60 TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT PHỤ LỤC Phụ Lục I – Phân Loại Quốc Gia Theo Vùng Lãnh Thổ Phụ Lục II – Phân Loại Quốc Gia Theo Chỉ Số Phát Triển Con Người H
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LƯU THỊ THÙY DUNG
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ : VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC Ở CÁC QUỐC
GIA THỊ TRƯỜNG MỚI NỔI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LƯU THỊ THÙY DUNG
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA FDI
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ : VAI TRÒ
CỦA NGUỒN NHÂN LỰC Ở CÁC QUỐC
GIA THỊ TRƯỜNG MỚI NỔI
Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân Hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
Thành phố Hồ Chí Minh - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Giữa FDI Và Tăng Trưởng Kinh Tế : Vai Trò Của Nguồn Nhân Lực Ở Các Quốc Gia Thị Trường Mới Nổi” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, với sự hỗ trợ từ giảng viên hướng dẫn khoa học
là PGS.TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào Những dữ liệu cùng các nội dung trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, được ghi trong phần tài liệu tham khảo Nếu có bất kỳ sai sót, gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trắc nhiệm trước Hội đồng
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Học Viên
LƯU THỊ THÙY DUNG
Trang 4MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu 4
1.4 Kết cấu bài nghiên cứu 5
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 6
2.1 Các khái niệm liên quan 6
2.2 Tổng quan các nghiên cứu 7
CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 19
3.1 Mô hình tăng trưởng kinh tế 20
3.1.1 Đo lường FDI 21
3.1.2 Đo lường nguồn lực quốc gia trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 21
3.1.3 Đo lường chính sách chính phủ trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 25
3.1.4 Đo lường hệ thống thể chế và sự phát triển của thị trường tài chính trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 27
3.2 Mô hình FDI 28
3.2.1 Đo lường nguồn lực của quốc gia trong thu hút FDI 30
3.2.2 Đo lường chính sách quốc gia trong thu hút FDI 33
3.2.3 Đo lường hệ thống thể chế của quốc gia trong thu hút FDI 34
CHƯƠNG 4 DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
4.1 Dữ liệu nghiên cứu 36
4.2 Phương pháp nghiên cứu 40
Trang 5CHƯƠNG 5 THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
5.1 Kết quả thống kê mô tả 43
5.2 Kết quả phân tích mô hình hồi quy 44
5.2.1 Mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế 44
5.2.2 Mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng dưới tác động của nguồn nhân lực 50 5.2.3 Tác động của những yếu tố khác đến FDI và tăng trưởng kinh tế 53
5.2.4 So sánh giữa các khu vực 55
CHƯƠNG 6 KẾT LUẬN 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG ANH
TÀI LIỆU THAM KHẢO TIẾNG VIỆT
PHỤ LỤC
Phụ Lục I – Phân Loại Quốc Gia Theo Vùng Lãnh Thổ
Phụ Lục II – Phân Loại Quốc Gia Theo Chỉ Số Phát Triển Con Người (HDI)
Phụ Lục III – Kết Quả Ước Tính Các Nhân Tố Tác Động Đến Growth theo Pooled OLS, FEM, REM
Phụ Lục IV – Kết Quả Ước Tính Các Nhân Tố Tác Động Đến FDI theo Pooled OLS, FEM, REM
Phụ Lục V – Ước Lượng Các Yếu Tố Quyết Định Đến Tăng Trưởng Kinh Tế Bằng Mô Hình Tác Động Cố Định (Fixed Effect Model)
Phụ Lục VI – Ước Lượng Các Yếu Tố Quyết Định Đến Dòng Vốn FDI Bằng Mô Hình Tác Động Cố Định (Fixed Effect Model)
Phụ Lục VII – Kết Quả Phân Tích Hồi Quy Hiện Tượng Đa Cộng Tuyến
Phụ Lục VIII – Ma Trận Tương Quan Giữa Các Biến Trong Mô Hình Nghiên Cứu
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2SLS : Phương pháp bình phương nhỏ nhất hai giai đoạn 3SLS : Phương pháp bình phương nhỏ nhất ba giai đoạn ECM : Mô hình hiệu chỉnh sai số
FEM : Hồi quy tác động cố định
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FPI : Đầu tư gián tiếp nước ngoài
GMM : Phương pháp moment tổng quát
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
ODA : Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức
OLS : Phương pháp bình phương nhỏ nhất
WTO : Tổ Chức Thương Mại Thế Giới
REM : Hồi quy tác động ngẫu nhiên
TFP : Tổng năng suất các yếu tố
UNCTAD : Hội nghị Thương mại và Phát triển Liên Hợp Quốc VAR : Mô hình vectơ tự hồi quy
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: “Vòng luẩn quẩn” của sự chậm phát triển 1Hình 1.2: Dòng Vốn FDI Đổ Vào Các Nền Kinh Tế Giai Đoạn 1990-2014 3Hình 3.1: Giả Thuyết Về Mối Liên Hệ Giữa FDI Và Tăng Trưởng Kinh Tế 19 Hình 5.1: Lượng khí thải CO2 bình quân đầu người và dòng vốn FDI đổ vào 52 quốc gia, 1995-2011 45Hình 5.2: Tăng trưởng kinh tế, Số năm đi học trung bình và Chi tiêu chính phủ cho giáo dục, 2005-2014 51Hình 5.3: Tăng trưởng kinh tế với biến tương tác giữa FDI và nguồn nhân lực 53
Trang 8TÓM TẮT
Mặc dù được giả định là một nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhưng tác động của nguồn nhân lực đến tăng trưởng kinh tế và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài chỉ mới được quan tâm trong những năm gần đây, đặc biệt rất ít bài nghiên cứu xem xét về tác động của nguồn nhân lực đến mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Do đó, bài nghiên cứu này được tiến hành để kiểm định tác động của nguồn nhân lực đến mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Từ dữ liệu của 52 quốc gia có thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển (Emerging Market and Developing Economies) trong đó có Việt Nam, giai đoạn 2005-2014, bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất ba giai đoạn (Three Stage Least Squares – 3SLS), bài nghiên cứu cho thấy, khả năng hấp thụ của nguồn nhân lực đóng vai trò quyết định đến tác động của FDI lên tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia
Trang 9CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Nhà kinh tế học Paul Anthony Samuelson với tác phẩm “Kinh tế học: Một phân tích nhập môn” (Economics: An Introductory Analysis), được xuất bản vào năm 1948, đã đưa ra lý thuyết “Cái vòng luẩn quẩn” và “Cú huých từ bên ngoài” Trong đó, lý thuyết đã đưa ra hàm ý về vai trò của đầu tư nước ngoài đối với tăng trưởng của một quốc gia Theo lý thuyết này, một quốc gia muốn tăng trưởng kinh
tế cần có bốn yếu tố: vốn, nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên và công nghệ Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng hội tụ đủ các nhân tố cần thiết này, đặc biệt là những quốc gia nghèo và những quốc gia đang phát triển Đa số những quốc gia trong nhóm này thường có thu nhập bình quân đầu người thấp, làm hạn chế khả năng tích luỹ vốn, nên đầu tư để gia tăng năng suất và sản lượng không cao.Từ đó, dẫn đến việc hình thành nên “cái vòng luẩn quẩn” của sự chậm phát triển (hình 1.1) Theo Samuelson, các quốc gia muốn phá vỡ “cái vòng luẩn quẩn” này, thì cần phải
có “Cú huých từ bên ngoài”, nghĩa là các quốc gia này cần có sự đầu tư từ bên ngoài về vốn, để khai thác hết tiềm năng vốn có của quốc gia, từ đó, gia tăng năng suất và sản lượng Trong đó, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được xem là cú huých mang tính đột phá quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế
Hình 1.1: “Vòng luẩn quẩn” của sự chậm phát triển
Trang 10Khi so sánh với các nguồn vốn đầu tư nước ngoài khác như nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI), …, thì vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài được xem là có ưu điểm vượt trội hơn hẳn Bên cạnh việc bổ sung vốn đầu tư để phá vỡ “cái vòng luẩn quẩn” hướng đến mục tiêu tăng trưởng, đầu tư trực tiếp nước ngoài còn góp phần gia tăng thặng dư tài khoản vốn, cải thiện cán cân thanh toán, đẩy mạnh xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, tạo cơ hội cho các nước, nhất là các nước nghèo, tiếp cận công nghệ tiên tiến, nâng cao kỹ năng quản
lý, trình độ lao động, mở rộng hợp tác đầu tư với các nước và thúc đẩy hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới v.v (Freeman (2000); Nguyễn Mại (2004)) Vì thế, nhiều học giả và nhà làm chính sách đã nhìn nhận và xem đầu tư trực tiếp nước ngoài như là một trong những “trụ cột quan trọng” giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế của một quốc gia (Caves, 2007; Dunning và Lundan, 2008; Franco, 2013; Giroud, 2007; Lim, 2001; UNCTAD, 2011) Tuy nhiên, trong thực tế, không phải quốc gia nào cũng có thể khai thác triệt để những ưu điểm sẵn có của nguồn vốn FDI Một số quốc gia thu hút dòng vốn FDI khá lớn, nhưng đóng góp của nguồn vốn này vào tăng trưởng là không đáng kể Chính điều này đã thúc đẩy các nhà kinh tế quan tâm nhiều hơn về mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế
Qua thời gian, đầu tư trực tiếp nước ngoài không những tăng trưởng khá cao,
mà còn đa dạng về hình thức đầu tư, cũng như khu vực đầu tư (Buckley và Casson,
1976, trang 36) Sự lớn mạnh của FDI được thể hiện rõ trong hình 1.2 Tăng trưởng đáng kể của FDI từ thập niên 1990 đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, điều đó được thể hiện qua hàng loạt các nghiên cứu kinh tế cả lý thuyết lẫn thực nghiệm về các yếu tố quyết định đến FDI cũng như ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, những bài nghiên cứu này không đưa ra được một kết luận rõ ràng về ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng Trong nghiên cứu của Sasi Iamsiraroj cùng Mehmet Ali Ulubaşoğlu (2015), hai tác giả đã tiến hành thống kê
108 bài nghiên cứu thực nghiệm cùng với 880 kết quả ước lượng hồi quy, về ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế, kết quả cho thấy, khoảng 69% ước lượng cho rằng, FDI giúp thúc đẩy tăng trưởng, còn 31% còn lại cho thấy FDI không giúp
Trang 11tăng trưởng mà còn kiềm hãm tiến trình tăng trưởng của một quốc gia Trong đó, khoảng 40% kết quả không có ý nghĩa thống kê
Bên cạnh việc nghiên cứu ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế, nhiều nhà nghiên cứu còn xem tăng trưởng như là một trong những nhân tố quyết định, để thu hút nguồn vốn FDI (Dasgupta và Rath, 2000; Durham, 2002; Hsiao và Shen 2003; Lipsey, 2000; Roy và Mandal 2012; Vita và Kyaw, 2008) Điều đó dẫn đến khả năng tồn tại mối liên hệ qua lại giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Chính mối liên
hệ này có thể làm phát sinh hiện tượng nội sinh và tính đồng thời của hai nhân tố trong khi ước lượng, dẫn đến kết quả của nhiều bài nghiên cứu thực nghiệm sẽ thiếu chính xác khi chỉ ước lượng tác động bằng mô hình một phương trình1
Hình 1.2: Dòng Vốn FDI Đổ Vào Các Nền Kinh Tế Giai Đoạn 1990-2014
Nguồn: UNCTAD (www.unctad.org/fdistatistics)
Trong những năm gần đây, dòng vốn FDI có xu hướng dịch chuyển sang nhóm các quốc gia đang phát triển Tính đến thời điểm năm 2014, dòng vốn FDI đổ vào các quốc gia đang phát triển đã chiếm 55%, hơn một nửa dòng vốn FDI của thế giới
1 Tính đến thời điểm này, đa số những bài nghiên cứu thực nghiệm thường
sử dụng mô hình một phương trình để phân tích mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế
Trang 12Khi ước lượng mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế, nhiều nhà nghiên cứu đã đưa thêm vào mô hình nhiều nhân tố như: sự phát triển của thị trường tài chính, lạm phát, lãi suất, độ mở thị trường, v.v Tuy nhiên, rất ít bài nghiên cứu quan tâm đến vai trò của nguồn nhân lực Trong khi đó, nhân tố này không những được xem là một trong các yếu tố quyết định khi thu hút FDI mà còn có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, như theo lý thuyết “cái vòng luẩn quẩn” đã đề cập Nghiên cứu của Li và Liu (2005) qua khảo sát 88 quốc gia tiếp nhận vốn FDI (bao gồm các quốc gia phát triển và đang phát triển) đã cho thấy, tác động của nguồn nhân lực vào mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Hai tác giả chỉ ra rằng, nước tiếp nhận FDI phải có nguồn nhân lực đạt tới một trình độ nhất định thì mới có thể phát huy được tác động tích cực của FDI đến tăng trưởng kinh tế, bằng không chính nguồn vốn FDI này sẽ gây cản trở cho tiến trình tăng trưởng Điều này ngụ ý rằng, tồn tại một ngưỡng trình độ tối thiểu, mà nếu vượt qua ngưỡng này thì FDI mới có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Bài nghiên cứu này hướng đến xem xét mối liên hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế dưới tác động của nguồn nhân lực Để khám phá mối liên hệ này, bài nghiên cứu tiến hành xem xét các vấn đề sau:
Thứ nhất, mối liên hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Thứ hai, ảnh hưởng của nguồn nhân lực đến đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế
Thứ ba, mối liên hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế dưới tác động của nguồn nhân lực
Ngoài ra, bài nghiên cứu còn kiểm định thêm tác động của các yếu tố quyết định khác đến FDI và tăng trưởng kinh tế như nguồn lực quốc gia, chính sách nhà nước và hệ thống thể chế
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng cho 52 quốc gia thuộc nhóm các quốc gia có thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển, giai đoạn từ năm 2005 đến
Trang 132014 Bằng ước lượng mô hình đồng thời gồm hai phương trình tăng trưởng kinh tế
và dòng vốn FDI, bài nghiên cứu sẽ cho ra ước lượng phù hợp vì đã xem xét đến hiện tượng nội sinh và tính đồng thời của hai nhân tố FDI và tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, hệ mô hình đồng thời còn giúp xác định những kênh truyền dẫn trung gian ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế
Bài nghiên cứu này được cấu trúc như sau: trong chương hai, bài nghiên cứu
sẽ trình bày tóm lược các nghiên cứu trước đây có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu Chương 3 sẽ nói rõ về mô hình nghiên cứu được áp dụng để giải quyết mục tiêu nghiên cứu Chương 4 đưa ra dữ liệu và những phương pháp ước lượng được
sử dụng trong nghiên cứu này Kết quả ước lượng sẽ được trình bày cụ thể và thảo luận ở chương 5 Cuối cùng là những kết luận tổng quát liên quan đến mục tiêu nghiên cứu sẽ được nói rõ trong chương 6
Trang 14CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
Tăng trưởng kinh tế là mục tiêu mà tất cả các quốc gia hướng đến Khi nói về tăng trưởng kinh tế, Pramit Chaudhuri, Economic Theory of Growth (1989), cho rằng “Tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên của sản lượng hàng hoá và dịch vụ mà sự tăng lên này được duy trì trong thời gian dài” Theo định nghĩa của Simon Kuznets (1966), “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng một cách bền vững của sản lượng bình quân đầu người hay sản lượng trên mỗi lao động” còn theo Douglass C North và Robert P.Thomas (1973) “Tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số” Hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất với nhau rằng, tăng trưởng kinh tế
là sự gia tăng trong thu nhập bình quân đầu người hay sản lượng của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức nhà đầu tư tiến hành đầu tư vào tài sản cố định được sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh doanh ở nước ngoài và đạt được quyền kiểm soát doanh nghiệp đó ở nước ngoài (Đinh Thị Thu Hồng cùng các tác giả, 2015) Theo Griffin và Pustay (2007), đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc kiểm soát hơn 10% cổ phiếu có quyền biểu quyết của doanh nghiệp Còn theo
Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (World Trade Organization – WTO) “đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một quốc gia (quốc gia chủ đầu tư) có được một tài sản ở một quốc gia khác (quốc gia thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là yếu tố để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong hầu hết các trường hợp, nhà đầu tư lẫn tài sản mà nhà đầu tư
đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh”
Theo E.Wight Bakke (1958), nguồn nhân lực là tập hợp những cá nhân tạo nên lực lượng lao động của một tổ chức, một doanh nghiệp, hoặc toàn bộ nền kinh
tế Vốn con người đôi khi cũng được sử dụng đồng nghĩa với nguồn nhân lực, tuy nhiên khái niệm vốn con người thường đề cập đến khía cạnh hẹp hơn (chỉ bao gồm những kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm tích luỹ trong mỗi con người nhờ quá trình học tập, rèn luyện và lao động) Nguồn nhân lực cần được hiểu là số lượng (số
Trang 15dân) và chất lượng con người, như thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và đạo đức của người lao động Nó là tổng thể nguồn lực sẵn có để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó (Phạm Minh Hạc 2001) Theo Stivastava (1997) “Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn bao gồm
cả thể lực và trí lực, kỹ năng nghề nghiệp mà mọi cá nhân sở hữu Nguồn nhân lực được xem là nguồn vốn quan trọng đối với quá trình sản xuất Nguồn vốn này là tập hợp những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm trong quá trình lao động và học tập Vì vậy, các chi phí giáo dục, đào tạo,…để nâng cao nguồn nhân lực, được xem là chi phí đầu vào của quá trình sản xuất, thông qua đầu tư con người”
Những nghiên cứu lý thuyết từ mô hình tăng trưởng tân cổ điển và mô hình tăng trưởng nội sinh đã đưa ra những lập luận trái ngược nhau về vai trò của FDI đến tăng trưởng kinh tế Theo mô hình tăng trưởng tân cổ điển, tỷ lệ tiết kiệm cao hơn thúc đẩy tăng trưởng nhanh hơn, nhưng tốc độ tăng trưởng cao hơn chỉ tồn tại trong thời gian ngắn Sự gia tăng tỷ lệ tiết kiệm chỉ thúc đẩy tăng trưởng cho đến khi nền kinh tế tiến tới trạng thái dừng mới Trong dài hạn, tỷ lệ tiết kiệm không tác động tới tăng trưởng Mô hình tăng trưởng tân cổ điển chỉ ra rằng, để một quốc gia đạt được tốc độ tăng trưởng trong dài hạn thì phải dựa vào tiến bộ công nghệ, yếu tố được xem là biến ngoại sinh từ mô hình Những nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế dựa trên nền tảng mô hình tăng trưởng tân
cổ điển như De Mello (1997) và Solow (1957) cũng đưa ra những kết luận đồng quan điểm khi cho rằng, FDI sẽ chỉ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và không có tác động trong dài hạn nếu FDI không thúc đẩy tiến bộ công nghệ của quốc gia nhận đầu tư Bằng cách sử dụng dữ liệu các quốc gia nằm trong và ngoài khối OECD từ năm 1979-1990, De Mello (1999) đã tiến hành xem xét tác động của FDI tới đầu tư trong nước, sản lượng, và tổng năng suất các yếu tố 2
2
Tổng năng suất các yếu tố (TFP) phản ánh tiến bộ của khoa học, công nghệ
và kỹ thuật, qua đó gia tăng sản lượng đầu ra không chỉ phụ thuộc vào sự tăng thêm
Trang 16(TFP) De Mello chỉ ra rằng, FDI là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài
hạn thông qua chuyển giao công nghệ và tính tràn kiến thức từ các doanh nghiệp có
vốn FDI sang các doanh nghiệp nội địa
Tuy nhiên, với những nền kinh tế có lợi tức tăng dần theo quy mô thì không
nhất thiết sẽ tiến về một trạng thái dừng như mô hình tăng trưởng tân cổ điển đã đề
cập Khi các yếu tố ngoại tác tích cực 3 đạt được từ đầu tư mới, có tác động lớn đối
với nền kinh tế thì giả định năng suất biên của vốn giảm dần không còn khả thi, vì
thế tỷ lệ tăng trưởng sẽ không bị chậm lại, và nền kinh tế không nhất thiết đi đến
trạng thái dừng Khi ấy, tỷ lệ tiết kiệm cao hơn có thể dẫn đến sự gia tăng lâu dài
trong tỷ lệ tăng trưởng mà không cần dựa vào thay đổi công nghệ ngoại sinh Điều
đó, đưa đến sự ra đời của các mô hình tăng trưởng nội sinh
Mô hình tăng trưởng nội sinh được phát triển bởi các nhà kinh tế như
Kenneth J.Arrow (1962); Lucas (1988); Mankiw, Romer cùng Weil (1992); Rebelo
(1991) và Romer (1986) Nhìn chung, những mô hình tăng trưởng nội sinh cho
rằng, đầu tư là yếu tố quyết định tăng trưởng, nhưng khái niệm về vốn đã được mô
hình tăng trưởng nội sinh khái quát hoá khi bao gồm cả nguồn nhân lực, trình độ
nghiên cứu và phát triển, đặc biệt nhấn mạnh đến những ảnh hưởng ngoại tác phát
sinh từ các loại vốn này, như hiệu ứng lan toả công nghệ Thực ra, ý tưởng của các
số lượng đầu vào, mà còn cả chất lượng của các yếu tố đầu vào là vốn và lao động
Tăng TFP gắn liền với áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công nghệ, cải tiến
phương thức quản lý và nâng cao kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao động
3
Khi đầu tư vào nghiên cứu hay giáo dục, chẳng những ảnh hưởng tích cực
lên doanh nghiệp hay cá nhân thực hiện đầu tư, mà còn ảnh hưởng “lan truyền” tích
cực sang những thành phần khác trong nền kinh tế Ví dụ, lợi ích từ việc triển khai
hệ thống dây chuyền sản xuất mới của Henry Ford chắc chắn là đem lại lợi ích to
lớn cho Công ty Ford Motor, bên cạnh đó còn mang lợi ích lớn hơn cho nền kinh tế
nhờ ảnh hưởng lan toả của kiến thức về kỹ thuật mới này sang các doanh nghiệp
khác
Trang 17mô hình tăng trưởng nội sinh không có gì mới Điều mà, mô hình tăng trưởng nội sinh đã làm là trình bày lại một cách có hệ thống, trong đó nguồn nhân lực hay quá trình tích luỹ kiến thức trở thành yếu tố quan trọng, quyết định đến tăng trưởng kinh
tế 4 Như đã đề cập, bên cạnh thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, FDI còn có tác động tích cực đến phát triển nguồn nhân lực thông qua các dự án đầu tư vào giáo dục Những
cá nhân làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ có cơ hội học hỏi, nâng cao trình độ bản thân khi được tiếp cận với công nghệ tiên tiến và chuyên môn quản lý cao hơn Bên cạnh đó, FDI còn tạo cơ hội cho các quốc gia tiếp cận với công nghệ hiện đại, giúp cho quá trình chuyển giao công nghệ được dễ dàng Những tác động tích cực này được xem là các tác động tràn của FDI, góp phần làm tăng năng suất cho các doanh nghiệp nội địa và cuối cùng là đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Ảnh hưởng của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế được mô hình tăng trưởng nội sinh miêu tả cụ thể hơn so với mô hình tăng trưởng tân cổ điển, khi
đề cập đến cả những kênh truyền dẫn trung gian, như nguồn nhân lực, tiến bộ công nghệ Những bài nghiên cứu của Alguacil cùng cộng sự 2002; Baharumshan và Thanoon, 2006; Balasubramanyam cùng cộng sự, 1996, 1999; Bende Nabende và Ford 1998; Borensztein cùng cộng sự, 1998; Chakraborty và Basu, 2002; De Mello,
1997, 1999; Liu cùng cộng sự 2002 và Wang, 2005 là những bằng chứng xác thực cho lập luận của mô hình tăng trưởng nội sinh, khi những bài nghiên cứu này chỉ rõ vai trò của FDI trong kích thích tăng trưởng kinh tế thông qua các tác động tràn, như tiếp cận công nghệ mới, bổ sung nguồn vốn, và nâng cao trình độ nguồn nhân lực
Dù có sự khác biệt, nhưng cả hai mô hình tăng trưởng tân cổ điển và mô hình tăng trưởng nội sinh đều đưa ra những lập luận chứng minh tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư đối với nền kinh tế, ngụ ý về vai trò của dòng vốn FDI trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã được tiến
4
Trần Thọ Đạt, 2005 Các mô hình tăng trưởng kinh tế Hà Nội: Nhà xuất
bản thống kê
Trang 18hành để xem xét ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế, nhưng những nghiên này không đưa ra một kết luận rõ ràng về mối liên hệ này Trong khi, một số bài nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của FDI trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Aitken cùng cộng sự, 1997; Alfaro cùng cộng sự, 2003; Caves, 2007; Choe, 2003;
De Mello,1999; Dunning và Lundan, 2008; Franco, 2013; Lee và Chang, 2009; Lim, 2001; Lipsey, 2002; Mullen và William, 2005; Yao, 2006), thì một số bài khác lại cho rằng, chính dòng vốn FDI là nguyên nhân dẫn đến sự chậm tăng trưởng kinh
tế ở các quốc gia (Buckley cùng cộng sự, 2002; Dutt, 1997; Easterly, 1993; Mencinger, 2003; Meyer, 2004; Meyer và Sinani, 2006; Nunnenkamp và Spatz, 2003) Tuy nhiên, có thể dễ dàng nhìn thấy, phần lớn những nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng ở các quốc gia phát triển đều đưa ra một kết luận chung khi cho thấy, FDI chính là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế (Baldwin cùng cộng sự, 2005; Bitzer cùng cộng sự, 2008; Caves, 1974; Globerman,
1979; Lee, 2013; O'Hearn, 1990) Những nghiên cứu của Barry và Bradley (1997) ở
Ireland giai đoạn 1960 – 1995; Lee (2013) cho 19 quốc gia thuộc nhóm G20; Li và Liu (2005) ở 21 quốc gia phát triển giai đoạn 1970 – 1999; Liu, Siler, Wang, và Wei (2000) ở Anh cùng Schneider (2005) ở 19 quốc gia phát triển thời kỳ 1970 – 1990
đã chỉ ra rõ tác động tích cực này Không như phần lớn các nghiên cứu ở những quốc gia phát triển, kết quả đạt được từ các quốc gia đang phát triển thì không đồng nhất Một số bài cho thấy tác động tích cực của FDI, một số khác lại cho thấy tác động tiêu cực, thậm chí không có tác động Nghiên cứu của Borensztein, De Gregorio, và Lee (1998) đã cho thấy FDI tác động không đáng kể đến tăng trưởng kinh tế ở 69 quốc gia đang phát triển, còn nghiên cứu của Akinlo (2004) và Schneider (2005) thì không cho thấy mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng Bảng 2.1
đã trình bày tóm lược một số nghiên cứu trước đây liên quan đến FDI và tăng trưởng kinh tế
Trang 19Bảng 2.1: Tóm Lược Một Số Nghiên Cứu Về Ảnh Hưởng Của FDI Vào
Tăng Trưởng Kinh Tế (Growth)
Tác giả Mẫu nghiên cứu Phương
cộng sự
(1992)
78 quốc gia đang phát triển (1960-1985)
OLS FDI thúc đẩy tăng
OLS
FDI thúc đẩy tăng trưởng và ảnh hưởng này có ý nghĩa hơn khi đưa thêm yếu tố đầu tư trong nước
OLS; 2SLS
FDI làm cho quá trình chuyển giao công nghệ diễn ra mạnh mẽ, từ đó thúc đẩy tăng trưởng
OLS; 2SLS
FDI chỉ có ảnh hưởng thúc đẩy tăng trưởng khi nguồn nhân lực đạt tới trình độ phát triển nhất định
Trang 20Campos và
Kionoshita
(2002)
25 quốc gia Trung
Âu và Đông Âu, cùng các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi thuộc Liên Xô cũ (1990-1998)
FEM
FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng tại các quốc gia có nền kinh tế đang chuyển đổi, vì tại các quốc gia này có quá trình công nghiệp hoá diễn ra mạnh mẽ hơn, đồng thời sở hữu một lực lượng lao động được đào tạo tốt hơn
GMM
FDI thúc đẩy tăng trưởng với điều kiện đạt được nguồn nhân lực thích hợp và nền kinh tế ổn định Choe
(2003)
80 quốc gia
FDI không tác động đến tăng trưởng
FDI
Trang 21kê
Li và Liu
(2005)
21 quốc gia phát triển và 63 quốc gia đang phát triển (1970-1999)
REM
FDI thúc đẩy tăng trưởng khi có tương tác với nguồn nhân lực ở những quốc gia đang phát triển
Trang 22tư chung FDI là nguồn vốn bổ sung chứ không thay thế hoàn toàn vốn trong nước Khaliq và Noy
(2007)
Indonesia
FDI làm giảm tốc độ tăng trưởng
cộng sự
(2008)
27 quốc gia chuyển đổi Châu Âu (1991-2004)
Cointegration FDI ảnh hưởng tích
Trang 23(2010)
47 quốc gia đang phát triển (1981-1999)
OLS FDI làm giảm tốc độ
tăng trưởng Solomon
Kalyoncu, H
(2012)
Georgia (1997-2010)
Cointegration
và Granger
FDI có tác động đến tăng trưởng ở Georgia
Lee
(2013)
19 quốc gia nhóm
G20 (1971-2009)
Cointegration
FDI đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng Sajid Anwar và
Lan Phi Nguyen
(2014)
Việt Nam
Tác động tràn của FDI đến tăng trưởng khác nhau giữa các vùng trên lãnh thổ Việt Nam
OLS : Phương pháp bình phương nhỏ nhất 2SLS : Phương pháp bình phương nhỏ nhất hai giai đoạn FEM : Hồi quy tác động cố định
REM : Hồi quy tác động ngẫu nhiên
GMM : Phương pháp moment tổng quát
VAR : Mô hình vectơ tự hồi quy ECM : Mô hình hiệu chỉnh sai số
Cointegration : Phân tích đồng liên kết
Granger : Phân tích nhân quả Granger
Trang 24Những tác giả ủng hộ lập luận FDI không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh
tế, đã đưa ra nhiều quan điểm để chứng minh cho lập luận của mình, khi cho rằng, FDI chỉ thực sự thúc đẩy tăng trưởng, nếu nền kinh tế hội tụ đủ các điều kiện cần thiết Như mô hình được đề xuất bởi Benhabib và Spiegel (1994) cùng Nelson và Phelps (1966) đã nhấn mạnh đến vai trò của nguồn nhân lực, như một đại diện cho khả năng hấp thụ của nền kinh tế Theo nghiên cứu của Akinlo (2004), Borensztein cùng cộng sự (1998) và Hermes cùng Lensink (2000), tác động của FDI đến tốc độ tăng trưởng của các nước đang phát triển phụ thuộc nhiều vào khả năng tiếp nhận và hấp thụ công nghệ Athukorala và Menon (1995) cho thấy, FDI chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Malaysia, khi quốc gia này có khả năng hấp thụ đầy đủ công nghệ tiên tiến, cụ thể là sở hữu một lực lượng lao động có trình độ cao Bên cạnh đó, ảnh hưởng của FDI còn phụ thuộc vào đặc trưng của nền kinh tế như độ mở thị trường, chính sách đầu tư và sự ổn định của các yếu tố vĩ mô (Balasubramanyam cùng cộng
sự, 1996) Vì vậy, FDI có thể không tác động vào tăng trưởng, nhưng khi xem xét
sự tương tác giữa FDI với một số nhân tố khác, như nguồn nhân lực, sự phát triển của thị trường tài chính, thì lại cho thấy có tác động Sử dụng dữ liệu của 18 quốc gia Châu Mỹ La tinh trong thời gian từ năm 1970-1999, Bengoa và Sancher-Robles (2003) chỉ ra rằng, tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế là tích cực chỉ khi các quốc gia nhận đầu tư sở hữu nguồn nhân lực đạt tới trình độ phát triển nhất định và các yếu tố kinh tế vĩ mô ổn định Theo kết quả nghiên cứu của Blomstrom cùng cộng sự (2001), FDI chỉ thúc đẩy tăng trưởng khi nền kinh tế có trình độ giáo dục phát triển đến một mức độ thích hợp Nghiên cứu của Blomstrom cùng cộng sự (1992) chia các quốc gia đang phát triển thành hai nhóm: các quốc gia có thu nhập thấp và các quốc gia có thu nhập cao, đã cho thấy, FDI chỉ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia có thu nhập cao Điều này ngụ ý rằng, quốc gia nhận đầu tư chỉ được hưởng lợi từ FDI, khi đạt tới trình độ phát triển nhất định, để có thể tiếp thu được công nghệ tiên tiến Nói cách khác, mức thu nhập là điều kiện quyết định cho ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế Dưới mức thu nhập cần thiết, FDI dường như không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu của Borensztein
Trang 25cùng cộng sự (1998) ở 69 quốc gia đang phát triển giai đoạn 1970 - 1989 cho thấy, FDI chỉ có ảnh hưởng nhẹ đến tăng trưởng, nhưng khi sử dụng số nhân giữa FDI với trình độ lực lượng lao động làm biến độc lập, thì biến này không những có tác động mạnh hơn mà còn có ý nghĩa Từ đó, tác giả kết luận rằng, FDI chỉ mang lại tác động tích cực đến tăng trưởng của nền kinh tế khi quốc gia nhận đầu tư có lực lượng lao động đạt đến trình độ phát triển nhất định, dưới mức cần thiết, FDI hầu như không có tác động đến tăng trưởng Bằng phương pháp moment tổng quát (GMM), nghiên cứu của Carkovic cùng Levine (2005) ở 72 quốc gia giai đoạn 1960-1995 cho thấy, FDI tác động khác nhau vào tăng trưởng, phụ thuộc vào thu nhập bình quân đầu người, độ mở thương mại, giáo dục và sự phát triển của thị trường tài chính
Bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, nhiều nghiên cứu còn xem FDI là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự chậm tăng trưởng của nền kinh tế Theo Amin (1974) và Frank (1979), trong dài hạn vốn đầu tư nước ngoài không ảnh hưởng đến tăng trưởng ở những quốc gia đang phát triển Nghiên cứu thực nghiệm của Alschuler (1976); Bornschier cùng cộng sự (1978) cho thấy ảnh hưởng tiêu cực của dòng vốn FDI và viện trợ nước ngoài, khi kết luận rằng những dòng vốn này là nguyên nhân dẫn đến sự chậm tăng trưởng của nền kinh tế trong dài hạn Khi nghiên cứu dòng vốn FDI của Mỹ sang các quốc gia đang phát triển, Nunnenkamp
và Spatz (2003) đã kết luận rằng, FDI không có tác động đáng kể đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia đang phát triển, thậm chí FDI còn có tác động tiêu cực, đặc biệt ở các quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người thấp, trình độ lực lượng lao động không cao và độ mở nền kinh tế thấp Có nhiều nguyên nhân để giải thích cho ảnh hưởng bất lợi của FDI vào tăng trưởng kinh tế như chuyển giao công nghệ lạc hậu biến quốc gia nhận đầu tư trở thành bãi rác công nghiệp; hiện tượng “giảm vốn 5”; sự khác biệt về năng lực cạnh tranh, khoảng cách công nghệ và năng suất
5
Khi những doanh nghiệp nước ngoài kinh doanh bắt đầu có lãi, và muốn chuyển lợi nhuận về nước chủ đầu tư, điều này đồng nghĩa với việc đồng nội tệ sẽ
Trang 26lao động, làm cho các doanh nghiệp trong nước yếu thế khi cạnh tranh với doanh
nghiệp nước ngoài;… Nghiên cứu của Mencinger (2003) về ảnh hưởng của FDI tới
tăng trưởng của 8 quốc gia Đông Âu giai đoạn 1994-2001 chỉ ra rằng, FDI làm
chậm khả năng bắt kịp tăng trưởng của các nước này với EU, do quy mô nhỏ của
các nền kinh tế và FDI quá tập trung vào thương mại và tài chính nên đã làm giảm
tác động tràn vào các ngành kinh tế khác
được chuyển đổi sang đồng ngoại tệ của nước đầu tư và khi ấy vốn sẽ bị rút ra khỏi
nước nhận đầu tư
Trang 27CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Dựa vào nghiên cứu thực nghiệm của Sasi Iamsiraroj (2016), bài nghiên cứu
đã khái quát hoá mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế bằng hình vẽ 3.1 Hình
vẽ minh hoạ cụ thể mối tương tác giữa FDI với tăng trưởng kinh tế trong mối tương quan với các nhân tố khác Dựa trên những nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm, bài nghiên cứu đã trích ra một số nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến cả FDI và tăng trưởng, nhằm hướng đến xem xét những tác động trực tiếp và gián tiếp của FDI
Mô hình tăng trưởng kinh tế là một hàm số của vốn đầu tư gồm vốn đầu tư trong nước, vốn đầu tư nước ngoài, nguồn nhân lực; cùng một vài yếu tố khác, như lao động, thể chế và chính sách quốc gia Hình 3.1 cho thấy, FDI không những có ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế (được đại diện bằng C1), mà còn tác động gián tiếp thông qua ba kênh truyền dẫn Kênh truyền dẫn đầu tiên là tương tác
Hình 3.1 Giả Thuyết Về Mối Liên Hệ Giữa FDI Và Tăng Trưởng Kinh Tế
Trang 28giữa FDI với nguồn nhân lực (C3); hai kênh truyền dẫn còn lại là C4 và C5, đại diện cho tác động tiềm ẩn của nguồn lực nội địa, như tốc độ tăng trưởng kinh tế, nguồn nhân lực, đầu tư trong nước và hệ thống thể chế, những biến số được biết đến như là một trong những yếu tố quyết định khi thu hút dòng vốn FDI Bên cạnh đó, bài nghiên cứu còn xem xét ảnh hưởng trực tiếp của những nguồn lực nội địa đến tăng trưởng kinh tế (C2)
Mô hình tăng trưởng được thiết lập bao gồm các nhân tố, vốn đầu tư trong nước, vốn đầu tư nước ngoài, nguồn nhân lực, hệ thống thể chế và chính sách quốc gia Bài nghiên cứu ước lượng ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế dựa trên những kết luận được rút ra từ những nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trước đây
Hình 3.1 minh hoạ cụ thể những yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế mà bài nghiên cứu sẽ xem xét, gồm: ảnh hưởng của FDI (C1), ảnh hưởng của nguồn lực trong nước (C2) và ảnh hưởng từ mối tương tác giữa FDI với nguồn lực trong nước (C3) Ảnh hưởng tương tác được quan tâm nhiều nhất là tương tác giữa FDI với nguồn nhân lực Trong 109 nghiên cứu thực nghiệm, những nghiên cứu quan tâm tới ảnh hưởng tương tác giữa FDI với nguồn nhân lực gồm nghiên cứu của Borensztein cùng cộng sự (1998); Durham (2002); Hermes và Lensink (2003); Kosack cùng Tobin (2006); Li và Liu (2005) và Olofsdotter (1998) Đây cũng là mối tương tác mà bài nghiên cứu hướng đến Theo đó, mô hình tăng trưởng kinh tế
có dạng như phương trình 1
Growth it = α + β 1 FDI it + β 2 FDI it *H it + β’ 3 Z it + ε it (1)
trong đó:
Growthit : tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người
FDIit : tỷ lệ giữa dòng vốn FDI đổ vào các quốc gia so với tổng sản
phẩm quốc nội (GDP) FDIit*Hit : tương tác giữa FDI với nguồn nhân lực
Zit : tập hợp các biến kiểm soát
Trang 29εit : sai số ngẫu nhiên
Chỉ số i : đại diện cho quốc gia
Chỉ số t : đại diện cho thời gian
Các biến kiểm soát trong mô hình được rút ra từ những nghiên cứu kinh tế,
cả lý thuyết lẫn thực nghiệm, bao gồm bốn biến đại diện cho nguồn lực quốc gia, ba biến đại diện cho chính sách và hai biến đại diện cho hệ thống thể chế
3.1.1 Đo lường FDI
Những nghiên cứu trước đây sử dụng nhiều đo lường khác nhau để đại diện cho FDI, như những đo lường liên quan đến dòng vốn, trữ lượng vốn hay dòng vốn ròng Đo lường “dòng vốn” được tính toán dựa trên cơ sở lượng vốn vào hoặc ra trong một thời kỳ, còn đo lường “trữ lượng vốn” thì xem xét đến lượng vốn mà một quốc gia tích luỹ được (Bornschier cùng cộng sự, 1978) Sự chênh lệch giữa dòng vốn vào và dòng vốn ra là dòng vốn ròng
Theo nghiên cứu của Alfaro cùng cộng sự (2003) và Bornschier cùng cộng
sự (1978), đo lường dòng vốn cho biết tình hình lượng vốn vào hoặc ra trong một năm cụ thể, nên đo lường này giúp tính toán được những biến động của dòng vốn trong một thời kỳ Bài nghiên cứu này hướng đến phân tích tác động của dòng vốn tăng thêm vào tăng trưởng kinh tế, hơn là xem xét trữ lượng vốn mà quốc gia đang
sở hữu Vì thế, bài nghiên cứu này sử dụng dòng vốn vào để đại diện cho biến FDI6 Bên cạnh đó, khi sử dụng trữ lượng vốn để đo lường FDI thì phải xem xét thêm yếu
tố khấu hao của vốn .Theo nghiên cứu lý thuyết, FDI cung cấp thêm nguồn vốn cho đầu tư trong nước, góp phần gia tăng quá trình sản xuất, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Điều này đưa đến giả thuyết
H1: FDI có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia
3.1.2 Đo lường nguồn lực của quốc gia trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
6
Tỷ lệ khấu hao của vốn biểu hiện sự sụt giảm giá trị kinh tế của trữ lượng vốn trong nền kinh tế
Trang 30Quy mô thị trường là một trong những yếu tố quyết định quan trọng đến tăng trưởng của nền kinh tế Vì thế, quy mô thị trường là biến kiểm soát đầu tiên được đưa vào mô hình Biến số này được đo lường bằng cách lấy logarit của thu nhập bình quân đầu người Nghiên cứu của Loree cùng Guisinger (1995) và Wei (2000) cho thấy ảnh hưởng của quy mô thị trường đến tăng trưởng ở những nền kinh tế khác nhau, thì không giống nhau Tuy nhiên, theo mô hình tăng trưởng tân cổ điển,
tỷ lệ tăng trưởng ở những quốc gia có thu nhập thấp với tỷ lệ tăng trưởng ở những quốc gia có thu nhập cao sẽ hội tụ về trạng thái dừng theo thời gian, vì tỷ lệ tăng trưởng có xu hướng chậm dần khi thu nhập bắt đầu tăng (Barro, 1991; Mankiw cùng cộng sự, 1992) Dựa trên lập luận này, mô hình đưa đến giả thuyết
H2: Nếu khái niệm trạng thái dừng tồn tại, thì mối liên hệ giữa thu nhập bình quân đầu người và tăng trưởng kinh tế là tỷ lệ nghịch với nhau
Những biến kiểm soát còn lại đại diện cho nguồn lực của quốc gia nhận đầu
tư gồm, tăng trưởng lao động, nguồn nhân lực và đầu tư trong nước
Tăng trưởng lao động đo lường mức độ đóng góp của lao động vào tăng trưởng thu nhập, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi Nghiên cứu của Gao (2002) và Levine cùng Renelt (1992) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của tăng trưởng lao động đến tiến trình tăng trưởng của một quốc gia Mô hình tăng trưởng Solow chỉ ra rằng, tăng trưởng dân số (hay lực lượng lao động) cao hơn dẫn đến thu nhập bình quân tại trạng thái dừng mới thấp hơn, do phải phân phối khối lượng tư bản như cũ cho nhiều lao động hơn 7 Dựa vào điều này, có thể đưa đến giả thuyết sau
H3: Tăng trưởng lao động có tương quan âm với tăng trưởng kinh tế
Theo mô hình tăng trưởng nội sinh, nguồn nhân lực có ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng kinh tế Những cá nhân được giáo dục và rèn luyện nhiều hơn, sẽ làm việc hiệu quả và sáng tạo hơn, góp phần gia tăng sản lượng quốc gia và nâng cao tổng năng suất các yếu tố (Benhabib và Spiegel, 1994; Bodman và Le, 2013;
7
Nguyễn Văn Ngọc, 2007 Bài giảng Kinh tế vĩ mô Hà Nội: Nhà xuất bản
đại học kinh tế quốc dân, Trang 124
Trang 31Romer, 1990; Teixeira và Fortuna, 2011) Không những thế, nguồn nhân lực còn giúp nền kinh tế tiếp cận với những công nghệ tiên tiến của thế giới thông qua quá trình học hỏi và tìm hiểu giữa các quốc gia (Benhabib và Spiegel, 1994; Nelson và Phelps, 1966; Teixeira và Fortuna, 2011) Vì vậy, nâng cao trình độ nguồn nhân lực
sẽ góp phần quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế Đa số những bài nghiên cứu được thực hiện điều chỉ ra, mối liên hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê giữa nguồn nhân lực với tăng trưởng kinh tế (Abbas, 2001; Barro cùng cộng sự, 1991; Bils và Klenow, 2000; Bodman và Le, 2013; Easterly và Levine, 1997; Hall
và Jones, 1999; Hanushek, 2013; Ljunberg và Nilsson, 2009; Mankiw cùng cộng
sự, 1992) Phần lớn các bài nghiên cứu về nguồn nhân lực xem giáo dục chính là cách thức cơ bản để tích lũy vốn con người, vì thế các bài nghiên cứu này thường sử dụng những chỉ số liên quan đến giáo dục để đo lường sự phát triển của nguồn nhân lực Trong đó, số năm đi học bình quân của người trưởng thành là biến số thường được sử dụng (Aze´mar và Desbordes, 2009; Benos và Zotou, 2014; Bodman và Le, 2013; Easterly và Levine, 1997; Hall và Jones, 1999; Moral-Benito, 2012; Nunnenkamp và Spatz, 2002; Rajan và Zingales, 2008; Temple và Wömann, 2006) Nghiên cứu Easterly và Levine (1997) cho thấy, sự chậm phát triển của những quốc gia Châu Phi, một phần là do tỷ lệ đi học thấp Benos và Zotou (2014) chỉ ra sự khác biệt trong số năm đi học trung bình là nguyên nhân dẫn đến sự khác nhau trong tốc độ tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Do đó, bài nghiên cứu này cũng dựa vào chỉ số giáo dục để đo lường trình độ của nguồn nhân lực, cụ thể là số năm
đi học bình quân của người trên 25 tuổi
Bên cạnh đó, chi tiêu chính phủ cho giáo dục cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu (Adelakun, 2011; Angel D.Fuente và Rafael Doménech, 2000; Fulvio Castellacci và Jose M.Natera, 2011; Ganegodage và Rambaldi, 2011; Maurizio Conti và Giovanni Sulis, 2014; Mohammed A.Fadhil và Mahmoud K.Almsafir 2015; Paul M.Romer, 1990; Shawn Ni và Xinghe Wang, 1993; Stephan J.Goetz và Dayuan Hu, 1996) Adelakun (2011) khi ước lượng về mối liên hệ giữa GDP và nguồn nhân lực ở Nigeria, đã sử dụng chi tiêu chính phủ cho giáo dục để
Trang 32đo lường sự phát triển của nguồn nhân lực Tác giả kết luận rằng, tồn tại mối tương quan dương chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với nguồn nhân lực Nghiên cứu của Ganegodage và Rambaldi (2011) cũng tiến hành xem xét ảnh hưởng của chi tiêu chính phủ cho giáo dục đến tăng trưởng kinh tế ở Sri Lankan Kết quả chỉ ra được tầm quan trọng của giáo dục trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Dựa vào nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm, ảnh hưởng của nguồn nhân lực vào tăng trưởng kinh
8 Đa số các doanh nghiệp lựa chọn cho mình những ngành, lĩnh vực có vốn đầu tư không quá cao và có khả năng thu hồi vốn nhanh Trong khi đó, nền kinh tế lại có những ngành đóng vai trò không thể thiếu nhưng đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn như điện, xi măng, dầu khí; hay những ngành lợi nhuận thu về nhỏ, khả năng thu hồi vốn chậm như các công trình công cộng Chỉ có thông qua đầu tư trong nước cụ thể là nguồn vốn nhà nước mới có thể giải quyết được vấn đề này
Trang 33quan trọng hơn so với FDI Kết quả nghiên cứu của Samuel Adams (2009) ở 42 quốc gia thuộc Châu Phi, thời kỳ 1990-2003, cũng cho thấy, đầu tư trong nước có tương quan dương và đáng kể đến tăng trưởng kinh tế Kết luận này cũng phù hợp với nghiên cứu của Anwar và Sun (2011) khi chỉ ra, tác động kích thích tăng trưởng của đầu tư trong nước Theo Libor Krkoska (2001); Simon cùng cộng sự (2013) và Michael S.Delgado cùng cộng sự (2014); bài nghiên cứu đo lường mức đầu tư trong nước bằng tổng lượng vốn cố định theo phần trăm GDP
3.1.3 Đo lường chính sách của chính phủ trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Những biến kiểm soát được sử dụng để thể hiện cho chính sách của quốc gia
mà mô hình hướng đến gồm: độ mở thương mại của nền kinh tế, chi tiêu chính phủ
và tỷ lệ lạm phát
Độ mở thương mại là yếu tố quyết định quan trọng đến tăng trưởng của nền kinh tế (Frankel và Romer, 1999) vì chỉ tiêu này đo lường mức độ tự do thương mại của một quốc gia Thông qua thương mại quốc tế, nền kinh tế có thể gia tăng hiệu quả sản xuất, đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh, đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy hội nhập sâu rộng nền kinh tế thế giới Để nhìn nhận rõ hơn tầm ảnh hưởng của độ mở thương mại, Edwards và Sebastian (1992) tiến hành nghiên cứu 30 quốc gia đang phát triển, kết quả cho thấy, các quốc gia có chính sách mở cửa thương mại thoáng hơn sẽ tăng trưởng nhanh hơn Thêm vào đó, nghiên cứu của Rodriguez và Rodrik (2000) cũng chỉ ra rằng, chính sách mở cửa thương mại có ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng kinh tế Một số nghiên cứu khác cũng ủng hộ cho quan điểm này như: Kim và Lin (2009), Romalis (2007), Sanusi (2008), …Chỉ tiêu độ mở thương mại thường được tính bằng cách lấy giá trị tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của một thời kỳ chia cho giá trị của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong thời kỳ đó
Chi tiêu chính phủ là biến số quan trọng cần xem xét khi tiến hành hồi quy tăng trưởng kinh tế Tính đến thời điểm hiện tại, có rất nhiều nghiên cứu kinh tế, cả
lý thuyết lẫn thực nghiệm được thực hiện, để xem xét vai trò của chi tiêu chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, các bài nghiên cứu này không đưa ra được
Trang 34một quan điểm thống nhất với nhau về việc, liệu chi tiêu chính phủ thúc đẩy hay làm chậm tiến trình tăng trưởng của nền kinh tế (Loizides, 2004) Những tác giả ủng
hộ quan điểm, chi tiêu chính phủ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho rằng, chi tiêu chính phủ giúp cung cấp các hàng hoá công quan trọng như cơ sở hạ tầng, giáo dục
và làm gia tăng tổng cầu của nền kinh tế Trong khi đó, những tác giả ủng hộ quan điểm ngược lại cho thấy, do tác động tiêu cực của chi tiêu chính phủ như gia tăng thuế, chèn lấn khu vực tư nhân, phân bổ và sử dụng nguồn lực không hiệu quả,…nên việc chính phủ gia tăng chi tiêu sẽ làm cho nền kinh tế tăng trưởng chậm lại (Akinlo, 2004; Barro, 1990; King và Rebelo, 1990) Tuy có sự bất đồng về quan điểm, nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều thống nhất với nhau là, trong một số trường hợp, sự cắt giảm chi tiêu chính phủ có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và trong một số trường hợp khác thì sự gia tăng chi tiêu chính phủ cũng có lợi cho tăng trưởng kinh tế Điều này hàm ý về việc tồn tại một ngưỡng tối thiểu, mà tại đó chi tiêu chính phủ là cần thiết để đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế, nếu vượt quá ngưỡng cần thiết này, chi tiêu chính phủ sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế
Sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế, phụ thuộc vào nhiều yếu
tố, trong đó có lạm phát Lạm phát là yếu tố có ảnh hưởng sâu rộng đến mọi mặt như kinh tế, chính trị và xã hội Vì vậy, các lý thuyết kinh tế cho rằng, trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, các quốc gia cần phải quan tâm đến việc ổn định lạm phát Theo lý thuyết, lạm phát có thể tác động tích cực lẫn tiêu cực đến nền kinh tế Mundell (1963) và Tobin (1965) nhấn mạnh lạm phát là nguyên nhân làm cho con người hạn chế giữ tiền mà chuyển thành các tài sản sinh lời khác, theo mô hình này giữa lạm phát và tăng trưởng có quan hệ tỷ lệ thuận Trong khi đó, mô hình của Stockman (1981) cho rằng, lạm phát tăng cao làm giảm tăng trưởng Một
số mô hình khác lại chứng minh, mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng là phi tuyến tính Fischer (1993) là người đầu tiên nghiên cứu về mối quan hệ phi tuyến này khi chỉ ra rằng, khi tỷ lệ lạm phát thấp, mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng có thể không tồn tại hoặc mang tính đồng biến, tuy nhiên khi tỷ lệ lạm phát cao, mối quan hệ này là tỷ lệ nghịch Điều này hàm ý rằng, “trong ngắn hạn, khi
Trang 35lạm phát còn ở mức thấp, lạm phát và tăng trưởng thường có mối quan hệ cùng chiều Nghĩa là nếu muốn tăng trưởng đạt tốc độ cao hơn thì phải chấp nhận tăng lạm phát Tuy nhiên, mối quan hệ này không tồn tại mãi mãi mà đến một lúc nào
đó, nếu lạm phát tiếp tục tăng cao sẽ ảnh hưởng làm giảm tăng trưởng Trong dài hạn, khi tăng trưởng đã đạt đến mức tối ưu thì lạm phát không tác động đến tăng trưởng nữa” 9 Bài nghiên cứu sử dụng tỷ lệ giảm phát GDP để đo lường mức độ lạm phát của nền kinh tế
3.1.4 Đo lường hệ thống thể chế và sự phát triển của thị trường tài chính trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Khi nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế, nhiều tác giả đã đưa yếu tố thị trường tài chính vào mô hình và xem yếu tố này như là một trong những yếu tố quyết định đến tăng trưởng (Beck cùng cộng sự, 2000; Beck và Levine, 2004; Bencivenga cùng cộng sự, 1995; Gantman và Dabos, 2012; Goldsmith, 1969; Greenwood và Jovanovic, 1990; King và Levine, 1993a; McKinnon, 1973; Rioja và Valev, 2014; Shaw, 1973) Phần lớn những bài nghiên cứu chỉ ra rằng, phát triển tài chính cao hơn có tương quan một cách mạnh mẽ và có ý nghĩa đến tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh hơn ở hiện tại và trong tương lai (King và Levine, 1993a) Các nghiên cứu của Arestis cùng Demetriades (1997) và Demetriades cùng Hussein (1996) đã kết luận rằng, tương quan thuận giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế tùy thuộc vào từng quốc gia cụ thể và có khả năng bị ảnh hưởng bởi những khác biệt trong cơ cấu kinh tế và các đặc trưng thể chế Nhiều thước đo khác nhau được dùng
để đo lường cho sự phát triển của thị trường tài chính Akinlo (2004) và Borensztein cùng cộng sự (1998) sử dụng chỉ số thanh khoản của hệ thống tài chính (M2/GDP); còn Arcand, Berkes, cùng Panizza (2011) và Levine, Loayza cùng Beck (2000) thì
sử dụng tỷ lệ giữa tín dụng khu vực tư nhân so với GDP Bài nghiên cứu này áp
9 Học Viện Chính Sách Và Phát Triển, 2013 Tăng trưởng kinh tế và lạm phát ở Việt
Nam <kinh-te-va-lam-phat-o-viet-nam-30018.html>
Trang 36http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu trao-doi/trao-doi-binh-luan/tang-truong-dụng tỷ lệ tín http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu trao-doi/trao-doi-binh-luan/tang-truong-dụng của khu vực tư nhân để đo lường cho sự phát triển của thị trường tài chính
Tự do kinh tế có những tác động tích cực tới hầu hết mọi lĩnh vực, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Vì vậy, bài nghiên cứu này đưa yếu tố tự do kinh
tế vào mô hình để phân tích rõ ràng hơn về quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia Bài nghiên cứu này đo lường mức độ tự do kinh tế thông qua chỉ số tự do kinh
tế được công bố hàng năm do hai tổ chức quốc tế uy tín là The Wall Street Journal
và The Heritage Foundation hợp tác nghiên cứu Chỉ số này được tính bình quân từ
10 chỉ số, mỗi chỉ số dao động từ 0% tới 100% và phần trăm càng cao thì mức độ tự
do kinh tế càng lớn Nghiên cứu của Doucouliagos và Ulubasoglu (2006) chỉ ra mối tương quan thuận giữa tự do kinh tế và tăng trưởng nên bài nghiên cứu này hướng đến giả thuyết sau:
Nhiều nghiên cứu lý thuyết được thực hiện để lý giải cho động cơ thúc đẩy đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các công ty cũng như khám phá những nhân tố quyết định giúp thu hút dòng vốn FDI vào một quốc gia Một trong số đó là lý thuyết tổ chức công nghiệp 10 (Hymer, 1976), lý thuyết chu kỳ sản phẩm 11 (Vernon, 1966) và lý thuyết chiết trung 12 (OLI) (Dunning, 1981) Những lý thuyết này cho
10
Lý thuyết tổ chức công nghiệp (industrial organization theory) của Stephen Hymer (1976) cho rằng, để khai thác lợi thế về công nghệ, kỹ thuật quản lý,….các công ty của Mỹ đã mở rộng hoạt động ra thị trường quốc tế
11
Lý thuyết chu kỳ sản phẩm (product cycle theory) (Vernon, 1966): giải thích động cơ hình thành nên các công ty đa quốc gia dựa trên cơ sở phân tích các giai đoạn phát triển của sản phẩm
12 Lý thuyết chiết trung (the eclectic paradigm) (Dunning, 1981) cho rằng để một công ty thực hiện hoạt động FDI khi hội đủ ba lợi thế: Lợi thế quyền sở hữu (Ownership Advantages) như độc quyền về công nghệ, tính kinh tế nhờ quy mô, kỹ năng quản lý, uy tín…;Lợi thế địa điểm (Location Advantages) như có ưu thế tài
Trang 37thấy vai trò của tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, chi phí lao động, vốn, tỷ
giá, quy mô thị trường và tăng trưởng kinh tế trong thu hút dòng vốn FDI Bên cạnh
đó, nhiều nghiên cứu thực nghiệm còn khám phá thêm một vài yếu tố có khả năng
tác động đến FDI như: sự phát triển của nguồn nhân lực (Elmslie và Milberg, 1996;
Feenstra và Hanson, 1997; Jessup, 1999; Kucera, 2002; Levinsohn, 1996; Oman,
1999; Slaughter, 2001), chất lượng cơ sở hạ tầng (Cheng và Kwan, 1999), chính
sách quốc gia (Brewer, 1993) và độ ổn định chính trị (Cleeve, 2012; Ofori Brobbey
và Ojode, 2009) Những tác động mà bài nghiên cứu này sẽ xem xét đã được minh
hoạ cụ thể trong hình 3.1, gồm tác động tiềm ẩn của tăng trưởng kinh tế đến FDI
(C4) và tác động của nguồn lực trong nước (C5) Những biến số dùng để đo lường
các yếu tố tác động đến FDI cũng được tham khảo từ nhiều nghiên cứu kinh tế, cả
lý thuyết lẫn thực nghiệm Mô hình ước lượng FDI có dạng như sau:
FDI it = λ + γ 1 Growth it + γ’ 2 Q it + μ it (2)
trong đó:
FDIit : tỷ lệ giữa dòng vốn FDI đổ vào các quốc gia so với GDP
Growthit : tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người
Qit : tập hợp các biến kiểm soát
μit : sai số ngẫu nhiên
Chỉ số i : đại diện cho quốc gia
Chỉ số t : đại diện cho thời gian
Các biến kiểm soát trong mô hình FDI cũng bao gồm bốn biến đại diện cho
nguồn lực quốc gia, ba biến đại diện cho chính sách và hai biến đại diện cho hệ
thống thể chế
Trong nhiều nghiên cứu, tăng trưởng kinh tế được xem là một trong những
yếu tố quyết định đến FDI (Al Nasser, 2010; Dasgupta và Rath, 2000; Durham,
nguyên, chi phí lao động, thuế, chi phí vận tải…; Lợi thế nội bộ hóa (Internalization
Advantages): chi phí giao dịch thông qua FDI thấp hơn các hoạt động xuất khẩu,
hợp đồng đặc quyền
Trang 382002; Jiménez, 2011; Kandil, 2011; Lipsey, 2000; Mohamed và Sidiropoulos, 2010; Vita và Kyaw, 2008) Những quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao và bền vững sẽ thu hút dòng vốn FDI nhiều hơn do mức tổng cầu cao hơn 13 và có nhiều cơ hội tìm kiếm lợi nhuận nhờ tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô (Lim, 1983; Zhang, 2001) Đặc biệt, tăng trưởng kinh tế còn tạo tiền đề giúp tăng cường, củng cố an ninh quốc phòng và ổn định chính trị, từ đó tạo môi trường đầu tư lành mạnh Berthelemy và Demurger (2000) sử dụng mô hình đồng thời để kiểm định mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và FDI tại 24 tỉnh của Trung Quốc giai đoạn 1985-1996 Kết quả cho thấy, tăng trưởng kinh tế cao tại 24 tỉnh giúp thu hút dòng vốn FDI trong tương lai Hsiao và Shen (2003) cũng cho thấy tầm quan trọng của tăng trưởng kinh tế trong thu hút dòng vốn FDI ở những quốc gia đang phát triển Theo những lập luận này, tác động của tăng trưởng kinh tế đến FDI là:
H5: Tăng trưởng kinh tế cao hơn được kỳ vọng sẽ thu hút nhiều dòng vốn FDI hơn
3.2.1 Đo lường nguồn lực của quốc gia trong thu hút FDI
Biến kiểm soát đầu tiên đại diện cho nguồn lực quốc gia là lực lượng lao động Lực lượng lao động đo lường nguồn cung lao động của nền kinh tế Theo lý thuyết, nguồn cung lao động càng dồi dào, phong phú thì chi phí nhân công càng rẻ Bên cạnh đó, do những bất hoàn hảo của thị trường lao động, các công ty đa quốc gia thường có khuynh hướng lựa chọn những quốc gia có chi phí nhân công thấp để
13
Các công ty đa quốc gia thường đạt tới một giai đoạn mà sự phát triển bị hạn chế tại xứ sở của họ Điều này có thể do mức độ cạnh tranh khốc liệt đối với những sản phẩm mà họ bán ra trên thị trường Ngay cả khi mức độ cạnh tranh thấp, thị phần của họ trong quốc gia đó có thể đã đạt đến đỉnh cao hay các nhu cầu chung cho sản phẩm ban đầu có thể bị giảm sút do những thay đổi trong thị hiếu người tiêu dùng Như vậy giải pháp khả thi là cân nhắc việc lựa chọn một thị trường nước ngoài – nơi có những nhu cầu tiềm ẩn cho các sản phẩm ấy
Trang 39đầu tư, từ đó gia tăng lợi thế cạnh tranh cho hàng hoá của họ 14 Vì thế, giả thuyết về mối liên hệ giữa lực lượng lao động và FDI có thể là:
H6: Những quốc gia có lực lượng lao động dồi dào sẽ dễ dàng thu hút dòng vốn FDI
Những biến kiểm soát còn lại đại diện cho nguồn lực quốc gia gồm: nguồn nhân lực, đầu tư trong nước và cơ sở hạ tầng
Phát triển nguồn nhân lực và nâng cao trình độ lao động không những thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, mà còn giúp thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Một đội ngũ lao động lành nghề, là điều kiện thuận lợi cho các công ty đa quốc gia thực hiện các dự án đầu tư một cách hiệu quả Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng sẽ đảm bảo cho quá trình tiếp thu công nghệ tiên tiến diễn ra dễ dàng hơn Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, nguồn nhân lực là một trong những yếu tố giúp thu hút dòng vốn FDI vào một quốc gia (Kinda, 2013; Lucas, 1990 và Zhang cùng Markusen, 1999) Giả thuyết cho mối liên hệ này như sau:
H7: Nguồn nhân lực phát triển hơn góp phần thu hút dòng vốn FDI nhiều hơn
Có nhiều ý kiến bất đồng về mối liên hệ giữa đầu tư trong nước với đầu tư nước ngoài Theo Clegg và Scott Green (1999), Naudé và Krugell (2007), Obwona (2001), FDI góp phần bổ sung thêm nguồn vốn cho đầu tư trong nước, giúp khắc phục tình trong thiếu vốn trong quá trình sản xuất, ở các quốc gia Marc Lautier và Francois Moreaub (2012) nghiên cứu tác động của đầu tư trong nước đến FDI ở 68 quốc gia đang phát triển, giai đoạn 1984-2004 cho thấy, đầu tư trong nước có vai trò như chất xúc tác để thu hút dòng vốn FDI vào các quốc gia đang phát triển Trong khi đó, một số lập luận khác lại cho rằng, FDI có thể thay thế đầu tư trong nước Kết quả nghiên cứu của Cohen (1993), Braunstein và Epstein (2002), Papanek (1973) cùng Reinhart và Talvi (1998) chỉ ra rằng, vốn FDI có tác động lấn át đầu tư
14
Đinh Thị Thu Hồng cùng các tác giả, 2015 Tài chính công ty đa quốc gia
Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Trang 171
Trang 40trong nước Bằng việc sở hữu những công nghệ tiên tiến, kỹ năng quản lý chuyên nghiệp, các doanh nghiệp có vốn FDI sẽ có lợi thế cạnh tranh hơn so với doanh nghiệp trong nước Trước áp lực cạnh tranh này khiến nhiều doanh nghiệp trong nước bị mất thị phần, mất lao động có trình độ và có thể đi đến phá sản Ngoài ra vốn FDI có thể làm cho đầu tư trong nước bị thu hẹp do nhiều doanh nghiệp bị mất
cơ hội đầu tư hoặc đầu tư không hiệu quả bởi trình độ công nghệ thấp kém Kết quả
là, ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng của nền kinh tế Nghiên cứu của Sevil Acar, Bilge Eris cùng Mahmut Tekce (2008) sử dụng kỹ thuật GMM xem xét mối quan hệ giữa FDI và đầu tư trong nước ở 13 quốc gia khu vực Trung Đông và Bắc Phi (MENA) giai đoạn 1980-2008 cũng cho thấy tác động lấn át của FDI đến đầu tư trong nước 15
Bên cạnh đó, việc sử dụng quá nhiều vốn FDI có thể dẫn đến việc thiếu chú trọng huy động vốn trong nước, gây ra sự mất cân đối trong cơ cấu đầu tư, dẫn tới sự phụ thuộc của nền kinh tế vào đầu tư nước ngoài Do đó, nếu tỷ trọng FDI chiếm quá lớn trong tổng vốn đầu tư thì tính độc lập tự chủ có thể bị ảnh hưởng, nền kinh tế phát triển có tính lệ thuộc bên ngoài 16
Cơ sở hạ tầng là nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến thu hút dòng vốn FDI Một hệ thống cơ sở hạ tầng phát triển góp phần tạo lập một môi trường thuận lợi cho quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm, nhờ đó thu hút đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó, sự phát triển cơ sở hạ tầng còn làm gia tăng hiệu quả đầu tư và giảm chi phí sản xuất (Asiedu và Lien, 2004, Vogiatzoglou, 2007, Wheeler và Mody, 1992) Vì vậy, dựa trên những nghiên cứu thực nghiệm (Fung cùng cộng sự, 2000; Loree và Guisinger, 1995; Mody và Srinivasan, 1996), bài nghiên cứu kỳ vọng mối
15 Nguyễn Thị Liên Hoa và Lê Nguyễn Quỳnh Phương - Đại Học Kinh Tế Tp.Hồ Chí Minh, 2014 Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư trong
nước và tăng trưởng kinh tế Tạp chí Tài chính, số tháng 6/2014, trang 43-45
16 Nguyễn Đình Luận, 2015 Khơi thông nguồn lực vốn FDI ở Việt Nam:
Thực trạng và khuyến nghị Tạp chí Phát triển & Hội nhập, số 24(34), tháng
09-10/2015, trang 24-30