1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận nghiên cứu tại các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán hà nội

116 328 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Healy và Whalen 1999 cho rằng khi các nhà quản trị sử dụng những xét đoán của mình trên báo cáo tài chính và trong cơ cấu của nghiệp vụ kinh tế phát sinh để làm thay đổi báo cáo tài chín

Trang 1

NGUYỄN THỊ TOÀN

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NH NGHIÊN CỨU TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO

DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2016

Trang 2

NGUYỄN THỊ TOÀN

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN – NGHIÊN CỨU TẠI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO

DỊCH CHỨNG KHOÁN HÀ NỘI

Chuyên ngành: KẾ TOÁN

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN THỊ THU

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận – Nghiên cứu tại các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán

Hà Nội” là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi và hoàn thành dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Các thông tin, số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là hoàn toàn trung thực Luận văn chưa từng được tác giả công bố dưới bất kỳ hình thức nào

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan trên

Nguyễn Thị Toàn

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ BIỂU ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1.Tính cấp thiết của đề tài 1

2.Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 3

3.Đối tượng nghiên cứu và phạm vi của nghiên cứu 4

4.Phương pháp nghiên cứu 5

5.Đóng góp mới của luận văn 5

6.Kết cấu của luận văn 6

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8

1.1.Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8

1.1.1.Nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận 8

1.1.2.Nghiên cứu về động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận 9

1.1.3.Nghiên cứu về kỹ thuật quản trị lợi nhuận 10

1.1.4.Nghiên cứu về các nhân tố đặc điểm công ty ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận 10

1.1.5.Nghiên cứu về hậu quả của hành vi quản trị lợi nhuận 11

1.2.Tình hình nghiên cứu trong nước 12

1.2.1.Nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận 12

1.2.2.Nghiên cứu về động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận 12

1.2.3.Nghiên cứu về kỹ thuật quản trị lợi nhuận 13

1.2.4.Nghiên cứu về các nhân tố đặc điểm công ty ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận 14

1.2.5.Nghiên cứu về hậu quả của hành vi quản trị lợi nhuận 16

1.3.Nhận xét và xác định vấn đề nghiên cứu 16

Trang 5

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 18

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 19

2.1.Định nghĩa hành vi quản trị lợi nhuận 19

2.2.Các lý thuyết nền tảng 20

2.2.1.Lý thuyết đại diện (Agency Theory) 20

2.2.2.Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory) 22

2.3.Biến kế toán dồn tích và nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận 23

2.3.1.Biến kế toán dồn tích 23

2.3.2.Nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận 23

2.4.Một số công cụ quản trị lợi nhuận 25

2.4.1.Thay đổi chính sách kế toán áp dụng 25

2.4.2.Thông qua việc trích lập và hoàn nhập các khoản dự phòng tổn thất tài sản 25

2.4.3.Thông qua việc lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang 26

2.4.4.Thông qua các khoản trích trước và phân bổ 26

2.4.5.Thông qua các khoản dự phòng phải trả 27

2.4.6.Việc ước tính tỷ lệ hoàn thành và ghi nhận doanh thu, chi phí đối với hợp đồng dài hạn 28

2.5.Tổng quan về Thông tư 200/2014/TT-BTC 29

2.5.1.Lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho 29

2.5.2.Ghi nhận doanh thu đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh bất động sản 30

2.5.3.Ghi nhận chi phí chiết khấu thương mại, khuyến mãi và giảm giá hàng bán 30

2.5.4.Ghi nhận dự phòng hoàn nguyên môi trường 32

2.5.5.Ghi nhận lãi phải thu từ các khoản cho vay 32

2.5.6.Ghi nhận lãi vay đối với nhà thầu xây lắp 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 34

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 35

3.1.Mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết nghiên cứu 35

Trang 6

3.1.1.Mô hình nghiên cứu 35

3.1.2.Phát triển giả thuyết nghiên cứu 36

3.1.2.1.Chế độ kế toán 36

3.1.2.2.Quy mô công ty 37

3.1.2.3.Thời gian hoạt động của công ty 37

3.1.2.4.Thời gian niêm yết của công ty 38

3.1.2.5.Loại công ty kiểm toán 38

3.1.2.6.Tính trì hoãn của báo cáo tài chính 40

3.2.Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 40

3.2.1.Phương pháp nghiên cứu 40

3.2.2.Quy trình nghiên cứu 41

3.3.Mô hình hồi quy 43

3.3.1.Mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận – Mô hình Modified Jones – Mô hình hồi quy giai đoạn 1 43

3.3.2.Mô hình nghiên cứu các nhân tố - Mô hình hồi quy giai đoạn 2 45

3.4.Chọn mẫu và thu thập dữ liệu 47

3.4.1.Chọn mẫu 47

3.4.2.Thu thập dữ liệu 49

3.5.Phân tích dữ liệu 49

3.5.1.Phân tích thống kê mô tả: 49

3.5.2.Phân tích tương quan và phân tích hồi quy 50

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 52

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 53

4.1.Kết quả nghiên cứu 53

4.1.1.Kết quả nghiên cứu giai đoạn 1 53

4.1.2.Kết quả nghiên cứu giai đoạn 2 57

4.1.2.1.Thống kê mô tả 57

4.1.2.2.Phân tích tương quan 59

4.1.2.3.Phân tích hồi quy 60

4.2.Bàn luận kết quả 67

Trang 7

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 69

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

5.1.Kết luận 70

5.2.Kiến nghị 71

5.2.1.Đối với cơ quan quản lý nhà nước 71

5.2.2.Đối với công ty niêm yết 72

5.2.3.Đối với công ty kiểm toán 73

5.2.4.Đối với các đối tượng sử dụng thông tin 73

5.3.Hạn chế của nghiên cứu 74

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Big4 Nhóm các công ty kiểm toán, gồm: Ernst & Young, Deloitte

Touche, KPMG và PriceWaterhouseCoopers Big6 Nhóm các công ty kiểm toán, gồm: Arthur Andersen, Ernst &

Young, Coopers & Lybrand, Deloitte Touche, KPMG và Price Waterhouse

DA Biến kế toán dồn tích có điều chỉnh

FGLS Phương pháp ước lượng bình phương tổi thiểu tổng quát khả

thi

HOSE Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

NDA Biến kế toán dồn tích không điều chỉnh

OLS Phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Mô tả các biến độc lập

Bảng 4.1 Kết quả đo lường các hệ số hồi quy theo mô hình Modified Jones

Bảng 4.2 Mô tả thống kê biến kế toán dồn tích có điều chỉnh

Bảng 4.3 Thống kê mô tả các biến trong mô hình hồi quy giai đoạn 2

Bảng 4.4 Thống kê mô tả biến loại công ty kiểm toán

Bảng 4.5 Ma trận tương quan mô hình hồi quy giai đoạn 2

Bảng 4.6 kết quả hồi quy giai đoạn 2 theo phương pháp OLS

Bảng 4.7 Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan, phương sai thay đổi và đa cộng tuyến

Bảng 4.8 Kết quả khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi với hồi quy FGLS có trọng số

Bảng 4.9 Kết quả kiểm định giả thuyết của bài nghiên cứu

Trang 10

Biểu đồ 4.1 Xu hướng quản trị công ty của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

Biểu đồ 4.2 Thực trạng quản trị công ty của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

Biểu đồ 4.3 Phân phối chuẩn của phần dư

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lợi nhuận, một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh hiệu quả của quá trình kinh doanh Doanh nghiệp chỉ tồn tại và phát triển khi nó tạo ra lợi nhuận, nếu doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả, thu không đủ bù đắp chi phí đã bỏ

ra thì doanh nghiệp sẽ bị đào thải, đi đến phá sản Nhà đầu tư thường dựa vào các thông tin được công bố từ các công ty niêm yết để ra quyết định đầu tư và có

xu hướng đầu tư vào các công ty kinh doanh có hiệu quả và có triển vọng tăng trưởng cao (Đặng Ngọc Hùng, 2015) Lợi nhuận trước thuế thu nhập doanh nghiệp là cơ sở để các cơ quan thuế thu thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của các doanh nghiệp; Và chỉ tiêu lợi nhuận là một trong các cơ sở để các trung gian tài chính ra quyết định cho vay Như vậy, lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng đối với doanh nghiệp vì nó ảnh hưởng đến sự sống còn của doanh nghiệp và sự trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận là vấn đề cực kỳ quan trọng vì nó ảnh hưởng đến việc ra quyết định của người sử dụng thông tin

Healy và Whalen (1999) cho rằng khi các nhà quản trị sử dụng những xét đoán của mình trên báo cáo tài chính và trong cơ cấu của nghiệp vụ kinh tế phát sinh để làm thay đổi báo cáo tài chính, để gây ra sự hiểu nhầm về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp hoặc tác động đến kết quả các hợp đồng mà chúng dựa vào số liệu báo cáo của kế toán, nhằm đạt được các lợi ích cá nhân của mình thì đồng nghĩa với việc hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản trị đã xảy ra Như vậy, làm thế nào để nhận biết được hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản trị? Các nhà quản trị dùng những kỹ thuật gì để quản trị lợi nhuận? Những nhân

tố nào tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản trị? Đây là những câu hỏi quan trọng đặt ra cho những người sử dụng thông tin để họ có một cái

Trang 12

nhìn bao quát về hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp, từ đó có nguồn thông tin đáng tin cậy hỗ trợ việc ra quyết định của mình

Ronen và Yaari (2008) cho rằng các nhà quản trị có thể thực hiện quản trị lợi nhuận thông qua việc lựa chọn chính sách kế toán hoặc thông qua các hoạt động kinh tế phát sinh tại đơn vị Chính sách kế toán là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính (VAS29); và việc lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với quy định của từng chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành (VAS21) Như vậy, khi chế độ kế toán thay đổi có thể sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán của các doanh nghiệp, từ đó có thể ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp

Ngày 22/12/2014, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 200/2014/TT-BTC hướng dẫn Chế độ kế toán Doanh nghiệp thay thế cho Quyết định 15/2006/QĐ-BTC, áp dụng cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính từ năm 2015 trở đi Như vậy Báo cáo tài chính năm 2014 của các doanh nghiệp được lập và trình bày theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC, và Báo cáo tài chính năm 2015 của các doanh nghiệp được lập và trình bày theo Thông tư 200/2014/TT-BTC Như vậy,

có sự khác biệt về mức độ quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp trong năm

2014 và năm 2015 hay không?

Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu tại Việt Nam đã bước đầu quan tâm đến vần đề quản trị lợi nhuận Phan Thị Thanh Trang (2015) đã tiến hành nghiên cứu xem xét hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại HOSE trước và sau khi niêm yết, đồng thời xem xét ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến quản trị lợi nhuận; Đặng Ngọc Hùng (2015) đã tiến hành nghiên cứu

xu hướng quản trị lợi nhuận do thay đổi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam;… Tuy nhiên, hiện nay, chưa có nghiên cứu nào xem xét ảnh hưởng của việc lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán đến hành vi quản trị lợi nhuận

Trang 13

Từ tầm quan trọng của vấn đề, và từ tính thiết thực của việc tạo ra một công cụ đơn giản hỗ trợ việc ra quyết định cho những người sử dụng thông tin thông qua mối liên hệ giữa những thông tin cơ bản được công bố bởi các công ty niêm yết (đặc điểm công ty) và hành vi quản trị lợi nhuận, luận văn này nghiên

cứu đề tài: “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận – Nghiên

cứu tại các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội”

2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

a Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích thực trạng mức độ quản trị lợi nhuận trong giai đoạn thay đổi chế độ kế toán, đồng thời xác định và phân tích ảnh hưởng của nhóm nhân tố đặc điểm công ty (bao gồm quy mô công ty, thời gian hoạt động của công ty, thời gian niêm yết của công ty, loại công ty kiểm toán và tính trì hoãn của báo cáo tài chính) đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội Dựa trên kết quả nghiên cứu đưa ra một vài kiến nghị cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan nhằm hỗ trợ họ trong việc ra các quyết định phù hợp

b Câu hỏi nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu đặt ra, luận văn sẽ trả lời các câu hỏi sau:

Câu hỏi 1: Mức độ quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại sở

giao dịch chứng khoán Hà Nội trong năm 2014 và năm 2015 (giai đoạn thay đổi chế độ kế toán) như thế nào?

Câu hỏi 2: Ảnh hưởng của các nhân tố đặc điểm công ty đến mức độ

quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong năm 2015 như thế nào?

Trang 14

Câu hỏi 3: Cần đề xuất những kiến nghị nào đối với các đối tượng liên

quan nhằm hỗ trợ họ trong việc ra các quyết định phù hợp

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi của nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong năm 2014 và năm 2015, và các nhân tố liên quan đến đặc điểm công ty ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong năm 2015

b Phạm vi nghiên cứu

Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) đã tổng hợp khá chi tiết các nhân tố có liên quan đến hành vi quản trị lợi nhuận, gồm 23 nhân tố và được chia thành 5 nhóm nhân tố: nhóm biến liên quan đến cơ cấu sở hữu vốn, nhóm biến liên quan đến quản trị công ty, nhóm biến liên quan đến cơ cấu vốn, nhóm biến liên quan đến đặc điểm thị trường của công ty và nhóm biến liên quan đến hiệu quả công

ty Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố bao gồm vận dụng chế độ kế toán (lựa chọn và áp dụng chính sách kế toán, ước tính kế toán) và nhóm nhân tố về đặc điểm công ty (quy mô công ty, thời gian hoạt động của công ty, thời gian niêm yết của công ty, loại công ty kiểm toán và tính trì hoãn của báo cáo tài chính) Theo đó, phạm vi nghiên cứu của luận văn như sau:

Không gian: Luận văn tập trung xem xét hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, bỏ qua các công ty thuộc nhóm ngành tài chính, ngân hàng, bảo hiểm vì các công ty này có đặc điểm riêng biệt

Thời gian: Tập trung nghiên cứu trong giai đoạn 2014-2015 để xem xét

sự khác biệt về hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn thay đổi chế độ kế toán

Trang 15

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu đã hệ thống các lý thuyết nền tảng, hệ thống và phân tích những công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến đo lường hành vi quản trị lợi nhuận để lựa chọn mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận cho luận văn, và hệ thống và phân tích những công trình nghiên cứu trước đây có liên quan đến các nhân tố đặc điểm công ty ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận

để xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố Sau đó, tác giả sử dụng phương pháp định lượng để xem xét ảnh hưởng của các nhân tố này đến quản trị lợi nhuận tại các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội với sự hỗ trợ của Eview6

5 Đóng góp mới của luận văn

Kết quả của luận văn có một số đóng góp như sau:

- Hầu hết các nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận tại Việt Nam đều nghiên cứu tập trung cho các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM, hoặc nghiên cứu bao quát cho cả thị trường chứng khoán Việt Nam Trong khi đó, luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu cho các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội Kết quả cho thấy hầu hết tất cả các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội đều thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận trong giai đoạn 2014-2015

- Luận văn tiến hành xem xét mức độ quản trị lợi nhuận của các công niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn mới nhất là giai đoạn 2014-2015, kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ quản trị lợi nhuận của năm 2015 không có sự khác biết đáng kể về mặt ý nghĩa thống kê so với mức độ quản trị lợi nhuận năm 2014

Trang 16

- Luận văn tập trung xem xét các nhân tố đặc điểm công ty ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận cho năm tài chính mới nhất, giúp các đối tượng liên quan có thể cập nhật thông tin về hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội,

từ đó hỗ trợ cho việc ra quyết định của mình Kết quả nghiên cứu cho thấy 4 nhân tố liên quan đến đặc điểm công ty, bao gồm: quy mô công

ty, thời gian hoạt động của công ty, loại công ty kiểm toán và tính trì hoãn của báo cáo tài chính có ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

- Kết quả nghiên cứu của luận văn cùng với các kiến nghị được

đề xuất có thể là một công cụ hữu ích cho các đối tượng liên quan như

cơ quan quản lý nhà nước, công ty niêm yết, công ty kiểm toán và các đối tượng sử dụng thông tin trong việc ra các quyết định

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 5 chương:

Chương 1 – Tổng quan tình hình nghiên cứu: Trình bày các công trình

nghiên cứu trước đây của Việt Nam và quốc tế về hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty

Chương 2 – Cơ sở lý thuyết về hành vi quản trị lợi nhuận và các vấn đề

liên quan: Trình bày các lý thuyết liên quan đến hành vi quản trị lợi nhuận, các công cụ quản trị lợi nhuận và Thông tư 200/2014/TT-BTC

Chương 3 – Thiết kế nghiên cứu: Phát triển các giả thuyết nghiên cứu,

đưa ra mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu và trình bày cách thu thập dữ liệu, chọn mẫu và phương pháp phân tích dữ liệu

Trang 17

Chương 4 – Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Trình bày kết quả nghiên

cứu, đồng thời thảo luận mối quan hệ giữa các nhân tố với hành vi quản trị lợi nhuận

Chương 5 – Kết luận và các kiến nghị: Trình bày kết luận của bài nghiên

cứu, hạn chế bài nghiên cứu và đề xuất định hướng nghiên cứu trong tương lai Đồng thời, đưa ra một vài góp ý đối với các đối tượng có liên quan nhằm hỗ trợ

họ trong việc đưa ra các quyết định phụ hợp

Trang 18

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận

Mô hình Healy (1985) là mô hình đầu tiên đo lường hành vi quản trị lợi nhuận, mô hình chỉ so sánh chỉ số tổng dồn tích trên tài sản giữa các nhóm doanh nghiệp chứ không đo lường trực tiếp dồn tích Mô hình DeAngelo (1986) tính chênh lệch giữa tổng dồn tích của hai kỳ trên tài sản để xác định dồn tích có điều chỉnh riêng biệt cho mỗi doanh nghiệp Mô hình Jones (1991) tính dồn tích không điều chỉnh là một hàm số thay đổi theo doanh thu và tài sản cố định hữu hình, tính tổng biến dồn tích bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế trừ đi dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, và dồn tích có điều chỉnh được xác định là phần còn lại của tổng dồn tích sau khi trừ đi dồn tích không điều chỉnh

Mô hình Friedlan (1994) là một biến thể của mô hình DeAngelo (1986), xác định dồn tích có điều chỉnh bằng cách tính chênh lệch giữa tổng dồn tích của hai kỳ trên tài sản được chuẩn hóa bởi doanh thu bán hàng Mô hình của Dechow và các cộng sự (1995) (còn gọi là mô hình Modified Jones) cải tiến

mô hình Jones (1991) bằng cách bổ sung thêm một yếu tố tạo ra dồn tích không điều chỉnh là nợ phải thu; theo đó Dechow và các cộng sự (1995) tiến hành so sánh các mô hình để đo lường hành vi quản trị lợi nhuận, kết quả cho thấy mô hình Modified Jones là tốt nhất để phát hiện quản trị lợi nhuận Mô hình của Kothari và các cộng sự (2005) phát triển mô hình của Jones (1991) và

mô hình Modified Jones (1995) với việc đưa thêm biến lợi nhuận trên tổng tài sản vào mô hình nhằm xem xét mối quan hệ giữa biến dồn tích và kết quả hoạt động của công ty; tuy nhiên, nghiên cứu của Keung and Shih (2014) cho thấy các sai số của mô hình của Kothari và các cộng sự (2005) sẽ có mối tương quan ngược chiều với biến kế toán dồn tích có thề điều chỉnh

Trang 19

1.1.2 Nghiên cứu về động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận

Healy (1985) tìm thấy bằng chứng về hành vi sử dụng các khoản dồn tích để tối đa hóa các khoản thưởng Watts and Zimmerman (1990) cho rằng các nhà quản lý có động lực để thúc đẩy báo cáo lợi nhuận từ tương lai đến kỳ

kế toán hiện hành khi một kế hoạch giải thưởng tồn tại dựa trên lợi nhuận Healy and Wahlen (1999) cho rằng có ba động cơ chính dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận, đó là kỳ vọng thị trường vốn, các hợp đồng bằng văn bản được

ký kết trong đó có liên quan đến số liệu kế toán, và phản ứng lại các quy định của chính phủ Baralexis (2004) cho thấy các công ty nhỏ đang thực sự quan tâm nhiều hơn về tiết kiệm chi phí thuế trong cân nhắc quản trị lợi nhuận Ball and Shivakumare (2005) xác định thuế là một trong những mục tiêu chính của báo cáo thường niên của các công ty tư nhân Burgstahler and Eames (2006) nghiên cứu vai trò của kỳ vọng thị trường vốn và phát hiện ra rằng hành vi quản trị lợi nhuận càng tăng khi đáp ứng những kỳ vọng của các nhà phân tích

và những dự báo trong quản lý Bergstresser and Philippon (2006) nghiên cứu

về hành vi quản trị lợi nhuận của nhà quản lý khi họ được quyền chọn mua cổ phiếu, kết quả cho thấy để gia tăng tài sản cá nhân, nhà quản trị luôn có xu hướng quản trị lợi nhuận theo hướng tăng lên Chevis và các cộng sự (2007) đã nghiên cứu về sự đồng thuận và đánh giá công ty từ thị trường vốn, kết quả cho thấy các công ty nếu đạt hoặc vượt kế hoạch sẽ được đánh giá cao hơn các công ty không đạt được kế hoạch Noronha và các cộng sự (2008) cho thấy động cơ hợp đồng bồi thường quản lý và tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp là những động cơ cho hành vi quản trị lợi nhuận tại các công ty đại chúng của Trung Quốc Nghiên cứu của Ahmad–Zaluki và các cộng sự (2011) cho thấy các công ty có hành vi quản trị lợi nhuận nhiều nhất vào những năm niêm yết, đặc biệt là các công ty niêm yết trong giai đoạn khủng hoảng Omar Farooq and Meryem Benali (2012) cho thấy các công ty cổ phần có hành vi quản trị lợi nhuận trong suốt những năm niêm yết, tuy nhiên mức độ quản trị lợi nhuận của năm đầu niêm yết cao hơn những năm trước và sau niêm yết

Trang 20

Như vậy, có thể nói các động cơ chủ yếu dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận bao gồm: kỳ vọng của thị trường vốn, lợi ích từ các hợp đồng dựa trên lợi nhuận kế toán, các quy định về pháp lý của chính phủ và các quy định của các đối tượng có liên quan

1.1.3 Nghiên cứu về kỹ thuật quản trị lợi nhuận

DuCharme và các cộng sự (2000) cho rằng nhà quản trị có thể thông qua việc lựa chọn các phương pháp kế toán, sử dụng các ước tính kế toán và ghi nhận các khoản thu và chi phí để thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận Verbruggen và các cộng sự (2008) cho rằng có 4 – bốn kỹ thuật quản trị lợi nhuận: quản trị lợi nhuận thông qua dồn tích các đối tượng cụ thể (một tình huống cụ thể, một chuẩn mực kế toán cụ thể hay một ngành công nghiệp cụ thể), quản trị lợi nhuận thông qua phân bổ chi phí hay doanh thu, quản trị lợi nhuận thông qua công bố thông tin, và quản trị lợi nhuận thông qua các hoạt động thực tế

1.1.4 Nghiên cứu về các nhân tố đặc điểm công ty ảnh hưởng đến hành

vi quản trị lợi nhuận

Becker và các cộng sự (1998) sử dụng mô hình Jones (1991) quan sát các công ty do Big6 (hiện nay là Big4) kiểm toán và không do Big6 kiểm toán, kết quả cho thấy các công ty không do Big 6 kiểm toán quản trị lợi nhuận cao hơn các công ty do Big 6 kiểm toán

Nghiên cứu của Roodposhti & Chashmin (2011) về tác động của cơ chế quản trị công ty đến quản trị lợi nhuận với mẫu nghiên cứu gồm 196 công ty niêm yết trên Sàn chứng khoán Tehran trong giai đoạn 2004-2008 Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty càng tăng thì hành vi quản trị lợi nhuận càng tăng

Nghiên cứu của Ahmad–Zaluki và các cộng sự (2011) về hành vi quản

Trang 21

trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Malaysia với mẫu nghiên cứu gồm

250 công ty trong giai đoạn 1990-2000 và sử dụng mô hình Jones (1991) để nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận, cho thấy chất lượng công ty kiểm toán và thời gian hoạt động của công ty có tác động nghịch biến với hành vi quản trị lợi nhuận

Nghiên cứu của Soliman & Ragab (2013) sử dụng mô hình Jones (1991) đã quan sát 40 công ty niêm yết tại Sàn chứng khoán Ai Cập trong giai đoạn 2007-2010 để xem xét các ảnh hưởng đến quản trị lợi nhuận Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô công ty tác động thuận chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận

Dwi Lusi Tyasing Swastika (2013) nghiên cứu về mối quan hệ giữa quản trị công ty, quy mô doanh nghiệp và quản trị lợi nhuận, kết quả cho thấy các biến về hội đồng quản trị có mối quan hệ thuận chiều với hành vi quản trị lợi nhuận, các biến chất lượng công ty kiểm toán và quy mô công ty có mối quan hệ nghịch chiều với hành vi quản trị lợi nhuận

Samira Rahmani và các cộng sự (2013) nghiên cứu về tác động của quy

mô doanh nghiệp và cấu trúc vốn đến quản trị lợi nhuận sử dụng mô hình Jones (1991) để đo lường hành vi quản trị lợi nhuận trên mẫu gồm 75 công ty niêm yết tại Iran trong giai đoạn 2006-2010 Kết quả cho thấy cấu trúc vốn (tỷ

lệ đòn bẩy tài chính) có ảnh hưởng nghịch biến với hành vi quản trị lợi nhuận, nhưng nghiên cứu không tìm ra ảnh hưởng của biến quy mô công ty

1.1.5 Nghiên cứu về hậu quả của hành vi quản trị lợi nhuận

Cohen và Zarowin (2008) đã tiến hành so sánh các doanh nghiệp có cùng quy mô, hoạt động trong cùng một ngành công nghiệp và làm sáng tỏ mức độ ảnh hưởng tiêu cực của quản trị lợi nhuận tới hoạt động đầu tư của doanh nghiệp Kết quả cho thấy vào thời kỳ tiến hành hành vi quản trị lợi nhuận, các công ty đầu tư vượt quá mức tối ưu, và sau thời kỳ này, các công ty

Trang 22

lại đầu tư thấp hơn mức tối ưu, dẫn đến số tiền đầu tư của các cổ đông chưa được sử dụng hiệu quả, từ đó ảnh hưởng tiêu cực tới lợi ích của các cổ đông Nghiên cứu của Dechow & các cộng sự (1996) cho thấy các nhà đầu tư rất nhạy cảm với hành vi quản trị lợi nhuận thông qua việc cung cấp bằng chứng

là có một sự sụt giảm khoảng 9% trong giá cổ phiếu của những công ty đang bị SEC - Cơ quan liên bang thực thi luật lệ chứng khoán của Mỹ điều tra về hành

vi quản trị lợi nhuận

1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2.1 Nghiên cứu về mô hình đo lường hành vi quản trị lợi nhuận

Phạm Thị Bích Vân (2012) sử dụng mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận của Dechow và các cộng sự (1995) – Modified Jones với một nghiên cứu gồm 54 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE trong năm 2010, tác giả Phạm Thị Bích Vân dựa theo kết quả nghiên cứu và đưa ra nhận định mô hình Modified Jones không hiệu quả trong việc nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE Kết quả này, trái ngược với các kết quả nghiên cứu của Giáp Thị Liên (2015) và Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) Ngoài ra, nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2012) đề xuất mô hình mới cho việc nhận diện quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết trên HOSE dựa trên mô hình Modified Jones với việc đưa thêm vào mô hình biến dự phòng và sử dụng biến khấu hao tài sản cố định để thay thế biến tài sản cố định, kết quả cho thấy hệ số đo lường sự phù hợp của mô hình tăng lên và mô hình có ý nghĩa thống kê, tuy nhiên biến dự phòng được đưa thêm vào mô hình lại không có ý nghĩa thống kê, nghĩa là biến này không ảnh hưởng đến việc phát hiện quản trị lợi nhuận tại các doanh nghiệp niêm yết ở HOSE

1.2.2 Nghiên cứu về động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận

Nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2012) về hành vi quản trị lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu niêm yết trên TTCK Việt Nam, kết quả cho

Trang 23

thấy công ty cổ phần có xu hướng quản trị lợi nhuận tăng lên trong năm đầu niêm yết, các công ty được hưởng thuế suất ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp

sẽ quản trị lợi nhuận trong năm đó lên rất cao nhằm tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp Nguyễn Thị Minh Trang (2012) sử dụng mô hình quản trị lợi nhuận của DeAngelo (1986) và Friedlan (1994) nghiên cứu với mẫu là 20 doanh nghiệp thuộc 4 loại hình doanh nghiệp khác nhau (công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp nhà nước), kết quả nghiên cứu cho thấy ứng với mỗi loại hình doanh nghiệp sẽ có các nguyên nhân quản trị lợi nhuận khác nhau: công ty cổ phần có xu hướng quản trị tăng lợi nhuận nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, đồng thời cũng

có xu hướng tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp; các loại hình doanh nghiệp còn lại có xu hướng quản trị giảm lợi nhuận nhằm tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp Nguyễn Thị Phương Uyên (2014) nghiên cứu việc quản trị lợi nhuận trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của các công ty cổ phần niêm yết trên TTCK Việt Nam, kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty cổ phần niêm yết trên TTCK Việt Nam có xu hướng quản trị tăng lợi nhuận trong những năm phát hành bổ sung cổ phiếu nhằm thu hút nhà đầu tư để đợt chào bán được thành công Phan Thị Thanh Trang (2015) nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận các công ty niêm yết trên HOSE, kết quả nghiên cứu cho thấy 100% các công ty có hành vi quản trị lợi nhuận qua các năm trước, trong và sau năm niêm yết, các công ty cổ phần có hành vi quản trị tăng lợi nhuận trong năm đầu niêm yết cao hơn năm trước và sau khi niêm yết

1.2.3 Nghiên cứu về kỹ thuật quản trị lợi nhuận

Nguyễn Công Phương (2009) tổng hợp và đưa ra 4 kỹ thuật quản trị lợi nhuận của nhà quản trị: lựa chọn phương pháp kế toán, vận dụng các phương pháp kế toán, lựa chọn thời điểm vận dụng các phương pháp kế toán và lựa chọn thời điểm đầu tư hay thanh lý tài sản cố định Nguyễn Thị Minh Trang

Trang 24

(2011) nghiên cứu về kỹ thuật quản trị lợi nhuận của nhà quản trị, đưa ra một

số kỹ thuật quản trị mà nhà quản trị có thể sử dụng: lựa chọn phương pháp kế toán ảnh hưởng đến thời điểm ghi nhận doanh thu và chi phí, vận dụng các phương pháp kế toán thông qua việc lựa chọn thời điểm ghi nhận chi phí và các ước tính kế toán, và lựa chọn thời điểm mua hoặc bán tài sản Nghiên cứu của Đường Nguyễn Hưng (2013) về hành vi quản trị lợi nhuận đối với thông tin lợi nhuận công bố trên báo cáo tài chính cho thấy nhà quản trị có thể sử dụng các kỹ thuật sau để quản trị lợi nhuận: lựa chọn chính sách kế toán, thực hiện các ước tính kế toán, quyết định về thực hiện nghiệp vụ kinh tế và hành vi vận dụng sai các quy định kế toán Võ Văn Nhị và Trần Thị Thanh Hải (2016)

đã đưa ra 6 kỹ thuật quản trị lợi nhuận: thay đổi chính sách kế toán áp dụng, thông qua việc trích lập và hoàn nhập các khoản dự phòng tổn thất tài sản, thông qua việc lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang, thông qua các khoản trích trước và phân bổ, thông qua các khoản dự phòng phải trả, và thông qua việc ước tính tỷ lệ hoàn thành hợp đồng và ghi nhận doanh thu, chi phí đối với hợp đồng dài hạn

1.2.4 Nghiên cứu về các nhân tố đặc điểm công ty ảnh hưởng đến hành

vi quản trị lợi nhuận

Nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2012) về hành vi quản trị lợi nhuận ở các công ty cổ phần trong năm đầu niêm yết trên TTCK Việt Nam với mẫu nghiên cứu gồm 43 công ty niêm yết, kết quả cho thấy quy mô công ty thì không ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận

Nguyễn Thị Phương Uyên (2014) nghiên cứu việc quản trị lợi nhuận trong trường hợp phát hành thêm cổ phiếu của các công ty cổ phần niêm yết trên TTCK Việt Nam, kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty có quy mô càng lớn thì mức độ quản trị lợi nhuận càng cao và chất lượng kiểm toán không ảnh hưởng đến quyết định quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp

Trang 25

Trần Thị Mỹ Tú (2014) phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính tại các công ty cổ phần niêm yết trên HOSE, kết quả cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của công ty niêm yết: cao nhất là tính độc lập của hội đồng quản trị (chiếm 61.7%), tiếp theo đến quy mô công ty (15.53%), công ty kiểm toán (14.56%)

và cuối cùng là đòn bẩy tài chính (8.74%) Trong đó quy mô công ty có tác động thuận chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận và công ty kiểm toán có tác động nghịch chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận

Phan Thị Thanh Trang (2015) nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận các công ty niêm yết trên HOSE, kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ đóng góp của các biến: cao nhất là biến quy mô công ty, tiếp theo là các biến điều kiện kinh tế, công ty kiểm toán và cuối cùng là thời gian hoạt động của công

ty, biến ngành nghề kinh doanh không có ý nghĩa thống kê Trong đó, quy mô công ty có tác động thuận chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận, thời gian hoạt động và loại công ty kiểm toán có tác động nghịch chiều với hành vi quản trị lợi nhuận

Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính thông qua hành vi quản trị lợi nhuận và giá trị thích hợp của thông tin kế toán, nghiên cứu tổng hợp và bổ sung các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận Nghiên cứu này đưa ra mô hình gồm 23 nhân tố tác động đến chất lượng báo cáo tài chính, 23 nhân tố này được chia thành 5 nhóm, bao gồm nhóm biến liên quan đến cơ cấu sở hữu vốn, nhóm biến liên quan đến quản trị công ty, nhóm biến liên quan đến cơ cấu vốn, nhóm biến liên quan đến đặc điểm thị trường và nhóm biến liên quan đến hiệu quả công ty Kết quả nghiên cứu cho thấy thông qua quản trị lợi nhuận có 11 nhân tố trên tổng số 23 nhân tố có ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính Trong đó, quy mô công ty và tính trì hoãn của báo cáo tài chính có tác động thuận chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận, thời gian niêm yết của công ty có

Trang 26

tác động nghịch chiều đến hành vi quản trị lợi nhuận

1.2.5 Nghiên cứu về hậu quả của hành vi quản trị lợi nhuận

Nghiên cứu của Võ Văn Nhị và Hoàng Cẩm Trang (2013) về việc xem xét mối quan hệ giữa hành vi quản trị lợi nhuận và nguy cơ phá sản của 85 công ty niêm yết trên HOSE niên độ kế toán 2011 thông qua việc sử dụng mô hình của Leuz et al (2003) để xác định hành vi quản trị lợi nhuận và sử dụng chỉ số Z của Altman (2000) để xác định nguy cơ phá sản công ty, kết quả cho thấy mức độ quản trị lợi nhuận tương đồng với nguy cơ phá sản

1.3 Nhận xét và xác định vấn đề nghiên cứu

Các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam hiện nay tập trung vào những vấn đề cơ bản của hành vi quản trị lợi nhuận sau: mô hình nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận, động cơ dẫn đến hành vi quản trị lợi nhuận, kỹ thuật quản trị lợi nhuận, các nhân tố tác động đến hành vi quản trị lợi nhuận, hậu quả của hành

vi quản trị lợi nhuận Tính đến thời điểm thực hiện luận văn này, các nghiên cứu tại Việt Nam về hành vi quản trị lợi nhuận đa phần tập trung nghiên cứu đối với các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM hoặc nghiên cứu bao quát đối với các công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

Theo các nghiên cứu trước, các nhà quản trị có thể thông qua việc lựa chọn chính sách kế toán và các nghiệp vụ kinh tế phát sinh để thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận Như vậy, việc thay đổi chế độ kế toán dẫn đến một số thay đổi trong chính sách kế toán và xử lý nghiệp vụ kinh tế phát sinh, có ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết hay không?

Từ những vấn đề trên, tác giả tiến hành nghiên cứu về hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong giai

Trang 27

đoạn thay đổi chế độ kế toán nhằm xem xét sự thay đổi của hành vi quản trị lợi nhuận trước và sau khi có sự thay đổi chế độ kế toán của Bộ tài chính Theo đó, tác giả sẽ sử dụng mô hình Modified Jones (1995) để đo lường hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong năm 2014 và năm 2015 Các nghiên cứu Teoh và các cộng sự (1998), Aboody và các cộng sự (2005), Alves (2014), Gonza´lez and Meca (2014), cũng đã sử dụng

mô hình này để đo lường hành vi quản trị lợi nhuận trong các nghiên cứu của họ

Ngoài ra, nghiên cứu còn kế thừa các nghiên cứu trước về việc xem xét ảnh hưởng của một số nhân tố đến hành vi quản trị lợi nhuận Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) đã tổng hợp khá chi tiết các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận và phân thành 5 nhóm nhân tố, đồng thời tiến hành xem xét mối quan hệ này trong giai đoạn 3 năm 2012-2014 Tác giả sẽ kế thừa một phần nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Hồng (2016), theo đó, tác giả tiến hành xem xét ảnh hưởng của một số nhân tố liên quan đến đặc điểm công ty trong nhóm nhân tố đặc điểm thị trường bao gồm các nhân tố quy mô công ty, thời gian hoạt động của công ty, thời gian niêm yết của công ty, loại công ty kiểm toán và tính trì hoãn của báo cáo tài chính đến hành vi quản trị lợi nhuận trong năm đầu áp dụng chế độ kế toán mới, từ đó cập nhật thêm thông tin về quản trị lợi nhuận cho các đối tượng liên quan, đặc biệt là các nhà đầu tư, hỗ trợ họ trong việc ra các quyết định

Trang 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương 1, tác giả đã trình bày những nghiên cứu có liên quan về hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết và các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi đó ở trong nước và quốc tế Từ những nghiên cứu trước cũng như tìm hiểu của tác giả về các vấn đề có liên quan đến hành vi quản trị lợi nhuận, tác giả đã xác định khoảng trống nghiên cứu và chọn làm đề tài cho luận văn này Theo đó, tác giả sẽ tiến hành nghiên cứu hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong giai đoạn thay đổi chế độ kế toán và xem xét ảnh hưởng của nhóm nhân tố đặc điểm công ty đến hành vi quản trị lợi nhuận

Chương kế tiếp, tác giả sẽ trình bày các lý thuyết nền tảng liên quan đến hành vi quản trị lợi nhuận, tổng quan về Thông tư 200/2014/TT-BTC về chế độ

kế toán mới

Trang 29

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI QUẢN TRỊ LỢI

NHUẬN VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

2.1 Định nghĩa hành vi quản trị lợi nhuận

Theo Schipper (1989), hành vi quản trị lợi nhuận là một sự can thiệp có tính toán kỹ lưỡng trong quá trình cung cấp thông tin tài chính ra bên ngoài của nhà quản trị nhằm đạt được một số lợi ích cá nhân

Healy and Waland (1999) cho rằng “Hành vi quản trị lợi nhuận xảy ra khi các nhà quản lý vận dụng những xét đoán trên báo cáo tài chính và trong cơ cấu của nghiệp vụ kinh tế phát sinh để làm thay đổi báo cáo tài chính, từ đó gây ra

sự hiểu nhầm về tình trạng hoạt động của doanh nghiệp hoặc tác động đến kết quả các hợp đồng mà chúng dựa vào số liệu báo cáo của kế toán”

Levitt (1998) và Parfet (2000) đều cho rằng hành vi quản trị lợi nhuận được thực hiện nhằm che giấu hoạt động tài chính thực, làm cho báo cáo tài chính phản ánh mong muốn của nhà quản trị chứ không phải hoạt động tài chính

cơ bản của công ty

Trái ngược với những quan điểm trên, Beneish (2001) và Jiraporn và các cộng sự (2008) đều cho rằng hành vi quản trị lợi nhuận hướng đến lợi ích của các bên liên quan thông qua việc nâng cao giá trị thông tin cung cấp ra bên ngoài

Ronen và Yaari (2008) đã tổng hợp lại các quan điểm trên và đưa ra 3 nhóm quản trị lợi nhuận dựa trên mục tiêu công bố thông tin: nhóm quản trị lợi nhuận trắng nhằm gia tăng chất lượng báo cáo tài chính, nhóm quản trị lợi nhuận xám nhằm gia tăng giá trị của doanh nghiệp hoặc lợi ích của nhà quản trị, và nhóm quản trị lợi nhuận đen nhằm làm sai lệch hoặc giảm sự minh bạch của báo cáo tài chính Từ đó Ronen và Yaari (2008) cho rằng hành vi quản trị lợi nhuận

Trang 30

là tập hợp các quyết định quản lý nhằm tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp thông qua việc không phản ánh đúng lợi nhuận thực trong ngắn hạn

Như vậy, có rất nhiều định nghĩa về hành vi quản trị lợi nhuận được đưa

ra bởi các nhà nghiên cứu trên thế giới Mỗi quan điểm thể hiện một cách nhìn khác nhau về hành vi quản trị lợi nhuận, nhưng chúng đều đưa đến một kết quả cuối cùng là thông tin tài chính cung cấp ra bên ngoài của doanh nghiệp bị thay đổi bởi sự can thiệp của các nhà quản trị nhằm phục vụ cho một mục đích nào

đó Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ sử dụng định nghĩa của Ronen và Yaari (2008): “Hành vi quản trị lợi nhuận là tập hợp các quyết định quản lý, dẫn đến không phản ánh đúng thu nhập của doanh nghiệp trong ngắn hạn Hành vi này

có thể được thực hiện bằng các hành động liên quan đến hoạt động sản xuất, đầu

tư của doanh nghiệp, hoặc liên quan đến việc lựa chọn các chính sách và các ước tính kế toán làm ảnh hưởng đến số liệu về thu nhập của doanh nghiệp”

2.2 Các lý thuyết nền tảng

2.2.1 Lý thuyết đại diện (Agency Theory)

Lý thuyết đại diện có nguồn gốc từ lý thuyết kinh tế, lý giải việc khi có sự tách biệt giữa quyền sở hữu với việc quản lý sử dụng nguồn lực dẫn đến vấn đề người quản lý có thể hành động theo lợi ích riêng của họ nhiều hơn so với lợi ích của chủ sở hữu, và được phát triển bởi Jensen và Meckling trong một công bố năm 1976 Jensen và Meckling (1976) cho rằng lý thuyết đại diện hay còn gọi là

lý thuyết ủy quyền (Agency theory) tập trung vào mối quan hệ giữa bên ủy quyền (Principals) với bên đại diện (Agents), theo đó bên đại diện sẽ có một số quyền hạn nhất định dựa trên sự ủy quyền của bên ủy quyền Lý thuyết đại diện cho rằng xung đột lợi ích sẽ phát sinh khi có sự bất cân xứng thông tin (trạng thái bất cân bằng trong cơ cấu thông tin - các chủ thể giao dịch có mức độ nắm giữ thông tin không ngang nhau) giữa bên ủy quyền và bên đại diện

Trang 31

Trong công ty cổ phần, mối quan hệ giữa bên ủy quyền và bên đại diện bao gồm mối quan hệ giữa chủ sở hữu (cổ đông) và nhà quản lý thông qua việc

cổ đông ủy quyền điều hành doanh nghiệp cho nhà quản lý, và mối quan hệ giữa chủ nợ và cổ đông công ty thông qua việc chủ nợ ủy quyền cho cổ đông sử dụng vốn do chủ nợ cấp tín dụng

Trong mối quan hệ giữa cổ đông và nhà quản lý, thông thường sự bất cân xứng thông tin xảy ra theo chiều hướng nhà quản lý sẽ biết nhiều thông tin hơn

cổ đông, chẳng hạn thông tin về khả năng đạt được mục tiêu của công ty, những rủi ro hiện có của công ty Theo đó, nhà quản lý có thể đưa ra các quyết định nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích cá nhân thay vì tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Chẳng hạn, các nhà quản lý sợ rủi ro sẽ bỏ qua các cơ hội mang lại lợi nhuận mà trong đó các cổ đông của công ty sẽ thích họ đầu tư, hay các nhà quản lý được trả lương thưởng dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh thì có thể tìm mọi cách

để đạt được kết quả kinh doanh tốt với mong muốn nhận được lợi ích từ đó

Trong mối quan hệ giữa chủ nợ và cổ đông công ty, thông thường sự bất cân xứng thông tin xảy ra theo chiều hướng cổ đông công ty sẽ biết nhiều thông tin hơn chủ nợ, chẳng hạn thông tin về tình hình hoạt động kinh doanh của công

ty, thông tin về khả năng trả nợ vay Nếu công ty sử dụng vốn vay không hiệu quả, có thể dẫn đến rủi ro cho chủ nợ là không thể thu hồi được vốn cho vay Vì vậy, khi quyết định cho vay, các chủ nợ thường đánh giá rủi ro, mà chủ yếu là dựa vào tình hình tài chính của công ty được thể hiện trên báo cáo tài chính được kiểm toán Một báo cáo tài chính thể hiện kết quả hoạt động tốt thường được các chủ nợ đánh giá là ít rủi ro và ra quyết định cho vay Và nhà quản trị

có thể thực hiện được điều này thông qua việc sử dụng các chính sách kế toán

Như vậy, lý thuyết đại diện giải thích việc người quản lý thực hiện hành

vi quản trị lợi nhuận trên báo cáo tài chính nhằm tối đa lợi ích của mình Theo

đó, trong nghiên cứu này, tác giả kỳ vọng rằng các công ty niêm yết được kiểm

Trang 32

toán bởi Big4 sẽ có mức độ quản trị lợi nhuận thấp hơn các công ty niêm yết không được kiểm toán bởi Big4

2.2.2 Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory)

Lý thuyết tín hiệu được nhắc đến từ đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, đến năm 1973, Spence tiến hành nghiên cứu thị trường lao động và đưa ra lý thuyết tín hiệu thông qua kết quả của nghiên cứu, người lao động muốn tìm được việc làm cần phát tín hiệu, nghĩa là cung cấp thông tin cá nhân đến thị trường lao động để bộc lộ khả năng của mình Sau đó, Bini và các cộng sự (2010) cho rằng các công ty có khả năng sinh lợi cao sẽ cung cấp tín hiệu thông qua các thuyết minh nhằm tăng sức cạnh tranh của mình Như vậy, lý thuyết tín hiệu dựa trên nền tảng thông tin bất cân xứng, nghĩa là khi có sự bất cân xứng thông tin thì bên nắm giữ thông tin cần phát tín hiệu cho bên cần thông tin nhằm đạt được một mục tiêu nào đó Trong công ty cổ phần, thông tin bất cân xứng xuất hiện trong quan hệ nhà quản lý với các cổ đông và trong quan hệ doanh nghiệp với các bên liên quan

Nhà quản lý có được nhiều thông tin của công ty do họ là người điều hành, nếu họ cố tình che đậy thì có thể sẽ gây ảnh hưởng đến quyết định của cổ đông, từ đó gây bất lợi cho cổ đông Doanh nghiệp không phát tín hiệu hoặc phát tín hiệu không chính xác ra bên ngoài thì có thể ảnh hưởng đến quyết định

và gây tổn thất đối với các bên liên quan Chẳng hạn, doanh nghiệp công bố thông tin báo cáo tài chính sai lệch, đặc biệt là chỉ tiêu lợi nhuận, dẫn đến số thuế nộp cho nhà nước sẽ không phản ánh đúng thực tế kinh doanh của doanh nghiệp, các chủ nợ hay nhà đầu tư có thể sẽ đưa ra quyết định sai lầm về vấn đề giải ngân hay đầu tư

Như vậy, theo lý thuyết tín hiệu, để giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin, các công ty cần phát tín hiệu cho các bên liên quan, tuy nhiên, các công ty thường có xu hướng phát tín hiệu có lợi cho bản thân công ty để che giấu những

Trang 33

yếu kém và gia tăng sức cạnh tranh của công ty, nhằm thu hút vốn đầu tư Nói cách khác, lý thuyết tín hiệu giải thích việc nhà quản lý có thể vận dụng các công cụ để cung cấp thông tin có lợi nhất về doanh nghiệp cho các nhà đầu tư

Áp dụng lý thuyết tín hiệu vào nghiên cứu, tác giả kỳ vọng rằng các công

ty niêm yết có quy mô càng lớn thì mức độ quản trị lợi nhuận càng tăng, các công ty có thời gian hoạt động càng lâu, thời gian niêm yết càng lâu, được kiểm toán bởi các công ty Big4 và có tính trì hoãn báo cáo tài chính càng cao thì mức

độ quản trị lợi nhuận càng giảm

2.3 Biến kế toán dồn tích và nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận

2.3.1 Biến kế toán dồn tích

Theo VAS01, “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại

và tương lai”

Như vậy báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được lập theo cơ sở dồn tích, trong khi đó báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo cơ sở tiền Do đó, lợi nhuận trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và dòng tiền hoạt động kinh doanh trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ có một khoản chênh lệch, hay còn được gọi là biến kế toán dồn tích Nói cách khác, biến kế toán dồn tích là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền được trình bày trong báo cáo tài chính

2.3.2 Nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận

Như đã định nghĩa ở trên, biến kế toán dồn tích là phần chênh lệch giữa lợi nhuận sau thuế trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh nên ta có:

Trang 34

Nói cách khác:

Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo cơ sở tiền nên không thể điều chỉnh được, muốn quản trị lợi nhuận các nhà quản trị phải điều chỉnh các biến kế toán dồn tích Theo các nhà nghiên cứu, tổng biến kế toán dồn tích (Total accruals – TA) gồm hai phần: phần biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh (Nondiscretionary accruals – NDA) và phần biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh từ nhà quản trị (Discrectionary accruals – DA)

TA = NDA + DA

Biến NDA phản ánh điều kiện kinh doanh cụ thể của từng đơn vị do đó không bị điều chỉnh bởi nhà quản lý, ví dụ như độ dài của chu kì kinh doanh, chu kì sống của sản phẩm Ngược lại, biến DA thì nhà quản lý có thể điều chỉnh thông qua việc lựa chọn chính sách kế toán hay tác động vào nghiệp vụ kinh tế phát sinh

Healy (1985), DeAngelo (1986), Jones (1991), Friedlan (1994), Dechow

và các cộng sự (1995), Kothari và các cộng sự (2005) đều cho rằng biến DA đại diện cho hành vi quản trị lợi nhuận nhưng các nhà nghiên cứu không thể quan sát một cách trực tiếp mà phải thông qua việc xác định phần biến NDA Tóm lại,

để nhận diện hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản trị, các nhà nghiên cứu tìm cách xác định phần biến kế toán không thể điều chỉnh (NDA)

Tổng biến kế toán dồn

tích (TA)

Lợi nhuận sau thuế

Dòng tiền từ HĐKD

Trang 35

2.4 Một số công cụ quản trị lợi nhuận

Võ Văn Nhị và Trần Thị Thanh Hải (2016) đã đưa ra các thủ thuật (công cụ) chủ yếu được áp dụng phổ biến tại Việt Nam mà nhà quản trị có thể sử dụng

để thực hiện quản trị lợi nhuận thông qua việc lựa chọn chính sách kế toán, bao gồm: thay đổi chính sách kế toán áp dụng, thông qua việc trích lập và hoàn nhập các khoản dự phòng tổn thất tài sản, thông qua việc lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang, thông qua các khoản trích trước và phân bổ, thông qua các khoản dự phòng phải trả, và thông qua việc ước tính tỷ lệ hoàn thành hợp đồng và ghi nhận doanh thu, chi phí đối với hợp đồng dài hạn

2.4.1 Thay đổi chính sách kế toán áp dụng

Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán Việt Nam đưa ra một số phương pháp kế toán, chính sách kế toán và cho phép doanh nghiệp được lựa chọn chính sách phù hợp với doanh nghiệp mình

Ví dụ: Các phương pháp tính giá hàng tồn kho (nhập trước xuất trước, bình quân gia quyền, thực tế đích danh); các phương pháp khấu hao tài sản cố định (phương pháp khấu hao đường thẳng, phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần và phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm), Tuy nhiên, khi lựa chọn chính sách kế toán nào thì phải áp dụng nhất quán, để đảm bảo thông tin trình bày trên BCTC có khả năng so sánh được, nếu thay đổi chính sách cần thuyết minh về sự thay đổi này Chính việc có nhiều cơ hội lựa chọn chính sách kế toán, nên nhà quản lý có thể đưa vào áp dụng chính sách kế toán thích hợp nhất theo xét đoán chủ quan của nhà quản lý, để phục vụ cho các mục tiêu định trước của doanh nghiệp trong từng thời kỳ

2.4.2 Thông qua việc trích lập và hoàn nhập các khoản dự phòng tổn

thất tài sản

Kế toán Việt Nam cho phép, doanh nghiệp thực hiện việc lập dự phòng tổn thất tài sản liên quan đến bốn nhóm tài sản Đó là, dự phòng giảm giá chứng

Trang 36

khoán kinh doanh, dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác, dự phòng phải thu khó đòi và dự phòng giảm giá hàng tồn kho Để thông tin tài sản được trình bày theo giá trị thuần có thể thực hiện được, thì trước khi lập BCTC doanh nghiệp cần xem xét lại giá trị các khoản mục tài sản này Việc xác định mức dự phòng tổn thất cần lập để tiến hành trích lập thêm hay hoàn nhập dự phòng phụ thuộc vào nhiều yếu tố Trong đó, có yếu tố xét đoán chủ quan của nhà quản lý và người làm công tác kế toán tại đơn vị Một khi điều này xảy ra, sẽ tạo cơ hội cho nhà quản lý can thiệp, tác động đến giá trị tài sản và khoản mục chi phí trình bày trên BCTC, từ đó chi phối đến thu nhập của doanh nghiệp

2.4.3 Thông qua việc lựa chọn phương pháp đánh giá sản phẩm dở

dang

Theo quy định, khi tính giá thành sản phẩm, các doanh nghiệp sản xuất

có thể áp dụng một trong các phương pháp xác định trị giá sản phẩm dở dang, như: Phương pháp đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu chính, đánh giá theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, đánh giá theo phương pháp ước tính sản lượng hoàn thành tương đương, Thực ra đây là công việc tính toán, phân bổ chi phí cho các sản phẩm chưa hoàn thành Công việc này trực tiếp tác động đến giá thành sản phẩm doanh nghiệp sản xuất ra, đồng thời gián tiếp tác động đến khoản mục chi phí hoạt động kinh doanh trong kỳ, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập của doanh nghiệp Tuỳ theo đặc điểm tổ chức quản lý sản xuất, tính chất của các khoản mục chi phí, để nhà quản lý lựa chọn và sử dụng phương pháp đánh giá thích hợp Điều này mang đến cơ hội cho nhà quản lý, lựa chọn phương pháp đánh giá “có lợi nhất” để tác động đến thu nhập của doanh nghiệp, nhằm đạt được những mục đích riêng nhất định

2.4.4 Thông qua các khoản trích trước và phân bổ

Để đảm bảo nguyên tắc phù hợp trong kế toán, chế độ kế toán cho phép doanh nghiệp sử dụng các kỹ thuật trích trước hoặc phân bổ, để xử lý các khoản

Trang 37

mục chi phí liên quan đến nhiều kỳ kế toán Thí dụ, để phản ánh các khoản phải trả cho hàng hóa, dịch vụ đã nhận được từ người bán trong kỳ báo cáo nhưng thực tế chưa chi trả do chưa có hóa đơn hoặc chưa đủ hồ sơ, tài liệu kế toán, quy định cho phép doanh nghiệp được ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh của

kỳ báo cáo thông qua việc trích trước chi phí Hay kỹ thuật này còn được sử dụng để trích trước chi phí trong thời gian doanh nghiệp ngừng sản xuất theo mùa vụ, trích trước chi phí để tạm tính giá vốn hàng hóa, thành phẩm bất động sản đã bán, Việc trích trước vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ phải được tính toán một cách chặt chẽ và phải có bằng chứng hợp lý, tin cậy về các khoản chi phí phải trích trước trong kỳ, để đảm bảo số chi phí phải trả này phù hợp với số chi phí thực tế phát sinh Bên cạnh đó, quy định còn cho phép doanh nghiệp treo lại các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có liên quan đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều kỳ kế toán (như chi phí trả trước

về thuê cơ sở hạ tầng, Chi phí thành lập doanh nghiệp, Công cụ, dụng cụ, bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê liên quan đến hoạt động kinh doanh trong nhiều

kỳ kế toán, ) để kết chuyển các khoản chi phí này vào chi phí sản xuất kinh doanh của các kỳ kế toán sau Đồng thời, quy định cũng nêu rõ việc tính và phân

bổ chi phí trả trước vào chi phí sản xuất kinh doanh từng kỳ kế toán, phải căn cứ vào tính chất, mức độ từng loại chi phí, để lựa chọn phương pháp và tiêu thức hợp lý Tuy nhiên, trên thực tế việc xác định cơ sở để trích trước chi phí cũng như việc lựa chọn phương pháp và tiêu thức phân bổ hợp lý thì không giống nhau giữa các doanh nghiệp Bởi điều này, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó

có cả sự can thiệp chủ quan của nhà quản lý Do đó, đây cũng là một trong những con đường dẫn tới chi phối thu nhập của các doanh nghiệp

2.4.5 Thông qua các khoản dự phòng phải trả

Theo quy định của Thông tư 200/2014/TT-BTC, tùy theo đặc điểm hoạt động và cách thức tổ chức quản lý mà doanh nghiệp được ghi nhận các khoản dự phòng phải trả như: Dự phòng phải trả tái cơ cấu doanh nghiệp, dự phòng phải

Trang 38

trả bảo hành sản phẩm, dự phòng bảo hành công trình xây dựng Một trong những điều kiện để ghi nhận khoản dự phòng phải trả đó là, doanh nghiệp đưa ra được một ước tính đáng tin cậy về giá trị của nghĩa vụ nợ đó Giá trị được ghi nhận của một khoản dự phòng phải trả là giá trị được ước tính hợp lý nhất về khoản tiền sẽ phải chi, để thanh toán nghĩa vụ nợ hiện tại, tại ngày kết thúc kỳ kế toán năm hoặc tại ngày kết thúc kỳ kế toán giữa niên độ Trường hợp, số dự phòng phải trả cần lập ở kỳ kế toán này lớn hơn số dự phòng phải trả đã lập ở kỳ

kế toán trước chưa sử dụng hết, thì số chênh lệch được ghi nhận vào chi phí sản xuất, kinh doanh của kỳ kế toán đó Ngược lại, nếu số dự phòng phải trả lập ở kỳ

kế toán này nhỏ hơn số dự phòng phải trả đã lập ở kỳ kế toán trước chưa sử dụng hết, thì số chênh lệch phải được hoàn nhập ghi giảm chi phí sản xuất, kinh doanh của kỳ kế toán đó Việc ước tính mức dự phòng cần lập, cho phép các nhà quản lý sử dụng khả năng xét đoán nghề nghiệp của mình, để ước tính mức dự phòng phù hợp Điều này không ngoại trừ khả năng tạo cơ hội cho các nhà quản

lý tác động đến khoản mục chi phí này, từ đó chi phối thu nhập của doanh nghiệp để phục vụ cho mục tiêu định trước

2.4.6 Việc ước tính tỷ lệ hoàn thành và ghi nhận doanh thu, chi phí đối

với hợp đồng dài hạn

Trong một số Doanh nghiệp đặc thù như đơn vị xây lắp, việc xác định doanh thu, chi phí có những nét đặc trưng riêng biệt Cụ thể như trường hợp ghi nhận doanh thu hợp đồng xây dựng, tùy theo hợp đồng quy định thanh toán theo tiến độ kế hoạch hay theo giá trị khối lượng thực hiện, để doanh nghiệp xác định doanh thu, chi phí Trường hợp, hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo giá trị khối lượng thực hiện, thì khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được xác định một cách đáng tin cậy và được khách hàng xác nhận, đơn vị sẽ ghi nhận doanh thu trên cơ sở phần công việc đã hoàn thành được khách hàng xác nhận Còn nếu hợp đồng quy định nhà thầu được thanh toán theo tiến độ kế hoạch, thì khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được ước

Trang 39

tính một cách đáng tin cậy, đơn vị sẽ phản ánh doanh thu tương ứng với phần công việc đã hoàn thành, do nhà thầu tự xác định tại thời điểm lập BCTC Bên cạnh đó, theo hướng dẫn của Chuẩn mực hợp đồng xây dựng (VAS 15): “Phần công việc đã hoàn thành của hợp đồng làm cơ sở xác định doanh thu” có thể được xác định bằng nhiều cách khác nhau (Tùy thuộc vào bản chất của hợp đồng

mà có thể có 3 phương pháp xác định) Như vậy, quy định cho phép doanh nghiệp được sử dụng phương pháp tính toán thích hợp, để xác định phần công việc đã hoàn thành Điều này có thể ảnh hưởng đến giá trị của khoản mục doanh thu, do doanh nghiệp xác định khối lượng công việc hoàn thành dựa trên các căn

cứ khác nhau và phụ thuộc một phần vào xét đoán của nhà quản lý

2.5 Tổng quan về Thông tư 200/2014/TT-BTC

Ngày 22/12/2014, Bộ trưởng Bộ Tài chính ký Thông tư số BTC thay thế Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 về chế độ kế toán doanh nghiệp, áp dụng cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính từ năm 2015 trở

200/2014/TT-đi

Thông tư 200/2014/TT-BTC có một số thay đổi quan trọng có thể ảnh đến việc sử dụng các chính sách kế toán của nhà quản trị Cụ thể như sau:

2.5.1 Lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho

Trong việc lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho, Quyết định 15/2006/QĐ-BTC cho phép doanh nghiệp lựa chọn một trong bốn phương pháp nhập trước – xuất trước, nhập sau – xuất trước, bình quân gia quyền và thực tế đích danh, trong khi đó, Thông tư 200/2014/TT-BTC chỉ cho phép doanh nghiệp lựa chọn một trong ba phương pháp nhập trước – xuất trước, bình quân gia quyền và thực tế đích danh, bỏ phương pháp nhập sau – xuất trước Theo đó, doanh nghiệp không thể sử dụng phương pháp nhập sau – xuất trước như một công cụ quản trị lợi nhuận

Trang 40

2.5.2 Ghi nhận doanh thu đối với hoạt động đầu tư, kinh doanh

bất động sản

Thông tư 200/2014/TT-BTC đưa ra các quy định về kế toán ghi nhận doanh thu bất động sản mà Quyết định 15/2006/QĐ-BTC trước đây chưa có quy định cụ thể Theo đó, doanh nghiệp là chủ đầu tư không được ghi nhận doanh thu bán bất động sản theo tiến độ xây dựng hoặc theo số tiền thu trước của khách hàng theo tiến độ Nếu theo thỏa thuận, chủ đầu tư giao nhà thô và khách hàng có quyền hoàn thiện nội thất của bất động sản hoặc chủ đầu tư thực hiện việc hoàn thiện nội thất của bất động sản theo đúng thiết kế, yêu cầu của khách hàng thì doanh thu chỉ được ghi nhận khi hoàn thành, bàn giao phần xây thô cho khách hàng Đối với bất động sản phân lô bán nền, doanh thu chỉ được ghi nhận sau khi chuyển giao nền đất cho khách hàng

Như vậy, Thông tư 200/2014/TT-BTC quy định rõ ràng về điều kiện ghi nhận doanh thu từ bất động sản, gắn doanh thu đi kèm với dòng tiền và chi phí thực tế, theo đó, doanh nghiệp không thể sử dụng việc ước tính tỷ lệ hoàn thành hợp đồng xây dựng để thực hiện quản trị lợi nhuận

Ngoài ra, Thông tư 200/2014/TT-BTC còn quy định đối với bất động sản đầu tư nắm giữ chờ tăng giá (bất động sản không phải là hàng hóa kinh doanh trong hoạt động của doanh nghiệp), doanh nghiệp không trích khấu hao

mà xác định tổn thất do suy giảm giá trị (khi giá trị thị trường xuống thấp hơn giá trị sổ sách của bất động sản đầu tư chờ bán) và ghi nhận khoản tổn thất vào chi phí Theo đó, doanh nghiệp không thể sử dụng việc ước tính thời gian khấu hao để ghi nhận chi phí mà phải tính hết vào chi phí

2.5.3 Ghi nhận chi phí chiết khấu thương mại, khuyến mãi và

giảm giá hàng bán

Thông tư 200/2014/TT-BTC quy định trường hợp khách hàng chỉ được nhận hàng khuyến mãi, quảng cáo kèm theo các điều kiện khác như phải mua

Ngày đăng: 15/08/2018, 21:21

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w