MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Từ ngàn xưa dân tộc ta đã khẳng định: Hiền tài là nguyên khí quốc gia, dựng nước lấy việc học làm đầu, trị nước lấy nhân tài làm gốc và lịch sử dân tộc ta cũng đã để lại nhiều bài học, kinh nghiệm quý báu về đào tạo, sử dụng người hiền tài. Truyền thống này được Hồ Chí Minh nâng lên thành tư tưởng chiến lược và chính Người đã thực hiện xuyên suốt một cách thành công trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Ngay sau khi tìm thấy chủ nghĩa Mác Lênin, xác định con đường giải phóng cho toàn thể dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy khâu đột phá quan trọng nhất và sự chuẩn bị chiến lược tốt nhất cho cách mạng chính là vấn đề đào tạo cán bộ, đào tạo người tài đức phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Ngay từ năm 1925, Hồ Chí Minh đã tập hợp những thanh niên yêu nước, có tri thức vào Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, Người đã trực tiếp vun trồng đạo đức, lý tưởng cách mạng và phát triển tài năng của họ để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Người nêu chân lý: Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng Người 48, tr. 222, do đó, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau vừa hồng, vừa chuyên là một việc làm rất quan trọng và cần thiết. Hồ Chí Minh không những chủ trương phát triển giáo dục, đào tạo người có đức, có tài cho cách mạng mà chính Người còn phát hiện, thu hút, bồi dưỡng và trọng dụng hiền tài. Trong những ngày đầu sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, đất nước ta đứng trước nhiều nhiệm vụ cấp bách: kiến thiết và bảo vệ đất nước, Hồ Chí Minh viết lời kêu gọi: Nhân tài và kiến quốc, trong đó Người khẳng định: Nhân tài nước ta dù chưa nhiều lắm, nhưng chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển càng thêm nhiều 43, tr. 99, trong chỉ thị Tìm người tài đức, Người nhấn mạnh: Nước nhà cần kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài, có đức 43, tr. 451. Với tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, tin ở con người, tin ở nhân dân, tin ở lòng yêu nước, khả năng tiềm ẩn ở mỗi con người và với tình cảm chân thành, sức cảm hóa của mình, Hồ Chí Minh đã cuốn hút được rất nhiều người tài đức, nhất là các nhân sĩ, trí thức cũ và mới rất nổi tiếng, thậm chí cả những người phục vụ trong chế độ cũ, các nhà khoa học đã thành danh ở nước ngoài trở về với dân tộc, cống hiến tài năng của mình cho công cuộc kiến thiết và bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Hơn 80 năm qua, dưới ánh sáng tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh về đào tạo, sử dụng người hiền tài, Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm phát triển giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng được nhiều cán bộ thực sự có đức, có tài, góp phần làm nên những thắng lợi to lớn trong công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, công tác đào tạo và sử dụng người có đức, có tài vẫn còn không ít hạn chế, khuyết điểm: Chưa có cơ chế, chính sách phù hợp để phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng người có đức, có tài 18, tr. 110. Tình trạng chảy máu chất xám, thiếu hụt người có đức, có tài lãnh đạo, quản lý trên mọi lĩnh vực, đang trở thành nguy cơ làm giảm khả năng cạnh tranh và kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Bên cạnh đó, sự suy thoái đạo đức, lối sống của bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nhất là tệ tham nhũng, cửa quyền, mất dân chủ, những biểu hiện cơ hội, luồn lách để chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp… đang làm cho xã hội bất an, Đảng ta lo lắng, lòng dân không yên. Thế kỷ XXI, là thế kỷ của nền văn minh trí tuệ với kinh tế tri thức và xã hội thông tin, trong đó đội ngũ trí thức đặc biệt là người hiền tài, càng được coi là vấn đề cốt yếu đối với sự phát triển. Đất nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ và thách thức to lớn của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước tiến nhanh, bền vững, chúng ta cần khắc phục những yếu kém nói trên và khẩn trương phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là phát triển giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng những người có đức, có tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Vì vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta cũng đã nhấn mạnh, trong công tác cán bộ cần phải Có cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài 17, tr. 137 và coi đây là giải pháp quan trọng trong việc thực hiện chiến lược cán bộ. Điều này cho thấy, nghiên cứu, học tập tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh về đào tạo, sử dụng người hiền tài trong thời kỳ hiện nay là rất cần thiết, vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, vẫn là nền tảng vững chắc, là kim chỉ nam soi sáng cho Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng người có đức, có tài trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ nhận thức đó, tác giả chọn vấn đề Tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh về đào tạo, sử dụng người hiền tài làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học chính trị, chuyên ngành Hồ Chí Minh học.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ ngàn xưa dân tộc ta đã khẳng định: "Hiền tài là nguyên khí quốcgia", "dựng nước lấy việc học làm đầu, trị nước lấy nhân tài làm gốc" và lịch
sử dân tộc ta cũng đã để lại nhiều bài học, kinh nghiệm quý báu về đào tạo, sửdụng người hiền tài Truyền thống này được Hồ Chí Minh nâng lên thành tưtưởng chiến lược và chính Người đã thực hiện xuyên suốt một cách thànhcông trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Ngay sau khi tìm thấy chủ nghĩa Mác - Lênin, xác định con đườnggiải phóng cho toàn thể dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy khâu độtphá quan trọng nhất và sự chuẩn bị chiến lược tốt nhất cho cách mạng chính
là vấn đề đào tạo cán bộ, đào tạo người tài đức phục vụ cho sự nghiệp cáchmạng Ngay từ năm 1925, Hồ Chí Minh đã tập hợp những thanh niên yêunước, có tri thức vào Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, Người đã trựctiếp vun trồng đạo đức, lý tưởng cách mạng và phát triển tài năng của họ đểphục vụ cho sự nghiệp cách mạng Người nêu chân lý: "Vì lợi ích mười nămthì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng Người" [48, tr 222], do đó,bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau vừa "hồng", vừa "chuyên" là mộtviệc làm rất quan trọng và cần thiết
Hồ Chí Minh không những chủ trương phát triển giáo dục, đào tạongười có đức, có tài cho cách mạng mà chính Người còn phát hiện, thu hút,bồi dưỡng và trọng dụng hiền tài Trong những ngày đầu sau khi Cách mạngtháng Tám thành công, đất nước ta đứng trước nhiều nhiệm vụ cấp bách: kiến
thiết và bảo vệ đất nước, Hồ Chí Minh viết lời kêu gọi: Nhân tài và kiến quốc, trong đó Người khẳng định: "Nhân tài nước ta dù chưa nhiều lắm, nhưng
chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng
phát triển càng thêm nhiều" [43, tr 99], trong chỉ thị Tìm người tài đức,
Trang 2Người nhấn mạnh: "Nước nhà cần kiến thiết Kiến thiết cần phải có nhân tài.Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài, có đức" [43, tr.451] Với tư tưởng đại đoàn kết dân tộc, tin ở con người, tin ở nhân dân, tin ởlòng yêu nước, khả năng tiềm ẩn ở mỗi con người và với tình cảm chân thành,sức cảm hóa của mình, Hồ Chí Minh đã cuốn hút được rất nhiều người tàiđức, nhất là các nhân sĩ, trí thức cũ và mới rất nổi tiếng, thậm chí cả nhữngngười phục vụ trong chế độ cũ, các nhà khoa học đã thành danh ở nước ngoàitrở về với dân tộc, cống hiến tài năng của mình cho công cuộc kiến thiết vàbảo vệ nền độc lập của dân tộc
Hơn 80 năm qua, dưới ánh sáng tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh
về đào tạo, sử dụng người hiền tài, Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm pháttriển giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng được nhiều cán bộ thực sự có đức,
có tài, góp phần làm nên những thắng lợi to lớn trong công cuộc đổi mới Tuynhiên, công tác đào tạo và sử dụng người có đức, có tài vẫn còn không ít hạnchế, khuyết điểm: "Chưa có cơ chế, chính sách phù hợp để phát hiện, tuyểnchọn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng người có đức, có tài" [18, tr 110] Tìnhtrạng "chảy máu chất xám", thiếu hụt người có đức, có tài lãnh đạo, quản lýtrên mọi lĩnh vực, đang trở thành nguy cơ làm giảm khả năng cạnh tranh vàkìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Bên cạnh đó, sự suy thoáiđạo đức, lối sống của bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nhất là tệ thamnhũng, cửa quyền, mất dân chủ, những biểu hiện cơ hội, luồn lách để chạychức, chạy quyền, chạy bằng cấp… đang làm cho xã hội bất an, Đảng ta lolắng, lòng dân không yên
Thế kỷ XXI, là thế kỷ của nền văn minh trí tuệ với kinh tế tri thức và
xã hội thông tin, trong đó đội ngũ trí thức đặc biệt là người hiền tài, càngđược coi là vấn đề cốt yếu đối với sự phát triển Đất nước ta đang đứng trướcnhiều thời cơ và thách thức to lớn của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc
tế Để tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệphóa, hiện đại hóa, đưa đất nước tiến nhanh, bền vững, chúng ta cần khắc phục
Trang 3những yếu kém nói trên và khẩn trương phát triển nguồn nhân lực chất lượngcao, nhất là phát triển giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng những người cóđức, có tài phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Vìvậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta cũng đã nhấn mạnh, trongcông tác cán bộ cần phải "Có cơ chế, chính sách phát hiện, tuyển chọn, đào tạo,bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài" [17, tr 137]
và coi đây là giải pháp quan trọng trong việc thực hiện chiến lược cán bộ
Điều này cho thấy, nghiên cứu, học tập tư tưởng và tấm gương Hồ ChíMinh về đào tạo, sử dụng người hiền tài trong thời kỳ hiện nay là rất cần thiết,vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, vẫn là nền tảng vững chắc,
là kim chỉ nam soi sáng cho Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện chiếnlược phát triển giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng người có đức, có tàitrong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Từ nhận thức đó, tác giả chọn vấn đề "Tư tưởng và tấm gương Hồ Chí
Minh về đào tạo, sử dụng người hiền tài" làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học
chính trị, chuyên ngành Hồ Chí Minh học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nhận thức được vai trò của người hiền tài đối với sự hưng thịnh củamỗi quốc gia, các nhà hoạt động chính trị cũng như các nhà khoa học ở nhiềulĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn trong nước cũng như trên thế giới quantâm nghiên cứu từ những góc độ khác nhau Có thể dẫn ra một số tác giả vàcông trình nghiên cứu tiêu biểu:
Tác giả Trần Đương (Chủ biên), trong cuốn Bác Hồ với nhân sĩ, trí thức, nhà xuất bản Thanh niên, Hà Nội, năm 2008 Tác giả đã chắt lọc nhiều
nguồn tư liệu, sách báo, nghi chép những lời kể của các nhân chứng, hệ thốnghóa thành những bài viết hết sức cảm động xung quanh mối quan hệ và ảnhhưởng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đối với các nhân sĩ, tríthức trong giai đoạn đầu đất nước mới giành được độc lập
Trang 4Trong cuốn Bác Hồ cầu hiền tài của các tác giả Sơn Tùng, Trần
Đương, Trần Đại Nghĩa, nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội, năm 2006, đã tuyểnchọn những bài viết ghi lại những câu chuyện cảm động kể về Hồ Chí Minhtrọng dụng các nhân sĩ, trí thức nổi tiếng thời kỳ đầu Cách mạng Tháng Tám
và hồi ức, ấn tượng của các vị đó về Hồ Chí Minh, và một số bài báo, thư từcủa Hồ Chí Minh về việc cầu hiền tài
Tác giả Đức Vượng trong cuốn Hồ Chí Minh đào tạo cán bộ và trọng dụng nhân tài, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2010 Tác giả đã
trình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán bộ; quá trình Hồ Chí Minh đàotạo, rèn luyện và sử dụng cán bộ, sử dụng nhân tài qua các giai đoạn cáchmạng để giành độc lập, kháng chiến và kiến quốc
Trong cuốn Hồ Chí Minh với nhân tài và kiến quốc do Phạm Như Hà
sưu tầm và tuyển chọn, nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, năm 2007,
đã giúp cho người đọc hiểu thêm tấm gương Hồ Chí Minh về trọng dụngngười hiền tài và lòng cảm phục, sự kính trọng, niềm tin yêu sâu sắc của họđối với Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả Phạm Hồng Tung (Chủ biên) trong cuốn sách Lược khảo về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong lịch sử Việt Nam,
nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2008, đã đánh giá một cách tươngđối toàn diện và súc tích về những mặt tích cực, những mặt hạn chế về mặtthực tiễn đào tạo và trọng dụng nhân tài, hiền tài của cha ông ta trong lịch sử
Tác giả Nguyễn Hoàng Lương, Phạm Hồng Tung (chủ biên) trong cuốn
Tài năng và đắc dụng (Nghiên cứu về một số nhân tài tiêu biểu ở Việt Nam và nước ngoài), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2008, đã nghiên
cứu một số nhân tài tiêu biểu ở Việt Nam và nước ngoài, trong đó có đề cập
"Hồ Chí Minh và việc đào tạo thế hệ nhân tài dựng Đảng - cứu quốc"
Tác giả Nguyễn Đắc Hưng, Phan Xuân Dũng trong cuốn Nhân tài trong chiến lược phát triển quốc gia, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội,
Trang 5năm 2004 Tác giả đã giới thiệu khái quát về những phẩm chất cần có củanhân tài; kinh nghiệm đào tạo và sử dụng nhân tài của cha ông ta và một sốquốc gia trên thế giới; thực trạng và những giải pháp nhằm nâng cao chấtlượng nguồn nhân lực cho đất nước ta trong tiến trình hội nhập.
Tác giả Thẩm Vinh Hoa, Ngô Quốc Diệu (Chủ biên), trong cuốn Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài - kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước (Sách tham khảo), nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2008, đã
trình bày tư tưởng Đặng Tiểu Bình về nhân tài; về đường lối tổ chức và việcxây dựng đội ngũ cán bộ; những tư tưởng chiến lược về bồi dưỡng và giáodục nhân tài; về tuyển chọn nhân tài ưu tú; về sử dụng và bố trí nhân tài; vềtạo môi trường cho nhân tài phát triển, về cải cách chế độ nhân sự trong việc
sử dụng nhân tài… Đây là cuốn sách có giá trị lớn, giúp người đọc hiểu thêm
tư tưởng Đặng Tiểu Bình về nhân tài, từ đó rút ra những bài học, kinh nghiệmcho công tác phát triển nhân tài ở nước ta hiện nay và trong tương lai
Các công trình khoa học nêu trên đã nghiên cứu kinh nghiệm đào tạo,
sử dụng nhân tài, hiền tài trong lịch sử; phân tích làm rõ tư tưởng Hồ ChíMinh về đào tạo cán bộ và sử dụng nhân tài; các mẩu chuyện thể hiện tưtưởng và tấm gương Hồ Chí Minh về đào tạo và sử dụng người hiền tài trongquá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam
Liên quan đến đề tài còn có một số bài báo khoa học đăng tải trên cácTạp chí Xây dựng Đảng, Tạp chí Lý luận chính trị, Tạp chí Lịch sử Đảng, tạpchí Giáo dục… của các nhà khoa học, các nhà lãnh đạo, quản lý trong nước như:
"Nhân tài tiềm ẩn đang chờ con mắt tinh đời của người lãnh đạo" của NguyễnVăn Chiến, năm 2004; "Một đội ngũ chuyên gia chất xám và hiền tài đang bị "bỏquên"" của Phạm Côn, năm 2004; "Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển giáodục, đào tạo nhân tài" của Chu Thái Thành, năm 2005; "Phát triển nhân lực, đàotạo và trọng dụng nhân tài" của Trịnh Gia Ban, năm 2005; "Để hiền tài thực sự
là nguyên khí quốc gia" của Thanh Hà, năm 2005; "Lựa chọn, bồi dưỡng hiền
Trang 6tài - Truyền thống và yêu cầu bức thiết của cuộc sống" của Nguyễn Lân Dũng,năm 2006; "Phát hiện người có đức, có tài để huy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng,
bổ nhiệm làm cán bộ lãnh đạo, quản lý" của Lê Thành Can, năm 2009; "Pháthiện, đào tạo, sử dụng nhân tài" của Vũ Khoan, năm 2009; "Chăm lo, phát hiện,đào tạo, bồi dưỡng nhân tài" của Nguyễn Văn Vinh, năm 2010; "Hồ chí Minhvới vấn đề nhân tài" của Nguyễn Văn Khánh, Phan Duy Anh, năm 2010
Các công trình khoa học nói trên đã nghiên cứu kinh nghiệm đào tạo,
sử dụng hiền tài trong lịch sử; làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển giáodục, đào tạo nhân tài; thực trạng sử dụng nhân tài ở nước ta hiện nay và đãhướng vào việc nghiên cứu phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng người cóđức, có tài trong giai đoạn mới Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứumột cách có hệ thống tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh về đào tạo, sửdụng người hiền tài Song, những kết quả nghiên cứu đó đã tạo tiền đề và gợi
mở nhiều điều bổ ích cho tác giả trong việc nghiên cứu, đặc biệt là cung cấpnguồn tài liệu, những luận cứ, luận chứng và phương pháp tiếp cận để tác giả
kế thừa khi thực hiện đề tài của luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Hệ thống hóa, luận giải và làm sáng tỏ những quan điểm cơ bản cũng nhưtấm gương Hồ Chí Minh về đào tạo và sử dụng người hiền tài trong quá trìnhlãnh đạo cách mạng Việt Nam Từ đó, làm rõ sự cần thiết của việc học tập vàlàm theo tư tưởng, tấm gương đó của Người trong việc phát triển giáo dục, đàotạo và sử dụng người có đức, có tài trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản sau:
Một là, khái niệm "người hiền tài" và cơ sở hình thành quan điểm của
Hồ Chí Minh về đào tạo và sử dụng người hiền tài
Trang 7Hai là, những nội dung cơ bản của quan điểm Hồ Chí Minh về đào tạo
và sử dụng người hiền tài
Ba là, tấm gương Hồ Chí Minh về đào tạo và sử dụng người hiền tài
trong cách mạng giải phóng dân tộc và việc học tập, làm theo tư tưởng, tấmgương đó của Người trong thời kỳ hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu là cơ sở hình thành và những quan điểm cơ bảncũng như tấm gương Hồ Chí Minh về đào tạo và sử dụng người hiền tài đượcthể hiện trong các tác phẩm chủ yếu cũng như trong hoạt động thực tiễn củaNgười qua các thời kỳ hoạt động cách mạng
Những vấn đề cơ bản trong học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương
Hồ Chí Minh về đào tạo, sử dụng người hiền tài trong thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là các nguyên lý của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin Tư tưởng Hồ ChíMinh và quan điểm của Đảng ta về đào tạo, sử dụng người hiền tài; về tríthức; về cán bộ và công tác cán bộ
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Quán triệt cơ sở lý luận và phương pháp luận nêu trên, luận văn còn
sử dụng các phương pháp phân tích, lịch sử, lôgic, tổng hợp, thống kê, sosánh và một số phương pháp cụ thể khác
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Góp phần làm rõ tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh về đào tạo, sửdụng người hiền tài trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam Nêu bật
Trang 8được thực trạng và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm sử dụng người cóđức, có tài ở nước ta hiện nay.
7 Giá trị lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ lý luận Hồ ChíMinh về đào tạo và sử dụng người hiền tài trong cách mạng Việt Nam
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, tuyêntruyền và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, về cán bộ và công táccán bộ của Đảng ở các trường chính trị, các trường đại học và cao đẳng
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văngồm 2 chương, 5 tiết
Trang 9Chương 1
CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỚI VIỆC ĐÀO TẠO
VÀ SỬ DỤNG NGƯỜI HIỀN TÀI CHO CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1.1 KHÁI NIỆM "NGƯỜI HIỀN TÀI" VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO, SỬ DỤNG NGƯỜI HIỀN TÀI
1.1.1 Khái niệm "người hiền tài" và các khái niệm có liên quan
1.1.1.1 Về " người hiền tài"
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, hiền tài là "người có
đủ đức tài" [98, tr 421] Theo Đại Từ điển tiếng Việt, hiền tài là "người cóđức hạnh, tài năng" [112, tr 802] Như vậy, hiền tài được thể hiện ở hai mặt
cơ bản Đức hạnh, tức là người có đạo đức và hạnh kiểm tốt, nó thể hiện ởnhững phẩm chất như: công minh, chính trực, đúng mực, nghiêm túc, tráchnhiệm và tận tụy trong công việc, nhân ái, nghĩa tình trong quan hệ ứng xửvới mọi người… Tài năng, tức là người học cao, hiểu rộng, thông minh, tài tríhơn người, có khả năng vận dụng những điều đã học, đã biết vào cuộc sống
Khái niệm hiền tài đã được sử dụng rất sớm trong lịch sử và ngôn ngữdân tộc Việt Nam Thời vua Lê Thánh Tông, Thân Nhân Trung (1418-1499)
đã viết: "Hiền tài là nguyên khí của đất nước Nguyên khí thịnh thì thế nướcmạnh mà vươn cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà xuống thấp" [80, tr 86]
Vì vậy, "Đất nước thịnh vượng tất ở việc cử hiền Người làm vua thiên hạphải lo công việc đó trước tiên" [59, tr 114] Hay trong văn bia khoa thi năm
1715 cũng có ghi "Vận hội nước nhà được thịnh vượng, cơ đồ được vữngvàng vì có hiền tài đông đúc như cây trong rừng" [59, tr 115]
Khái niệm hiền tài theo quan điểm của ông cha ta là những người tàiđức vẹn toàn Tài năng của họ được biểu hiện ở việc học rộng, hiểu nhiều, có
đủ tài giúp vua trị nước, đem lại cuộc sống thanh bình cho nhân dân; có đức
Trang 10hạnh, là người gương mẫu về đạo đức, suốt đời chăm lo tu dưỡng phẩm hạnhcho bản thân, đem hết tài năng và đức hạnh phục vụ cho đất nước Đó làngười lấy trung nghĩa mà rèn cho danh thực hợp nhau, thực hành điều sở học,làm nên sự nghiệp vĩ đại sáng ngời, khiến cho mọi người đời sau kính trọngthành danh, mến mộ khí tiết như ông cha ta đã từng nhắc đến.
Người hiền tài có quan hệ chặt chẽ đến sự thịnh suy của một triều đại,đóng vai trò định đoạt vận mệnh của một quốc gia, dân tộc Vì vậy, bất cứthời đại nào, chế độ xã hội nào cũng cần coi trọng hiền tài, nhưng khác nhau
về mục đích sử dụng Trong chế độ có đối kháng giai cấp, giai cấp thống trị
sử dụng người hiền tài để duy trì, bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp mình.Theo Khổng giáo, nho sĩ là hình ảnh những người chính nhân quân tử bêncạnh việc thuộc làu kinh sử, thông thạo sách thánh hiền, phải có đủ ba phẩmchất: có trách nhiệm cao, có lòng tự trọng và dũng cảm, khi cần ra giúp nước,thường giữ vai trò mưu sĩ cho vua Có thể thấy quan niệm của Khổng Tử vềngười quân tử, trí thức xưa là tiến bộ nhất trong xã hội phong kiến vốn phânbiệt giàu nghèo, đẳng cấp
Sự cống hiến của người hiền tài thường có ý nghĩa lớn, rất sáng tạo
Họ là những người có tư duy mang tính chiến lược, chiến thuật cao Tronghoạt động, hiệu quả công việc của họ có tầm cỡ quốc gia và có tác động lớnđến xã hội Đó là kết quả của quá trình công phu học tập, lao động, rèn luyện
mà thành Lẽ dĩ nhiên, họ có tư chất và năng khiếu bẩm sinh nhưng để trởthành một hiền tài, họ đã trải qua quá trình khổ công học tập và rèn luyệnkhông ngừng mới có được, đặc biệt là phải có cái tâm
Những người hiền tài luôn góp phần to lớn vào sự phát triển tiến bộcủa xã hội Trong lịch sử những người có đức, có tài, có công lớn được tônvinh là hiền nhân, hiền tài, bậc thánh hiền… Họ được ca ngợi là "phú quý bấtđăng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất" (phú quý không làm
Trang 11mê muội, nghèo khổ không làm lay chuyển, bạo lực không sợ hãi) Hiền tàithời nào cũng có, thời nào cũng rất cần hiền tài, họ là những người tạo nên trụcột của quốc gia Việc quan niệm về hiền tài ở mỗi thời đại có những điểmkhác nhau, nhưng đào tạo và sử dụng người có đức, có tài luôn luôn là mộtvấn đề có ý nghĩa sống còn đối với mỗi triều đại trong việc xây dựng quốc giahưng thịnh, lãnh thổ vững bền.
Hồ Chí Minh không đưa ra định nghĩa về hiền tài Nhưng nghiên cứucác bài nói, bài viết về cán bộ, về trí thức cũng như việc sử dụng cán bộ, trí thứctrong hoạt động thực tiễn cách mạng của Người Chúng ta thấy, Hồ Chí Minh
đã đề cập đến việc tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng kẻ hiền năng;những người có tài, có đức; người có tài năng, có đức hạnh rất Hồ Chí Minh
Theo Hồ Chí Minh, người hiền tài là "những người có công tâm, trungthành, sốt sắng với quyền lợi dân chúng, có năng lực làm việc, được đông đảo dânlàng tín nhiệm Không thể nhờ tiền tài hay một thế lực gì khác…" [43, tr 22];
là "người có tài năng, có đức hạnh, giúp đỡ cho dân, cho nước" [43, tr 43]; là
"người làm những việc ích nước, lợi dân", là người "hăng hái nhất, thôngminh nhất, yêu nước nhất, kiên quyết, dũng cảm nhất" [44, tr 262]
Qua các câu trích dẫn ở trên, ta thấy hiền tài theo Hồ Chí Minh làngười có phẩm chất toàn diện về mọi mặt, có phẩm chất chính trị, đạo đức, lốisống tốt, có trình độ hiểu biết, chuyên môn nghiệp vụ cao, trước hết là ngườivừa có đức, vừa có tài
"Đức" theo Hồ Chí Minh bao hàm cả phẩm chất chính trị, tư tưởng, đó
là lòng trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; là sự giác ngộmục tiêu, lý tưởng, chiến đấu vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Ở đây, Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống của phương Đông trong quan niệm
về "đức" Tuy nhiên, Hồ Chí Minh đã đưa vào đó những nội dung mới chophù hợp với thời đại mới Nếu ông cha ta xưa, xem xét tiêu chuẩn về "đức"
Trang 12của người hiền tài là người "trung quân, ái quốc", tuyệt đối trung thành vớivua, trung với vua là yêu nước, trung thành với vua thì phải "làm tôi tậntrung" và "quân sử thần tử, thần bất tử bất trung", ai làm trái lời thề, thần linhgiết chết (Hội thề đồng của các quan lại đời Lý - Trần) Trong thời đại mới,theo Hồ Chí Minh, người hiền tài trước hết cũng phải là người tận trung, tậnhiếu, nhưng là trung với nước và hiếu với nhân dân
Trung với nước là đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và cách mạng lên
trên hết, trước hết; quyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu cách mạng đó làđộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, với tinh thần hy sinh chiến đấu,lao động quên mình; thực hiện tốt mọi chủ trương, đường lối, chính sách củaĐảng và Nhà nước; hăng hái thi đua yêu nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụtrong mọi tình huống
Hiếu với dân tức là hiếu với nhân dân, hiếu với dân tộc Hiếu với dân
được thể hiện ở việc phát huy quyền làm chủ của dân, tin dân, học dân, lắngnghe ý kiến của nhân dân, hòa mình với nhân dân, dựa hẳn vào dân, lấy dân
làm gốc Không ngừng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
"Đức" còn là đạo đức, lối sống cao đẹp, ở tính cần, kiệm, liêm, chính,chí công, vô tư; ở nếp sống giản dị, trong sạch, lành mạnh; tấm lòng nhân ái,bao dung, yêu thương con người, chân tình với đồng chí, với bè bạn; tínhnghiêm khắc với bản thân để giữ cho mình luôn được chính tâm, "lo trướcthiên hạ, vui sau thiên hạ", "giàu sang không quyến rũ, nghèo khó khôngchuyển lay, uy vũ không khuất phục", phải gương mẫu về mọi mặt
"Tài" của hiền tài bao gồm trình độ học vấn, trình độ nhận thức lý
luận, trình độ chuyên môn, năng lực nghiệp vụ; là sự làm chủ các tri thứckhoa học, có hiểu biết và năng lực thực hành chuyên môn tốt, là sự khám phá,chinh phục các đỉnh cao khoa học, kỹ thuật; là sự sáng tạo cải tiến nâng caonăng suất và hiệu quả lao động Tài năng của người hiền tài là biết nhìn xa,
Trang 13trông rộng, thể hiện ở năng lực xử lý các tình huống đột xuất, khả năng phântích, dự đoán, nắm thời cơ, đưa ra được những quyết sách táo bạo, xoaychuyển tình hình ở những thời điểm quyết định Tài năng còn được thể hiện ởviệc dùng người, biết huy động trí tuệ và năng lực của mọi người, ở quá trìnhvận động, tổ chức, lãnh đạo quần chúng nhân dân hăng hái thi đua chiến đấu,lao động sản xuất, góp phần hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ của Đảng, của đơn
vị, của địa phương, nghĩa là phải có tài làm cho dân tin, dân phục, dân theo
Rõ ràng, người hiền tài có năng lực vượt trội hơn hẳn người bình thường trong một hay nhiều lĩnh vực hoạt động nào đó, biểu hiện ở hiệu quả
và hiệu suất tư duy và hành động Người hiền tài có năng lực lớn, luôn luôn hoàn thành xuất sắc công việc, dù có nhiều khó khăn, trở ngại
Cần lưu ý rằng, Hồ Chí Minh xem "đức" và "tài" là hai mặt thống nhấttrong một con người, nó không thể tách rời nhau, nếu thiếu một trong hai thứ
đó thì không thể trở thành người hữu ích chứ đừng nói đến trở thành hiền tài.Khi đánh giá một con người thì đạo đức luôn đặt ở vị trí đầu tiên, bởi vì đốivới những người càng tài giỏi, giữ các chức vụ càng quan trọng mà thiếu đứcthì sự phá hoại càng lớn Vì thế, nhân dân ta cũng luôn luôn nói việc kén chọnngười hiền tài, hoặc người tài đức, thậm chí là nhân tài, ít nói kén chọn ngườichỉ có tài Hồ Chí Minh thấm nhuần lời dạy của cổ nhân:
Tài mà không có đức dễ làm gian Dũng mà không có đức dễ thành bại Biện mà không có đức dễ lừa dối Trí mà không có đức dễ thành xảo quyệt
Do đó, đức so với tài, đức luôn ở ngôi vị thứ nhất, là cội rễ, còn tài ở vịtrí thứ hai Tuy nhiên, Hồ Chí Minh nói đức là gốc của tài, không có nghĩa làtuyệt đối hóa yếu tố đạo đức, xem nhẹ yếu tố tài năng, mà Người muốn nhấnmạnh vị trí của đạo đức trong chỉnh thể thống nhất đức - tài Người nói: "Có
Trang 14tài mà không có đức là hỏng" [48, tr 492] Và Người cũng nói: "Có đức màkhông có tài ví như ông bụt không làm hại gì, nhưng cũng không lợi gì choloài người" [48, tr 172]
Tóm lại, như đã phân tích ở trên, người hiền tài theo quan điểm HồChí Minh là người hội đủ cả đức và tài Khi dùng người hay đánh giá cán bộ,
Hồ Chí Minh chú trọng cả đạo đức và tài năng Tài năng của con người chỉ cóthể hình thành và phát triển trên cái nền tảng vững chắc là đạo đức cách mạng
và chỉ khi nào giữ vững được đạo đức cách mạng thì tài năng đó mới thật sự
có ý nghĩa, thật sự có giá trị đối với cách mạng Đạo đức cách mạng khôngchỉ định hướng đúng đắn cho việc rèn luyện, phát triển tài năng mà đạo đứccách mạng còn là động lực tinh thần to lớn thúc đẩy tài năng phát triển ở mỗingười cách mạng
1.1.1.2 Về nhân tài và chuyên gia
Về nhân tài
Theo cách hiểu thông thường, trong bất kỳ lĩnh vực hay trong một côngviệc nào đấy, khi có vấn đề nảy sinh chưa ai giải quyết được, mà có người giảiquyết được vấn đề đó, người đó được gọi là người tài Theo Từ điển tiếng Việtcủa Viện ngôn ngữ học thì nhân tài là "người có tài năng xuất sắc" [98, tr 688].Theo Đại Từ điển tiếng Việt, nhân tài là "người có tài" [112, tr 1239]
Theo đề tài cấp Nhà nước KX.04.16/06-10, thuộc chương trình
KX.04/06-10 về: Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011-2020 có
đưa ra định nghĩa:
Nhân tài là bộ phận ưu tú của trí thức Họ là những người tàigiỏi, có những cống hiến, những công trình về lý luận chính trị, kinh
tế, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, có khả năng lãnh đạo, quản lý Đó
là những con người học rộng, học sâu, giàu óc sáng tạo, tư duy sắcsảo, có khả năng phán đoán, dự báo tốt, làm việc độc lập, tự chủ
Trang 15Đó là các nhà khoa học, nhà lý luận, nhà chính trị, nhà văn hóa, nhàgiáo dục, nhà ngoại giao, nhà toán học, nhà hóa học… thực sự cótài năng và cống hiến cho đất nước và nhân loại [108, tr 22].
Còn hiền tài là bộ phận ưu tú của nhân tài Hiền tài là người có tàinăng vượt trội và có nhân cách thực sự; là người hội đủ yếu tố tài và đức ởtrình độ cao
Như vậy, ta thấy nhân tài và hiền tài đều là người có tài năng vượttrội, giàu tính sáng tạo, có tư duy hết sức độc đáo, sắc sảo mà người bìnhthường không có Hiền tài, nhân tài thời nào cũng có và ở mọi lĩnh vực.Nhưng khi nói hiền tài thì dứt khoát họ phải là người có tài cao, đức trọng.Hiền tài luôn ở dạng tiềm ẩn, nếu chúng ta không khổ công phát hiện, đào tạo,bồi dưỡng, thu hút và có những chính sách sử dụng, đãi ngộ tốt thì chúng takhông những mất nhân tài mà còn có khi mất cả hiền tài nữa
Về chuyên gia
Thông thường, chuyên gia dùng để chỉ người có chuyên môn, đượcđào tạo để hành nghề một cách có chuyên môn Theo Đại Từ điển tiếng Việt,chuyên gia là "người đi sâu nghiên cứu một lĩnh vực chuyên môn nào đó và
đã có hiểu biết sâu sắc về chuyên môn đó" [111, tr 406]
Theo đó, chuyên gia trước hết là người có chuyên môn dựa trên mộtnền tảng cơ bản và vững chắc của chuyên ngành đào tạo, của tích lũy kinhnghiệm nghề nghiệp và sự công phu tự đào tạo suốt đời Được coi là chuyêngia phải là những người có trình độ chuyên môn cao, vượt trội hẳn so với sốđông thông thường Sự vượt trội này được xác nhận bởi sức sáng tạo lớn, cónhững cống hiến quan trọng và xuất sắc trong lĩnh vực hoạt động và nghềnghiệp của mình Nhờ có trình độ cao, thông thạo và có uy tín cao trong giớichuyên môn, có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng nghề nghiệp và trong xã hội
mà chuyên gia, nhất là những chuyên gia đầu đàn, đầu ngành có vai trò đặc
Trang 16biệt quan trọng đối với sự phát triển của xã hội; vai trò đó được thể hiện nổibật trong đào tạo nhân lực chất lượng cao và trong nghiên cứu khoa học, ứngdụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật - công nghệ, trong tổng kết thực tiễn, trong
tư vấn và phản biện đối với lãnh đạo, quản lý, trong hình thành đường lối,chiến lược và chính sách quốc gia Nói một cách vắn tắt, nói tới chuyên gia lànói tới người tài, những người có tài năng, là tinh hoa của quốc gia, dân tộc.Chuyên gia và đội ngũ chuyên gia, đó là đại biểu của trình độ và tiềm lực củagiới trí thức nước nhà
1.1.2 Cơ sở chủ yếu hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo
và sử dụng người hiền tài
1.1.2.1 Hồ Chí Minh tiếp thu và phát triển truyền thống đào tạo, sử dụng người hiền tài trong văn hóa chính trị Việt Nam
Do vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, nước ta nằm trong khu vực khíhậu nóng ẩm, nên cuộc mưu sinh của nhân dân vốn nhọc nhằn, vất vả, lạithường xuyên đối đầu với các thế lực ngoại xâm, hoàn cảnh lịch sử đặt ra nhucầu khách quan cần có người tài đức làm "rường cột nước nhà" Trong trường
kỳ lịch sử, dân tộc Việt Nam rất coi trọng người hiền tài, coi đó là sức mạnhnội sinh để chấn hưng đất nước và chống giặc
Các triều đại phong kiến, ở các giai đoạn tiến bộ đều coi "chiêu hiền,đãi sĩ" là việc trọng đại của đất nước Trong chiếu khuyến dụ hào kiệt năm 1427,vua Lê Thái Tổ có viết:
… Ta tuy làm chủ tướng nhưng một thì già yếu bất tài, haithì học ít biết nông, ba thì nhiệm vụ nặng nề khó gánh vác nổi… vìthế ta nhún mình tỏ lòng thành thực khuyên các bậc hào kiệt đềunên cùng nhau gắng sức, cứu đỡ muôn dân, đừng có kín tiếng giấutài, khiến thiên hạ phải hãm trong lầm than mãi mãi [8, tr 58]
Trang 17Thời vua Lê Lợi, Nguyễn Trãi viết Chiếu cầu hiền, chiếu hạ lệnh cho
các quan từ tam phẩm trở lên điều phải tiến cử một người, ai tiến cử đúng hiềntài thì được thưởng; người nào có tài mà bị khuất, mà không ai tiến cử thì được
tự tiến cử Hiền tài được tiến cử và tự tiến cử đều được vua trọng dụng Thời
Tây Sơn, trong Chiếu cầu hiền tài của vua Quang Trung đã viết: "Nhà nước
làm chính trị phải dùng người hiền tài, triều đình dùng người phải xét lời bàncủa nhiều người Ta lưu tâm việc trị nước, độc ý việc cầu tài" [54, tr 115]
Từ xưa, việc tuyển chọn hiền tài đã được các bậc vua chúa anh minhrất quan tâm và tuyển chọn thông qua một số phương pháp tuyển chọn như:cầu hiền, khoa cử, tiến cử, tự tiến cử và nhiều hình thức linh hoạt khác nhau.Tuyển chọn các bậc hiền tài không chỉ được tiến hành trong các quan văn,quan võ mà còn mở rộng đến các làng nghề, các nghệ nhân, nghệ sĩ, trong cáctầng lớp nhân dân Chính những tâm đức tốt đẹp của các bậc vua chúa đã làlực hút mạnh mẽ để quy tụ hiền tài Việc thi cử được coi trọng và tổ chức rấtchu đáo, thường chọn những người tài cao, đức trọng làm chánh chủ khảo.Việc lựa chọn trạng nguyên được chính nhà vua ra đề và chấm thi Việc sửdụng hiền tài không kể thành phần xuất thân, như trong văn bia năm 1544 cóghi "Dùng người hiền tài chẳng nệ giống nòi là đạo thông suốt từ xưa đến naychưa hề thay đổi" [54, tr 116]
Về phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng hiền tài
Công việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng hiền tài được các triều đạiphong kiến tiến hành ngày càng chính quy và khoa học, đó là việc đào tạohiền tài qua các trường từ thấp đến cao, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng bởi tưtưởng Nho giáo Điểm cốt lõi của tư tưởng này là "cử hiền", tức là qua thi cử
để kén chọn hiền tài, trong giáo dục lấy đào tạo và bồi dưỡng hiền tài làmmục tiêu Việc tiến cử hiền tài "bên trong tiến cử không kể người thân, bênngoài tiến cử không kể người thù oán, khảo sát căn cứ vào công sức, năng lực,
Trang 18cứ có tài năng đức độ thì tiến cử, không trông ngóng báo đáp của người đượctiến cử" [54, tr 110] Học giỏi tất sẽ được trọng dụng "Học nhi ưu tắc sĩ", tức
là đề cao việc học trước, tuyển dụng sau và trước tiên là coi trọng "Vi chính vĩ
đức" nghĩa là làm việc chính sự lấy đức để thi hành Người cầm quyền dù ở
cấp nào, nếu không liêm chính thì không gây được uy tín trong nhân dân vàcông việc, như vậy sự nghiệp của họ trước sau cũng bị thất bại Trong tưtưởng Nho giáo, phân biệt giữa quân tử và tiểu nhân thông qua nhân cách củacon người, người quân tử lấy lợi ích của đất nước, của nhân dân là trên hết,còn kẻ tiểu nhân chỉ lo vun vén cá nhân Nhân cách tốt ắt sẽ làm được việclớn, nhân cách xấu chỉ làm điều có hại
Phương pháp đào tạo người tài của ông cha ta là khơi gợi, dẫn dắt họcsinh nắm vững những tri thức, các quan niệm, đòi hỏi người học phải hoàntoàn chủ động, tìm tòi trong quá trình dạy và học, tư tưởng này phù hợp với tưtưởng giáo dục hiện đại ngày nay là biến quá trình đào tạo thành quá trình tựđào tạo Vấn đề giáo dục và đào tạo được các triều đại phong kiến rất quantâm, sau khi rời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, năm 1070 vua Lý Công Uẩn đãcho xây dựng Văn Miếu và chính nơi này đã trở thành trường đại học đầu tiên
ở nước ta, nơi đào tạo và tuyển chọn hiền tài Trong khu vực Văn Miếu, nhàThái học mở rộng để cho học sinh học tập, lập thư khố đầu tiên để chứa sách.Năm 1484, cho khắc bia ghi danh những người đỗ tiến sĩ để lưu truyền đếnđời sau Đến thời nhà Nguyễn, nhà vua cấp lương bổng cho các giám sinh để
họ theo học ở kinh đô Đáng chú ý là việc tuyển chọn hiền tài, các triều đại vềsau càng được tiến hành thường xuyên hơn để chọn được nhiều hiền tài Saukhi tuyển chọn được hiền tài, các triều đại phong kiến đều có quy định về cácchức sắc, vị trí trong xã hội phù hợp với học vấn và tài năng của từng người.Người có học vị cao và thi đỗ cao thì phân bổ ngay, được nhận chức cao hoặcđược làm việc ở triều đình; người thi đỗ với học vị thấp thì làm quan ở phủ, ở
Trang 19huyện, ai thi đỗ cao hơn thì được bổ nhiệm trước Chế độ đãi ngộ hiền tàicũng hết sức chu đáo: Các thí sinh đỗ đạt từ bậc tiến sĩ trở lên đều được nhàvua đãi yến tiệc tại cung đình, được ban mũ áo, tước hiệu kèm theo các bổnglộc, được rước vinh quy về làng và được bổ nhiệm ngay vào những chức vụxứng đáng Trong việc sử dụng hiền tài, các triều đại phong kiến thườngxuyên tổ chức các đợt "khảo hạch" để bồi dưỡng thêm kiến thức và có chế độđãi ngộ phù hợp; có chính sách ban phát bổng lộc tùy theo phẩm cấp và côngtrạng; sử dụng chế độ thưởng phạt nghiêm minh để phát huy tài năng và ngănchặn những việc làm sai trái
Về sử dụng người hiền tài
Khi đã chọn được hiền tài, việc sử dụng hiền tài lại vô cùng quantrọng, người xưa dùng nguyên tắc tùy tài mà giao việc và để tránh kéo bè, kéocánh, địa phương chủ nghĩa, chế độ phong kiến đã áp dụng hình thức định kỳthuyên chuyển quan lại từ nơi này sang nơi khác, có khi di chuyển rất xa, quyđịnh ai sinh ra ở địa phương nào thì không được làm quan ở địa phương đó
Các triều đại phong kiến đã thực hiện chính sách không giữ chức quansuốt đời hoặc thăng quan theo niên hạn theo kiểu "đến hẹn lại lên" mà có sựđánh giá theo năng lực và đạo đức để bổ nhiệm lại Điều này được thực hiện
là sau một thời gian làm việc, triều đình sát hạch để đề bạt, bố trí, sử dụng:người đạt loại ưu thì đề bạt ngay, người đạt khá thì nâng theo niên hạn, ngườiđạt loại trung bình thì giữ nguyên, người đạt loại yếu thì thuyên chuyển làmviệc thấp hơn nếu vi phạm thì có thể cho về hưu hoặc sa thải… Cùng với việcsát hạch quan lại, triều đình phong kiến cũng áp dụng chế độ thưởng, phạt đểđảm bảo tính nghiêm minh của phép nước, làm cho các quan lại tuyệt đốitrung thành với vua, chăm chỉ làm việc, thanh liêm, chính trực Trong việc sửdụng hiền tài, ông cha ta không chỉ chú ý vào bằng cấp, mà quan trọng hơn làchú trọng người thực tài Vì thế, cũng có người tuy không đỗ đạt cao, nhưng
Trang 20cũng đã được đề bạt những chức vụ cao Bên cạnh việc sử dụng hiền tài, ôngcha ta chú trọng đến việc tôn vinh các bậc hiền tài, những người có đức, cótài, có công lớn với quê hương đất nước Những người này được đích thânnhà vua trọng thưởng tùy theo công trạng và khi chết đều được nhân dân thờcúng, suy tôn, là thần, là thánh.
Các triều đại phong kiến cũng đã đề ra những tiêu chuẩn về đức khilựa chọn hiền tài Đó phải là người tuyệt đối trung thành với vua, chính trực,ngay thẳng, không xu nịnh Vua Lê Thái Tổ có chiếu: "Truyền các quankhông được lễ nghi khánh hạ, cấm tham lam hay lười biếng, coi công việc củaquốc gia là công việc của mình, lấy điều lo của dân làm điều lo thiết kỷ, khiếncho xã tắc yên như Thái Sơn, cơ đồ vững như bàn thạch" [53, tr.192]
Tuy nhiên, do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo nên việc tuyển chọn,đào tạo và sử dụng người hiền tài của các triều đại phong kiến vẫn còn nhiềuhạn chế Nội dung đào tạo nặng về khoa học xã hội - nhân văn, nhẹ về khoahọc tự nhiên và khoa học kỹ thuật; thi cử thì quá nặng nề về phạm trường quy,khiến một số người thực tài không đỗ đạt, đối tượng đào tạo là con em nhàquý tộc hoặc giàu có, chưa chú ý đào tạo con nhà nghèo… Hạn chế lớn nhấtcủa các triều đại phong kiến là vua tôi cùng chung hoạn nạn, nhưng khôngcùng nhau hưởng phú quý… Điều đó xuất phát từ tư tưởng cha truyền connối, sợ người khác chiếm quyền, vì thế mà đố kỵ hiền tài Điều này xảy ra ởnhiều triều đại, điển hình là triều Hậu Lê, Nguyễn Trãi và một số trung thầntài năng kiệt xuất bị chết oan do gian thần hãm hại…
Trong lịch sử nước ta có nhiều tấm gương của những vị vua chúa anhminh biết trọng dụng hiền tài, nổi bật nhất là vua Quang Trung Ông khôngnhững là người biết quý trọng hiền tài, mà còn là người biết sử dụng hiền tài.Nếu so sánh trong lịch sử Trung Quốc có Lưu bị nổi tiếng ba lần đến lều tranh
để mời Gia Cát Lượng - Khổng Minh, thì ở Việt Nam có vua Quang Trung
Trang 21năm lần đến mời Nguyễn Thiếp Nếu so sánh về hoàn cảnh, Lưu Bị cầuKhổng Minh lúc thế cô thì Quang Trung đến cầu Nguyễn Thiếp lúc ở đỉnhvinh quang tối thượng So sánh như vậy, để thấy ông cha ta quý trọng hiền tàiđến nhường nào.
Tóm lại, cùng với quá trình dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã để lạinhững bài học quý báu, những tấm gương, những đúc kết của "phép trị nước",
đó là đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng người hiền tài Trọng đãi hiền tài chẳngnhững thể hiện một chủ trương, một chính sách sáng suốt trong đường lối chínhtrị an dân trị quốc của ông cha ta mà còn tỏ rõ giá trị và ý nghĩa cao cả củanhững tư tưởng và triết lý nhân văn sâu sắc trong phép dùng người của các bậcminh quân, có tầm nhìn xa trông rộng, biết trọng người tài đức, biết "chiêu hiền,đãi sĩ" vì sự hưng thịnh và bền vững của quốc gia Lịch sử dân tộc ta cũng đểlại nhiều bài học đắt giá, khi vua không minh lại không biết trọng dụng hiền tàithì đất nước dễ rơi vào giặc giã, bị các tai ương khác rình rập, đời sống chính trịkhông ổn định, lòng người ly tán, dẫn đến đổ vỡ cơ đồ Hồ Chí Minh đã tiếpthu bài học lịch sử, những quan niệm truyền thống về đào tạo và sử dụng hiềntài, coi đó là nhân tố có tính quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng
1.1.2.2 Hồ Chí Minh quán triệt những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về đào tạo và sử dụng đội ngũ chuyên gia
Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đã từng chỉ rõ vai trò to lớn củacon người trong lịch sử; chính yêu cầu nhiệm vụ của mỗi thời kỳ lịch sử sẽ đàoluyện ra đội ngũ đảm nhận trọng trách mà lịch sử đặt ra C.Mác và Ph.Ăngghenkhẳng định: "Muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lựclượng thực tiễn" [76, tr 181] Kế thừa tư tưởng đó V.I.Lênin cho rằng tronglịch sử "chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó khôngđào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đạibiểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào" [65, tr 473]
Trang 22Những con người sử dụng lực lượng thực tiễn, những lãnh tụ chính trị,
đó là đội ngũ cán bộ có tài năng đức độ, đội ngũ chuyên gia tài giỏi lãnh đạo
và tổ chức phong trào Để có đội ngũ đó cần phải tiến hành đào tạo, nếukhông, Đảng không thể thực hiện được những tư tưởng, không thể tổ chức vàlãnh đạo phong trào cách mạng của quần chúng, không thể thực hiện đượcnhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng Do đó, cách mạng muốn thành công, theoLênin vấn đề then chốt là cần có một đội ngũ "cán bộ chuyên nghiệp", phải có
"những người cán bộ bản lĩnh", nếu không tất cả các mệnh lệnh, các quyếtđịnh đều trở nên vô nghĩa, đều trở thành mớ giấy lộn
Sau khi Cách mạng tháng Mười thành công, Lênin đã nêu một cáchđúng đắn vấn đề tiêu chuẩn lựa chọn những người có đầu óc tỉnh táo và bảnlĩnh thực tế, giao cho họ đảm nhiệm những chức vụ lãnh đạo nhân dân tiếnhành lao động, quản lý công tác Trong thực tế, "có đầu óc tỉnh táo và bảnlĩnh thực tế" mà Lênin nêu ra chính là người có hội đủ cả đức và tài
Chủ nghĩa Mác - Lênin còn cho rằng, người lãnh đạo cách mạng phải
có đạo đức cao cả, có kiến thức sâu rộng về lý luận, thực tiễn trong đấu tranhcách mạng Lênin nhấn mạnh: "Làm sao các đồng chí có thể quản lý được nếunhư không có được uy tín chuyên môn, làm sao có thể quản lý được nếu không
có kiến thức đầy đủ, nếu không tinh thông khoa học quản lý" [68, tr 257] Vìvậy, Đảng Cộng sản và chính quyền Xôviết phải làm thế nào để "giữ gìn đượcnhư con ngươi của mắt mình, tất cả những chuyên gia nào có khả năng, có lòngyêu nghề của họ và làm việc một cách chân thành " [70, tr 429]; "Cần phảitrân trọng mọi chuyên gia như là thứ tài sản duy nhất về kỹ thuật và văn hóa,
mà không có cái đó thì không thể có chủ nghĩa cộng sản nào cả" [68, tr 250]
Nhấn mạnh vai trò quan trọng của những chuyên gia, những cán bộlãnh đạo giỏi, những người tài trong sự nghiệp cách mạng Lênin yêu cầu:
"Nhiệm vụ của chúng ta là qua thí nghiệm mà thu hút nhiều chuyên gia, rồi
Trang 23bồi dưỡng lớp cán bộ mới, lớp chuyên gia mới để học cho bằng được công tácquản lý, một công tác mới, hết sức khó khăn, phức tạp, để thay thế chuyên giacũ" [67, tr 489] Theo Lênin, chủ nghĩa cộng sản chỉ có thể trở thành hiệnthực trên cơ sở một nền học vấn cao và khoa học - kỹ thuật tiên tiến, hiện đại.
Do đó, khi Đảng Cộng sản nắm chính quyền, Lênin tập trung chú ý đào tạonhững chuyên gia, những nhà lãnh đạo, quản lý có học vấn cao, có trình độkhoa học kỹ thuật tiên tiến Đây chính là động lực cơ bản nhất cho việc xâydựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Người viết: "không có sự chỉđạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinhnghiệm, thì không thể chuyển lên chủ nghĩa xã hội được" [66, tr 317] Lãnhđạo công cuộc xây dựng nước Nga đi lên chủ nghĩa xã hội, Lênin chủ trương
ra sức lựa chọn những người có tài tổ chức, quản lý ngay trong "hàng ngũ củachính giai cấp chúng ta", đồng thời đánh giá cao chuyên gia tư sản và rấtmạnh dạn sử dụng họ với các ưu đãi đặc biệt trong công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội, vì lợi ích lâu dài của chủ nghĩa xã hội Lênin thường nhắc nhởviệc lựa chọn, sử dụng chuyên gia phải thật sự khoa học, đúng vị trí và xuấtphát từ nhiệm vụ cách mạng, phải xét xem có lợi cho sự nghiệp không, vàngười được chọn có xứng đáng với chức vụ người ấy đảm nhiệm không
Kết quả của việc sử dụng chuyên gia có hữu hiệu hay không, theo Lênin,trước hết được đánh giá bởi cách tiến hành công việc tuyển chọn chuyên gia,
ở chỗ biết phát hiện họ, biết sử dụng họ, biết thực sự cộng tác giữa cácchuyên gia và người cộng sản Người nói: "Người cộng sản lãnh đạo chỉ cómột cách duy nhất để chứng minh quyền lãnh đạo của mình, đó là tìm chomình được nhiều, càng ngày càng nhiều chuyên gia , biết giúp đỡ họ làmviệc, biết đề bạt họ, biết giới thiệu và chú ý đến kinh nghiệm của họ" [69, tr.429] Còn những người đảng viên cộng sản nào chỉ bàn luận suông về "lãnhđạo" mà không biết sử dụng, đề bạt, sắp xếp các chuyên gia làm việc, không
Trang 24biết làm cho các chuyên gia đạt được kết quả thực tế, thì người đảng viêncộng sản đó thật là vô dụng, ông đã phải thốt lên rằng ông sẵn sàng đổi một tácộng sản tồi để lấy một chuyên gia giỏi
Trong điều kiện nước Nga sau Cách mạng Tháng Mười, vấn đề có ýnghĩa đặc biệt trong việc xây dựng, đào tạo đội ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa,
đó là đào tạo đội ngũ trí thức kỹ thuật và sản xuất Bởi vì, xét đến cùng chủnghĩa xã hội chiến thắng chủ nghĩa tư bản là ở "năng suất lao động cao hơnchủ nghĩa tư bản" và có thể đảm đương được việc thúc đẩy sản xuất phát triểnchính là đội ngũ các nhà khoa học kỹ thuật Muốn xây dựng một xã hội mới,muốn có năng suất lao động cao, con người phải có tri thức khoa học, Lêninnói: "chủ nghĩa cộng sản là chính quyền Xôviết cộng với điện khí hóa toànquốc" Nhưng điện khí hóa không thể do người mù chữ thực hiện được vàmột học vấn thô sơ không thể áp dụng được công việc đó Không có một nềnhọc vấn hiện đại thì chủ nghĩa cộng sản chỉ là một nguyện vọng mà thôi NhưC.Mác và Ph Ăngghen đã cảnh báo: "Sự ngu dốt là sức mạnh của ma quỷ vàchúng ta lo rằng, nó sẽ còn là nguyên nhân của nhiều bi kịch" [75, tr 166].Lênin yêu cầu phải phát triển giáo dục và đào tạo đội ngũ trí thức có trình độ
"văn hóa cao" và những kiến thức chuyên môn sâu sắc trở thành những
"chuyên gia Xôviết" có đầu óc tổ chức và quản lý giỏi, có phẩm chất chính trị,đạo đức và nghiệp vụ cao cùng với Đảng Cộng sản tham gia lãnh đạo quầnchúng nhân dân lao động xây dựng nước Nga hùng mạnh hơn
Trong quá trình đào tạo đội ngũ tri thức non trẻ, Lênin cho rằng điềukiện quyết định để thực hiện việc cải tạo kỹ thuật đối với nền kinh tế nước Nga,
là Nhà nước phải đào tạo được đội ngũ đông đảo hàng trăm, hàng nghìn cán bộ
kỹ thuật cao cấp Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội từ một nước tư bảnnghèo, thì "cán bộ kỹ thuật quyết định tất cả" là điều kiện để tăng năng suất laođộng Do đó, Đảng và Đảng bộ dân ủy giáo dục phải đề ra hàng loạt biện
Trang 25pháp nhằm thống nhất quy chế đào tạo cán bộ trẻ các trường học, nâng cao tỉtrọng hàng ngũ các chuyên gia, đẩy mạnh việc đào tạo cán bộ kỹ thuật ở cáccộng hòa liên bang, "trẻ hóa" thành phần học sinh Đặc biệt, cần đẩy mạnh việcđào tạo nghiên cứu sinh để tiến tới xây dựng một đội ngũ bác học xã hội chủnghĩa Thực tế sau này chứng minh, ở Liên Xô có đội ngũ các nhà khoa học,bác học giỏi vào bậc nhất thế giới, có số lượng nhiều hơn Mỹ Đó là do chínhsách đào tạo đúng đắn mà Lênin và chính quyền Xô viết đã khởi xướng.
Tóm lại, những quan điểm đúng đắn của V.I Lênin về đào tạo và sửdụng đội ngũ chuyên gia trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô
đã có tác dụng to lớn đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Nhà nước Đây làmột trong những cơ sở cực kỳ quan trọng hình thành và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh về đào tạo, sử dụng người hiền tài trong quá trình lãnh đạo cáchmạng Việt Nam
1.2 NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ ĐÀO TẠO
VÀ SỬ DỤNG NGƯỜI HIỀN TÀI
1.2.1 Về đào tạo người hiền tài
1.2.1.1 Tầm quan trọng của việc phát triển giáo dục để đào tạo hiền tài
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, người hiền tài có vị trí, vai trò cực kỳquan trọng đối với thành công của cách mạng Hiền tài là vốn quý của dân tộc
và thời nào cũng cần, nhất là đất nước ta sau 80 năm bị kìm hãm dưới áchthống trị của chủ nghĩa thực dân cái gì cũng kém cỏi, lạc hậu, thiếu thốn trăm
bề, cần phải kiến thiết về mọi mặt: ngoại giao, kinh tế, quân sự, giáo dục Do
đó, cần phải có nhiều người tài đức đảm đương, nhưng để có người tài đức thìphải phát triển giáo dục Giáo dục là một trong những khâu quan trọng nhấttrong việc đào tạo nên những người có đức, có tài, một nguồn nhân lực chấtlượng cao góp phần trực tiếp vào tiến trình lịch sử của dân tộc và thời đại
Ông cha ta cũng từng khẳng định:
Trang 26Các bậc hiền nhân tài giỏi là yếu tố cốt tử đối với một chỉnhthể Khi yếu tố này dồi dào thì đất nước tăng tiến mạnh mẽ và phồnthịnh Khi yếu tố này kém đi thì quyền lực đất nước bị suy giảm vànhững người giỏi, có học thức là sức mạnh đặc biệt quan trọng đốivới đất nước [95, tr 4]
Trong bài ký đề tên tiến sĩ khoa thi năm 1478 còn ghi: "Trời mở cuộcthịnh trị thái bình ức vạn niên cho nước nhà, ắt sinh ra các bậc hiền tài đểnước nhà sử dụng Bởi vì, nền giáo hóa thịnh trị là gốc ở việc có người tài,người hiền tài đông đảo là do giáo dưỡng…" [53, tr.184]
Bài ký nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc chăm lo, nuôidưỡng và đào tạo nên những người có đức, có tài để bồi đắp thêm "nguyênkhí" Vai trò nhà nước, người đứng đầu chế độ phong kiến là nhà vua Muốnbồi dưỡng được hiền tài, thì nhà vua phải biết chăm lo cho dân, cho nước,khiến cho nước mạnh, dân giàu Nói sự giáo hóa là nói đến sự quan tâm đặcbiệt của nhà vua đối với việc giáo dục, tuyển chọn và đãi ngộ hiền tài Tronglịch sử dân tộc, vua Lê Thánh Tông là một minh quân có tầm nhìn xa, trôngrộng, có tinh thần yêu nước thương dân, chú trọng đến đào tạo và sử dụng ngườihiền tài trong xây dựng đất nước, đưa quốc gia Đại Việt trở thành thịnh trị
Sớm nhận rõ tầm quan trọng của phát triển giáo dục, đào tạo người cóđức, có tài cho đất nước, năm 1919, trong yêu sách gửi Nghị viện Pháp và cácđoàn đại biểu dự Hội nghị Versailles, Hồ Chí Minh đã nêu 8 yêu sách đòiquyền bình đẳng, tự do cho nhân dân An Nam, trong đó Điều 6 yêu cầu phảiđược: "Tự do học tập, thành lập các trường kỹ thuật và chuyên nghiệp ở tất cảcác tỉnh cho người bản xứ" Đây là quyền tự do của mọi người được hưởng sựgiáo dục không hạn chế, được làm chủ kho tàng tri thức của loài người Trongđiều kiện lúc bấy giờ, đó là quyền được phát triển các loại trường ngoài hệthống trường công của thực dân Pháp, nhằm mở mang dân trí, đào tạo đội ngũ
Trang 27những người có đức, có tài kiến thiết đất nước, đưa dân tộc thoát khỏi nghèonàn và lạc hậu.
Hồ Chí Minh đã tố cáo đanh thép bản chất thâm độc của chủ nghĩa thựcdân trong lĩnh vực giáo dục ở thuộc địa Mục đích của nền giáo dục đó là nhằmđào tạo những viên chức tay sai cho bộ máy cai trị thực dân Học không phải để
mở mang trí tuệ, phát triển tư tưởng cho nhân dân mà trái lại làm cho "dân ngu
để dễ trị" Vì vậy, trong Chương trình Việt Minh (1941), Người đã đặt vấn đề phát
triển giáo dục, đào tạo ra nguồn nhân lực phục vụ đất nước với bốn vấn đề cơ bản:
1 Hủy bỏ nền giáo dục nô lệ Gây dựng nền quốc dân giáodục Cưỡng bức giáo dục từ bực sơ học…
2 Lập các trường chuyên môn huấn luyện chính trị, quân
sự, kỹ thuật để đào tạo các lớp nhân tài
3 Khuyến khích và giúp đỡ các hạng trí thức được pháttriển tài năng của họ
4 Khuyến khích và giúp đỡ nền giáo dục quốc dân làm chonòi giống ngày thêm mạnh [42, tr.584]
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, trong phiên họp đầu tiên của Chínhphủ nước Việt Nam Dân Chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh đặt vấn đề chống nạndốt Bởi vì, "nạn dốt là một phương pháp độc ác mà bọn thực dân dùng để caitrị chúng ta" và "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" [43, tr.8] Nền giáo dụctốt sẽ góp phần đắc lực vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước Ngườichỉ rõ mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục với cách mạng:
Muốn giữ vững nền độc lập,Muốn làm cho dân mạnh nước giàu,Mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổnphận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào côngcuộc xây dựng nước nhà… [43, tr 36]
Trang 28Vì thế, giáo dục có tầm quan trọng hàng đầu trong chiến lược con
người, bởi giáo dục, đào tạo nên chất người, nên đội ngũ những người có đức,
có tài cho đất nước Cùng với Sắc lệnh xóa nạn mù chữ, Hồ Chí Minh ký sắclệnh quan trọng khác: Sắc lệnh ngày 8-9-1945 quyết định khai giảng cáctrường đại học, cao đẳng vào ngày 15-11-1945; sắc lệnh ngày 10-10-1945thành lập Ban đại học khoa văn Hà Nội
Khi đã giành được chính quyền trong cả nước, Người quan tâm nhiềuđến công tác đào tạo cán bộ, đào tạo nhân tài cho đất nước Trong bài viết:
Nhân tài và kiến quốc, Hồ Chí Minh khẳng định, muốn kiến thiết phải có
nhân tài, đất nước đang "kiến thiết ngoại giao, kiến thiết kinh tế, kiến thiếtquân sự, kiến thiết giáo dục", những "kiến thiết" ấy đòi hỏi phải có nguồnnhân lực dồi dào và cần có những người hiền năng "đem hết lòng hăng hái đóvào con đường kiến quốc" Muốn có đông đảo người tài đức đảm đương cho
sự nghiệp kiến thiết ấy, yếu tố quyết định là phải phát triển giáo dục Đó phải
là nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam - nền giáo dục Việt Nam xã hội chủnghĩa mang tính nhân đạo và tính dân chủ cao cả, bảo đảm cho sự phát triểntoàn diện năng lực sẵn có của con người
Người chủ trương xây dựng nền giáo dục mới nhằm mục đích đào tạonên những công dân vừa có đức, vừa có tài phục vụ cho đất nước Người nhấnmạnh: "mục đích giáo dục bây giờ là phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đàotạo lớp người, lớp cán bộ mới" [47, tr.183] Trong xã hội mới, người họckhông phải để kiếm lấy mảnh bằng để làm ông thông, ông ký hay để đi làmquan mà học để sửa chữa tư tưởng, học để tu dưỡng đạo đức cách mạng, học
để tin tưởng, học để hành, học để quyết tâm hy sinh bền gan chiến đấu đếncùng cho lý tưởng cách mạng Nhân dịp đến thăm trường Nguyễn Ái QuốcTrương ương năm 1949, Người đã ghi vào sổ vàng của trường lời căn dặnmục đích đào tạo cán bộ mới là:
Trang 29Học để làm việc,làm người,
làm cán bộ
Học để phụng sự Đoàn thể,
"giai cấp và nhân dân"
Tổ quốc và nhân loại"
Muốn đạt mục đích, thì phải cần, kiệm, liêm, chính,
chí công, vô tư [44, tr.684]
Người yêu cầu nền giáo dục mới phải ra sức tẩy sạch ảnh hưởng giáodục nô dịch của thực dân còn sót lại như: thái độ thờ ơ với xã hội, xa lạ vớiđời sống lao động và đấu tranh của nhân dân, học để lấy bằng cấp, dạy theolối nhồi sọ Phải làm thay đổi nếp sống, thói quen, ý nghĩ và thành kiến sâu xahàng ngàn năm, xây dựng tư tưởng: dạy và học để phục vụ Tổ quốc, phục vụnhân dân cho phù hợp với sự nghiệp đào tạo nhân tài kháng chiến và kiếnquốc Do đó, "Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức Đức là
đạo đức cách mạng Đó là cái gốc, rất quan trọng Nếu không có đạo đức
cách mạng thì có tài năng cũng vô dụng" [50, tr.329] Từ đó, từng bước hìnhthành nên những lớp người Việt Nam không chỉ giàu về tri thức mà còn giàuđạo đức cách mạng
Người cũng nói: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất định phải
có học thức" [49, tr.306] nhưng để có chủ nghĩa xã hội, suy cho cùng thì
"trước hết, cần có những con người xã hội chủ nghĩa", mà muốn đào tạonhững con người xã hội chủ nghĩa không có con đường nào khác là giáo dụctri thức khoa học và lý tưởng đạo đức xã hội chủ nghĩa Vì vậy, giáo dục cóvai trò quyết định đối với việc mở mang dân trí, cải tạo con người cũ, xâydựng con người mới Đó là những con người mang thế giới quan khoa học,
Trang 30nhân sinh quan cách mạng Hồ Chí Minh gọi đó là những con người xã hộichủ nghĩa, những con người vừa "hồng" vừa "chuyên", có đức, có tài, có trí thức,
có sức khỏe, trình độ khoa học kỹ thuật… những con người có đủ năng lực,phẩm chất để làm chủ cuộc sống của bản thân và làm chủ vận mệnh của quốcgia, dân tộc Theo Người, xây dựng con người xã hội chủ nghĩa - hiền tài chođất nước trong thời đại mới sao cho đạt được những tiêu chuẩn cơ bản sau:
Có tư tưởng xã hội chủ nghĩa: Có ý thức làm chủ, có tinh thần tập thể
xã hội chủ nghĩa, có tư tưởng "mình vì mọi người, mọi người vì mình"; cótinh thần tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội; có tinhthần ham học hỏi, dám nghĩ, dám làm, vươn lên hàng đầu
Có đạo đức và lối sống xã hội chủ nghĩa: Yêu thương con người, trungvới nước, hiếu với dân; cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; có tinh thầnquốc tế trong sáng; có lối sống trong sạch, lành mạnh
Có tác phong xã hội chủ nghĩa: Lao động có kế hoạch, có phươngpháp, có tổ chức, có quyết tâm; lao động có tổ chức, có kỷ luật, lao động cónăng suất cao, chất lượng, có hiệu quả; lao động quên mình không sợ khó,không sợ khổ vì lợi ích của xã hội, của tập thể và của bản thân
Có năng lực làm chủ bản thân, làm chủ gia đình và công việc mà mìnhđảm nhiệm, với tư cách là công dân tham gia làm chủ Nhà nước và xã hội;phải không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật,chuyên môn và nghiệp vụ để làm chủ
Để đạt được mục tiêu giáo dục, Hồ Chí Minh chỉ rõ mỗi một cấp giáodục cần nhận rõ nhiệm vụ của mình:
- Đại học thì cần kết hợp lý luận khoa học với thực hành, ra
sức học tập lý luận và khoa học tiên tiến của các nước bạn, kết hợpvới thực tiễn của nước ta, để thiết thực giúp ích cho công cuộc xâydựng nước nhà
Trang 31- Trung học thì cần đảm bảo cho học trò những tri thức phổ
thông chắc chắn, thiết thực, thích hợp với nhu cầu và tiền đồ xâydựng nước nhà, bỏ những phần nào không cần thiết cho đời sốngthực tế
- Tiểu học thì cần giáo dục các cháu thiếu nhi: yêu Tổ quốc,
yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, trọng của công [47, tr 81]
Có như vậy, thế hệ trẻ mới có thể tích lũy được những tri thức cầnthiết, tạo tiền đề phát huy năng lực sáng tạo, góp phần quan trọng vào sựnghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của dân tộc
Để thực hiện được sự nghiệp lớn lao ấy, nền giáo dục mới phải tạomọi điều kiện, định hướng cho tất cả mọi người không phân biệt giai cấp,đảng phái, chính kiến, giàu nghèo… được học tập, được phát huy năng lực và
sở trường của mình Muốn cho dân giàu, nước mạnh thì dân trí phải cao, phải
đa dạng hóa các loại hình đào tạo, mở trường vừa học, vừa làm để tạo điềukiện cho người lao động, cán bộ, chiến sĩ được đi học Người nói: "Công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc đòi hỏi Đảng ta phải nắm vững khoa
học và kỹ thuật, do đó mỗi đảng viên phải cố gắng học tập văn hóa, học tập khoa học và kỹ thuật" [49, tr.21] Do đó, nếu chúng ta không mở mang, phát
triển giáo dục để đào tạo ra đội ngũ những người lao động có trình độ cao,những người cán bộ có năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức, chính trị thì
sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước khó có thể đi đến thành công
Về phương pháp đào tạo người tài đức, theo Hồ Chí Minh giáo dụcchỉ phát huy hết vai trò, sức mạnh của mình khi có phương châm, phươngpháp giáo dục đúng đắn và khoa học Nói cách khác, phải có công nghệ
"trồng người" phù hợp với thực tế nước ta, phù hợp với đặc thù của thanhniên nước ta Hồ Chí Minh nhiều lần căn dặn những người làm công tác quản
lý giáo dục, các nhà giáo phải luôn luôn gắn nội dung giáo dục với thực tiễn
Trang 32Việt Nam Trong giáo dục phải kết hợp cả ba khâu: gia đình, nhà trường, xãhội Xem nhẹ bất kỳ một khâu nào cũng đều hạn chế đến kết quả của giáodục, thậm chí có thể đưa lại, những hậu quả khó lường Phải kết hợp chặt chẽhọc đi đôi với hành, lý luận với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội.Người nói: "học thì phải hành, học để hành, học mà không hành thì vô ích" và
"học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tế, phải có thí nghiệm và thựchành Học với hành phải kết hợp với nhau" [50, tr.331]
Nền giáo dục phải lấy người học làm trung tâm, tùy từng đối tượng vànội dung cụ thể, lựa chọn phương pháp thích hợp nhằm tạo sự hưng phấntrong học tập và khuyến khích người học tìm tòi, sáng tạo Phải thực hiện dânchủ, bình đẳng trong giáo dục, bởi dân chủ là chìa khóa, là động lực của tiến
bộ và phát triển Trong học tập, người học sinh cần được và phải được thựchiện các quyền học tập theo một phương pháp đúng đắn: Học - hỏi - hiểu -hành, được trao đổi, tranh luận cùng thầy, cùng bạn Đồng thời, người họccũng phải phát huy tinh thần hiếu học, cầu tiến bộ, ý thức tự học, học tậpkhông biết mỏi, học suốt đời, học mọi lúc, mọi nơi, học mọi người Tri thứccủa nhân loại là mênh mông, vô tận không ai có quyền hài lòng với vốn hiểubiết của mình Trong thời đại khoa học kỹ thuật, nếu dừng lại có nghĩa là lùibước, là mình tự đào thải mình Sự học là không có điểm dừng: "Học mãi đểtiến bộ mãi Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm" [5, tr.588]
Vai trò của người thầy đối với sự nghiệp giáo dục
Tấm gương về đạo đức, nhân cách và tài năng của người thầy có tácđộng rất lớn đến việc hoàn thiện nhân cách cũng như tài năng của học sinh
Sự ngưỡng mộ về đạo đức, sự kiên trì phấn đấu thực hiện ước mơ hoài bão, lýtưởng của thầy giáo hình thành nên cốt cách tâm hồn của học sinh Do đó,trong chiến lược phát triển giáo dục, việc trước tiên là phải chú trọng pháttriển đội ngũ những người thầy tài đức, có tâm huyết, nhiệt tình, có nhân cách
Trang 33tốt hết lòng vì học sinh, phấn đấu suốt đời vì sự nghiệp giáo dục và đào tạohiền tài cho đất nước và là những tấm gương sáng cho học sinh noi theo.Người nói: "học trò tốt hay xấu là do thầy giáo, cô giáo tốt hay xấu… Muốncho học có đức thì giáo viên phải có đức Có tài mà không có đức là hỏng, cóđức mà chỉ i tờ thì dạy thế nào" [48, tr.492]
Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở các cấp ủy, chính quyền, các ngànhcác giới, các đoàn thể quần chúng và toàn xã hội phải nhận thức đúng tầmquan trọng của giáo dục, coi giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, là nhiệm
vụ của toàn Đảng, toàn dân; phải thật sự quan tâm đến công tác giáo dục, giúp
đỡ nhà trường về mọi mặt, phát huy cao độ dân chủ trong nhà trường để tạonên sự đoàn kết nhất trí giữa thầy với thầy, thầy với trò, trò với trò, tạo ra mốiquan hệ mật thiết giữa nhà trường - gia đình - xã hội để hoàn thành thắng lợinhiệm vụ "bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau"
Như vậy, theo Hồ Chí Minh giáo dục có vai trò hết sức to lớn trong
việc cải tạo con người cũ, xây dựng con người mới, trong Nhật ký trong tù,
Hồ Chí Minh viết: "Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn Phần nhiều do giáo dục mànên" [42, tr.383] Giáo dục bản thân nó cũng phải có chiến lược Chiến lượcgiáo dục là hạt nhân trong chiến lược con người, cung cấp tri thức mới, đàotạo nên những người có đức, có tài phục vụ đất nước, đưa dân tộc Việt Nam
"bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu"
1.2.1.2 Đào tạo hiền tài cho đất nước - Một nội dung quan trọng của bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau
Hồ Chí Minh khẳng định trong bất kỳ thời đại nào, giai đoạn nào củacách mạng, thanh niên luôn là lực lượng quan trọng của dân tộc Tương laicủa dân tộc, tiền đồ của Tổ quốc và sự thành công của cách mạng phần lớnphụ thuộc vào thanh niên, họ là người chủ tương lai của nước nhà, "nước nhàthịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên" [44, tr.185]
Trang 34Do đó, bất cứ quốc gia và chế độ xã hội nào muốn tồn tại và phát triển, muốnvững vàng và cường thịnh, đều phải quan tâm, chăm lo giáo dục, bồi dưỡngthế hệ cách mạng cho đời sau.
Theo Hồ Chí Minh, thanh niên là lớp người trẻ tuổi có hoài bão, ước
mơ, giàu nghị lực và rất khát khao với lý tưởng cao đẹp, có đức xả thân vìnghĩa lớn Nếu được giáo dục tốt, phù hợp với tính cách và tâm lý, một nềngiáo dục tiến hành trên cơ sở tạo ra những điều kiện vật chất, tinh thần cho sựphát triển tính cách, tâm lý đó, và biết định hướng, động viên đúng mức,thanh niên sẽ say sưa với lý tưởng sống cao đẹp, phát huy tài năng, tính sángtạo, sẵn sàng hy sinh vì đại nghĩa
Hồ Chí Minh cho rằng muốn thức tỉnh dân tộc, trước hết phải thứctỉnh thanh niên và "Một năm khởi đầu từ mùa xuân Một đời khởi đầu từ tuổitrẻ Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội" [43, tr 167] Với tư cách là đội ngũ dự
bị, lực lượng kế cận hùng hậu của cách mạng và là những người chủ tương laicủa nước nhà, các thế hệ trẻ - trước hết là thanh niên, có trách nhiệm kế tục sựnghiệp cách mạng, thực hiện sứ mệnh lịch sử vẻ vang mà lớp người đi trước
đã chuyển giao vào tay mình Hồ Chí Minh nói:
Ngày nay chúng ta cần phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên
đã để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước kháctrên hoàn cầu Trong công cuộc kiến thiết đó, nước nhà trông mongchờ đợi ở các em rất nhiều Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹphay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánhvai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờmột phần lớn ở công học tập của các em [43, tr.33]
Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã thấy tri thức là sức mạnh, là tài sản vôgiá của quốc gia, dân tộc Một đất nước muốn giàu mạnh và có thể sánh vaivới các cường quốc trên thế giới phải là đất nước có chiến lược đào tạo thế hệ
Trang 35trẻ "Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồngngười" [48, tr.222] Sự nghiệp "trồng người" chính là giáo dục, đào tạo, rènluyện những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân.Muốn có đội ngũ những người tài đức thì phải "trồng" và dĩ nhiên đây là một
công việc rất khó khăn và lâu dài, cần phải công phu và bền bỉ
Để làm tròn trọng trách người chủ tương lai của đất nước, thanh niênphải được giáo dục, bồi dưỡng một cách thường xuyên và toàn diện về đứcdục, trí dục, mỹ dục, kỹ thuật tổng hợp Có như vậy, họ mới hội đủ các phẩmchất, năng lực cần thiết, cả về trí tuệ lẫn bản lĩnh chính trị, cả về nhân cách,đạo đức lẫn sức khỏe, để đáp ứng những yêu cầu của công cuộc đấu tranh bảo
vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội Người viết: "Trong việc giáo dục và họctập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủnghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất" [49, tr.190] Giáo dục kết hợpchặt chẽ văn hóa, khoa học kỹ thuật với chính trị Người nhấn mạnh: Phải rasức học tập chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật, bởi vì nếu không học tậpvăn hóa, không có trình độ văn hóa thì không thể tiếp thu khoa học kỹ thuật
và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Nếu chỉ học văn hóa, khoa học
kỹ thuật mà không học tập chính trị thì "như người nhắm mắt mà đi" Việcgiáo dục thanh niên không phải chỉ là công việc thuần túy dạy chữ mà dạyngười, thông qua dạy nghề mà rèn luyện toàn diện cả thể lực, trí lực, đạo đức
để hình thành nhân cách người thanh niên mới
Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, Hồ Chí Minh đặc biệt coitrọng giáo dục cả đạo đức và tài năng, và mối quan hệ giữa hai mặt đó trong
sự hoàn thiện nhân cách con người mới, phải giáo dục họ luôn nâng cao tìnhyêu Tổ quốc, yêu chủ nghĩa xã hội, tăng cường tình cảm cách mạng đối vớicông nông, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng, triệt để tin tưởngvào sự lãnh đạo của Đảng, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ nào mà Đảng và
Trang 36nhân dân giao cho Đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô
tư, khiêm tốn giản dị; biết tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, trí tuệ của tậpthể, của nhân dân và kiên quyết đấu tranh từ bỏ chủ nghĩa cá nhân
Trong mối quan hệ giữa đức và tài, Hồ Chí Minh coi đức là gốc củatài Người nói: "Phải có chính trị trước rồi có chuyên môn…chính trị là đức,chuyên môn là tài… Đức phải có trước tài" [48, tr.492] Hồ Chí Minh yêucầu: tài lớn thì đức càng phải cao, đạo đức là nền tảng, là bệ đỡ cho tài năng,
vì khi đã có cái trí thì cái đức chính là cái đảm bảo cho người cách mạng giữvững được chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, đã chấp nhận và lựa chọn tin theo.Người cũng nói:
Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồnthì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Ngườicách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấycũng không lãnh đạo được nhân dân Vì muốn giải phóng cho dântộc, giải phóng cho loài người là một công việc to tát, mà tự mìnhkhông có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủ hóa, xấu xa thìcòn làm nổi việc gì? [44, tr 252-253]
Và sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa Người cách mạngphải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn toàn được nhiệm vụ cáchmạng vẻ vang
Trong nhiều bài nói, bài viết, Hồ Chí Minh đã đề cập đức và tài củacon người với góc độ cụ thể, tùy theo tính chất đặc điểm của từng đối tượng.Đối với thanh niên, những chủ nhân tương lai của đất nước, lực lượng kế tục
sự nghiệp của cha anh xây dựng đất nước sánh vai cùng các cường quốc nămchâu, Hồ Chí Minh yêu cầu phải quan tâm "chăm lo giáo dục đạo đức cáchmạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xãhội vừa "hồng" vừa "chuyên"
Trang 37Với giáo viên, những người trực tiếp làm công tác giáo dục, đào tạocác thế hệ cách mạng kế tiếp, Người yêu cầu phải rèn luyện cả đức và tài.Đức là chính trị, tài là chuyên môn Người còn sử dụng hình ảnh ẩn dụ đểdiễn đạt mối quan hệ đức tài của các nhà giáo: chính trị là hồn, chuyên môn làxác, chuyên môn không có, chính trị như xác không hồn Người nói tóm lại,đức tài của người giáo viên: đức là chính trị, tài là chuyên môn và nhấn mạnhvai trò đạo đức, tính gương mẫu, mô phạm của nhà giáo "có tài mà không cóđức là hỏng, có đức mà chỉ i tờ thì dạy thế nào?".
Với đội ngũ cán bộ, Người thường đặt thẳng vấn đề nâng cao đạo đứccách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, còn tài năng được Người đề cập đếntrình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ, hoặc nêu gương tốt trong công tác,học tập Sự kết hợp giữa đức và tài, hồng và chuyên là quan điểm nhất quán,xuyên suốt trong tư duy Hồ Chí Minh về xây dựng thế hệ trẻ, xây dựng độingũ cán bộ cách mạng
Theo Hồ Chí Minh, sự nghiệp cách mạng, sứ mệnh của Đảng thì lâu dài
mà cuộc đời của mỗi thế hệ thì ngắn ngủi, "theo quy luật tự nhiên, già thì phảiyếu, yếu thì phải chết Nếu không có cán bộ mới vào thì ai gánh vác công việccủa Đảng" [44, tr.237] Vì vậy, "Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau làmột việc rất quan trọng và rất cần thiết" [51, tr.510], trong Di chúc, Người nhắcnhở "Đảng phải chăm lo giáo dục đạo đức cho họ, đào tạo họ thành những ngườithừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên"" [51, tr 498]
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minhluôn chăm lo giáo dục thế hệ trẻ Người đã trực tiếp giảng dạy, đào tạo, bồidưỡng nên bao thế hệ cán bộ cho cách mạng Việt Nam Người là thầy giáoNguyễn Tất Thành ở Trường Dục Thanh (Phan Thiết), thầy Vương ở các lớphuấn luyện chính trị ở Quảng Châu (Trung Quốc), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốctại các lớp huấn luyện chính trị cán bộ ở Cao Bằng… Chính qua hoạt động
Trang 38thực tiễn phong phú đó, Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta những quan điểm
về phát triển giáo dục, đào tạo những người có đức, có tài cho đất nước Tưtưởng đó của Người vẫn nguyên giá trị, vẫn sáng mãi tính khoa học và cáchmạng, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc trong giai đoạn mới Đó là nhữngbài học vô cùng quý giá để chúng ta học tập, và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt làm tốthơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những người có đức,
có tài đáp ứng nhu cầu cao của công cuộc đổi mới vì sự phồn vinh của đất nước
1.2.2 Về sử dụng người hiền tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về sử dụng người hiền tài là một tư tưởng lớn,
có ý nghĩa chiến lược trong toàn bộ hệ thống tư tưởng chỉ đạo cách mạng ViệtNam Bởi vì, cách mạng có thành công hay không, kháng chiến và kiến quốc
có thắng lợi hay không, đất nước và dân tộc Việt Nam có "bước tới đài vinhquang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không", trước hết
và cơ bản tùy thuộc vào sức mạnh của cả dân tộc, mà cốt lõi và tinh túy củasức mạnh ấy, chính là tài trí của các bậc hiền tài Là người thông tuệ, có nhãnquan chính trị nhạy bén, sắc sảo, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng sử dụngngười hiền tài Người còn thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng đội ngũcán bộ đủ đức, đủ tài để phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau khi được thành lập, vẫn cònbộn bề khó khăn, thù trong, giặc ngoài, Hồ Chí Minh không chỉ quan tâm đếnviệc phát triển giáo dục mà còn quan tâm tìm người tài đức xây dựng đất nước
Trong bài viết Nhân tài và kiến quốc, đăng trên báo Cứu quốc (14-11-1945),
Hồ Chí Minh xác định: "Kiến thiết cần có nhân tài" Vì vậy, Người thực sựmong mỏi đồng bào ai có tài năng và sáng kiến về những công việc ngoạigiao, kinh tế, quân sự, giáo dục, lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thìgửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ Điều này thể hiện tính dân chủ rộng rãi,lòng thiết tha, thực sự cầu hiền tài ra giúp dân, giúp nước với cách làm rất cụ
Trang 39thể, công khai của Người Theo Hồ Chí Minh, một quốc gia, một đất nướckhông biết sử dụng nhân tài là một khuyết điểm to, làm lãng phí vốn quý củaĐảng và Nhà nước trong xây dựng và kiến thiết, khuyết điểm đó trước hết làcủa người lãnh đạo, và chính Người cũng tự phê bình và nhận khuyết điểm đó.
Sau một năm ra lời kêu gọi Nhân tài và kiến quốc, Hồ Chí Minh chủ trương Tìm người tài đức (20-11-1946) Người khẳng định: "Nước nhà cần
phải kiến thiết Kiến thiết cần phải có nhân tài Trong số 20 triệu đồng bàochắc không thiếu người có tài có đức" [43, tr.451]
Để tìm được người tài đức, Hồ Chí Minh đã yêu cầu các địa phươngtrong vòng một tháng phải điều tra và báo cáo với Chính phủ những "ngườitài đức", "những người có thể làm được những việc ích nước, lợi dân" đểtrọng dụng Đi đôi với việc tìm người tài đức giúp ích cho đất nước, Hồ ChíMinh yêu cầu người lãnh đạo, quản lý phải biết trọng dụng những người cótài, có đức, nếu không sẽ làm "thui chột" tài năng của họ Người lãnh đạo phảibiết chăm lo phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng hiền tài và phải biết sử dụng hiềntài một cách hợp lý Người cho đây là việc phải làm thường xuyên, liên tụcnhư "người làm vườn vun trồng những cây cối quý báu Phải trọng nhân tài,trọng cán bộ, trọng mỗi một người có ích cho công việc chung của chúng ta"[44, tr.273], "Phải khuyến khích nhân dân góp phần xây dựng Đảng như: góp
ý kiến với chi bộ trong việc tuyển chọn người vào Đảng, tuyển chọn cán bộlãnh đạo" [51, tr.481] Để sử dụng được người hiền tài, theo Hồ Chí Minh cầnthực hiện tốt các quan điểm sau:
Một là, " khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng" người tài đức
Từ rất sớm Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò quan trọngcủa hiền tài đối với quốc gia, đồng thời cũng chính Người nêu lên quan điểm
"Khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển,càng thêm nhiều", Nhà nước phải "trọng dụng những kẻ hiền năng"
Trang 40Khéo lựa chọn tức là phát hiện, tuyển chọn đúng và trúng người có đủ
tài, đủ đức
Khéo phân phối, tức là khi tuyển chọn hiền tài phải căn cứ vào ưu thế
về tố chất và sở trường về tài năng để bố trí công việc giúp hiền tài phát huyđược sở trường, năng lực của mình và đem lại kết quả cao trong công việc.Không nên quá cầu toàn mà cần phải khéo phân phối Người nói:
Việc dùng nhân tài, ta không nên căn cứ vào những điềukiện quá khắt khe Miễn là không phản lại quyền lợi dân chúng,không là Việt gian, thân Pháp, thân Nhật, có lòng trung thành với
Tổ quốc là có thể dùng được Tài to ta dùng làm việc to, tài nhỏ tacắt làm việc nhỏ, ai có năng lực về việc gì, ta đặt ngay vào việc ấy
Biết dùng người như vậy, ta sẽ không lo gì thiếu cán bộ [43, tr 39]
Khéo dùng, tức phải dùng đúng người, đúng việc, "dùng cán bộ không
đúng tài năng của họ, cũng là một cớ thất bại" [44, tr.243], phải xem người ấyxứng với việc gì Nếu người có tài mà dùng không đúng tài của họ, cũngkhông được việc Người thí dụ: "thợ rèn thì bảo đi đóng tủ, thợ mộc thì bảo đirèn dao Thành thử hai người đều lúng túng Nếu biết tùy tài mà dùng người,thì hai người đều thành công" [44, tr.274]
Trong quá trình điều hành công việc, người lãnh đạo phải khéo dùnghiền tài vào những công việc, những vị trí phù hợp với tài đức của họ để họphát huy hết tài năng của mình, đóng góp nhiều nhất cho dân tộc, cho đấtnước Bên cạnh đó, người hiền tài chỉ thực sự phát huy tối đa tác dụng đối với
xã hội nếu họ được tôn trọng trong tự do sáng tạo, đồng thời, có điều kiện vàmôi trường thuận lợi để họ thực hiện tài năng Trước hết, là phải có cơ chế,chính sách thỏa đáng, có môi trường làm việc thuận lợi, dân chủ, được tindùng và tôn trọng Từ đó làm cho họ yên tâm phấn khởi để lao động, cốnghiến và sáng tạo