LÊ THẾ TÙNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP KỸ THUẬT CHE SÁNG ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG GIỐNG CHÈ KIM TUYÊN TẠI PHÚ THỌ LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG THÁI NGUYÊN - 2018...
Trang 1LÊ THẾ TÙNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT CHE SÁNG ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG
GIỐNG CHÈ KIM TUYÊN TẠI PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2LÊ THẾ TÙNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT CHE SÁNG ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG
GIỐNG CHÈ KIM TUYÊN TẠI PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 8 62 01 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS TS Nguyễn Viết Hưng
2 TS Đặng Văn Thư
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc./
Tác giả luận văn
Lê Thế Tùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô giáo giảng dạy, thầy cô giáo hướng dẫn khoa học, được sự giúp đỡ của cơ quan, các đồng ghiệp và gia đình Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:
PGS.TS Nguyễn Viết Hưng - Trưởng khoa Nông học - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
TS Đặng Văn Thư - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè - Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc
Ban giám hiệu, Khoa sau đại học, tập thể giáo viên của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên
Tập thể lãnh đạo Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc và tập thể lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè
Gia đình, bạn bè và các bạn đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, thực hiện đề tài./
Phú Thọ, ngày tháng năm 2018
Tác gi ả luận văn
Lê Thế Tùng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHÚ THÍCH CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiến của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.2 Đặc điểm sinh vật học và sinh hóa của cây chè 4
1.2.1 Đặc điểm sinh vật học của cây chè 4
1.2.2 Đặc điểm sinh hóa của cây chè 13
1.3 Những kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài 18
1.3.1 Những kết quả nghiên cứu ở nước ngoài 18
1.3.2 Những kết quả nghiên cứu trong nước 22
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2 Vật liệu nghiên cứu 28
2.3 Phạm vi nghiên cứu 29
2.4 Nội dung nghiên cứu 29
2.5 Phương pháp nghiên cứu 29
2.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 29
2.5.2 Các chỉ tiêu theo dõi 31
Trang 6Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
3.1 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến năng suất, chất lượng chè
xanh giống chè Kim Tuyên 35 3.1.1 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến sinh trưởng cây chè
thí nghiệm 35 3.1.2 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến năng suất và các yếu tố
cấu thành năng suất chè 37 3.1.3 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến chất lượng nguyên liệu
búp tươi giống chè Kim Tuyên 40 3.1.4 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến một số thành phần sinh
hóa búp chè nguyên liệu 43 3.1.5 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến kết quả thử nếm cảm
quan chè thành phẩm 46 3.1.6 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến một số sâu hại chính trên chè 48 3.1.7 Phân tích hiệu quả kinh tế của thí nghiệm chiều cao che sáng trên
giống chè Kim Tuyên 51 3.2 Ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến sinh trưởng,
năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên 53 3.2.1 Ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến sinh trưởng
cây chè thí nghiệm 53 3.2.2 Ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến năng suất và
các yếu tố cấu thành năng suất chè 55 3.2.3 Ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến chất lượng
nguyên liệu búp tươi giống chè Kim Tuyên 57 3.2.4 Ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến một số thành
phần sinh hóa búp chè nguyên liệu 59
Trang 73.2.5 Ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến kết quả thử
nếm cảm quan chè thành phẩm 62
3.2.6 Ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến một số sâu hại chính trên chè 65
3.2.7 Phân tích hiệu quả kinh tế của thí nghiệm chiều cao che sáng trên giống chè Kim Tuyên 68
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 77
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến tốc độ sinh trưởng
búp chè vụ xuân 36 Bảng 3.2 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến năng suất và các
yếu tố cấu thành năng suất chè 38 Bảng 3.3 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến chất lượng nguyên
liệu búp tươi giống chè Kim Tuyên 41 Bảng 3.4 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến một số thành phần
sinh hóa búp chè nguyên liệu 44 Bảng 3.5 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến kết quả thử nếm
cảm quan chè thành phẩm 47 Bảng 3.6 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến một số sâu hại
chính trên chè (Mật độ trung bình/năm) 48 Bảng 3.7 Hiệu quả kinh tế của thí nghiệm chiều cao che sáng trên
giống chè Kim Tuyên 52 Bảng 3.8 Ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến tốc độ
sinh trưởng búp chè Kim Tuyên vụ xuân 53 Bảng 3.9 Ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến năng
suất và các yếu tố cấu thành năng suất chè 56 Bảng 3.10 Ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến chất
lượng nguyên liệu búp chè 58 Bảng 3.11 Ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến một số
thành phần sinh hóa búp chè nguyên liệu 61 Bảng 3.12 Ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến kết
quả thử nếm cảm quan chè thành phẩm 64 Bảng 3.13 Ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến một số
sâu hại chính trên chè (Mật độ trung bình/năm) 65 Bảng 3.14 Hiệu quả kinh tế của thí nghiệm thời gian che sáng trước
khi hái trên giống chè Kim Tuyên 68
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Lưới che nắng màu đen được sử dụng trong thí nghiệm 29 Hình 3.1 Ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến tốc độ sinh trưởng
búp chè vụ xuân 37 Hình 3.2 Ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến tốc độ
sinh trưởng búp chè Kim Tuyên vụ xuân 54
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây chè (Camellia sinensis (L) O Kuntze) là cây công nghiệp lâu năm,
có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm Tuy nhiên, nhờ những đặc tính hữu ích và có giá trị lớn đối với sức khỏe con người mà cây chè đã trở thành cây trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới
Việt Nam là nước có điều kiện tự nhiên phù hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển Cây chè giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp của nước nhà, là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của ngành Nông nghiệp Việt Nam Sản xuất chè cho thu nhập chắc chắn, ổn định, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là nông thôn vùng Trung du miền núi phía Bắc Sản xuất chè Việt Nam
có nhiều lợi thế như đa dạng và phong phú về nguồn giống, đất đai, khí hậu phù hợp, có nhiều mô hình năng suất cao, nhiều vùng chè có chất lượng cao như Tân Cương (Thái Nguyên), Mộc Châu (Sơn La), Bảo Lộc (Lâm Đồng) Các giống chè Shan bản địa năng suất cao, chất lượng tốt có thể chế biến chè vàng, chè Phổ Nhĩ và sản xuất chè hữu cơ giá trị cao
Có một nghịch lý là sản lượng chè của Việt Nam đứng thứ 5 thế giới nhưng giá trị xuất khẩu lại đứng thứ 10 Tuy có nhiều tiềm năng nhưng ngành chè của chúng ta đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức Thứ nhất, khoảng 90% sản lượng chè xuất khẩu của nước ta vẫn ở dạng bán thành phẩm nên giá trị tăng thấp Thứ hai, chất lượng của sản phẩm chè chưa cao, mặt hàng chưa đa dạng, do đó giá trị xuất khẩu thấp hơn so với mặt bằng chung của thế giới Thứ ba, thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới có thể giúp cho việc xuất khẩu trở nên dễ dàng hơn do các hàng rào thuế quan dần được gỡ bỏ, nhưng việc xuất khẩu phải tuân thủ theo những yêu cầu khắt khe hơn về vệ sinh an toàn thực phẩm và đặc biệt là tính đa dạng và chất lượng cao của sản phẩm chè
Trang 12Đến nay, năng suất chè Việt Nam tương đương năng suất chè thế giới Tuy nhiên, sản xuất chè chưa phát huy tiềm năng cây chè Việt Nam, giá bán bình quân sản phẩm chè Việt Nam chỉ bằng 70% giá bán bình quân của sản phẩm chè thế giới, do sản phẩm chè Việt Nam chưa đa dạng hoá sản phẩm, mẫu mã sản phẩm chưa thu hút và sức cạnh tranh thấp, sản phẩm chưa đạt tiêu chuẩn an toàn
Vì vậy vấn đề đặt ra cho ngành chè Việt Nam là tạo ra nguyên liệu chất lượng để sản xuất ra các mặt hàng chè chất lượng cao và đa dạng hóa sản phẩm Để giải quyết vấn đề đó ngoài việc nghiên cứu để tạo ra các giống chè mới có chất lượng cao thì việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt tạo nên năng suất cao và nâng cao chất lượng nguyên liệu là cần thiết
Từ các vấn đề trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu
ảnh hưởng của biện pháp kỹ thuật che sáng đến năng suất, chất lượng giống chè Kim Tuyên tại Phú Thọ”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Xác định được biện pháp che sáng thích hợp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng giống chè Kim Tuyên
3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiến của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài xác định biện pháp kỹ thuật che sáng thích hợp cho giống chè Kim Tuyên Từ đó làm cơ sở để nghiên cứu đối với những giống chè khác, góp phần làm tăng chất lượng nguyên liệu và tăng giá trị sản phẩm chè
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài thành công sẽ đưa ra được biện pháp kỹ thuật che sáng thích hợp áp dụng trên giống chè Kim Tuyên góp phần tăng năng suất, chất lượng chè Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng là cơ sở để bổ sung và hoàn thiện biện pháp kỹ thuật canh tác đối với giống chè Kim Tuyên nói riêng và các giống chè nói chung
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Cây chè nguyên là một cây rừng mọc trong điều kiện ẩm ướt, râm mát của vùng khí hậu cận nhiệt đới gió mùa Đông Nam Á Về nhu cầu ánh sáng, cây chè là một cây trung tính, trong giai đoạn cây con, cây chè ưa bóng râm, lớn lên ưa ánh sáng
Cường độ ánh sáng có quan hệ chặt chẽ với sự sinh trưởng và phát triển của cây chè, nó ảnh hưởng lớn đến việc hình thành lên chất lượng nguyên liệu
để góp phần tạo lên sản phẩm chè chất lượng cao
Hiện nay do diễn biến bất thường của thời tiết, có những thời điểm nhiệt độ thường xuyên lên đến 38-400C, nắng nóng kéo dài nhiều ngày đã ảnh hưởng không nhỏ đến sinh trưởng, phát triển của cây trồng
Khi nhiệt độ từ 300C trở lên, cây chè mọc chậm và trên 400C cây chè sẽ
bị khô xám nắng ở bộ phận non Bên cạnh đó, do chè là cây ưa ánh sáng tán
xạ, không chịu ánh nắng trực tiếp nên nắng nóng, nhiệt độ cao sẽ khiến chè khó phát triển Vì vậy để giảm bớt tác hại do thời tiết ở các nương chè nên trồng các loại cây che bóng, thường lựa chọn các loại cây có độ che phủ rộng,
lá nhỏ như muồng lá kim, xoan vừa tạo độ râm mát đồng thời vẫn đảm bảo ánh sáng cho cây chè sinh trưởng
Trồng cây che bóng có nhiều tác dụng: vừa tạo vùng tiểu khí hậu cho vùng chè, điều hòa được chế độ nước và không khí trong vùng chè, làm giảm
sự bốc thoát hơi nước trong vườn chè, đặc biệt nếu chọn những cây trồng họ đậu còn tạo điều kiện thuận lợi cho một số vi sinh vật hữu ích trong đất hoạt động Nếu trồng với mật độ hợp lý sẽ hạn chế được sự phát triển của một số sâu bệnh hại trên cây chè như rầy xanh, bọ cánh tơ, nhện đỏ, bọ xít muỗi… Ngoài ra, trồng cây che bóng còn có tác dụng chống rửa trôi xói mòn và cải tạo lý hóa tính của đất
Trang 14Dưới bóng râm, lá chè có màu xanh đậm, lóng chè dài, búp non lâu, hàm lượng nước cao nhưng búp thưa, sản lương thấp vì quang hợp kém vì vậy
ở những vùng trồng chè của Liên Xô cũ, Nhật Bản và Trung Quốc không trồng cây bóng mát Trái lại ở Ấn Độ, Srilanka và Đông Phi đều trồng cây che bóng cho chè ở những vùng thấp nắng nóng
Ở Việt Nam ở các vùng chè cũng tiến hành trồng cây bóng mát cho chè nhằm tạo ánh sáng tán xạ giúp cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt hơn Việc trồng cây che bóng cho chè mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần tính đến như tranh chấp chất dinh dưỡng và nước với cây chè, vấn đề bất tiện khi thu hoạch bằng máy, hoặc lá cây che bóng rụng xuống sẽ lẫn với chè Vì vậy vấn đề trồng cây che bóng cho nương chè vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết
Che sáng là một biện pháp làm giảm cường độ ánh sáng cho nương chè bằng hình thức dùng lưới để giúp cho cây chè sinh trưởng tốt Tạo điều kiện tốt hơn cho việc tích lũy các hợp chất hóa học có lợi cho quá trình chế biến để tạo ra sản phẩm chè chất lượng cao Cường độ ánh sáng trên nương chè khi che nắng phụ thuộc vào độ cao che nắng và mức độ che khác nhau (che dày hay mỏng) Thời gian chè nắng dài hay ngắn cho nương chè sẽ tạo khả năng quang hợp tốt hơn, tạo năng suất và chất lượng sản phẩm tốt sẽ là vấn đề cần giải quyết khi nghiên cứu về che bớt ánh sáng cho nương chè
1.2 Đặc điểm sinh vật học và sinh hóa của cây chè
1.2.1 Đặc điểm sinh vật học của cây chè
Nghiên cứu về đặc điển sinh vật học của các giống chè ở Việt Nam cũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm:
Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [10] trong điều kiện tự nhiên cây chè
có từ 3 -5 đợt sinh trưởng trong một năm gọi là sinh trưởng tự nhiên Trong điều kiện có chăm sóc và thu hái búp liên tục, một năm cây chè sẽ có từ 6-7 đợt sinh trưởng gọi là đợt sinh trưởng trong điều kiện có đốn hái Thời gian hình thành một đợt sinh trưởng dài hay ngắn phụ thuộc vào giống, tuổi cây, đất đai, khí hậu và điều kiện canh tác
Trang 151.2.1.1 Yêu cầu sinh thái của cây chè
* Điều kiện đất đai, địa hình
- Độ chua: Là chỉ tiêu quan trọng quyết định đến đời sống cây chè Các nhà khoa học Trung Quốc cho rằng: độ pH < 3,5 cây chè có màu xanh sẫm, chết dần trong điều kiện pH > 7,5 cây chè ít lá, lá vàng, chết Các nhà khoa học cũng xác định rằng giới hạn pH của đất trồng chè là 4,5 và giới hạn trên là 6,5
- Tầng dày, kết cấu đất thành phần cơ giới và chế độ nước: Cây chè sinh trưởng tốt ở tầng dày ≥ 1 m, giới hạn cuối cùng về đất trồng chè là 0,5 m
Về thành phần cơ giới chè ưa các loại đất từ cát pha đến thịt nặng
Cây chè sinh trưởng tốt trên đất có kết viên, tơi xốp Trên các loại đất này
bộ rễ chè phát triển tốt, hệ sinh vật hoạt động mạnh, cây chè có tuổi thọ cao
Chè là cây cần nước, tuy nhiên không có khả năng chịu úng, chỉ nên trồng chè ở những nơi có mực nước ngầm ở dưới độ sâu 1 m
- Độ cao so với mực nước biển của đất trồng chè có ảnh hưởng tới phẩm chất chè; chè trồng trên núi cao thường có chất lượng tốt
* Các yếu tố khí hậu đối với sự sinh trưởng của cây chè
Lượng mưa và độ ẩm không khí Hàm lượng nước trong rễ chè là 48 54,5%, trong thân cành là 48 - 75%, trong lá là 74 - 76%
-Lượng mưa trung bình hàng năm thích hợp cho sinh trưởng cây chè là
Trang 16Các loại chè núi cao có chất lượng tốt vì độ ẩm cao và ánh sáng tán xạ
và biên độ nhiệt ngày đêm lớn
- Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng cây chè là 22 - 280C Theo các nhà khoa học Trung Quốc, Liên Xô thì cây chè ngừng sinh trưởng ở
100C, từ 15 - 180C cây chè sinh trưởng chậm, từ 220C đến 250C cây chè sinh trưởng mạnh, trên 300C cây chè sinh trưởng chậm lại, ở nhiệt độ 400C các bộ phận non của chè bị cháy
Biên độ nhiệt ngày - đêm rộng có lợi cho chất lượng chè Biên độ nhiệt
độ các mùa thấp thì thời gian thu hoạch búp chè càng dài
- Ánh sáng: Ở giai đoạn cây con, cây chè ưa bóng râm Cây chè trưởng thành ưa ánh sáng Yêu cầu của cây chè với ánh sáng có sự khác nhau giữa các tuổi chè, giống chè Chè con cần ánh sáng ít hơn chè lớn, các giống chè lá
1.2.1.2 Thân và cành
Cây chè sinh trưởng trong điều kiện tự nhiên là đơn trục, nghĩa là chỉ
có một thân chính, trên đó phân ra các cấp cành Mỗi giống chè có những đặc điểm và khả năng phân cành khác nhau, có giống phân cành thấp (thân bụi, nửa bụi) có giống phân cành cao, cành thưa hơn (thân gỗ, bán gỗ) Khả năng phân cành của mỗi giống có ảnh hưởng đến sinh trưởng chiều cao, độ rộng tán, mật độ cành, mật độ búp của tán chè và qua đó có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè
Trang 17Theo Nguyễn Hữu La (1999) [12] khi nghiên cứu một số đặc điểm hình thái của tập đoàn giống chè tại Phú Hộ thời kỳ kiến thiết cơ bản đã khẳng định, chiều cao cây có tương quan thuận rất chặt với chiều rộng tán chè (r = 0,72 ± 0,09) và số cành cấp 1 (r = 0,75 ± 0,090), tương quan chặt với diện tích
lá (r = 0,58 ± 0,11), nhưng không có mối tương quan thuận với chiều dài đốt cành, trọng lượng búp và mật độ búp
Chu Xuân Ái (1988) [1] khi nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm hình thái, điều kiện ngoại cảnh với năng suất chè, cho rằng: Năng suất chè có mối tương quan thuận chặt với mật độ búp (r=0,8564) và diện tích lá (r=0,7752), những giống có mật độ búp cao, diện tích lá lớn cho năng suất cao Giống có chiều rộng lá (r= 0,7542) lớn có năng suất cao hơn những giống có chiều dài lá lớn
1.2.1.3 Mầm chè
Trên cây chè có những loại mầm: mầm dinh dưỡng và mầm sinh thực Mầm dinh dưỡng phát triển thành cành lá, mầm sinh thực phát triển thành nụ hoa và quả
Mầm đỉnh: Loại mầm này ở vị trí trên cùng của cành, tiếp tục phát triển
trên trục chính của các cành năm trước, hoạt động sinh trưởng mạnh và thường có tác dụng ức chế sinh trưởng của các mầm ở phía dưới nó (ưu thế sinh trưởng ngọn) Trong một năm, mầm đỉnh hình thành búp sớm nhất cùng với thời kỳ bắt đầu sinh trưởng mùa xuân của cây Búp được hình thành từ các mầm đỉnh là các búp đợt 1, có thể là búp bình thường hoặc búp mù
Trang 18Mầm nách: Trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên, phần lớn chúng ở
trạng thái nghỉ do sự ức chế của mầm đỉnh Khi hái các búp đỉnh, mầm nách phát triển thành búp mới Tùy theo vị trí của lá ở trên cành, khả năng phát triển thành búp và chất lượng búp ở các nách lá rất khác nhau Những mầm
ở nách lá phía trên thường hoạt động sinh trưởng mạnh hơn, do đó cho búp
có chất lượng tốt hơn các mầm ở nách lá phía dưới Những búp được hình thành từ mầm nách của các lá năm trước gọi là búp đợt 1, có thể là búp bình thường hoặc búp mù
Mầm bất định: Vị trí của loại mầm này không cố định trên thân chè
thường ở sát cổ rễ Nó chỉ phát triển thành cành lá mới khi cây chè được đốn trẻ lại Trong trường hợp ấy cành chè tựa như mọc ở dưới đất lên Búp được hình thành từ các mầm bất định cũng có hai loại: búp bình thường và búp mù
Mầm sinh thực: Mầm sinh thực nằm ở nách lá Bình thường mỗi nách
lá có hai mầm sinh thực nhưng cũng có trường hợp số mầm sinh thực nhiều hơn và khi đó ở nách lá có một chùm hoa Các mầm sinh thực cùng với mầm dinh dưỡng phát sinh trên cùng một trục, mầm dinh dưỡng ở giữa, mầm sinh thực ở hai bên, vì vậy, quá trình sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực thường có những mâu thuẫn nhất định Theo Đỗ Ngọc Quỹ (2003) [19] khi mầm sinh thực phát triển nhiều ở trên cành chè, thì quá trình sinh trưởng của các mầm dinh dưỡng yếu đi, do sự tiêu hao các chất dinh dưỡng cho việc hình thành nụ hoa và quả Trong sản xuất chè búp cần áp dụng các biện pháp
kỹ thuật thích đáng để hạn chế sự phát triển của các mầm sinh thực
Trang 19Búp chè là nguyên liệu để chế biến ra các loại chè, vì vậy nó quan hệ trực tiếp đến năng suất và phẩm chất của chè
Búp chè gồm có hai loại: búp bình thường và búp mù Búp bình thường (gồm có tôm và 2, 3 lá non), có trọng lượng bình quân 1 búp từ 1g đến 1,2g đối với giống chè Shan, từ 0,5 đến 0,6 g đối với giống chè Trung du, búp càng non phẩm chất càng tốt Hệ số tương quan giữa tỷ lệ phần trăm búp bình thường với hàm lượng tanin và cafein trong lá chè là r = 0,67 và r = 0,48 Búp mù là búp phát triển không bình thường, trọng lượng bình quân của một búp mù thường bằng khoảng 1/2 trọng lượng búp bình thường và phẩm chất thì thua kém rõ rệt Nguyên nhân xuất hiện búp mù rất phức tạp Một mặt do đặc điểm sinh vật học của cây trồng, mặt khác do ảnh hưởng xấu của các điều kiện bên ngoài hoặc do biện pháp kỹ thuật không thích hợp
Trên một cành chè nếu để sinh trưởng tự nhiên, một năm có 4 - 5 đợt sinh trưởng, nếu hái búp liên tục thì có 6 - 7 đợt và trong điều kiện thâm canh
có thể đạt 8 - 9 đợt sinh trưởng
Lê Tất Khương (1999) [8] khi nghiên cứu số đợt sinh trưởng của các giống chè trong điều kiện có đốn hái và điều kiện tự nhiên, cho rằng: Tuỳ điều kiện tự nhiên mà các giống chè sinh trưởng khác nhau, nhưng giữa các giống ít có sự sai khác về số đợt sinh trưởng, số đợt sinh trưởng tự nhiên của các giống biến động từ 3,4 - 3,6 đợt/năm Tuy nhiên, trong điều kiện có đốn, hái ở các giống sẽ có sự sai khác đáng kể về số đợt sinh trưởng và biến động
từ 5,5- 6,2 đợt/năm tuỳ thuộc vào điều kiện và phương thức thu hái
Trang 20Lê Tất Khương (2006) [9] khi nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của các giống chè nhập nội tại Thái Nguyên, kết luận: Trong điều kiện không đốn hái, 7 giống có số đợt sinh trưởng cao hơn giống đối chứng (Trung du) từ 0,1- 0,4 đợt (cao nhất là giống PT95 4,2 đợt), 2 giống có số đợt sinh trưởng thấp hơn đối chứng, thấp nhất là giống Hoa Nhật Kim 3,6 đợt
Thời gian hình thành một đợt sinh trưởng dài hay ngắn tùy thuộc vào giống, tuổi cây chè, điều kiện thời tiết khí hậu và các biện pháp kỹ thuật
Nguyễn Hữu La (2015) [14] cho rằng: Đối với cây chè Shan trồng phân tán vùng cao, thông thường hàng năm chỉ hái từ 4-5 lứa Đây cũng trùng với các đợt sinh trưởng tự nhiên mỗi năm chỉ có 4-5 đợt sinh trưởng Nhưng khi trồng tập trung, số lứa hái búp có thể tăng lên tới trên 20 lứa búp mỗi năm
Nguyễn Thị Ngọc Bình (2002) [3] khi nghiên cứu về mối tương quan giữa năng suất chè với một số chỉ tiêu sinh học, kết luận: Năng suất của các giống chè tương quan thuận, chặt với số lượng búp (r = 0,8901) và hệ số diện tích lá (r = 0,7128), tương quan thuận nhưng không chặt với khối lượng búp (r = 0,1022) và diện tích lá (r = 0,1009)
1.2.1.5 Lá chè
Lá chè mọc cách trên cành, mỗi đốt có một lá Lá thường có nhiều thay đổi về hình dạng tùy theo các loại giống khác nhau và trong các điều kiện ngoại cảnh khác nhau Lá chè có gân rất rõ Những gân chính của lá chè thường không phát triển ra đến tận rìa lá Rìa lá chè thường có răng cưa, hình dạng răng cưa trên lá chè khác nhau tùy theo giống Số đôi gân lá là một trong những chỉ tiêu để phân biệt các giống chè
Theo Nguyễn Văn Toàn, Trịnh Văn Loan (1994) [27] khi nghiên cứu cấu trúc lá chè, cho rằng các giống chè có sản lượng búp cao thường có góc lá
từ 40 - 60o, khoảng cách giữa 2 lá lớn Nghiên cứu tương quan về khoảng cách giữa 2 lá của các giống chè với sản lượng búp chè các tác giả cho rằng: Khoảng cách giữa 2 lá có tương quan thuận với sản lượng búp chè
Trang 21Nguyễn Văn Toàn, Trịnh Văn Loan (1994) [27], Lê Tất Khương (2006) [9] khi nghiên cứu kích thước lá của các giống chè khác nhau, đều cho rằng: Các giống khác nhau có kích thước lá khác nhau, do vậy các giống khác nhau
sẽ có khả năng cho năng suất khác nhau
Nguyễn Văn Toàn (1994) [26] khi nghiên cứu quan hệ giữa hệ số diện tích lá với khả năng cho năng suất của các giống, cho rằng: Đặc điểm giống chè có năng suất cao ít nhất phải có hệ số diện tích lá lớn (tạo ra số búp nhiều)
và kích thước lá lớn (có khối lượng búp lớn)
Đỗ Văn Ngọc (2006) [17] khi nghiên cứu hệ số diện tích lá và quan hệ giữa hệ số diện tích lá với năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất, cho biết: Hệ số diện tích lá có tương quan thuận với tổng số búp/ tán chè Khi nghiên cứu hệ số diện tích lá của các giống chè tác giả chỉ rõ những giống chè
có năng suất cao thường có hệ số diện tích lá từ 4-6
1.2.1.6 Rễ chè
Cây chè sống nhiều năm trên một mảnh đất cố định, do đó việc nghiên cứu đặc điểm của bộ rễ có ý nghĩa rất quan trọng để đặt cơ sở cho các biện pháp kỹ thuật trồng trọt Rễ chè phát triển tốt tạo điều kiện cho các bộ phận trên mặt đất phát triển
Hệ rễ chè gồm có: rễ trụ (rễ cọc), rễ bên và rễ hấp thu Quá trình sinh trưởng và phát triển của bộ rễ có những đặc điểm:
- Khi hạt mới nảy mầm rễ trụ phát triển rất nhanh Vào khoảng 3 - 5 tháng sau khi trồng thì rễ trụ phát triển chậm lại và rễ bên phát triển mạnh
- Thời kỳ cây chè còn nhỏ, rễ trụ luôn luôn phát triển dài hơn phần thân trên mặt đất Đến năm thứ 2 và thứ 3 thì tốc độ sinh trưởng giữa phần thân trên đất và phần rễ mới cân bằng Rễ bên và rễ phụ trong thời kỳ này rất phát triển, tốc độ lớn lên và phân cấp của chúng cũng rất nhanh Đặc điểm này có quan hệ rất lớn đến chế độ làm đất ban đầu khi trồng chè mới
Trang 22- Sự phát triển của rễ chè và thân chè có hiện tượng xen kẽ nhau, khi thân lá phát triển mạnh thì rễ phát triển chậm lại và ngược lại Theo kết quả nghiên cứu của Trung Quốc, trong điều kiện của Chiết Giang, một năm có 3,
4 lần phát triển xen kẽ nhau giữa thân, lá và rễ Đặc điểm sinh trưởng đó thay đổi tùy theo điều kiện khí hậu, đất đai và chế độ canh tác cụ thể ở mỗi nơi
- Rễ trụ của chè thường ăn sâu xuống đất hơn 1 mét, ở những nơi đất xốp, thoát nước nó có thể ăn sâu tới 2 - 3 mét Rễ hấp thu được phân bố tập trung ở lớp đất từ 10 - 40 cm thời kỳ cây chè lớn, rễ tập trung ở gữa hai hàng chè, tán rễ so với tán cây lớn hơn 2 - 2,5 lần
Nguyễn Đình Vinh (2002) [29] khi nghiên cứu về quan hệ giữa bộ rễ và tán cây cho rằng: Vào cuối tháng 3 đầu tháng 4 rễ bắt đầu sinh trưởng, và chỉ sau khi hình thành nên một đợt sinh trưởng rễ nhất định, bộ phận trên mặt đất mới bắt đầu sinh trưởng Về mùa Thu sau khi kết thúc đợt sinh trưởng của phần trên mặt đất, bộ rễ chè mới bắt đầu sinh trưởng Sinh trưởng của bộ rễ mạnh hay yếu ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng búp chè ở vụ Xuân năm sau
Đỗ Văn Ngọc (1991) [16] khi nghiên cứu ảnh hưởng của các dạng đốn đến sự phân bố của bộ rễ đã kết luận: Khối lượng bộ rễ tập trung phân bố chủ yếu ở tầng 0-40cm (chiếm 80% khối lượng bộ rễ)
Sự phân bố của rễ chè trong đất phụ thuộc vào giống, tuổi của cây, điều kiện đất đai và chế độ canh tác Lượng dinh dưỡng trong đất có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của bộ rễ, nhất là lượng đạm
Rễ chè kỵ vôi, do đó yêu cầu đất có phản ứng chua Canxi cần cho cây chè, nó có mặt ở những nơi phân bào và sinh trưởng như mút rễ, ngọn cây, là thành phần của màng tế bào v.v Hàm lượng canxi trong lá chè khoảng 0,55% Nếu nhiều canxi quá rễ chè không phát triển được Chè yêu cầu đất có phản ứng chua là do cây chè yêu cầu một số nguyên tố hiếm và nguyên tố vi lượng mà phần lớn những nguyên tố này bị kết tủa trong môi trường kiềm Vì vậy, chè trồng ở những nơi đất có phản ứng kiềm dễ bị hại và không sinh trưởng được
Trang 231.2.1.7 Hoa và quả chè
Cây chè sau khi trồng tuỳ điều kiện sinh trưởng mà có khả năng ra hoa đậu quả khác nhau Nếu cây trồng bằng hạt thường sau 2 năm sẽ có hoa và quả lần thứ nhất, cây trồng bằng cành giâm sẽ cho quả sớm hơn
Theo Nguyễn Ngọc Kính (1979) [10] hoa chè là loại hoa lưỡng tính, đài hoa có 5-7 cánh Trong một hoa có rất nhiều nhị đực (từ 200-400), noãn sào thượng có 3-4 ô Phương thức thụ phấn của cây chè chủ yếu là thụ phấn khác hoa, tự thụ phấn chỉ đạt 2-3% Khả năng ra nụ, ra hoa của cây chè thường rất lớn nhưng tỷ lệ đậu quả lại rất thấp khoảng 12%
Lê Tất Khương (1987) [7] khi nghiên cứu số lượng nụ, hoa và khả năng đậu quả của các giống chè trong điều kiện Thái Nguyên, cho rằng: Trong điều kiện sinh trưởng tự nhiên cây chè ra nhiều nụ hoa hơn so với trong điều kiện
có đốn, hái Các giống chè thuộc thứ chè Assam, Shan có số nụ hoa ít hơn so với các giống thuộc thứ chè Trung Quốc lá to Theo tác giả các giống chọn lọc có nguồn gốc thuộc thứ chè Shan, Assam có thời gian nở hoa chậm hơn giống Trung du (thuộc thứ chè Trung Quốc lá to) từ 10 - 25 ngày và có quả chè chín muộn hơn giống Trung Du từ 5 - 10 ngày
1.2.2 Đặc điểm sinh hóa của cây chè
Thành phần sinh hóa của chè biến động rất phức tạp nó phụ thuộc vào giống, tuổi chè, điều kiện đất đai, địa hình, kỹ thuật canh tác, mùa thu hoạch Trên cơ sở nắm được những đặc điểm chủ yếu về mặt sinh hóa của nguyên liệu sẽ đặt cơ sở cho một số biện pháp kỹ thuật để nâng cao sản lượng đồng thời giữ vững và nâng cao chất lượng của chè Những thành phần sinh hóa chủ yếu trong búp chè gồm có:
* Nước
Nước là thành phần chính của lá chè, chiếm 75 - 82%, có liên quan đến quá trình biến đổi sinh hóa trong búp chè và đến sự hoạt động của các men, là chất quan trọng không thể thiếu được để duy trì sự sống của cây Hàm lượng
Trang 24nước trong búp chè thay đổi tùy theo giống, tuổi cây, đất đai, kỹ thuật canh tác, thời gian hái và tiêu chuẩn hái v.v Trong búp chè, hàm lượng nước thường có từ 75 - 82 % Để tránh khỏi sự hao hụt những vật chất trong búp chè qua quá trình bảo quản và vận chuyển, phải cố gắng tránh sự giảm bớt
nước trong búp chè sau khi hái
* Tanin
Bên cạnh thành phần chính là nước thì thành phần và hàm lượng các chất hòa tan trong chè là một trong những mối quan tâm hàng đầu đối với các nhà nghiên cứu về chè xanh Trong đó nhóm chất tanin được xem như thành phần chính, chiếm khoảng 27 - 34 % chất khô trong chè Theo Vũ Thy Thư và cộng sự (2001) [24] cho rằng: Tanin là một trong những thành phần chủ yếu quyết định đến phẩm chất chè, giữ vai trò chủ yếu trong việc tạo màu sắc, hương vị chè (nhất là đối với chế biến chè đen), vì vậy quá trình trồng trọt cần chú ý nâng cao hàm lượng tanin trong nguyên liệu
Tanin còn gọi chung là hợp chất phenol thực vật bao gồm các polyphenol đơn giản và các polyphenol đa phân tử, bên cạnh đó chúng còn kèm theo các hợp chất phenol thực vật phi tanin có màu và vị rất đắng Tỷ lệ các chất trong thành phần hỗn hợp của tanin chè không giống nhau và tùy theo từng giống
Tuy nhiên, người ta đã xác định được trong chè tanin gồm có 3 nhóm chủ yếu là nhóm chất catechin, flavon và alcaloid Trong đó 90% là các dạng catechin
* Protein và amino acid
Protein là hợp chất hữu cơ phức tạp có chứa nitơ, được tạo thành từ các hợp chất amino axit Phân bố không đều ở các phần của búp chè và thay đổi tùy theo giống, thời vụ, điều kiện canh tác và các yếu tố khác
Khi thuỷ phân nó lại phân giải thành các amino axit khác nhau Đối với quá trình chế biến chè đen thành phẩm, nếu hàm lượng protein trong nguyên liệu chè quá cao, trong khi hàm lượng tanin thấp quá thì sẽ gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng chè đen thành phẩm vì trong giai đoạn lên men,
Trang 25protein kết hợp với tanin chè và các hợp chất poliphenol khác tạo thành các chất không tan, làm giảm hàm lượng tanin và các chất hoà tan khác, làm cho quá trình lên men khó khăn
Đối với quá trình chế biến chè xanh, do đặc điểm của việc chế biến là diệt men ngay từ đầu nên hàm lượng tanin trong chè ít bị thay đổi và còn quá cao làm cho chè có vị đắng Tuy nhiên protein trong chè kết hợp với một phần tanin làm cho vị đắng và chát giảm đi Vì vậy, trong một chừng mực nào đó thì protein lại có lợi cho phẩm chất của chè xanh Nguyên liệu chè chứa càng nhiều protein càng có lợi vì góp phần điều hoà vị chè xanh, dễ vò xoăn, làm cho mặt chè càng đẹp, có màu sắc càng tươi
Những amino axit có trong nguyên liệu chè đều có tác dụng tốt đối với chất lượng chè đen và chè xanh Amino axit góp phần tạo nên hương vị màu sắc riêng của chè đen (qua phản ứng kết hợp với tanin tạo thành các andehyt thơm) Đối với chè xanh, chúng góp phần điều hoà vị chè, làm cho vị chè thuần hoá, đượm
Ngày nay, người ta đã tìm thấy trong chè có 17 acid amin, các acid amin này kết hợp với đường và tanin tạo thành aldehyd có mùi thơm của chè đen và làm cho chè xanh có dư vị tốt
* Glucid và pectin
Trong lá chè chứa rất ít glucid hòa tan, trong khi đó các glucid không hòa tan lại chiếm tỷ lệ lớn Cellulose và hemicellulose cũng tăng lên theo tuổi của lá, vì vậy nguyên liệu càng già chất lượng càng kém Hàm lượng đường hòa tan ở trong chè tuy ít nhưng rất quan trọng đối với hương vị chè Đường tác dụng với protein hoặc acid amin tạo nên các chất thơm, có giá trị lớn trong việc điều hòa vị chè và tham gia trong quá trình caramen hóa dưới tác dụng của nhiệt độ, để tạo thành hương thơm vị ngọt (mùi mật ong dậy lên trong khi sao chè, hay mùi hương đọng lại trong chén chè khi uống)
Pectin thuộc về nhóm glucid và nó là hỗn hợp của các polysaccharid khác nhau và những chất tương tự chúng Ở trong chè, pectin thường ở 3 dạng: dạng
Trang 26hòa tan trong nước, dạng tan trong acid oxalic và dạng tan trong amon oxalat Pectin là một trong những hợp chất glucid Trong chè hàm lượng pectin không nhiều, chiếm khoảng 2 - 3% hàm lượng chất khô, chè cây non hàm lượng pectin cao
Theo Vũ Thy Thư và cộng sự (2001) [24] cho rằng: Pectin tham gia vào việc tạo thành hương vị chè, làm cho chè có mùi táo chín trong quá trình làm héo Ở mức độ vừa phải, pectin làm cho chè dễ xoắn lại khi chế biến nhưng nó
có ảnh hưởng xấu đến quá trình bảo quản chè thành phẩm vì pectin dễ hút ẩm
Do đặc tính tan được trong nước nên khi pha chè, pectin di chuyển vào trong nước chè làm độ nhớt của nước chè tăng lên, khi rót chè tạo độ sóng sánh
Xantofin là sắc tố màu vàng, không tan trong nước ảnh hưởng của nó
sẽ lộ rõ khi chlorophyll trong nguyên liệu chè bị phá hoại: làm cho bã chè hoặc chè khô có màu vàng
Antoxianidin khi bị oxyhoá, tan được vào trong nước, là thành phần chủ yếu của nước sắc chè chè đen Hàm lượng antoxianidin trong nguyên liệu chè càng nhiều thì nói chung, màu đồng đỏ của nước chè đen thành phẩm càng đẹp Antoxianidin tan trong nước chè xanh làm xấu đi màu nước chè xanh vì màu vàng của nó khá ổn định, thêm nữa làm nước chè xanh có vị đắng (hàm lượng antoxianidin trong nước chè xanh chỉ bằng một phần vạn đã
đủ làm nước chè xanh bị đắng) Cho nên nguyên liệu chè chứa quá nhiều
Trang 27antoxianidin không thích hợp cho chế biến chè xanh Trong chế biến chè đen,
do nguyên liệu chè qua vò kĩ và lên men nên có thể làm giảm antoxianidin, chè đen không bị antoxianidin gây đắng đáng kể
* Dầu thơm
Dầu thơm là một hỗn hợp các chất bay hơi tập trung trong các cơ quan của cây chè, là những thành phần có cấu tạo rất phức tạp, hàm lượng dầu thơm trong lá chè tươi rất nhỏ, phải phân tích bằng sắc kí khí Dầu thơm của chè hình thành trong quá trình sinh trưởng phát dục cây chè và cả trong quá trình chế biến chè Hương thơm là một chỉ tiêu quan trọng nhất trong đánh giá chất lượng chè, được tạo nên từ 3 nguồn sau đây:
- Dầu thơm có sẵn trong búp chè tươi
- Sản phẩm có mùi trong sự chuyển hóa của catechin và axit amin
- Sản phẩm của sự caramen hóa trong quá trình chế biến chè
Đối với cơ thể con người dầu thơm có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương làm cho thần kinh minh mẫn, thoải mái dễ chịu nâng cao hiệu suât làm việc của các cơ năng trong cơ thể
* Vitamin
Các loại vitamin có trong chè rất nhiều Chính vì vậy giá trị dược liệu cũng như giá trị dinh dưỡng của chè rất cao Trong lá tươi có 2 nhóm vitamin, tan trong chất béo và tan trong nước, bao gồm nhiều loại như: A, D, E, F, K,
B, PP, C… Đáng chú ý nhất là vitamin C nhiều hơn 3 đến 4 lần số lượng trong cam chanh, nhưng qua công đoạn lên men và sấy khô của quá trình làm chè đen, bị phá huỷ nhiều do bị oxi hóa, trong chế biến chè xanh, lượng vitamin C giảm đi không đáng kể
* Enzym
Trong nguyên liệu chè có hầu hết các loại enzim, nhưng chủ yếu là hai loại enzim sau:
Nhóm enzym thủy phân: amilase, glucosidase, protease
Nhóm enzym oxy hóa khử: peroxidase, polyphenoloxidase
Trang 28Đối với quá trình chế biến chè đen thì enzim đóng vai trò xúc tác rất quan trọng cho những biến đổi sinh hóa, trong giai đoạn héo, vò, lên men nhờ
đó tạo ra hương vị màu sắc đặc biệt của chè đen
Enzyme peroxidase, polyphenoloxidase đóng vai trò quan trọng nhất và
có tác dụng khác nhau trong quá trình lên men chè đen Chúng tham gia vào quá trình oxi hóa tanin tạo các sản phẩm tạo màu Các enzyme này đều hoạt động mạnh ở 45°C, ở 70°C thì hoạt động yếu hẳn đi và ở nhiệt độ cao hơn sẽ
bị vô hoạt hoàn toàn Trong chế biến chè xanh, không cần tạo nên những biến đổi sinh hóa cho tanin, nên enzyme không có ích cho quá tŕnh chế biến.Vì vậy ngay từ giai đoạn đầu của quá trình chế biến chè xanh người ta phải dùng nhiệt độ cao để vô hoạt enzyme bằng cách chần hoặc sao
1.3 Những kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.3.1 Những kết quả nghiên cứu ở nước ngoài
Che sáng cây chè là biện pháp được sử dụng để sản xuất chè chất lượng cao Có ba loại chè được trồng trong điều kiện che sáng, trong đó có sự khác nhau về thời gian che và phương pháp sản xuất: Matcha, Gyokuro, và Kabusecha Che sáng cây chè được áp dụng từ hơn 400 năm trước đây Ban đầu, che sáng được xem như là giải pháp xử lý để bảo vệ cây chè khỏi tác hại của sương giá Người nông dân nhận ra rằng cây chè trồng trong điều kiện che sáng và không che là khác nhau Sự khác biệt giữa 2 loại chè này là chè trồng trong điều kiện che sáng và không che là ở hương vị độc đáo, màu xanh
tươi, và mềm mại của lá chè
Che sáng là là biện pháp kỹ thuật trong canh tác cây chè trước thời điểm thu hoạch búp chè Theo Kito và cộng sự (1968) [38] cho rằng: Cơ sở khoa học của biện pháp che sáng là điều tiết quá trình quang hợp ở mức độ chiếu sáng thích hợp để cây chè tăng cường sự tích lũy thành phần các chất hóa học
Theo Hoang Shoubo và cộng sự (1979) [37] cho thấy cường độ ánh sáng có quan hệ chặt chẽ với sự sinh trưởng, phát triển của cây chè và ảnh hưởng lớn đến các thành phần sinh hóa của búp chè và có vai trò đóng góp cho chất lượng sản phẩm
Trang 29Theo Toyomasa Anan và cộng sự (1974) [45] đã chỉ ra rằng che sáng có ảnh hưởng đến hàm lượng các thành phần hóa học trong lá chè Trong giai đoạn phát triển của mầm chè, cây chè đã được che sáng với một số tấm lưới màu đen trong thời gian 1 tuần đến 2 tuần Búp chè được hái để phân tích cách nhau 3-5 ngày Kết quả cho thấy, khi che sáng hàm lượng nitơ tổng số trong lá chè tăng trong khi đó mẫu không che sáng thì hàm lượng nitơ tổng số trong lá chè giảm nhẹ trong giai đoạn đầu của thí nghiệm sau đó tiếp tục giảm Hàm lượng axit amin và hàm lượng caffeine có xu hướng tương tự Hàm lượng theanine bắt đầu tăng và giảm dần sau đó, trong khi đó công thức không che sáng thì hàm lượng theanine trong lá chè giảm nhanh chóng Hàm lượng acid aspartic trong chè ở công thức không che sáng giảm, trong khi hàm lượng acid aspartic trong lá chè ở công thức che sáng không thay đổi Hàm lượng tanin trong lá chè ở công thức che sáng và không che sáng giảm, nhưng mẫu che sáng giảm lớn hơn Hàm lượng epicatechin và epigallocatechin trong lá chè ở công thức che sáng không thay đổi, nhưng ở công thức không che sáng thì hàm lượng epicatechin và epigallocatechin tăng dần Hàm lượng đường khử trong lá chè giảm cho thấy xu hướng tương tự ở công thức không che sáng
Theo Eiji Kobayashi và cộng sự (2010) [36] về ảnh hưởng của che sáng trực tiếp trên bề mặt tán chè đến các thành phần hóa học của lá chè Thí nghiệm gồm 4 công thức tương ứng với độ che sáng 0; 85 %; 98 %; 100 % Kết quả cho thấy: Trong thời gian che sáng, với mức độ che sáng 85% thì lá chè có màu
lá xanh đậm Che sáng cây chè với tỷ lệ 98% thì lá chè có màu xanh lá cây nhẹ hơn trong khi che sáng cây chè với tỷ lệ 100% thì lá chè màu trắng Hàm lượng các axit amin trong búp chè tăng theo độ che sáng Đặc biệt, ở công thức che sáng cây chè 100% thì hàm lượng Arginine tăng khoảng 3 lần, serine khoảng 4 lần và asparagine tăng khoảng 50 lần so với không che sáng cây chè
Cường độ ánh sáng trên mặt tán cây chè, mức độ ánh sáng tương ứng phụ thuộc vào mức độ che sáng khác nhau Nghiên cứu của John Golding và cộng sự (2009) [40] cho thấy ở vùng Shizuoka (Nhật Bản), cường độ ánh sáng mặt trời
Trang 30bình quân năm là 9,5 MJ/m2/ngày Từ tháng 3 đến tháng 5, cường độ ánh sáng mặt trời dao động từ 10,1-11,1 MJ/m2/ngày Để sản xuất chè Gyokuro, cây chè được che sáng trong điều kiện mức độ ánh sáng tối ứu là từ 10-40% so với ánh sáng tự nhiên, cường độ ánh sáng trung bình từ 1,1-4,4 MJ/m2/ngày
Theo Carr-Squir (1979) [33] khi nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ, ánh sáng với sinh trưởng chè, đã chỉ ra rằng: Ở một số vùng chè trên thế giới, nhiệt độ không khí tối thiểu là 13-140C, nhiệt độ tối thích là 18- 250C, nhiệt
độ tối cao là 300C, nhiệt độ bề mặt lá chè tối thiểu là 210C, nếu nhiệt độ trên
300C sẽ có hiện tượng quang hợp và sinh trưởng của cây chè sẽ giảm nhanh
Cây chè được coi là cây trung tính, khi mới mọc là cây ưa bóng, lớn lên
là cây ưa ánh sáng, nếu nhiệt độ cao trên 350C cần thiết phải che bóng thích hợp để giảm cường độ ánh sáng và giảm nhiệt độ Hiện nay diện tích chè trồng mới chủ yếu được trồng bằng cây chè giâm hom vì vậy khi trồng nếu cây chè được che bóng sẽ làm tăng tỷ lệ sống và sức sinh trưởng của cây
Cllander và Woodhear dẫn theo Carr (1997) [32] khi nghiên cứu ảnh hưởng của cây che bóng đến sinh trưởng và năng suất chè, cho biết nếu ở điều kiện nương chè có trồng che bóng có thể ngăn chặn được nhiệt độ cao ở lá và
sự thiếu hụt bão hoà hơi nước của không khí, do đó năng suất cao hơn Tuy nhiên theo tác giả việc trồng cây che bóng cho cây chè phải chú ý đến ảnh hưởng trở lại của cây che bóng đối với cây chè
Theo Rattan (1992) [43] khi nghiên cứu một số loài Bọ trĩ hại chè ở một số nước Châu Phi nhận xét: Những nương chè không trồng cây che bóng
sẽ bị Bọ Trĩ hại nặng hơn, đặc biệt vào thời kỳ khô nóng
Theo Muralaedharan N (1992) [41] ở những vùng chè có độ cao so với mặt nước biển thấp, người ta rất chú trọng trồng cây che bóng cho chè Ngoài các lợi ích tăng hiệu suất quang hợp, từ đó tăng năng suất và chất lượng cho chè, theo tác giả lá của cây che bóng và cây trồng xen khi rụng sẽ làm tăng lượng chất hữu cơ cho nương chè, giảm chi phí đầu tư phân hóa học
Trang 31Theo Barbora (1994) [30] Trạm thí nghiệm Chè Tocklai (Ấn Độ) ở vùng Đông Bắc Ấn Độ, khi tán chè còn thưa nên trồng các cây trồng xen và cây che bóng là cần thiết Chè không được che bóng có hại về mặt quang hợp, cây che bóng sẽ làm giảm nhiệt độ mặt lá, làm cho chè không bị cháy nắng Đồng thời cây che bóng và cây trồng xen sẽ làm tăng chất hữu cơ vì thế cây chè sinh trưởng, phát triển tốt hơn, năng suất cao hơn
Tác giả Obaga và Othieno (1987) [42] khi nghiên cứu tác dụng chống xói mòn của một số loại cây phân xanh đã kết luận: Đất trồng chè sau 4 năm nếu không được trồng cây phân xanh, lượng đất bị mất 143 tấn/ha do bị xói mòn, nếu trồng xen cây Crolataria lượng đất bị mất 39 tấn/ha, nếu trồng cây Weeds lượng đất bị mất là 15 tấn/ha và trồng cây Cymbopogon lượng đất bị mất 10 tấn/ha
Theo Barua và Gogoi (1979) [31] thời kỳ cây chè con (4 năm), là thời gian đất bị rửa trôi và xói mòn nhiều nhất, nếu trồng chè, không trồng xen cây phân xanh và cây che phủ đất, sau 2 năm đầu lượng đất bị mất tới 90% tổng lượng đất bị mất trong 4 năm Nếu trồng cây phân xanh, cây phủ đất, lượng đất bị mất ở những năm đầu khoảng 70- 75% lượng đất bị mất của 4 năm
Kulasegaram và Kathiravetpillai (1980) [39] khi nghiên cứu ảnh hưởng của mức độ che bóng của cây bóng mát đến năng suất chè đã kết luận; ở 3 mức độ che phủ 10%, 30% và 60% diện tích đất, so với không trồng cây bóng mát, năng suất chè tăng tương ứng là: 10, 50 và 30%
Chen Zong Mao (1994) [34] khi nghiên cứu ảnh hưởng của cây trồng xen đối với cây chè đã nhận định: Việc ít sử dụng phân hữu cơ bón cho chè là một nguyên nhân làm cho đất xấu đi Do đó việc trồng xen cây cốt khí sẽ có tác dụng cải tạo đất, chống xói mòn
Theo Dutta (1977) [35] khi nghiên cứu về vấn đề này cũng kết luận: Việc duy trì hợp lý cây che phủ đất sẽ ngăn chặn quá trình mất đạm bởi quá trình Nitrat hóa Đốn tỉa hoặc cầy vùi cây phân xanh cho nương chè sẽ đem lại hiệu quả kinh tế lớn, tiết kiệm công vận chuyển, trả lại cho đất lượng dinh dưỡng mà cây phân xanh đã sử dụng đồng thời cung cấp một lượng lớn chất hữu cơ mà cây đã tổng hợp được
Trang 32Tác giả Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1996) [44] đánh giá những ưu điểm của cây cốt khí: Đây là loại cây phân xanh rất thích hợp trong việc sử dụng cải tạo và bảo vệ đất, không chỉ ở vùng đồi mà ngay cả ở vùng đất thấp,
bờ mương và trong vườn gia đình
Như vậy, các kết quả nghiên cứu trên cho thấy che sáng cây chè có ảnh hưởng đến đặc điểm hình thái và hàm lượng các thành phần hóa học của búp chè, cụ thể là thành phần tanin, axit amin và các chất tiền tạo hương Các vùng sinh thái khác nhau, cường độ ánh sáng cũng khác nhau Tuy nhiên, hầu hết các tác giả đều chưa đề cập cụ thể cường độ và mức độ ánh sáng trong điều kiện che sáng
1.3.2 Những kết quả nghiên cứu trong nước
Việt Nam hiện nay rất ít các công trình nghiên cứu công bố về cường
độ ánh sáng theo các mức độ che sáng khác nhau, quy trình sản xuất nguyên liệu và công nghệ sản xuất chè Sencha, bột chè xanh dạng Matcha từ nguyên liệu các giống chè mới được quan tâm những năm gần đây Những năm gần đây ở Việt Nam chỉ có những nghiên cứu về trồng cây che bóng, cây phân xanh làm tăng năng suất, chất lượng và giảm sâu bệnh hại cho cây chè
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy trồng xen cây họ đậu và cây thân gỗ làm cây che bóng đã giúp cây chè sinh trưởng tốt hơn Theo Lê Văn Khoa (1993) [13] khi trồng xen trong 2-3 năm đầu có tác dụng làm hạ thấp nhiệt độ
ở lớp đất mặt trong mùa nắng nóng chè không bị chết do táp lá
Theo Hùng Cường (2015) [46] cho rằng: Từ nhiệt độ 350C trở lên, cây chè sẽ ngừng sinh trưởng Bên cạnh đó, do chè là cây ưa ánh sáng tán xạ, không chịu ánh nắng trực tiếp nên nắng nóng, nhiệt độ cao sẽ khiến chè khó phát triển Giải pháp tốt nhất là trồng các loại cây che bóng cho cây chè, đặc biệt là lựa chọn các loại cây có độ che phủ rộng, lá nhỏ như muồng lá kim, xoan vừa tạo độ râm mát đồng thời vẫn đảm bảo ánh sáng cho cây chè sinh trưởng Qua khảo nghiệm, đánh giá thì những đồi chè có trồng cây che bóng thường cho năng suất cao hơn từ 10% đến 15% so với những đồi chè không có cây che bóng
Trang 33Dương Trung Dũng, Phan Thị Thu Hằng (2017) [5] nghiên cứu ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến sinh trưởng, phát triển của giống chè Trung du búp tím, cho thấy: Cường độ ánh sáng phụ thuộc vào vùng sinh thái như độ cao và vĩ độ, cường độ ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ quang hợp, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng búp chè Với nguyên liệu sản xuất chè xanh thì hàm lượng diệp lục a, b có ảnh hưởng lớn đến chất lượng chè, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng giảm bớt cường độ chiếu sáng búp chè ở giai đoạn chuẩn bị thu hoạch chè có ý nghĩa nâng cao chất lượng chè thành phẩm do giảm bớt hàm lượng diệp lục a vì lý do trên mà các vùng sản xuất nguyên liệu chè xanh ở Trung Quốc, Nhật Bản vẫn áp dụng kỹ thuật che bớt ánh sáng cho búp chè trước khi thu hoạch
Kết quả nghiên cứu của Hà Ngọc Ngô (dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ 1980) [18] khi trồng chè có trồng xen cốt khí đã làm giảm lượng nước chảy trên bề mặt từ 10-12%, tăng lượng nước thấm vào đất 6-15%, lượng đất bị rửa trôi giảm từ 31- 57%
Theo Đỗ Ngọc Quỹ, Đỗ Thị Kim Oanh (2006) [20] ở Liên Xô, Trung Quốc và Nhật Bản không trồng cây bóng mát cho nương chè Ngược lại ở Ấn
Độ, Srilanka và Đông Phi đều trồng cây che bóng cho chè ở vùng thấp
Nguyễn Văn Thiệp (2006) [22] khi nghiên cứu về mật độ cây che bóng cho chè, đã kết luận: Nếu thời tiết khô hạn kéo dài, nương chè được trồng cây che bóng với mật độ 170-230 cây/ha và độ che phủ cho nương chè 20-30%, nương chè sẽ có độ ẩm cao nhất Nhưng nếu tăng mật độ cây che bóng, độ ẩm đất có xu hướng giảm hoặc những nương chè không trồng cây che bóng, độ ẩm đất cũng giảm
Nguyễn Thị Ngọc Bình (2002) [3] cho rằng: Ở mật độ cây muồng lá nhọn 170 cây/ha, mức che phủ 35%, năng suất búp giống chè PH1 đạt cao nhất Khi mật độ cây che bóng càng tăng sẽ làm giảm kích thước mô dậu, độ dầy biểu bì, mật độ khí khổng và số lục lạp trong mô dậu ít, năng suất giảm
Trang 34Theo Đinh Thị Ngọ (1996) [15] cành lá cây cốt khí khi trồng xen được vùi vào đất làm phân bón có những ưu điểm như khi bón phân chuồng Do có
tỷ lệ C/N trong thân cây thấp (tỷ lệ đạm cao) nên giúp cho quá trình phân giải nhanh, sau thời gian vùi 1-2 tháng có thể cung cấp chất dinh dưỡng dễ tiêu cho cây trồng nói chung và cây chè nói riêng
Theo Đỗ Ngọc Quỹ (1980) [18] trồng cây phân xanh vừa có tác dụng che phủ đất, chống xói mòn, vừa có tác dụng làm cho đất tốt hơn, giảm bớt cỏ dại, cung cấp chất hữu cơ nâng cao độ phì của đất
Theo Chu Xuân Ái và cộng sự (1999) [2] khi trồng xen cây phân xanh trên đồi chè kiến thiết cơ bản và tận dụng chất xanh bón cho chè sẽ góp phần tăng năng suất chè và cải thiện được lý tính của đất Theo tác giả với việc sử dụng phân xanh cho phép thay thế phân chuồng vừa cải tạo tính chất đất vừa tăng năng suất cây chè
Theo Vũ Thị Thiện (2014) [21] khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số vật liệu che phủ đến sinh trưởng, phát triển của giống chè PH10, cho rằng tủ
tế guột với lượng 25tấn/ha cho giống chè PH10 ở tuổi 3 làm tăng sinh trưởng, năng suất, chất lượng nguyên liệu, lý, hóa tính đất và hiệu quả kinh tế là tốt nhất Mật độ búp là 177,7 búp/cây, năng suất đạt 1.899 kg/ha cao hơn không che phủ 24,8% và đạt hiệu quả kinh tế 4,343 triệu đồng/ha, tỷ lệ bánh tẻ: 9,8%; tổng điểm thử nếm cảm quan: 17,64 điểm Dung trọng đất nhỏ nhất 1,030 g/cm3, tỷ trọng 2,55 g/cm3, độ xốp đất cao nhất đạt 59,60%, độ ẩm đất mùa khô đạt 24,1%, mùa mưa đạt 34,2% Hàm lượng đạm tổng số 0,164%, lân tổng số 0,150%, lân dễ tiêu 6,87 mg/100g, kali tổng số 0,144%, kali dễ
tiêu 6,290 mg/100g, hàm lượng mùn 2,520%
Theo Trần Thị Tuyết Thu (2014) [23] cho rằng: Trong điều kiện sản xuất chè ở Phú Hộ đề duy trì và cải thiện chất hữu cơ trong đất nên sử dụng tế guột ở mức 25 tấn/ha và chu kỳ lặp lại sau 3 năm được xem là hợp lý nhất Trong điều kiện sử dụng cành lá chè đốn nên áp dụng ở mức 15 tấn/ha với chu kỳ bón bổ sung hàng năm
Trang 35Nguyễn Thị Việt Hà (2016) [47] cho rằng: Chè là cây thu hái búp, trồng trên đồi dốc nên điều kiện thời tiết, chế độ chăm sóc dễ tác động ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và tuổi thọ của cây Trong các năm gần đây, diễn biến thời tiết bất thường, nắng nóng khô hạn luôn sảy ra gay gắt và kéo dài làm giảm năng suất, gia tăng sâu bệnh hại trên chè Trong điều kiện nhiệt
độ trên 35oC, cây chè sẽ ngừng sinh trưởng Chè là cây ưa ánh sáng tán xạ, không chịu ánh nắng trực tiếp, nắng nóng, nhiệt độ cao ảnh hưởng tiêu cực tới cây chè Trồng cây che bóng trên chè sẽ là giải pháp đạt đa mục đích
Theo Huyền Trang (2017) [48] cho rằng: Chè được che phủ có màu xanh đậm hơn so với chè chăm sóc công nghệ bình thường Trong điều kiện tối, lá chè
sẽ sản xuất nhiều chlorophyll làm lá chè có màu xanh đậm hơn, dẫn đến kết quả lượng catechin và theanin tăng làm cho chè có thành phẩm ngon nhất
Tác giả Võ Quốc Việt và cộng sự (2013) [28], khi nghiên cứu ảnh hưởng của vật liệu che phủ đất đến khả năng sinh trưởng và năng suất chè LDP1 xã Tân Cương, thành phố Thái Nguyên cho rằng biện pháp tủ gốc cho cây chè có hiệu quả cao, giúp cây chè sinh trưởng tốt và làm tăng năng suất của cây chè trong điều kiện thời tiết vụ xuân Sử dụng các loại vật liệu che phủ có tác dụng làm tăng năng suất chè trong vụ xuân trong đó vật liệu che phủ tốt nhất là guột, năng suất búp tươi tăng từ 1,3 - 2,2 kg/m2 và tỷ lệ búp mù xòe giảm
Vũ Thị Thương và cộng sự (2016) [25] đã chỉ ra rằng: Cây che bóng tạo
ra các yếu tố tiểu khí hậu trong các ruộng chè (làm thay đổi cường độ ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ, tốc độ gió) và ảnh hưởng không nhỏ đến mật độ của quần thể sâu hại và các loài côn trùng bắt mồi trên chè Ở ruộng có cây che bóng, mật độ rầy xanh và bọ trĩ thấp hơn mật độ rầy xanh, bọ trĩ ở ruộng không có cây che bóng Ngoài ra, cây che bóng còn có tác dụng chống xói mòn đất, cung cấp thêm dinh dưỡng cho đất, cải tạo đất đối với cây che bóng họ đậu
Theo Hà Thị Thanh Đoàn và cộng sự (2013) [6] cho biết khi sử dụng vật liệu che tủ hữu cơ có tác dụng ngăn ngừa cỏ dại, cải thiện độ ẩm, hàm lượng mùn và vi sinh vật trong đất, tạo nguồn phân hữu cơ tại chỗ cung cấp
Trang 36cho chu kỳ phát triển hàng năm của cây đảm bảo cây sinh trưởng, phát triển tốt, tăng năng suất, chất lượng chè; Sử dụng vật liệu che tủ hữu cơ làm tăng năng suất chè từ 9 - 14% so với không che tủ và tỷ lệ chè A+B đạt trên 80%
Phương Trinh (2017) [49] cho rằng: Khi những chồi non đầu tiên xuất hiện trên đỉnh cành, toàn bộ vườn trà sẽ được Vị ngọt tự nhiên cũng theo đó tăng lên và giảm dần vị đắng Thêm nữa, trong môi trường thiếu sáng, cây trà
sẽ có màu xanh sẫm hơn do phải tăng sinh diệp lục tố để hấp thụ ánh sáng nhiều hơn, và gân lá cũng thưa hơn ưới đen cực lớn trong vòng 20 ngày Với bản tính háo sáng, lá trà xanh sẽ phải vận động.hết mình bao phủ bằng một khung giàn lưới đen cực lớn trong vòng 20 ngày Với bản tính háo sáng, lá trà xanh sẽ phải vận động hết mình để tìm sáng, từ đó sẽ vươn dài hơn, lượng chlorophyll và axit amin cũng tăng lên gấp 10 lần so với loại thông thường
Nguyễn Hữu La (2012) [13] cho rằng: Biện pháp tủ nương chè đã làm tăng năng suất chè, trong đó lượng vật liệu tủ > 20 tấn/ha làm cho nương chè sinh trưởng tốt, năng suất tăng > 17,82%, đồng thời tăng mật độ vi sinh vật đất, tăng tỷ
lệ chất hữu cơ trong đất và sản phẩm chè đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
Trong những biện pháp giữ ẩm, biện pháp tủ ẩm bằng chất hữu cơ là biện pháp có hiệu quả nhất Vì vậy, với những nương chè khi trồng mới nên tiến hành trồng xen các loại cây phân xanh họ đậu vừa có tác dụng cải tạo đất chống xói mòn và sẽ có một lượng chất hữu cơ đáng kể để tủ gốc chè giữ ẩm khi trồng mới và suốt thời kỳ kiến thiết cơ bản
Theo Nguyễn Đặng Dung và Lê Như Bích (2006) [4] khi nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện che sáng khác nhau đến hàm lượng L-theaninne,caffeine và các catechin trong lá chè tươi thuộc hai giống chè Nhật (Yabukita và Sayamakaori) trồng tại vùng New South Wales (Úc)cho thấy: Che sáng các cây chè trồng ở Somersby và Narara sẽ làm tăng chất lượng của
lá chè Nhật được trồng; vì vậy làm tăng chất lượng sản phẩm chè, vì che sáng
đã làm giảm lượng EGCG và catechin tổng số nhưng lại làm tăng hàm lượng L-theanine, caffeine và tỷ lệ L-theanine/catechin tổng số Che sáng đã có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng lá chè về mặt cân bằng các thành phần hóa học
Trang 37Từ những vấn đề trên đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học về hướng sản xuất chè Sencha, bột chè xanh Matcha từ nguyên liệu chè trong nước thay cho sản phẩm ngoại nhập, phát triển các sản phẩm mới, nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ chè ở nước ta
Dựa vào những phân tích trên có thể rút ra những vấn đề chính như sau: Chè là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, cho thu hoạch ổn định Tiếp tục mở rộng diện tích các giống có năng suất cao, chất lượng tốt nhằm
đa dạng các mặt hàng chè có chất lượng cao là một hướng đi thích hợp và là đòi hỏi của sản xuất
Cây chè được coi là cây trung tính, khi mới mọc là cây ưa bóng, lớn lên
là cây ưa ánh sáng, nếu nhiệt độ cao trên 350C cần thiết phải che bóng thích hợp để giảm cường độ ánh sáng và giảm nhiệt độ Hiện nay diện tích chè trồng mới chủ yếu được trồng bằng cây chè giâm hom vì vậy khi trồng nếu cây chè được che bóng sẽ làm tăng tỷ lệ sống, sức sinh trưởng của cây và chất lượng của sản phẩm chè
Hiện nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về việc che bóng cho cây chè, trong đó che bóng bằng cây trồng là phổ biến nhất Qua khảo nghiệm, đánh giá thì những đồi chè có trồng cây che bóng thường cho năng suất cao hơn từ 10% đến 15% so với những đồi chè không có cây che bóng Tuy nhiên che bóng bằng cây trồng sẽ gặp một số trở ngại như: bất tiện trong việc sử dụng máy hái chè, lá cây che bóng rụng xuống sẽ lẫn với chè, tưới tiêu sẽ khó khăn hơn khi thời tiết khô hạn
Vấn đề nghiên cứu về sử dụng lưới che ánh sáng trước khi thu hoạch đã được nghiên cứu rất nhiều thế giới, tuy nhiên ở Việt Nam thì chưa có nhiều
Vì vậy, việc nghiên cứu sử dụng lưới che ánh sáng trước khi thu hoạch có thể giúp tăng chất lượng sản phẩm chè cũng như giải quyết một số trở ngại khi trồng cây che bóng
Trang 38Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Giống chè Kim Tuyên tuổi 12 được trồng tại Phú Thọ, năng suất hiện tại đạt 10 tấn/ha
* Nguồn gốc giống chè Kim Tuyên
Giống chè Kim Tuyên được nhập nội từ Đài Loan, được công nhận giống tạm thời năm 2003, công nhận giống cây trồng mới năm 2008 Đây là giống mang
mã số 12 của Đài Loan được tạo ra bằng phương pháp lai hữu tính giữa mẹ là Oolong lá to của địa phương và bố là giống Raiburi của Ấn Độ năm 1975
* Đặc điểm của giống chè Kim Tuyên
- Hình thái: Cây dạng thân bụi, cành phát triển hướng lên phía trên, mật
độ cành dày, lá hình bầu dục, màu xanh vàng bóng, thế ngang, răng cưa rõ và đều; dài lá 7,2 cm, rộng 3,1 cm Búp màu xanh nhạt, non phớt tím, trọng lượng búp bình quân (1 tôm 2 lá): 0,5- 0,52g
- Sinh trưởng: Cây sinh trưởng khoẻ, mật độ búp dày, khi trồng cây có
tỷ lệ sống cao Cây chè 4 - 5 tuổi tán rộng trung bình 117 cm; cây chè 5 tuổi tại Lâm Đồng đạt 10.500 kg búp/ha; cây chè 4 tuổi tại Lạng Sơn năng suất đạt 4.500 kg búp /ha Nhân giống bằng giâm hom có tỷ lệ sống cao
- Chất lượng: Chè Kim Tuyên được dùng làm nguyên liệu để chế biến
chè xanh chất lượng rất cao Thành phần một số chất: Axit amin tổng số 1,6%; Catechin tổng số (mg/gck) 135; Tanin 28,97%; Chất hoà tan 38,85%
2.2 Vật liệu nghiên cứu
* Vật liệu che sáng:
Lưới che sáng màu đen để che sáng cây chè do Công ty cổ phần Thái Việt (166 Hà Huy Giáp, phường Thạnh Lộc, Quận 12, Thành Phố Hồ Chí Minh) cung cấp, khả năng giảm cường độ chiếu sáng tùy theo độ mau thưa (số lớp lưới) khác nhau Trong thí nghiệm sử dụng loại lưới làm giảm 70%
cường độ ánh sáng so với ánh sáng tự nhiên
Trang 39Hình 2.1 Lưới che nắng màu đen được sử dụng trong thí nghiệm
* Phân bón:
Sử dụng phân bón NPK Lâm Thao tỷ lệ 12:5:10 theo quy trình của Bộ
NN&PTNT
2.3 Phạm vi nghiên cứu
* Thời gian nghiên cứu:
Các thí nghiệm được tiến hành từ tháng 1/2017 - tháng 12/2017
* Địa điểm nghiên cứu:
Thí nghiệm được bố trí tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Chè - Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc
2.4 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng chè xanh giống chè Kim Tuyên
Nghiên cứu ảnh hưởng của chiều cao che sáng đến tình hình sâu hại chính trên giống chè Kim Tuyên
Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên
Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến tình hình sâu hại chính trên giống chè Kim Tuyên
2.5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 40CT1: Không che nắng (Đ/C) CT2: Che cách mặt tán chè 0,5m
khi thu hoạch
* Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian che sáng trước khi hái đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Kim Tuyên
- Thí nghiệm gồm 3 công thứcđược bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD), với 3 lần nhắc lại Diện tích ô thí nghiệm 45m2
CT1: Không che ánh sáng (Đ/C) CT2: Che sáng trong 7 ngày trước khi thu hoạch CT3: Che sáng trong 14 ngày trước khi thu hoạch