắc Giang, Vĩnh Phúc Cho thấy hai giống dưa chuột này sinh trưởng, phát triển rất khỏe, thân lá màu xanh đậm, phân cành khá, nhiều hoa, tỷ lệ đậu quả cao Quả dài 18 - 20 cm, đường kính 4

- 4,5 cm, vỏ quả màu xanh (CV11) và màu xanh trắng (CV5) Gai màu nâu, thịt quả dày, ít ruột, ăn giòn ngọt, không có vị đắng phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Thời gian sinh trưởng trung bình từ 75-85 ngày, năng suất 40-45

tấn/ha Chống chịu sâu bệnh hại rất tốt đặc biệt là bệnh sương mai, phấn trắng [7]

Giống PC1, Sao xanh 1 do GS.TS Vũ Tuyên Hoàng và cộng sự lai tạo

Thời gian sinh trưởng tương đối ngắn, cho năng suất cao, ổn định, được người

tiêu dùng ưa thích (Tạ Thu Cúc và cs) [2]

Dưa chuột bao tử: Giống được đưa vào thử nghiệm là giống lai F1:

MirinbeII và Marinda, mật độ 14.000 cây/ha tại 3 xã Phú Mậu (Phú Vang), Thuỷ Thanh (Hương Thuỷ) và Hương Long (Thành phố Huế) Mỗi điểm thử

Trang 22

nghiệm trên 1 vùng diện tích 500 m2 Dưa chuột bao tử giống MirabeII đạt 12

- 17 tấn/ha, Marinda đạt 10,0 - 17,2 tấn/ha Nhìn chung tỷ lệ đậu hoa, quả đạt cao, kháng bệnh tốt, cho lãi cao khoảng 57 triệu đồng/ha/vụ

Mummy 331: Nhập nội từ Thái Lan, sinh trưởng khá, ra nhánh mạnh,

bắt đầu cho thu hoạch 35 - 37 NSKG, quả đẹp, to trung bình (dài 16 - 20 cm, nặng 160 - 200 g), vỏ màu xanh trung bình, gai trắng, thịt chắc, phẩm chất ngon, dòn, không bị đắng, năng suất trung bình 30 - 50 tấn/ha

Giống 759: Nhập nội từ Thái Lan, sinh trưởng mạnh, cho thu hoạch 35

- 37 NSKG, quả thẳng, to trung bình, gai trắng, màu quả hơi nhạt hơn nhưng năng suất và tính chống chịu tương đương Mummy 331

Mỹ Trắng: Nhập nội từ Thái Lan, cây phát triển và phân nhánh tốt,

cho thu hoạch 35 - 37 NSKG, tỉ lệ thu quả cao, quả to trung bình, màu trắng xanh, gai trắng

Mỹ Xanh: Nhập nội từ Thái Lan, cây sinh trưởng tốt, chống chịu tốt

hơn giống Mỹ Trắng, quả to tương đương Mỹ Trắng nhưng cho nhiều quả và năng suất cao hơn

* Tình hình sản xuất dưa chuột bao tử của Việt Nam

Hiện nay trong nước ta ở một số địa phương đã phát triển thêm các diện tích trồng dưa liên doanh với các doanh nghiệp chế biến dưa chuột nhằm mục đích xuất khẩu sang Nhật Bản với sản phẩm dưa chuột chế biến muối mặn, với hướng này cũng đạt lãi xuất khá lớn, nâng cao hiệu quả sản xuất cho người nông dân Và hướng chọn tạo ra các giống dưa chuột để sử dụng cho sản xuất chủ yếu bằng cách nhập nội giống nước ngoài từ đó chọn tạo ra các giống dưa chuột ưu thế lai F1 phù hợp cho sản xuất và chế biến xuất khẩu của đặc điểm kinh tế xã hội trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta hiện nay

Theo số liệu của Tổng cục Thống Kê, diện tích trồng rau cả năm 2006

là 644,0 nghìn ha, tăng 29,5% so với năm 2000 (452,9 nghìn ha) Năng suất

Trang 23

đạt 149,9 tạ/ha, là năm có năng suất trung bình cao nhất từ trước đến nay Tổng sản lượng rau cả nước đạt 9,65 triệu tấn, đạt giá trị 144.000 tỷ đồng (tương đương 900 triệu USD), chiếm 9% GDP của nông nghiệp Việt Nam, trong khi diện tích chỉ chiếm 6% Với khối lượng trên, bình quân sản lượng rau sản xuất trên đầu người đạt 115 kg/người/năm, tương đương mức bình quân toàn thế giới và đạt loại cao trong khu vực, gấp đôi trung bình của các nước ASEAN (57 kg/người/năm) Kim ngạch xuất khẩu rau, quả và hoa cây cảnh trong 5 năm (2000 - 2004) đạt 1.222 triệu USD (bình quân mỗi năm đạt 224.4 triệu USD), trong đó khoảng 60% kim ngạch xuất khẩu rau

Riêng đối với dưa chuột bao tử được xem là một trong những loại rau chủ lực, có diện tích 19.874 ha, năng suất 16,88 tấn/ha, sản lượng 33.537 tấn chỉ đứng sau cà chua

Các vùng trồng dưa chuột lớn của cả nước bao gồm các tỉnh phía Bắc thuộc vùng đồng bằng sông Hồng Phía Nam, các huyện ngoại thành TP Hồ Chí Minh, đồng bằng sông Cửu Long như Tân Hiệp - Tiền Giang, Châu Thành - Cần Thơ, Vĩnh Châu - Sóc Trăng Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên gồm vùng rau truyền thống như Đà Lạt, Đơn Dương, Đức Trọng (Lâm Đồng), các tỉnh duyên hải miền Trung (Huế…)

Sản phẩm làm ra từ dưa chuột bao tử không chỉ để tiêu thụ tại chỗ mà một lượng khá lớn được chế biến và xuất khẩu sang thị trường nước ngoài Mặc dù công nghệ sau thu hoạch của nước ta còn thấp, song thị trường xuất khẩu vẫn chiếm một vị trí quan trọng

Còn theo số liệu thống kê, diện tích trồng rau của nước ta tính đến năm

2011 là 671,3 nghìn ha, gấp 1,4 lần so với năm 2011 (494,5 nghìn ha) chiếm xấp xỉ 7% đất nông nghiệp và 10% đất cây hằng năm Trong những năm gần đây, do áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật trong công tác chọn giống và kĩ thuật canh tác nên năng suất rau không ngừng tăng, đạt 129,7 tạ/ha (bằng 90%

Trang 24

trung bình so với toàn thế giới) sản lượng đạt 8,71 triệu tấn, gấp 1,4 lần so với năm 2001 (6,28 triệu tấn)

So với các loại cây trồng khác thì sản xuất rau đem lại hiệu quả kinh tế khá cao Theo các kết quả nghiên cứu của đề tài cấp nhà nước KC.06.10 NN trong giai đoạn 2001 - 2004, mỗi ha trồng lúa nước ở đồng bằng sông Hồng thu nhập bình quân 10,2 - 11,6 triệu đồng/ha/2 vụ, nếu trồng thêm một vụ ra đông với thu nhập bình quân 21 triệu đồng sẽ gần gấp đôi hai vụ lúa (Trần Khắc Thi 2003) [12]

Đánh giá về thực trạng sản xuất rau ở nước ta trong thời gian qua, nhiều tác giả cho rằng: Hiện nay sản lượng và năng suất rau ở nước ta còn thấp, quy

mô còn phân tán, chất lượng không ổn định, phần lớn rau không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu tươi và chế biến công nghiệp Mức tiêu thụ nội địa còn thấp, chỉ số bình quân đầu người đạt 60 - 65 kg/năm Sở dĩ có những hạn chế đó là do: Việc quản lí, thiếu cải tiến kĩ thuật, canh tác chủ yếu thiên về năng suất, chưa chú trọng đến chất lượng sản phẩm cho nên rau tươi Việt Nam chưa đảm bảo

an toàn cho người sử dụng Mặt khác, xuất khẩu rau còn quá ít, khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế kém Rau quả nước ta tuy đa dạng và phong phú, nhưng sản xuất chưa gắn với thị trường, chất lượng thấp, bao bì mẫu mã chưa thích hợp, thị trường rau còn đơn điệu và nghèo nàn Hiện nay Việt Nam có

40 nước là thị trường xuất khẩu rau nhưng chúng ta lại không đủ điều kiệu, mới chỉ xuất khẩu được khoảng 1 - 2% sản lượng Rau nước ta không thể cạnh tranh được với thị trường Quốc tế mà ngay cả trong nước vì rau tươi của chúng ta đang bị sản phẩm nhập khẩu lấn át (Cục chế biến Nông lâm sản và ngành nghề nông thôn, 2000) [24]

Riêng đối với dưa chuột bao tử được xem là một trong những loại rau chủ lực, có diện tích 19.874 ha, năng suất 16,88 tấn/ha, sản lượng 33.537 tấn chỉ đứng sau cà chua Sản phẩm làm ra từ dưa chuột không chỉ để tiêu thụ tại

Trang 25

chỗ mà một lượng khá lớn được chế biến và xuất khẩu sang thị trường nước ngoài Mặc dù công nghệ sau thu hoạch của nước ta còn thấp, song thị trường xuất khẩu vẫn chiếm một vị trí quan trọng

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan kim ngạch xuất khẩu các loại dưa chuột vào cuối tháng 04 năm 2007 đạt trên 571 nghìn USD, tăng 38% so với cùng kỳ tháng 03/2007 Trong đó có 03 doanh nghiệp có mức kim ngạch xuất khẩu dưa chuột các loại trên 50 nghìn USD là Công ty giao nhận

và xuất nhập khẩu Hải Phòng, Tổng công ty rau quả Nông sản, Công ty cổ phần xuất nhập khẩu Rau quả I

2.2.3 Tình hình nghiên cứu về bón đạm cho dưa chuột bao tử trên thế giới và Việt Nam

2.2.3.1 Tình hình nghiên cứu về bón đạm cho dưa chuột bao tử trên thế giới

Phân bón và việc sử dụng phân bón đối với các loại cây trồng nói chung và cây dưa chuột bao tử nói riêng là một trong những biện pháp quyết định đến năng suất Trong giai đoạn hiện nay với yêu cầu về năng suất, chất lượng sản phẩm ngày càng tăng của xã hội, nhất là các sản phẩm đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; việc chọn lựa các loại phân bón sử dụng để bón cho cây vừa mang lại năng suất cao vừa đảm bảo sản phẩm an toàn vừa không gây

ô nhiễm cho môi trường, môi sinh Ngày càng được các nhà khoa học quan tâm Bổ sung thêm phân ủ, phân hữu cơ hoặc bã cá giúp cho cây sinh trưởng khoẻ, đảm bảo đủ dinh dưỡng trong suốt quá trình sinh trưởng (Smith E.C, 2000) [14] Các nhà nghiên cứu và khuyến nông viên đều cho lời khuyên trước mỗi mùa vụ cần tiến hành phân tích đất để xác định lượng phân bón cho phù hợp Dưa chuột hút 120 N, 20 P205 và 115 K20 từ đất trong suốt một vòng đời, do đó các tác giả khuyến cáo nên bón phân sau khi đã kiểm tra hàm lượng và nguyên

tố đa lượng trong đất, dựa vào hàm lượng dinh dưỡng trong đất họ đã khuyến cáo lượng phân bón như sau:

Trang 26

Lượng phốt pho trong đất 0 - 19 20 - 39 40 - 69 70 - 99 >100 Bổ sung (cân Anh/P205/100 acre) 75 50 25 0 39 Lượng Kali trong đất 0 - 99 100 - 149

150 -1 99 200 - 249 >250 Bổ sung (cân Anh/P20/100 acre) 250 150 100 50 0 Ghi chú: 1pound (cân Anh) = 0,454kg; 1acre = 4050m2 Trên cơ sở đó bón lót 50 cân Anh/acre (1 acre tương đương 0,405ha) đạm với lân và kali Khi cây bắt đầu leo bón thêm 50 cân Anh N Nếu đất hay bị rửa trôi có thể bón thêm 50 cân Anh N Nghiên cứu phân bón với giống Phule Prachi Choudhari S.M, và cs (2002) bón lượng phân N: P: K = 150:90:90 kg/ha thu được năng suất 49,039 tấn/ha quả, cao hơn đối chứng 81,2% một cách có ý nghĩa Kết quả cho thấy khi tăng lượng phân bón thì sự tích luỹ chất khô, đạm, lân tăng lên theo đồ thị đường thẳng, nhưng kali không thấy có tác dụng Nếu bón phân N: P: K=150:90:90 kg/ha mà có kết hợp tưới nhỏ giọt thì sự thấp thụ đạm và kali là tốt nhất Cây hấp thụ tốt cả 3 nguyên tố nếu bón với N: P: K = 136,59: 24,83: 92,24 kg/ha Nghiên cứu cho thấy bón phân thông qua tưới nhỏ giọt tốt hơn bón phân ở dạng hạt Tưới nhỏ giọt kết hợp bón phân là kỹ thuật áp dụng công nghệ cao trong sản xuất dưa chuột Trong báo cáo kết quả nghiên cứu tưới nhỏ giọt kết hợp với liều lượng phân bón cho dưa chuột chế biến (Suojala, T., Salo, T.and Pulkkinen, J., 2006) cho thấy bón 120 - 140 N kết hợp tưới nhỏ giọt cho năng suất cao, trong những năm có điều kiện sinh trưởng bình thường tăng lượng đạm có thể tăng năng suất từ 5 - 10% Đạm và kali được khuyến cáo nên bón thúc, còn các loại phân bón khác thì nên bón lót Một số nước khuyến cáo sử dụng phân bón cho dưa bao tử như sau:

Senegal: Trên đất cát nhẹ ở vùng bán khô hạn 20 tấn/ha phân hữu cơ,

130 kg/ha N, 95 kg/ha P2O5 và 200 kg/ha K2O Trước khi gieo rải toàn bộ phân hữu cơ và lân và 1/3 lượng N và kali Số còn lại bón làm 2 lần bằng nhau vào lúc 30 và 50 ngày

Brazil: Lượng phân khuyến cáo chung là: Lần thứ nhất bón 50 kg N,

200 kg/ha P2O5 và 150 kg/ha K2O vùi vào đất lúc gieo, tiếp theo 50 kg/ha

Trang 27

K2O bón rải làm 2 lần Lúc 15 và 30 ngày sau gieo Năng suất cao hơn sẽ đạt được bằng cách bón vùi 20 tấn/ha phân hữu cơ vào lúc 2 tuần trước gieo

Ấn Độ: Trên đất thịt pha cát, với pH = 6,5 và hàm lượng Bo chừng 0,58 ppm dùng 80 kg/ha N, 45 kg/ha P2O5, 85 kg/ha K2O bón toàn bộ lượng đạm, lân và kali lúc gieo

2.2.3.2 Tình hình nghiên cứu về bón đạm cho dưa chuột ở Việt Nam

Nghiên cứu về hiệu suất sử dụng phân khoáng chủ yếu của dưa chuột theo Đoàn Ngọc Lân, (2006) [7], nếu bón đầy đủ NPK cây sinh trưởng tốt, thiếu một trong 3 loại phân bón cây đều sinh trưởng kém; không những chỉ ảnh hưởng đến sinh trưởng mà tỷ lệ phân vô cơ đa lượng còn ảnh hưởng đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của dưa chuột Bón 800 kg/ha phân NPK (15:10:15) tương đương 120N: 80P2O5: 120K2O cho dưa Mèo cho năng suất thực thu cao tăng chất lượng quả so với đối chứng, tăng hiệu quả kinh tế (Phạm Quang Thắng, 2010) [11]

Dưa chuột bao tử có nguồn gốc từ các vùng nhiệt đới ẩm nên thích nghi với điều kiện dinh dưỡng cao có sẵn trong đất Qua phân tích nồng độ các nguyên tố trong dung dịch dưa chuột cho thấy: N: 2.000 - 3.500 mg/kg dịch P: 160 - 225 mg/kg, K: 4.500 - 6.000 mg/kg, Mg: 3.000 - 4.000 mg/kg, Cl: 2.000 kg

Dinh dưỡng khoáng không đủ ảnh hưởng tốt đến sự sinh trưởng và phát triển của cây Ở thời kỳ đầu sinh trưởng cây cần đạm và lân, cuối thời kỳ sinh trưởng cây không cần nhiều đạm, nếu giảm bón đạm sẽ làm tăng thu hoạch một cách rõ rệt Trong 3 yếu tố NPK, dưa chuột sử dụng cao nhất là kali, thứ đến là đạm và ít nhất là lân, khi bón N: 60, P2O5: 60, K2O: 60 thì dưa chuột sử

dụng 92% đạm, 33% lân và 100% kali (Nguyễn Văn Hiển, 2000) [8]

Theo Phạm Tiến Dũng [5], nghiên cứu về dưa chuột bản địa cho thấy bón 800 kg NPK (15:10:15)/ha là thích hợp nhất cho cây dưa chuột bản địa sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cá thể cao nhất (4,34kg/cây) cho năng suất thực thu cao nhất (90,12 tấn/ha), chất lượng quả tốt hiệu quả phân

bón cao nhất và hiệu quả kinh tế thu được là rất cao

Trang 28

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đề tài tiến hành trên giống dưa chuột bao tử Surya của Công ty TNHH TM & DV Huyền Thoại Toàn Cầu nhập khẩu

- Đặc điểm: cây thân leo, ưa khí hậu ôn hòa, ấm áp, đây là loại cây ưa sáng, quả nhỏ, vỏ màu xanh đậm, thịt dày, có vị ngọt

- Phân đạm Urê Hà Bắc: Chứa 44 - 48% N ở dạng amin (NH2)

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Ảnh hưởng của liều lượng đạm đến năng suất và dư lượng NO3-trong dưa chuột bao tử

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Giống dưa chuột bao tử Surya được thực hiện ở trong khu cây trồng cạn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

Được tiến hành từ 10/9/2016 - 17/12/2016

Ngày gieo: 12/10/2016

Ngày mọc: 15/10/2016

Ngày trồng: 19/10/2016

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân đạm đến khả năng sinh trưởng

của dưa chuột bao tử vụ Đông 2016 tại Thái Nguyên

- Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân đạm đến năng suất của dưa chuột bao tử vụ Đông 2016 tại Thái Nguyên

Trang 29

- Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân đạm đến hàm lượng NO3trong dưa chuột bao tử vụ Đông 2016 tại Thái Nguyên

Nghiên cứu ảnh hưởng của lượng phân đạm đến tình hình sâu bệnh hại dưa chuột bao tử vụ Đông 2016 tại Thái Nguyên

- Sơ bộ hạch toán kinh tế của các công thức phân bón

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Bố trí thí nghiệm

- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh gồm 5 công thức và 3 lần nhắc lại

- Diện tích thí nghiệm:

+ Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 20m2 (không kể đường đi lại)

+ Diện tích khối thí nghiệm: 20m2 x 5CT x 3= 300m2

+ Khoảng cách: Trồng 2 hàng trên luống 0,5 x 0,7 m, 60 cây/ô

Trang 30

3.4.2 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

* Thời gian sinh trưởng qua các giai đoạn (ngày)

- Thời gian từ gieo đến mọc mầm (ngày): Tính từ khi gieo đến khi có

50% số cây trên ô mọc đủ 2 lá mầm

- Thời gian từ mọc mầm đến: Ra tua cuốn, thu hoạch hoàn toàn, ra hoa cái đợt đầu, thu quả đợt đầu, thu quả rộ, thu quả đợt cuối (ngày)

Động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm)

Theo dõi chiều cao của 10 cây cố định trên 1 ô thí nghiệm, 8 ngày 1 lần theo dõi, bắt đầu đo 8 ngày sau trồng

- Chiều cao cây (cm): Đo từ mặt đất đến đỉnh lá cao nhất

Động thái tăng trưởng số lá (lá)

Theo dõi chiều cao của 10 cây cố định trên 1 ô thí nghiệm, 8 ngày 1 lần theo dõi, bắt đầu đo 8 ngày sau trồng

- Số lá (lá) : Đếm và đánh dấu số lá trên cây qua các lần theo dõi

* Khả năng ra hoa, đậu quả

- Số hoa/cây = Tổng số hoa/Tổng số cây theo dõi

- Số quả/cây = Tổng số quả/Tổng số cây theo dõi

Số quả đậu

Tổng số hoa cái

* Chỉ tiêu về năng suất

- Số quả hữu hiệu/cây: Đếm toàn bộ số quả đủ tiêu chuẩn của 10 cây/1

ô thí nghiệm rồi tính trung bình

- Khối lượng trung bình/quả: Cân tổng số quả thu trên 10 cây mẫu/1 ô thí nghiệm sau đó tính trung bình

- Năng suất lý thuyết = khối lượng trung bình/quả x số quả TB/cây x mật

độ trồng (quy ra tấn/ha)

Trang 31

- Năng suất thực thu = khối lượng quả thu được trên ô thí nghiệm (quy ra tấn/ha)

* Chỉ tiêu phân tích NO3 -

Phân tích tại phòng thí nghiệm trung tâm trường Đại Học Nông Lâm

- Lấy mẫu dưa bao tử phân tích hàm lượng NO3-: Lấy mẫu dưa sau bón đạm lần cuối sau 7 - 10 ngày Từ các ô thí nghiệm lấy mẫu trung bình theo phương pháp đường chéo đưa vào túi sạch mang phân tích trong vòng 12h sau khi lấy mẫu

- Hàm lượng NO3- được xác định bằng điện cực ion chọn lọc

* Theo dõi tình hình sâu bệnh

Phương pháp điều tra sâu bệnh hại chính theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng (Chi cục bảo vệ thực vật, 2010) [13] và theo Nguyễn Hữu Doanh (2005) [4] Tiến hành điều tra định kỳ 5 ngày 1 lần

- Theo dõi tỷ lệ bệnh hại: Tiến hành điều tra ngẫu nhiên 10 cây trên ô

thí nghiệm, đếm số lá bị hại rồi tính tỉ lệ bệnh theo công thức (bệnh sương mai)

Số lá bị bệnh

Tổng số lá quan sát

+ Sâu hại (con/m2): Phương pháp đánh giá

(+) Xuất hiện ít: Mật độ sâu hại <5 con/m2

(++) Xuất hiện trung bình: Mật độ sâu hại 5 - 10 con/m2

(+++) Xuất hiện nhiều: Mật độ sâu hại >10 con/m2

* Tính toán hiệu quả kinh tế

- Tổng thu (đồng) = Năng suất thực thu x Giá dưa bao tử (tại thời điểm thu hoạch)

Trang 32

- Tổng chi (đồng): Công lao động + giống + phân bón + thuốc BVTV + các chi phí khác

- Hiệu quả kinh tế (đồng) = Tổng thu - Tổng chi

3.5 Quy trình kỹ thuật trồng dưa bao tử

- Làm đất: Do bộ rễ của dưa bao tử phát triển yếu nên phải làm đất kỹ, đất đảm bảo yêu cầu tơi, xốp, đủ ẩm và sạch cỏ dại

- Lên luống: Luống lên rộng 1,5m, luống cao 20 - 30 cm, rãnh rộng 30 - 35 cm

- Lượng phân bón/ha và cách bón

+ Phân chuồng 900 kg/ha

Với 5 mức bón đạm khác nhau (0, 5, 6, 7, 8 kg) N + 15 kg P2O5 + 7 kg K2O + Nếu đất hơi chua, pH dưới 5,0 có thể bón thêm 30 kg vôi bột/sào (khoảng 840 kg/ha)

+ Bón lót toàn bộ phân chuồng, phân lân và 50% tổng lượng N và K vào hốc, trộn đều lấp 1 lớp đất nhẹ

+ Cách gieo: Gieo hạt vào khay mỗi khay 1 hạt

+ Cách trồng: Loại bỏ những cây khác dạng cây bị bệnh, chuyển khay

ra đồng Nhấc nhẹ bầu cây ra khỏi khay và rải đều cây theo khoảng cách quy định Chú ý khi nhấc cây ra khỏi khay bầu nhẹ nhàng dùng 1 tay đẩy phía dưới đáy bầu lên và tay kia nhấc nhẹ nhàng ra khỏi khay, vùi kín bầu cây dưới đất và tưới thấm gốc để cho chặt gốc

+ Mật độ khoảng cách: Trồng 2 hàng trên luống với khoảng cách 0,5 x 0,7 m, mật độ 60 cây/ô, 30000 cây/ha

- Chăm sóc: Xới vun + bón thúc

+ Bón thúc lần 1: Kết hợp vun xới với bón thúc đợt 1 lúc cây có 4 - 5 lá thật gồm 25% tổng số N + K

+ Bón thúc lần 2: Khi thu quả lứa đầu gồm 25% tổng lượng N và K còn lại

- Làm giàn: Khi cây bắt đầu xuất hiện tua cuốn thì tiến hành làm giàn

Ngày đăng: 16/08/2018, 09:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Tạ Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nguyễn Thị Bích Hà, (2000), giáo trình cây rau, Nxb NN Sách, tạp chí
Tiêu đề: giáo trình cây rau
Tác giả: Tạ Thu Cúc, Hồ Hữu An, Nguyễn Thị Bích Hà
Nhà XB: Nxb NN
Năm: 2000
3. Đường Hồng Dật, (2003), Sổ tay hướng dẫn sử dụng phân bón, Nxb Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay hướng dẫn sử dụng phân bón
Tác giả: Đường Hồng Dật
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2003
4. Nguyễn Hữu Doanh ,(2005), Sâu hại cây leo thực phẩm trong vườn, Kinh nghiệm phát hiện và phòng trừ sâu bệnh hại cây trong vườn, tr. 50-51-52-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm phát hiện và phòng trừ sâu bệnh hại cây trong vườn
Tác giả: Nguyễn Hữu Doanh
Năm: 2005
5. Phạm Tiến Dũng, Tạp chí khoa học và phát triển năm 2012. “Ảnh hưởng của phân NPK đến sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng dưa chuột bản địa vùng Tây Bắc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của phân NPK đến sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng dưa chuột bản địa vùng Tây Bắc
6. Nguyễn Văn Hiển ,(2000), Giáo trình chọn giống cây trồng, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chọn giống cây trồng
Tác giả: Nguyễn Văn Hiển
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2000
8. Vũ Triệu Mân, (2001), Giáo trình bệnh cây nông nghiệp, Nxb Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh cây nông nghiệp
Tác giả: Vũ Triệu Mân
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2001
9. Nguyễn Ngọc Nông (1999), Giáo trình nông hóa học, Nxb Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nông hóa học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Nông
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1999
10. Hoàng Minh Tấn và cs, (2000), Giáo trình sinh lý thực vật, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình sinh lý thực vật
Tác giả: Hoàng Minh Tấn và cs
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2000
11. Phạm Quang Thắng, (2010), Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật thâm canh dƣa chuột bản địa (Cucumis sativus L.) tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Luận văn thạc sĩ Nông nghiệp. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cucumis sativus "L.) tại huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. "Luận văn thạc sĩ
Tác giả: Phạm Quang Thắng
Năm: 2010
12. Trần Khắc Thi (1999), Kỹ thuật trồng rau sạch. Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật trồng rau sạch
Tác giả: Trần Khắc Thi
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
13. Chi cục bảo vệ thực vật (19/12/2010), “Quy chuẩn quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng”.II. Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy chuẩn quốc gia về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng
15. Zhimin Yin, (2005). Tissue-culture-responsive and autotetraploidy- responsive changes in metabolic profiles of cucumber (Cucumis sativus L.) III. Tài liệu Internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cucumis sativus
Tác giả: Zhimin Yin
Năm: 2005
1. Mai Phương Anh, Trần Văn Lài, Trần Khắc Thi, (1996), Rau và trồng rau, Nxb NN, Hà Nội Khác
14. Smith, E. C, (2000). TheRole of the Tutor in Initial Teacher Education. Mentoring and Tutoring, 8.2 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w