1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng phương pháp địa chấn nông phân giải cao để nghiên cứu sự phân bố giồng cát ở vùng biển huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh

123 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 14,72 MB
File đính kèm Luan van_PDF.rar (13 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Việt Nam cũng như trên thế giới cát là nguồn vật liệu quan trọng có giá trị, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khai thác nhằm mục đích lợi nhuận nên gây ra sự ô nhiễm môi trường và nhiều biến cố khác. Do đó việc xác định, đánh giá trữ lượng và phân bố cát, nhất là các giồng cát vùng biển ven bờ, sông là rất cần thiết để bảo vệ môi trường cũng như bảo vệ nguồn cát, nguồn vật liệu quý giá. Trước tình hình đó, Nhà nước và các nhà khoa học đã tiến hành nhiều chủ trương và phương pháp khác nhau trong đó có phương pháp địa vật lý, đặc biệt là phương pháp địa chấn để đánh giá xác định các giồng cát. Địa vật lý là một trong các ngành Khoa học về Trái đất, được sử dụng nhiều trong việc nghiên cứu triển khai với từng loại phương pháp khác nhau trong Địa vật lý như: địa chấn, từ, trọng lực, điện, ra đa xuyên đất, phóng xạ, điện từ, giếng khoan và mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng đối với từng đối tượng nghiên cứu.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN



Tôi xin cam đoan dữ liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017

DƯƠNG BÁ MẪN

Trang 2

LỜI CẢM ƠN



Trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thành Vấn – Trưởng

Bộ môn Vật lý Địa cầu, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh

đã phân công và tạo điều kiện cho tôi thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Ngọc Thanh - Viện Địa lý tài nguyên Thành

phố Hồ Chí Minh đã hướng dẫn tận tình và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian thực hiện Luận văn Tôi cũng xin gửi lời tri ân đến quý thầy cô Bộ môn Vật lý Địa cầu và quý thầy cô Khoa Vật lý - Vật lý Kỹ thuật - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh đã tận tình truyền đạt những kiến thức học tập quý báu trong suốt khoá học

Tôi xin chân thành cảm ơn các anh, chị Phòng Địa vật lý - Viện Địa lý tài nguyên thành phố Hồ Chí Minh, đã giúp đỡ tận tình và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành lớp Cao học chuyên ngành Vật lý Địa cầu tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Thành phố Hồ Chí Minh

Tôi cảm ơn tất cả các bạn lớp Cao học khóa K25 đã cùng tôi chia sẻ những niềm vui và khó nhọc trong những tháng năm học tập tại Trường Đại học Khoa học

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ix

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 4

1.1 Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu 4

1.1.1 Vị trí địa lý 4

1.1.2 Đặc điểm địa chất 4

1.2.3 Đặc điểm địa hình - địa mạo 22

1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 25

1.2.1 Dân số, lao động 25

1.2.2 Tài nguyên thiên nhiên 26

1.2.3 Hiện trạng phát triển kinh tế huyện Cần Giờ 29

CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ PHƯƠNG PHÁP ĐỊA CHẤN NÔNG PHÂN GIẢI CAO 34

2.1 Đặc điểm sóng phản xạ 34

2.1.1 Đặc điểm phản xạ từ các mặt ranh giới 34

2.1.2 Đặc điểm trường sóng địa chấn khi quan sát trong môi trường nước 36

Trang 4

2.2 Quá trình truyền sóng 38

2.3 Sự suy giảm năng lượng trong quá trình truyền sóng 39

2.3.1 Mở rộng mặt sóng 39

2.3.2 Hấp thụ năng lượng 39

2.3.3 Phản xạ và khúc xạ trên mặt ranh giới 40

2.4 Độ phân giải địa chấn 41

2.4.1 Độ phân giải đứng 41

2.4.2 Độ phân giải ngang 42

2.5 Yêu cầu kỹ thuật của các xung địa chấn 45

2.6 Băng ghi địa chấn và mặt cắt địa chấn 45

2.6.1 Biến dạng theo phương thẳng đứng (tỷ lệ đứng) 46

2.6.2 Sự biến dạng băng ghi đo độ nghiêng và độ cong của mặt phản xạ 46

2.7 Các loại nhiễu thường gặp trong địa chấn nông độ phân giải cao 47

2.7.1 Nhiễu tần thấp 47

2.7.2 Nhiễu tần cao 47

2.7.3 Nhiễu phản xạ nhiều lần 48

2.7.4 Các loại sóng nhiễu khác 50

2.8 Ảnh hưởng của độ sâu đặt nguồn phát và thiết bị thu đến độ sâu khảo sát và độ phân giải của ĐCNPGC 50

2.9 Xử lý dữ liệu địa chấn nông phân giải cao 53

CHƯƠNG 3: HỆ THIẾT BỊ VÀ PHẦN MỀM XỬ LÝ DỮ LIỆU ĐO ĐỊA CHẤN NÔNG PHÂN GIẢI CAO SUB - BOTTOM PROFILER 216S 56

3.1 Hệ thiết bị đo địa chấn nông phân giải cao Sub - bottom profiler 216S 56

3.1.1 Giới thiệu chung về hệ thiết bị đo 56

Trang 5

3.1.2 Các ứng dụng của hệ thiết bị đo 3200 - XS 61

3.1.3 Quy trình đo đạc 62

3.2 Phần mềm xử lý dữ liệu đo ĐCNPGC Sub - bottom profiler 64

3.2.1 Phần mềm xử lý dữ liệu Reflexw 64

3.2.2 Quy trình xử lý dữ liệu thực địa bằng phần mềm Reflexw 66

3.2.3 Phần mềm MapInfo 69

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ XỬ LÝ VÀ MINH GIẢI DỮ LIỆU ĐỊA CHẤN NÔNG PHÂN GIẢI CAO TRONG KHU VỰC NGHIÊN CỨU 72

4.1 Công tác thực địa 72

4.1.1 Hệ thống định vị 72

4.1.2 Hệ thống dẫn đường 73

4.1.3 Tàu khảo sát 73

4.1.4 Bố trí hệ thiết bị đo địa chấn nông phân giải cao 74

4.2 Cấu trúc địa chất trên các mặt cắt địa chấn nông phân giải cao 75

4.2.1 Mặt cắt các tuyến T1, T2 và T3 76

4.2.2 Mặt cắt từ tuyến T4 đến T9 78

4.2.3 Mắt cắt các tuyến từ T10 đến T26 80

4.2 Sơ đồ đẳng dày lớp cát khu vực nghiên cứu 86

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

PHỤ LỤC 94

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

φ : góc nghiêng của mặt phẳng nghiêng biểu kiến

(x, t) : thế tốc độ dịch chuyển của các dao động sóng

ĐCNPGC : địa chấn nông phân giải cao

Trang 7

GIS : hệ thông tin địa lý

GPS : hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu (Global Positioning System)

PXNL : phản xạ nhiều lần

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Các hố khoan sâu đến bề mặt Phù sa cổ huyện Cần Giờ 9

Bảng 1.2 Các lỗ khoan sâu đến bề mặt Phù sa cổ Cù lao Phú Lợi 9

Bảng 1.3 Bề dày của bãi thủy triều ở bãi tắm 30/4, huyện Cần Giờ, TP.HCM 14

Bảng 1.4 Thành phần cấp hạt của loạt giồng cát khu vực Cần Giờ, TP.HCM 20

Bảng 1.5 Thành phần hóa học của giồng khu vực Cần Giờ, TP HCM 21

Bảng 3.1 Các chỉ tiêu kỹ thuật chung của Bộ xử lý 3200 - XS 58

Bảng 3.2 Các chỉ tiêu kỹ thuật của Thiết bị kéo theo SB-216S 59

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Hình 1.1 Huyện Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh 5

Hình 1.2 Sơ đồ vị trí lỗ khoan thu thập huyện Cần Giờ 8

Hình 1.3 Bản đồ địa chất khu vực huyện Cần Giờ 12

Hình 1.4 Bãi Biển Vịnh Đồng Tranh 25

Hình 1.5 Chuyển biến cơ cấu kinh tế huyện Cần Giờ qua các năm 29

Hình 2.1 Đới Fresnel thứ nhất 43

Hình 2.2 Bán kính đới Fresnel thứ nhất theo chiều sâu ứng với các tần số phát khác nhau 44

Hình 2.3 Sóng phản xạ nhiều lần thể hiện trên màn hình ngoài thực địa 48

Hình 2.4 Sóng vang trong địa chấn nông phân giải cao 49

Hình 2.5 Tính trường sóng địa chấn khi nguồn phát và thiết bị thu đặt ở các độ sâu khác nhau (a) Các xung sóng áp suất; (b) Sự thay đối biên độ các xung áp suất phụ thuộc vào độ sâu quan sát 53

Hình 3.1 Hệ thống xử lý 3200 - XS 57

Hình 3.2 Thiết bị kéo theo SB-216S 58

Hình 3.3 Dây cáp kéo hệ thiết bị kéo theo SB-216S 61

Hình 3.4 Chọn ổ đĩa lưu dữ liệu 67

Hình 3.5 Chọn tool để phân tích dữ liệu 67

Hình 3.6 Nhập, chọn định dạng file và đặt tên lưu dữ liệu 68

Hình 3.7 Lọc để loại bỏ một số tín hiệu nhiễu 68

Hình 3.8 Tiến hành phân lớp theo lỗ khoan 69

Hình 3.9 Thể hiện các vùng đã phân lớp 69

Trang 10

Hình 3.10 Một ví dụ sử dụng phần mềm MapInfo 15.0 để thành lập mặt cắt địa chấn

- địa chất 70

Hình 4.1 Máy GPSmap 78S 72

Hình 4.2 Máy tính dẫn đường sử dụng phần mềm TMTmip 73

Hình 4.3 Tàu khảo sát địa chấn nông phân giải cao 74

Hình 4.4 Hệ thiết bị kéo theo được thả dưới nước 74

Hình 4.5 Bộ xử lý đặt trong khoang tàu khảo sát 75

Hình 4.6 Sơ đồ tuyến đo địa chấn nông phân giải cao 76

Hình 4.7 Mặt cắt địa chấn - địa chất tuyến T1, T2 và T3 78

Hình 4.8 Mặt cắt địa chấn - địa chất tuyến T4, T5, T6, T7 80

Hình 4.9 Mặt cắt địa chấn - địa chất tuyến T11, T12, T15, T16, T18, T19, T21, T23, T26 85

Hình 4.10 Sơ đồ địa hình đáy biển khu vực nghiên cứu 86

Hình 4.11 Sơ đồ đẳng dày lớp cát khu vực nghiên cứu 87

Hình 4.12 Sơ đồ địa hình (DEM) khu vực nghiên cứu 88

Hình 4.13 Mô hình 3D khu vực nghiên cứu 89

Trang 11

MỞ ĐẦU

Tại Việt Nam cũng như trên thế giới cát là nguồn vật liệu quan trọng có giá trị, được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khai thác nhằm mục đích lợi nhuận nên gây ra

sự ô nhiễm môi trường và nhiều biến cố khác Do đó việc xác định, đánh giá trữ lượng

và phân bố cát, nhất là các giồng cát vùng biển ven bờ, sông là rất cần thiết để bảo vệ môi trường cũng như bảo vệ nguồn cát, nguồn vật liệu quý giá Trước tình hình đó, Nhà nước và các nhà khoa học đã tiến hành nhiều chủ trương và phương pháp khác nhau trong đó có phương pháp địa vật lý, đặc biệt là phương pháp địa chấn để đánh giá xác định các giồng cát

Địa vật lý là một trong các ngành Khoa học về Trái đất, được sử dụng nhiều trong việc nghiên cứu triển khai với từng loại phương pháp khác nhau trong Địa vật

lý như: địa chấn, từ, trọng lực, điện, ra đa xuyên đất, phóng xạ, điện từ, giếng khoan

và mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng đối với từng đối tượng nghiên cứu Phương pháp địa chấn là lĩnh vực quan trọng trong địa vật lý, nghiên cứu cấu trúc bên dưới mặt đất dựa trên cơ sở quan sát các đặc điểm của trường dao động sóng lan truyền trong môi trường đất đá, đặc biệt là phương pháp địa chấn nông phân giải cao (ĐCNPGC), phương pháp này được ứng dụng bằng cách phát ra các xung có loại sóng FM với độ dài xung từ 5 - 200 ms và băng tần từ 0,5 - 15 kHz được truyền vào môi trường địa chất Sóng này trong quá trình truyền sâu vào lòng đất, gặp các tầng địa chất khác nhau, hình thành các sóng phản xạ quay trở về mặt đất Nhờ các hệ thống thiết bị đặc biệt trên mặt đất người ta tiến hành ghi nhận các lớp địa chất phản

xạ đó trên băng ghi địa chấn Xử lý và phân tích các dữ liệu trên băng ghi này cho ra các mặt cắt địa chấn dưới bề mặt đáy biển, sông

Như vậy, để làm sáng tỏ sự phân bố, đánh giá trữ lượng các giồng cát dưới biển, sông mà điển hình ở đây là vùng biển Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh, đã sử dụng

phương pháp ĐCNPGC để nghiên cứu trong Luận văn này với tiêu đề “Ứng dụng

Trang 12

phương pháp địa chấn nông phân giải cao để nghiên cứu sự phân bố giồng cát ở vùng biển huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh”

Mục tiêu:

Mục tiêu chính của Luận văn là nghiên cứu, áp dụng phương pháp ĐCNPGC

để xác định sự phân bố giồng cát vùng biển của huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí

Minh

Nội dung của luận văn:

- Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của huyện Cần Giờ, TPHCM

- Cơ sở lý thuyết của phương pháp ĐCNPGC

- Hệ thiết bị và phần mềm xử lý dữ liệu đo ĐCNPGC Sub - bottom profiler 216S

- Phân tích, xử lý và minh giải dữ liệu ĐCNPGC vùng biển huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh

- Nhận xét về ứng dụng phương pháp ĐCNPGC

Phạm vi nghiên cứu

- Vùng biển ven bờ huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh Đây là nơi tập trung các dải cồn cát nổi, kéo dài

Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn

- Xác định được sự phân bố của các cồn cát ven biển giúp cho những ngư dân

và tàu, thuyền đi lại một cách dễ dàng và thuận tiện, tránh những tai nạn do cồn cát gây ra

- Cung cấp các thông tin cần thiết về các giồng cát cũng như địa chất tại khu vực huyện Cần Giờ, cho các chính quyền địa phương để phân luồng hay cải tạo lòng rạch

Trang 13

- Giúp cải thiện và nâng cao được ngành du lịch của huyện Cần Giờ nói chung

và của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng

- Dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên Cao học có quan tâm về ĐCNPGC

Từ các nhiệm vụ, ý nghĩa khoa học và thực tiễn đã nêu trên, Luận văn được chia thành 4 Chương, Mở đầu, Kết luận và kiến nghị như sau:

- Mở đầu: Giới thiệu chung về đề tài mà luận văn đã chọn

- Chương 1: Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu: bao

gồm 30 trang (từ trang 4 - 33) trình bày về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu

vực nghiên cứu

- Chương 2: Lý thuyết cơ bản về phương pháp địa chấn nông phân giải cao: bao gồm 22 trang (từ trang 34 - 55) trình bày về tổng quan lý thuyết của ĐCNPGC

- Chương 3: Hệ thiết bị và phần mềm xử lý dữ liệu đo địa chấn nông phân giải cao Sub - bottom profiler 216S: bao gồm 16 trang (từ trang 56 - 71) trình bày

Trang 14

CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

1.1 Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu

1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Cần Giờ (Hình 1.1) nằm ở phía Đông Nam thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM), cách trung tâm thành phố 55 km Phía Đông và Đông Bắc giáp huyện Nhơn Trạch (tỉnh Đồng Nai) và huyện Tân Thành (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), phía Tây giáp huyện Cần Giuộc (tỉnh Long An) và huyện Gò Công Đông (tỉnh Tiền Giang), phía Nam giáp Biển Đông, phía Bắc giáp huyện Nhà Bè

Cần Giờ có tổng diện tích tự nhiên 71.361 ha, chiếm 1/3 diện tích thành phố, trong đó trên 70% là diện tích rừng ngập mặn và sông rạch, bao gồm hai sông Lòng Tàu và Soài Rạp là các tuyến đường thủy quan trọng cho các tàu có trọng tải lớn ra vào thành phố từ Biển Đông; huyện có hơn 20 km bờ biển Rừng ngập mặn có tổng diện tích khoảng 37.000 ha, từ năm 2000 được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới

Dân số Cần Giờ 70.697 người (năm 2014), mật độ bình quân 82 người/km2 Về hành chính, Cần Giờ có 06 xã và 01 thị trấn (Cần Thạnh), trong đó Thạnh An là xã đảo, trung tâm huyện đặt tại thị trấn Cần Thạnh

1.1.2 Đặc điểm địa chất

Trầm tích Kainozoi muộn phân bố rộng rãi ở TP.HCM Được phân chia thành các tầng, gồm: trầm tích Pliocen (N2), Pleistocen sớm (Q1 ), Pleistocen giữa - muộn (Q12-3); Pleistocen muộn (Q1 ) và Holocen (Q2) Bên dưới trầm tích KZ muộn là móng

đá với thành phần andezit, granit, ryolit…, có tuổi J3-K1 như hệ tầng Long Bình J3

-K1lb Chiều dày trầm tích KZ muộn thay đổi tùy theo hình thái của móng đá, khoảng vài chục đến vài trăm mét [1, 4]

Trang 15

Nguồn: Atlat Việt nam

Hình 1.1 Huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh a) Móng đá qua các lỗ khoan sâu

+ Các lỗ khoan sâu đến đá gốc

CẦN GIỜ

Trang 16

Đồng bằng của sông Đồng Nai được phủ bởi Phù sa mới, dưới lớp Phù sa mới

là lớp Phù sa cổ và các trầm tích có tuổi cổ hơn nằm bên trên móng đá Các loại phù

sa này dày hay mỏng phụ thuộc vào địa hình của móng đá bên dưới Móng đá thường

lộ ra ở vùng cao và chìm dần nơi các vùng thấp của đồng bằng [11]

Vùng Biên Hoà là nơi có nhiều điểm lộ, tiêu biểu là ngọn núi Châu Thới, Bửu Long Chung quanh Châu Thới, chủ yếu là loại Andezit chảy tràn Ở Bà Rịa, Long Hải, Vũng Tàu, nổi lên nhiều đỉnh granit như núi Tóc Tiên, núi Ông Trịnh, núi Bao Quan, núi Dinh, núi Châu Viên, Núi Nứa, Núi Lớn,…

Trong vùng đồng bằng thấp của khu vực nghiên cứu, ngoài điểm lộ Andezit Giồng Chùa [5], móng đá nằm sâu chỉ biết được qua các LK sâu

Ở Thủ Thiêm (Quận 2), một LK sâu 340 m, đụng móng đá là cát kết màu đỏ ở

độ sâu 170 m

Ở huyện Nhà Bè, có một số LK đụng móng đá, bao gồm (một số là tên cũ trước đây):

- Phú Mỹ Tây, LK sâu 495 m, đụng móng đá ở độ sâu 220 m

- LK của hãng Esso sâu 152 m, đụng móng đá ở độ sâu 140 m

- LK ở hãng Shell sâu 177 m, đụng móng đá ở độ sâu 170 m

- LK ở hãng Caltex sâu 136 m, đụng móng đá ở độ sâu 100 m

- LK ở căn cứ Hải Quân sâu 157 m, đụng móng đá ở độ sâu 145 m

Trên đường từ Nhà Bè đi thị trấn Cần Giờ có 3 LK sâu đều đụng móng đá, bao gồm:

- LK 821 ở xã Bình Khánh, đụng móng đá granit ở độ sâu 150 m

- LK 827 ở xã Bình Hòa, đụng móng đá Andezit ở độ sâu 226 m

- LK 822 ở thị trấn Cần Giờ, đụng móng đá ở độ sâu 250 m

+ Móng đá và các vùng tự nhiên

Trang 17

Từ kết quả các LK sâu kết hợp với phương pháp địa vật lý, dù móng đá mang tính lồi lõm nhưng có thể thấy sự phân bậc một cách rõ rệt Tính phân bậc hạ dần từ đông bắc xuống tây nam, và do các tuyến thẳng địa mạo khống chế Từ đông bắc xuống tây nam có thể chia thành các vùng tự nhiên sau đây:

- Vùng phía bắc tuyến thẳng địa mạo Biên Hòa - Long Hải: vùng này nằm ngoài

đồng bằng thấp Móng đá lộ phổ biến hoặc nằm nông bên dưới lớp phủ Đệ Tứ Diện

lộ Phù sa cổ cũng phổ biến

- Vùng nằm giữa tuyến thẳng địa mạo Biên Hòa - Long Hải và tuyến thẳng địa mạo sông Sài Gòn: móng đá lộ ra lẻ tẻ như ở Giồng Chùa, núi Nứa,… Lớp phủ bên

trên là trầm tích đầm mặn mới Đây là loại trầm tích đầm mặn mới giàu bột Mạng

lạch triều dày đặc Thảm thực vật đặc trưng là Đước, Ráng, Chà là, cây bụi,…

- Vùng phía nam tuyến thẳng địa mạo sông Sài Gòn: móng đá nằm sâu và không

có điểm lộ Lớp phủ bên trên là trầm tích đầm mặn mới giàu sét Mạng lạch triều

dày đặc Thảm thực vật đặc trưng là Đước

+ Mặt phù sa cổ bên dưới đồng bằng

Trong 7 hố khoan đã được thực hiện trong khu vực nghiên cứu thì cả 7 đều đụng mặt phù sa cổ [12] Hố khoan HK1 cạnh rạch Cá Nhám đụng Phù sa cổ ở độ sâu 21 m; hố khoan HK2 gần tắc Hội Bài đụng Phù sa cổ ở độ sâu 27,7 m; hố khoan HK3

ở ngọn của tắc Chà Là đụng mặt Phù sa cổ độ sâu 43 m; hố khoan HK4 ở ngã ba sông Thị Vải - Gò Gia đụng Phù sa cổ ở độ sâu 33 m; hố khoan HK5 đụng Phù sa cổ ở độ sâu 24 m; hố khoan HK6 đụng Phù sa cổ ở độ sâu 10,5 m; hố khoan HK7 đụng Phù

sa cổ ở độ sâu 12 m

Từ các hố khoan trên cho thấy mặt Phù sa cổ thuộc các hố khoan giữa sông Ngã Bảy - Gò Gia nằm nông hơn các hố khoan giữa sông Gò Gia - Thị Vải Cũng cần nhắc lại các hố khoan tại thị trấn Cần Giờ, mặt Phù sa cổ ở độ sâu 20 - 30 m; ở ấp Bình Hòa độ sâu này là 20 m Ở Vũng Tàu, hai lỗ khoan gần sông Dinh đụng Phù sa

cổ khoảng 5 - 8 m

Trang 18

Như vậy, ngoại trừ đới Phù sa cổ ở phía bắc quốc lộ 51 và khối Phù sa cổ Nhơn

Trạch trong đồng bằng, mặt Phù sa cổ đều bị phủ một lớp trầm tích trẻ dày hàng chục mét

Các hố khoan thu thập như (Hình 1.2) HK1, HK2, HK6 và HK7 cho thấy mặt Phù sa cổ nằm nông hơn mặt Phù sa cổ ở Thủ Thiêm Đây là ưu thế trong xây dựng Tuy nhiên, cần có thêm một số hố khoan nữa, đặc biệt là về phía nam hố khoan HK1

để biết chắc chắn diện phân bố của chúng

Các lỗ khoan sâu đụng bề mặt Phù sa cổ huyện Cần Giờ được tóm tắt qua Bảng 1.1 sau:

Nguồn: Viện địa lý tài nguyên TPHCM

Hình 1.2 Sơ đồ vị trí lỗ khoan thu thập huyện Cần Giờ

Trang 19

Bảng 1.1 Các hố khoan sâu đến bề mặt Phù sa cổ huyện Cần Giờ

Hai LK cho thấy độ sâu phân bố bề mặt Phù sa cổ ở Cù lao Phú Lợi như sau:

Bảng 1.2 Các lỗ khoan sâu đến bề mặt Phù sa cổ Cù lao Phú Lợi

Trang 20

b) Đặc điểm địa chất trầm tích Holocen huyện Cần Giờ

+ Trầm tích Holocen (phù sa mới)

Phần đặc điểm về đá gốc, Phù sa cổ (trầm tích Pleistocen) [1, 5, 12, 15] và phân

bố nền móng của chúng ở huyện Cần Giờ Đá gốc có điểm lộ duy nhất ở huyện Cần Giờ là núi Giồng Chùa, xã Thạnh An Phù sa cổ không lộ diện bề mặt, chúng thường phân bố ở độ sâu bên dưới các trầm tích Holocen khoảng từ chục mét đến vài chục mét Chính bề mặt Phù sa cổ này có dạng lòng chảo với độ sâu lớn ở phần trung tâm huyện (khoảng hơn 40 m) và nông hơn khi chuyển ra phía biển (ở Bãi du lịch 30/4,

độ sâu bề mặt Phù sa cổ khoảng 18 - 20 m)

Hầu hết toàn bộ lộ diện các thành tạo trầm tích ở huyện Cần Giờ là trầm tích Holocen (trừ đá andesit lộ diện khoảng vài ha ở núi Giồng Chùa) hay Phù sa mới Trong trầm tích Holocen ở huyện Cần Giờ, chỉ có tầng sét biển tiến có tuổi Holocen giữa, còn hầu hết là các trầm tích có tuổi Holocen muộn Trầm tích biển Holocen giữa không lộ diện bề mặt mà chủ yếu phân bố bên dưới các trầm tích Holocen muộn Đặc điểm địa chất của các trầm tích Phù sa mới, bao gồm:

+ Trầm tích biển Holocen giữa (mQ 2 )

Trầm tích biển trong vùng nghiên cứu do biển tiến cực đại Holoxen (Hình 1.3) giữa để lại Lúc bấy giờ biển phủ gần hầu hết vùng ngoại trừ các vùng cao thuộc Phù

sa cổ Vật liệu do biển để lại khá đều đặn, khá liên tục và phân bố bên dưới các trầm tích biển thoái hay các trầm tích trẻ hơn Các lỗ khoan nông khoảng vài mét thì gặp ngay trầm tích này Vì bị các trầm tích trẻ hơn phủ bên trên, nên trầm tích biển chỉ thể hiện trên mặt cắt mà không thể hiện trên bản đồ

Địa hình biển nông trong vùng là địa hình bị chôn vùi Độ sâu thường gặp khoảng 0,5 m hoặc sâu hơn trở xuống Bề dày của trầm tích biển hàng vài chục mét

Ví dụ, chiều dày trầm tích biển ở khu vực Gò Gia - Giồng Chùa từ khoảng 10 m đến hơn 40 m Bề dày này trong hố khoan HK.1 là 21 m; HK.2 là 27,7 m; HK.3 là 43 m; HK.4 là 33 m; HK.5 là 24 m; HK.6 là 10,5 m và HK.7 là 12 m

Trang 21

Trầm tích biển là lớp bùn xám xanh giàu di tích sinh vật Di tích thực vật chủ

yếu là các giống loài thực vật rừng ngập mặn Các dạng tiêu biểu là: Rhizophora sp., Bruguiera sp., Avicennia sp., Excoecaria sp., Sonneratia sp.,…

Di tích động vật là các đại biểu sống bám đáy thuộc biển nông và thuộc hai bộ

Rotaliida và Miliolida Đại biểu đặc trưng là các giống loài: Asterorotalia multispinosa, Asterorotalia pulchella, Quinqueloculina sp., Elphidium sp., Ammonia sp., Bolivina sp., Textularia sp., Ammonia beccarii,…

Ngoài Trùng lỗ, trầm tích biển còn chứa các loại hàu Ostrea, thường sống đóng lớp và đã được phát hiện ở nhiều nơi khác Tuổi tuyệt đối của nhóm vỏ Hàu này đã được xác định bằng phương pháp C14 là 6.000 năm (Hồ Chín và Võ Đình Ngộ, 1984)

Trong trầm tích biển, thường có mặt lớp cát vôi Cát vôi tạo thành những băng khá liên tục, nằm bình hàng và phân lớp rõ, gọi là dalle (Saurin, 1956) Ở Thiềng

Liềng, trong các LK nông đã gặp lớp này (Võ Đình Ngộ, Nguyễn Siêu Nhân, 1994)

ở độ sâu 6 - 8 m Ở Mũi Nước Vận, Thiềng Liềng, cát vôi này nằm ở độ sâu 10 m (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 1994)

Ngoài tuổi tuyệt đối, di tích của sinh vật (động vật và thực vật) cho thấy chứng tích của đợt biển tiến cực đại vào Holoxen giữa, ta còn thấy những ngấn nước khoét sâu vào các khối đá vôi chung quanh Hà Tiên mà độ cao tuyệt đối là 4 - 5 m của Holoxen giữa

+ Trầm tích bãi thủy triều (mQ 2 )

Bãi thủy triều là dải trầm tích nằm bọc quanh vùng biển, cửa sông, đặc biệt nơi các đoạn gấp khúc của sông triều

Bãi thủy triều nằm giữa mực thủy triều cao và mực thủy triều thấp Vì vậy còn

gọi là vùng giữa triều (intertidal zone)

Về phía lục địa, vùng giữa triều tiếp cận với vùng trên triều (supertidal zone)

và về phía biển tiếp cận với vùng dưới triều (subtidal zone) Vùng trên triều nằm trên

mực thủy triều cao bình thường nhưng có thể bị ngập triều trong những trận bão

Trang 22

Nguồn: Viện Địa lý tài nguyên thành phố Hồ Chí Minh

Hình 1.3 Bản đồ địa chất khu vực huyện Cần Giờ

Bãi thủy triều có một số đặc điểm chung, sau đây:

- Bãi thủy triều tạo thành một vành đai bọc quanh và song song với vụng biển

hay cửa sông, kéo dài trên nhiều cây số và chỉ bị gián đoạn ở các cửa sông hoặc lạch

triều Đặc điểm cơ bản là bãi thủy triều có một địa mạo rất bằng phẳng, hơi nghiêng

về phía vụng hoặc sông

- Bãi thủy triều thường không ổn định Hình thái địa mạo thay đổi theo biên độ

triều và triền dốc Ở đây, do biên độ triều là 3,5 m nên chiều rộng của bãi thủy triều

khá lớn

- Dòng chảy hai chiều là đặc trưng của bãi thủy triều và do triều tạo nên Biên

độ triều tạo nên dòng triều và đến lượt các dòng triều tạo nên lạch triều (channel) và

rạch triều (gullies)

- Trên bãi thủy triều thường có nhiều động vật sinh sống, chủ yếu là các động

vật đáy (benthonic organism) và mảnh vỏ Sự hoạt động của các động vật này chủ

Trang 23

yếu là đào hang làm cho bề mặt của bãi thủy triều trở nên sần sùi, nham nhở gọi là

cấu trúc do sinh vật (bioturbation structure)

- Do tiếp cận thường xuyên với biển, nên bãi thủy triều chịu ảnh hưởng thường xuyên của sóng và dòng triều Dưới các tác động đó, các vật liệu bở rời như cát, bột,

sét của bề mặt bãi thủy triều dễ tạo nên những nếp nhăn rất dễ quan sát ngoài hiện

trường cũng như trên ảnh hàng không

- Môi trường bãi thủy triều là nơi có sự chọn lọc thường xuyên về cỡ hạt Trong bãi thủy triều khu vực nghiên cứu, thành phần cát là ưu thế Bãi thủy triều nằm trên lớp sét nhão màu xám xanh, nguồn gốc biển Sau bãi thủy triều là trầm tích đầm mặn hay trầm tích rừng ngập mặn

- Địa hình: Bãi thủy triều là nơi có địa hình thấp nhất của khu vực, thường khoảng 0,5 m trở xuống tùy mức độ trưởng thành Bãi thủy triều hơi nghiêng từ rừng ngập mặn ra mép nước sông hoặc biển

- Chiều dày của bãi thủy triều thường khoảng 3 m trở lại Thành phần cấp hạt chủ yếu là cát và thường lẫn bột hoặc sét và cả sản phẩm chứa hữu cơ Khoáng vật chủ yếu của cát là thạch anh, thỉnh thoảng cũng gặp một ít khoáng vật nặng như ilmenit, tuamalin, zircon,… Di tích cổ sinh như Trùng Lỗ (Foraminifera) khá phong phú

Đặc điểm trầm tích của Bãi thủy triều huyện Cần Giờ, bao gồm:

Bãi thủy triều khu vực Cần Giờ bọc quanh và tiếp cận với với giồng mới Chiều dài từ mũi Đồng Tranh đến mũi Gành Rái khoảng 13 km Chiều rộng phân bố không đều Tại bãi tắm 30 tháng 4, chiều rộng bãi thủy triều khoảng 4.000 m

Trên bãi thủy triều có nhiều gờ thấp và trũng nông, nhưng độ chênh về địa hình rất nhỏ, nên địa hình của bãi thủy triều rất thoải và bằng phẳng về phía biển

Mối quan hệ trên dưới, chiều dày và diễn biến chiều dày của bãi thủy triều được thể hiện qua các lỗ khoan và mặt cắt địa chất (Bảng 1.3)

Trang 24

Bảng 1.3 Bề dày của bãi thủy triều ở bãi tắm 30/4, huyện Cần Giờ, TP.HCM Bãi thủy triều

Khoảng cách

từ bờ biển (m)

Chiều dày chung (m)

Chiều dày cát thủy triều (m)

Chiều dày bùn thủy triều (m)

Địa hình (m)

Nguồn: Viện Địa lý tài nguyên thành phố Hồ Chí Minh

Từ các kết quả nói trên, có thể rút ra một số nhận xét:

- Chiều dày của bãi cát thủy triều, bùn thủy triều tuy có thay đổi cục bộ do sự hiện của các gờ thấp và trũng nông nhưng khuynh hướng chung là giảm dần từ bờ ra phía biển

- Bùn thủy triều nằm bên dưới cát thủy triều, nên bùn thủy triều chỉ lộ ra ở nơi nào có lớp cát thủy triều mỏng hoặc ở bên ngoài lớp cát thủy triều

- Các kết quả khảo sát trên đây cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu thuộc Trường Đại học Missouri (1969)

+ Trầm tích biển - gió hay Giồng (mvQ 2 )

Trang 25

Giồng là tên gọi quen thuộc của nhân dân ĐBSCL dành cho các gờ cao, liên tục, nằm sau bờ biển và do vật liệu của bờ biển đưa lên dưới tác động chính của sóng

và các tác động khác Giồng có thể xuất hiện đơn độc hay từng loạt Giồng có độ cao khoảng 3 - 5 m và cao hơn vùng đồng bằng xung quanh khoảng vài m Giồng tạo

thành những dải hẹp kéo dài và thường nằm song song với nhau Sự chênh lệch giữa chiều dài và chiều rộng là một đặc trưng nổi bật Giồng có thể kéo dài hàng chục km nhưng chiều rộng chỉ khoảng hàng trăm mét Giồng là chứng tích của bờ biển cũ, đánh dấu bước phát triển và tăng trưởng của châu thổ về phía biển

Có thể phân biệt giồng cổ và giồng mới tùy theo vị trí phân bố và môi trường

hoạt động có ảnh hưởng của biển

 Giồng cổ

Khi châu thổ tiến dần ra biển, các giồng mới hay giồng hoạt động càng ngày càng bị đẩy lùi vào trong đất liền Dần dần, giồng hoạt động không còn chịu ảnh hưởng của quá trình biển mà chỉ chịu ảnh hưởng của quá trình sông Giồng hoạt động

trở thành giồng không hoạt động và thường gọi là giồng cổ Khái niệm cổ chỉ mang

tính tương đối là “cũ hơn” chứ không mang ý nghĩa cổ là có thời gian địa chất lâu dài như thường hiểu Về mặt hình thái, giồng không hoạt động cũng tương tự như những giồng hoạt động và chỉ ra đó là các vị trí của bờ biển Trên cùng một dải giồng hay loạt giồng, mặc dù có tên gọi chung, nhưng có thể có nhiều tên giồng khác nhau do giồng kéo dài qua nhiều địa phương khác nhau

Huyện Cần giờ có nhiều giồng cổ từ trong ra biển, gồm: Giồng Lý Nhơn, Giồng Lâm Viên,…

 Giồng mới

Giồng mới hay giồng hoạt động hay còn gọi là giồng hiện tại, là những giồng

hiện đang được hình thành bồi tích và phát triển dọc theo bờ biển và đang chịu ảnh hưởng của các quá trình biển Giồng mới được hình thành trong các thời kỳ bờ biển chịu sự xâm thực mạnh mẽ và kết thúc trong các thời kỳ vật liệu trầm tích của sông

Trang 26

đưa ra biển dồi dào (Dornbush, 1966; Morgan, 1966; J.H Hoyt, 1969) Giồng hoạt động thường không có thảm thực vật bên trên

Ở Cần Giờ, giồng mới chủ yếu tập trung tại bờ biển hiện tại là loạt giồng Cần Giờ, phân bố từ mũi Đồng Tranh đến thị trấn Cần Thạnh Loạt giồng này có dạng chẻ nhánh và có thể thấy có 03 nhánh chính: nhánh giồng từ mũi Đồng Tranh đến cửa Rạch Lở; nhánh giồng từ xã Long Hòa đến thị trấn Cần Thạnh; và nhánh giồng từ phía bắc ngã ba Long Hòa đến UBND huyện Cần Giờ Loạt giồng cát này cũng là giồng tiêu biểu cho nghiên cứu đánh giá về tiềm năng khoáng sản cát của loại hình cát giồng

+ Trầm tích biển - đầm lầy hay đầm mặn mới (mbQ 2 )

Trầm tích biển - đầm lầy Holocen muộn còn được gọi là trầm tích rừng ngập mặn hay trầm tích đầm mặn Để phân biệt với trầm tích đầm lầy mặn cổ có tuổi

Holocen giữa - muộn (mbQ22-3), trầm tích đầm mặn ở Cần Giờ được gọi là trầm tích

đầm mặn mới Đây là những vùng đất thấp Bị ngập triều và đặc biệt là sự phát triển của rừng ngập mặn Trầm trích biển - đầm lầy phát triển trên các bãi thủy triều hoặc trầm tích vũng vịnh Ở khu vực vũng vịnh, nước tương đối yên tĩnh và sự bồi tích các vật liệu hạt mịn là chủ yếu Chiều dày trung bình của trầm tích biển - đầm lầy trung bình khoảng 1 - 3 m

Hệ thống bộ rễ của thảm thực vật rừng ngập mặn đã bẫy lại các loại sét, chất hữu cơ di chuyển qua rừng ngập mặn trong khi triều lên xuống và làm cho các trầm tích biển - đầm lầy trở thành một loại trầm tích giàu hữu cơ Phần lớn các chất hữu

cơ trong trầm tích biển - đầm lầy đều do rừng ngập mặn cung cấp Đôi nơi, sự tích

lũy các chất hữu cơ dồi dào sẽ tạo ra các vỉa than bùn Đây là đặc điểm quan trọng

của trầm tích biển - đầm lầy

Dựa trên đặc điểm về thành phần thạch học của trầm tích này, có thể phân biệt các kiểu trầm tích đầm mặn [4, 5, 12, 15] như sau (Guidel, 1983):

 Trầm tích biển - đầm lầy giàu sét (mb 1 ):

Trang 27

Chiếm diện tích lớn ở khu vực nghiên cứu Hàm lượng sét từ 70 - 75%, kế đến

là bột và cát không đáng kể Trong trầm tích này chứa khá nhiều di tích hữu cơ mà một số nơi do tích lũy hàm lượng cao đã dẫn đến sự hình thành sét than hoặc than bùn

Một lỗ khoan tiêu biểu trong khu vực, như sau:

- 0 - 0,4 m : Sét màu xám nâu;

- 0,4 - 1,3 : Sét bột màu xám đen, chứa nhiều di tích thực vật;

- 1,3 - 2,3 : Bột sét màu xám đen, chứa ít di tích thực vật;

- 2,3 - 4,0 : Sét bột màu xám xanh, nhão

 Trầm tích biển - đầm lầy giàu bột (mb 2 ):

Thường phân bố chủ yếu ở khu vực Gò Gia - Giồng Chùa Hàm lượng bột có thể đến 50 - 55 %, kế đến là sét khoảng 40% và cát

Một lỗ khoan tiêu biểu, như sau:

- 0 - 0,5 m : Bột sét màu xám nâu hơi chặt;

- 0,5 - 1,5 : Bột sét cát màu xám đen, chứa ít di tích thực vật;

- 1,5 - 4,0 : Cát bột màu xám sậm, chứa ít di tích thực vật

Sự phân chia trầm tích biển - đầm lầy như trên mang một ý nghĩa quan trọng

Thực vậy, thành phần cấp hạt chi phối sự phát triển của rừng ngập mặn, vì rừng ngập mặn xuất hiện trên các trầm tích hạt mịn hơn là trên cát (Phùng Trung Ngân, 1987)

Nếu điều này hợp lý thì môi trường trầm tích biển - đầm lầy giàu bột, cát là nơi hạn chế sự xuất hiện của rừng ngập mặn hoặc xuất hiện trong trạng thái cằn cỗi

Trong khi đó, môi trường trầm tích biển - đầm lầy giàu sét là nơi rừng ngập mặn phát triển phong phú Sự có mặt của các vỉa than bùn có nguồn gốc rừng ngập mặn

là một bằng chứng cho ý kiến này

+ Trầm tích sông - biển hay trầm tích đồng thủy triều (am, maQ 2 )

Trang 28

Trầm tích đồng thủy triều hay phẳng giữa giồng là kết quả của sự bồi tích lâu

dài của thủy triều và sông trên trũng giữa giồng Khu vực giữa giồng càng ngày càng được nâng cao cho đến khi nằm trên mực thủy triều cao Địa hình của phẳng giữa

giồng rất bằng phẳng Đồng bằng này thuộc “hạ lưu châu thổ”

Chiếm một diện tích khá lớn trong vùng nghiên cứu Đây là đồng bằng tích tụ

có nguồn gốc hỗn hợp giữa sông và biển, nằm trên mực thủy triều trung bình nhưng vẫn còn chịu ảnh hưởng của biển

Địa hình khá bằng phẳng với độ cao 1,0 - 2,0 m Trước đây là vùng canh tác lúa tập trung của huyện, nhưng những năm gần đây đã chuyển đổi sang canh tác lúa-tôm

và tôm của huyện Cần Giờ Thành phần thạch học chủ yếu là sét, sét bột xám trắng, xám hồng, dẻo chặt, ít bị phèn và mặn Lớp sét này cũng có thể sử dụng để sản xuất gạch ngói ở địa phương

Trầm tích đồng thủy triều thường mang một số đặc điểm sau đây:

- Vật liệu của đồng thủy triều được cấu tạo chủ yếu là sét vô cơ Loại sét này thường nằm trên sét hữu cơ của đầm lầy mặn vì giàu thực vật rừng ngập mặn, giàu

phèn tiềm tàng (pyrit)

- Khi đồng thủy triều đã trưởng thành, chiều dày của phẳng giữa giồng có thể đến 2,0 m; trung bình khoảng 1,5 m và tương đương với mực của thủy triều cao hàng ngày

Trong khu vực nghiên cứu có thể phân biệt hai dạng: trầm tích đồng thủy triều cao và trầm tích đồng thủy triều thấp

 Đồng thủy triều cao (amQ2 )

Trầm tích này chiếm diện tích nhỏ, tập trung chủ yếu ở xã Bình Khánh, phía bắc huyện Cần Giờ Địa hình phổ biến của đồng bằng này khoảng 1,0 - 2,0 m Nơi đây thường canh tác lúa và lúa - tôm

 Đồng thủy triều thấp (maQ 2 )

Trang 29

Trầm tích này phân bố phía sau trầm tích đầm lầy mặn mới (hay rừng ngập mặn)

và nằm giữa đồng thủy triều cao và đầm lầy mặn mới Ở huyện Cần Giờ, trầm tích này phân bố phần lớn ở phí nam xã Bình Khánh, xã Lý Nhơn và một số khu vực khác

có liên quan đến trầm tích giồng cát Địa hình phổ biến khoảng 1,0 - 1,5 m Trước đây, khu vục này thường canh tác lúa, nhưng hiện nay có xu hướng chuyển sang nuôi tôm, thủy sản,

c) Đặc điểm trầm tích Giồng ở huyện Cần Giờ

Dải ngoài nằm sát biển, là giồng mới Giồng đang phát triển và đang chịu ảnh

hưởng của quá trình biển Giồng có dạng cánh cung Mặt trước nhẵn, mặt sau tỏa nhánh về phía tây bắc Giồng mới chạy từ mũi Đồng Tranh đến mũi Gành Rái và kéo dài khoảng hơn 10 km Chiều rộng lớn nhất của giồng khoảng 2 km

Dải trong nhỏ hơn, là giồng cổ Giồng này chạy cặp theo sông Dinh Bà, nằm song song và phía sau giồng mới Mặt trước nhẵn như giồng mới, mặt sau tỏa nhánh Ngoài các giồng kể trên, còn có các đơn vị trầm tích liên quan khác, gồm: đồng thủy triều thấp, đầm lầy ven biển mới, cát thủy triều và bùn thủy triều

Đồng thủy triều thấp phân bố giữa các trũng thấp của giồng mới và giồng cổ Vật liệu chủ yếu là sét vô cơ Qua các lỗ khoan cho thấy chiều dày của đồng thủy triều thấp khoảng 1,0 m Đáy của đồng thủy triều thấp là cát giồng Điều này chứng

tỏ hai dải giồng mới và cổ có chân nối liền nhau

Đầm lầy ven biển mới nằm phía sau lưng giồng mới và giồng cổ Đầm lầy này

bị ngập triều hàng ngày và trên đó phát triển phong phú thực vật rừng ngập mặn Vật liệu trầm tích chủ yếu là sét hữu cơ, đôi nơi chứa than bùn Chiều dày đầm lầy ven biển mới khoảng vài ba mét trở lại

Cát thủy triều và bùn thủy triều nằm trước mặt giồng mới Hai đơn vị này đã

được nói đến khá nhiều Giữa giồng mới và cát thủy triều cần phân biệt một đới cát bãi biển Đây là đới thuộc phần cao của bãi cát thủy triều Đới cát bãi biển thường

Trang 30

nổi bật trên các ảnh viễn thám, là đối tượng để phục vụ cho qui hoạch phát triển du lịch hoặc khai thác sử dụng khác

Giồng khu vực Cần Giờ có thành phần cấp hạt chủ yếu là cát, một ít bột và sét Kết quả phân tích nhiều mẫu cát ở các lỗ khoan với các độ sâu khác nhau cho thấy cát mịn chiếm ưu thế, gồm (tỉ lệ so với tổng lượng cát trong mẫu):

Thành phần cấp hạt (%) Cát (1,0 - 0,1 mm) Bột

(0,1 - 0,01 mm)

Sét (<0,01 mm) Lớn Vừa Nhỏ

Trang 31

+ Thành phần khoáng vật:

Thành phần khoáng vật của cát giồng khu vực Cần Giờ chủ yếu là thạch anh (95 %) Phần còn lại là các khoáng vật nặng thường gặp như: ilmenit, tuamalin, zircon,…

Nguồn: Viện Địa lý tài nguyên thành phố Hồ Chí Minh

+ Nước ngọt trong giồng:

Ở khu vực Cần Giờ [16], các mũi khoan đến đá gốc đã được thực hiện Điều này làm thỏa mãn phần nào các nhà địa chất lẫn địa chất thủy văn Tuy nhiên, trong tất cả các tầng nước trong Phù sa cổ đều bị mặn Nước trong đá gốc thì nghèo, không

có triển vọng Đo đó, nước trong giồng cát là nguồn nước ngọt duy nhất của Cần Giờ Qua các mẫu phân tích cho thấy nước trong giồng là khá phức tạp và hạn chế Phần lớn các giếng là nước ngọt, đạt yêu cầu cho nước ăn uống và sinh hoạt dân dụng Nước có hàm lượng Cl- < 500 mg/l; hàm lượng sắt < 0,3 mg/l Tuy nhiên, cũng có một số giếng bị nhiễm mặn

d) Ý nghĩa về sự phát triển của giồng cát

+ Sự phân bố

Trang 32

Trong vùng đồng bằng đã phát hiện ra nhiều loạt giồng cát Giồng cát là tên gọi quen thuộc của nhân dân cũng như ở Đồng bằng Sông Cửu Long Đây là những gờ cao nằm liên tục sau bờ biển và do vật liệu của bờ biển đưa lên dưới tác động của sóng và tác động khác Giồng được cấu tạo chủ yếu là cát, độ cao từ 1 - 3 m và cao hơn đồng bằng chung quanh

Sự phân biệt giữa chiều dài và chiều rộng là đặc trưng nổi bật Chiều dài thường lớn hơn chiều rộng nhiều lần Giồng ở bờ biển Cần Giờ kéo dài từ mũi Đồng Tranh đến Gành Rái khoảng 10 km Trong khi đó, chiều rộng của giồng khoảng 1 km Chiều

dày của giồng khoảng 5 m trở lại Giồng có thể ở giai đoạn hoạt động hoặc không hoạt động Giồng hoạt động hay còn gọi là giồng mới, là giồng đang chịu ảnh hưởng của quá trình biển Giồng không hoạt động hay còn gọi là giồng cổ, là giồng đã bị

cô lập trong đất liền Giồng nằm đơn độc hay từng loạt

Các loạt giồng Lý Nhơn, giồng Nhơn Trạch, giồng Phú Mỹ (hai bên sông Thị Vải) là những loạt giồng không hoạt động Loạt giồng Cần Giờ tiếp cận với bờ biển hiện tại là những giồng hoạt động

+ Ý nghĩa về sự phát triển của giồng

Sự phân bố của giồng theo hướng song song hoặc gần song song với bờ biển hiện nay cho thấy được hướng phát triển của đồng bằng

Trên bản đồ phân bố giồng từ loạt giồng Nhơn Trạch - Phú Mỹ đến bờ biển hiện tại Cần Giờ là một khoảng cách lớn, nhưng không thấy loạt giồng tiêu biểu nào, mà chỉ có thể quan sát được một ít di tích của giồng nằm đơn độc Điều này cho thấy sự sụt lún nơi đồng bằng rất quan trọng Nó chi phối đến sự tạo giồng Tại Thủ Thiêm, trong các lỗ khoan, trầm tích biển có thể quan sát có tối thiểu 2 - 3 lớp than bùn, hoặc

sự có mặt của rừng ngập mặn điển hình ở trung tâm của đồng bằng là minh chứng

cho sự sụt lún này

1.2.3 Đặc điểm địa hình - địa mạo

Trang 33

Địa hình huyện Cần Giờ [12, 15] tương đối bằng phẳng, độ chênh độ cao không lớn, khoảng 0,2 - 1,5 m; riêng núi đá andesit Giồng Chùa [5] là điểm cao nhất (11,4 m) và diện tích chỉ khoảng vài ha Khu vực xung quanh chân núi Giồng Chùa cũng

có địa hình tương đối cao với thực vật chủ yếu là Ráng, Chà là, Đước,… Khu vực này có diện tích khoảng 150 - 200 ha, người dân thường khai thác để làm ruộng muối Địa hình Cần Giờ có xu hướng thấp dần ra phía biển, nhưng đặc biệt có các đới cao xung quanh, do đó từ phía đông bắc, đông nam và tây nam địa hình cũng thấp dần

vào trung tâm, hơi có dạng lòng chảo

 Vùng cao

Phổ biến có địa hình từ 1,0 - 2,5 m, phân bố thành một vành đai từ khu vực Gò Gia qua Cần Thạnh - Long Hòa đến Lý Nhơn Trong đó, núi Giồng Chùa là nơi cao nhất Trong vành đai này, mật độ mặt nước (0 - 0,2 km2/km2) và mật độ dòng chảy (0 - 7 km/km2) đều thấp Các dạng dòng chảy tương đối thẳng, ít uốn lượn

 Vùng trũng

Là vùng có cao độ địa hình < 1,0 m, phân bố thấp dần từ khu vực trung tâm ra biển theo hướng đông nam Mật độ mặt nước (thường > 0,2 km2/km2) và mật độ dòng chảy (thường > 7 km/km2) đều lớn và tăng dần theo hướng đông nam Dạng dòng chảy thường uốn cong hoặc rất cong như ruột gà (sông Ông)

Ranh giới giữa hai vùng cao và vùng trũng thường phân bố thực vật nước lợ Mật độ mặt nước và dòng chảy tăng dần từ hướng tây bắc xuống đông nam

Diện tích mặt nước bằng 1/3 diện tích tự nhiên (trên 24.000 ha) Các dạng địa hình khối âm chiếm diện tích lớn gấp nhiều lần diện tích các khối dương

Cấu tạo bề mặt địa hình huyện Cần Giờ chủ yếu là các thành tạo trầm tích trẻ (Holocen) có nguồn gốc sông, sông - biển, đầm lầy - biển, biển - đầm lầy, biển - gió

 Vùng bờ biển

+ Bờ biển Cần Giờ

Trang 34

Nằm giữa cửa sông Lòng Tàu và cửa sông Soài Rạp; bờ biển thẳng, kéo dài phương đông đông bắc và tây tây nam Chiều dài khoảng 14 km Cửa Rạch Lở cách mũi Cần Giờ 5 km và cửa Hà Thanh cách mũi Đông Hòa khoảng 3,5 km

+ Vịnh Gành Rái

Phía đông giáp Vũng Tàu; phía tây là Cần Giờ; phía bắc giáp đảo Long Sơn và sông Cái Mép; phía nam là biển Đông Có ba sông lớn đổ vào vịnh Gành Rái: Lòng Tàu, Cái Mép, Thị Vải Sông Lòng Tàu - Ngã Bảy tháo nước sông Đồng Nai và phía tây vịnh, chiều rộng khoảng 700 m, chiều sâu lớn nhất là - 28 m Sông Thị Vải - Gò Gia - Cái Mép đổ vào phía bắc vịnh, chiều rộng trung bình 600 - 700 m, độ sâu lớn nhất -60 m Khu vực vịnh Gành Rái rộng khoảng 10 km (mũi Cần Giờ đến mũi Nghinh Phong) Độ dốc của vịnh chủ yếu theo hướng tây - đông, phía đông tương đối sâu (25 - 30 m) Đường bờ bao quanh vịnh khúc khuỷu và dốc (trừ bãi biển Cần Giờ) Xung quanh vịnh Gành Rái là vùng rất hấp dẫn cho việc xây dựng các cụm cảng biển

có trọng tải lớn Đây là một tiềm năng lớn của kinh tế biển

+ Vịnh Đồng Tranh

Là một bộ phận của Biển Đông Phía đông giáp mũi Đông Hòa; phía tây giáp

Gò Công (Tiền Giang); phía bắc là các cửa sông Soài Rạp, Đồng Tranh; phía nam là biển Đông Các sông Soài Rạp và Đồng Tranh đổ vào vịnh Đồng Tranh Độ sâu đáy vịnh không lớn, dưới 18 % diện tích mặt nước có độ sâu 8 - 10 m; trên 75 % diện tích mặt nước có độ sâu < 5,0 m Đường bờ vịnh Đồng Tranh đơn giản, thoải, phần lớn là các bãi bồi (Hình 1.4)

Trang 35

Nguồn: Viện Địa lý tài nguyên TPHCM

Hình 1.4 Bãi Biển Vịnh Đồng Tranh 1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu

1.2.1 Dân số, lao động

Gia tăng tự nhiên: Dân số toàn huyện Cần Giờ gia tăng không đáng kể theo các năm: năm 2007 là 69.166 người Đến năm 2014, dân số huyện khoảng 70.697 người,

tỷ lệ gia tăng tự nhiên 1,07% [16]

Thành phần dân tộc chủ yếu là người Kinh, bên cạnh đó còn có người Hoa, Khơ

- me làm cho văn hóa bản địa thêm phong phú, đa dạng

Dự kiến dân số vào năm 2025: 300.000 người Tổng số lao động trên toàn huyện

là khoảng 36.429 người (chiếm 53,15% dân số) Trong đó lao động nông nghiệp là 2.176 người (chiếm 5,97%), lao động thủy sản là 13.865 người (chiếm 38,06%), lao động thương mại - dịch vụ - du lịch là 6.103 người (chiếm 16,75%) và lao động khác 14.275 người

Trang 36

Lực lượng lao động của huyện dồi dào, dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh, giá nhân công thấp, đây là tiềm năng rất lớn đối với các nhà đầu tư trong việc đào tạo mới tay nghề và thu hút nguồn lao động tại chỗ Hiện nay, nguồn lao động này chủ yếu phục vụ cho ngành nông - lâm - ngư nghiệp và một số hoạt động trong du lịch Tuy nhiên, trình độ dân trí chung của huyện còn khá thấp, bình quân là lớp 8 Điều này gây trở ngại cho việc tiếp thu chuyên môn và ứng dụng vào tình hình thực

tế Đến năm 2015, huyện đã tổ chức 137 lớp đào tạo nghề ngắn hạn (bao gồm: Sơ cấp nghề, dạy nghề dưới 3 tháng) cho 6.560 lao động; trong đó, có 4.527 lao động hoàn thành lớp đào tạo và được cấp giấy chứng nhận đối với các ngành nghề như: kỹ năng bán hàng, nghiệp vụ du lịch, cứu hộ, nghiệp vụ phòng, nghiệp vụ bàn, buồng, bếp… Sau đào tạo, có 4.100 lao động có việc làm đúng ngành nghề gắn với hoạt động du lịch sinh thái

1.2.2 Tài nguyên thiên nhiên

a) Tài nguyên rừng và hệ động thực vật

Rừng ngập mặn Cần Giờ [3] với diện tích 37.162,53 ha, chiếm hơn ½ diện tích

tự nhiên toàn huyện Sau 30 năm phục hồi và phát triển, hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ ngày càng đa dạng, phong phú về thực vật cũng như động vật; tài nguyên thiên nhiên của rừng ngập mặn không ngừng tăng lên, tạo nên môi trường sinh thái

trong sạch “lá phổi xanh”, “bức tường xanh” của thành phố, có ý nghĩa quan trọng

trong việc điều hòa khí hậu Rừng có chức năng chính là phòng hộ nhưng đồng thời cũng mở ra những triển vọng to lớn về du lịch sinh thái, năm 2000 rừng ngập mặn

Cần Giờ đã được UNESCO công nhận là “Khu dự trữ sinh quyển thế giới”

Hệ thực vật vùng ngập mặn Cần Giờ chiếm đa số là cây đước có nguồn gốc phát tán từ Inđônêsia và Maylaysia; gồm nhiều kiểu phụ thổ nhưỡng nước mặn, nước lợ

và phụ thứ sinh nuôi trồng nhân tạo Thành phần các loài cây này tương đối đơn giản

và có kích thước các thể ở dạng trung bình [2]

Hệ thực vật rừng tự nhiên khảng 12.000 ha bao gồm: Chà là, Ráng, Giá, Mấm,

Dà Vôi… tất cả đều sống trên vùng đất ít ngập nước Hệ thực vật rừng trồng hơn

Trang 37

20.000 ha, bao gồm: bạch đàn, keo lá tràm trồng trên nền đất, dừa lá trồng ở vùng đất phèn mặn và nước lợ; đước được trồng thử nghiệm; chà là, phi lao, bạch đàn, keo lá tràm… được trồng dọc theo đường trục chính Rừng Sác và những giồng cát ven biển

Hệ động vật rừng ngập mặn Cần Giờ có giá trị cao về mặt bảo tồn đa dạng sinh học với trên 200 loài động vật, trong đó có 11 loài bò sát có tên trong danh sách đỏ của nước ta Cụ thể như sau:

+ Loài thủy sinh: 125 loài tảo, 55 loài động vật nổi, 55 loài động vật nổi đáy, 18 loài tôm, 69 loài cá

+ Động vật trên cạn: 24 loài lưỡng cư bò sát, 10 loài thú, 22 loài chim (hạt cổ trắng, diệc xám, diệc lửa, khỉ, cò…)

Cần Giờ có bờ biển dài khoảng 20 km, rất đặc trưng, được gọi là biển phù sa vì thành phần chủ yếu là đất bùn sét Biển Cần Giờ có vị trí chiến lược quan trọng, là cầu nối khai thác kinh tế biển, phát triển du lịch sinh thái biển đảo và còn là nơi neo đậu tránh gió rất thuận lợi cho các tàu thuyền Ven biển có nhiều cửa sông lớn như sông Lòng Tàu, Soài Rạp, Hà Thanh Tiềm năng thủy sản vùng biển Cần Giờ là rất lớn, ngoài việc khai thác thủy sản mang lại giá trị sản lượng đáng kể, bãi biển Cần Giờ có khả năng nuôi các loại nhuyễn thể như nghêu, tôm, cua mang lại giá trị kinh

tế cao; đồng thời góp phần tái tạo, bảo tồn thiên nhiên và sinh vật biển

Diện tích sông ngòi, kênh rạch ở Cần Giờ là 22.161 ha, chiếm 31,49% diện tích toàn huyện Nước từ biển đổ vào hệ thống sông chủ yếu qua vịnh Đồng Tranh và vịnh Gành Rái, dù cách thành phố chỉ khoảng 50 km nhưng với hệ thống sông rạch bao quanh Cần Giờ giống như hòn đảo nhỏ yên tĩnh, tách biệt với sự ồn ào, náo nhiệt của thành phố Vì vậy, Cần Giờ rất phù hợp với loại hình du lịch sinh thái nghỉ dưỡng

b) Tài nguyên nhân văn

Huyện Cần Giờ [2, 16] có một nền văn hóa lâu đời với tài nguyên nhân văn khá phong phú và đa dạng Cụ thể, được chia thành 5 nhóm sau:

Trang 38

- Di tích Giồng Am: thuộc thị trấn Cần Thạnh, cách trụ sở Ủy ban nhân dân

huyện khoảng 200 m về hướng Nam và cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 49 km theo đường chim bay về hướng Đông Nam Tại di tích Giồng Am có trên 6.289 hiện vật và mảnh thu được trong cuộc khai quật, cùng có chung một chất liệu duy nhất là đất nung

- Di tích Giồng Phệt: nằm trên một Giồng đất đỏ thuộc xã Long Hòa, diện tích

khoảng 10.000m2, dấu tích văn hóa vật chất của di tích có mặt khắp giồng đất Di tích Giồng Phệt được Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam với sự tham gia của cán bộ Viện khảo cổ học tiến hành cuộc khai quật vào tháng 12 năm 1993 Di tích cao hơn mặt nước trung bình từ 1 - 2m

- Di tích Giồng Cá Vồ: diện tích khoảng 7.000m2 thuộc tả ngoạn sông Hà Thành Đây là di tích có quy mô lớn và khá nguyên vẹn có tầng văn hóa dày 1,5 m Năm

1993, một hố thảm sát đã được mở ở phía Bắc của Giồng và người ta đã tìm thấy được 38 mộ chum (trong đó, 23 mộ còn cốt người) bằng gốm, đá, thủy tinh, võ nhuyễn thể, sắt, đồ trang sức… Di tích Giồng Cá Vồ có độ cao khoảng 1,5m

Cần Giờ là nơi ghi nhận những sự kiện lịch sử quan trọng như cuộc thuỷ chiến của nghĩa quân Tây Sơn chống nhà Nguyễn ở cửa sông Sài Gòn, đặc biệt là trận Thất

Kỳ giang năm 1872 Khu Rừng Sác là nơi Đoàn 10 Đặc công thuỷ Quân giải phóng

đã chọn làm căn cứ địa chống Pháp và Mỹ Cần Giờ bao gồm khu căn cứ địa cách mạng, nơi chôn giấu vũ khí, đạn dược để chờ thời cơ và củng cố lực lượng như căn

cứ địa Giồng Chùa (xã Thạnh An); Chiến khu trù mật Động Hang Nai cạnh sông Đồng Tranh; khu căn cứ địa Núi Đất (xã Lý Nhơn) và khu căn cứ địa cách mạng thuộc khu vực Đảo khỉ bây giờ

Cần Giờ có rất nhiều di tích văn hóa tôn giáo - tín ngưỡng bao gồm: đình thần, chùa, thánh thất, nhà thờ, miễu và Lăng Ông Mỗi cơ sở tôn giáo đều có nét đặc trưng riêng Trong đó, Lễ hội Nghinh ông được nhân dân tổ chức diễn ra hàng năm vào tháng 8 âm lịch (trùng với Tết trung thu) là sự kiện văn hoá đặc trưng của huyện Cần Giờ, qua đó thu hút được rất nhiều khách du lịch đến tham quan, vui chơi, giải trí

Trang 39

Cần Giờ có ba làng nghề truyền thống mang tính chất đặc trưng của một huyện biển đảo thuộc thành phố, đó là Làng rừng tập trung ở Tam Thôn Hiệp và An Thới Đông; Làng chài tập trung ở các bến chài Cần Thạnh, Long Hoà, Thạnh An và Làng muối tập trung tại ấp Tân Điền xã Lý Nhơn Ngoài ra, còn có các làng nghề khác cũng có tiềm năng thu hút du lịch như: làng nghề nuôi chim yến và làng chiếu tại xã Tam Thôn Hiệp, làng nghề chế biến khô các loại, nuôi hàu… Các làng nghề truyền thống luôn được giữ gìn và tôn tạo, đánh dấu sự phát triển của các dạng quần cư, một nét đẹp văn hoá ở Cần Giờ

1.2.3 Hiện trạng phát triển kinh tế huyện Cần Giờ

Tổng giá trị sản xuất (giá so sánh 2011) năm 2014 đạt 7.372 tỷ đồng Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng, khu vực nông - lâm - thủy sản chiếm tỷ trọng 41% trong tổng giá trị sản xuất (giá hiện hành), khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm 23% và khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng 36% [16]

Nguồn: Viện Địa lý tài nguyên TPHCM

Hình 1.5 Chuyển biến cơ cấu kinh tế huyện Cần Giờ qua các năm a) Khu vực Nông - lâm - thủy sản

Chủ yếu là nuôi trồng thủy sản với tổng sản lượng thủy hải sản khai thác đạt 54.275 tấn (năm 2014), trong đó tôm các loại 15.854 tấn, cá các loại 15.158 tấn (tăng 4,9% so với cùng kỳ), hải sản khác 9.177 tấn (bằng 96,8% so với cùng kỳ) và nhuyễn thể đạt 14.086 tấn Hiện nay, huyện tiếp tục triển khai nuôi tôm, cá, cua theo mô hình

Trang 40

Phát triển Nông thôn Tp HCM Huyện đã thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng Hoàn thành dự án khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, trồng rừng mới hiện trạng Ia, Ib, Ic và được Ủy ban nhân dân thành phố công nhận thêm 884,59 ha rừng, nâng diện tích rừng tự nhiên ở huyện lên 35.286,5 ha, tỷ lệ che phủ rừng đến cuối năm 2015 đạt 47,3% [16]

Bên cạnh đó huyện cũng đầu tư phát triển ngành trồng cây ăn trái, lúa, khai thác muối và mô hình nuôi chim yến

b) Khu vực Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng

Giá trị sản xuất (theo giá so sánh 2010) ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt 354,5 tỷ đồng, chủ yếu do ngành công nghiệp khai khoáng có xu hướng chuyển sang sản xuất sản phẩm chất lượng, có giá trị gia tăng, giá trị sản xuất đạt 124 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 35,0% giá trị sản xuất toàn ngành

Toàn huyện có 216 cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, trong đó

có 128 cơ sở chế biến thực phẩm, thủy hải sản, 30 cơ sở may mặc

Giá trị sản xuất ngành xây dựng đạt mức 1.630 tỷ đồng (giá so sánh 2010), chủ yếu giá trị xây lắp của khu vực tư nhân

c) Khu vực Dịch vụ

Tốc độ tăng trưởng khu vực dịch bình quân đạt 28%/ năm.Trong đó [2]:

- Ngành thương mại: Phát triển nhanh về cơ sở vật chất; trên địa bàn huyện đã

có siêu thị, cửa hàng tiện ích, hình thành hình thức mua sắm văn minh, hiện đại cùng với trình độ quản lý cao và năng lực cung ứng hàng hóa chất lượng với giá cả ổn định Cần Giờ đã nhận được mạng điện chung của TP HCM, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia đạt 100%

- Ngành du lịch: từng bước phát triển, lượng khách du lịch đến huyện tăng dần qua các năm, giá trị của ngành du lịch ngày càng được nâng lên: Huyện có 26 cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch (8 nhà hàng, 18 cơ sở lưu trú) và 20 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lữ hành Hàng năm có 430.000 lượt du khách đến tham quan, du lịch

Ngày đăng: 15/08/2018, 10:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Xuân Bao và nnk (1994), Địa chất và khoáng sản tờ Thành phố Hồ Chí Minh tỉ lệ 1:200.000, Liên đoàn Địa chất miền Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chất và khoáng sản tờ Thành phố Hồ Chí Minh tỉ lệ 1:200.000
Tác giả: Nguyễn Xuân Bao và nnk
Năm: 1994
[2] Báo cáo sơ kết 05 năm (2011 - 2015), Thực hiện chương trình phát triển du lịch sinh thái C ần Giờ giai đoạn 2011 – 2015, UBND huy ện Cần Giờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện chương trình phát triển du lịch sinh thái Cần Giờ giai đoạn 2011 – 2015
[3] Báo cáo: tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh năm (2014), Phương hướng, nhiệm vụ kinh tế - văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh năm 2015, UBND huyện Cần Giờ Sách, tạp chí
Tiêu đề: tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh năm (2014), Phương hướng, nhiệm vụ kinh tế - văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh năm 2015
Tác giả: Báo cáo: tình hình kinh tế - văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh năm
Năm: 2014
[4] Hồ Chín và nnk (2008), Mở rộng khảo sát địa chất trầm tích Đệ Tứ Cù lao Phú Lợi (Cần Giờ) phục vụ du lịch, Viện Địa lý tài nguyên TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mở rộng khảo sát địa chất trầm tích Đệ Tứ Cù lao Phú Lợi (Cần Giờ) phục vụ du lịch
Tác giả: Hồ Chín và nnk
Năm: 2008
[5] Hồ Chín và nnk (2009), Đặc điểm phân bố móng đá Andezit, Phù sa cổ và địa chất công trình các trầm tích trên móng đá khu vực Gò Gia - Giồng Chùa, huyện Cần Giờ , TP. HCM, Viện Địa lý tài nguyên TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm phân bố móng đá Andezit, Phù sa cổ và địa chất công trình các trầm tích trên móng đá khu vực Gò Gia - Giồng Chùa, huyện Cần Giờ , TP. HCM
Tác giả: Hồ Chín và nnk
Năm: 2009
[6] Vũ Bá Dũng, Nguyễn Văn Cừ (2011), Kết quả áp dụng phương pháp địa chấn nông phân giải cao trong khảo sát địa chất biển nông ven bờ vùng biển Sóc Trăng, Trung tâm địa chất và khoáng sản biển. Tạp chí KHKT Mỏ - Địa Chất, số 34, 4/2011, (Chuyên đề Địa vật lý), tr. 19 - 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả áp dụng phương pháp địa chấn nông phân giải cao trong khảo sát địa chất biển nông ven bờ vùng biển Sóc Trăng
Tác giả: Vũ Bá Dũng, Nguyễn Văn Cừ
Năm: 2011
[7] Nguyễn Quang Dũng (2013), Nghiên cứu cấu trúc địa chất bằng phương pháp địa chấn nông phân giải cao khu vực Gò Gia - Giồng Chùa từ độ sâu 0 - 30 m, Viện Địa lý tài nguyên TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cấu trúc địa chất bằng phương pháp địa chấn nông phân giải cao khu vực Gò Gia - Giồng Chùa từ độ sâu 0 - 30 m
Tác giả: Nguyễn Quang Dũng
Năm: 2013
[8] Nguyễn Quang Dũng và nnk (2014), Đánh giá sơ bộ trữ lượng cát khu vực Phú Phụng và sông Hàm Luông, tỉnh Bến Tre, Viện Địa lý tài nguyên Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sơ bộ trữ lượng cát khu vực Phú Phụng và sông Hàm Luông, tỉnh Bến Tre
Tác giả: Nguyễn Quang Dũng và nnk
Năm: 2014
[9] Phạm Hữu Đức (2005), Giáo trình Cơ sở dữ liệu và hệ thông tin địa lý (GIS), Đại học Kiến trúc Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Cơ sở dữ liệu và hệ thông tin địa lý (GIS)
Tác giả: Phạm Hữu Đức
Năm: 2005
[10] Dương Quốc Hưng và nnk (2006), Một số đặc điểm của trầm tích Holocene khu vục Vịnh Bắc Bộ trên cơ sở phân tích tài liệu địa chấn nông phân giải cao, Tạp chí Khoa học &amp; CN Biển; 2 (6), Hà nội, tr.68-76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm của trầm tích Holocene khu vục Vịnh Bắc Bộ trên cơ sở phân tích tài liệu địa chấn nông phân giải cao
Tác giả: Dương Quốc Hưng và nnk
Năm: 2006
[11] Dương Quốc Hưng (2009), Nghiên cứu địa chất biển trên thềm lục địa Việt Nam bằng phương pháp địa chấn nông phân giải cao, Các công trình nghiên cứu địa chất&amp; địa vật lý biển, X, Nxb KHTN &amp; CN, tr.81-91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu địa chất biển trên thềm lục địa Việt Nam bằng phương pháp địa chấn nông phân giải cao
Tác giả: Dương Quốc Hưng
Nhà XB: Nxb KHTN & CN
Năm: 2009
[12] Lê Ngọc Thanh và nnk (2007), Khảo sát phân bố móng đá và phù sa cổ khu vực Gò Gia - Giồng Chùa bằng phương pháp đo sâu điện. Phân viện Địa lý tại Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát phân bố móng đá và phù sa cổ khu vực Gò Gia - Giồng Chùa bằng phương pháp đo sâu điện
Tác giả: Lê Ngọc Thanh và nnk
Năm: 2007
[13] Lê Ngọc Thanh và nnk (2015), Hiện trạng, diễn biến và nguyên nhân xói lở - bồi tụ bờ biển khu vực Cồn Bửng, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre trong điều kiện biến đổi khí hậu-nước biển dâng , Tạp chí Khí tượng Thủy văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện trạng, diễn biến và nguyên nhân xói lở - bồi tụ bờ biển khu vực Cồn Bửng, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre trong điều kiện biến đổi khí hậu-nước biển dâng
Tác giả: Lê Ngọc Thanh và nnk
Năm: 2015
[14] Lê Ngọc Thanh (2016), Nghiên cứu, đánh giá tác động biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến sạt lở bờ biển, tài nguyên nước và sản xuất nông nghiệp. Đề xuất các giải pháp và mô hình thích ứng trên địa bàn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre, Viện Địa lý tài nguyên Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, đánh giá tác động biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến sạt lở bờ biển, tài nguyên nước và sản xuất nông nghiệp. Đề xuất các giải pháp và mô hình thích ứng trên địa bàn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre
Tác giả: Lê Ngọc Thanh
Năm: 2016
[15] Nguyễn Ngọc Thu (2004), Xử lý tổng hợp tài liệu địa vật lý vùng thành phố Hồ Chí Minh. Luận án Tiến Sĩ. Liên đoàn bản đồ địa chất Miền Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xử lý tổng hợp tài liệu địa vật lý vùng thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Ngọc Thu
Năm: 2004
[18] Phạm Năng Vũ và nnk (2007), Địa chấn nông phân giải cao, một phương pháp hiệu quả để khảo sát mặt cắt địa chất nằm sát mặt đất, Tạp chí Địa chất, A/300, tr.82-92. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chấn nông phân giải cao, một phương pháp hiệu quả để khảo sát mặt cắt địa chất nằm sát mặt đất
Tác giả: Phạm Năng Vũ và nnk
Năm: 2007
[16] Niên giám thống kê huyện Cần Giờ các năm (từ 2011 đến 2014). Phòng Thống kê huyện Cần Giờ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w