CHƯƠNG 1.GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do ch ọn đề tài Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ và có nhiều chuyển biến khó lường, điển hình là khủng hoảng tài chính năm 200
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- -
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã s ố : 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Thành phố Hồ Chí Minh – năm 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn: “Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công – B ằng chứng thực nghiệm tại một số quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương” là công trình nghiên cứu do chính tác giả thực hiện và theo sự hướng dẫn
của người hướng dẫn khoa học: GS TS Sử Đình Thành
Nội dung nghiên cứu được đúc kết từ quá trình học tập và kết quả nghiên cứu
thực tiễn trong thời gian qua Các thông tin, dữ liệu nghiên cứu trong đề tài này là trung thực và chính xác.Các kết quả trình bày trong luận văn chưa được công bố tại
bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Trần Thu Hằng
Trang 3MỤC LỤC
TRANG PH Ụ BÌA
L ỜI CAM ĐOAN
M ỤC LỤC
DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
DANH M ỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH M ỤC CÁC SƠ ĐỒ
DANH M ỤC CÁC HÌNH VẼ
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng và phạm vi thu thập dữ liệu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 4
1.6 Bố cục của luận văn 4
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VỀ NỢ CÔNG VÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH 5
2.1 Cơ sở lý thuyết: 5
2.1.1 Nợ công: 5
2.1.2 Thâm hụt ngân sách 6
2.1.3 Mối quan hệ giữa nợ công và thâm hụt ngân sách 7
2.2 Các nghiên cứu trước: 13
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 18
CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 Quy trình nghiên cứu 19
3.2 Mô hình nghiên cứu 20
Trang 43.3 Dữ liệu và đo lường các biến 21
3.3.1 Mô tả các biến nghiên cứu 21
3.3.2 Dữ liệu nghiên cứu 23
3.4 Phương pháp nghiên cứu 25
3.4.1 Phương pháp kiểm định trực tiếp 25
3.4.2 Phương pháp kiểm định gián tiếp 25
3.4.3 Thủ tục kiểm định và ước lượng 26
3.4.4 Các kiểm định thực hiện trong mô hình 27
3.4.5 Phương pháp ước lượng hàm hồi quy 31
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 33
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
4.1 Khái quát thực trạng thâm hụt ngân sách và nợ công của 9 nước: 34
4.2 Phân tích thống kê mô tả 38
4.3 Phân tích sự tương quan giữa các biến trong mô hình bằng ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các biến 39
4.4 Kiểm định tính dừng dữ liệu bảng Fisher (2001) 40
4.5 Kiểm định tính đồng liên kết trên dữ liệu bảng 41
4.6 Phân tích kết quả hồi quy Granger 43
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 46
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 47
5.1 Kết luận 47
5.2 Gợi ý chính sách 51
5.3 Hạn chế đề tài: 52
5.4 Hướng mở rộng đề tài: 53
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PH Ụ LỤC
Trang 5DANH M ỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
ADF: kiểm định Dickey Fuller hiệu chỉnh (Augmented Dickey-Fuller)
AUS: Nước Úc (Ustralia)
DMFAS: hệ thống thông tin quản lý nợ (Debt Management and Financial Analysis System)
DSF: khung phân tích nợ bền vững (Debt sustainability framework)
ECM: mô hình điều chỉnh sai số (Error Correction Model)
EU: liên minh Châu Âu (European Union)
FMOLS: Fully Modified Ordinary Least Squares
GDP: tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products)
GMM: phương pháp ước lượng theo Moment tổng quát (Generalized Mothod of Moments)
HKG: Hồng Kông (Hong Kong)
THA: Thái Lan (Thailand)
UNCTAD: Diễn đàn Thương mại và phát triển Liên Hiệp Quốc (United Nations Conference on Trade and Development)
VECM: mô hình vector hiệu chỉnh sai số (Vector Error Correction Model)
WB: ngân hàng thế giới (World Bank)
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình
Bảng 4.2: Ma trận tương quan tuyến tính giữa các cặp biến trong mô hình
Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu được tóm tắt
Sơ đồ 3.2: Chi tiết về phương pháp phân tích định lượng
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 4.1.1: Đồ thị nợ công của 9 quốc gia trong nghiên cứu giai đoạn từ 2000-2014 Hình 4.1.2: Đồ thị thâm hụt ngân sách của 9 quốc gia trong nghiên cứu giai đoạn từ 2000-2014
Trang 7CHƯƠNG 1.GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do ch ọn đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phát triển mạnh mẽ và có nhiều chuyển
biến khó lường, điển hình là khủng hoảng tài chính năm 2008 và khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp đang lan sang một số nước Châu Âu thì thâm hụt ngân sách và nợ công trở thành vấn đề nóng được các nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới đặc
biệt quan tâm Bên cạnh đó nghiên cứu, về thâm hụt ngân sách, nợ công cũng như
mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công đã thu hút được nhiều sự quan tâm
của các nhà kinh tế trong và ngoài nước
Khởi đầu là Hamilton và Flavin (1986) đã kiểm định tính dừng của thâm hụt ngân sách và nợ công để tìm hiểu mối quan hệ của hai biến này từ dữ liệu chuỗi thời gian của Mỹ giai đoạn từ năm 1962 đến năm 1984 Kết quả cho thấy nếu chuỗi thâm hụt ngân sách và nợ công là chuỗi dừng thì mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công là bền vững Tương tự, Trehan và Walsh (1991), sử dụng mô hình tương tự cũng trên dữ liệu của nền kinh tế Mỹ nhưng thời gian nghiên cứu từ năm
1890 đến năm 1983 và từ năm 1960 đến năm 1984, kết quả cũng cho thấy nếu cả hai chuỗi là dừng thì mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công là bền vững Tuy nhiên, Smith và Zin (1991) sử dụng cùng mô hình với dữ liệu hàng tháng của Canada trong giai đoạn từ 1946 – 1984, kết quả cho thấy thâm hụt ngân sách bền
vững nhưng nợ là không bền vững Buiter và Patel (1992) nghiên cứu thực nghiệm trường hợp Ấn Độ, sử dụng dữ liệu hàng năm giai đoạn nghiên cứu từ năm 1970 đến 1988, kết quả nghiên cứu cho thấy nợ công của Ấn Độ là không bền vững Sử
dụng dữ liệu hàng tháng cho Italy và giai đoạn 1979-1991, kết quả nghiên cứu của Baglioni và Cherubini (1993) cho thấy nợ công của Italy không bền vững Caporale (1995) sử dụng dữ liệu hàng năm tại một số nước EU trong giai đoạn 1960-1991 cho thấy nợ công của Ý, Hy Lạp, Đan Mạch và Đức là không bền vững Makrydakis (1999) sử dụng dữ liệu hàng năm cho Hy Lạp trong giai đoạn 1958-
1995 cũng thấy rằng nợ là không bền vững
Trang 8Prohl and Schneider (2006) đã kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng giữa thâm
hụt ngân sách và nợ công tính theo % GDP của 15 nước thuộc EU trong giai đoạn
từ 1970 đến 2004 Kết quả kiểm định cho thấy, thâm hụt ngân sách và nợ công theo
% GDP là đồng liên kết trong giai đoạn nghiên cứu, như vậy mối quan hệ giữa thâm
hụt ngân sách và nợ công là bền vững, chính sách tài khóa của 15 nước EU ổn định
và phù hợp với mô hình ràng buộc ngân sách liên thời gian trong giai đoạn từ năm
1970 đến năm 2004.Neaime (2015), cũng sử dụng đồng liên kết để kiểm định mối quan hệ dài hạn giữa tổng thu ngân sách và chi tiêu chính phủ để đánh giá sự phát triển tài chính của các nước Châu Âu trong 3 thập kỷ từ giữa những năm 1970 Kết
quả cho thấy ngoại trừ Đức, các nước khác đều có thâm hụt ngân sách là không bền
vững Sử dụng kiểm định đồng liên kết, kết quả cho thấy mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công cũng như chính sách tài khóa là bền vững ở các nước Đức và Pháp Chính sách tài khóa bền vững ở Ireland, Ý, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trong những năm 1970 và 1980 Tuy nhiên, cả hai chuỗi chi tiêu chính phủ và thu ngân sách bắt đầu không dừng từ sau khủng khoảng tài chính năm 2008
Nhận thấy đây là vấn đề được nhiều nhà kinh tế và nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, tuy nhiên khu vực Châu Á – Thái Bình Dương còn thiếu hụt nghiên cứu
về vấn đề này nên để góp phần hoàn thiện hơn các nghiên cứu hiện có, tác giả chọn
đề tài nghiên cứu “Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công – Bằng
ch ứng thực nghiệm tại Châu Á – Thái Bình Dương” giai đoạn nghiên cứu từ
năm 2000-2014 Ở luận văn này ngoài việc góp bằng chứng thực nghiệm về tính
bền vững của thâm hụt ngân sách và nợ công tại một số quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương là khu vực thiếu hụt nghiên cứu về vấn đề này, tác giả còn kiểm định
cả hai cách tiếp cận Cách tiếp cận gián tiếp của tác giả Tanner và Liu (1994) và Neaime (2015) kiểm định mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công thông qua biến thu ngân sách và chi tiêu chính phủ; và cách tiếp cận trực tiếp của tác giả Hamilton và Flavin (1986) và Prohl và Schneider (2006) kiểm định mối quan hệ của thâm hụt ngân sách và nợ công trực tiếp qua biến thâm hụt ngân sách và nợ công Bài nghiên cứu sử dụng cả hai cách tiếp cận nhằm đối chiếu chéo kết quả và tăng độ
Trang 9tin cậy cho kết quả nghiên cứu Bên cạnh đó, tác giả còn phân tích thêm tác động
ngắn hạn và sự ổn định của điều chỉnh dài hạn bằng tiếp cận VECM Granger trên
dữ liệu bảng
1.2 M ục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu nhằm tìm ra mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công trong dài hạnvà ngắn hạn của một số quốc gia ở Châu Á – Thái Bình Dương
Từ đó bài nghiên cứu trả lời câu hỏi cụ thể sau:
- Trong dài hạn tồn tại hay không tính bền vững của mối quan hệ thâm hụt ngân sách và nợ công?
- Trong ngắn hạn mối quan hệ thâm hụt ngân sách và nợ công như thế nào, chiều hướng tác động và mức ý nghĩa?
1.3 Đối tượng và phạm vi thu thập dữ liệu
Đối tượng nghiên cứu: mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công
Phạm vi thu thập dữ liệu: nghiên cứu tập trung 9 quốc gia có đầy đủ dữ liệu trong tất cả các quốc gia khu vực Châu Á – Thái Bình Dươngdựa trên phân loại vùng lãnh thổ và vị trí địa lý của Ngân hàng Thế giới World Bank1 trong giai đoạn
2000 - 2014
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu được dựa trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và các kết
quả nghiên cứu thực nghiệm trong những năm gần đây để làm nền tảng lý thuyết
Sử dụng các phương pháp thống kê, thống kê mô tả, tổng hợp, phân tích, kết
hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm để xem xét, đánh giá mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công đối với 9 nước tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Bài nghiên cứu sẽ sử dụng dữ liệu bảng, lần lượt kiểm định tính dừng và kiểm định đồng liên kết nhằm kiểm chứng tính phù hợp lựa chọn phương pháp ước
1 Nguồn: lending-groups
Trang 10
lượng, thực hiện hồi quy dài hạn FMOLS và hồi quy GMM nhằm xem tác động
ngắn hạn giữa các biến
Phần mềm thống kê STATA 12 và EVIEW 8 được sử dụng để xử lý dữ liệu
bảng trong bài nghiên cứu
1.5 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Bài nghiên cứu đóng góp quan trọng vào các kết quả nghiên cứu thực nghiệm
và một lần nữa kiểm định lại tính chuẩn xác của các nghiên cứu lý thuyết trước đây,
củng cố những lý thuyết phù hợp với thực nghiệm khu vực trong giai đoạn nghiên
cứu
Nghiên cứu vừa có ý nghĩa thực tiễn, vừa cung cấp bằng chứng thực nghiệm
về mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công trong giai đoạn 2000 – 2014 tại
một số quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương tiếp cận được dữ liệu Tính thực tiễn
của nghiên cứu được thể hiện ở việc nếu nghiên cứu thành công sẽ đưa ra một phương pháp phân tích định lượng trong việc xác định sự phụ thuộc lẫn nhau giữa thâm hụt ngân sách và nợ công
Ngoài ra bài nghiên cứu còn làm rõ mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và
nợ công, do đó có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách vĩ mô kiểm soát và quản lý thâm hụt ngân sách và nợ công
1.6 B ố cục của luận văn
Về bố cục, luận văn được bố cục thành 5 chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu liên quan về nợ công và thâm hụt ngân sách
Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 11CHƯƠNG 2.TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN
QUAN VỀ NỢ CÔNGVÀ THÂM HỤT NGÂN SÁCH 2.1 Cơ sở lý thuyết:
2.1.1 Nợ công:
Xuất phát từ sự khác biệt trong khái niệm khu vực công nên cách xác định nợ công của các cơ quan quản lý nợ công và tổ chức kinh tế - tài chính trên thế giới cũng khác nhau Nhìn chung có thể chia các khái niệm này thành hai nhóm: nợ công theo nghĩa hẹp và nợ công theo nghĩa rộng
Theo Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Nợ công theo nghĩa rộng, là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sách nhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước và trong trường hợp vỡ nợ, nhà nước phải trả nợ thay) Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được Chính phủ bảo lãnh thanh toán Quan niệm về nợ công của Ngân hàng Thế giới cũng tương tự như quan niệm của Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc, bao gồm bốn nhóm chủ thể: nợ của Chính phủ Trung ương và
các Bộ, ban, ngành trung ương; nợ của các cấp chính quyền địa phương; nợ của Ngân hàng Trung ương; và nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc việc quyết lập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chính phủ hoặc Chính phủ là người chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ Tùy thuộc thể chế kinh tế và chính trị, quan niệm về nợ công ở mỗi quốc gia cũng có sự khác biệt Tại hầu hết các nước trên thế giới, Luật Quản lý nợ công đều xác định nợ công gồm nợ của chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh Một số nước, nợ công còn bao gồm nợ của chính quyền địa phương (Đài Loan, Bungari, Rumani ), nợ của doanh nghiệp nhà nước phi lợi nhuận (Thái Lan, Indonesia )
Trang 122.1.2 Thâm hụt ngân sách
Trong kinh tế học vĩ mô, thâm hụt ngân sách là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách Trường hợp ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư ngân sách Thu của chính phủ không bao gồm khoản đi vay Đi vay chính là một cách mà chính phủ tài trợ cho thâm hụt ngân sách Trong lịch sử, phát hành thêm tiền đã từng là một cách tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nhưng do hậu quả nghiêm trọng của nó là dẫn đến lạm phát ở mức cao nên ngày nay cách này hầu như không được chính phủ của bất cứ quốc gia nào sử dụng nữa
Thâm hụt ngân sách được chia thành hai loại:
- Thâm hụt cơ cấu: là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng
- Thâm hụt chu kỳ: là các khaorn thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là bởi mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân Ví
dụ, khi nền kinh tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng sẽ dẫn đến thu ngân sách từ thuế
giảm xuống trong khi chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên
Việc phân biệt hai loại thâm hụt trên có tác dụng quan trọng trong việc đánh giá ảnh hưởng của chính sách tài khóa mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào, giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế Thâm hụt ngân sách do rất nhiều nguyên nhân và có sự ảnh hưởng khác nhau đến sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế Về cơ bản, tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước gồm các nguyên nhân chính sau:
- Thất thu thuế nhà nước: Thuế là nguồn thu quan trọng, chính yếu và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh các nguồn thu khác như doanh nghiệp nhà nước, tài nguyên, nhận viện trợ và đi vay Tuy nhiên, với một quốc gia có sự quản lý chưa chặt chẽ và hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập đã tạo kẻ hở cho các
Trang 13cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn tránh trách nhiệm nộp thuế, gây thất thu một nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước Bên cạnh đó, thực hiện chính sách kích cầu để giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư và vượt qua các giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế được thực hiện khá nhiều trong giai đoạn hiện nay Nhưng mặt trái của việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu là ảnh hưởng tới nguồn thu của ngân sách nhà nước, làm ngân sách nhà nước duy trì một khoản thâm hụt lớn trong các giai đoạn kinh tế khó khăn
- Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn: tăng chi tiêu chính phủ có ưu điểm là giúp nền kinh tế tăng trưởng khi tạo ra được việc làm trong nền kinh tế và quan trọng hơn là xây dựng và nâng cao được cơ sở hạ tầng cho sự phát triển lâu dài của nền kinh tế không được thực hiện hiệu quả, tức là nguồn vốn đầu tư quá nhiều nhưng không tạo ra được giá trị gia tăng cho nền kinh tế trong tương lai thì sẽ có tác động tiêu cực trong lâu dài Việc chi tiêu lớn những không mang lại hiệu quả sẽ tạo
ra nguy cơ bất ổn lâu dài như lạm phát hoặc rủi ro thanh khoản trong tương lai vì thiếu cơ chế giám sát đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính Đa
số các nhà kinh tế đều đồng ý rằng nếu chi tiêu chính phủ vượt ra khỏi một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở sự phát triển của nền kinh tế thông qua hiệu ứng “lấn át” của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân trong nền kinh tế Và điều này lại gây ra sự phân
bổ nguồn lực không hợp lý làm hiệu quả cả nền kinh tế giảm sút đồng thời thâm hụt
ngân sách lại càng tăng
2.1.3 Mối quan hệ giữa nợ công và thâm hụt ngân sách
Xét về bản chất kinh tế, nợ công xuất phát từ thâm hụt ngân sách, hay tổng chi tiêu của chính phủ nhiều hơn tổng thu của mình Để làm giảm mức thâm hụt này, chính phủ phải tăng nguồn thu ngân sách, hoặc cắt giảm chi tiêu Cắt giảm chi tiêu không phải là một việc dễ dàng trong ngắn hạn, khi những kế hoạch chi tiêu của chính phủ đã được hoạch định cụ thể Chính vì thế, chính phủ chỉ có thể tìm cách gia tăng tổng nguồn thu của mình Có hai cách để gia tăng tổng nguồn thu, thứ nhất chính phủ có thể gia tăng thuế Tuy nhiên, tăng thuế có thể ảnh hưởng tiêu cực, đó
là làm giảm tiêu dùng, giảm động lực lao động và sản xuất dẫn đến suy thoái kinh
Trang 14tế Thứ hai, chính phủ có thể tăng nguồn thu thông qua vay nợ, cả vay trong nước
và vay quốc tế Các khoản vay này sẽ làm gia tăng nợ công Như vậy,có thể thấy nợ công là hệ quả trực tiếp của thâm hụt ngân sách
Để đạt được tốc độ phát triển nhanh, chính phủ các nước thường sử dụng chính sách tài khoá mở rộng, tăng chi tiêu chính phủ, giảm thuế sẽ kích thích tổng cầu tăng, đẩy mạnh sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, thực hiện chính sách tài khoá mở rộng đồng nghĩa với việc gia tăng thâm hụt ngân sách, chính phủ phải vay nợ để bù đắp thâm hụt Việc sử dụng chính sách tài khoá mở rộng trong thời gian dài sẽ làm gánh nặng nợ lớn dần lên Trong trường hợp tốc độ tăng thu ngân sách không theo kịp với tốc độ tăng của các nghĩa vụ trả nợ, chính phủ buộc phải sử dụng biện pháp vay mới để trả nợ cũ Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn tới nguy cơ mất khả năng trả nợ của chính phủ, nếu tổng số nghĩa vụ nợ phải trả vượt quá khả năng thu của ngân sách
Nhìn chung, trang trải thâm hụt ngân sách bằng vay trong nước hay vay nước ngoài đều có những ảnh hưởng bất lợi tới môi trường kinh tế vĩ mô Ở các nước đang phát triển, thâm hụt ngân sách thường được tài trợ bằng một giải pháp hỗn hợp giữa vay trong nước và vay nước ngoài Kết cấu hỗn hợp này phụ thuộc vào khả năng huy động nguồn vốn trong nước, lãi suất và các điều kiện vay nước ngoài Trong trường hợp thâm hụt ngân sách được tài trợ bằng vốn vay trong nước, khi đó một phần nguồn lực tài chính của nền kinh tế sẽ được chuyển dịch từ khu vực tư nhân sang khu vực nhà nước thông qua kênh trái phiếu chính phủ Việc huy động này sẽ tác động đến thị trường vốn nói chung, làm tăng cầu tín dụng, đẩy lãi suất lên cao Lãi suất tăng đến lượt nó làm tăng chi phí đầu tư, giảm nhu cầu đầu tư của nền kinh tế, có thể dẫn đến “hiệu ứng kéo lùi đầu tư” Trong trường hợp thâm hụt được tài trợ bằng vay nước ngoài, tác động kéo lùi đầu tư có thể được hạn chế, do chính phủ sử dụng các nguồn lực bổ sung từ bên ngoài thay vì dùng các nguồn lực của khu vực tư nhân trong nước Việc sử dụng một phần vốn vay nước ngoài để tài trợ cho thâm hụt ngân sách có thể làm giảm bớt căng thẳng trên thị trường tín dụng trong nước, qua đó giảm bớt các yếu tố bất ổn trong nền kinh tế Tuy nhiên, vay
Trang 15nước ngoài lại có những tác động khác nguy hại đến nền kinh tế Trong thời gian đầu, một dòng ngoại tệ lớn chảy vào trong nước sẽ làm giảm sức ép cân đối ngoại
tệ Mặc dù sẽ có những tác động nhất định lên tỷ giá hối đoái theo hướng làm tăng giá đồng nội tệ và ảnh hưởng đến cán cân thương mại, song những tác động này chỉ trong ngắn hạn Trong trung và dài hạn, việc chính phủ phải cân đối nguồn ngoại tệ trả nợ gốc và lãi sẽ đẩy nhu cầu ngoại tệ tăng cao, làm giảm giá đồng nội tệ, tăng chi phí nhập khẩu máy móc thiết bị và nguyên liệu (thường chiếm tỷ trọng lớn ở các nước đang phát triển), tăng chi phí đầu vào của nền kinh tế, dẫn tới các nguy cơ lạm phát Tỷ giá tăng cao sẽ làm chi phí thanh toán nợ trở nên đắt đỏ hơn, càng làm tăng nguy cơ vỡ nợ, nếu như quy mô nợ vượt quá sức chịu đựng của ngân sách nhà nước Xét về mặt này, vay trong nước an toàn hơn vay nước ngoài, vì trong trường hợp gánh nặng nợ trong nước vượt quá khả năng thu ngân sách, chính phủ vẫn còn một phương án cuối cùng là phát hành tiền để trang trải các khoản nợ và chấp nhận các rủi ro về tăng lạm phát, trong khi không thể làm như vậy đối với các khoản nợ nước ngoài
Bên cạnh những hậu quả về mặt kinh tế, chính sách tài khoá không bền vững
và những nguy cơ vỡ nợ có thể sẽ đưa quốc gia đó tới nguy cơ suy giảm chủ quyền chính trị, khi phải chịu những áp lực to lớn từ phía các chủ nợ và các tổ chức tài chính quốc tế nhằm cải tổ lại các thể chế kinh tế theo hướng tự do hoá Thông thường, đó là những sức ép về việc thắt chặt chi tiêu, tăng thuế khoá, giảm trợ cấp
xã hội, và đi xa hơn nữa là những yêu cầu về cải cách thể chế, thay đổi bộ máy quản
lý, thay đổi các định hướng kinh tế theo hướng tự do hoá nhiều hơn Ngoài ra, việc
lệ thuộc quá nhiều vào các khoản vay nợ nước ngoài cũng sẽ làm giảm vị thế chính trị của quốc gia trong các mối quan hệ song phương cũng như đa phương với các đối tác là các nước chủ nợ
Các tài liệu kinh tế vĩ mô đã xem xét tính bền vững của mối quan hệ giữa nợ công và thâm hụt ngân sách bằng cách đánh giá khả năng chính phủ vi phạm phương pháp ràng buộc ngân sách của chính phủ Cách tiếp cận này đòi hỏi các chính sách tài khóa phải bền vững để phù hợp với các điều khoản cân bằng tổng thể
Trang 16liên kết giữa khu vực chính phủ và khu vực tư nhân Ràng buộc ngân sách chính phủ đặt ra yêu cầu chi tiêu hàng hóa và dịch vụ của chính phủ cộng với chi phí trả lãi và nợ gốc hiện tại bằng doanh thu thuế hiện tại cộng với nợ mới phát hành Điều kiện này được minh họa theo phương trình (1) như sau:
Bt = (1 + r) Bt-1 + Zt , (1) Trong đó:
t: giai đoạn t
Bt là khoản nợ vay mới trong năm t;
Bt-1 là chi trả nợ năm trước
rt là lãi suất vay nợ danh nghĩa tính trên khoản nợ công danh nghĩa Bt=i (rt> 0)
Zt = Gt – Tt là thâm hụt ngân sách giai đoạn t;
Gt là khoản chi ngân sách cơ bản năm t;
Tt là thu thuế năm t
Zt sẽ âm nếu thâm hụt ngân sách và dương khi thặng dư ngân sách Phương trình (1) chỉ ra rằng nếu chính phủ có thặng dư ngân sách bằng số không (Zt = 0),
nợ sẽ tăng cùng tốc độ với lãi suất: ∆Bt= ∆Bt-1 Nếu chính phủ thâm hụt ngân sách (Zt <0), nợ sẽ tăng với tốc độ lớn hơn lãi suất Nếu chính phủ thặng dư ngân sách (Zt> 0), nợ sẽ tăng chậm hơn so với lãi suất Nếu thặng dư ngân sách lớn hơn lãi
phải trả trên nợ hiện tại (tức là Zt + rt Bt-1 là dương), thì nợ sẽ được thu hẹp
Chia cả 2 vế phương trình (1) cho 1+r và biến đổi thì ta được phương trình (2):
𝐵𝑡−1 = ∑𝑛 (1+𝑟)𝑇𝑡+𝑗𝑗+1
𝑗=0 − ∑𝑛 (1+𝑟)𝐺𝑡+𝑗𝑗+1+
𝑗=0 (1+𝑟)𝐵𝑛+1𝑛+1 (2) Trong đó, G không dùng để thanh toán lãi suất và T là nguồn thu thuế của chính phủ
Trang 17Ngoài ra, việc đi vay mới lại càng tăng gánh nặng trả lãi trong tương lai, điều này lại dẫn đến việc phải phát hành thêm nợ mới và vòng xoáy cứ thế lặp lại Nói cách khác việc vay nợ mới để trả nợ cũ sẽ rất nguy hiểm khi các khoản nợ vay mới không tăng kịp với tốc độ tăng nhanh của khoản lãi vay phải trả Hành động vay nợ
mới chỉ để thanh toán lãi nợ cũ của chính phủ tương tự như trò chơi Ponzi đầy rủi ro
và nguy hiểm trên thị trường tài chính Tuy nhiên, ngay cả chính phủ cũng không
thể thích vay bao nhiêu cũng được vì sẽ đến lúc các áp lực chính trị buộc chính phủ
phải cải cách và tiết kiệm hay ít nhất phải có những ràng buộc cứng về mặt ngân sách Bởi vậy có điều kiện NPG (No-Ponzi-Game), nghĩa là chính phủ không thể tăng phát hành nợ mới để trảgốc và lãi của nợ cũ một cách vô thời hạn, để xem xét tính bền vững của ngân sách và nợ công Kết hợp với phương trình ràng buộc ngân sách của chính phủ (1) và điều kiện NPG, chúng ta đi đến mô hình ràng buộc ngân sách liên thời gian Điều kiện ràng buộc ngân sách đặt ra yêu cầu về một số giới hạn cho cân bằng ngân sách cơ bản là giá trị hiện tại của thặng dư ngân sách cân bằng
phải lớn hơn hoặc bằng giá trị hiện tại của khoản nợ công ban đầu Nghĩa là, nếu ngân sách đang thâm hụt và nợ công là một số dương thì ngân sách tương lai buộc
phải thặng dư Phương trình (2) chỉ ra rằng nợ ban đầu sẽ bằng với giá trị hiện tại
của thặng dư ngân sách khi và chỉ khi giá trị hiện tại của các khoản nợ trong tương lai hội tụ về không lim𝑛→∞(1+𝑟)𝐵𝑛+1𝑛+1 = 0 (3)
Nếu điều kiện này được đáp ứng, giá trị hiện tại của thặng dư ngân sách phải
lớn hơn hoặc bằng giá trị hiện tại của nợ công ban đầu Hay nói cách khác, nợ công hôm nay phải được đảm bảo bằng thặng dư trong tương lai của ngân sách Để điều này xảy ra, nợ chính phủ B trong tử số phải tăng trưởng chậm hơn so với tốc độ của lãi suất r Chính phủ không thể tài trợ cho các khoản thanh toán lãi vay bằng cách liên tục phát hành trái phiếu mới Điều này sẽ xảy ra khi phương trình (3) không vi
phạm và khi đó phương trình (2) được viết lại như phương trình (4):
𝐵𝑡−1 = ∑ 𝑇𝑡+𝑗
(1+𝑟) 𝑗+1 − ∑ 𝐺𝑡+𝑗
(1+𝑟) 𝑗+1
𝑛 𝑗=0
∞
Trang 18Tuy nhiên, điều kiện ràng buộc này sẽ khó thực thi trong thực tế và khá lỏng
lẻo Theo nguyên lý này nợ công sẽ bền vững nếu tốc độ nợ công luôn nhỏ hơn lãi
suất thực của các nợ công mới phát hành, bất kể kết cấu và mức nợ ban đầu ra sao Bên cạnh đó, cam kết đạt thặng dư ngân sách trong tương lai thường thiếu tin cậy (ví dụ cam kết giảm chi) và không hiệu quả (ví dụ tăng thu) Để giảm thâm hụt ngân sách trong tương lai chính phủ có hai lựa chọn khả dĩ là giảm chi tiêu công hoặc tăng thu ngân sách Nếu giảm chi tiêu công sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các nhóm lợi ích, đôi khi khó thực thi bởi rào cản về mặt chính trị do có sự phản kháng
từ các nhóm này Nếu tăng thuế và ban hành các khoản phí, lệ phí mới nhằm tăng thu ngân sách có thể dẫn đến lạm thu và tận thu, ảnh hưởng đến phúc lợi xã hội do gia tăng tổn thất vô ích
Nếu chúng ta giả định rằng nợ công tăng lên theo thời gian với một tốc độ không đổi δ, ta có: Bt+ j = (1 + δ)Bt+ j−1 Khi đó, phương trình (3) được viết lại như phương trình (5):
limn→∞(1+δ1+r)nB0 = 0 (5)
Để phương trình (5) có thể hội tụ bằng 0 thì tốc độ tăng của δ nên chậm hơn r, nghĩa là tốc độ tăng trưởng của nợ nên thấp hơn tốc độ tăng trưởng của lãi suất
thực
Mặt khác, một số bài nghiên cứu về ràng buộc ngân sách thông qua cách tiếp
cận kế toán về tính bền vững tài khóa bằng cách tập trung vào tỷ lệ nợ/GDP Ta
biết, GDP tại thời điểm hiện tại Yt thì bằng GDP của giai đoạn trước Yt-1 cộng với Yt-1 nhân tốc độ tăng trưởng của GDP (g) như phương trình (6):
Trang 19Thay (6) vào (7) ta được phương trình (8):
Thay (11) và phương trình (10), ta viết lại phương trình (10) ta có phương trình (12):
g, nợ sẽ tiếp tục tăng theo thời gian mặc dù ngân sách thặng dư ( tức là z dương)
2.2 Các nghiên cứu trước:
Trang 20Nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ thâm hụt ngân sách và nợ công trong
nền kinh tế phát triển rất nhiều thông qua hai cách tiếp cận trực tiếp và tiếp cận gián
tiếp
Cách tiếp cận trực tiếp, trực tiếp kiểm định mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công trực tiếp qua việc kiểm định chuỗi thâm hụt ngân sách và nợ công Cách tiếp cận này đã được khởi xướng bởi các bài nghiên cứu của Hamilton và Flavin (1986) Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian của Mỹ trong giai đoạn từ năm 1962 đến năm 1984 Nhóm tác giả kiểm định tính dừng để kiểm tra các điều kiện NPG và ràng buộc ngân sách của chính phủ Kết quả cho thấy nếu chuỗi thâm hụt ngân sách và nợ công là chuỗi dừng thì mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công là bền vững Trehan và Walsh (1991), sử dụng mô hình tương tự cũng trên dữ liệu của nền kinh tế Mỹ nhưng thời gian nghiên cứu từ năm 1890 đến năm 1983 và từ năm 1960 đến năm 1984, kết quả cũng cho thấy nếu cả hai chuỗi là
dừng thì mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công là bền vững Smith và Zin (1991) sử dụng cùng mô hình nhưng trong tại các nước khác để kiểm tra tính
bền vững của nợ Sử dụng dữ liệu hàng tháng của Canada trong giai đoạn từ 1946 –
1984, kết quả cho thấythâm hụt ngân sách bền vững nhưng nợ là không bền vững Buiter và Patel (1992) nghiên cứu thực nghiệm trường hợp Ấn Độ, sử dụng dữ liệu hàng năm giai đoạn nghiên cứu từ năm 1970 đến 1988, kết quả nghiên cứu cho thấy
nợ công của Ấn Độ là không bền vững Sử dụng dữ liệu hàng tháng cho Italy và giai đoạn 1979-1991, kết quả nghiên cứu của Baglioni và Cherubini (1993) cho thấy nợ công của Italy không bền vững Caporale (1995) sử dụng dữ liệu hàng năm tại một
số nước EU trong giai đoạn 1960-1991 cho thấy nợ công của Ý, Hy Lạp, Đan Mạch
và Đức là không bền vững Makrydakis (1999) sử dụng dữ liệu hàng năm cho Hy
Lạp trong giai đoạn 1958-1995 cũng thấy rằng nợ là không bền vững
Prohl and Schneider (2006) đã kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng giữa thâm
hụt ngân sách và nợ công tính theo % GDP của 15 nước thuộc EU trong giai đoạn
từ 1970 đến 2004 Nhóm tác giả cho rằng việc sử dụng phương pháp kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng đem lại nhiều ưu điểm hơn so với việc phân tích từng
Trang 21biến số như nghiên cứu trước đây của Afonso (2005) Thứ nhất, phương pháp này tránh việc chọn nhầm nhánh phân tích hồi quy trong phân tích chuỗi dữ liệu thời gian khi sai lầm trong kết quả kiểm định tính dừng và đồng liên kết trong cỡ mẫu
nhỏ Thứ hai, nếu thâm hụt ngân sách và nợ công đồng liên kết, nhóm tác giả tiếp
tục sử dụng mô hình hiệu chỉnh sai số để ước tính thâm hụt ngân sách trong ngắn
hạn và dài hạn nếu nợ công tăng Kết quả kiểm định cho thấy, thâm hụt ngân sách
và nợ công theo % GDP là đồng liên kết trong giai đoạn nghiên cứu, như vậy mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công là bền vững, chính sách tài khóa của
15 nước EU ổn định và phù hợp với mô hình ràng buộc ngân sách liên thời gian trong giai đoạn từ năm 1970 đến năm 2004 Kết quả phân tích cho từng nước cho
thấy, thâm hụt ngân sách và nợ công theo % GDP tại các nước Pháp, Đức, Luxembourg, Bồ Đào Nha, Thụy Điển và Anh là đồng liên kết Kết quả này phù
hợp với kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây (Afonso, 2005) Đối với các nước còn lại trong mẫu, không thể bác bỏ giả thuyết không có đồng liên kết
Cách tiếp cận gián tiếp, kiểm định mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công thông qua kiểm định thu ngân sách và chi tiêu chính phủ được khởi sướng bởi Tanner và Liu (1994) Tanner và Liu (1994) sử dụng kỹ thuật đồng liên kết để kiểm định mối quan hệ dài hạn giữa tổng thu ngân sách và chi tiêu chính phủ Nếu tổng thu ngân sách và chi tiêu chính phủ có mối quan hệ dài hạn thì mối quan hệ giữa nợ công và thâm hụt ngân sáchcũng như chính sách tài khóa là bền vững Tanner và Liu (1994) đã sử dụng dữ liệu của Mỹ từ năm 1950-1989 kết quả cho thấy hai biến
số chi tiêu và thu nhập liên bang là đồng liên kết bậc 1 Do đó, mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công bền vững
Neaime (2009, 2010) sử dụng kiểm định tính dừng mối quan hệ dài hạn giữa thu ngân sách và chi tiêu chính phủ bằng cách áp dụng kiểm định Phillips-Perron (PP) và kiểm định nghiệm đơn vị Dickey-Fuller hiệu chỉnh (ADF) và mô hình ràng
buộc ngân sách, để xem xét tính bền vững chính sách tài khóa tại các nước MENAtrong thời kỳ hậu khủng hoảng tài chính của Mỹ Trong bối cảnh của cuộc
khủng hoảng tài chính của Mỹ, một số quốc gia nợ công khá lớn, đặc biệt ở các
Trang 22quốc gia MENA mới nổi như Ai Cập, Jordan, Morocco, Tunisia và Thổ Nhĩ Kỳ Khó khăn tài chính khu vực công đã trở thành một vấn đề quan trọng trong hoạch định chính sách của khu vực này Kết quả thực nghiệm cho thấy tính bền vững
mạnh ở Tunisia nhờ có kỷ luật tài khóa Tính bền vững yếu ở Ai Cập do những năm
1990 kế hoạch tư nhân hóa ở nước này thành công Các kết quả khác nhau ở Marocco do nước này đang có những cải cách nhằm phục hồi tài chính thời gian
gần đây Và chính sách nợ và chính sách tài khóa không bền vững ở Jordan và Thổ
Nhỹ Kỳ do quy mô của chính phủ gây ra mất cân bằng tài khóa cho nền kinh tế của Jordan và sự yếu kém trong điều hành lĩnh vực tài chính và ngân hàng ở Thổ Nhĩ
Kỳ Tác giả cho rằng những nước thuộc MENA có tính bền vững nợ công yếu hoặc không bền vững cần phải gia tăng cải cách tài chính, nếu không nợ công của các nước này sẽ ngày càng lớn và dẫn đến gặp nhiều áp lực về tỷ giá, lãi suất và đối mặt
với mất cân bằng kinh tế vĩ mô Bài nghiên cứu cũng cho thấy, khủng hoảng tài chính tác động đến tính bền vững của nợ công và làm tăng tỷ lệ nợ trên GDP
Gần đây, Neaime (2015), cũng sử dụng đồng liên kết để kiểm định mối quan
hệ dài hạn giữa tổng thu ngân sách và chi tiêu chính phủ để đánh giá sự phát triển tài chính của các nước Châu Âu trong 3 thập kỷ từ giữa những năm 1970 Nghiên
cứu nêu lên những diễn biến trong chính sách tiền tệ và tài chính của các nước Châu
Âu, sau đó sử dụng mô hình ràng buộc ngân sách liên thời gian (Present Value Constraint) để phân tích tính bền vững của mối quan hệ giữa nợ công và thâm hụt ngân sách tại các nước Châu Âu được chọn Sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị, kết
quả cho thấy ngoại trừ Đức, các nước khác đều có thâm hụt ngân sách là không bền
vững Sử dụng kiểm định đồng liên kết, kết quả cho thấy mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công cũng như chính sách tài khóa là bền vững ở các nước Đức và Pháp Chính sách tài khóa bền vững ở Ireland, Ý, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trong những năm 1970 và 1980 Tuy nhiên, cả hai chuỗi chi tiêu chính phủ và thu ngân sách bắt đầu không dừng từ sau khủng khoảng tài chính năm 2008 Như vậy, các nước này cần phải có chính sách thắt lưng buộc bụng hợp lý để tình hình thâm
hụt ngân sách không trở nên xấu đi và nợ không trở nên không bền vững
Trang 23Với những các nghiên cứu đã trình bày ở trên, bài nghiên cứu này sẽ nghiên
cứu về mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công không chỉ trong dài hạn mà còn trong ngắn hạn Bên cạnh đó, bài nghiên cứu sẽ bổ sung thêm vào kho tàng các nghiên cứu học thuật về các nước Châu Á –Thái Bình Dương qua việc nghiên cứu
mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công tại một số nước Châu Á – Thái Bình Dương
Trang 24K ẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Tóm lại, trong chương 2 đề tài đã đưa ra các nghiên cứu lý thuyết về nợ công, thâm hụt ngân sách và mối quan hệ giữa nợ công và thâm hụt ngân sách thông qua
việc tiếp cận mô hình ràng buộc ngân sách
Chương 2 cũng đã đưa ra các công trình nghiên cứu thực nghiệm về mối quan
hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công tại nhiều quốc gia và nhiều giai đoạn Bên
cạnh đó cũng tìm hiểu các phương pháp định lượng để tìm hiểu mối quan hệ dài hạn
và ngắn hạn của nợ công và thâm hụt ngân sách
Qua phân tích ở chương 2, đề tài đã đưa ra những lý thuyết nền cơ bản cũng như kết quả nghiên cứu thực nghiệm được kiểm chứng tại nhiều quốc gia trên thế
giới trong thời gian trải dài, từ cơ sở đó tác giả có thể hoàn toàn vận dụng để phân tích các mối tương quan trong những chương tiếp theo
Trang 25CHƯƠNG 3.MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên c ứu
Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu được tóm tắt như sau:
Trang 263.2 Mô hình nghiên c ứu
Sử dụng phân tích nhân quả theo phương pháp Granger nhằm xác định mối quan hệ nhân quả giữa biến thâm hụt ngân sách và nợ công
BD(i,t): (budget deficit)thâm hụt ngân sách của nước i trong thời gian t
𝐷𝑖,𝑡: (Debt) nợ công (% GDP) của nước i trong thời gian t;
ECM: sai số điều chỉnh của phương pháp ECM
𝑢𝑖,𝑡:sai sốngẫu nhiên
Các biến được lấy Logarit tự nhiên để giảm tính không đồng nhất của dữ liệu
Và có thể xảy ra một trong bốn trường hợp sau đây:
(1) Tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa cán cân ngân sách và nợ công: nếu các hệ số ước lượng của các biến trễ của biến chỉ số nợ công 𝐷𝑖𝑡ở phương trình (14) khác 0 một cách có ý nghĩa thống kê (𝛼13𝑣à𝛼14≠0) và hệ số ước lượng
của các biến trễ của cán cân ngân sách (𝐵𝐷𝑖𝑡) ở phương trình (15) khác 0 một cách
nếu hệ số ước lượng của các biến trễ của biến nợ công 𝐷𝑖𝑡ở phương trình (14) bằng
0 (𝛼13𝑣à𝛼14= 0) và hệ số ước lượng của các biến trễ của cán cân ngân sách (𝐵𝐷𝑖𝑡) ở
phương trình (15) bằng 0 một cách có ý nghĩa thống kê (𝛼21𝑣à𝛼22= 0)
(4) Mối quan hệ nhân quả một chiều từ nợ công đến cán cân ngân sách tồn tại
nếu hệ số ước lượng của các biến trễ của biến nợ công 𝐷𝑖𝑡ở phương trình (14) khác
Trang 270 một cách có ý nghĩa thống kê (𝛼13𝑣à𝛼14≠0) và hệ số ước lượng của các biến trễ
của cán cân ngân sách (𝐵𝐷𝑖𝑡) ở phương trình (15) bằng 0 một cách có ý nghĩa thống
kê (𝛼21𝑣à𝛼22= 0)
3.3 D ữ liệu và đo lường các biến
3.3.1 Mô t ả các biến nghiên cứu
Dựa vào cơ sở lý thuyết và kết quả nghiên cứu thực nghiệm trước đây, bài nghiên cứu sử dụng biến đại diện cho cán cân ngân sách chính phủ và nợ công là: chi tiêu chính phủ, thu ngân sách, cân bằng ngân sách và nợ công
Mô tả các biến trong mô hình:
- Chi ngân sách (% GDP): là việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách nhà nước theo những nguyên tắc nhất định nhằm đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước trong từng thời kỳ Chi ngân sách được chia thành chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và chi khác Chi thường xuyên là khoản chi có thời hạn tác động
ngắn, thường dưới một năm Nhìn chung đây là khoản chi chủ yếu phục vụ chức năng quản lý nhà nước và điều hành xã hội một cách thường xuyên của Nhà nước như quốc phòng, an ninh, sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa, thể dục thể thao Chi đầu tư phát triển là những khoảng có thời hạn tác động lâu dài, thường trên một năm, hình thành nên những tài sản vật chất có khả năng tạo được nguồn thu, trực tiếp làm tăng cơ sở vật chất của đất nước Chi đầu tư phát triển bao gồm: chi đầu tư phát triển các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đầu tư hỗ trợ
vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước, chi hỗ trợ tài chính, chi đầu tư phát triển có sự tham gia của Nhà nước, chi hỗ trợ tài chính, chi đầu tư phát triển trong các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước, chi bổ sung dự
trữ nhà nước, các khoản chi khác theo quy định của pháp luật Các khoản chi khác: bao gồm những khoản chi còn lại không được xếp vào hai nhóm chi kể trên, bao
gồm: chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay, chi viện trợ, chi cho vay, chi bổ sung quỹ dữ trự tài chính, chi bổ sung cho ngân sách nhà nước cấp dưới, chi chuyển nguồn cho ngân sách cấp năm trước cho ngân sách cấp năm sau Dữ liệu
Trang 28được lấy từ Cơ sở dữ liệu kinh tế thế giới (World Economic Outlook Database) của
Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF)
- Thu ngân sách (% GDP): Thu ngân sách là toàn bộ số tiền thu được từ các
loại thuế, các khoản đóng góp xã hội, và các khoản thu khác như phạt tiền, lệ phí,
tiền thuê nhà, và các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước Các khoản đóng góp của các tổ chức cá nhân, các khoản viện trợ và các khoản thu khác cũng được coi là thu ngân sách Dữ liệu được lấy từ Cơ sở dữ liệu kinh tế thế giới (World Economic Outlook Database) của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF)
- Cán cân ngân sách chính phủ (%GDP): là phần chênh lệch giữa chi tiêu ngân sách và nguồn thu ngân sách của chính phủ
- Nợ chính phủ (% GDP): Tổng nợ chính phủ trên GDP Một trong những cách để so sánh mức nợ giữa các quốc gia là tỷ lệ nợ theo GDP, trong đó nợ được tính bằng đô la Mỹ và GDP là tổng sản phẩm quốc nội trong một năm Moody thường dựa vào tỷ lệ này để xếp hạng độ an toàn và ổn định của các quốc gia Theo IMF, nợ công thấp hay cao không quan trọng bằng tỷ lệ nợ/GDP và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Tỷ lệ nợ/ gdp càng cao thì thời gian trả nợ càng dài và rủi ro
vỡ nợ càng cao Ví dụ, một quốc gia có tỷ lệ nợ/GDP là 100%, theo lý thuyết quốc gia này có thể trả hết nợ trong một năm; nhưng thực tế, một quốc gia chỉ dành từ 5-10% GDP của mình để trả nợ, vì vậy sẽ mất khoảng 10 năm để trả hết nợ trong trường hợp này Theo Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) thì
nợ công là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ nợ của chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sách nhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước, và trong trường hợp vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay) Tổng
nợ bao gồm tất cả các khoản nợ có yêu cầu thành toán hoặc thanh toán lãi chủ yếu
bởi con nợ cho chủ nợ vào một ngày hoặc các ngày trong tương lai Dữ liệu tỷ lệ
nợ/GDP được lấy từ Cơ sở dữ liệu kinh tế thế giới (World Economic Outlook Database) của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF)
Trang 293.3.2 D ữ liệu nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung 9 quốc gia có đầy đủ dữ liệu trong tất cả các quốc gia khu vực Châu Á – Thái Bình Dương dựa trên phân loại vùng lãnh thổ và vị trí địa lý
của Ngân hàng Thế giới World Bank trong giai đoạn 2000 – 2014 bao gồm: Australia, Hong Kong, Indonesia, Japan, Malaysia, Mongolia, Singapore, Thailand, New Zealand Tất cả các dữ liệu từ các chỉ số do World Bank và IMF, là hai tổ chức
uy tín trên thế giới cung cấp Số quan sát thu thập được trong mẫu nghiên cứu bao
của toàn cầu và có nhiều tuyến giao thông huyết mạch của thế giới đi qua Với thị trường rộng lớn gồm 650 triệu dân, châu Á – Thái Bình Dương hiện là đối tác thương mại lớn thứ 5 của Mỹ Châu Á – Thái Bình Dương sẽ là khu vực có nhiều chuyển biến mới và nổi lên như một điểm nhấn hấp dẫn các cường quốc không chỉ trong khu vực mà trên thế giới
Hai là, mặc dù kinh tế khu vực Châu Á – Thái Bình Dương vẫn dẫn đầu về tốc
độ tăng trưởng so với khu vực khác Tuy nhiên, các nước trong khu vực này có mức
độ tăng trưởng không đồng đều Đây là nền kinh tế năng động nhưng tiềm ẩn một
số rủi ro, trong đó rủi ro lớn nhất là lạm phát Ngoài ra, một số nền kinh tế có nguy
cơ bị tăng tổn thương trước những diễn biến tiêu cực của các nền kinh tế khác trên
thế giới, nhất là những quốc gia vay nợ nước ngoài lớn Một số quốc gia rơi vào tình trạng thâm hụt ngân sách lớn và đối mặt với lạm phát quá cao Mặc dù, Châu Á – Thái Bình Dương là khu vực có mức tăng trưởng kinh tế cao, nhưngnhiều quốc gia Châu Á – Thái Bình Dương đã vay quá nhiều để đảm bảo tăng trưởng trong thời
kỳ khủng hoảng kinh tế và có nguy cơ rơi vào khủng hoảng nợ Như vậy, khi nghiên cứu tại khu vực này sẽ tạo điều kiện về nguồn dữ liệu trong quá trình thu
Trang 30thập và có sự tương tác giữa các thâm hụt ngân sách và nợ công sẽ thể hiện rõ ràng
dữ liệu bảng là sự kết hợp của dữ liệu chéo và dữ liệu theo thời gian Để có thể thu
thập được dữ liệu bảng ta cần tiến hành thu thập một hoặc nhiều đặc điểm của đối tượng nghiên cứu trong cùng một khoảng thời gian Việc lựa chọn dữ liệu bảng vì
những ưu điểm sau, theo Baltagi (2005):
- Bằng cách kết hợp chuỗi thời gian của các quan sát chéo, dữ liệu bảng cho chúng ta dữ liệu chứa nhiều thông tin hữu ích hơn, tính biến thiên nhiều hơn, ít hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến hơn, nhiều bậc tự do hơn và hiệu quả cao hơn
- Bằng cách nghiên cứu quan sát lập đi lập lại của các đơn vị chéo, dữ liệu
bảng phù hợp hơn cho việc nghiên cứu các động thái thay đổi theo thời gian của các đơn vị chéo này
- Dữ liệu bảng có thể phát hiện và đo lường tốt hơn các tác động mà người ta không thể quan sát được trong dữ liệu chuỗi thời gian hay dữ liệu chéo thuần túy
- Dữ liệu bảng làm cho chúng ta có thể nghiên cứu các mô hình hành vi phức
tạp hơn
- Dữ liệu bảng cho phép kiểm soát sự khác biệt không quan sát được giữa các
thực tế, cũng như cho phép kiểm soát các biến không quan sát được nhưng thay đổi theo thời gian
- Dữ liệu bảng cho phép kiểm soát các đăc điểm khác biệt giữa các yếu tố không gian – quốc gia trong cỡ mẫu nghiên cứu bằng việc cho phép các hệ số biến
giả tương ưng với mỗi quốc gia Khác biệt quốc gia này có thể là văn hóa, địa lý, dân số, nguồn tài nguyên thiên nghiên, vv trong nội tại quốc gia ảnh hưởng tới nhân tố được giải thích
Trang 31Vì vậy việc sử dụng dữ liệu bảng có thể làm cho phân tích thực nghiệm phong phú hơn so với việc chỉ sử dụng dữ liệu chéo hay dữ liệu chuỗi thời gian
3.4 Phương pháp nghiên cứu
Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công trong dài hạn được nghiên
cứu qua hai mô hình trực tiếp và gián tiếp
3.4.1 Phương pháp kiểm định trực tiếp
Theo Hamilton và Flavin (1986)sử dụng kiểm định tính dừng của chuỗi thâm
hụt ngân sách và nợ công, nếu hai chuỗi dừng tại bậc gốc thì mối quan hệ giữa thâm
hụt ngân sách và nợ công là bền vững Theo Prohl và Schneider (2006), nhóm tác giả sử dụng đồng liên kết trực tiếp giữa hai chuỗi nợ công và chuỗi thâm hụt ngân sách tính theo % GDP Nếu chuỗi thâm hụt ngân sách và chuỗi nợ cùng đồng liên
kết thì kết luận rằng mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công là bền vững
và chính sách tài khóa của một số nước Châu Á – Thái Bình Dươnglà bền vững và phù hợp với yêu cầu của mô hình ràng buộc ngân sách liên thời gian Thêm nữa, khi các chuỗi cùng đồng liên kết ngụ ý rằng mô hình ràng buộc ngân sách liên thời gian
có thể không bền vững trong toàn bộ giai đoạn nghiên cứu nếu có thay đổi trong chính sách tài khóa của các nước
3.4.2 Phương pháp kiểm định gián tiếp
Mô hình thực nghiệm được sử dụng trong cách tiếp cận gián tiếp là mô hình được sử dụng trong nghiên cứu của tác giảTanner và Liu (1994) và Neaime (2015)
Mô hình hồi quy được ước tính như sau:
∆𝑋𝑡 = 𝛽1+ 𝛽2𝑋𝑡−1+ ∑ 𝛿𝑘 𝑖
𝑖=1 ∆𝑋𝑡−1+ 𝜀𝑡, (16) Trong đó:
Δ là sai phân bậc 1;
(Xt) đại diện tương ứng của các chuỗi: G: chi tiêu chính phủ;R: thu của chính
phủ;BB: cân bằng ngân sách và nợ Các biến này được tính theo %GDP;
βi, δi, là các tham số ước lượng;
εt là nhiễu trắng
Trang 32Độ trễ k sẽ được xác định dựa trên các thông tin trên tiêu chí Akaike (AIC) từ
kiểm định ADF và các thông tin tại tiêu chí Newey-West từ kiểm định PP
3.4.3 Th ủ tục kiểm định và ước lượng
Bài nghiên cứu sử dụng hệ thống phương pháp nghiên cứu dựa trên nghiên cứu theo cách tiếp cận trực tiếp kiểm định mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công
của tác giảHamilton và Flavin (1986) và Prohl và Schneider (2006) và theo cách tiếp cận gián tiếp kiểm định mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công thông qua kiểm định thu ngân sách và chi tiêu chính phủ củaTanner và Liu (1994) và Neaime (2015).Sơ đồ chi tiết về phương pháp phân tích định lượng gồm các kiểm định và phương pháp ước lượng được trình bày theo sơ đồ 3.2:
Sơ đồ 3.2: Chi tiết về phương pháp phân tích định lượng
Ngu ồn: R.Carter Hill (2011), Using Eviews for Principles of Econometrics Fourth Edition William E.Griffiths R.Carter, p.494
Đầu tiên, tác giả đi kiểm định tính dừng của các biến bằng cách sử dụng kiểm định tính dừng dữ liệu bảng Fisher (2001) với cận demean của LLC(2002) Theo
Kiểm định giữa thâm hụt ngân sách – nợ công và giữa thu ngân sách – chi tiêu chính phủ
Trang 33Trehan & Walsh (1991) nếu thâm hụt ngân sách và nợ công dừng tại bậc gốc thì ta
kết luận mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công là bền vững Vì lúc này chuỗi thâm hụt ngân sách sẽ tiệm cận về không, nghĩa là thỏa mãn được mô hình ràng buộc ngân sách liên thời gian và phương trình (3) Tương tự, với cách tiếp cận gián tiếp, kiểm định sự tồn tại của nghiệm đơn vị trong chuỗi chi tiêu chính phủ (bao gồm là chi trả nợ: Gt + rt Bt-1) và chuỗi thu ngân sách Nếu hai chuỗi chi tiêu chính phủ và thu ngân sách không có nghiệm đơn vị (tức là tồn tại tính dừng), thâm
hụt ngân sách sẽ dừng tại I(0) và điều kiện mô hình ràng buộc ngân sách liên thời gian sẽ được thỏa mãn dẫn đến mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công là
bền vững và chính sách tài khóa bền vững
Theo Hakkio và Rush (1991), đối với các biến có chuỗi gốc không dừng và
dừng tại sai phân bậc 1 hoặc bậc 2, tác giả tiếp tục tiến hành các kiểm định đồng liên kết dữ liệu bảng để kiểm định mối quan hệ trong dài hạn giữa các biến Nếu hai chuỗi có đồng liên kết tức hai chuỗi có mối quan hệ trong dài hạn, có thể kết luận
rằng hai chuỗi này có mối quan hệ bền vững Nếu hai chuỗi đều không dừng ở bậc
1 hoặc bậc 2 thì kết luận 2 chuỗi này không có mối quan hệ bền vững Nếu mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và nợ công không bền vững thì chính sách tài khóa của các nước cũng sẽ không bền vững Lúc này, thâm hụt ngân sách sẽ tăng không giới hạn theo thời gian, như vậy mô hình ràng buộc ngân sách liên thời gian
và điều kiện ràng buộc ở phương trình (3) sẽ bị vi phạm
Để kiểm định mối quan hệ ngắn hạn giữa thâm hụt ngân sách và nợ công, tác
giả sẽ dựa vào kết quả của kiểm định tính dừng và kiểm định đồng liên kết để lựa
chọn mô hình phù hợp Theo R.Carter Hill (2011),nếu các biến dừng tại bậc gốc, tác
giả sẽ sử dụng mô hình VAR Nếu các biến dừng tại bậc 1 hoặc bậc 2 và có đồng liên kết, tác giả sẽ sử dụng mô hình VECM Nếu các biến không dừng và không có đồng liên kết, tác giả sẽ sử dụng mô hình ARDL
3.4.4 Các ki ểm định thực hiện trong mô hình
Trang 343.4.4.1 Ki ểm định sự tương quan các biến trong mô hình bằng ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến
Hệ số tương quan dùng để chỉ mối quan hệ giữa các biến trong mô hình Dựa vào kết quả ma trận tương quan, tác giả sẽ phân tích mối tương quan giữa các biến phụ thuộc với các biến độc lập trong mô hình và mối tương quan giữa các biến độc lập với nhau Nhằm đo lường mối liên hệ tương quan giữa hai biến tác giả dùng hệ
số tương quan Pearson được giới thiệu bởi Francis Galton (1880) Hệ số này rất nhạy cảm với các yếu tố tác động bên ngoài, độ dao động luôn nằm trong khoảng từ [-1,1] Ở đây tác giả chỉ tập trung nhấn mạnh những hệ số tương quan có trị tuyệt đối lớn hơn 0,6 để thấy được mức độ đa cộng tuyến của các biến trong mô hình
3.4.4.2 Kiểm định tính dừng dữ liệu bảng Fisher (2001)
Theo Baltagi (2005) nếu như số năm quan sát không quá lớn, không vượt quá
25 thời gian để trở thành bảng dữ liệu lớn vấn đề tính dừng trên chuỗi dư liệu không quá nghiêm trọng Tuy vậy, để chắc chắn các biến có cùng bậc 1 để lựa chọn các biến trong kiểm định đồng liên kết trong dữ liệu bảng, tác giả sử dụng kiểm định tính dừng Fisher (2001) với cận demean của LLC(2002) nhằm kiểm soát vấn đề tương quan phụ thuộc chéo trong kiểm định tính dừng Việc này cũng kiểm soát được tính mơ hồ của dữ liệu khi thực hiện phân tích hồi quy các biến để tránh việc hồi quy giả mạo
3.4.4.3 Kiểm định tính đồng liên kết trên dữ liệu bảng
Engle – Granger (1987) cho rằng nếu kết hợp tuyến tính của các chuỗi thời gian không dừng có thể là một chuỗi dừng và các chuỗi thời gian không dừng đó có
xu hướng di chuyển cùng nhau theo thời gian được cho là có mối quan hệ đồng liên kết Kết hợp tuyến tính dừng được gọi là phương trình đồng liên kết và được sử dụng để giải thích cho mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các biến số Và nếu phần
dư trong mô hình hồi quy giữa các chuỗi thời gian không dừng là một chuỗi dừng thì kết quả hồi quy là có giá trị và thể hiện mối quan hệ dài hạn giữa các biến trong
mô hình Hay nói cách khác, nếu tồn tại một cặp chuỗi dữ liệu đồng liên kết, thì sự thay đổi trong một biến phụ thuộc sẽ kéo theo sự thay đổi trong một biến giải thích
Trang 35khác và nếu tồn tại mối quan hệ đồng liên kết thì chúng sẽ có khuynh hướng cùng tìm đến trạng thái cân bằng trong dài hạn Theo đó, kiểm định đồng liên kết theo Engle – Granger (1987) được thực hiện bằng cách đánh giá phần dư của 1 phương trình hồi quy mơ hồ (spurious regression) đối với các biến I(1) Nếu các biến có mối quan hệ đồng liên kết thì các phần dư phải I(0) Ngược lại, nếu các biến không có mối quan hệ đồng liên kết thì các phần dư sẽ là I(1) Pedroni (1999, 2004) và Kao (1999) mở rộng ý tưởng của Engle – Granger để thực hiện các kiểm định liên quan đến dữ liệu bảng
Trong bài nghiên cứu của Kao (1999) mô tả 2 kiểm định với giả thuyết H0 là không có đồng liên kết cho dữ liệu bảng Một là kiểm định loại Dickey-Fuller và hai
là kiểm định loại Augmented Dickey-Fuller.Đối với loại kiểm định Dickey-Fuller, Kao trình bày 2 phần cụ thể
Trong trường hợp 2 biến, Kao xem xét mô hình sau:
,
it it i
y =α +β + i = 1,…, N, t = 1,…, T
Với y it = y it−1+u it, x it =x it−1+εit
i
α là tác động cố định khác nhau trong các quan sát chéo, βlà hệ số chặn, yit
và xitlà các bước ngẫu nhiên độc lập cho tất cả quan sát i
Bây giờ giả thuyết H0 và giả thuyết H1 được viết lại như sau:
2 / 1
)1ˆ