Qua tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước về đánh giá NLTC của các NHTM có thể thấy các nghiên cứu đã có thường chỉ phân tích, đánh giá NLTC tại một hoặc một số ngân hàng cụ thể mà
Trang 1NGUYỄN TÔN NỮ XUÂN DIỄM
ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
2008 – 2014 THEO MÔ HÌNH CAMELS
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TÔN NỮ XUÂN DIỄM
ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2014
THEO MÔ HÌNH CAMELS
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS TRƯƠNG QUANG THÔNG
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên là Nguyễn Tôn Nữ Xuân Diễm, là học viên chuyên ngành Tài chính
- Ngân hàng, Khoa Ngân hàng, Khóa 23 tại trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Tôi xin cam đoan:
Công trình nghiên cứu này do chính tôi thực hiện
Các trích dẫn và các số liệu được trình bày trong luận văn đều được trích dẫn nguồn theo quy định
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về kết quả nghiên cứu trong Luận văn tốt nghiệp của mình
Học viên
Nguyễn Tôn Nữ Xuân Diễm
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 3
1.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 4
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 4
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 5
1.3.3 Đóng góp mới của đề tài 6
1.4 Mục tiêu nghiên cứu 7
1.5 Câu hỏi nghiên cứu 7
1.6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
1.7 Phương pháp nghiên cứu 8
1.8 Kết cấu của luận văn 8
1.9 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 9
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 10
2.1 Năng lực tài chính của ngân hàng thương mại 10
2.1.1 Khái niệm về năng lực tài chính của NHTM 10
2.1.2 Các tiêu chí phản ánh năng lực tài chính của NHTM 12
2.2 Phương thức đánh giá năng lực tài chính của NHTM 20
2.2.1 Phương pháp đánh giá NLTC dựa trên chuẩn mực của Moody’s 20
2.2.2 Phương pháp đánh giá NLTC dựa trên mô hình CAMELS 20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 24
Trang 5CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NHTM VIỆT NAM
THÔNG QUA MÔ HÌNH CAMELS 26
3.1 Hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay 26
3.2 Đo lường và đánh giá Năng lực tài chính của NHTM Việt Nam theo mô hình CAMELS 27
3.2.1 C (Capical Adequacy) – Đủ khả năng về vốn 27
3.2.2 A (Assets Quality) – Chất lượng tài sản 32
3.2.3 E (Earnings) – Khả năng sinh lời 37
3.2.4 L (Liquidity) – Khả năng thanh khoản 42
3.2.5 M (Management) – Chất lượng quản lý 47
3.2.6 S (Sensitivity to market risks) – Nhạy cảm với rủi ro thị trường 49
3.3 Đánh giá chung 54
3.3.1 Những kết quả đạt được 54
3.3.2 Về hạn chế, nguyên nhân 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 60
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 61
5.1 Định hướng chung 61
5.2 Căn cứ đề xuất giải pháp 62
5.2.1 Căn cứ trên định hướng phát triển ngành ngân hàng 62
5.2.2 Căn cứ trên bài học kinh nghiệm tại các quốc gia khác 64
5.2.3 Căn cứ trên kết quả đánh giá năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 65
5.3 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính cho các NHTM Việt Nam 66
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 75 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT Từ viết tắt
1 LNST Lợi nhuận sau thuế
2 LNTT Lợi nhuận trước thuế
3 NH Ngân hàng
4 NHNN Ngân hàng nhà nước
5 NHTM Ngân hàng thương mại
6 NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
7 NHTMNN Ngân hàng thương mại nhà nước
8 NLTC Năng lực tài chính
9 VCSH Vốn chủ sở hữu
10 ROA Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản
11 ROE Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Quy mô vốn chủ sở hữu của 20 NHTM Việt Nam nghiên cứu giai đoạn
2008 – 2014 27
Bảng 3.2: Tỷ lệ CAR của 20 NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 29
Bảng 3.3: Hệ số đòn bẩy tài chính của 20 NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 31
Bảng 3.4: Các ngân hàng sử dụng đòn bẩy tài chính vượt tiêu chuẩn 32
Bảng 3.5: Dư nợ trên tổng tài sản của NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 33
Bảng 3.6: Một số NHTM Việt Nam có tỷ suất dư nợ trên tổng tài sản vượt mức an toàn 34
Bảng 3.7: Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 34
Bảng 3.8: ROA của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 37
Bảng 3.9: Một số ngân hàng có ROA chưa đạt so với tiêu chuẩn đưa ra 39
Bảng 3.10: ROE của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 39
Bảng 3.11: ROE của một số NHTM Việt Nam không đạt mức yêu cầu giai đoạn 2008 – 2014 40
Bảng 3.12: NIM của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 41
Bảng 3.13: Tỷ lệ thanh toán trên tổng tài sản của NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 43
Bảng 3.14: Hệ số đảm bảo tiền gửi của NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 44
Bảng 3.15: Hệ số thanh toán ngắn hạn của NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 45
Bảng 3.16: Dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi của NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 46
Bảng 3.17: Chỉ số chi phí hoạt động của NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 48 Bảng 3.18: Mức chênh nhạy cảm với lãi suất của một số ngân hàng năm 2013 50
Bảng 3.19: Độ nhạy cảm với rủi ro lãi suất của một số ngân hàng năm 2013 52
Bảng 3.20: So sánh ROE của các NHTM Việt Nam với NHTM của một số quốc gia khác năm 2012 59
Trang 8Bảng 3.21: So sánh ROA của các NHTM Việt Nam với NHTM của một số quốc gia khác năm 2012 59
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ nợ xấu bình quân của 20 NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 –
2014 35
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thế giới hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa với những đặc trưng tự do hóa thương mại và tự do hóa tài chính ngày càng mạnh mẽ và rộng khắp
đã và đang chi phối khuynh hướng và cấu trúc vận động của hệ thống tài chính ngân
hàng từng quốc gia
Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng có thể coi là cốt lõi của nền kinh tế với vai trò to lớn trong việc duy trì, cung ứng, điều phối và lưu thông tiền tệ đảm bảo cho toàn bộ hoạt động của nền kinh tế Để hoạt động hiệu quả trên thị trường đòi hỏi các ngân hàng thương mại (NHTM) phải xây dựng và củng
cố một nền tảng nội lực vững chắc, giữ vững vị thế trên thị trường đồng sẵn sàng đương đầu với những thách thức và khó khăn trong cạnh trên thị trường
Tuy nhiên sức ép cạnh tranh trên thị trường tác động đến từng ngân hàng như thế nào còn phụ thuộc một phần vào khả năng thích nghi và NLTC của chính các ngân hàng trong môi trường cạnh tranh gay gắt này Các ngân hàng không có khả năng cạnh tranh sẽ được thay thế bằng các ngân hàng có hiệu quả hơn, điều này cho thấy chỉ có các ngân hàng có NLTC tốt, kinh doanh hiệu quả nhất mới có lợi thế về cạnh tranh Như vậy, NLTC trở thành một tiêu chí quan trọng để đánh giá sự tồn tại của một ngân hàng trong môi trường cạnh tranh quốc tế ngày càng gia tăng và khốc liệt
Thời gian qua, thế giới đã chứng kiến nhiều vụ bê bối tài chính của các ngân hàng lớn như Citibank của Mỹ, Northern Rock của Anh, Deutsche Bank của Đức Nguyên nhân chính đều xuất phát từ NLTC của các ngân hàng Điều này cho thấy, khi các ngân hàng có NLTC vững mạnh thì mới đảm bảo hoạt động kinh doanh ổn định, từ đó nền kinh tế cũng sẽ tăng trưởng vững chắc
Như vậy, có thể thấy việc đánh giá NLTC của một ngân hàng cho thấy ngân hàng đó đang hoạt động như thế nào, khả năng cạnh tranh ở mức nào trên thị trường Các ngân hàng có thể nhìn vào các chỉ số đo lường NLTC của ngân hàng mình để thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, từ đó tìm ra các biện pháp phát
Trang 10triển tiềm lực cũng như khắc phục những hạn chế, những khó khăn để nâng cao NLTC, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động trên thị trường
Trên thế giới tồn tại phổ biến hai phương thức đánh giá NLTC của NHTM Thứ nhất là phương thức đánh giá theo tiêu chuẩn Moody’s theo các chuẩn mực về quy mô vốn chủ sở hữu, khả năng thanh khoản, quy mô và chất lượng tài sản – nguồn vốn Thứ hai là phương thức đánh giá NLTC dựa trên khung mô hình CAMELS Hệ thống CAMELS phân tích sáu khía cạnh truyền thống được xem là quan trọng nhất, phản ánh các điều kiện tài chính và khả năng hoạt động nói chung của một NHTM, bao gồm: C (Capital Adequacy) – Đủ khả năng về vốn, A (Asset Quality) – Chất lượng tài sản, M (Management) – Quản lý, E (Earnings) – Lợi nhuận, L (Liquidity) – Chất lượng tài sản và S (Sensitivity to market risks) – Nhạy cảm với rủi ro thị trường Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số 06/2008/NHNN ngày 12/3/2008 về việc ban hành quy định xếp loại NHTM
cổ phần, trong đó đưa ra tiêu chuẩn đánh giá NLTC của NHTM Các phương diện đánh giá theo văn bản của NHNN bao gồm: Vốn tự có; chất lượng hoạt động; quản trị, kiểm sát, điều hành; kết quả kinh doanh; khả năng thanh khoản
Trong số các phương pháp đánh giá NLTC thì khung mô hình CAMELS mặc
dù vẫn chưa thật sự toàn diện, do hệ thống báo cáo tài chính của các TCTD Việt Nam chưa đủ dữ liệu tin cậy Tuy nhiên, ưu điểm của mô hình CAMELS là các tiêu chí đánh giá năng lực và tình hình tài chính được định lượng và áp dụng đồng nhất với tất cả các ngân hàng Do đó, mô hình vẫn được các nhà quản lý ngân hàng quan tâm và sử dụng rộng rãi trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng từ năm
1970 Phương pháp này cung cấp một công cụ đánh giá không chỉ dựa trên các yếu
tố định lượng chủ yếu qua các chỉ số tài chính mà còn cả định tính để đánh giá phân tích hoạt động của NHTM Do vậy, luận văn này sẽ đi sâu vào việc đo lường, đánh giá NLTC của các NHTM Việt Nam theo mô hình CAMELS, giai đoạn nghiên cứu
là 2008 – 2014
Trang 111.2 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Như đã phân tích, việc đánh giá NLTC của các NHTM Việt Nam là vô cùng quan trọng, vì từ đó các nhà quản lý có thể thấy được hệ thống NHTM hiện nay đang có những điểm mạnh hay yếu kém ở phương diện nào, NLTC của các ngân hàng này ở đâu, có khả năng cạnh tranh trên thị trường hay không Từ đó có thể đưa
ra các quyết định thực hiện cơ cấu lại hệ thống ngân một cách có cơ sở, định hướng việc sáp nhập, hợp nhất cũng có căn cứ khoa học
Bên cạnh đó, khi đánh giá được NLTC của các NHTM sẽ xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến nó và từ đó giúp các nhà quản lý ở cấp độ vi mô, vĩ mô có căn cứ đưa ra các giải pháp khả thi nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể: nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM, đẩy lùi được nguy cơ đổ vỡ, phát triển bền vững và có khả năng cạnh tranh tốt với các ngân hàng liên doanh và ngân hàng nước ngoài hoạt động ở Việt Nam
Để đạt được mục tiêu này thì cần có sự nghiên cứu chuyên sâu và ứng dụng kinh tế lượng trong đo lường và đánh giá về NLTC của hệ thống Ngân hàng Việt Nam Như vậy, hiện nay việc đo lường và đánh giá một cách tổng thể NLTC của các NHTM ở Việt Nam là hết sức quan trọng và có giá trị Bởi vì, nó sẽ hỗ trợ cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản trị ngân hàng và các nhà đầu tư trong việc ra các quyết định trong điều hành, quản lý để hệ thống NHTM hoạt động có hiệu quả, NLTC của các ngân hàng được cải thiện và nâng cao
Xuất phát từ những đòi hỏi mang tính thực tiễn và nhu cầu cấp thiết ở Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh thị trường tài chính có sự cạnh tranh gay gắt như hiện nay, việc nghiên cứu về đo lường, đánh giá NLTC của ngân hàng là vô cùng cần thiết Trên cơ sở đó, luận văn này thực hiện nghiên cứu về đo lường và đánh giá NLTC của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 theo mô hình CAMELS Đây là mô hình được coi là chuẩn mực đối với hầu hết các hệ thống tài chính trên toàn thế giới bởi nó cung cấp một công cụ đánh giá một cách toàn diện, hiện đang được ứng dụng phổ biến trên thế giới
Trang 121.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.3.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu của nhóm tác giả R Alton Gilbert, Andrew P Meyer và Mark D.Vaughan (2002)
Nhóm tác giả này đã nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tài chính theo tiêu chuẩn của mô hình CAMEL Nghiên cứu của nhóm tác giả đã cho thấy khả năng tài chính của các ngân hàng có thể bị tác động bởi C, A, M, E, L Từ
đó tiến hành hồi quy theo Probit để xác định nhân tố ảnh hưởng và kết quả cho thấy khả năng tài chính của các tổ chức tín dụng bị chi phối của các yếu tố như quy mô vốn, khả năng sinh lời, chất lượng tài sản, chất lượng quản lý, khả năng thanh khoản của các tài sản Nghiên cứu không thực hiện phân tích sự tác động của nhân tố S đến năng lực tài chính
Nghiên cứu John Tatom (2008)
Tác giả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tài chính theo tiêu chuẩn của mô hình CAMEL Nghiên cứu của tác giả đã cho thấy đánh giá khả năng tài chính của các ngân hàng có thể bị tác động bởi C, A, M, E, L Sau đó tác giả sử dụng phương pháp hạ cấp để dự báo khả năng thất bại trong tương lai của các tổ chức tín dụng giai đoạn 2003-2007
Nghiên cứu của Parvesh Kumar Aspan (2014)
Trong bài viết, tác giả ứng dụng mô hình CAMELS để đánh giá năng lực tài chính của NHTM Dữ liệu thứ cấp là báo cáo tài chính giai đoạn 2008 – 2012 của
13 NHTM khu vực tư nhân của Ấn độ với để đánh giá và xếp hạng năng lực tài chính Trên cơ sở 5 nhóm chỉ tiêu theo mô hình CAMELS, tác giả đã đánh giá 18 chỉ số liên quan đến CAMELS để đánh giá Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình này có thể áp dụng rộng rãi để đánh giá năng lực tài chính đối với tất cả các NHTM Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu gần đây như Wirnkar A.D và
Tanko M (2008) công bố công trình CAMELS and bank performance evaluation:
Trang 13the way forward; Mohi-ud-Din Sangmi và Tabassum Nazir (2010) công bố công
trình Analyzing financial performance of commercial banks in India: application of
CAMEL model; Litty Denis và Yesha Sheth (2012) công bố công trình Present Scenario of Indian banking industry: An appraisal through CAMEL analysis; S N
Bhatt (2013) công bố công trình An empirical sttudy to evaluate CAMELS rating
system on Indian banks; Sushendra Kumar Mishra và Parvesh Kumar Aspal (2013)
công bố công trình A CAMEL model analysis of state bank group; Gupta PK (2014) công bố công trình An analysis of Indian public sector banks using CAMEL
approach Các nghiên cứu hầu hết ứng dụng khung mô hình CAMELS để phân tích
định lượng, định tính để đánh giá tình hình hoạt động, dự báo xu hướng trong thời gian tới của các ngân hàng trong nước
1.3.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu của Phan Thị Hằng Nga trong Luận án Tiến sỹ đề tài “Năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại Việt Nam”, 2013
Trong nghiên cứu này tác giả đã đánh giá NLTC của các NHTM Việt Nam theo mô hình CAMEL và hồi quy mô hình nhằm kiểm định sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến NLTC của NHTM Tuy nhiên trong nghiên cứu này tác giả chưa phân tích yếu tố thứ 6 trong mô hình CAMELS là S (Sensitivity to market risks) - Nhạy cảm với rủi ro thị trường Nghiên cứu này cũng tập trung nhiều hơn vào việc phân tích và đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến NLTC của các NHTM
Nghiên cứu của Nguyễn Việt Hùng trong Luận án tiến sỹ kinh tế đề tài “Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2005”
Tác giả đã nghiên cứu hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam giai đoạn 2000-2005, trong nghiên cứu tác giả đã xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến NLTC của ngân hàng bằng các tiêu chí theo mô hình CAMEL, sau đó hồi quy với Tobit, kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như: tài sản của ngân hàng, tỷ lệ cho vay trên tỷ lệ tiền gửi, tỷ suất sinh lời trên tài sản, tỷ lệ nợ xấu,… có ảnh hưởng đến
Trang 14NLTC của các NHTM trong giai đoạn đó Tuy nhiên, nghiên cứu chưa mô tả đầy đủ các nhân tố tác động, và cũng chưa cho biết mức độ tác động đến khả năng tài chính của các NHTM
Nghiên cứu của Nguyễn Thu Hiền trong Luận án Tiến sĩ kinh tế “Nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại nhà nước Việt nam trong tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế” năm 2011
Tác giả chỉ tập trung phân tích tại 4 Ngân hàng Thương mại Nhà nước từ 2006
- 2010 Chưa đi sâu khai thác nhóm các Ngân hàng cổ phần trong nước, và thời gian nghiên cứu còn hạn chế
Qua tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước về đánh giá NLTC của các NHTM có thể thấy các nghiên cứu đã có thường chỉ phân tích, đánh giá NLTC tại một hoặc một số ngân hàng cụ thể mà chưa phân tích, đánh giá một cách toàn diện
hệ thống NHTM Việt Nam Ngoài ra, hầu hết các nghiên cứu về đánh giá NLTC của NHTM Việt Nam theo mô hình CAMELS thường chỉ tập trung vào 5 yếu tố mà chưa phân tích toàn diện mô hình 6 yếu tố bao gồm cả S (Sensitivity to market) –
Độ nhạy cảm với thị trường
1.3.3 Đóng góp mới của đề tài
Về phương diện học thuật: Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung
về NLTC, các tiêu chí đánh giá NLTC Do vậy, kết quả nghiên cứu sẽ có những đóng góp nhất định vào việc hoàn thiện khung lý thuyết về NLTC của các NHTM
Về phương diện thực nghiệm: Đề tài đã đi sâu vào nghiên cứu đo lường và đánh giá NLTC của các NHTM Việt Nam theo khung an toàn CAMELS theo mô hình toàn diện bao gồm 6 phương diện, đó là: C (Capital Adequacy) – Đủ khả năng
về vốn, A (Asset Quality) – Chất lượng tài sản, M (Management) – Quản lý, E (Earnings) – Lợi nhuận, L (Liquidity) – Chất lượng tài sản và S (Sensitivity to market risks) – Nhạy cảm với rủi ro thị trường
Trang 15Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu tổng quát cho hầu hết các NHTM tại Việt Nam
1.4 Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu chính của luận văn là tập trung đo lường, phân tích và đánh giá NLTC của các NHTM Việt Nam thông qua các chỉ tiêu theo khung CAMELS Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao NLTC của các NHTM Việt Nam
Để đạt được mục tiêu trên, luận văn đưa ra các mục tiêu cụ thể:
- Đo lường NLTC của NHTM Việt Nam theo mô hình CAMELS
- Đánh giá NLTC của các NHTM Việt Nam theo khung an toàn CAMELS
1.5 Câu hỏi nghiên cứu
Để nghiên cứu này giải quyết tốt mục tiêu nghiên cứu, cần phải làm rõ các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Đo lường NLTC của các NHTM Việt Nam theo mô hình CAMELS?
- NLTC của các NHTM Việt Nam có đảm bảo khung an toàn CAMELS hay không?
- Những hướng tác động có thể nâng cao NLTC của NHTM Việt Nam thời gian tới?
1.6 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam
Trang 16 8 NHTM có tổng tài sản dưới 100.000 tỷ đồng gồm: Southernbank, DongABank, ABBank, HDBank, VIB, OCB, SaigonBank, NCB
Về thời gian: Dữ liệu dùng để thực hiện luận văn được thu thập trong khoảng thời gian từnăm 2008 – 2014
1.7 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp giữa phương pháp thống kê so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp, tư duy logic Phương pháp thống kê so sánh được sử dụng bằng cách thống kê các số liệu thu thập được trong một chuỗi thời gian để lập bảng, biểu diễn trên biểu đồ để so sánh và đánh giá năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam, so sánh mức độ đáp ứng về năng lực tài chính của các NHTMVN với chuẩn mực quốc tế theo mô hình CAMELS Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp kết hợp tư duy logic để tiến hành phân tích chi tiết, lập luận, diễn giải và tổng hợp để trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét về đối tượng nghiên cứu, đồng thời đưa ra giải pháp để nâng cao năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam đến năm 2020
- Nguồn thu thập dữ liệu
Nguồn thu thập dữ liệu chủ yếu từ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính của NHTM, website và ý kiến của cán bộ ngân hàng Qua đó, có thể thu thập các dữ liệu cần thiết, cụ thể, chi tiết theo đúng nhu cầu nghiên cứu Bên cạnh thông tin từ NHTM, có thể tìm kiếm dữ liệu qua các tổ chức cung cấp thông tin chuyên nghiệp như Tổng cục thống kê, Thư viện quốc gia, cơ quan quản lý nhà nước
- Xử lý thông tin
Sử dụng phương pháp suy diễn để lập luận và giải thích đặc điểm của từng chỉ tiêu đánh giá NLTC trong quá trình phân tích số liệu nghiên cứu
1.8 Kết cấu của luận văn
Nội dung luận văn bao gồm 4 chương:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về năng lực tài chính của Ngân hàng thương mại
Trang 17Chương 3: Đo lường và đánh giá năng lực tài chính của NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 theo mô hình CAMELS
Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực tài chính của NHTM Việt Nam
1.9 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Dựa trên những phân tích và trình bày về mô hình CAMELS, luận văn này đã tiến hành phân tích và đánh giá NLTC của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 Qua đó kết quả đánh giá đã cho thấy một bức tranh khá toàn diện về NLTC của các NHTM Việt Nam và từ đó xác định NLTC của các NHTM Việt Nam có tuân theo khung an toàn CAMELS hay không Đồng thời hệ thống lại những vấn đề cơ bản về các công thức định lượng kinh tế và ý nghĩa của nó đối với vấn đề phân tích Phân tích thực trạng tình hình hoạt động của các Ngân hàng thương mại Việt Nam thông qua các chỉ tiêu CAMELS, từ đó để có những gợi ý chính sách nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
Trang 18CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1 Năng lực tài chính của ngân hàng thương mại
2.1.1 Khái niệm về năng lực tài chính của NHTM
Năng lực tài chính không phải là một khái niệm mới, nó được sử dụng rất phổ biến khi đánh giá kết quả hoạt động của một đơn vị kinh doanh, tuy nhiên chưa có một khái niệm chính thống
Theo Từ điển tiếng Việt “Năng lực” có nghĩa là khả năng đủ để làm một công việc nào đó hay “Năng lực” là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó Trong lĩnh vực tài chính, khi đề cập đến năng lực, ta có thể hiểu tức là nói đến khả năng của một chủ thể trên các lĩnh vực hoạt động
Khi đánh giá năng lực của 1 chủ thể, người ta thường xem xét trên nhiều khía cạnh như năng lực hoạt động, năng lực chuyên môn, năng lực điều hành, năng lực cạnh tranh, năng lực tài chính, … Do đó, có thể nói năng lực tài chính là 1 khía cạnh khi đánh giá năng lực của 1 chủ thể Ngoài ra, việc đánh giá năng lực tài chính của mỗi đối chủ thể cũng không giống nhau, do sự khác nhau về đặc điểm, mục tiêu hoạt động của chủ thể đó
Như vậy, với những phân tích trên, năng lực theo cách hiểu của tác giả là “khả năng để thực hiện một mục tiêu đề ra của chủ thể dựa trên một điều kiện môi trường
cụ thể”
Tài chính là một phạm trù có nhiều nhà khoa học đưa ra nhiều quan điểm khác nhau Dựa vào quan điểm của P.J.Drake, theo nghĩa hẹp, tài chính đơn thuần phản ánh hoạt động thu, chi tiền tệ của chính phủ: còn theo nghĩa rộng hơn, tài chính phản ánh các khoản vay và cho vay ảnh hưởng đến mức cung tiền trên thị trường (Drake, 1980)
Trang 19Ngoài ra, theo Giáo trình Nhập môn tài chính tiền tệ của nhóm tác giả Trường Đại học kinh tế TP.HCM (Sử Đình Thành – Vũ Thị Minh Hằng 2008, trang 1-2), đã nêu lên đặc điểm của phạm trù tài chính như sau:
- Tài chính có đặc trưng không chỉ bao gồm các nguồn lực dưới dạng tiền mặt hay các khoản tiền gửi mà còn dưới dạng các tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu hay các công cụ nợ… miễn là các tài sản này được chấp nhận trên thị trường như là các công cụ trao đổi hay chuyển tải giá trị
- Tài chính liên quan đến việc chu chuyển các nguồn tài chính giữa các chủ thể với nhau, từ các chủ thể có nguồn vốn tiết kiệm đến các chủ thể cần vốn
- Sự chu chuyển hay còn gọi là sự chuyển giao các nguồn lực tài chính bao gồm tiến trình: tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính” Xuất phát từ bản chất NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ với hoạt động chủ yếu là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch
vụ thanh toán Do đó, có thể hiểu tài chính NHTM là phương thức tạo lập nguồn vốn và sử dụng vốn của NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu trong hoạt động kinh doanh của NHTM
Trên cơ sở các nội dung phân tích trên, ta có thể hiểu Năng lực tài chính NHTM là khả năng tạo lập nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn để đáp ứng tối đa nhu cầu trong hoạt động kinh doanh của NHTM dựa trên mục tiêu đặt ra của NHTM NLTC của NHTM chính là khả năng tài chính để ngân hàng thực hiện và phát triển các hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả NLTC của ngân hàng không chỉ
là nguồn lực tài chính đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà còn là khả năng khai thác, quản lý và sử dụng các nguồn lực đó phục vụ hiệu quả cho hoạt động kinh doanh.NLTC không chỉ thể hiện sức mạnh hiện tại mà còn thể hiện sức mạnh tài chính tiềm năng, triển vọng và xu hướng phát triển trong tương lai của ngân hàng đó
NLTC của NHTM cần được hiểu khác với NLTC của một doanh nghiệp Bởi
vì NLTC của một doanh nghiệp là nguồn lực tài chính của bản thân doanh nghiệp,
Trang 20là khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán thể hiện ở quy mô vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời,… đủ để đảm bảo và duy trì hoạt động kinh doanh hiệu quả Còn NLTC của một NHTM là khả năng tạo lập nguồn vốn và sử dụng vốn phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng, thể hiện ở quy mô vốn tự có, chất lượng tài sản, chất lượng nguồn vốn, khả năng sinh lời và khả năng đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh
NLTC của một NHTM đóng vai trò vô cùng quan trọng, là năng lực cốt lõi của một ngân hàng Một NHTM có NLTC tốt phải là NHTM luôn duy trì được hoạt động bình thường và phát triển một cách ổn định, bền vững trong mọi điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước và trên thế giới; có khả năng cung cấp tín dụng có hiệu quả và các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế; NHTM luôn đáp ứng đầy
đủ yêu cầu khách hàng về vốn và các dịch vụ ngân hàng phù hợp với quá trình phát triển kinh tế, xã hội trong nước và thế giới NHTM còn phải bảo đảm được sự tồn tại và phát triển của mình một cách an toàn, không xảy ra những đổ vỡ hay phá sản NLTC của một NHTM càng được đảm bảo thì mức độ rủi ro trong hoạt động ngân hàng càng thấp và năng lực cạnh tranh của NHTM trên thị trường càng cao
Do vậy, NLTC của NHTM phải không ngừng được nâng cao và hoàn thiện và đó là điều kiện không thể thiếu được của bất cứ một NHTM nào
2.1.2 Các tiêu chí phản ánh năng lực tài chính của NHTM
Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá NLTC của một NHTM, cơ bản bao gồm các chỉ tiêu như: quy mô vốn, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, chất lượng tài sản, khả năng thanh khoản, khả năng sinh lời, chất lượng điều hành quản lý
Yêu cầu đặt ra đối với hệ thống chỉ tiêu phản ánh NLTC là:
- Phản ánh đúng bản chất của khái niệm NLTC của NHTM là khả năng về tài chính để giúp ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả không chỉ trong ngắn hạn mà cả tiềm năng và xu hướng có tính dài hạn bền vững;
Trang 21- Đáp ứng được mục đích của việc đánh giá là xác định đúng năng lực tài chính
và vị thế so sánh của một NHTM so với các TCTD trên thị trường tài chính trong và ngoài nước;
- Có thể thu thập số liệu thống kê, kế toán và tính toán được;
- Phải phù hợp với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế trong hoạt động tài chính – tiền tệ – ngân hàng và hạch toán, kế toán, thống kê
Cụ thể được thể hiện qua các chỉ tiêu sau:
2.1.2.1 Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu của NHTM là toàn bộ nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ ngân hàng, của các thành viên trong đối tác liên doanh hoặc các cổ đông trong ngân hàng, kinh phí quản lý do các đơn vị trực thuộc nộp lên…
Vốn chủ sở hữu bao gồm hai bộ phận: Vốn của chủ sở hữu ban đầu và vốn của chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động
- Vốn chủ sở hữu ban đầu đối với các NHTM chính là vốn do ngân sách Nhà nước cấp khi mới thành lập (đối với các NHTMNN), do cổ đông góp thông qua việc mua cổ phần hoặc cổ phiếu (đối với các NHTMCP) bao gồm cổ phần thường và các
cổ phần ưu đãi Mức vốn này phải đảm bảo bằng mức vốn pháp định
- Vốn của chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động (Vốn chủ
sở hữu bổ sung) do cổ phần phát hành thêm hoặc do ngân sách Nhà nước cấp bổ sung trong quá trình hoạt động, do chuyển một phần lợi nhuận tích lũy, các quỹ dự trữ, quỹ đầu tư, bổ sung vốn điều lệ, phát hành giấy nợ dài hạn…
Trên bảng cân đối của NHTM, vốn chủ sở hữu bao gồm các khoản mục cơ bản: Vốn điều lệ, lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ Trong đó, vốn điều lệ chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn chủ sở hữu và có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM
Trang 22Nếu quy mô vốn chủ sở hữu càng lớn thì người gửi tiền và người cho vay càng cảm thấy an tâm về ngân hàng (với các điều kiện khác là như nhau) Do đó, vốn của chủ sở hữu được coi là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng
Đồng thời, vốn chủ sở hữu còn thể hiện khả năng tài chính, năng lực hoạt động của một ngân hàng Vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô mở rộng mạng lưới kinh doanh cũng như quy mô hoạt động của NHTM: Khả năng huy động vốn, khả năng mở rộng tín dụng, dịch vụ, khả năng đầu tư tài chính, trình độ trang bị công nghệ Ngoài ra, vốn tự có là đối tượng mà các cơ quan quản lý ngân hàng thường căn cứ vào đó để xác định các tỷ lệ an toàn và ban hành những quy định nhằm điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng, là tiêu chuẩn để xác định mức độ an toàn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Tiêu chuẩn quốc tế quy định ngân hàng không được cho vay quá 15% vốn và thặng dư vốn đối với một khách hàng Đối với các khoản vay được đảm bảo an toàn thì giới hạn này là 25% Với mức vốn lớn đồng nghĩa với việc ngân hàng được phép cho vay những dự án lớn, từ đó làm tăng quy mô tín dụng và tăng quymô tổng tài sản
Vốn chủ sở hữu tác động đến khả năng huy động vốn thông qua chỉ tiêu Hệ
số đòn bẩy
Hệ số đòn bẩy = Tổng tài sản nợ bình quân
Vốn chủ sở hữu bình quân Bảo đảm an toàn và phát triển vốn là nguyên tắc cơ bản và xuyên suốt trong hoạt động kinh doanh của NHTM Để đảm bảo an toàn cho phần tài sản có chứa đựng rủi ro, ngân hàng cần duy trì một mức vốn tự có cần thiết được đo bằng tỷ lệ vốn an toàn tối thiểu Theo quy định của hiệp ước BASEL và theo quy định tại thông tư 13/2010/TTNHNN, tỷ lệ an toàn vốn (viết tắt là CAR: Capital Adequacy Ratio), tỷ lệ này được xác định như sau:
Tỷ lệ an toàn vốn =
Vốn tự có Tổng tài sản “Có” rủi ro
Trang 23Trong đó vốn tự có được xác định bằng vốn cấp 1 cộng vốn cấp 2 Vốn cấp 1
là vốn chủ sở hữu chỉ bao gồm: Vốn tự có (vốn góp, vốn cấp), lợi nhuận không chia, thu nhập từ công ty con, tài sản vô hình Vốn cấp 2 là vốn được sử dụng ổn định, bao gồm: Các khoản dự phòng tổn thất, các khoản nợ cho phép chuyển thành vốn chủ sở hữu, nợ thứ cấp (nợ có tính chất dài hạn)
Hệ số CAR theo chuẩn Basel I, II, và gần đây nhất là Basel III (vẫn còn trong
lộ trình chuyển đổi và thực hiện đầy đủ vào năm 2019) vẫn giữ tối thiểu là 8% Theo thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 thì mức CAR quy định ở mức tối thiểu là 9%
2.1.2.2 Nhóm chỉ tiêu về quy mô và chất lượng tài sản
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán Vì vậy để tăng trưởng tổng tài sản sẽ không chỉ phụ thuộc vào sự tăng trưởng của tài sản có mà còn phụ thuộc vào sự tăng trưởng của tài sản
nợ của ngân hàng
Tài sản
Nội dung hoạt động chủ yếu của một ngân hàng thể hiện ở phía tài sản Quy
mô, cơ cấu và chất lượng tài sản có sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển của NHTM Tài sản có bao gồm tài sản sinh lời (chiếm từ 80-90% tổng tài sản có) và tài sản không sinh lời (chiếm từ 10-20% tổng tài sản có) Khi nói đến tăng trưởng của tổng tài sản là nói đến quy mô của hoạt động tín dụng và hoạt động đầu tư Chất lượng tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền vững về tài chính, năng lực quản lý của một NHTM Đánh giá quy mô, chất lượng tài sản được thể hiện qua các chỉ tiêu: Tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản, tính đa dạng hoá trong tài sản, tổng dư nợ, tốc độ tăng trưởng của dư nợ, tỷ trọng dư nợ trên tổng tài sản có, tỷ lệ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, tình hình đảm bảo tiền vay…
Bên cạnh hoạt động tín dụng, hoạt động đầu tư cũng góp phần tăng quy mô tổng tài sản của ngân hàng Các khoản đầu tư trên bảng cân đối kế toán gồm các khoản mục: chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư và góp vốn đầu tư dài
Trang 24hạn Hoạt động đầu tư được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như: Quy mô, tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ dự phòng giảm giá chứng khoán…
Trong điều kiện hội nhập quốc tế, các yếu tố về biến động chính trị, sự thay đổi của chính sách và luật pháp của nước ngoài, sự biến động của các đồng tiền quốc gia… sẽ ảnh hưởng đến tình hình sử dụng tài sản ở nước ngoài, mối tương quan giữa tài sản nước ngoài và tài sản ngoại tệ trong tổng tài sản của ngân hàng
Nguồn vốn
Khi quy mô huy động vốn càng tăng cũng làm tăng tổng tài sản Quy mô, chất lượng nguồn vốn được thể hiện ở tổng nguồn vốn mà ngân hàng huy động được với chí phí thấp, tính ổn định cao và có cơ cấu hợp lý, đáp ứng được yêu cầu về cho vay, đầu tư Nâng cao chất lượng nguồn vốn có thể hiểu là các hoạt động liên quan đến việc cung cấp cho các nhu cầu về tín dụng, đầu tư, thanh khoản với các nguồn vốn phù hợp về kỳ hạn và lãi suất Điều này đòi hỏi ngân hàng phải cân nhắc các rủi
ro, sự ổn định của nguồn vốn để có thể đầu tư vào các dự án có thời gian dài cũng như sự chênh lệch giữa chi phí vay vốn với mức lợi nhuận có thể thu được khi vốn được đầu tư vào tín dụng và giấy tờ có giá… Các chỉ tiêu để đánh giá quy mô, chất lượng nguồn vốn như: Tổng nguồn vốn, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn, cơ cấu nguồn vốn, thị phần huy động vốn, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn trên tài sản ngắn hạn, lãi suất huy động bình quân…
Muốn tăng trưởng tổng tài sản bền vững đòi hỏi phải nghiên cứu mối tương quan giữa cơ cấu tài sản và nguồn vốn Qua mối tương quan này sẽ đánh giá được tính tối ưu trong cơ cấu tài sản - nguồn vốn, khả năng phản ứng của ngân hàng trước những hiện tượng bất thường của môi trường kinh doanh và đáp ứng yêu cầu rút tiền của công chúng Sự phối hợp hiệu quả sẽ giúp ngân hàng tối đa hoá thu nhập đồng thời kiểm soát chặt chẽ các rủi ro
2.1.2.3 Khả năng sinh lời
Khả năng sinh lời phản ánh kết quả hoạt động, đánh giá hiệu quả kinh doanh
và mức độ phát triển của một NHTM Đứng trên góc độ từ NHTM, thì một NHTM
Trang 25có khả năng sinh lời cao sẽ có khả năng tích luỹ cao, sẽ có điều kiện trang bị, đầu tư công nghệ, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ thu hút khách hàng; mặt khác đứng trên góc độ nhà đầu tư, người gửi tiền sẽ quyết định giao dịch khi nhìn thấy NHTM
đó có thể an toàn do có thể bù đắp rủi ro, từ đó tạo điều kiện tăng trưởng tổng tài sản
Theo thông lệ quốc tế người ta thường đo lường khả năng sinh lời của NHTM bằng các chỉ tiêu định lượng: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận (cho biết lợi nhuận được hình thành từ nguồn nào) và đặc biệt là các chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận ròng trên vốn tự có (ROE), lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA), thu nhập lãi cận biên (NIM)…
(1) Tỷ lệ thu nhập/tổng tài sản có (ROA – Return on Assets)
ROA (%) =
Lợi nhuận sau thuế x 100 Tổng tài sản có
Tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản (ROA) thể hiện khả năng của đơn vị trong việc
sử dụng các tài sản của mình để tạo ra lợi nhuận ROA càng cao thể hiện hiệu quả kinh doanh cao của ngân hàng với cơ cấu tài sản sinh lời và không sinh lời khá hợp lý.Tuy nhiên, ROA quá cao không phải là tín hiệu tốt đối với các ngân hàng vì trong tình huống đó, ngân hàng đang rơi vào tình trạng rủi ro cao do lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro có mối quan hệ thuận chiều
(2) Tỷ lệ thu nhập/Vốn chủ sở hữu (ROE – Return on equity)
Tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu thể hiện 1 đồng vốn chủ sở hữu của ngân hàng sẽ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một thời gian nhất định (thường là
Trang 26NIM (%) =
Tổng thu nhập từ lãi – Tổng chi phí từ lãi
x 100 Tổng tài sản có sinh lời (hoặc tổng tài sản có)
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên ròng (NIM) đo lường khả năng sinh lời cơ bản từ hoạt động cho vay của đơn vị theo mức tài sản có sinh lời bình quân
(4) Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi biên ròng (NNIM)
NNIM (%) =
Tổng thu nhập phi lãi – Tổng chi phí phi lãi
x 100 Tổng tài sản có
Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên ròng đo lường khả năng sinh lời của các sản phẩm phi tín dụng của đơn vị theo mức tài sản có sinh lời bình quân
(5) Hệ số thu nhập hoạt động cận biên
Sử dụng các chỉ tiêu trên đây để so sánh giữa các thời kỳ, so sánh với các NHTM khác, so sánh với mức bình quân hoặc so sánh với dự kiến sẽ cho thấy khả năng sinh lời cao hay thấp, NLTC ở mức độ nào Khả năng sinh lời phụ thuộc rất nhiều vào mức độ nợ xấu của NHTM theo chiều hướng nghịch
2.1.2.4 Khả năng thanh khoản
Khả năng thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn
có thể dung để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh Rủi ro thanh khoản xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán
Khả năng thanh khoản của một ngân hàng thể hiện qua chỉ tiêu định lượng: Khả năng thanh toán tức thì, khả năng thanh toán nhanh, chỉ tiêu thanh khoản (cho biết tỷ trọng tài sản thanh khoản (dưới 1 năm) trên tổng tài sản), và chỉ tiêu đánh giá định tính về năng lực quản lý thanh khoản của NHTM và đặc biệt là khả năng quản lý rủi ro thanh khoản của ngân hàng đó Theo thông lệ quốc tế, chỉ tiêu thanh
Trang 27khoản đạt 30% được coi là an toàn, đảm bảo cho ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầu rút tiền hay thanh toán tức thời với số lượng lớn
Ngoải ra, chỉ tiêu thanh khoản được thể hiện qua khả năng bù đắp khi xảy ra rủi ro Khả năng bù đắp rủi ro là khả năng tài chính bù đắp tổn thất khi xảy ra rủi ro, NHTM thực hiện trích DPRR vào chi phí hoạt động thông qua việc trích lập dự phòng cho phần giá trị tài sản "Có" có khả năng không thể thu hồi được
Quy mô DPRR đến mức độ nào phụ thuộc vào quy mô nợ xấu Nếu nợ xấu tăng lên thì DPRR cũng phải tăng lên để bù đắp rủi ro, có nghĩa là khả năng tài chính cho phép sử dụng để bù đắp tổn thất có thể xẩy ra Ngược lại, nợ xấu tăng (hoặc không tăng) nhưng dự phòng không đủ để bù đắp có nghĩa là tình trạng tài chính xấu và năng lực bù đắp bởi chi phí bị hạn hẹp
Mức độ DPRR được tính:
Mức độ DPRR (%) =
Tổng mức dự phòng nợ xấu x 100%
Tổng số nợ xấu
2.1.2.5 Chất lượng điều hành quản lý
Năng lực và chất lượng quản lý là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Nói đến chất lượng và năng lực quản lý là nói đến yếu tố con người trong bộ máy quản lý và hoạt động, thể hiện ở các nội dung:
- Đề ra được các chính sách kinh doanh đúng đắn và có hiệu quả;
- Xây dựng các thủ tục quản lý, điều hành các quy trình nghiệp vụ hợp lý, sát thực và đúng pháp luật;
- Tạo lập được cơ cấu tổ chức hợp lý, vận hành hiệu quả;
- Giảm thiểu rủi ro về đạo đức trong hệ thống quản lý
Ngoài ra, chất lượng và năng lực quản lý còn thể hiện ở khả năng nắm bắt kịp thời những tình huống bất lợi, nhận biết sớm các nguy cơ rủi ro tiềm ẩn đe doạ sự
an toàn của ngân hàng để đưa ra những biện pháp đối phó kịp thời Chất lượng quản
lý cuối cùng được phản ánh ở tình hình tuân thủ đầy đủ luật pháp cũng như các quy chế hoạt động, hiệu quả kinh doanh và mức lợi nhuận thu được tăng lên, duy trì được khả năng thanh toán, sức cạnh tranh và vị thế của ngân hàng trên thị trường
Trang 28ngày một nâng cao, ngân hàng luôn phát triển bền vững trước những biến động trong và ngoài nước
2.2 Phương thức đánh giá năng lực tài chính của NHTM
2.2.1 Phương pháp đánh giá NLTC dựa trên chuẩn mực của Moody’s
Moody’s là một tổ chức xếp hạng độc lập, xếp hạng tín nhiệm Ngân hàng của Moody’s bao gồm hai nhóm xếp hạng chính: Xếp hạng năng lực tài chính của ngân hàng và xếp hạng tiền gửi của ngân hàng Việc đánh giá năng lực tài chính ngân hàng được xem xét trên một số tiêu chí:
- Về quy mô vốn chủ sở hữu: Theo nghiên cứu của tổ chức này, một ngân
hàng nên phải có mức vốn chủ sở hữu tối thiểu để có thể chống đỡ với rủi ro Khuyến cáo đưa ra là mức vốn chủ sở hữu của một ngân hàng phải đạt mức khá của một ngân hàng trong khu vực là 1 tỷ USD
- Chỉ tiêu thanh khoản: Chỉ tiêu này được xác định giữa các tài sản có thời
hạn dưới một năm so với tổng tài sản Tỷ lệ này nên ở mức ngưỡng tối thiểu
là 30%
- Quy mô, chất lượng tài sản và nguồn vốn: Tốc độ tăng trưởng bình quân
nên duy trì là: Tài sản là 25%; Nguồn vốn là 23%; Tín dụng 15%; Đầu tư 31%; CAR 12%; Nợ xấu dưới 2% tổng dư nợ; ROA lớn hơn hoặc bằng 1%; ROE trong khoảng từ 12% - 15%; Cơ cấu dư nợ/ Tổng tài sản có nhỏ hơn hoặc bằng 60%.( Theo Financial Factors of Moody’s Bank Rating Methodology)
2.2.2 Phương pháp đánh giá NLTC dựa trên mô hình CAMELS
2.2.2.1 Giới thiệu chung về mô hình CAMELS
Hệ thống xếp hạng CAMELS là hệ thống đánh giá định chế tài chính thống nhất (The Uniform Financial Institutions Rating System - UFIRS) được Hội đồng kiểm tra định chế tài chính liên bang (FFIEC) – Hoa Kỳ thông qua vào ngày 13/11/1979 Hệ thống xếp hạng CAMELS là một hệ thống đánh giá giám sát ban đầu được phát triển tại Hoa Kỳ để phân loại tình trạng chung của một ngân hàng
Trang 29Nó được áp dụng cho tất cả các ngân hàng và Hội tín dụng tại Hoa Kỳ (khoảng 8.000 tổ chức) và cũng được thực hiện bên ngoài nước Mỹ bởi nhiều nhà quản lý giám sát ngân hàng
Ban đầu, CAMEL là năm chữ cái viết tắt của năm yếu tố mà hệ thống này
đánh giá, đó là: C (Capital Adequacy) – Đủ khả năng về vốn; A (Asset Quality) – Chất lượng tài sản; M (Management) – Quản lý; E (Earnings) – Lợi nhuận; L (Liquidity) – Chất lượng tài sản
Ngày 20/12/1996, Hệ thống đánh giá định chế tài chính thống nhất bản chỉnh sửa nhằm điều chỉnh cho phù hợp với những biến động của ngành ngân hàng cũng như những sửa đổi trong các điều luật của các tổ chức giám sát liên bang được thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/1/1997 Sau đó, hệ thống này đã tiếp tục được nghiên cứu Theo đó, hệ thống đánh giá được bổ sung thêm yếu tố thứ sáu là S (Sensitivity to market risks) – Nhạy cảm với rủi ro thị trường và mang tên đầy đủ
mô hình CAMELS như hiện nay Từ đó đến nay, hệ thống này vẫn được sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá, xem xét các NHTM không chỉ ở Hoa Kỳ mà trên toàn thế giới
Mỗi nhân tố trong mô hình CAMELS được tính trên thang điểm từ 1 đến 5, được các cơ quan giám sát ngân hàng sử dụng để đánh giá tình hình của ngân hàng Xếp hạng cấp 1 được dành cho các ngân hàng có xếp hạng thành quả mạnh nhất; các ngân hàng được xếp hạng CAMELS 4 và 5 được liệt vào danh sách ngân hàng cần có sự chú ý giám sát Các xếp hạng CAMELS được trình cho ban quản trị ngân hàng, mặc dù không được công bố rộng rãi
CAMEL = 1: tổ chức tài chính về cơ bản tốt trên mọi phương diện
CAMEL = 2: tổ chức tài chính về cơ bản tốt nhưng có một vài điểm yếu kém CAMEL = 3: tổ chức tài chính có yếu kém về tài chính, hoạt động hoặc vấn đề tuân thủ khiến cơ quan giám sát phải xem xét
CAMEL = 4: tổ chức tài chính có nhiều yếu kém về tài chính có thể gây ảnh hưởng đến đổ vỡ trong tương lai
Trang 30CAMEL = 5: tổ chức tài chính có yếu kém nghiêm trọng về tài chính khiến cho khả năng phá sản rất cao trong khoảng thời gian gần
2.2.2.2 Nội dung các chỉ tiêu đánh giá trong mô hình CAMELS
2.2.2.1.1 C (Capital Adequacy) – Đủ khả năng về vốn
Đây là phần vốn chủ sở hữu của NHTM và khả năng của NHTM đáp ứng các món vay ngày càng mở rộng cũng như các định hướng phát triển tài sản tiềm năng
mà NHTM cần đạt được Hệ thống phân tích CAMELS xem xét khả năng của NHTM trong việc huy động thêm vốn chủ sở hữu trong trường hợp thua lỗ và khả năng cũng như chính sách để thiết lập dự trữ trong trường hợp có rủi ro hoạt động
Bộ chỉ số sử dụng đo lường
- Quy mô vốn chủ sở hữu
- Tuân thủ quy định về mức vốn tối thiểu cần thiết (CAR) – (8%)
- Hệ số đòn bẩy tài chính L = Tổng tài sản/Vốn chủ sở hữu (trung bình 12.5 lần)
2.2.2.1.2 A (Asset Quality) - Chất lượng tài sản
Chất lượng nói chung của các món vay và các tài sản khác, bao gồm các khoản cho vay cơ sở hạ tầng Điều này đòi hỏi việc xem xét phải xem xét sự phù hợp của hệ thống phân loại các món vay, quá trình thu thập thông tin và các chính sách xoá nợ
- Dư nợ trên tổng tài sản = Dư nợ tín dụng/Tổng tài sản “Có”
- Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ (Việt Nam : 3%)
2.2.2.1.3 M (Management) –Quản lý
Các chính sách về quản lý con người, các chính sách quản lý chung của tổ chức, các hệ thống thông tin, các chế độ kiểm soát và kiểm toán nội bộ, các kế hoạch chiến lược và ngân sách đều được xem xét một cách riêng rẽ để phản ảnh toàn bộ chất lượng của hoạt động quản lý, phân tích nhân sự và phong cách làm việc của: Hội đồng quản trị; Ban quản lý; Mối quan hệ giữa hai bên…
Kết quả của chất lượng quản lý: Chi phí hoạt động/tổng tài sản
Trang 312.2.2.1.4 E (Earnings) –Lợi nhuận
Đây là nhân tố quan trọng của việc phân tích doanh thu và chi phí, bao gồm cả mức độ hiệu quả của hoạt động và chính sách lãi suất cũng như các kết quả hoạt động tổng quát được đo lường bằng các chỉ số Phân tích khả năng tạo đủ thu nhập
để bù đắp chi phí và tăng vốn bền vững Các chỉ tiêu sử dụng:
- ROA phải đạt lớn hơn 1%; ROE phải đạt từ 15% trở lên (Theo AIA’Camel Aproach for Bank Analysis, 1996)
- Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) = (Thu lãi cho vay và đầu tư chứng khoán –Chi trả lãi tiền gửi và nợ khác)/Tổng tài sản sinh lời bình quân
- Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NNIM) = (Thu ngoài lãi – Chi trả ngoài lãi)/Tổng tài sản sinh lời bình quân
2.2.2.1.5 L (Liquidity – Khả năng thanh khoản)
Đây là nhân tố được sử dụng khi phân tích khả năng của tổ chức trong việc xác định nhu cầu tài trợ cho dự án nói chung cũng như nhu cầu vốn cho vay nói riêng Cấu trúc nợ và vốn chủ sở hữu của tổ chức, khả năng thanh toán của các tài sản ngắn hạn cũng là một nhân tố rất quan trọng trong việc đánh giá tổng quan khả năng quản lý tính lỏng của tổ chức
Khả năng thanh khoản:
- Tỷ lệ thanh khoản của tài sản = tài sản thanh khoản/tổng tài sản
- Hệ số đảm bảo tiền gửi = tài sản thanh khoản/tổng tiền gửi
- Hệ số thanh khoản ngắn hạn = tài sản thanh khoản/tổng nợ ngắn hạn
- Tỷ lệ dư nợ cho vay và tiền gửi = tổng dư nợ cho vay/tổng tiền gửi
2.2.2.1.6 Nhạy cảm với rủi ro thị trường (Sensitivity to market risks)
Độ nhạy cảm với rủi ro thị trường phản ánh mức độ mà các thay đổi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá hàng hoá hay giá cổ phiếu có thế tác động đến thu nhập hoặc vốn kinh tế của ngân hàng Khi đánh giá chỉ tiêu này, cần xem xét: khả năng của Ban lãnh đạo trong việc xác định, đo lường, giám sát và kiểm soát rủi ro thị
Trang 32trường, quy mô ngân hàng, bản chất và tính phức tạp của các hoạt động, và độ thích hợp giữa vốn và thu nhập với mức độ rủi ro thị trường
Trang 33(Capital Adequacy) – Đủ khả năng về vốn, A (Asset Quality) – Chất lượng tài sản,
M (Management) – Quản lý, E (Earnings) – Lợi nhuận, L (Liquidity) – Chất lượng tài sản và Nhạy cảm với rủi ro thị trường (Sensitivity to market risks)
Toàn bộ nội dung này được dùng làm cơ sở cho việc phân tích chi tiết ở chương 3 tiếp theo sau
Trang 34CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NHTM VIỆT NAM THÔNG QUA MÔ HÌNH CAMELS
3.1 Hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay
3.1.1 Ngân hàng thương mại Nhà nước
Ngân hàng thương mại Nhà nước được thành lập, tổ chức dưới hình thức công
ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ Chi tiết danh sách các NHTM NN tại Phụ lục 1
3.1.2 Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP)
Ngân hàng được thành lập dưới hình thức công ty cổ phần Vốn do các cổ đông đóng góp, trong đó có các doanh nghiệp Nhà nước, tổ chức tín dụng, tổ chức khác, và cá nhân cùng góp vốn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Loại hình ngân hàng này hiện tại nhỏ hơn NHTMNN về quy mô nhưng về số lượng thì nhiều hơn và ngày càng tỏ ra năng động và nhanh chóng đổi mới công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập
Trong những năm gần đây, số lượng các NHTM tại Việt Nam tăng lên nhanh chóng nhưng trong đó, nhiều ngân hàng quy mô nhỏ hoạt động thiếu hiệu quả Do
đó, với sự chỉ đạo của NHNN, nhiều vụ sáp nhập giữa các ngân hàng đã diễn ra, ví
dụ như PGBank sáp nhập Vietinbank, MHB sáp nhập BIDV, Habubank sáp nhập SHB… Tính đến thời điểm sau ngày 14/9/2015, số lượng NHTMCP tại Việt Nam là
31 ngân hàng Trong đó, Ngân hàng TMCP Dầu khí toàn cầu đã chuyển thành Ngân hàng TNHH MTV do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ kể từ ngày 7/7/2015 Ngân hàng TMCP Phát triển Mê Kong MDB đã chính thức sáp nhập với Maritime Bank từ 21/7/2015 Ngân hàng TMCP Phương Nam đã chính thức sáp nhập với Sacombank từ ngày 14/9/2015
Danh sách các Ngân hàng thương mại cổ phần chi tiết ở phụ lục 2
Trang 353.2.1 C (Capical Adequacy) – Đủ khả năng về vốn
3.2.1.1 Quy mô vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu của NHTM được coi là một trong những thước đo về sức mạnh tài chính của mỗi Ngân hàng Nó là tấm đệm giúp chống lại rủi ro phá sản của ngân hàng, cũng là nguồn bù đắp trong tình trạng xấu nhất khi ngân hàng bị mất vốn trong quá trình kinh doanh, đảm bảo khả năng duy trì hoạt động, là nguồn cung cấp năng lực tài chính, điều tiết sự tăng trưởng và phát triển ngân hàng Chính vì vậy, mà trong nhiều năm trở lại đây, các NHTM Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc gia tăng vốn chủ sở hữu để đảm bảo tuân thủ theo quy định pháp luật cùng như thực hiện chiến lược gia tăng năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong bối cảnh hội nhập Quy mô vốn chủ sở hữu các NHTM Việt Nam thực tế giai đoạn 2008 – 2014 được thống kê theo bảng sau:
Bảng 3.1: Quy mô vốn chủ sở hữu của 20 NHTM Việt Nam nghiên cứu giai đoạn 2008 – 2014
Trang 36(Nguồn: Tổng hợp báo cáo tài chính 20 NHTM Việt Nam từ 2008 – 2014)
Theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ về ban hành Danh mục mức vốn pháp định của các tổ chức tín dụng, yêu cầu các NHTMCP phải đạt mức vốn pháp định 1.000 tỷ đồng vào năm 2008 và 3.000 tỷ đồng vào 31/12/2010 Tuy nhiên, thực tế cho thấy phải đến đầu năm 2012 hầu hết các ngân hàng mới đáp ứng được mức vốn pháp định 3.000 tỷ Đối với chuẩn mực quốc tế dựa trên mức chuẩn của Moody’s khuyến cáo, thì mức vốn chủ sở hữu của một ngân hàng nên đạt mức khá của một ngân hàng trong khu vực là 1 tỷ USD
Qua số liệu cho thấy quy mô VCSH của các NHTM đã không ngừng tăng qua các năm Trong đó, năm 2010 là năm tăng mạnh nhất Mặc dù vậy, quy mô vốn của các ngân hàng Việt Nam vẫn còn rất nhỏ và có sự chênh lệch lớn giữa nhóm các NHTMCP và nhóm NHTMNN Tính đến thời điểm 31/12/2014, Vietinbank là ngân hàng có quy mô vốn chủ sở hữu lớn nhất hệ thống Sau nhóm các NHTMCP Nhà
Trang 37nước thì Sacombank, Eximbank, MBbank, ACB, Techcombank và SHB là các ngân hàng có quy mô vốn chủ sở hữu lớn hơn 10.000 tỷ đồng Nhóm còn lại bao gồm MDB, VPBank, Southernbank, DongABank, ABBank, VIB, OCB, HDBank, SAIGONBANK và NCB là các ngân hàng có vốn chủ sở hữu dưới 10.000 tỷ đồng NCB là Ngân hàng có VCSH nhỏ nhất trong số 20 ngân hàng nghiên cứu
3.2.1.2 Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) là một trong những tiêu chuẩn quan trọng trong việc đánh giá tổ chức tín dụng về mặt rủi ro kinh doanh cũng như NLTC
CAR của các NHTM Việt Nam được xác định như sau:
Tỷ lệ an toàn vốn =
Vốn tự có Tổng tài sản “Có” rủi ro (Nguồn: Thông tư 13/2010/TT-NHNN quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng)
Để đảm bảo an toàn trong hoạt động, bên cạnh việc đáp ứng mức vốn pháp định thì các NHTM còn phải chấp hành quy định về hệ số an toàn vốn tốn thiểu CAR Theo khuyến cáo của Basel 2 thì các ngân hàng phải đạt CAR từ 8% Căn cứ vào đó, NHNN Việt Nam cũng đã ban hành thông tư 13/2010/TT - NHNN ngày 20/5/2010 và có hiệu lực từ 1/10/2010 (đã được thay thế bởi thông tư 36/2014/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/2/2015), quy định tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu các ngân hàng phải đạt từ 9%
Bảng 3.2: Tỷ lệ CAR của 20 NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014
Trang 38(Nguồn: Tổng hợp báo cáo thường niên 20 NHTM Việt Nam từ 2008 – 2014)
Qua bảng số liệu trên cũng có thể thấy rằng mức CAR của 20 ngân hàng nghiên cứu trong giai đoạn 2008 – 2014 đều đáp ứng chỉ tiêu về tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của NHNN là 9%, cũng như là chuẩn Basel 2 là 8% Trong đó, một
số ngân hàng duy trì tỷ lệ CAR khá cao, thường xuyên ở mức trên 10% đó là Eximbank, ABBank, Saigonbank, VIB Ngược lại, nhóm Ngân hàng TMCP Nhà nước Agribank, Vietinbank, BIDV, Vietcombank có chỉ số CAR ổn định và thấp hơn
3.2.1.3 Hệ số đòn bẩy tài chính
Các doanh nghiệp nói chung và các ngân hàng nói riêng đều sử dụng nợ nhằm
bổ sung vốn phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh Việc sử dụng đòn bẩy tài chính có tính hai mặt:
Nếu sử dụng đúng và hiệu quả thì nó có tác dụng tích cực cho ngân hàng như:
Lá chắn thuế, tăng tỷ suất sinh lời cho chủ sở hữu vốn và đa dạng hóa được danh mục đầu tư Nếu sử dụng không thích hợp kém hiệu quả thì đòn bẩy tài chính có tác
Trang 39dụng ngược như: làm giảm tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu và làm tăng nguy cơ phá sản cho ngân hàng
Chỉ số đòn bẩy tài chính được xác định qua công thức:
Đòn bẩy tài chính =
Tổng tài sản bình quân Vốn chủ sở hữu bình quân Kết quả đo lường hệ số đòn bẩy tài chính qua mẫu 20 NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2014 như sau:
Bảng 3.3: Hệ số đòn bẩy tài chính của 20 NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 –
Trang 40Sử dụng đòn bẩy là một trong các yếu tố làm tăng hiệu quả cho ngân hàng và các NHTM Việt Nam cũng tận dụng tốt yếu tố này và ở mức phù hợp so với chuẩn của CAMELS đưa ra là không được vượt quá 12 lần Tuy nhiên có một số ngân hàng sử dụng đòn bẩy quá lớn so với mức chuẩn quy định, mức hệ số đòn bẩy cao nhất lên tới hơn 20% Nếu sử dụng đòn bẩy quá lớn dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh khoản cũng như sự sụp đổ của ngân hàng
Cụ thể các ngân hàng sau đây sử dụng đòn bẩy vượt mức quy định:
Bảng 3.4: Các ngân hàng sử dụng đòn bẩy tài chính vƣợt tiêu chuẩn
Ngân hàng
Hệ số đòn bẩy tài chính Năm
(Nguồn: Tính toán theo báo cáo tài chính các NHTM Việt Nam từ 2008 - 2014)
3.2.2 A (Assets Quality) – Chất lƣợng tài sản
3.2.2.1 Dƣ nợ trên tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết khoản cho vay chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng tài sản Chỉ tiêu này lớn cho thấy khả năng cho vay của ngân hàng là rất tốt, tuy nhiên nếu tỷ lệ này quá lớn lại dẫn đến khả năng thanh khoản của NHTM giảm
Chỉ tiêu này được xác định như sau:
Dư nợ trên tổng tài sản =
Tổng dư nợ tín dụng Tổng tài sản Bảng số liệu dưới đây mô tả tình hình dư nợ trên tổng tài sản của hệ thống NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2014