Việc bổ sung biến thâm hụt tài khóa hỗ trợ thêm cho kết quả nghiên cứu về mối quan hệ tuyến tính giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, một sự gia tăng trung bình 10% trong tỷ lệ nợ công s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
MỐI QUAN HỆ PHI TUYẾN GIỮA NỢ CÔNG
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CÁC QUỐC GIA THU NHẬP VỪA VÀ THẤP Ở ĐÔNG NAM Á
GIAI ĐOẠN 2000 – 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2016
ĐỖ HỒNG NHUNG
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
MỐI QUAN HỆ PHI TUYẾN GIỮA NỢ CÔNG
VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CÁC QUỐC GIA THU NHẬP VỪA VÀ THẤP Ở ĐÔNG NAM Á
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan luận văn “MỐI QUAN HỆ PHI TUYẾN GIỮA NỢ CÔNG VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CÁC QUỐC GIA THU NHẬP VỪA VÀ THẤP Ở ĐÔNG NAM Á GIAI ĐOẠN 2000 – 2015” là công trình nghiên cứu của chính tác giả Nội dung được đút kết từ quá trình học tập và kết quả nghiên cứu thực nghiệm
Số liệu sử dụng là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng từ các tổ chức tin cậy trên thế giới WB, IMF, ADB Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hồng Thắng
Tác giả luận văn
Đỗ Hồng Nhung
Trang 4Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các hình vẽ
TÓM MẮT NGHIÊN CỨU 1
PHẦN MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 7
1.1 Các quan điểm về nợ công 7
1.2 Sự tác động của nợ công đến nền kinh tế 9
1.3 Mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế 17
1.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 25
CHƯƠNG 2 MÔ HÌNH, DỮ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Mô hình nghiên cứu 26
2.2 Mô tả dữ liệu nghiên cứu 29
2.3 Phương pháp nghiên cứu 33
2.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 36
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 Kiểm định nghiệm đơn vị 37
3.2 Phân tích đa biến: quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế 38
3.3 Kết quả thực nghiệm 39
Trang 53.5 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 52
CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ 53
4.1 Hoàn thiện thể chế chính sách và các công cụ quản lý nợ công, chú trọng việc xây dựng môi trường tài chính hiệu quả: 53
4.2 Nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn đầu tư 55
4.3 Chuyển đổi cơ cấu nợ sang hướng cơ cấu nợ bền vững 59
4.4 Thực hiện các chính sách nhằm điều tiết kinh tế vĩ mô 60
4.5 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4: 61
4.6 Hạn chế của bài nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 61
Trang 6Bảng 2.2: Giả thuyết nghiên cứu
Bảng 2.3: Thống kê mô tả các biến dữ liệu
Bảng 2.4: Hệ số tương quan giữa các biến
Bảng 3.1: Kiểm định nghiệm đơn vị Dickey – Fuller
Bảng 3.2: Kiểm tra vấn đề đa cộng tuyến
Bảng 3.3: Kết quả hồi quy với phương pháp Pooled-OLS
Bảng 3.4: Kết quả hồi quy với phương pháp REM
Bảng 3.5: Kết quả kiểm định Breusch – Pagan
Bảng 3.6: Kết quả Hausman test
Bảng 3.7: Kết quả hồi quy với phương pháp FEM
Bảng 3.8: Kết quả hổi quy mô hình FEM đã khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi
Bảng 3.9: Kết quả hồi quy với phương pháp SGMM
Bảng 3.10: Kết quả hồi quy sử dụng biến giả dum57 và dum57_fiscal
Trang 7Hình 3.1: Đồ thị phân tán thể hiện mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế Hình 3.2: Thâm hụt ngân sách của các quốc gia Đông Nam Á (Asean 7) giai đoạn
2000 – 2015
Hình 4.1: Chỉ số ICOR của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2015
Trang 8TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu thực hiện kiểm tra mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế Dựa trên chuỗi dữ liệu bảng của 7 quốc gia Đông Nam Á có thu nhập vừa và thấp trong giai đoạn 15 năm (từ 2000 – 2015), tác giả cố gắng giải thích một loạt các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế bao gồm tỷ lệ gia tăng dân số, độ mở thương mại, lạm phát, quy mô chính phủ, thâm hụt ngân sách và đặc biệt là yếu tố nợ công thông qua các ước lượng khác nhau cũng như giải quyết các vấn đề nhân quả ngược và nội sinh Ngoài ra, tác giả còn kiểm tra các hiệu ứng ngưỡng, mối quan hệ phi tuyến và tác động phụ trội của nợ công lên tăng trưởng kinh tế trong điều kiện thâm hụt tài khóa khi tỷ lệ nợ ở mức thấp và khi chúng vượt ngưỡng Các kết quả thực nghiệm cho thấy một mối quan hệ nghịch đảo giữa tỷ lệ
nợ và tăng trưởng kinh tế khi kiểm soát các yếu tố khác quyết định đến tăng trưởng: một sự gia tăng trung bình 10% trong tỷ lệ nợ công so với GDP dẫn đến một sự suy giảm trong tốc độ tăng GDP thực hàng năm khoảng 0,381% mỗi năm Việc bổ sung biến thâm hụt tài khóa hỗ trợ thêm cho kết quả nghiên cứu về mối quan hệ tuyến tính giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, một sự gia tăng trung bình 10% trong tỷ lệ
nợ công so với GDP dẫn đến một sự suy giảm trong tốc độ tăng GDP thực hàng năm khoảng 0,437% mỗi năm Đồng thời, tác giả cũng tìm thấy bằng chứng về sự tồn tại mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế (dạng chữ U ngược), điều này càng khẳng định nợ công chỉ tác động cùng chiều đến tăng trưởng kinh tế đến một giá trị nhất định (vào khoảng 57%GDP từ kết quả nghiên cứu) sau
đó, khi vượt qua ngưỡng này, việc gia tăng thêm nợ sẽ khiến cho tăng trưởng kinh
tế chậm lại Đối với mẫu nghiên cứu, kết quả cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tác động của tỷ lệ thâm hụt ngân sách tính theo GDP lên tốc độ tăng trưởng GDP Cụ thể tốc độ tăng trưởng GDP sẽ thấp hơn trung bình là 0.406% nếu
tỷ lệ nợ chính phủ trên GDP tăng thêm 1% vào những thời kỳ nợ chính phủ đạt từ mức 57%GDP trở lên so với thời kỳ nợ chính phủ trên GDP thấp hơn 57% Điều này cho thấy với 1% tăng thêm của thâm hụt ngân sách sẽ khuyếch đại mức sụt
Trang 9giảm trong tốc độ tăng trưởng GDP 3.35 lần khi so sánh với yếu tố nợ phía trên Bài nghiên cứu đã chỉ ra rằng thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng cùng với tỷ lệ nợ công của nhóm quốc gia trong mẫu nghiên cứu sẽ tạo ra gánh nặng cho nền kinh tế, khiến cho công cụ chính sách tài khóa khó có thể phát huy tác dụng trong việc điều chỉnh chu kỳ kinh tế, tức là thay vì việc mở rộng chính sách tài khóa sẽ thúc đẩy tiêu dùng, kích thích tổng cầu, từ đó làm tăng sản lượng đầu ra thúc đẩy tăng trưởng thì chính sách tài khóa sẽ bị phản tác dụng và gây bất lợi cho nền kinh tế Vấn đề kiểm soát tỷ lệ nợ công qua các năm thông qua công tác quản lý có hiệu quả các công trình đầu tư công là hết sức quan trọng, cần được chính phủ quan tâm theo dõi
và xử lý chặt chẽ
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Bắt đầu từ thế kỉ XIX, các quốc gia khu vực Đông Nam Á đã theo đuổi chính sách tài khóa mở rộng, duy trì thâm hụt ngân sách và thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua các khoản vay nợ trong nước và nước ngoài để tăng cường đầu tư Các dòng chảy của các nguồn lực này giúp bổ sung cho đầu tư nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Do đó, có thể thấy các quốc gia này duy trì thâm hụt ngân sách trong thời gian dài cùng với sự tăng lên không ngừng của tỷ lệ nợ công trên GDP Điều này quả thực đã khiến cho tăng trưởng của các quốc gia này tăng lên đáng kể nhưng trong dài hạn, một khoản nợ công lớn có thể là nguyên nhân khiến cho lãi suất tăng, đầu tư giảm, tiết kiệm giảm, từ đó làm sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng quốc gia chậm lại Bên cạnh đó, nợ công cao cũng sẽ khiến cho nền kinh tế dễ bị tổn thương và rất dễ lâm vào tình trạng suy thoái kinh tế Đã có những nghiên cứu về mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế như nghiên cứu của Reinhart và Rogoff, 2009, 2010a, b; Reinhart et al, 2012; Kumar và Woo, 2010; Cecchetti et al, 2011; Checherita-Westphal và Rother, 2012; Furceri và Zdzienicka,
2012 cho thấy tỷ lệ nợ công chỉ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế đến một mức độ nhất định nhưng khi vượt qua mức này thì càng tăng nợ công càng làm suy giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế
Bên cạnh đó, thực tế cho thấy từ năm 2000, khu vực Đông Nam Á đã có một số những nền kinh tế phát triển nhanh trên thế giới nhưng lại tiềm ẩn những nguy cơ gây tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Nền kinh tế của Indonesia đã nhận được 6 phần trăm tăng trưởng hàng năm nhưng lại thiếu hụt các cơ sở hạ tầng thiết yếu cho sự tăng trưởng bền vững Sự tăng trưởng đáng ghi nhận ở Philippines lại phụ thuộc quá nhiều từ nguồn đầu tư nước ngoài Tăng trưởng của Thái Lan đã bị đình trệ trong bối cảnh bất ổn chính trị, và nó hiện đang trong một bong bóng tín dụng cổ điển Việt Nam vẫn tạo ra sự tăng trưởng ấn tượng nhưng đối mặt với các vấn đề ngân hàng, lạm phát cao, và tham nhũng phổ biến Như vậy, việc tiếp tục
Trang 11duy trì chính sách thâm hụt ngân sách cùng với tỷ lệ nợ công trên GDP ngày càng tăng vẫn còn tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế? Và liệu có tồn tại ngưỡng
nợ công mà khi đó tỷ lệ nợ công trên GDP bắt đầu ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia này không?
Để giải quyết vấn đề trên, tác giả đã thực hiện đề tài “Mối quan hệ phi tuyến giữa
Nợ Công và Tăng Trưởng Kinh Tế các quốc gia có thu nhập vừa và thấp ở Đông Nam Á Giai Đoạn 2000 – 2015” làm đề tài luận văn của mình nhằm kiểm tra tác động của những yếu tố đến tăng trưởng kinh tế bên cạnh yếu tố nợ công cũng như kiểm định lại mức độ mà ở đó tỉ lệ nợ công tác động đến tăng trưởng kinh tế thực sự
ở nhóm 7 quốc gia Đông Nam Á
2 Mục tiêu nghiên cứu
Với mục đích tìm hiểu mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và vấn đề tăng trưởng kinh tế, bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy để xác định mối quan hệ giữa nợ công và các vấn đề tăng trưởng kinh tế ở các nước Đông Nam Á (tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ nợ công trên GDP, chi tiêu chính phủ, tốc độ tăng trưởng dân số, lạm phát ….) Tác giả cũng xem xét thêm về việc vận dụng chính sách tài khóa của các quốc gia trong việc điều tiết nền kinh tế Sau đó, tác giả xác định ngưỡng nợ công thật sự tác động làm kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế tại các nước có thu nhập vừa
và thấp ở Đông Nam Á giai đoạn 2000 - 2015 Từ kết quả nghiên cứu thu được, đề xuất những kiến nghị cụ thể về tình hình nợ công ở 7 nước Đông Nam Á
Như vậy, bài nghiên cứu được thực hiện nhằm giải quyết hai vấn đề sau:
• Nợ công có thực sự tác động đến tăng trưởng kinh tế ở các nước Đông Nam
Á hay không ?
• Tỷ lệ nợ công trên GDP có ý nghĩa như thế nào đối với tăng trưởng kinh tế ở Đông Nam Á? Có một mức độ nhất định nào đó mà nợ công bắt đầu có ảnh hưởng
Trang 12xấu đến tăng trưởng kinh tế hay không? Mức độ bao nhiêu thì nợ công bắt đầu có tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế?
3 Phương pháp nghiên cứu
Để khám phá mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ công và tăng trưởng kinh tế, tác giả sử dụng GMM hệ thống bảng động kinh tế kỹ thuật của Arellano và Bover (1995) và Blundell và trái phiếu (1998) đề xuất Các nghiên cứu phát triển ứng dụng trước đó
sử dụng phương pháp kinh tế lượng này bao gồm những người khác Beck et al (2000), Levine et al (2000), Patillo et al (2002), và Patillo et al (2004) Bên cạnh
đó, tác giả cũng sử dụng các phương pháp hồi quy khác như Pooled OLS, FEM, REM để xem xét mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tỷ lệ nợ công trên GDP và tốc độ tăng trưởng GDP của 7 quốc gia có thu nhập vừa
và thấp ở Đông Nam Á, bao gồm Indonesia, Malaysia, Philipines, Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia trong giai đoạn từ 2000 – 2015
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Bài nghiên cứu nhằm tìm hiểu mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế của các quốc gia có thu nhập vừa và thấp ở Đông Nam Á giai đoạn 2000 – 2015 để xem xét các yếu tố tác động đến tăng trưởng kinh tế bên cạnh yếu tố nợ và xác định ngưỡng nợ công tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Tác giả cũng xem xét thêm về việc thi hành chính sách tài khóa của chính phủ trong bối cảnh tỷ lệ nợ cao, vượt ngưỡng sẽ tác động như thế nào đến tăng trường kinh tế của các quốc gia có thu nhập vừa và thấp ở Đông Nam Á Cùng với nhận định về tình hình nợ công tại nhóm quốc gia trong mẫu nghiên cứu để đề xuất, kiến nghị các chính sách nợ công nhằm tăng hiệu quả sử dụng nợ công
Trang 136 Bố cục bài nghiên cứu
Phần còn lại của bài nghiên cứu được chia thành 4 chương, trong đó:
Chương 1: Tổng quan lý thuyết Giới thiệu về khái niệm về nợ công và những yếu
tố dùng để đo lường tăng trưởng kinh tế trong bài nghiên cứu; trình bày mối quan
hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế theo lý thuyết và các nghiên cứu trước đây Chương 2: Phương pháp và kết quả nghiên cứu Giới thiệu về bộ dữ liệu, mô hình được sử dụng trong bài nghiên cứu; trình bày kết quả và giải thích các biến số mô hình
Chương 3: Trình bày kết quả nghiên cứu
Chương 4: Bình luận về tình hình nợ công tại nhóm 7 quốc gia Đông Nam Á Từ
đó, đề xuất, kiến nghị chính sách theo kết quả nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
1.1 Các quan điểm về nợ công
Có nhiều cách tiếp cận với khái niệm nợ công Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), nợ công, hay còn gọi là nợ chính phủ, là những phần nghĩa vụ nợ trực tiếp hoặc được thừa nhận của chính phủ một quốc gia với phần còn lại của nền kinh tế và nước ngoài Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (WB) và quan niệm của Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD), nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ của 4 nhóm chủ thể bao gồm:
• Nợ của Chính phủ trung ương và các Bộ, ban, ngành trung ương;
• Nợ của các cấp chính quyền địa phương;
• Nợ của Ngân hàng trung ương;
• Nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn
Như vậy, nợ công theo thông lệ quốc tế nợ công, theo nghĩa rộng, là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sách nhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước
và trong trường hợp vỡ nợ, nhà nước phải trả nợ thay) Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được Chính phủ bảo lãnh thanh toán
Còn theo cách tính ở Việt Nam, Luật Quản lý nợ công năm 2009 quy định, nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Theo đó, nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy
Trang 15định của pháp luật Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh Nợ chính quyền địa phương
là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành Như vậy, có thể khái quát, nợ công là toàn bộ các khoản vay nợ của các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương tại một thời điểm nào đó Tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nợ công, nhưng về cơ bản nợ công đều có bản chất như sau:
Xét về bản chất kinh tế, khi Chính phủ mong muốn hoặc bắt buộc phải chi tiêu vượt quá khả năng thu của mình (khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác) thì phải vay vốn để bù đắp thâm hụt ngân sách và điều đó làm phát sinh nợ công
Trong lĩnh vực tài chính công, một nguyên tắc quan trọng của ngân sách nhà nước được các nhà kinh tế học cổ điển hết sức coi trọng, đó là nguyên tắc cân bằng ngân sách Theo nghĩa cổ điển, cân bằng ngân sách được hiểu là một ngân sách mà ở đó,
số chi bằng với số thu Về ý nghĩa kinh tế, điều này giúp Chính phủ tiết kiệm chi tiêu hoang phí, còn về ý nghĩa chính trị, nguyên tắc này sẽ giúp hạn chế tình trạng Chính phủ lạm thu thông qua việc quyết định các khoản thuế Các nhà kinh tế học
cổ điển như A.Smith, D.Ricardo, J.B.Say là những người khởi xướng và ủng hộ triệt để nguyên tắc này trong quản lý tài chính công Và chính vì thế, các nhà kinh tế học cổ điển không đồng tình với việc Nhà nước có thể vay nợ để chi tiêu
Ngược lại với các nhà kinh tế học cổ điển, một nhà kinh tế học được đánh giá là có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất ở nửa đầu thế kỷ XX là John M.Keynes (1883-1946) và những người ủng hộ mình (gọi là trường phái Keynes) lại cho rằng, trong nhiều trường hợp, đặc biệt là khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến việc đầu tư của tư nhân giảm thấp, thì Nhà nước cần ổn định đầu tư bằng cách vay tiền (tức là cố ý tạo ra thâm hụt ngân sách) và tham gia vào các dự án đầu tư công cộng như đường xá, cầu cống và trường học, cho đến khi nền kinh tế có mức đầu tư tốt trở lại Học thuyết
Trang 16của Keynes (cùng với sự chỉnh sửa nhất định từ những đóng góp cũng như phản đối của một số nhà kinh tế học sau này là Milton Friedman và Paul Samuelson) được hầu hết các Chính phủ áp dụng để vượt qua khủng hoảng và tình trạng trì trệ của nền kinh tế
Ngược lại với Keynes, Milton Friedman cho rằng, việc sử dụng chính sách tài khóa nhằm tăng chi tiêu và việc làm sẽ không có hiệu quả và dễ dẫn đến lạm phát trong thời kỳ suy thoái vì người dân thường chi tiêu dựa trên kỳ vọng về thu nhập thường xuyên chứ không phải thu nhập hiện tại và mọi chính sách đều có độ trễ nhất định Thay vì thực hiện chính sách tài khóa thiếu hụt, Nhà nước nên thực thi chính sách tiền tệ hiệu quả Còn Paul Samuelson, một nhà kinh tế học theo trường phái Keynes,
đã có những bổ sung quan trọng trong quan niệm về chính sách tài khóa của Keynes Ông cho rằng, để kích thích nền kinh tế vượt qua sự trì trệ, cần thiết phải thực hiện cả chính sách tài khóa mở rộng và chính sách tiền tệ linh hoạt Như vậy, vay nợ là một cách huy động vốn tài trợ cho phát triển nhưng nếu không được quản
lý tốt sẽ gây tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Phần tiếp theo, tác giả sơ lược về các lý thuyết và nghiên cứu về những tác động tích cực và tiêu cực của nợ công đến nền kinh tế
1.2 Sự tác động của nợ công đến nền kinh tế
Nợ công có tầm ảnh hưởng đến nền kinh tế trong ngắn hạn và dài hạn Theo quan điểm truyền thống, nợ công có tác động trong việc thúc đẩy cầu và sản lượng đầu ra trong ngắn hạn; do việc vay nợ của chính phủ để bù đắp thâm hụt ngân sách do cắt giảm các nguồn thu từ thuế trong khi mức chi tiêu công không thay đổi làm giảm tiết kiệm của quốc gia và mức tích luỹ vốn, nên khuyến khích người dân tiêu dùng nhiều hơn, số người thất nghiệp giảm đi mặc dù lạm phát có thể cao hơn (theo giả định của lý thuyết Keynes) nhưng lại gây mất vốn và làm giảm đầu ra trong dài hạn (theo Elmendorf và Mankiv, 1999) Quan điểm của David Ricardo, một nhà kinh tế người Anh (1772 – 1832) lại cho rằng mức thuế cắt giảm được bù đắp bằng nợ chính phủ sẽ không có tác động đến tiêu dùng kể cả trong ngắn hạn Ngược lại, nó
Trang 17làm các khoản tiết kiệm tư nhân tăng lên bởi người tiêu dùng đang chuẩn bị cho mức thuế cao sẽ đến trong tương lai để chi trả lãi và nợ gốc cho các khoản nợ hiện tại
Theo Lê Thị Minh Ngọc (2013) nhận định rằng xét về mặt tích cực, Chính phủ có thể sử dụng nợ công như một công cụ để tài trợ vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư cho các dự án, công trình trọng điểm, khuyến khích phát triển sản xuất, kích thích tăng trưởng kinh tế Việc tăng nợ công để bù đắp thâm hụt ngân sách do cắt giảm thuế có thể sẽ góp phần kích thích tiêu dùng, tăng sản lượng, việc làm, từ đó tăng tổng sản phẩm quốc dân trong ngắn hạn Tuy nhiên, trong dài hạn, một khoản nợ Chính phủ lớn cũng là nguyên nhân khiến lãi suất tăng, đầu tư giảm, tiết kiệm giảm và khuyến khích luồng vốn từ nước ngoài chảy vào, từ đó làm tăng trưởng sản lượng tiềm năng quốc gia bị chậm lại Nợ công tăng quá cao sẽ khiến nền kinh tế dễ bị tổn thương và chịu nhiều sức ép từ bên trong lẫn bên ngoài quốc gia Cụ thể những tác động này của nợ công đến nền kinh tế như sau:
Thứ nhất, nợ công lớn làm giảm tích lũy vốn tư nhân (private saving), dẫn đến hiện tượng thoái lui đầu tư tư nhân
Khi chính phủ tăng vay nợ, đặc biệt là vay trong nước, lúc này mức tích lũy vốn tư nhân sẽ được thay thế bởi tích lũy nợ chính phủ Thay vì sở hữu cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp hay gửi tiết kiệm ngân hàng, dân chúng lại sở hữu trái phiếu chính phủ làm cho cung về vốn giảm trong khi cầu tín dụng của chính phủ lại tăng lên, từ
đó đẩy lãi suất tăng, chi phí đầu tư tăng và có thể dẫn đến hiện tượng “thoái lui đầu tư” khu vực tư nhân (crowding-out effect)
Thứ hai, nợ công làm giảm tiết kiệm quốc gia (national saving)
Thu nhập quốc gia (Y) được xác định tương đương với tổng sản lượng quốc dân (GDP) theo công thức: Y = C + S + T = C + I + G + NX = GDP (*)
Trang 18Trong đó: Y: thu nhập quốc gia; C: Tiêu dùng tư nhân; S: tiết kiệm tư nhân ; T: thuế trừ đi các khoản thanh toán; I: Đầu tư nội địa; G: Chi tiêu của chính phủ, NX: Xuất khẩu ròng
Như vậy: S + (T – G) = I + NX (**) Hay: T – G = I + NX – S (***)
Phương trình (***) chỉ ra rằng khi ngân sách nhà nước thâm hụt (T-G<0) tức I +
NX < S, như vậy, những khả năng có thể xảy ra là: Tiết kiệm tư nhân (S) tăng, đầu
tư nội địa (I) giảm và xuất khẩu ròng (NX) giảm Khi chính phủ tăng vay nợ để bù đắp thâm hụt, chúng ta lần lượt xem xét những khả năng này có thể xảy ra và sự tác động của nó đến tiết kiệm quốc gia:
1 Tiết kiệm tư nhân tăng (S): Trong thực tế, một số nhà kinh tế học lập luận rằng, tiết kiệm tư nhân sẽ tăng chính xác bằng lượng giảm của tiết kiệm của chính phủ Tuy nhiên trong trường hợp này, chúng ta tạm thời giả định tiết kiệm tư nhân tăng ít hơn phần tiết kiệm của chính phủ giảm, chính vì vậy mà tiết kiệm quốc gia giảm
2 Đầu tư nội địa giảm (I): Đầu tư nội địa giảm dẫn đến đầu ra là tổng vốn nội địa giảm Lượng vốn ít, lãi suất tăng, chi phí biên của sản phẩm trên mỗi đồng vốn cao hơn, năng suất lao động sụt giảm, từ đó làm giảm mức lương và thu nhập trung bình dẫn đến giảm tiết kiệm quốc gia
3 Xuất khẩu ròng giảm (NX): Khi chính phủ tăng vay nợ, lãi suất trong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới lượng tiền từ nước ngoài đổ vào trong nước tăng khiến cho tỷ giá hối đoái tăng, làm cho giá của hàng hóa sản xuất trong nước đắt hơn hàng hóa nước ngoài, trở nên kém cạnh tranh hơn trên thị trường quốc
tế, từ đó giảm xuất khẩu ròng
Xuất khẩu ròng giảm, đầu tư nước ngoài giảm có nghĩa rằng người dân nội địa sẽ sở hữu ít vốn nước ngoài hơn Trong trường hợp này, thu nhập người dân nội địa sẽ giảm, tiết kiệm quốc gia giảm Giảm xuất khẩu ròng cũng là một trong những nhân
tố dẫn đến thâm hụt cán cân thương mại Đặc biệt, khi thâm hụt ngân sách và thâm
Trang 19hụt cán cân thương mại cùng xảy ra sẽ dẫn đến hiện tượng “thâm hụt kép” gây tác động tiêu cực đến sự phát triển nền kinh tế
Thứ ba, nợ công tạo áp lực gây ra lạm phát
Lạm phát được tạo ra do hai nguyên nhân chính: Do tổng cầu tăng lên hoặc do chi phí đẩy Chính phủ tăng vay nợ bằng phát hành trái phiếu, một mặt làm tiêu dùng của chính phủ tăng lên, một mặt sẽ tạo áp lực đẩy lãi suất lên cao
Khi tăng vay nợ trong nước, lãi suất tăng làm chi phí đầu tư, tăng giá thành và giá bán sản phẩm Bên cạnh đó, lãi suất tăng, người nắm giữ trái phiếu chính phủ cảm thấy mình trở nên giàu có hơn và có thể tiêu dùng nhiều hơn Tiêu dùng tư nhân tăng, chi tiêu công của chính phủ tăng dẫn đến cầu hàng hóa, dịch vụ tăng, tạo áp lực lạm phát trong ngắn hạn, từ đó tác động tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng thực của nền kinh tế (bằng tốc độ tăng trưởng danh nghĩa trừ tỷ lệ lạm phát)
Khi chính phủ tăng vay nợ nước ngoài, một dòng ngoại tệ lớn sẽ chảy vào trong nước có thể giảm sức ép cân đối ngoại tệ trong ngắn hạn Về mặt dài hạn, áp lực trả
nợ cả gốc và lãi bằng ngoại tệ sẽ đẩy cầu ngoại tệ tăng lên, đồng nội tệ giảm giá làm tăng chi phí đầu vào khi nhập khẩu nguyên liệu, máy móc, thiết bị…dẫn tới nguy cơ lạm phát Tỷ giá tăng làm chi phí thanh toán nợ trở nên đắt đỏ hơn, nếu vượt quá sức chịu dựng của ngân sách sẽ dẫn đến nguy cơ vỡ nợ
Thứ tư, nợ công làm méo mó các hoạt động kinh tế, gây tổn thất phúc lợi xã hội
Dù chính phủ lựa chọn phương án vay nợ trong nước hay vay nước ngoài thì đều có tác động làm méo mó các hoạt động kinh tế, gây tổn thất phúc lợi xã hội
Khi vay nợ nước ngoài, nguồn để trả nợ cả gốc và lãi chỉ có thể lấy từ các khoản thu thuế Người dân phải chịu một khoản thuế cao hơn trong tương lai để trả lãi cho các đối tượng ngoài quốc gia sẽ làm giảm thu nhập, giảm tiêu dùng…từ đó giảm chất lượng cuộc sống
Trang 20Vay trong nước có thể được coi là ít tác động hơn bởi lý do chính phủ nợ chính công dân nước mình và cũng chính họ là người được hưởng thụ các lợi ích do các khoản chi tiêu công tạo ra Tuy nhiên, ngay cả khi một người bị đánh thuế để trả lãi cho chính họ do đang sở hữu trái phiếu chính phủ thì vẫn có những tác động khiến cho các hoạt động kinh tế của người đó bị bóp méo Dù cho Chính phủ dùng loại thuế nào (thuế thu nhập, thuế tiêu dùng, thuế tài sản…), đánh thuế dưới hình thức nào (trực tiếp, gián tiếp) cũng sẽ dẫn đến những sai lệch trong các hoạt động kinh tế của một cá nhân như thay đổi hành vi tiết kiệm, tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế vi mô, vĩ mô khác như: sản xuất, việc làm… Bên cạnh đó, việc tăng thuế để trả lãi vô hình chung đã tạo ra sự phân phối lại thu nhập giữa những người nộp thuế và người sở hữu trái phiếu chính phủ, theo đó người nộp thuế chắc chắn phải gánh chịu sự suy giảm về thu nhập, tiêu dùng hoặc tiết kiệm
Có lập luận cho rằng nợ công có thể kích thích tổng cầu và có tác dụng tăng trưởng tích cực trong ngắn hạn Theo nghiên cứu của Krueger (1987), nợ công, đặc biệt là
nợ nước ngoài đóng vai trò quan trọng và có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh
tế tại các quốc gia đang phát triển Nghiên cứu của Tokun và cộng sự (2007) cùng với các nghiên cứu ban đầu của các nhà kinh tế học trong những thập niên 50 và 60
đã tìm thấy một lý thuyết chung về mối quan hệ giữa nợ nước ngoài và vấn đề tăng trưởng kinh tế Theo đó, việc chuyển giao hợp lý các nguồn lực nước ngoài (thông qua các khoản vay, viện trợ và tài trợ) tại các quốc gia kém và đang phát triển sẽ giúp bổ sung nguồn vốn thiếu hụt trong nước và chuyển đổi nền kinh tế để tạo ra mức tăng trưởng cao hơn Các quốc gia ở giai đoạn đầu phát triển với lượng vốn nhỏ sẽ có những cơ hội đầu tư với tỷ suất hoàn vốn cao hơn so với các quốc gia có nền kinh tế phát triển Do vậy, chỉ cần các quốc gia này sử dụng vốn vay để đẩu tư sản xuất thì tăng trưởng sẽ tăng và cho phép họ thanh toán các khoản nợ vay kịp thời Điều này cũng hàm ý rằng trong ngắn hạn có tồn tại mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế, trong đó nợ nước ngoài là một bộ phận quan trọng của nợ công Do đó, hàm ý chính sách này cũng đúng với mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế Trong nghiên cứu của mình, soludo (2001) đã
Trang 21chỉ ra rằng chu kỳ nợ có 3 giai đoạn: giai đoạn đầu tiên nợ phát triển để bổ sung các nguồn lực thiếu hụt trong nước; giai đoạn thứ hai, quá trình sử dụng nợ tạo ra thặng
dư nhưng có thể không đủ bù đắp các khoản thanh toán lãi suất; giai đoạn thứ ba, quá trình sử dụng nợ phải tạo ra thặng dư đủ để trang trải lãi và nợ gốc Điều này ngụ ý các nhà làm chính sách cần phải đầu tư hiệu quả để nợ công không trở thành gánh nặng trong tương lai
Một nghiên cứu kinh tế được tiến hành bởi Abbas và Christensen (2007) để điều tra mức độ nợ trong nước tối ưu ở các quốc gia có thu nhập thấp bao gồm 40 quốc gia châu Phi và các thị trường mới nổi từ năm 1975 đến 2004 và thấy rằng mức độ vừa phải của nợ trong nước với một tỷ lệ phần trăm theo GDP có tác dụng tích cực đối với tăng trưởng kinh tế Muhdi và Sasaki (2009) đã kiểm tra tác động kinh tế vĩ mô của nợ nước ngoài và nợ trong nước ở Indonesia bằng cách áp dụng mô hình hồi quy OLS thông thường để ước tính mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ công và tăng trưởng kinh tế cho giai đoạn năm 1991 đến năm 2006 Nghiên cứu cho thấy những tác động tích cực của xu hướng tăng nợ nước ngoài lên cả đầu tư và tăng trưởng kinh
tế
Nghiên cứu của Karazijienė & Sabonienė (2009) cho rằng vay nợ của chính phủ là không thể tránh khỏi và đây không phải là hiện tượng đáng trách của tăng trưởng kinh tế Đó là một cách để kích thích tăng trưởng kinh tế bằng cách bơm tiền từ các nhà đầu tư nước ngoài (nợ nước ngoài) cũng như phân phối tài sản (nợ trong nước) trong số những người có thu nhập cao hơn số tiền họ chi tiêu tại thời điểm này và những người thiếu tài sản để phát triển các sáng kiến kinh tế hoặc sử dụng cho nhu cầu khác Từ trái phiếu chính phủ, tín phiếu và các khoản vay cho các chính phủ được coi là một trong những công cụ tài chính an toàn nhất, có lãi suất thấp hơn nhiều so với các trường hợp vay vốn khác Điều này có lợi cho nền kinh tế và tạo thêm thặng dư nếu dòng nợ công đang được kiểm soát một cách hiệu quả
Nợ công là một trong những chỉ số kinh tế vĩ mô chính mô tả sức mạnh kinh tế của quốc gia trên thị trường quốc tế Đây là một trong những yếu tố quyết định dòng
Trang 22vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài chảy vào trong nước Hơn nữa, kể từ khi chính phủ vay chủ yếu bằng cách phát hành chứng khoán, có kỳ hạn, lãi suất và tổng chi phí của các khoản nợ tài chính có tác động đáng kể đến nền kinh tế, trong tương lai của doanh nghiệp và phúc lợi xã hội cho không chỉ hiện tại mà còn cả thế hệ tương lai Theo Martin (2009), nợ công cũng có thể được xem như là phương tiện của việc trì hoãn thuế theo cách đó làm giảm biến dạng hiện tại Vì vậy, chính phủ có hai lựa chọn để giải quyết các nhu cầu tài chính do thâm hụt ngân sách Đầu tiên là hệ thống thuế, một mức thuế cao hơn dẫn đến tiêu thụ tại thời điểm đó thấp hơn, do đó làm chậm sự tăng trưởng kinh tế Trong khi đó, khoản nợ tài chính đặt áp lực lên các thế hệ tương lai và khả năng của họ để duy trì sự ổn định kinh tế và tài chính Người dân không chỉ sẽ phải trả số tiền vay, mà còn bao gồm các chi phí liên quan đến vay nợ, trong đó bao gồm lãi vay và chi phí quản lý nợ Một món nợ được coi
là bền vững nếu nó được sử dụng để tạo ra tăng trưởng kinh tế và lợi ích cao hơn so với chi phí ban đầu, nếu không sẽ gặp phải các vấn đề tài chính công khác nghiêm trọng trong dài hạn Vì vậy, chính phủ phải duy trì sự cân bằng giữa thuế và vốn vay
để duy trì sự ổn định kinh tế và tài chính trong một thời gian dài
Bên cạnh những lợi ích mà việc vay nợ chính phủ mang lại thì tài chính công phải được xử lý cẩn thận, vì trong trường hợp mức nợ quá cao, chi phí nợ trở nên cao hơn so với lợi ích của nó sẽ bắt đầu làm suy giảm GDP tác động tiêu cực đến nền kinh tế, trong dài hạn nợ công gây ra tác động lấn át đầu tư tư nhân và tác động tiêu cực đến hoạt động kinh tế (Elmendorf và Mankiw, 1999) Bằng cách tăng lãi suất dài hạn, nợ công cao hơn có thể gây lấn át đầu tư (Modigliani, 1961, Gale và Orszag, 2003; Baldacci và Kumar, 2010) Đây không phải là kênh duy nhất mà qua
đó một gánh nặng nợ nần tài chính có thể ảnh hưởng đến tăng trưởng dài hạn Sự suy giảm số dư tài chính trong sự hiện diện của các cổ phiếu nợ công cao gây bất lợi cho sự tăng trưởng, mặc dù thâm hụt giúp tài trợ vốn công cộng (Adam và Bevan,
2005, Saint-Paul, 1992 và Aizenman, Kletzer, và Pinto, 2007) Nói chung, điều này lập luận rằng một cổ phiếu cao hơn ở nợ công sẽ gây ra thuế bóp méo trong tương lai, hay lạm phát sẽ cao hơn để trả nợ, làm giảm tiềm năng tăng trưởng trong tương
Trang 23lai Như vậy, nợ công cao làm giảm khả năng thực hiện chính sách tài khóa ngược với chu kỳ kinh tế, dẫn đến biến động cao hơn và tăng trưởng thấp hơn (Aghion và Kharroubi, 2007; Woo, 2009) Một cuộc khủng hoảng nợ công có thể ảnh hưởng đến sự phát triển đến mức gây nên khủng hoảng ngân hàng hoặc khủng hoảng tiền
tệ (Burnside, Eichenbaum, và Rebelo, 2001; Hemming, Kell, và Schimmelpfennig, 2003)
Trong khi cả hai mô hình tăng trưởng tân cổ điển và nội sinh (Diamond, 1965; Saint-Paul, 1992) cho thấy nợ công có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn, ước tính phỏng chừng cho thấy rằng tiêu chuẩn lấn át kênh không được định lượng một cách quan trọng (Panizza và Presbitero, 2013) Nợ công có thể
có một tác động tiêu cực lớn hơn về kết quả kinh tế nếu nó ảnh hưởng đến năng suất của các khoản chi tiêu công cộng (Teles và Cesar Mussolini, 2014), làm tăng sự không chắc chắn hoặc tạo ra những kỳ vọng của việc kiềm chế tài chính trong tương lai (Cochrane, 2011), và làm tăng nguy cơ chủ quyền (codogno et al., 2003), dẫn đến lãi suất thực cao hơn và đầu tư tư nhân thấp hơn (Tanzi và Chalk, 2000; Laubach, 2009) Tuy nhiên, cũng có thể suy nghĩ về tình huống trong đó các chính sách tài khóa mở rộng dẫn đến tích tụ nợ nhưng tránh suy thoái kéo dài sẽ chỉ có một tác động tích cực trên cả hai giai đoạn tăng trưởng ngắn hạn và dài hạn (DeLong và Summers, 2012)
Nghiên cứu của Alfredo Schclanek (2004) điều tra mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế với mẫu nghiên cứu 24 nước công nghiệp và 59 nước đang phát triển bằng cách sử dụng hồi quy GMM hệ thống cho dữ liệu 5 năm không chồng chéo trong giai đoạn 1970 – 2002 Kết quả thể hiện khác nhau giữa các nhóm nước nghiên cứu Ở mẫu nhóm nước đang phát triển, nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ tiêu cực giữa tỷ lệ nợ công nước ngoài tính theo GDP, xuất khẩu, TFP với tốc độ tăng trưởng GDP Trong khi đó, kết quả lại không tìm thấy bằng chứng có ý nghĩa thống kê về mối quan hệ này ở nhóm các nước công nghiệp Điều này cho thấy kết
Trang 24quả thật thú vị khi các nước công nghiệp cho mức độ nợ công cao hơn nhưng lại không nhất thiết phải liên quan đến tốc độ tăng trưởng GDP thấp hơn
Ngoài ra, Vladimir Simic và Vinko Mustra (2012) thực hiện nghiên cứu khảo sát về mối quan hệ giữa nợ (bao gồm nợ công và nợ nước ngoài) với tăng trưởng trong khu vực Trung Đông và Đông Nam Âu Nghiên cứu sử dụng phương pháp Fixed effect FEM, random effect REM và GMM để phân tích dữ liệu bảng động bao gồm mẫu của 18 quốc gia Kết quả của cả hai tác giả đều chỉ ra sự tồn tại của mối quan
hệ có ý nghĩa thống kê giữa nợ (gồm nợ công và nợ nước ngoài) và tăng trưởng kinh tế, với xu hướng tăng trưởng giảm khi nợ ở mức cao Nghiên cứu khác của Manoel Bittencourt (2012) điều tra tác động của nợ công nước ngoài lên tăng trưởng với mẫu 9 nước châu Mỹ La Tinh, sử dụng phân tích dữ liệu bảng bằng các phương pháp hồi quy ước lượng OLS gộp, FEM, GMM sai phân và GMM hệ thống
đã góp phần ủng hộ quan điểm cho rằng tăng trưởng kinh tế tăng khi được hỗ trợ bởi việc giảm gánh nặng nợ nần của chính phủ, đặc biệt khi nợ đó đến từ nguồn vay
nợ nước ngoài
1.3 Mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế
Để giải thích toàn diện mối quan hệ lâu dài giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, lý thuyết “Debt overhang” ra đời và được xem như một lý thuyết nền tảng, lý thuyết này được giải thích qua đồ thị đường cong dạng chữ U ngược Theo Krugman (1988) định nghĩa “debt overhang” là tình trạng số tiền dự kiến chi trả nợ sẽ giảm dần khi dung lượng nợ tăng lên Lý thuyết “debt overhang” cho rằng nếu nợ trong tương lai vượt quá khả năng trả nợ của một quốc gia thì các chi phí dự tính chi trả cho các khoản nợ đó sẽ kìm hãm đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, từ đó ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng Các nhà đầu tư tiềm năng sẽ lo sợ rằng khi quốc gia sản xuất càng nhiều, họ sẽ bị các nước đánh thuế nặng hơn để chi trả cho các khoản nợ nước ngoài, do đó các nhà đầu tư sẽ khó có thể bỏ các chi phí đầu tư hiện tại để thu
về sản lượng cao hơn trong tương lai Lý thuyết “Debt overhang” còn đi đến một kết quả rộng hơn, đó là mức nợ nước ngoài quá cao sẽ làm giảm các ưu đãi của
Trang 25chính phủ cho các hoạt động cải tổ cơ cấu và tài khóa do việc củng cố tình hình tài khóa quốc gia có thể làm tăng áp lực trả nợ cho nước ngoài Những bất lợi này đối với công cuộc cải tổ đang là mối quan ngại lớn ở các nước có thu nhập thấp, nơi mà việc cải cách cơ cấu là cần thiết để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế Tình trạng
“Debt overhang” cũng đồng thời kìm hãm đầu tư và tăng trưởng do gây ra sự lo ngại về các quyết định của Chính phủ Khi quy mô nợ công tăng lên, khó có thể chắc chắn chính phủ sẽ viện tới những chính sách gì để giải quyết các khoản nợ phải trả Trên thực tế, người ta cho rằng Chính phủ có thể dùng các công cụ tác động đến đầu tư để chi trả cho các khoản nợ (Agenor và Montiel, 1996) Lập luận này có thể được xem xét trong đường cong theo dạng chữ U ngược về nợ (Hình 1.1), cho thấy rằng tổng nợ càng lớn sẽ đi kèm với khả năng trả nợ càng giảm Trên phần dốc lên của đường cong, giá trị hiện tại của nợ càng tăng sẽ đi cùng với khả năng trả nợ cũng tăng lên Trên phần dốc xuống của đường cong, giá trị hiện tại của
nợ càng tăng lại đi kèm với khả năng trả nợ càng giảm Đỉnh của đường cong dạng chữ U ngược là điểm mà tại đó sự tăng lên trong tổng nợ bắt đầu tạo ra gánh nặng cho đầu tư, cải tổ kinh tế và các hoạt động khác, điểm này có thể liên quan đến điểm
mà tại đó nợ bắt đầu ảnh hưởng ngược chiều đến tăng trưởng Do vậy, ở mức nợ hợp lý, vay nợ tăng lên sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng Ngược lại, tổng nợ tích lũy lớn sẽ có thể cản trở tăng trưởng do tác động xấu đến tích lũy vốn sản xuất
và tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp Bên cạnh đó, môi trường chính sách của chính phủ cũng ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa nợ và tăng trưởng kinh tế
Trang 26đó Checherita – Westphal và Rother (2012) thực hiện phân tích hồi quy cho 12 nước khu vực đồng euro trong giai đoạn từ 1970 – 2011, có sự phân biệt giữa tốc độ tăng trưởng hằng năm và tỷ lệ tăng trưởng trong một khoảng thời gian 5 năm Đối với cả hai trường hợp, các tác giả tìm thấy một mối quan hệ hình chữ U ngược giữa
nợ công và tăng trưởng kinh tế, với ngưỡng nợ công vào khoảng 70% - 80% GDP Dreger và Reimers (2013) nghiên cứu tác động của tỷ lệ nợ trên tăng trưởng GDP thực tế cho các thành viên khu vực đồng euro và các nền kinh tế châu Âu không
Trang 27phải khu vực đồng euro Họ phân biệt giữa các quốc gia nợ bền vững và không bền vững và họ phát hiện một tác động tiêu cực giữa tỷ lệ nợ và tăng trưởng kinh tế Hơn nữa, bằng chứng cho thấy sự tăng trưởng kinh tế dài hạn bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi tỷ lệ nợ trên GDP vượt quá ngưỡng nhất định được chứng minh bởi Cecchetti, Mohanty, và Zampolli (2011) Các tác giả đã kiểm tra tác động của nợ lên tăng trưởng bằng cách sử dụng một tập dữ liệu về các mức nợ công ở 18 quốc gia OECD 1980-2010 Các dữ liệu cho phép phân tích các tác động riêng biệt của
hộ gia đình, doanh nghiệp phi tài chính và nợ chính phủ Phát hiện của họ cho thấy rằng, khi vượt qua một mức độ nhất định, nợ có tác động tiêu cực đến sự tăng trưởng Đối với nợ chính phủ, con số này là khoảng 85% của GDP Đối với khoản
nợ của công ty, ngưỡng gần 90% Đối với nợ hộ gia đình, có một ngưỡng khoảng 85% GDP, mặc dù tác động đã được ước tính không chính xác Đối với nợ chính phủ, phát hiện của họ có ý nghĩa trước mắt mà chính phủ các nước mắc nợ nên nhằm mục đích hướng tới ổn định nợ của họ và làm giảm nó đến mức độ đó đủ thấp
để không làm chậm tăng trưởng kinh tế Tác giả đã đề nghị các chính phủ cũng nên nhằm mục tiêu giữ nợ của họ cũng thấp hơn ngưỡng ước để mà ngay cả khi xảy ra những sự kiện đặc biệt cũng sẽ rất khó để đẩy nợ của họ đến mức độ trở thành có hại cho tăng trưởng tăng trưởng kinh tế
Trong nghiên cứu của Pattilo và cộng sự (2002) đã tìm thấy bằng chứng thực nghiệm ủng hộ tác động phi tuyến của nợ công lên tăng trưởng kinh tế tại mức nợ thấp, trong đó nợ gần như có tác động cùng chiều lên tăng trưởng kinh tế, nhưng khi trên một ngưỡng nào đó hay thường gọi là một điểm ngoặt (turning point), việc gia tăng thêm nợ bắt đầu gây ra tác động ngược chiều lên tăng trưởng kinh tế
Ngoài ra, Clements, Bhattacharya và Nguyen (2003) trong nghiên cứu cũng đã tìm thấy mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công (external debt) và tăng trưởng kinh tế bằng việc sử dụng bộ dữ liệu bảng gồm 55 quốc gia có thu nhập thấp trong giai đoạn
1970 – 1999 Nghiên cứu đã ước tính mức ngưỡng nợ trong khoảng từ 20% - 30% GDP (khi xem xét các giá trị danh nghĩa của nợ nước ngoài thì giá trị cao hơn trong
Trang 28khoảng 50%) Các kết luận được kết hợp với giả thuyết “nhô nợ” được định nghĩa bởi Krugman (1988), theo đó sau khi giá trị nợ vượt quá một mức nhất định thì khi
đó nợ công có ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng do tăng trưởng không chắc chắn để đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ của một quốc gia Nhìn chung, nợ công cao làm gia tăng áp lực tiêu cực lên sự sẵn lòng cung cấp vốn của nhà đầu tư và ưu đãi đầu tư, cùng với việc giảm khả năng thanh toán nợ của một quốc gia, làm giảm tiềm năng tăng trưởng (Imbs và Ranciere, 2004) Tương tự như vậy, Pattillo, Poirson và Ricci (2002) xác nhận một mối quan hệ phi tuyến chữ U ngược giữa mức độ nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế sử dụng một bảng dữ liệu lớn của 93 nước đang phát triển trong giai đoạn 1969-1998 Những phát hiện gợi ý rằng các kênh quan trọng
mà qua đó nợ bên ngoài quá mức gây ức chế đến sự tăng trưởng thông qua sự suy giảm hiệu quả các khoản đầu tư chứ không phải là mức độ đầu tư Điều này phù hợp với các nghiên cứu thực nghiệm khác cho thấy tổng nhân tố năng suất giải thích hầu hết những biến đổi trong sản lượng (Checherita và Rother, 2010; Clements, Bhattacharya và Nguyen, 2003) Ngoài ra, Pattillo, Poirson và Ricci (2004) ước tính rằng giá trị ngưỡng khi nợ nước ngoài có ảnh hưởng có hại đến tăng trưởng là giữa 35% - 40% GDP cho dữ liệu bảng của các nước đang phát triển
Theo nghiên cứu của Reinhart và Rogoff (2010a) phân tích những tác động khác nhau của mức nợ chính phủ đến tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế dài hạn bằng cách xem xét một mẫu 20 quốc gia tiên tiến và 24 quốc gia có nền kinh tế đang nổi trong khoảng thời gian gần 200 năm (1790-2009) Tác giả thu được kết quả tương tự với thống kê tương quan đơn giản như các nghiên cứu trước đó, cụ thể là nợ công dưới ngưỡng 90% GDP có một tác động tích cực nhưng yếu đến tốc độ tăng trưởng GDP trong dài hạn, trong khi ảnh hưởng của nợ công trên 90% là tiêu cực và đáng kể Tương tự như vậy, Kumar và Woo (2010) cũng khẳng định mối quan hệ phi tuyến giữa mức độ nợ chính phủ ban đầu và các hành vi tăng trưởng GDP tiếp theo dựa trên dữ liệu bảng của 38 quốc gia tiên tiến và các nước kinh tế đang nổi trong một thời gian kéo dài khoảng bốn thập kỷ (1970-2010) Để kiểm tra tác động của nợ công đến tăng trưởng trong trung và dài hạn, các nghiên cứu giải thích các yếu tố
Trang 29đáng tin cậy của tăng trưởng cũng như một số vấn đề phương pháp như vấn đề nhân quả ngược (ví dụ: các tác động tiềm năng của tăng trưởng kinh tế thấp đến việc vay
nợ cao) và các vấn đề nội sinh tương ứng Trong đó, nợ công cao có thể có ảnh hưởng bất lợi đến tích lũy vốn cũng như năng suất, mà có khả năng tạo ra một tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Checherita và Rother (2010) và Cecchetti, Mohanty và Zampolli (2011) tập trung vào tác động của tổng số nợ công đến tăng trưởng kinh tế
ở các nước phát triển Checherita và Rother (2010) cho đến nay chỉ nghiên cứu thực nghiệm dựa trên dữ liệu rõ ràng của các nước khu vực đồng euro Giống như các nghiên cứu trước đó, cả hai nghiên cứu xác nhận một mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế và tìm thấy một bước ngoặt nợ vào khoảng 85% -100% GDP, xa hơn nữa là các khoản nợ có ảnh hưởng có hại đến tăng trưởng kinh tế Kumar và Woo (2010) nhấn mạnh một loạt các kênh truyền dẫn, trong đó tỷ lệ nợ cao có thể có tác động xấu đến tăng trưởng trong cả dài hạn cao hơn là lãi suất, trong tương lai thuế bóp méo sẽ cao hơn, lạm phát cao hơn, chắc chắn hơn và dễ bị tổn thương dẫn đến các cuộc khủng hoảng
Một số nghiên cứu gần đây ủng hộ cho mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế như nghiên cứu của Anja Baum, Cristina Checherita-Westphal và Philipp Rother (2013) về mối quan hệ giữa nợ và tăng trưởng trong bối cảnh các nước trong khu vực Euro Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng trong ngắn hạn nợ công có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế và kết quả có ý nghĩa thống kê cao, nhưng khi tỷ lệ nợ công trên GDP vượt qua khoảng 67% sẽ làm tăng trưởng giảm xuống gần bằng không và mất ý nghĩa thống kê Ngoài ra, nghiên cứu còn cho thấy tỷ lệ lãi suất trong dài hạn chịu áp lực tăng lên khi tỷ lệ nợ công trên GDP trên 70% Một nghiên cứu của Jernej Mencinger, Aleksander Aristovnik và Miroslav Verbic (2015) về vai trò của nợ công trong tăng trưởng kinh tế ở các nước OECD
đã khám phá những yếu tố của nợ công làm thay đổi đáng kể cơ chế truyền dẫn các hiệu ứng chính sách tài chính để tác động vào hoạt động kinh tế trong ngắn hạn
Trang 30Nghiên cứu thực hiện kiểm tra và xác định bước ngoặt của tỷ lệ nợ so với GDP và đánh giá tác động của mức độ nợ trong khu vực công về tăng trưởng kinh tế hiện nay cho một tập dữ liệu bảng của 36 quốc gia (31 quốc gia thành viên OECD và 5 quốc gia EU không phải là thành viên OECD) Việc đánh giá sẽ cho thấy một sự hiểu biết quan trọng về tình hình nợ công hiện tại bằng cách xác định các giá trị ngưỡng cho mẫu nghiên cứu của các quốc gia, trong đó có sự tồn tại của một mối quan hệ phi tuyến giữa mức nợ trong khu vực công và tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn Bài nghiên cứu chia mẫu thành các phân nhóm phân biệt giữa các quốc gia có nền kinh tế phát triển, cho giai đoạn 1980 - 2010, và các quốc gia nền kinh tế mới nổi, cho giai đoạn 1995 - 2010 Để đánh giá mối tương quan tiêu cực và dạng hàm lõm giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế tiềm năng, sử dụng một ước lượng bảng trên một mô hình tăng trưởng kinh tế tổng quát cùng với một biến nợ, trong khi cũng xem xét một số vấn đề phương pháp như các vấn đề về tính không đồng nhất và nội sinh Các kết quả xác nhận giả thuyết lý luận chung rằng ở mức độ thấp của nợ công tác động tích cực đến tăng trưởng, trong khi nếu vượt qua một bước ngoặt nợ nhất định thì nợ công sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự tăng trưởng Tác giả đã tính toán rằng bước ngoặt nợ so với GDP, mà tác dụng tích cực của nợ công tích lũy
sẽ đảo ngược vào một tác động tiêu cực, là khoảng giữa 90% và 94% đối với các nền kinh tế phát triển Tuy nhiên, đối với các nước đang phát triển, bước ngoặt nợ
so với GDP thấp hơn, cụ thể là giữa 44% và 45%
Nghiên cứu khác của Balázs Esgert (2015) sử dụng mô hình ngưỡng phi tuyến, cho rằng việc tìm kiếm một mối quan hệ phi tuyến tiêu cực giữa tỷ lệ nợ công so với GDP và tăng trưởng kinh tế là vô cùng khó khăn và nhạy cảm để lựa chọn mô hình
và bảo hiểm dữ liệu Tác giả thực hiện hồi quy hai biến cho các khoản nợ của chính phủ trong giai đoạn 1946-2009, được khẳng định trên một tập dữ liệu ngắn hơn bao gồm nợ chính phủ nói chung (1960-2010) sử dụng một khuôn khổ tăng trưởng đa biến và mô hình Bayesian trung bình Kết quả cho thấy một số trường hợp hiếm hoi
có tồn tại mối quan hệ phi tuyến theo Reinhart và Rogoff có thể được phát hiện, sự
Trang 31tương quan âm trong mối quan hệ phi tuyến thể hiện ở mức độ rất thấp của nợ công (từ 20% đến 60% GDP)
Một số nghiên cứu khác đã xem xét các tác động của nợ nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế đang phát triển Hầu hết các nghiên cứu đã được thúc đẩy bởi giả thuyết về sự "nhô nợ", một tình huống mà gánh nặng nợ dịch vụ của một quốc gia là quá nặng mà một phần lớn sản lượng tích lũy cho người cho vay nước ngoài và do đó tạo cơ chế khuyến khích đầu tư (Krugman, 1988, và Sachs, 1989) Imbs và Ranciere (2009) và Pattillo, Poirson, và Ricci (2002, 2004) tìm thấy một mối quan hệ phi tuyến của nợ nước ngoài đối với tăng trưởng: đó là một tác động tiêu cực và đáng kể vào tăng trưởng ở mức nợ cao (thường là trên 60% GDP), nhưng tác động lại không đáng kể ở các mức nợ thấp Ngược lại, Cordella, Ricci, và Arranz (2005) tìm thấy bằng chứng của “nhô nợ” cho mức nợ trung gian, nhưng ở mức nợ rất thấp và rất cao thì mối quan hệ nợ và tăng trưởng lại không đáng kể
Trang 321.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Sau khi nghiên cứu chương 1, tác giả đã giới thiệu sơ lược về các quan điểm nợ công trên thế giới và Việt Nam, lý thuyết về sự tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế và các nghiên cứu thực nghiệm trước đó về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế Qua đó, ta có thể thấy nợ công có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn nhưng trong dài hạn lại trở thành gánh nặng làm chậm tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, theo lý thuyết về đường cong nợ, tỷ lệ nợ công có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đến một mức độ nhất định (ngưỡng), khi vượt qua mức độ đó thì nợ công có tác động ngược chiều với sự tăng trưởng kinh tế
Trang 33CHƯƠNG 2 MÔ HÌNH, DỮ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Mô hình nghiên cứu
Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh
tế, tác giả xây dựng mô hình dựa trên đề xuất của Ugo Panizza, Andrea F.Presbitreo (2014):
Yi,t – yi,t-τ = αyi,t-τ + Xi,t-τβ + γZ i,t-τ + ηt + vi + εi,t
Thời gian được tính là khoảng thời gian 15 năm, trong đó t là là thời điểm cuối và t – τ là thời điểm bắt đầu; i là quốc gia; y là logarit của tốc độ tăng trưởng GDP; vi là tác động cố định của từng quốc gia; ηt là tác động cố định của thời gian; εi,t sai số
do những biến không quan sát được; Xi,t-τ là vecto biến kinh tế và tài chính; Z i,t-τ
là nợ chính phủ (tính theo phần trăm GDP)
Biến kiểm soát được đưa vào mô hình gồm có biến tăng trưởng kinh tế trễ một kỳ Growtht-1, biến tốc độ gia tăng dân số Pop, biến quy mô chính phủ Govsize, biến thâm hụt tài chính Fiscal, biến hội nhập quốc tế Trade và biến lạm phát Inf Trong đó:
GROWTHt-1: Biến tốc độ tăng trưởng GDP trễ 1 kỳ để phản ánh quan điểm cho rằng các quốc gia có một sự phong phú của nó có nhiều khả năng có một khả năng lớn hơn để thu hút các nhà đầu tư, tiếp thu ý tưởng từ phần còn lại của thế giới, và tham gia vào các hoạt động đổi mới (Grossman và Helpman, 1991)
POP: Tốc độ gia tăng dân số hằng năm Theo mô hình Solow cơ bản và mở rộng của Mankiv, Romer và Weil (1992) và kết quả thực nghiệm của Levine
và Renelt (1992) đo lường giá trị đầu tư nguồn nhân lực tích lũy cũng nên bao gồm cả tốc độ tăng dân số Quy mô dân số đông cho thấy nguồn nhân lực dồi dào, cùng với các điều kiện kĩ thuật công nghệ, vốn đầu tư đầy đủ thì
Trang 34tăng dân số, tăng nguồn lực tạo điều kiện để tăng trưởng kinh tế Dân số cũng đóng vai trò là nguồn hình thành thị trường tiêu thụ hàng hóa Dân số đông thì thị trường tiêu dùng càng rộng, đa dạng và phong phú, từ đó tạo động lực kích thích sản xuất, tăng trưởng kinh tế
GOVSIZE: Quy mô chính phủ ban đầu được đo bằng tỷ lệ chi tiêu của chính phủ theo GDP theo kết quả nghiên cứu của Sala-i-Martin et al (2004) Nghiên cứu của Vedder và Gallaway (1998) tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa tăng trưởng kinh tế và quy mô chính phủ Nghiên cứu của Chen và Lee (2005) tìm thấy bằng chứng về sự tồn tại của một ngưỡng mà khi đó quy
mô chính phủ có quan hệ đồng biến với tăng trưởng kinh tế trong điều kiện quy mô chính phủ còn ở dưới ngưỡng và tồn tại mối quan hệ nghịch giữa tăng trưởng kinh tế với mức quy mô chính phủ trên ngưỡng
FISCAL: Thâm hụt tài tài chính được bao gồm để đưa vào tài khoản phát hiện rằng thâm hụt tài chính có liên quan tiêu cực đến tăng trưởng với dài hạn (Fischer, 1993 và Baldacci et al 2004) Trên lý thuyết người ta đề cập rằng thâm hụt tài chính có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến nền kinh
tế tùy theo tỷ lệ thâm hụt và xét trong ngắn hạn hay dài hạn Nghiên cứu của Bose (2007), Ahmad (2013) cho thấy thâm hụt có tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế Cinar & cộng sự (2014) xem xét vai trò của chính sách thâm hụt tài chính đối với tăng trưởng kinh tế tại hai nhóm quốc gia phát triển và đang phát triển Kết quả cho rằng trong ngắn hạn thâm hụt tác động ngược chiều với tăng trưởng kinh tể
TRADE: Biến hội nhập quốc tế, hay còn gọi là độ mở thương mại, được đo lường bằng tổng giá trị xuất khẩu và nhập khẩu tính theo phần trăm của GDP Theo lý thuyết tăng trưởng Solow (trường phái tân cổ điển – tăng trưởng ngoại sinh) chỉ ra rằng mở cửa thương mại sẽ thu hút vốn và công nghệ, điều này gián tiếp đóng vai trò quan trọng vào tăng trưởng kinh tế Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy các kết quả khác nhau về tác động mở cửa thương mại đến tăng trưởng kinh tế, trong đó các nghiên cứu
Trang 35của Barro (1991); Dollar (1992); Edwards (1993, 1998) cho thấy mối quan
hệ tích cực thì các nghiên cứu của Harrison (1996), Yanikaya (2003), Siddiqui và Iqbal (2005), Adhikary (2011) lại cho rằng khó tìm thấy mối quan hệ cùng chiều rõ ràng hoặc thậm chí là có mối quan hệ ngược chiều giữa mở cửa thương mại và tăng trưởng kinh tế
INF: Lạm phát được đo bằng lạm phát CPI, tính theo logarit (1+ tỷ lệ lạm phát) Theo lý thuyết của Keynes, trong ngắn hạn, sẽ có sự đánh đổi giữa lạm phát và tăng trưởng Muốn tăng trưởng đạt tốc độ cao thì phải chấp nhận một
tỷ lệ lạm phát nhất định Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng và lạm phát
có mối quan hệ cùng chiều Sau giai đoạn này, nếu tiếp tục tăng lạm phát để thúc đẩy tăng trưởng thì GDP cũng không tăng thêm mà có xu hướng giảm
đi Một vài nghiên cứu cho bằng chứng rằng lạm phát ở mức vừa phải sẽ thúc đẩy tăng trưởng (Mubarik, 2005) Trong khi đó, một số nghiên cứu và thực nghiệm cho thấy, lạm phát có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế khi nó vượt qua một ngưỡng nhất định (Ocran 2007; Khan và Senhadji, 2001)
Như vậy, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu cụ thể như sau:
GROWTH = αGROWTH i,t-1 + βDEBT i,t + γ 1 POP i,t + γ 2 TRADE i,t +
γ 3 GOVSIZE i,t + γ 4 INF i,t + γ 5 FISCAL i,t + ηt + vi + εi,t (1)
Theo lý thuyết debt – overhang (Chữ U ngược): không trực tiếp phân tích ảnh hưởng của nợ công đến tăng trưởng kinh tế nhưng lại gợi ý rằng tổng nợ lớn sẽ kìm hãm tăng trưởng do góp phần giảm đầu tư
Để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu về mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, tác giả áp đặt hình thức bậc cao (bình phương) của biến nợ công để phát hiện mối quan hệ dạng hình chữ U ngược theo đề xuất của Lind và Mehlum (2010) và kỳ vọng hệ số của biến DEBT mang dấu dương, hệ số của biến DEBT2
Trang 36mang dấu âm để sự tồn tại của đường cong hình dạng chữ U ngược là có ý nghĩa thống kê
Phương trình 2: hồi quy phi tuyến dạng bậc 2
GROWTH = αGROWTH i,t-1 + β 1 DEBT i,t + β 2 DEBT 2 i.t + γ 1 POP i,t + γ 2 TRADE i,t
+ γ 3 GOVSIZE i,t + γ 4 INF i,t + γ 5 FISCAL i,t + ηt + vi + εi,t (2)
Sau đó, tác giả tiếp tục chạy hồi quy với biến giả là ngưỡng tỷ lệ nợ công mà tác giả
đã tính toán từ phương trình 2 để xem xét có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tăng trưởng kinh tế giữa nhóm nước có mức nợ công cao và nhóm nước có mức nợ công thấp hay không?
Phương trình 3: Hồi quy với biến giả
GROWTH = αGROWTH i,t-1 + β 1 DEBT i,t + β 2 DEBT 2
i.t + β 3 DEBT*D (DEBT<=T1%)
+ γ 1 POP i,t + γ 2 TRADE i,t + γ 3 GOVSIZE i,t + γ 4 INF i,t + γ 5 FISCAL i,t + ηt + vi + εi,t 2.2 Mô tả dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu dùng cho bài nghiên cứu như biến tăng trưởng kinh tế, tỉ lệ dân số, tỉ lệ đầu
tư, và quy mô chính phủ được tính toán chủ yếu từ các số liệu thống kê, ấn phẩm định kỳ, dự án của tổ chức Asean Development Bank (ADB), International Monetary Fund (IMF) và các báo cáo thường niên của tổ chức The World Bank (Open Knowledge Repository) của 7 quốc gia có thu nhập vừa và thấp ở Đông Nam
Á, bao gồm Indonesia, Malaysia, Philipines, Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia, trong giai đoạn 15 năm từ năm 2000 – 2015
Theo phân loại của World Bank, tính đến ngày 01 tháng 7 năm 2016, nền kinh tế có thu nhập thấp được định nghĩa là những nước có GNI bình quân đầu người tính bằng phương pháp WorldBank Atlas Method vào khoảng $ 1,025 hoặc ít hơn trong năm 2015; các nền kinh tế có thu nhập trung bình thấp hơn là những nước có GNI bình quân đầu người vào khoảng $ 1,026 đến $ 4,035; các nền kinh tế có thu nhập trung bình cao là những nước có GNI bình quân đầu người vào khoảng $ 4,036 đến
Trang 37$ 12,475; các nền kinh tế có thu nhập cao là những nước có GNI bình quân đầu người từ 12.476 $ trở lên
Theo xếp hạng của World Bank năm 2015 về các quốc gia có thu nhập vừa và thấp
ở khu vực Đông Nam Á gồm: Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia , Philipines, Thái Lan, Việt Nam Do đó, bài nghiên cứu xem xét mối quan hệ phi tuyến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế tại 7 quốc gia có thu nhập vừa và thấp ở khu vực Đông Nam Á
Bảng 2.1 Mô tả chi tiết các biến:
STT Ký hiệu
biến
Diễn giải Nguồn dữ
liệu
2 GROWTHt-1 Tốc độ tăng trưởng GDP trễ 1 kỳ (%) WB
6 GOVSIZE Chi tiêu ngân sách chính phủ tính theo GDP
(%)
ADB
Bảng 2.2 Giả thuyết nghiên cứu:
Mô hình phi tuyến: +
Mô hình tuyến tính: -
Mô hình phi tuyến: +