Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về văn hóa tín ngưỡng của người Mường, trong đó có các nghi lễ của thầy Mỡi, nhưng các công trình mới chỉ mô tả khái quát và chưa nêu bật
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tƣ liệu đƣợc sử dụng trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng Những phát hiện đƣa
ra trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả luận án
Tác giả
Bùi Văn Hộ
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 13
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 13
1.2 Cơ sở lý luận 34
Tiểu kết 50
Chương 2: ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, NGƯỜI MƯỜNG, VĂN HÓA VÀ TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG 52
2.1 Giới thiệu về địa bàn và tộc người nghiên cứu 52
2.2 Văn hóa của người Mường ở Lạc Sơn 59
Tiểu kết 66
Chương 3: THẦY MỠI VÀ VIỆC THỰC HÀNH NGHI LỄ MỠI CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở LẠC SƠN 68
3.1 Thầy Mỡi và sự hành nghề của họ 68
3.2 Số phận và quá trình trở thành thầy Mỡi 74
3.3 Đời sống và truyền nghề của các thầy Mỡi 80
3.4 Điện thờ Mỡi 85
3.5 Các loại nghi lễ Mỡi 89
Tiểu kết 106
Chương 4: NGHI Ễ MỠI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở LẠC SƠN 108
4.1 Nghi lễ Mỡi phản ánh hệ thống tín ngưỡng của người Mường 108
4.2 Quy trình thực hành nghi lễ Mỡi trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Mường 115
4.3 Vị trí của nghi lễ Mỡi trong đời sống tinh thần của người Mường ở huyện Lạc Sơn 125
4.4 Sự biến đổi của nghi lễ Mỡi trong văn hóa tín ngưỡng người Mường hiện nay 138 Tiểu kết………… ……… 147
KẾT LUẬN 149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 157
TÀI IỆU THAM HẢO 158
PHỤ LỤC 167
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Người Mường nói chung và người Mường ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình nói riêng có một kho tàng văn hóa dân gian, trong đó các sinh hoạt về tín ngưỡng, nghi lễ rất phong phú và đa dạng Các nghi lễ, tín ngưỡng được tổ chức nhằm để cầu cúng chữa bệnh, trấn an, cầu yên và trong các phong tục tang lễ, cưới xin, lễ hội, nghi lễ ở cộng đồng Các nghi lễ thể hiện quan niệm
vũ trụ quan, nhân sinh quan về “ba tầng - bốn thế giới”, trong đó con người có vía và vạn vật hữu linh Trong tín ngưỡng người Mường, những việc rủi ro, gặp hạn, ốm đau, bệnh tật, trắc trở duyên phận v.v phần nào đó là nguyên nhân mang tính tự nhiên, là do con người bị mất vía, hoặc do ma quỷ quấy rầy Trên nền tảng của hệ thống tín ngưỡng này, mọi nghi lễ của người Mường được sinh ra, việc thực hành các nghi lễ để giải quyết những vấn đề mang tính đức tin và thể hiện những quan điểm nhân sinh quan, vũ trụ quan của người Mường được nảy sinh
Trong đời sống người Mường nói chung và người Mường ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình nói riêng, thầy Mo, Trượng, Mỡi là người tổ chức tất cả các nghi lễ liên quan về vòng đời người, từ khi sinh ra cho đến klhi sang thế giới bên kia, nghi lễ cầu yên, giải hạn v.v Các thầy Mỡi, theo số phận, phải làm lễ nhập môn, hay còn gọi là “Nổ”, để hành nghề, tổ chức nghi lễ chữa bệnh cho các thành viên trong cộng đồng Theo tín ngưỡng, họ có khả năng đặc biệt có thể giao tiếp với thần linh với thế giới vô hình Họ là cầu nối giữa thế giới trần gian với một thế giới khác, ở đó có các vị thần tối linh, các hồn
ma, và nơi mà vía đi lang thang bị lạc lối Thế giới vô hình có tác động đến đời sống con người, sức khỏe, bệnh tật, ốm đau, công danh, sự nghiệp Trong đời sống tín ngưỡng của người Mường, Mỡi là một trong những nghi lễ hình thành từ lâu đời Tuy mục đích và hình thức tổ chức nghi lễ có những nét
Trang 7khác nhau, các nghi lễ Mỡi nói chung nhằm truyền tải ước muốn của con người về sức khỏe, sống lâu, gia đình được bình an, mùa màng, vạn vật tươi tốt, ước vọng về một cuộc sống tốt đẹp Trong thực tế, các nghi lễ Mỡi là một
bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Mường
Trước thời kỳ Đổi mới (1986), nghi lễ Mỡi cũng như nhiều thực hành tín ngưỡng của các tộc người bị coi là mê tín dị đoan và cấm đoán Đây là điều bất khả thi, bởi lẽ các nghi lễ là một phần trong cuộc sống tâm linh, tinh thần của con người Chúng không hề mất đi, vẫn luôn tồn tại và biến đổi cho phù hợp với nhu cầu của con người trong thời đại mới Đến nay, nghi lễ Mỡi
có chiều hướng phát triển và trở nên phổ biến trong sinh hoạt tín ngưỡng của
cá nhân, gia đình, cộng đồng người Mường Thực hành nghi lễ Mỡi trước kia cũng như bây giờ, là một điểm tựa về tinh thần, giúp con người vượt qua những khó khăn bất trắc, nhất là trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường với nhiều rủi ro trong kinh doanh, trong cuộc sống nói chung Vậy, nghi lễ Mỡi là gì? Tại sao nó lại có vai trò quan trọng như vậy trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Mường?
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về văn hóa tín ngưỡng của người Mường, trong đó có các nghi lễ của thầy Mỡi, nhưng các công trình mới chỉ mô tả khái quát và chưa nêu bật được vai trò, chức năng, giá trị cũng như bản chất Shaman giáo của nghi lễ như công trình của tác giả: Bùi Huy Vọng (2016) [62]; Bạch Mỹ Trinh (2015) [51 Các công trình này chưa làm r được chức năng, vai trò, và khả năng của các thầy Mỡi như là thầy cúng tâm linh, là người tư vấn tinh thần và góp phần không nhỏ trong việc lưu giữ những giá trị văn hóa tín ngưỡng của người Mường NCS thấy rằng cần tìm hiểu sâu về nghi lễ Mỡi để làm rõ vai trò và chức năng của nó trong cuộc sống văn hóa tín ngưỡng của người Mường ở huyện Lạc Sơn,
Trang 8đồng thời nhấn mạnh vai trò của các thầy Mỡi đối với cá nhân, gia đình, cộng
đồng Do vậy, NCS chọn đề tài của n ườ ườn n u trường hợp n ườ ường ở huyện Lạ Sơn, tỉnh Hòa Bình) làm đề tài nghiên
cứu luận án Tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa dân gian
2 Mục đích nghiên cứu
- Luận án hướng tới việc nhận diện một cách rõ ràng về vai trò và chức năng của thực hành nghi lễ Mỡi trong đời sống tinh thần của người Mường nói chung và người Mường ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình nói riêng hiện nay
- Luận án làm r và đề cao vai trò của các thầy Mỡi Họ không chỉ đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống tâm linh của cộng đồng, mà còn là những người thực hành, lưu truyền những giá trị văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng người Mường ở huyện Lạc Sơn
- Luận án làm r việc thực hành nghi lễ Mỡi, như là một thực hành Shaman giáo mang đậm bản sắc văn hóa của người Mường
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là thực hành nghi lễ Mỡi trong văn hóa tín ngưỡng của người Mường Để làm r điều này, luận án đi sâu để nhận diện bản chất, ý nghĩa, chức năng của nghi lễ Mỡi đối với cộng đồng người Mường
ở Lạc Sơn
- Nghiên cứu các thầy Mỡi, những thành viên trong cộng đồng được
thầy Mỡi làm lễ ( n y) Thầy Mỡi là những người đáp ứng các nhu cầu về
tinh thần, tâm linh cho cả cộng đồng người Mường ở huyện Lạc Sơn
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng tổ chức,
các sinh hoạt nghi lễ của thầy Mỡi, không gian điện thờ trong văn hóa tín
Trang 9ngưỡng của người Mường ở huyện Lạc Sơn và tập trung chủ yếu ở một số xã như: Xã Thượng Cốc, xã Văn Nghĩa, xã Mỹ Thành, xã Chí Thiện, xã Miền Đồi, xã Xuất Hóa …
Phạm vi thời gian: Trong luận án này, nghiên cứu sinh tập trung nghiên
cứu nghi lễ Mỡi của người Mường ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa ình chủ yếu
là trong thời kỳ hiện nay, tính từ năm 1986 đến nay thời kỳ Đổi mới
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu nghi lễ Mỡi như là một phần trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của cộng đồng, đáp ứng những nhu cầu và ước vọng về một cuộc sống đầy đủ, tươi đẹp, có sức khỏe, sung túc, bình an
- Nghiên cứu nghi lễ Mỡi bằng sự thể hiện khả năng của các thầy Mỡi,
sự giao tiếp tâm linh giữa thế giới trần gian và thế giới vô hình Đó là một thể loại nguyên hợp, tích hợp trong nó ngôn từ truyền miệng, bùa chú với hiện vật thiêng mang tính biểu tượng và đức tin của người Mường về thế giới vô hình
- Nghiên cứu số phận của các thầy Mỡi có ăn số phải hành nghề, xem
xét họ như là những người thầy cúng góp phần đáp ứng nhu cầu tâm linh của
cá nhân và cộng đồng Họ được coi như là những người lưu giữ n t văn hóa trong tín ngưỡng và là người bảo vệ sức khỏe, sự sống của người Mường ở Lạc Sơn
- Phân tích về quy trình của việc thực hành các nghi lễ Mỡi của người Mường trong văn hóa tín ngưỡng và trong bối cảnh cuộc sống của cộng đồng hiện nay
- Tìm hiểu sức sống và sự biến đổi của nghi lễ Mỡi trong bối cảnh cuộc sống hiện nay
5 Câu hỏi nghiên cứu
Với các nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận án nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau:
Trang 10- Nghi lễ Mỡi và thầy Mỡi có vị trí như thế nào trong đời sống tinh thần của người Mường ở huyện Lạc Sơn hiện nay?
- Tại sao trong bối cảnh đương đại, nghi lễ Mỡi vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Mường ở Lạc Sơn
6 Cách tiếp cận và phương ph p nghiên cứu
6.1 Cách tiếp cận
Nghi lễ Mỡi là một loại hình tín ngưỡng, hội tụ trong nó những yếu tố văn hóa dân gian phong phú Do vậy, để tìm hiểu Mỡi, luận án sử dụng các cách tiếp cận liên ngành, bao gồm nghiên cứu văn hóa dân gian, nhân học tôn giáo, tín ngưỡng
Trước hết, NCS cũng sử dụng các cách tiếp cận văn hóa dân gian, ghi
âm các câu chuyện, những sự tích, những huyền thoại, những lời cầu cúng, thần chú liên quan đến hệ thống tín ngưỡng Mỡi Với cách tiếp cận này, NCS
đã đưa ra được bức tranh sinh động về thế giới quan của người Mường, những tín ngưỡng, đức tin về hệ thống đa thần, về các mường trời, mường đất, về nguyên nhân của bệnh tật, cái chết Những hệ thống đức tin này đã hòa quyện trong những hành động nghi lễ tạo nên một loại hình thực hành nghi lễ dân gian mang đậm văn hóa truyền thống của người Mường
Với cách tiếp cận nhân học tôn giáo, NCS có nhiều thuận lợi NCS là người Mường, sinh ra và lớn lên tại vùng đất Lạc Sơn, tỉnh Hòa ình, đã trực tiếp trải nghiệm và quan sát nhiều nghi lễ từ khi còn nhỏ NCS có thể dùng thứ ngôn ngữ Mường để giao tiếp với những người trong cuộc, với các thầy Mỡi người nắm giữ vai trò nòng cốt trong thực hành nghi lễ và những người trong cộng đồng ở Lạc Sơn mà nhiều người trong số họ là người thân, thành viên của gia đình, dòng họ Là người trong cuộc, NCS sống trong nền văn hóa của dân tộc mình, được trải nghiệm những thực hành nghi lễ Mỡi trong đời sống của cá nhân và gia đình NCS hiểu rất rõ bản chất, ý nghĩa của Mỡi trong
Trang 11đời sống của chính bản thân, của gia đình, cũng như của bà con người Mường Trong nghiên cứu, là người trong cuộc thì chưa đủ, NCS đã thực hiện nhiều đợt điền dã, trực tiếp nói chuyện, phỏng vấn các thầy Mỡi có uy tín ở huyện Lạc Sơn NCS cũng trực tiếp phỏng vấn những người thụ hưởng nghi lễ Mỡi, là những bà con trong cộng đồng, làng xóm để có những thông tin đa chiều về bản chất, về ý nghĩa của Mỡi trong cuộc sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng Những thông tin của người trong cuộc góp phần quan trọng cho việc phân tích, lý giải bản chất, sức sống, và ý nghĩa của các nghi lễ Mỡi đối với cộng đồng người Mường NCS làm quen và tiếp cận được với nhiều
thầy Mỡi trên địa bàn huyện Lạc Sơn, người có ăn số, có những kỹ năng và
khả năng đặc biệt để có thể thâm nhập vào thế giới tâm linh của Mỡi Các thầy Mỡi đã nhiệt tình chia sẻ về số phận cuộc đời, về hệ thống tín ngưỡng của Mỡi,
về loại hình nghi lễ Mỡi, về ý nghĩa biểu tượng, về các hành động nghi lễ và hiện vật thờ cúng Với sự giúp đỡ của những thầy Mỡi, NCS tham dự nhiều nghi lễ Mỡi tại điện thờ của họ, và tại gia đình những người thụ lễ, mà các thầy
Mỡi gọi họ là “con mày” Những câu chuyện của các “con mày” giúp NCS hiểu
được nguyên nhân tại sao họ phải đến gặp các thầy Mỡi để xem bói, phán bệnh
để thực hiện nghi lễ cầu cúng, cũng như công hiệu của việc thực hành nghi lễ trong việc chữa bệnh, cầu an, cầu phúc, tránh rủi ro, trắc trở trong đường đời Với góc nhìn của người trong cuộc và từ người làm lễ, thụ lễ, NCS đôi khi sử dụng chính ngôn ngữ của họ về tín ngưỡng Mỡi như “Nổ Mỡi” bắt ra làm Mỡi , “bị hành”, “các Ngài cho ăn lộc”, và một số thuật ngữ tiếng Mường có chú thích tiếng Việt NCS đã thực hiện ghi chép dân tộc học tỉ mỉ quá trình tổ chức các buổi lễ, đồ thờ cúng, quy trình hành lễ, mục đích của từng loại nghi
lễ, bối cảnh diễn ra nghi lễ, hoàn cảnh của người thụ lễ Những ghi chép dân tộc học giúp cho luận án có những thông tin chi tiết từ các buổi lễ trong đời sống thường nhật để hiểu r hơn bản chất và nhận diện nghi lễ một cách tương
Trang 12đối xác thực Những ghi chép dân tộc học là tài liệu quan trọng để có bức tranh thực trạng về việc tổ chức nghi lễ và việc hành lễ, mối quan hệ giữa thầy Mỡi
và “con mày” một cách sinh động
6.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận án, nghiên cứu sinh đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác nhau:
P ươn p áp quan sát t a dự: NCS đã tham dự nhiều loại nghi lễ
Mỡi khác nhau trong đời sống của người Mường kể từ năm 2014 đến nay Cụ thể, NCS đã tham dự các nghi lễ như: Lễ Làm Chay 7 cờ tại xóm Be Ngoài,
xã Chí Thiện, huyện Lạc Sơn, lễ mến mả tại xóm Ấm, xã Văn Nghĩa, huyện
Lạc Sơn, lễ cầu con trai tại xóm Anh 1, xã Thượng Cốc, huyện Lạc Sơn, lễ cắt
dây ma nhà tại xóm Trang, xã Thượng Cốc, huyện Lạc Sơn, lễ giải căn tại
xóm Ấm, xã Văn Nghĩa, huyện Lạc Sơn và nhiều lễ làm mát, buộc dây, gọi vía tại Điện thờ Mỡi Bùi Thị Minh tại xóm Anh 1, xã Thượng cốc, huyện Lạc sơn, tỉnh Hòa Bình… Bằng cách tham dự, quan sát, nhìn nhận và đánh giá các hành động, diễn biến, con người, bối cảnh thực hành nghi lễ, NCS đã
có những đánh giá, nhận định bằng trực quan Điều này giúp cho luận án phản ánh chân thực hơn về nghi lễ và sức sống của nó trong văn hóa Mường
Phỏng vấn sâu: NCS thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn về các đối tượng
khác nhau Đối tượng phỏng vấn tập trung hơn cả là các thầy Mỡi nhằm có những thông tin về cuộc đời, căn số và công việc của họ NCS cũng phỏng
vấn những con mày, người dân tìm gặp thầy Mỡi để nhờ thầy giúp làm lễ để
hiểu lý do họ làm lễ và đức tin, sự trông mong của họ khi làm lễ Những cuộc
phỏng vấn con mày tìm hiểu về nguyên nhân tổ chức nghi lễ Mỡi của các cá
nhân gia đình người Mường Hơn nữa, thông qua phỏng vấn sâu những người thực hành và người thụ lễ, NCS hiểu được ý nghĩa, hay nói một cách khác
“công năng” và sức sống của nghi lễ Mỡi trong đời sống tín ngưỡng của
Trang 13người Mường ở Lạc Sơn
Câu chuyện cuộ đời: Khai thác những câu chuyện về cuộc đời riêng tư
về việc phải ra làm Mỡi của các thầy Mỡi cũng như mọi câu chuyện về việc
phải làm lễ của những người thụ lễ ( n y đây là một trong những cách tiếp
cận hiện đại được sử dụng trong phân tích một số nhiệm vụ, cùng các nội dung
từ quan điểm của người trong cuộc Cách khai thác câu chuyện cuộc đời thực
sự hữu hiệu và là những cứ liệu đáng tin cậy để bàn luận về ý nghĩa, vai trò, và công năng của nghi lễ Mỡi trong cộng đồng người Mường ở huyện Lạc Sơn
P ươn p áp tra u, p n t tư ệu th cấp: Luận án chắt lọc thông
tin liên quan, kế thừa những quan điểm, đánh giá từ những công trình đã in ấn
để bổ sung cho những tư liệu thu thập từ địa bàn Các tư liệu này giúp cho luận án có những cơ sở bàn luận về những vấn đề của các học giả đi trước đã làm được Trên cơ sở đó kế thừa và phát triển với những số liệu riêng từ nghiên cứu điền dã cùng với những phân tích riêng của mình để có nhiều thông tin đa chiều đồng thời để làm rõ các nhiệm vụ, nội dung của luận án
P ươn p áp p n t tổng hợp: Phân tích tổng hợp các nguồn tư liệu
khác nhau hướng tới đạt được mục đích mà luận án đưa ra và đúc kết những nội dung phân tích mang tính khái quát, góp phần trong nghiên cứu học thuật
về tín ngưỡng, nghi lễ và văn hóa của người Mường Luận án sử dụng phương pháp diễn giải những số liệu thu thập từ những cuộc phỏng vấn sâu các đối
tượng là thầy Mỡi, người thụ hưởng nghi lễ là n y để làm r hơn những ý
nghĩa biểu tượng, bản chất, chức năng của nghi lễ theo cách người trong cuộc hiểu, đặc biệt ý nghĩa biểu tượng của các hành động nghi lễ và hiện vật nghi lễ
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
7.1 Ý nghĩa khoa học
- Nghiên cứu về nghi lễ Mỡi trong văn hóa tín ngưỡng của người Mường ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình góp một phần nhỏ vào trong hệ
Trang 14thống lý luận về hiện tượng Shaman giáo
- Luận án cung cấp một cách hiểu r hơn về hệ thống nghi lễ Shaman giáo, mang tính ma thuật với mục đích chữa bệnh tâm linh, cầu an, cầu những điều tốt đẹp trong đời sống thường nhật Thông qua một trường hợp nghiên cứu cụ thể là Mỡi, luận án góp phần vào bức tranh chung trong khoa học nghiên cứu về các hiện tượng tín ngưỡng bản địa, thể hiện sự đa dạng về văn hóa tín ngưỡng của các cộng đồng ở Việt Nam và trên thế giới
- Luận án hoàn thiện là một tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu về văn hóa tín ngưỡng người Mường và cho ngành nghiên cứu văn hóa dân gian, nhân học tôn giáo, tín ngưỡng
8 Bố cục luận án
Ngoài phần Mở đầu (9 trang), Kết luận (5 trang), Tài liệu tham khảo (8 trang) và Phụ lục (20 trang), luận án được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận (48 trang)
Chương 2: Văn hóa của người Mường ở huyện Lạc Sơn 16 trang Chương 3: Thầy Mỡi và việc thực hành nghi lễ Mỡi của người Mường
ở Lạc Sơn 39 trang
Chương 4: Nghi lễ Mỡi trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Mường ở Lạc Sơn 43 trang
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu về người Mường và văn hóa tín ngưỡng của
người Mường
- Nghiên c u về n ườ ường
Về người Mường và văn hóa Mường, có nhiều công trình nghiên cứu mang tính tổng hợp về lịch sử, con người, văn hóa Một trong những công
trình tiêu biểu phải kể đến là cuốn Địa chí Hòa Bình (2005) [14]; do tỉnh Hòa
Bình xuất bản đã đề cập khá toàn diện các khía cạnh trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế của các dân tộc sinh sống tại địa bàn tỉnh Hòa ình Công trình cũng đã đề cập đến những n t cơ bản trong đời sống tín ngưỡng của người Mường và các nghi lễ được thực hành trong đời
sống, như: Nghi lễ hôn nhân, sinh đẻ, tang ma Công trình Văn óa n ười ường huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình (2009) [7], do Hoàng Hữu Bình làm
chủ biên đã miêu tả khá đầy đủ và sinh động các khía cạnh đời sống của người Mường ở huyện Kim ôi về kinh tế, văn hóa, tri thức địa phương, thực
hành nghi lễ ườ ườn v văn óa ổ truyền ườn - Sơn n
[11 Đây là tập hợp các công trình nghiên cứu của nhiều học giả nhằm giới thiệu vốn văn hóa cổ truyền, tập tục sinh đẻ, cưới xin, tang ma, nghệ thuật của
người Mường Bi Trong ườ ường ở Việt Nam (1999) [29 , tác giả ùi
Tuyết Mai, Vũ Đức Tân đã mang đến một bức tranh sinh động về cuộc sống, văn hóa, lịch sử của người Mường qua hơn 100 bức ảnh được chọn lọc, sắp xếp một cách lôgíc Tác giả đã cung cấp cho bạn đọc hình dung được những đặc trưng cơ bản về lối sống, phong tục tập quán, truyền thống văn hóa của người Mường Gần đây, tác giả Nguyễn Ngọc Thanh trong bài viết “Dân tộc
Mường” trong cuốn Các dân tộc Việt Nam 2017 cũng đã bổ sung, cập nhật
Trang 16và đưa ra bức tranh tương đối đầy đủ về nguồn gốc, địa bàn cư trú và tập tục, văn hóa của người Mường [38]
Một trong những tác giả viết nhiều về người Mường và văn hóa Mường
là Bùi Huy Vọng Công trình L n ường ở Hòa Bình (2014) [58] của tác
giả Bùi Huy Vọng bàn về một số vấn đề văn hóa và cả các nghi lễ thờ tự
chung của làng Trong công trình Văn óa d n an ường: Một góc nhìn
(2015) [61], Bùi Huy Vọng đã đề cập đến các nghi lễ trong đời sống của người Mường như nghi lễ kéo si, tục cắt chốn rau, nghi thức cắt cầu lân, tạ ơn mười hai bà Mụ, lễ hội cầu mùa, lễ hội dân gian Mường Đáng lưu ý là trong công trình này, nghi lễ Mỡi được tác giả giới thiệu sơ lược như là một thực hành quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của người Mường
- Nghiên c u về t n n ư ng, nghi l của n ườ ường
Có nhiều công trình miêu tả, nghiên cứu về tín ngưỡng, một nghi lễ nào
đó trong hệ thống nghi lễ vòng đời của người Mường như lễ sinh đẻ, lễ cưới, lễ
mừng thọ, nghi lễ tang ma Một số công trình phải kể đến như: Tập tụ s n đẻ của n ười Mường, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, (2005) [16] của Nguyễn Thị
Song Hà; Bùi Huy Vọng là một tác giả có nhiều công trình về người Mường,
như “L kéo si trong truyền thốn ường” 2007 [56] Những công trình của
ông là tài liệu thứ cấp quan trọng cho luận án tham khảo về tập quán, về khái niệm nghi lễ Mỡi Nhìn chung các công trình này là những mô tả dân tộc học quan trọng về các nghi lễ nói chung và nghi lễ vòng đời nói riêng, góp phần không nhỏ cho các nghiên cứu sau này về thông tin, số liệu để so sánh, đối chiếu
Trong thập niên gần đây, các công trình nghiên cứu về nghi lễ của người Mường khá phong phú và đa dạng Có thể kể đến nghiên cứu của
Nguyễn Thị Song Hà (2011) với công trình Nghi l trong chu kỳ đờ n ười của n ườ ường ở Hòa Bình [17] Công trình này không chỉ cung cấp cho
người đọc những tư liệu dân tộc học đơn thuần về nghi lễ chu kỳ đời người
Trang 17mà còn minh chứng cho lý thuyết chuyển đổi của Anorld Van Gennep Trong nghiên cứu này, tác giả tương đối thành công trong việc nghiên cứu sự chuyển đổi vị trí của cá nhân người tiến hành nghi lễ Hôn nhân có ý nghĩa đặc biệt với người đàn ông, giúp cho anh ta trở thành “Đức cả” Với người phụ nữ, hôn nhân đánh dấu sự trưởng thành của người phụ nữ, khẳng định họ có khả năng quán xuyến các công việc cho gia đình, sinh con để duy trì nòi giống
Một trong những đóng góp vào nghiên cứu tín ngưỡng của người
Mường phải kể đến công trình của tác giả Nguyễn Hữu Thức: T n n ư n
d n an ườn tỉn a n (2001) [49 Đây là một bài viết mang tính
tổng hợp về hệ thống tín ngưỡng của người Mường bao gồm: Tín ngưỡng thờ Quốc Mẫu Vua à, Tín ngưỡng Thờ thần núi - Đức Thánh Tản Viên; Tín ngưỡng thờ Thổ công; Tín ngưỡng thờ thần nông nghiệp, Tín ngưỡng thờ tổ tiên; Tín ngưỡng thờ thần Chàng Vàng; Tín ngưỡng thờ Thành hoàng; Tín ngưỡng thờ Táo quân vua ếp ; Tín ngưỡng thờ vua Khú; Tín ngưỡng thờ
Nạ mụ; Tín ngưỡng thờ Phật; tín ngưỡng thờ Thần tự nhiên; Tín ngưỡng thờ
bà Chúa Thác Tác giả cho rằng những thực hành tín ngưỡng dân gian “góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Mường và là thành tố kết dính với truyền thống văn hóa Mường để văn hóa Mường “hòa nhập” nhưng không bị
“hòa tan” trong giao lưu” [49, tr.321-369]
Bùi Huy Vọng là người đã dành nhiều công sức, tâm huyết nghiên cứu, sưu tầm thực hành các nghi lễ trong đời sống tín ngưỡng của người Mường
Trong những năm gần đây, ông liên tiếp xuất bản các công trình như: Tục cúng sao giải hạn của n ườ ường ở Hòa Bình (2014) [59]; Những biểu tượn đặc trưn tr n văn óa d n an ủa n ườ ường (2016) [63]; Đền ăn v á nghi l t n n ư ng dân gian (2015) [60]; Quan niệm và ng xử v i vía trong đời sống của n ườ ường (2016) [64], Phong tụ ay, tập Tụ
ay ảy ờ ủa n ườ ườn P n d ủ tế (2011) [57] Các công
Trang 18trình sưu tầm của Bùi Huy Vọng đã khảo tả và cung cấp thông tin khá chi tiết
về sinh hoạt tín ngưỡng và nghi lễ của người Mường như: Nghi lễ chu kỳ đời
người, nghi lễ mùa vụ, nghi lễ thờ cúng cộng đồng, các hình thức thờ tự trong gia đình và cá nhân Đồng thời ông cũng đề cập khá chi tiết đối tượng người thực hành nghi lễ, người thụ lễ, cách thức tiến hành, lễ vật cũng như niềm tin
của người Mường trong việc thực hành nghi lễ tín ngưỡng
- Nghiên c u về ường
Mo Mường là một loại hình văn hóa, tín ngưỡng dân gian của dân tộc Mường đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu Tác giả Từ Chi (bút danh Trần Từ)
là một trong những nhà nghiên cứu có nhiều công trình nổi tiếng viết về
người Mường Trong các công trình ườ ường ở Hòa Bình (1996) [54],
ông đã đề cập đến thực hành nghi lễ, chủ yếu là vấn đề tang ma, với mục đích thông qua đó để tìm hiểu về thế giới quan của người Mường Nghiên cứu của ông cung cấp những kiến thức nền tảng để hiểu về nguồn gốc của những thực hành nghi lễ trong đời sống của người Mường
Nghiên cứu về Mo Mường và các thực hành nghi lễ trong tang ma phải
kể đến các tác giả; Đinh Văn Ân sưu tầm và biên soạn Mo kể chuyện đẻ đất
đẻ nư c [4], là một trong những áng Mo không thể thiếu trong nghi lễ Còn công trình nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Kim Phúc (2004), Nghi l Mo trong đời sống tinh th n của n ườ ường [33] tập trung vào nghi lễ Mo trong đời
sống tinh thần của người Mường, hệ thống tín ngưỡng, vị trí và vai trò của thầy Mo trong đời sống tinh thần của người Mường Bi Theo tác giả, Mo được diễn xướng trong 23 nghi lễ được thực hiện bằng Mo Một điểm mới trong cách tiếp cận ở công trình này là tác giả bước đầu quan tâm đến cuộc sống của những người thực hành, quá trình học nghề và hành nghề của họ
Hai tác giả Vương Anh và Hoàng Anh Nhân đã dày công sưu tầm những phần Mo kể chuyện của người Mường vùng Thanh Hóa Năm 2010,
Trang 19Hoàng Anh Nhân, v a a ủa n ườ ườn [30 Năm 1976, nhà
nghiên cứu ùi Thiện, Thương Diễm và Quách Giao sưu tầm, biên dịch và
biên soạn Đẻ đất đẻ nư T ơ d n an d n tộ ường [41 Đây cũng là tác
phẩm sử thi đầu tiên được sưu tầm và công bố ở miền Bắc Việt Nam Tuy nhiên, các tác giả mới tập trung vào việc sưu tầm và biên dịch phần Mo kể chuyện, chủ yếu là sử thi Đẻ đất Đẻ nước
Nghiên cứu về Mo Mường mới đây phải kể đến tác giả Kiều Trung Sơn
trong Nghệ thuật di n xư n ường (2016) [35]; tác giả đã đem đến cho
người đọc một công trình nghiên cứu về diễn xướng Mo một cách bài bản và khoa học Tác giả đã phân tích diễn xướng Mo trong hệ thống lý thuyết về diễn xướng, trong môi trường diễn xướng cụ thể là các đám tang Công trình của Kiều Trung Sơn đã mang lại những tư liệu khoa học có ý nghĩa trong việc nghiên cứu về tín ngưỡng này
1.1.2 Nghiên cứu nghi lễ Mỡi
2 á ôn tr n tr n nư c về M i
Nghiên c u so sánh về , Trượn ượng), M i:
Bùi Thiện là người dành nhiều thời gian, công sức và tâm huyết để sưu
tầm, biên soạn diễn xướng Mo, Trượng, Mỡi với công trình Di n xư ng Mo - Trượng - M i (2005) [42] Tác giả bàn về vũ trụ quan của người Mường,
quan niệm về cõi sống, về cõi chết và nhận diện khái quát về tín ngưỡng Mo - Mỡi - Trượng (còn gọi là Clượng), về trang phục, đồ nghề hành lễ của ông
Mo Phần lớn cuốn sách tập trung vào việc công bố các sưu tầm và ghi lại các lời khấn của thầy Mo, Trượng, Mỡi bằng tiếng Mường, sau đó dịch ra tiếng Việt và được biên soạn một cách có hệ thống Cuốn sách giúp cho NCS hiểu
r hơn về bản chất, sự khác nhau của các thầy Mo, Trượng, Mỡi, và quan điểm nhân sinh quan của người Mường
Trang 20Một công trình khá đồ sộ của Bùi Thiện Di n xư ng nghi l : Di sản văn óa đặc sắc của dân tộ ường (2015) [43] giới thiệu khối lượng lớn các
bài diễn xướng liên quan đến nghi lễ vòng đời và các nghi lễ tín ngưỡng khác Ông đã lý giải cho sự ra đời của các diễn xướng này xuất phát từ quan niệm
về vũ trụ luận, về tín ngưỡng “vạn vật hữu linh” Đối với người Mường, cái chết chỉ là về phần thể xác vật chất, còn “hồn vía” là vĩnh hằng, ai cũng có hồn/vía, và hồn vía cần được quan tâm chăm sóc Với quan niệm ấy, người Mường đã sáng tạo nên nhiều loại hình nghi lễ cầu phúc, cầu an, làm vía hay các cuộc tang lễ Trong công trình trên, tác giả cũng đã đề cập đến những truyền thuyết, huyền thoại về sự xuất hiện của các loại hình diễn xướng
Trong công trình này, tác giả dành nhiều công sức cho việc sưu tầm các bài Mo, ý nghĩa của các bài Mo trong đời sống của người Mường, thời gian thực hành và người thực hành Mo Theo tác giả, Mo là loại hình diễn xướng
sử thi xuất hiện sớm nhất của người Mường và Mo cũng là nguồn gốc sản sinh ra các diễn xướng khác như Trượng, Mỡi trong đời sống của người Mường Theo tác giả, Mo và Trượng có chung một nguồn gốc là Chàng - Trò,
Mo - Trượng, tức là được sinh ra từ trứng thiêng ở núi Hang Hao Nhiệm vụ của Trượng là cúng lễ cho người ốm được khỏe mạnh [43, tr.122] Bên cạnh
đó, tác giả phân tích những điểm giống nhau cơ bản của ba loại hình tín ngưỡng này về giọng điệu, đối tượng hành lễ, mục đích cúng tế Theo đó, Mo, Trượng, Mỡi đều có giai điệu, giọng hát, cách khấn, cầu cúng Mo, tức tang
ca trong tang lễ và chỉ hành lễ cho người qua đời (hồn Trượng, Mỡi là hình thức cúng vía cho người sống [43] Còn về nguồn gốc của ba thể loại này, có thể đề cập đến bài “Mo - Trượng - Mỡi trong đời sống tâm linh Mường” (2007) [24] của tác giả Trương Sỹ Hùng Tác giả phân tích các truyền thuyết liên quan đến việc sinh ra của ba thể loại này, cũng như một vài điểm cơ bản khác nhau của ba loại hình diễn xướng nghi lễ
Trang 21Những nghiên cứu của các tác giả Bùi Thiện, Trương Sỹ Hùng, Nguyễn Hữu Thức, ùi Huy Vọng… đã cung cấp cho người đọc những tư liệu quan trọng về ba loại hình tín ngưỡng Mo - Trượng - Mỡi trong văn hóa tín ngưỡng của người Mường, cũng như sự giống và khác nhau của ba thể loại này trong thực hành tín ngưỡng của người Mường ở Lạc Sơn, Hòa ình Các tác giả mới chỉ cung cấp những tư liệu mang tính chất giới thiệu, sưu tầm về ba loại hình tín ngưỡng mà chưa có sự phân tích chuyên sâu về vị trí, vai trò, chức năng của nghi lễ trong cộng đồng, cũng như chức năng của các thầy làm lễ
- Nhận diện nghi l và th y M i:
Một bài viết đáng chú ý của tác giả Nguyễn Hữu Thức, “Trượng và Mỡi trong đời sống tâm linh của người Mường” (2001) [48] Tác giả phân biệt hoạt động của Trượng là “chỉ người đàn ông làm nghề cúng bói, giúp
người ốm khỏi bệnh, còn hoạt động của Mỡi là nghi thức cầu cúng chữa bệnh
cho người ốm do phụ nữ Mường đảm nhận” Tác giả còn nói rõ việc ra hành nghề của Mỡi, là những người bị một vài trận ốm, bị điên Tác giả cho rằng Mỡi và Trượng đều có một đối tượng tác động là người ốm đau Hình thức tác động khác nhau nhưng đều chung một phương tiện là thông qua cái áo của người ốm, dùng phù chú để thôi miên, ám thị tạo ra tác động về tâm lý để chuyển biến bệnh tình Trượng và Mỡi đều đóng một vai trò như một liều thuốc an thần giải tỏa tâm lý sợ hãi về thân phận nhỏ b của người Mường trong một thế giới mông lung, huyền bí và không lường trước được Đây là những quan điểm khá hiện đại về vai trò tâm linh của thầy Trượng và Mỡi mà NCS tiếp thu và lý giải, phân tích sâu hơn trong luận án này
Bùi Thiện, Di n xư ng Mo - Trượng - M i (2005) [42 Trong công
trình có một phần nói về Mỡi, nhưng chủ yếu cuốn sách tập trung vào việc công bố các sưu tầm và ghi lại các lời khấn của thầy Mỡi bằng tiếng Mường, sau đó dịch ra tiếng Việt và được biên soạn một cách có hệ thống, bài bản
Trang 22Đây là một công trình để NCS kế thừa tìm hiểu sâu hơn về ý nghĩa và những lời khấn của Mỡi
Nguyễn Từ Chi trong công trình Góp ph n nghiên c u văn óa v tộc
n ười 2003 [10 ; đề cập đến đặc điểm công việc của những người hành
nghề tín ngưỡng Ông cho rằng “Các bà Mỡi chỉ phụ trách về linh hồn của trẻ con” Mỡi không phải là trọng tâm nghiên cứu của công trình này, nhưng được tác giả nhắc đến như một nghi lễ quan trọng trong văn hóa tín ngưỡng
của người Mường Vũ Ngọc Khánh trong L hội trong cộn đồng các dân tộc Việt Nam 2004 [27 ; đã đề cập tới “Mỡi rớ ma” của dân tộc Mường là một
trong nhiều hoạt động của lễ hội truyền thống Theo ông, Mỡi là một hình thái diễn xướng mang đậm yếu tố sinh hoạt tâm linh của người Mường ở Hòa Bình Mỡi có nhiều loại như Đổ reng, cúng vía kéo si, trả của rớ ma Tác giả
đi sâu vào nghiên cứu lời đối đáp giữa bà Mỡi và mọi người trong một buổi làm lễ, chứ chưa đi sâu nghiên cứu bản chất của Mỡi và sự phát triển, nở rộ của nghi lễ trong thời kỳ đương đại Bùi Văn Nợi cũng là tác giả đã dành thời
gian nghiên cứu và sưu tầm về Mỡi Trong công trình M ường (2015) [31],
ông đề cập đến vai trò của Mỡi trong đời sống tâm linh của người Mường Tác giả cũng đề cập đến những thay đổi của người hành nghề Mỡi trong đời sống hiện nay nhưng phần lớn tâm huyết của tác giả lại để tâm sưu tầm những bài Mỡi thực hiện trong các nghi lễ mà chưa khám phá chức năng của nghi lễ trong đời sống hiện nay của cộng đồng
Gần đây nhất, công trình M i và vai trò của M tr n đời sống tinh
th n của n ườ ường ở Hòa Bình (2017) [52] do Bạch Mỹ Trinh chủ biên
Cuốn sách tập trung nhận diện nghi lễ Mỡi là hiện tượng văn hóa trong đời sống người Mường, mang tính Shaman giáo Các hoạt động của Mỡi truyền tải các ước muốn của người Mường về một cuộc sống tốt đẹp Công trình này làm rõ sắc thái ý nghĩa của thuật ngữ “Mỡi”, theo đó, Mỡi là danh từ riêng,
Trang 23chỉ thực hành cầu cúng, trấn an, trừ tà ma Các thầy Mỡi có vai trò như người chăm sóc đời sống tâm linh, đời sống tinh thần, điểm tựa tinh thần của người Mường Thầy Mỡi chính là những người lưu giữ các di sản văn hóa phi vật thể truyền khẩu đặc sắc của dân tộc Các tác giả làm r các tiêu chí, tư cách và khả năng của người làm Mỡi, quy trình trở thành thầy Mỡi bao gồm sắm sửa bàn thờ, đồ nghề; đấm thiếp - tẩy trần, ra Mỡi, tập đi làm vía làm ma; làm Mỡi, khao quân, lễ ra mắt Công trình cũng đề cập đến các loại nghi lễ như bùa yêu, hóa giải bùa yêu, lễ tạ mả Cuốn sách còn phê phán một số thầy Mỡi mới “nổ”, đạo đức kém, bị đồng tiền chi phối Họ hành nghề không vì mục đích cứu người, mà vì lợi nhuận và kiếm tiền làm ảnh hưởng đến vai trò, chức năng của thầy Mỡi trong xã hội người Mường Tuy nhiên, cuốn sách này chưa phân tích sâu chức năng, ý nghĩa của nghi lễ Mỡi và vai trò của thầy Mỡi trong xã hội đương đại từ quan điểm của người trong cuộc Đồng thời, công trình cũng chưa đặt nghi lễ Mỡi trong tổng thể cuộc sống và hệ thống tín ngưỡng của người Mường
Luận án cũng làm r những vấn đề mà trong công trình M tr n đời sốn n ườ ường ở Lạ Sơn - Hòa Bình (2016) [62] của tác giả Bùi Huy
Vọng, công trình này có tên gần với luận án Tác giả Bùi Huy Vọng mô tả khái quát những vấn đề cơ bản của tín ngưỡng và nghi lễ Mỡi Mỡi được ông
đề cập đến từ vấn đề về nguồn gốc, tên gọi, lịch sử ra đời, vai trò của Mỡi trong đời sống, đến môi trường thực hành, một số nghi lễ về Mỡi Phần lớn công trình là ghi ch p và sưu tầm những bài cúng Mỡi Có thể nói, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối sâu về Mỡi trong đời sống tín ngưỡng của người Mường ở Lạc Sơn, Hòa ình NCS kế thừa một số khái niệm, nhận diện về Mỡi trong công trình này Điều khác biệt cơ bản của luận
án với công trình này của Bùi Huy Vọng là NCS nghiên cứu một cách bài bản, khoa học trên nền tảng của học thuật, lý luận về nghi lễ Shaman giáo,
Trang 24phân tích về vị trí của nghi lễ đối với cộng đồng từ người trong cuộc, về vai trò của các thầy Mỡi, về các giá trị trị liệu, hóa giải các vấn đề về sức khỏe, cầu an, giải hạn, cắt giải tiền duyên Hơn nữa, dựa trên những câu chuyện cuộc đời của các thầy Mỡi cũng như của những người thụ lễ, NCS làm rõ ý nghĩa của nghi lễ đối với cuộc sống của các cá nhân, cộng đồng Hơn nữa, trên cơ sở cách tiếp cận diễn xướng nghi lễ của ngành văn hóa dân gian, chịu ảnh hưởng của nhân học văn hóa, luận án phân tích các yếu tố của một buổi lễ
do Mỡi thực hiện, từ người hành lễ, người thụ lễ, đến bối cảnh, mục đích cụ thể của các nghi lễ Hơn nữa, luận án bàn luận về sức sống của nghi lễ Mỡi trong bối cảnh đương đại để làm rõ một quan điểm học thuật về sức sống của các nghi lễ mang tính ma thuật trong xã hội đương đại
1.1.2.2 Một số công trình của n ườ nư c ngoài về M i
Nghiên cứu của người nước ngoài về Mỡi người Mường và hệ thống tín ngưỡng của người Mường như thể loại Mo Mường là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu, sưu tầm quan tâm đến từ sớm Từ thời kỳ Pháp thuộc, người Mường đã được biết đến qua những ghi chép của một số Cha cố, sỹ quan và một số học giả Pháp Trong đó, đáng chú ý phải kể đến những công trình nghiên cứu khá đầy đủ các khía cạnh cuộc sống người Mường của hai học giả Pier Grossin và Jeanne Cusinier Trong các công trình này, có những ghi ch p ban đầu về nghi lễ chu kỳ đời người và những thực hành nghi lễ, tín
ngưỡng trong đời sống của người Mường Trong công trình Tỉn ường Hoà Bình 1925 , Pierre Grossin đã dành một chương đầu tiên ghi tóm lược nội dung toàn bộ phần Mo sử thi Còn trong sách ườ ườn , địa ý, n n văn
và xã hội học của Jeanne Cuisinier (1995) [26], tác giả đã đề cập các thực
hành nghi lễ trong đời sống của người Mường như: Thờ cúng tổ tiên, thờ cúng chung của bản làng, thờ cúng trong nhà; nghi lễ trong gia đình, nghi lễ tang
ma, nghi lễ mở đầu năm mới, nghi lễ nông nghiệp Qua đó, tác giả đã miêu tả
Trang 25ý nghĩa của từng loại nghi lễ thể hiện trong lời Mo Trong công trình này, Cuisinier cũng đã dành một chương nói về tang ma Tuy nhiên, cả hai học giả ít khi tiếp xúc với cuộc sống của những người nông dân nên những nghiên cứu thường nghiêng về tập tục của dòng dõi quý tộc, Lang đạo vì những tài liệu họ thu thập được do ông Lang Cun đứng đầu mường cung cấp
Mỡi và các nghi lễ Mỡi cũng được các nhà nghiên cứu, sưu tầm quan tâm và đề cập đến từ sớm Jean Cuisinier ngay từ những năm 20 của thế kỷ
XX, đã có những ghi chép về hiện tượng Mỡi và đề cập trong cuốn Les ường - ườ ườn , địa ý, n n văn v xã ội học (1995) [26] Jean
Cuisinier phản ánh bản chất của người làm Mỡi và hoạt động của thầy Mỡi trong đời sống sinh hoạt người Mường Tuy vẫn gọi tên Mỡi trong tiếng Mường, song tác giả coi hoạt động Mỡi gần giống như hành động của phù thủy ở châu Âu Theo tác giả, Mỡi là “những hành vi ma thuật rõ ràng, một mặt là những hành vi bất thường của việc thờ cúng cá nhân, mặt khác là những tập quán ma thuật kết hợp với kỹ thuật y dược…” [26, tr.707 Jean Cuisinier
mô tả những đặc tính của các bà Mỡi, cho rằng đa số họ là những người:
Không lấy chồng, cũng có bà Mỡi lấy chồng và có con cái, cũng có
cả trường hợp thiên bẩm ma thuật truyền từ mẹ cho con gái… các
bà Mỡi bao giờ cũng do một hoặc nhiều thần linh nam giới điều khiển Họ thường đội một chiếc khăn của đàn ông mặc ra ngoài quần áo của họ một chiếc áo ngắn đàn ông, và thắt dây lưng theo kiểu đàn ông… [26, tr.707
Tác giả phân vân trong việc “phân loại” và tên gọi, coi bà Mỡi là phù thủy chưa thực sự phù hợp Tác giả cho rằng đúng hơn thì gọi họ là “những bà mục
sư, nếu như họ hạn chế hoạt động của họ vào việc cúng lễ các linh hồn sống Nhưng, muốn làm mục sư một cách hoàn toàn và thật sự, thì họ cũng phải được
sự thống nhất lại bằng một truyền thống tôn giáo chung” [26, tr.707
Trang 26Một trong những bài viết gần đây nhất là các công trình của tác giả người Nga, Nina Grigoreva, “Tín ngưỡng dân gian của người Mường liên quan đến tín ngưỡng Thờ Mẫu của người Việt” 2017 [72 Trong bài này, tác giả xem x t nhân vật nữ trong bối cảnh văn hóa dân gian Mường và phân tích vai trò hoạt động của các thầy Mỡi trong cộng đồng người Mường Thêm vào đó, tác giả cho rằng nhiều đặc trưng tiêu biểu của Tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt có thể tìm thấy trong văn hóa dân gian Mường mà giữ được nhiều n t của văn hóa Việt - Mường chung Đây là một nghiên cứu so sánh khá thú vị để tìm ra những yếu tố, hình thức tương đồng giữa hai nghi lễ mang tính Shaman giáo của người Việt và người Mường
1.1.3 Nghiên cứu về tín ngưỡng, nghi lễ, Shaman giáo
3 á ôn tr n tr n nư c
- Nghiên c u chung về t n n ư ng, nghi l : Sinh hoạt tín ngưỡng, nghi
lễ cũng là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm từ cách tiếp cận của ngành văn hóa dân gian, nhân học và nghiên cứu tôn giáo, tín ngưỡng Những công trình tương đối sớm về chủ đề này phải kể đến tác giả Toan Ánh, người
có rất nhiều tác phẩm viết về phong tục tập quán liên quan đến nghi lễ nói
chung và nghi lễ vòng đời nói riêng như: Tìm hiểu phong tục Việt Nam, nếp
ũ, tết, hội hè (1992) [3] Những công trình này đề cập đến khá nhiều
phong tục, tập quán của người Việt trong đó có nghi lễ hôn nhân, tang ma
Một trong những công trình tiêu biểu mà có ảnh hưởng đến nghiên cứu
là cuốn sách của tác giả Tạ Đức, uồn ố n ườ V ệt - n ườ ườn (2013)
[15] Bên cạnh một số quan điểm lý luận về tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng, các tác giả nghiên cứu một số thực hành tín ngưỡng dân gian, như thờ cúng Tổ tiên, dòng họ, thờ cúng thành Hoàng làng, các nghi lễ, phong tục liên quan đến các hoạt động sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, tổ của các nghề và làng nghề thủ công truyền thống
Trang 27Trong công trình này, tác giả đặc biệt quan tâm đến lễ hội, nghi lễ vòng đời Nghi lễ vòng đời người chính là cách ứng xử của cộng đồng người đối với một cá nhân, cũng là sự ứng xử đối với toàn bộ xã hội và toàn bộ thế giới tự nhiên bao quanh con người Nghi lễ vòng đời người là nghi lễ mà gia đình, tộc
họ, cộng đồng tôn giáo thực hiện cho mỗi con người Nếu như những nghi lễ nông nghiệp là sự ứng xử của con người với cái tự nhiên ngoài ta (ngoài con người) thì những nghi lễ vòng đời là sự ứng xử với cái tự nhiên trong ta (trong con người)
Nghiên cứu về nghi lễ vòng đời phải kể đến công trình Nghi l v n đời
của nhóm tác giả Lê Trung Vũ chủ biên), Nguyễn Hồng Dương, Lê Hồng Lý (2007) [65 ; Đây là những công trình sâu chuỗi các nghi lễ từ khi sinh ra đến lúc chết của cuộc đời người Việt Công trình đã cung cấp cho người đọc một
hệ thống những nghi lễ vòng đời của người Việt từ cuộc sống phôi thai, hài nhi, đi học, hôn nhân, lên lão đến lúc chết Đây là những kinh nghiệm trong cuộc sống thường ngày của người Việt đã được nhóm tác giả hệ thống trong công trình và cũng đã đề cập đến những phong tục tập quán của người Việt trong lên lão của người già, những nghi lễ phong tục trong tang ma của người Việt Công trình này của nhóm tác giả đã đưa ra một bức tranh toàn cảnh về nghi lễ vòng đời trong đời sống của người Việt
Ngoài ra, còn hàng loạt các công trình đề cập đến các nghi lễ vòng đời của các dân tộc khác nhau ở Việt Nam như: Trần Văn ổn với công trình
Phong tục nghi l v n đờ n ườ ơ ở a ộ (2002) [8]; Phan Quốc Anh về Nghi l vòng đờ n ười của n ườ ă A r ở Ninh Thuận (2006) [2]; về người Dao, tác giả Lý Hành Sơn, Các nghi l chủ yếu tr n đờ n ười của nhóm Dao tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn (2001) [36]; Các nghi l a đ n ủa
n ườ T y ường ở Con Cuông, Nghệ An (2011) [13] của Lê Hải Đăng; Phong tục và nghi l chu kỳ đờ n ười của n ười Sán Dìu ở Việt Nam (2005) [6] của
Trang 28Diệp Trung ình Đây là những công trình mô tả dân tộc học về các loại hình nghi lễ của các tộc người, nhưng chưa có công trình nào làm r vai trò của người hành lễ cũng như làm r sức sống của nó trong thời kỳ đương đại
Thực hành tôn giáo cũng là chủ đề được các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm từ sau Đổi mới, và cũng là chủ đề xuyên suốt được đề cập trong
tuyển tập Sự biến đổi của tôn á t n n ư ng ở Việt Nam hiện nay (2008) của
nhiều tác giả, do Lê Hồng Lý và Nguyễn Thị Phương Châm tuyển chọn Thay
vì những mô tả khô cứng, các tác giả trong tuyển tập này đã nhìn nhận vấn đề nghiên cứu trong sự phát triển và gắn với cuộc sống của những người thực hành, những người thụ lễ trong xã hội Việt Nam đương đại Trong phần giới thiệu của công trình này, tác giả Nguyễn Thị Hiền đánh giá nghiên cứu nghi lễ và tín ngưỡng ở Việt Nam từ nhiều góc độ khác nhau Nghi lễ được nhìn nhận như là hiện tượng huyền bí và “hành động ma thuật” Tác giả cũng cung cấp một số quan điểm học thuật trong nghiên cứu văn hóa dân gian và nhân học tôn giáo tín ngưỡng về nghi lễ Các công trình các hành động nghi lễ mang tính diễn năng (performative) và có công hiệu efficancy Nhóm tác giả Vũ Hồng Thuật Lê Hồng Lý - Nguyễn Thị Phương Châm trong bài viết của mình “Đời sống tâm linh của chiếc ván in bùa trấn trạch…” 2008 [47 đã cho người đọc thấy những nghi lễ mang tính ma thuật mà người thầy cúng thực hiện để đạo Bùa trở nên có công hiệu Nghiên cứu của các tác giả trong công trình này thể hiện một xu hướng mới trong nghiên cứu nghi lễ, là sự kết hợp lý thuyết để phân tích các thực hành nghi lễ cụ thể trong đời sống tín ngưỡng của người Việt
- Nghiên c u về Shaman giáo và chữa bệnh trị liệu
Đi sâu tìm hiểu về khía cạnh Shaman giáo và chữa bệnh trị liệu thì đã
có một số công trình Nguyễn Thị Hiền với công trình The Religion of Four Palaces: Mediumship and Therapy in Viet Culture (T Phủ L n đồng và trị liệu tr n văn óa n ười Việt) 2016 [23 đã đề cập đến vấn đề chữa bệnh và
Trang 29trị liệu của nghi lễ Lên đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ, Tứ Phủ Tác giả làm rõ tính trị liệu của nghi lễ Lên đồng thể hiện thông qua diễn trình nghi
lễ và những yếu tố mang tính biểu trưng như tàn nhang, nước thánh, cùng với những đức tin vào quyền năng của các vị thần thánh trong điện thần Tứ phủ Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Hiền còn phân tích sâu về “ ệnh âm: Chẩn đoán và
chữa bệnh trong nghi lễ Lên đồng của người Việt” (2010) [21] Trong bài viết
này, tác giả đã đề cập đến một khía cạnh tương đối điển hình của nghi lễ Lên đồng là chữa bệnh trị liệu mà Lên đồng có thể mang đến cho người hầu đồng
và những người tham dự cảm giác dễ chịu, theo họ là sự mát mẻ [21, tr.38] Dựa trên nền tảng lý thuyết về Shaman giáo, về tính công năng của nghi lễ tác giả đã tìm hiểu về bệnh âm và cách chữa bệnh tâm linh, chữa bệnh trong Lên đồng của các ông bà đồng trong bối cảnh hiện nay
Cùng nghiên cứu chức năng trị liệu của nghi lễ, có tác giả Nguyễn Kim Hiền (2004) [19]; với bài viết “Lên đồng ở Việt Nam - một sinh hoạt văn hóa tâm linh mang tính trị liệu” Tác giả cho rằng Lên đồng được sử dụng như là một biện pháp trị liệu thực sự có hiệu quả, vì nó có tác dụng điều chỉnh những bất ổn tinh thần của một số người Hiệu quả trị liệu nổi bật của Lên đồng dựa trên sự kết hợp gắn bó của các phương tiện trị liệu mang tính tâm thể (âm nhạc trong cơ cấu nghi lễ là một nhân tố đặc biệt quan trọng) với các phương tiện trị liệu mang tính tâm lý xã hội trong đó hệ thống giải thích bệnh trong
cơ chế biểu tượng đóng vai trò cơ bản) làm nên tác dụng trị liệu tổng hợp của hiện tượng Lên đồng Tác giả nhấn mạnh rằng Lên đồng không phải là một trị liệu hướng đến sự hoàn thiện tuyệt đối, nhưng nó là một cách nhận thức lại về một tọa độ lịch sử xã hội và văn hóa của một cá nhân và cộng đồng để có điều kiện xác định được vai trò xã hội của mình, làm thức tỉnh và cảm nghiệm thấy
ở mình một năng lực sống mới mạnh mẽ và có ý nghĩa hơn trước trong một cộng đồng ít nhiều chia sẻ những cảnh ngộ với mình Tác giả Ngô Đức Thịnh
Trang 30trong cuốn sách L n đồng: Hành trình của th n linh và thân phận (2015) [46]
tiếp cận tín ngưỡng này dưới khía cạnh tâm sinh lý, cho rằng nghi lễ Lên đồng giúp các ông đồng bà đồng, là những người đã bị cơ đầy, bị điên, bị ốm… tái hòa nhập với cộng đồng như người bình thường sau khi làm lễ mở phủ hay trở thành con nhang của tín ngưỡng này
Ngoài nghiên cứu về Lên đồng, một số tác giả còn nghiên cứu về hiện tượng Shaman giáo của các dân tộc Việt Nam như các công trình của tác giả Nguyễn Thị Hiền “The then performer of the Dai as folk singer and Shaman” Người diễn xướng Then-nghệ nhân hát dân ca và thầy Shaman) (1999) [20] Tác giả làm rõ bản chất Shaman giáo của nghi lễ Then bằng cách phân tích về khả năng và hình thức diễn xướng của các thầy Then cùng âm nhạc, các yếu
tố mang tính biểu tượng như âm binh, các hành động nghi lễ biểu trưng cho
việc chữa bệnh, tìm vía cho người ốm Một số công trình khác như Then Tày
(2007) của tác giả Nguyễn Thị Yên [67 Đây là cuốn sách khá bài bản lý giải
về hệ thống tín ngưỡng, diễn xướng của nghi lễ Then và coi nghi lễ Then như
là một hiện tượng Shaman giáo
Có thể thấy rằng nghiên cứu về nghi lễ ở Việt Nam là đề tài hấp dẫn và phong phú Mỗi dân tộc trên đất nước Việt Nam đều có những hệ thống nghi
lễ khác nhau thu hút nhiều học giả quan tâm Các nghiên cứu về nghi lễ trong những thập niên gần đây đã vượt ra khỏi những khuôn mẫu nghiên cứu nghi
lễ truyền thống với những mô tả dân tộc học về nghi lễ ở các tộc người khác nhau Một số công trình đã cập nhật với quan điểm học thuật ở phương Tây
về công năng, tính trị liệu của nghi lễ để lý giải chức năng nghi lễ trong văn hóa tín ngưỡng và đời sống thường nhật của con người Các tác giả thời nay cũng vượt qua được rào cản từ góc độ khoa học tự nhiên để nghiên cứu nghi
lễ mang tính Shaman giáo, ma thuật từ góc độ con người, đức tin và niềm mong mỏi cho cuộc sống tốt đẹp hơn cả về thể xác lẫn tinh thần Trên nền
Trang 31tảng này, luận án sẽ đi trực diện về vấn đề chữa bệnh tâm linh, với phương châm “có bệnh thì vái tứ phương”, cũng như những quan điểm của người Mường về việc đi cầu cúng, gặp thầy Mỡi chữa bệnh như là một nhu cầu sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng và nghi lễ của cộng đồng người Mường
3.2 á ôn tr n nư c ngoài về Shaman giáo
Nghiên cứu về Shaman giáo bắt đầu khi các nhà khoa học khám phá các hình thức nghi lễ mang tính xuất nhập thần của các thầy Shaman ở Xibêri Những nghiên cứu về hiện tượng này trong nhiều vùng khác nhau trên thế giới đã phát hiện ra sự đa dạng của Shaman giáo từ góc độ khác nhau như văn hóa dân gian, nhân học, nghiên cứu tôn giáo, văn hóa học Có thể nói rằng trước đây, hiện tượng Shaman giáo ở Việt Nam, cũng như một số nước vẫn còn là vấn đề nhạy cảm và bị quy cho là mê tín dị đoan, hoặc thầy Shaman là những người mắc chứng bệnh điên Ví dụ ở Hàn Quốc, nghi lễ Shaman Kut từng bị nhà nước cấm đoán Ngày nay, nghi lễ Kut phát triển rộng khắp, được Nhà nước bảo trợ, và coi như là một di sản tiêu biểu của quốc gia trong danh
sách bảo tồn văn hoá của Hàn Quốc theo Luật Bảo vệ văn á và được
UNESCO vinh danh trong danh sách di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại
Có nhiều quan điểm trái chiều về hiện tượng Shaman giáo Một số học giả cho rằng các thầy Shaman là những người điên, mất trí, bệnh hoạn Trong
sách Vu thuật huyền bí, tác giả Diêu Chu Huy (1996) [25] cho rằng tục cầu
thần nhập xác là tục lệ mê tín cần phải loại bỏ Mục đích cuốn sách của ông là
“vạch trần chân tướng tục cầu thần nhập xác” [25, tr.43 bằng cách giải thích hiện tượng này dưới góc độ thuật thôi miên Shirokogorov S.M (1935) [76] cho rằng thầy Shaman của người Tungus ở Xibêri “nửa tâm thần” và “lệch
lạc” thể hiện tính chất xuất nhập thần trong nghi lễ của họ Trong sách Những hình th tôn á sơ k a , tác giả Tôcarép tổng kết lại một số quan niệm của
các nhà nghiên cứu khác về hiện tượng Shaman giáo Ông viết, có nhiều nhà
Trang 32nghiên cứu cho rằng Shaman giáo rất giống cơn bệnh thần kinh cười cười,
khóc khóc), thầy pháp Shaman thường là những người ngớ ngẩn hay mắc phải chứng bệnh này Nhưng thầy pháp Shaman khác với người mắc bệnh thần kinh bình thường ở chỗ thầy pháp không chỉ đơn thuần là người có ma ám mà thầy còn có mối quan hệ thường xuyên với ma quỷ và có thể tùy ý mời ma về hoặc mời ma đi, bắt ma phục tùng mình [50, tr.330-339]
Cũng như Tôcarép, tổng kết lại những quan điểm về Shaman giáo vào nửa đầu thế kỷ XX, Howells [50, tr.129-144] kết luận thầy Shaman thuộc
“loại tâm thần”, những kẻ ngoại đạo, mà loại bệnh này kết hợp các đặc tính của chứng cuồng loạn với tâm thần phân liệt Nhưng dù sao các học giả không
có một lời giải thích nào tại sao thầy Shaman, người hầu bóng, và người chữa bệnh tâm linh lại có một chức năng nào đấy trong xã hội, còn những người mắc chứng cuồng loạn và tâm thần phân liệt thì không có chức năng như vậy
Một trong những công trình đầu tiên đề cập đến bản chất và ý nghĩa đích thực của các thầy Shaman là cuốn sách nổi tiếng của Eliade Mircea
(1964) với tựa đề Shamanism: Archaic Techniques of Ecstasy (Shaman giáo:
kỹ thuật xuất nhập th n cổ sơ) [69] mà học giả hay sinh viên nào tìm hiểu về
lĩnh vực này cũng phải đọc Trong cuốn sách này, tác giả đã phân tích sâu các vấn đề của nghi lễ và của thầy Shaman và khẳng định về bản chất của người thầy Shaman không phải là những người bị tâm thần theo nghĩa y học, mà là những người “bị hành”, có những biểu hiện về ốm đau, giấc mơ à cũng đề cập đến những vấn đề về khả năng được trao quyền, nghi lễ nhập đạo, nhập thần, ý nghĩa biểu tượng của trang phục, đồ thờ cúng, đạo cụ Cuốn sách này cũng khái quát những nghi lễ Shaman đa dạng tồn tại ở nhiều vùng miền trên thế giới như ở Bắc Á và Trung Á, Nam Á, ở Mỹ, Châu Đại dương, Trung Quốc, Viễn Đông Cuốn sách của Eliade có ảnh hưởng sâu rộng đến nghiên cứu về Shaman giáo Những thập kỷ sau, các công trình trong ngành văn hóa
Trang 33dân gian, nhân học về chủ đề này đã có chú ý tới hiện tượng toàn cầu về Shaman giáo và sự đa dạng phụ thuộc vào hệ thống tín ngưỡng bản địa và bối cảnh cuộc sống của các tộc người Các công trình đã có nhiều điểm chung về tính chất xuất nhập thần và công năng của các thầy Shaman [69]
Trong bài tổng quan các quan niệm nghiên cứu về Shaman giáo in
trong tạp chí Annual Review of Anthropology, Atkison Jane Monning (1992)
[68 đưa ra nhận xét là nửa đầu thế kỷ XX, phần lớn các tài liệu về Shaman giáo đều cho rằng Shaman là những người mắc chứng bệnh tâm thần, nhưng cũng có những học giả cho Shaman giáo là những nghi lễ tôn giáo lành mạnh
Hiện nay ở phương Tây, các nhà nghiên cứu nhất trí với một sự thật là Shaman giáo không phải một chứng bệnh điên Có những công trình cho rằng nhóm thầy Shaman là những người có đặc điểm cá nhân riêng, và hoàn toàn bình thường về mặt tâm sinh lý Một số bài nghiên cứu ở Nga vẫn nói về tâm
lý không bình thường của những người Shaman Nhìn chung, cách nhìn nhận những người Shaman đã thay đổi từ những người không bình thường về tâm
lý thành những người có năng lực đặc biệt về tâm sinh lý [68, tr.505]
Một đặc tính quan trọng của những người hành nghề Shaman giáo và hầu bóng là có khả năng rơi vào trạng thái xuất nhập thần Tiêu biểu là công trình của tác giả Gibert Rouget (1985), phân tích rõ trạng thái xuất nhập thần
trong cuốn Music and Trance (Âm nhạc và nhập Đồng) [75] Trong trạng thái trance, người ta có thể đi trên than nóng mà không bị bỏng, cắt một miếng
thịt mà không chảy máu, cầm rắn độc mà không bị cắn, chữa bệnh, đoán tương lai, nói bằng một thứ ngôn ngữ mà không bao giờ được học, thoát hồn chu du vào cõi của thần chết dưới đất, bay lên trời, hát múa suốt ngày không nghỉ v.v [75, tr.13-14 Công trình kinh điển này của Rouger đã mở ra một trang mới cho lĩnh vực nghiên cứu về Shaman giáo trên thế giới về ý nghĩa và
Trang 34chức năng của nghi lễ Shaman và vai trò của thầy Shaman đối với cuộc sống tinh thần và tâm linh của cộng đồng
1.1.4 Đánh giá về các công trình nghiên cứu
Tổng quan các công trình nghiên cứu về nghi lễ Mỡi trong nước và ở nước ngoài về những chủ đề liên quan đến luận án, như người Mường và văn hóa, tín ngưỡng của người Mường ở Hòa Bình, nghi lễ Mỡi, và những chủ đề
về nghiên cứu nghi lễ, tín ngưỡng, Shaman giáo đã cung cấp cho luận án một
số tri thức nền tảng Cụ thể, các công trình xuất bản bước đầu đã phân tích và đưa ra bức tranh chung về cuộc sống văn hóa, hệ thống tín ngưỡng của người Mường, về các quan điểm nhân sinh quan, vũ trụ quan Các công trình cũng nhận diện nghi lễ Mỡi như là một hiện tượng mang tính huyền bí, ma thuật,
có mối liên hệ với thế giới vô hình, có chức năng chữa bệnh, giải tỏa tâm lý Các công trình phần nào đã chỉ ra bản chất của nghi lễ mang tính cầu cúng, chữa bệnh và cầu an Ngoài ra, một số công trình còn cho rằng một số yếu tố của nghi lễ Mỡi mang tính lạc hâu, mê tín và cần có biện pháp để ngăn ngừa những biểu hiện lệch lạc của nghi lễ Bên cạnh đó, có những công trình cung cấp tư liệu điền dã khá phong phú về các bài cúng của thầy Mỡi và mô tả chi tiết về quy trình hành của lễ Mỡi
Tuy nhiên, qua phân tích các công trình trên, NCS nhận thấy rằng chưa
có công trình nào chuyên sâu, phân tích rõ bản chất và sức sống, sự phát triển của nghi lễ Mỡi trong xã hội đương đại Đồng thời, chưa có công trình nào làm rõ bản chất Shaman giáo của nghi lễ Mỡi trong mối tương quan với các nghi lễ khác Cũng chưa có công trình nào nhấn mạnh đến vai trò của các thầy Mỡi trong cuộc sống tinh thần người Mường Các tác giả cũng chưa phân tích chức năng của thầy Mỡi trong việc thực hành và lưu truyền tri thức dân gian liên quan đến nghi lễ, vũ trụ quan và nhân sinh quan của người Mường
Trang 35Đây là những khoảng trống mà luận án này mong muốn đi sâu tìm hiểu dựa trên những trải nghiệm cá nhân tác giả, cũng như những tư liệu từ quan sát tham dự trong những năm qua Luận án này cũng kế thừa những số liệu, thông tin mô tả dân tộc học từ những học giả đi trước về nghi lễ Mỡi Luận án bàn sâu thêm về chức năng của Mỡi trong cuộc sống sinh hoạt cộng đồng, đồng thời làm rõ sức sống về nghi lễ Mỡi trong xã hội đương đại
Phân tích một số công trình tiêu biểu nghiên cứu về Shaman giáo, Lên đồng, hát Then ở Việt Nam và trên thế giới, NCS thấy rằng nghiên cứu nghi
lễ là một lĩnh vực thực sự thú vị, nhận được sự quan tâm của nhiều học giả Các công trình đề cập tương đối sâu về các vấn đề liên quan đến nghi lễ như mối quan hệ của nghi lễ tới việc phản ánh hệ thống tín ngưỡng của tộc người, vai trò và chức năng của những người hành lễ như các thầy cúng, các thầy Shaman, ông đồng bà đồng Các công trình nước ngoài đề cập đến nghi lễ như một quá trình thực hành trong bối cảnh cụ thể của người làm lễ, người thụ lễ
và gắn với các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng của tộc người Qua đó, các công trình đã đưa ra những vấn đề mang tính lý thuyết về việc nghiên cứu nghi lễ như một quá trình có sự tương tác của tất cả các thành tố tham gia vào nghi lễ
từ ngành văn hóa dân gian và nghiên cứu nghi lễ từ quan điểm những người trong cuộc và trong thực hành từ quan điểm học thuật của ngành nhân học tôn giáo, tín ngưỡng Nhiều công trình đề cập đến tính công năng của nghi lễ và vai trò của chúng đối với tinh thần và sức khỏe của người làm lễ và thụ lễ Luận án kế thừa những quan điểm học thuật về chức năng của các thầy cúng, thầy Shaman và công năng của nghi lễ trong những công trình này để làm khung phân tích và ứng dụng nhằm làm rõ vai trò các thầy Mỡi, như là những Shaman và tính công năng của các nghi lễ đáp ứng phần nào nhu cầu trong đời sống tâm linh mong cầu những điều tốt đẹp cho bản thân, gia đình và sức khỏe Các thầy cúng, Shaman có khả năng giao tiếp với thế giới vô hình, đi
Trang 36tìm vía lạc lối nhập về thể xác con người lấy lại sức khỏe, để con người được bình yên Trên nền tảng những cơ sở học thuật này, luận án sẽ làm rõ vai trò, chức năng của thầy Mỡi, cũng như vị trí nghi lễ đối với cộng đồng, công năng của nghi lễ, đồng thời lý giải về sự hồi sinh, phát triển của nghi lễ Mỡi trong văn hóa tín ngưỡng người Mường ở huyện Lạc Sơn hiện nay
nói một cách khác, như theo Từ đ ển t ến V ệt do Nguyễn Như Ý chủ biên
1998 , “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử” Tựu chung lại, văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, tích lũy qua quá trình lao động và chịu sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội [66 Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa Nơi nào có con người nơi đó có văn hóa Theo UNESCO, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia Tất cả những giá trị vật thể và phi vật thể của tộc người có những điểm tương đồng và dị biệt với các nền văn hóa khác
Khái niệm về tín ngưỡng được nhận diện theo nhiều chiều cạnh khác
nhau Từ đ ển Hán - V ệt của học giả Đào Duy Anh, tín ngưỡng là “lòng
Trang 37ngưỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [1 Tín ngưỡng nghĩa là: “Tin tưởng vào một tôn giáo, và tự do tín ngưỡng” [37 Có thể coi, tín ngưỡng chính là niềm tin, đức tin của con người Bàn về tín ngưỡng, tôn
giáo, trong công trình Lý uận về tôn á v t n n tôn á ở V ệt a ,
Đặng Nghiêm Vạn đưa ra khái niệm tín ngưỡng như là đức tin tôn giáo Điều đáng lưu ý là ở đây, tác giả không hoàn toàn tách tín ngưỡng rời khỏi tôn giáo: “Nếu hiểu tín ngưỡng là niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo, nếu
hiểu là niềm tin tôn giáo f, v , t n ĩa ẹp, r yan r us )
thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu cấu thành của tôn giáo” [55, tr.88] Ngô Đức Thịnh phân biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng, cho rằng tôn giáo có
hệ thống giáo lý, còn tín ngưỡng chưa có và mang tính tự phát [44] Về điều này cũng đã được Nguyễn Quốc Tuấn nêu ra trong một bài viết gần đây về khái niệm tín ngưỡng (2013) Theo Nguyễn Quốc Tuấn, “cái mà chúng ta gọi
là “tín ngưỡng dân gian” thực chất là đời sống tâm linh được tạo thành trong dòng chảy miên viễn của mỗi tộc người và sự ảnh hưởng qua lại giữa chúng với nhau” [53, tr.10]
Tập hợp khái niệm về văn hóa tín ngưỡng, văn hóa tín ngưỡng là cụm
từ chỉ hệ thống tín ngưỡng của một tộc người đặt trong nền văn hóa của chính tộc người đó Trong những thập kỷ qua, nghiên cứu tín ngưỡng đã được đặt trong tổng thể văn hóa của tộc người, được nghiên cứu từ góc độ liên ngành, dân tộc học, văn hóa dân gian và nhân học văn hóa, không đơn thuần chỉ là tín ngưỡng đứng riêng lẻ Nói một cách khác, tín ngưỡng được nghiên cứu trong một nền văn hóa, còn gọi là văn hóa tín ngưỡng Mỗi nền văn hóa đều có những đặc điểm riêng, hệ thống tín ngưỡng, thực hành tín ngưỡng phụ thuộc vào bối cảnh văn hóa, xã hội, chính trị và chính cộng đồng chủ nhân Tín ngưỡng được phản chiếu trong các thực hành, thể hiện các vấn đề về quan niệm, nhận thức, cuộc sống của cộng đồng, tức là các yếu tố văn hóa mà cá
Trang 38nhân và cộng đồng đó đang sinh sống và thực hành Ngô Đức Thịnh đã có một đánh giá, gắn tín ngưỡng vào trong hệ thống văn hóa Ông cho rằng “Tất
cả những niềm tin, thực hành và tình cảm tôn giáo tín ngưỡng trên đều sản sinh và tồn tại trong một môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa mà con người đang sống, theo cách suy nghĩ và cảm nhận của nền văn hóa đang chi phối họ” [44, tr.14]
Như vậy tín ngưỡng không tồn tại một mình, mà tích hợp trong nó các yếu tố văn hóa truyền thống và hiện đại khác, trong thực tiễn và các ứng xử thực tế cuộc sống văn hóa của cộng đồng Tác giả Ngô Đức Thịnh nhấn mạnh rằng tín ngưỡng được xem như là hình thức văn hoá của cộng đồng trong quá trình hình thành và phát triển, mỗi tín ngưỡng “sản sinh, tích hợp trong nó những hiện tượng, những sinh hoạt văn hoá nghệ thuật” [44, tr.28]
1.2.1.2 Nghi l t n n ư ng
Nghi lễ là một hoạt động diễn xướng trong văn hóa dân gian, một thực
hành xã hội, tôn giáo, tín ngưỡng dân gian được lặp đi lặp lại, bao gồm một chuỗi các hành động, nghi thức Những biểu tượng và giá trị văn hóa tộc người được sử dụng, thể hiện đức tin, niềm mong muốn sự hy vọng Mặc dù những biểu tượng và ý nghĩa của nghi lễ rất quan trọng đối với người tham gia được gợi lên, nhưng cũng không nên suy luận cho những giá trị, chức năng của nghi lễ đối với những người tham gia vào nghi lễ Chính trong các thực hành nghi lễ, con người cả người hành lễ đến người tham gia thể hiện cuộc sống tôn giáo, tín ngưỡng của mình Như vậy, đối với những người tham
dự, các buổi nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng còn là những thể hiện, vật chất hóa, hiện thực hoá đức tin tôn giáo, tín ngưỡng Đó không chỉ là khuôn mẫu của những điều mà họ tin vào, mà còn là khuôn mẫu thể hiện niềm tin vào tôn giáo, tín ngưỡng Trong những khuôn mẫu mềm dẻo của những nghi lễ con người có những đức tin như là họ có thể thể hiện chúng bằng thực hành nghi
Trang 39lễ [27, tr.144 Đây là lĩnh vực thực hành trong cuộc sống, không phải là các giáo điều, văn bản, hệ thống giáo lý
Có nhiều định nghĩa về nghi lễ, phụ thuộc vào các cách tiếp cận Victor Turner cho rằng nghi lễ là “ứng xử chính thức theo quy định đối với những dịp mà không phải được diễn ra đối với hoạt động hàng ngày mang tính công nghệ, có tham chiếu đến niềm tin vào lực lượng hay sức mạnh huyền bí Biểu tượng là đơn vị nhỏ nhất của nghi lễ” [78, tr.19 Stanley Tambiah cho rằng nghi lễ là: Một hệ thống được kiến tạo một cách văn hóa của những giao tiếp biểu tượng, nó được tạo nên bởi một chuỗi mang tính khuôn mẫu, trật tự của lời nói và hành động, thường được thể hiện bằng đa phương tiện, mà nội dung
và việc tổ chức, sắp đặt của chúng được khắc họa trong những cấp độ khác nhau bằng hình thức (hay lễ nghi), sự dập khuôn (hay cứng nhắc), sự cô đọng (hay hợp nhất), sự dư thừa (hay nhắc đi nhắc lại) [73, tr.119]
Theo Pháp lện T n n ư n , Tôn á (2004) [32] “Hoạt động tín
ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởng niệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội” Còn Luật
T n n ư ng, Tôn giáo (2016) [28] định nghĩa:
T n n ư ng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua
những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để
mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng Hoạt độn t n n ư ng là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tượng linh
thiêng; tưởng niệm và tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội
Trang 40Trong công trình này, NCS cho rằng nghi lễ tín ngưỡng là một thực hành tín ngưỡng dân gian, do các thầy cúng/Shaman thực hiện, được lặp đi lặp lại phụ thuộc vào mục đích mong muốn đạt được của những người được
làm lễ ( n y) với những hành động mang tính biểu tượng Nghi lễ có thể
coi là một biểu hiện của văn hóa tín ngưỡng, phản ánh những đức tin, quan điểm nhân sinh quan của cộng đồng, được những người thầy cúng thực hiện,
để đáp ứng những điều mong muốn và những ước vọng thường nhật của con người
1.2.1.3 Nghi l Shaman giáo và th y Shaman
Shaman giáo (Shamanism) là hệ thống tín ngưỡng bản địa tồn tại ở nhiều nền văn hoá, trong đó người đứng đầu hệ thống này là các thầy Shaman Thuật ngữ Shaman có nguồn gốc từ tiếng Evenk của bộ lạc Tungus,
một bộ lạc nuôi tuần lộc ở Siberia Từ Shaman biến thiên của từ Shamana trong tiếng Pali (tiếng sancrít là śramana , và được phần lớn các nhà phương
Đông học chấp nhận [80, tr.495]
Từ trước thế kỷ XIX, các nhà du lịch, những người truyền giáo và những nhà thám hiểm đã miêu tả các nghi lễ Shaman mang tính huyền bí, và những thầy Shaman có khả năng xuất hồn và nhập thần Đến đầu thế kỷ XIX, thuật ngữ “Shaman giáo” được sử dụng rộng rãi để chỉ những hình thức xuất hồn, nhập thần ở những vùng khác nhau trên thế giới như Thái ình Dương, ở châu Phi, Bắc, Đông và Nam Á, Úc, và một số vùng ở châu Mỹ và ở Siberia [68, tr.504-507] Ở Việt Nam, chúng ta có thể quan sát hiện tượng xuất hồn và
nhập thần như các nghi lễ Shaman giáo trên thế giới như nghi lễ Then, Pựt, Tào của người Tày, M i của người Mường, lễ Yao của người Bru, Một của
người Thái, lập tịch, tết nhảy lửa của người Dao, lễ nhập hồn của người Chăm
và đặc biệt là nghi lễ Lên đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ của người Việt