MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong thư gửi nông gia Việt Nam ngày 7121945, Hồ Chí Minh viết: Loài người ai cũng dĩ thực vi tiên (nghĩa là trước cần phải ăn); nước ta thì dĩ nông vi bản (nghĩa là nghề nông làm gốc). Dân muốn ăn no thì phải giồng giọt cho nhiều. Nước muốn giàu mạnh thì phải phát triển nông nghiệp 42, tr. 114. Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp lương thực thực phẩm nuôi sống con người, nguyên nhiên vật liệu cho thủ công nghiệp và công nghiệp, là cơ sở để ổn định, phát triển đất nước. Theo Hồ Chí Minh đó là một nền nông nghiệp ngày càng phát triển, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa nước nhà, làm cơ sở cho cuộc sống ấm no và hạnh phúc của nhân dân, làm nền tảng cho sự ổn định và tiến bộ xã hội. Điều này đã được Người chỉ đạo thực hiện trong quá trình cùng Đảng ta lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người nói: Có cán bộ tưởng rằng cải cách ruộng đất xong thì công cuộc cải cách nông thôn cũng xong. Thế là nhầm. Cải cách ruộng đất xong rồi, còn phải phúc tra, còn phải thực hiện tổ đổi công rộng khắp và vững chắc, còn phải tổ chức hợp tác xã nông nghiệp, rồi khi đã có điều kiện và nông dân yêu cầu thì tiến tới nông trường tập thể. Thế cũng chưa hết, còn phải làm cho nông nghiệp xã hội hóa. Có như vậy, nông nghiệp mới phát triển đầy đủ nông dân mới thật ấm no và giàu có 46, tr. 76. Hồ Chí Minh, trong toàn bộ di sản của mình, tuy chưa đưa ra định nghĩa về nền nông nghiệp xã hội hóa, nhưng xét trên nền tảng cơ sở lý luận hình thành tư tưởng của Người là học thuyết Mác Lênin thì có thể thấy rằng đó là quan niệm về phát triển sản xuất nông nghiệp làm cơ sở nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với thế giới quan và phương pháp luận Mác Lênin, Hồ Chí Minh luôn xem xét sự vật hiện tượng một cách toàn diện, trong nông nghiệp cũng vậy, theo Người để phát triển sản xuất nông nghiệp, phải đặt trong mối quan hệ với giai cấp nông dân và trong điều kiện nông thôn, vì suy cho cùng thì thực chất cuộc cách mạng nhân dân ta tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng phần lớn là nhằm giải phóng nông dân, phát triển sản xuất và xây dựng nông thôn mới. Ngày nay, khi loài người đang bước vào kỷ nguyên khoa học công nghệ và quá trình toàn cầu hóa kinh tế quốc tế, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội luôn chi phối bởi khoa học kỹ thuật công nghệ. Nông nghiệp cũng không ngoại lệ, cũng áp dụng đầy đủ các tiến bộ kỹ thuật công nghệ (trước hết là công nghệ sinh học) để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và gắn với thị trường. Điều này cũng sớm được Hồ Chí Minh đề cập đến trong quá trình lãnh đạo nhân dân ta xây dựng nền nông nghiệp trong kháng chiến và xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trong Văn kiện Đại hội XI, khi xác định Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 2020, Đảng ta định hướng nông nghiệp: Phát triển nền nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững 20, tr. 113. Đó là sự vận dụng những quan điểm về sản xuất nông nghiệp của Hồ Chí Minh trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, gắn với sự phát triển công nghiệp để phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại 20, tr. 103. Muốn vậy, sản xuất nông nghiệp phải có những bước đột phá và chuyển dịch phù hợp trong cơ cấu chung của nền kinh tế đất nước thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế. Tỉnh Đồng Tháp nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long vựa lúa trọng điểm của cả nước. Tỉnh lại là nơi có sản lượng lúa gạo đứng thứ ba của vùng. Trong những năm qua chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) của tỉnh lên hạng liên tục, từ vị trí thứ 11 năm 2006 đến năm 2010 đã vươn lên đứng hàng thứ ba so với cả nước và đứng thứ nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long. Điều này chứng tỏ sự phát triển vượt bậc của kinh tế tỉnh, nhất là tiềm năng to lớn trong sản xuất nông nghiệp, ngành kinh tế chủ đạo của Đồng Tháp. Áp dụng khoa học kỹ thuật công nghệ và các điều kiện khác để phát triển sản xuất nông nghiệp là một tất yếu của Đồng Tháp trong điều kiện hiện nay. Điều đó đòi hỏi phải có sự vận dụng lý luận nền tảng, phải phù hợp với xu thế thời đại, với chủ trương, đường lối của Đảng và điều kiện ở tỉnh. Trong đó, vận dụng những quan điểm về sản xuất nông nghiệp của Hồ Chí Minh giữ vai trò định hướng cho chủ trương của Đảng bộ và chính quyền tỉnh để phát huy hơn nữa thế mạnh của tỉnh, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế đất nước thời kỳ đổi mới. Với những lý do trên, tôi chọn đề tài Sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Tháp hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh làm đề tài nghiên cứu cho luận văn cao học của mình. Tôi mong rằng đề tài sẽ góp phần tích cực định hướng cho việc phát triển nông nghiệp ở tỉnh Đồng Tháp, góp phần phát triển kinh tế theo hướng bền vững và nâng cao hơn nữa đời sống nhân dân tỉnh.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thư gửi nông gia Việt Nam ngày 7/12/1945, Hồ Chí Minh viết:
Loài người ai cũng "dĩ thực vi tiên" (nghĩa là trước cần phảiăn); nước ta thì "dĩ nông vi bản" (nghĩa là nghề nông làm gốc) Dânmuốn ăn no thì phải giồng giọt cho nhiều Nước muốn giàu mạnhthì phải phát triển nông nghiệp [42, tr 114]
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấplương thực thực phẩm nuôi sống con người, nguyên nhiên vật liệu cho thủcông nghiệp và công nghiệp, là cơ sở để ổn định, phát triển đất nước Theo
Hồ Chí Minh đó là một nền nông nghiệp ngày càng phát triển, đáp ứng yêucầu công nghiệp hóa nước nhà, làm cơ sở cho cuộc sống ấm no và hạnh phúccủa nhân dân, làm nền tảng cho sự ổn định và tiến bộ xã hội Điều này đãđược Người chỉ đạo thực hiện trong quá trình cùng Đảng ta lãnh đạo cáchmạng Việt Nam Người nói:
Có cán bộ tưởng rằng cải cách ruộng đất xong thì công cuộccải cách nông thôn cũng xong Thế là nhầm Cải cách ruộng đấtxong rồi, còn phải phúc tra, còn phải thực hiện tổ đổi công rộngkhắp và vững chắc, còn phải tổ chức hợp tác xã nông nghiệp, rồikhi đã có điều kiện và nông dân yêu cầu thì tiến tới nông trường tậpthể Thế cũng chưa hết, còn phải làm cho nông nghiệp xã hội hóa
Có như vậy, nông nghiệp mới phát triển đầy đủ nông dân mới thật
ấm no và giàu có [46, tr 76]
Hồ Chí Minh, trong toàn bộ di sản của mình, tuy chưa đưa ra định nghĩa
về nền "nông nghiệp xã hội hóa", nhưng xét trên nền tảng cơ sở lý luận hìnhthành tư tưởng của Người là học thuyết Mác - Lênin thì có thể thấy rằng đó là
Trang 2quan niệm về phát triển sản xuất nông nghiệp làm cơ sở nền tảng cho côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Với thế giới quan và phương pháp luận Mác - Lênin, Hồ Chí Minh luônxem xét sự vật hiện tượng một cách toàn diện, trong nông nghiệp cũng vậy,theo Người để phát triển sản xuất nông nghiệp, phải đặt trong mối quan hệ vớigiai cấp nông dân và trong điều kiện nông thôn, vì suy cho cùng thì thực chấtcuộc cách mạng nhân dân ta tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng phần lớn lànhằm giải phóng nông dân, phát triển sản xuất và xây dựng nông thôn mới
Ngày nay, khi loài người đang bước vào kỷ nguyên khoa học công nghệ
và quá trình toàn cầu hóa kinh tế quốc tế, mọi lĩnh vực của đời sống xã hộiluôn chi phối bởi khoa học kỹ thuật - công nghệ Nông nghiệp cũng khôngngoại lệ, cũng áp dụng đầy đủ các tiến bộ kỹ thuật - công nghệ (trước hết làcông nghệ sinh học) để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm và gắn với thịtrường Điều này cũng sớm được Hồ Chí Minh đề cập đến trong quá trìnhlãnh đạo nhân dân ta xây dựng nền nông nghiệp trong kháng chiến và xâydựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội
Trong Văn kiện Đại hội XI, khi xác định Chiến lược phát triển kinh tế
-xã hội 2011 - 2020, Đảng ta định hướng nông nghiệp: "Phát triển nền nông
nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững" [20, tr 113] Đó là
sự vận dụng những quan điểm về sản xuất nông nghiệp của Hồ Chí Minhtrong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, gắn với sự
phát triển công nghiệp để "phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại" [20, tr 103] Muốn vậy, sản xuất
nông nghiệp phải có những bước đột phá và chuyển dịch phù hợp trong cơcấu chung của nền kinh tế đất nước thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế
Tỉnh Đồng Tháp nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúatrọng điểm của cả nước Tỉnh lại là nơi có sản lượng lúa gạo đứng thứ ba củavùng Trong những năm qua chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) của tỉnh lên hạng
Trang 3liên tục, từ vị trí thứ 11 năm 2006 đến năm 2010 đã vươn lên đứng hàng thứ ba
so với cả nước và đứng thứ nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long Điều nàychứng tỏ sự phát triển vượt bậc của kinh tế tỉnh, nhất là tiềm năng to lớn trongsản xuất nông nghiệp, ngành kinh tế chủ đạo của Đồng Tháp
Áp dụng khoa học kỹ thuật - công nghệ và các điều kiện khác để pháttriển sản xuất nông nghiệp là một tất yếu của Đồng Tháp trong điều kiện hiệnnay Điều đó đòi hỏi phải có sự vận dụng lý luận nền tảng, phải phù hợp với
xu thế thời đại, với chủ trương, đường lối của Đảng và điều kiện ở tỉnh Trong
đó, vận dụng những quan điểm về sản xuất nông nghiệp của Hồ Chí Minh giữvai trò định hướng cho chủ trương của Đảng bộ và chính quyền tỉnh để pháthuy hơn nữa thế mạnh của tỉnh, góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng,phát triển kinh tế đất nước thời kỳ đổi mới
Với những lý do trên, tôi chọn đề tài "Sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Tháp hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh" làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn cao học của mình Tôi mong rằng đề tài sẽ góp phần tích cực địnhhướng cho việc phát triển nông nghiệp ở tỉnh Đồng Tháp, góp phần phát triểnkinh tế theo hướng bền vững và nâng cao hơn nữa đời sống nhân dân tỉnh
2 Tình hình nghiên cứu
Liên quan trực tiếp đến đề tài, có một số công trình tiêu biểu:
2.1 Sách chuyên khảo và kỷ yếu hội thảo
- TS Nguyễn Khánh Bật (chủ biên) (2001), Tư tưởng Hồ Chí Minh về
vấn đề nông dân, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Trong đó, tập thể tác giả đã đề
cập đến những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển một nềnnông nghiệp toàn diện, về vai trò của nông nghiệp trong xây dựng chủ nghĩa
xã hội, xây dựng kết cấu kinh tế - kỹ thuật trong nông nghiệp, nông thôn
- TS Phạm Ngọc Anh (chủ biên) (2003), Bước đầu tìm hiểu tư tưởng
Hồ Chí Minh về kinh tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Đề cập đến lựa chọn
Trang 4cơ cấu kinh tế công nông, biện pháp nâng cao đời sống nhân dân, quán triệt tưtưởng Hồ Chí Minh về đẩy mạnh phát triển nông nghiệp.
- TS Nguyễn Huy Oánh (2004), Tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh với xây
dựng nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội Tác giả đề cập đến vị trí, vai trò của sản xuất nông nghiệptrong tư tưởng Hồ Chí Minh, các biện pháp để phát triển nông nghiệp mộtcách toàn diện
- GS Song Thành (2005), Hồ Chí Minh nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận
chính trị, Hà Nội Tác giả đề cập đến những nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh vềkinh tế nói chung như mục tiêu (trong đó có mục tiêu của sản xuất nông nghiệp),con đường, cơ cấu của nền kinh tế quốc dân, động lực phát triển kinh tế,… trong
tư tưởng kinh tế Hồ Chí Minh thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
- GS.TS Lê Hữu Nghĩa, PGS.TS Tạ Ngọc Tấn, TS Đinh Thế Huynh,
TS Nguyễn Tiến Quân (Đồng chủ biên) (2008), Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp
tác xã - những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Kỷ yếu Hội thảo, tập hợp các bài viết về những nội dung cơ bản của kinh tếhợp tác xã trong tư tưởng Hồ Chí Minh
- TS Ngô Văn Lương (2010), Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội Tác giả đề cập đến vị trí vai trò của nông nghiệp và cácbiện pháp để phát triển nông nghiệp một cách toàn diện trong tư tưởng HồChí Minh
2.2 Một số công trình trên tạp chí
- Nguyễn Thanh Tùng (1995), "Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa
công nghiệp và nông nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa", Tạp chí Nghiên
cứu lý luận, số 3 Tác giả khẳng định quan điểm của Hồ Chí Minh về sự đi trướccủa nông nghiệp trong thời kỳ đầu của quá trình công nghiệp hóa đất nước, vaitrò của nông nghiệp đối với công nghiệp và công nghiệp đối với nông nghiệp
Trang 5- Phạm Ngọc Anh (1996), "Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và tổ
chức hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam", Tạp chí Lịch sử Đảng, số 3 Tác
giả khẳng định vai trò to lớn của hợp tác xã trong thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội, trong nâng cao đời sống nhân dân, các nguyên tắc tổ chức vàquản lý hợp tác xã và đổi mới các hợp tác xã theo tư tưởng Hồ Chí Minh
- Trần Thị Minh Châu (1999), "Hồ Chí Minh với vấn đề hợp tác hóa nông
nghiệp", Tạp chí Lịch sử Đảng, số 11 Tác giả nghiên cứu cơ sở lý luận và thực
tiễn để làm sáng tỏ những quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề hợp tác hóatrong sản xuất nông nghiệp, bao gồm: sự cần thiết của vấn đề hợp tác hóa trongsản xuất nông nghiệp, các nguyên tắc tổ chức hợp tác xã nông nghiệp, phươngchâm, phương pháp và con đường hợp tác hóa nông nghiệp ở Việt Nam
- Bạch Đình Ninh (2003), "Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa
nông nghiệp và công nghiệp trong quá trình công nghiệp hóa", Tạp chí
Nghiên cứu lý luận, số 2 Công trình này tác giả khẳng định và làm rõ quanđiểm của Hồ Chí Minh: công nghiệp và nông nghiệp gắn bó với nhau như haichân của nền kinh tế nước ta thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, phải pháttriển nền nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc
2.3 Luận án, luận văn
- Lý Việt Quang (2002), "Đảng lãnh đạo công cuộc khôi phục nông
nghiệp miền Bắc từ 1954 - 1957", Luận văn thạc sĩ Hồ Chí Minh học, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh vềsản xuất nông nghiệp, tác giả làm sáng tỏ những vận dụng của Đảng ta vàocông cuộc khôi phục nông nghiệp ở miền Bắc thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa
xã hội, những thành tựu và hạn chế, rút ra bài học kinh nghiệm cho quá trìnhlãnh đạo cách mạng các giai đoạn sau đó của Đảng
- Phạm Thị Huyền (2006), "Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát
triển kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", Luận văn thạc
Trang 6sĩ Hồ Chí Minh học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả
nghiên cứu khái quát quan điểm của Hồ Chí Minh về nền kinh tế thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội như: mục tiêu phát triển kinh tế, vấn đề xác lập vai tròlàm chủ của nhân dân lao động, về phát triển lực lượng sản xuất - thực hiệncông nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, vấn đề quản lý kinh tế, xây dựng cơ cấukinh tế, độc lập tự chủ kết hợp với hợp tác quốc tế,… và sự vận dụng củaĐảng ta trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế đất nước
- Phan Thanh Bằng (2007), "Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ,
tự lực, tự cường trong xây dựng nền kinh tế Việt Nam và vận dụng vào việc xây dựng kinh tế ở tỉnh Bình Phước hiện nay", Luận văn thạc sĩ Hồ Chí Minh
học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả trên cơ sở những quanđiểm của Hồ Chí Minh về tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường trong xâydựng nền kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã vận dụng để giảiquyết những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra tại địa phương tỉnh BìnhPhước nhằm phát huy ưu thế phát triển công nghiệp của một tỉnh có truyềnthống cách mạng quật cường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiệnđại hóa đất nước
- Lê Thị Tần (2008), "Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã và sự vận dụng
vào việc phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp ở An Giang hiện nay", Luận
văn thạc sĩ Hồ Chí Minh học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ ChíMinh Tác giả nghiên cứu cơ sở và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh vềkinh tế hợp tác xã, trên cơ sở khẳng định những quan điểm của Hồ Chí Minh vềhợp tác xã như tính tất yếu, bản chất kinh tế - xã hội và mục đích của hợp tác xã,những nội dung, nguyên tắc xây dựng, tổ chức, quản lý hợp tác xã làm cơ sở choviệc xây dựng hợp tác xã ở tỉnh An Giang trong điều kiện hiện nay
- Phan Bá Linh (2010), "Tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp và vận
dụng vào quá trình phát triển nông nghiệp ở Hà Tĩnh trong quá trình đổi mới", Luận văn thạc sĩ Hồ Chí Minh học, Học viện Chính trị - Hành chính
Trang 7quốc gia Hồ Chí Minh Tác giả đề cập đến nguồn gốc, quá trình hình thành tưtưởng Hồ Chí Minh về kinh tế và khẳng định vị trí vai trò của nông nghiệpđối với kinh tế đất nước thời kỳ quá độ, xây dựng nền nông nghiệp toàn diện
và các điều kiện để phát triển kinh tế nông nghiệp, giá trị lý luận và thực tiễncủa tư tưởng Hồ Chí Minh về nông nghiệp
Nhìn chung, tất cả các công trình trên đã đề cập đến tư tưởng kinh tế
Hồ Chí Minh nói chung và những quan điểm của Người về nông nghiệp nóiriêng ở nhiều góc độ, tuy nhiên đa số các công trình chỉ đề cập đến quan điểmcủa Hồ Chí Minh về hợp tác xã, về phát triển nền nông nghiệp toàn diện chứchưa khái quát hệ thống các quan điểm của Hồ Chí Minh về sản xuất nôngnghiệp, nhất là chưa có công trình vận dụng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp
Vì vậy, trên cơ sở kết quả nghiên cứu của các công trình đã được xã hộirộng rãi thừa nhận trước đó, luận văn đã tiếp thu để làm rõ hơn vấn đề sản xuấtnông nghiệp trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng cụ thể ở tỉnh ĐồngTháp trong quá trình đẩy mạnh công ngiệp hóa, hiện đại hóa nước ta hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Trên cơ sở hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về sản xuất nông nghiệp,luận văn góp phần trang bị cơ sở lý luận và thực tiễn trong hoạch định việcphát triển sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Tháp thời kỳ đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Một là, trình bày một cách có hệ thống những nội dung cơ bản của tư
tưởng Hồ Chí Minh về sản xuất nông nghiệp
Hai là, phân tích, đánh giá đúng đắn, khách quan, khoa học tình hình
sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Tháp
Trang 8Ba là, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sản xuất nông nghiệp vào đề
xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển hơn nữa sản xuất nôngnghiệp ở tỉnh Đồng Tháp theo hướng sản xuất hàng hóa, toàn diện và bềnvững góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng
xã hội chủ nghĩa hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về sản xuất nông nghiệp
- Tình hình sản xuất nông nghiệp ở tỉnh Đồng Tháp trong giai đoạn
2006 - 2010, phương hướng, mục tiêu và giải pháp phát triển sản xuất nôngnghiệp đến năm 2020 ở tỉnh
4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Tư tưởng Hồ Chí Minh về sản xuất nông nghiệp là một nội dung toàndiện gồm cả vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn Trong luận văn này,tác giả chỉ nghiên cứu một số quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về sản xuấtnông nghiệp như là cơ sở lý luận cho việc đánh giá thực trạng sản xuất nôngnghiệp tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2006 - 2010 và đề ra những giải pháp phùhợp nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp giaiđoạn 2011 - 2020 cùng với quá trình xây dựng kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta, thực hiện mục tiêu của Đảng đưa đất nước đếnnăm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về phát triển sản xuất nôngnghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh công ngiệp hóa, hiện đại hóa và kế thừa kếtquả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố có liên quan
Trang 95.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp duy vậtbiện chứng và phương pháp duy vật lịch sử; phương pháp lôgíc và phươngpháp lịch sử; kế thừa các công trình nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn
đã được công bố hoặc đang ở dạng tư liệu và một số phương pháp khác
6 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Đóng góp chủ yếu của luận văn là:
- Góp phần hệ thống hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về sản xuất nông nghiệp.Qua đó tiếp tục khẳng định giá trị to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối vớicách mạng Việt Nam trong điều kiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóađất nước hiện nay
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng tình hình sản xuất nông nghiệp ở tỉnhĐồng Tháp, luận văn đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm xây dựng,phát triển sản xuất nông nghiệp của tỉnh theo hướng xã hội hóa, góp phần thựchiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Tuy còn hạn hẹp, nhưng luận văn là một trong những cơ sở lý luận cungcấp những luận cứ khoa học và thực tiễn, góp phần định hướng sự phát triểnsản xuất nông nghiệp của tỉnh Đồng Tháp trong thời gian tới, góp phần nhỏthực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu,giảng dạy, học tập và tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là trong côngtác giảng dạy ở Trường Chính trị Đồng Tháp
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 2 chương, 4 tiết
Trang 10Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
1.1 NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở NƯỚC TA
Tư tưởng Hồ Chí Minh về sản xuất nông nghiệp là một bộ phận cấuthành tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, đó là hệ thống các quan điểm toàndiện và sâu sắc về mục tiêu và vai trò nền tảng của sản xuất nông nghiệp, vềnội dung và các giải pháp để xây dựng, phát triển nền nông nghiệp toàn diện ởnước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhằm hướng đến mục tiêuhiện đại hóa nông thôn và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thầncủa nhân dân ta
Với những nội dung toàn diện và sâu sắc trên, tư tưởng Hồ Chí Minh
về sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng to lớn, chỉđạo con đường và quá trình sản xuất nông nghiệp trong điều kiện nước ta từmột nước nông nghiệp lạc hậu quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng chonhững chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng để hoàn thành sứ mệnh củamình, củng cố vững chắc nền tảng liên minh giai cấp công nông, tạo ra sứcmạnh to lớn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta
1.1.1 Sản xuất nông nghiệp là một mặt trận "nền tảng để phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa", không ngừng nâng cao đời sống mọi mặt của nhân dân, trước hết là nông dân
Theo Hồ Chí Minh mục tiêu hàng đầu của cách mạng Việt Nam là xâydựng thành công chủ nghĩa xã hội trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,
xã hội Người xem mỗi lĩnh vực trên là một mặt trận và mỗi mặt trận đóng vaitrò nhất định để thực hiện mục tiêu chung Trên mặt trận kinh tế, nông nghiệp
Trang 11là mặt trận nền tảng để thực hiện mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội, nângcao mọi mặt đời sống của các tầng lớp nhân dân, Người khẳng định:
Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì?
Nói một cách giản đơn và dễ hiểu là: không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao
động [48, tr 271]
Đây là mục tiêu mà Hồ Chí Minh luôn đặt ra trong quá trình cùng Đảng
ta lãnh đạo sản xuất nông nghiệp
Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân là vấn đề được
Hồ Chí Minh quan tâm mà trước hết là vấn đề ăn, mặc, ở; đó là những nhucầu hết sức tự nhiên và cấp thiết của con người, trong đó ăn là nhu cầu cầngiải quyết trước tiên Người nhấn mạnh: "Tục ngữ có câu: "Dân dĩ thực vithiên" nghĩa là dân lấy ăn làm trời, nếu không có ăn thì không có trời" và vìvậy Người cho rằng "dân đủ ăn, đủ mặc thì những chính sách của Đảng vàChính phủ đưa ra sẽ dễ dàng thực hiện Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chínhsách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được" [456, tr 572]
Sản xuất nông nghiệp là vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với cách mạngViệt Nam, sau khi giành được chính quyền, nạn đói diễn ra, nông dân lại là lựclượng chiếm gần 90% dân số [45, tr 179] nên thực chất của cách mạng là đemlại ruộng đất cho nông dân, sản xuất nông nghiệp đối với nước ta là ngànhchính, do đó Hồ Chí Minh cho rằng sự ổn định và thịnh vượng của đất nước phụthuộc vào sự phát triển của nông nghiệp, vào lực lượng nông dân Người viết:
Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp Nền kinh tế của ta lấycanh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủtrông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn
Nông dân ta giàu thì nước ta giàu Nông nghiệp ta thịnh thì nước
ta thịnh [42, tr 215]
Trang 12Sau Cách mạng tháng Tám, mặt trận sản xuất nông nghiệp hoàn thànhnhiệm vụ góp phần giữ vững chính quyền trước muôn vàn khó khăn của thùtrong giặc ngoài, tạo điều kiện để trong kháng chiến chống Pháp và Mỹ, HồChí Minh tiếp tục khẳng định vai trò của sản xuất nông nghiệp là hậu phươngquyết định sự thành bại của toàn bộ cuộc chiến Người viết:
Mặt trận kinh tế gồm có công nghệ, buôn bán, nông nghiệp
Ngành nào cũng quan trọng Nhưng lúc này, quan trọng nhất là nông
nghiệp, vì "có thực mới vực được đạo"
Có đủ cơm ăn áo mặc cho bộ đội và nhân dân, thì kháng chiếnmới mau thắng lợi, thống nhất và độc lập mau thành công [43, tr 687].Mùa xuân năm 1955, trong lời kêu gọi thi đua sản xuất tiết kiệm, Ngườiviết: "Hiện nay, nhiệm vụ vẻ vang của đồng bào là phải ra sức thi đua khôiphục và phát triển sản xuất nông nghiệp để làm cho đồng bào nông dân ấm
no, để cung cấp cho quân đội, để đảm bảo tiếp tế cho các thành thị, để đẩymạnh việc khôi phục kinh tế nước nhà" [45, tr 461]
Khi tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiếp thu quan điểm của Lênin
về vị trí của sản xuất nông nghiệp, Hồ Chí Minh cho rằng trong điều kiện ViệtNam, để xây dựng chủ nghĩa xã hội thì con đường công nghiệp hóa nước nhà
là tất yếu nhưng phải bắt đầu từ nông nghiệp, lấy nông nghiệp làm cơ sở nềntảng: "Nước ta vốn là một nước nông nghiệp lạc hậu Đó là chỗ bắt đầu đi củachúng ta" [48, tr 40] Theo Người, phải phát triển nền kinh tế một cách toàndiện, nghĩa là chú ý đến tất cả các ngành, nhưng nông nghiệp phải là ngànhsản xuất chính: "nhân dân ta phải bám lấy đồng ruộng Ruộng là chính Nôngnghiệp là chính" [47, tr 12] Các ngành khác phải lấy phục vụ nông nghiệp làtrung tâm, vì hơn hết nông nghiệp cung cấp lương thực thực phẩm để nuôisống cả nước, nông nghiệp là cơ sở tiền đề cho quá trình công nghiệp hóa đấtnước Người nói: "Phải lấy nông nghiệp làm chính, nhưng phải toàn diện,phải chú ý cả mặt công nghiệp, thương nghiệp, tài chính, ngân hàng, giao
Trang 13thông, kiến trúc, văn hóa, giáo dục, y tế v.v các ngành này phải lấy phục vụnông nghiệp làm trung tâm" [49, tr 396].
Như vậy, theo Hồ Chí Minh sản xuất nông nghiệp có nhiệm vụ to lớntrong cách mạng: một mặt phải cung cấp lương thực thực phẩm để trước mắtgiải quyết nhu cầu ăn mặc ở của nhân dân, mặt khác là một mặt trận để nhândân ta đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội; trong nềnkinh tế quốc dân thì nông nghiệp phải là ngành trung tâm, là cơ sở nền tảngcho công cuộc công nghiệp hóa nước nhà
Vận dụng những quan điểm của Hồ Chí Minh về nông nghiệp, Đảng taluôn quan tâm nền tảng nông nghiệp, ổn định đời sống nhân dân, làm cơ sởhậu phương vững chắc cho hai cuộc kháng chiến thắng lợi Trong khángchiến kiến quốc, Đảng đã quan tâm thực hiện khôi phục kinh tế, phát triển sảnxuất Khi tiến hành lãnh đạo miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, lần lượtthực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế, các kế hoạch 5 năm,… nhằm xây dựngnền tảng vật chất để tiến hành công nghiệp hóa ở hậu phương miền Bắc
Ngày nay, sau hơn 20 năm đổi mới trong điều kiện nông nghiệp luôn làngành sản xuất chính ở nước ta với hơn 70% [59, tr 48] dân số sống bằngnghề nông, lương thực thực phẩm dồi dào chẳng những đảm bảo an ninhlương thực mà còn đóng góp to lớn cho ngân sách quốc gia khi đứng thứ haitrên thế giới về xuất khẩu gạo, tạo uy tín lớn cho đất nước, điều này khẳngđịnh tầm nhìn chiến lược và giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về sảnxuất nông nghiệp ở một nước "lấy canh nông làm gốc" như nước ta
1.1.2 Phương thức phát triển sản xuất nông nghiệp là xây dựng các
"hợp tác xã nông nghiệp" và "xã hội hóa nông nghiệp"
Theo Hồ Chí Minh phương thức sản xuất nông nghiệp phải hướng đến đó
là xây dựng thành công các hợp tác xã và phát triển nền nông nghiệp theo hướng
sản xuất hàng hóa mà Người thường dùng cụm từ xã hội hóa, làm cơ sở để
thực hiện mục tiêu chung là công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, nhằm đem lại ấm
Trang 14no, hạnh phúc cho nhân dân Người khẳng định: "Hiện nay, chúng ta lấy sảnxuất nông nghiệp làm chính Vì muốn mở mang công nghiệp thì phải có đủlương thực, nguyên liệu Nhưng công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa vẫn là mụctiêu phấn đấu chung, là con đường no ấm thật sự cho nhân dân ta" [48, tr 41].
Về xây dựng hợp tác xã nông nghiệp, trên cơ sở tiếp thu quan điểm
của C Mác và Ph Ăngghen về việc phác thảo con đường hợp tác hóa nôngnghiệp ở các nước tư bản phát triển lên chủ nghĩa xã hội, quan điểm củaLênin về chế độ hợp tác xã văn minh ở một nước tư bản trung bình, Hồ ChíMinh đã vận dụng và xây dựng quan điểm của mình về hợp tác xã vào điềukiện Việt Nam - một nước nông nghiệp lạc hậu
Quan điểm về hợp tác xã lần đầu tiên được Người đề cập đến từ năm 1927,trong tác phẩm Đường cách mệnh, đây là một quan điểm nhất quán mà Ngườicùng Đảng ta triển khai thực hiện vào cuối những năm 50 của thế kỷ XX, HồChí Minh chỉ rõ:
Trước hết cần nhận rõ mục đích của việc tổ chức hợp tác xã làgì? Là để cải thiện đời sống nông dân, làm cho nông dân được no ấm,mạnh khỏe, được học tập, làm cho dân giàu, nước mạnh Dân có giàuthì nước mới mạnh Đó là mục đích riêng và mục đích chung của việcxây dựng hợp tác xã [47, tr 537]
Ngoài ra, xây dựng hợp tác xã còn nhằm xây dựng cơ sở vật chất, kỹthuật của chủ nghĩa xã hội, "hợp tác xã bản thân nó đã là hình thức của thời
kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bởi vì hợp tác xã vừa mang tính kế thừa, vừamang tính phát triển" [61, tr 141-142] Ở đây, mục tiêu của hợp tác xã và chủnghĩa xã hội là đồng nhất, đều do nhân dân lao động thực hiện, nhằm trực tiếpxây dựng cho mình đời sống ấm no, hạnh phúc, còn quá trình nông dân xâydựng hợp tác xã cũng là quá trình nông dân tự chuyển từ cách làm ăn đơn lẻsang tập thể ở trình độ cao hơn Đó là bước đi thích hợp với giai đoạn đầu củathời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nước ta
Trang 15Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh sự cần thiết xây dựng hợp tác xã nôngnghiệp và đề ra các nguyên tắc để xây dựng, tổ chức, quản lý hợp tác xã bởi "nóquy tụ và thể hiện những thuộc tính bản chất của chủ nghĩa xã hội" [2, tr 26],
bao gồm tự nguyện, dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi.
Một là, nguyên tắc tự nguyện Theo Hồ Chí Minh, với tư tưởng tiểu
nông thì lúc đầu không phải người nông dân nào cũng nhận thức đúng đắntầm quan trọng của hợp tác xã và chấp nhận tham gia vào, vì vậy muốn đôngđảo nông dân tham gia không phải bằng hình thức bắt buộc, cưỡng chế màngược lại phải bằng sự tự nguyện của họ, Người nói:
Tổ chức tổ đổi công, hợp tác xã là phải tự nguyện, nghĩa là tuyêntruyền giải thích ai muốn vào thì vào, không phải nắm cổ người ta kéovào Ví dụ: mấy gia đình này vào hợp tác xã, tổ đổi công, thu hoạch 200gánh, mấy nhà kia làm riêng lẻ thu hoạch 100 gánh thôi Như thế nhữngnhà làm riêng lẻ sẽ muốn xin vào Như thế để người ta tự xin vào Người
ta thấy tổ đổi công, hợp tác xã làm tốt, người ta sẽ tự xin vào, không phảinắm cổ người ta kéo vào [47, tr 441]
Người khẳng định rằng để nông dân có thể tự nguyện xin vào hợp tác
xã thì công việc giáo dục, tuyên truyền đóng vai trò quan trọng và đây là khâuquyết định để nông dân lựa chọn có vào hợp tác xã hay không
Hai là, nguyên tắc dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi Theo Hồ Chí
Minh, để hợp tác xã phát triển bền vững trong sản xuất nông nghiệp thì cầnphải đảm bảo cho mọi xã viên có quyền dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi.Người chỉ dạy: "Muốn xây dựng tổ đổi công, hợp tác xã được tốt phải đoànkết, phải làm cho mọi người tự nguyện tham gia, phải bàn bạc dân chủ vàphải tính toán công bằng, hợp lý" [47, tr 133], do đó Người yêu cầu ngườicán bộ cũng phải có tác phong làm việc dân chủ "muốn quản lý tốt hợp tác xã,cán bộ quản trị phải dân chủ, tránh quan liêu mệnh lệnh, làm việc gì cũng cầnbàn bạc kỹ với xã viên" [47, tr 538] đảm bảo quyền bình đẳng của xã viên
Trang 16trong hợp tác xã "đã vào hội thì bất kỳ góp nhiều góp ít, vào trước vào sau, aicũng bình đẳng như nhau" [40, tr 318].
Đây là mục tiêu và động lực để mọi xã viên gắn bó, đoàn kết với nhaunhằm xây dựng hợp tác xã và để nâng cao đời sống của mình, bản chất xã hộicủa hợp tác xã được thể hiện ngay trong nguyên tắc này
Ba là, nguyên tắc không nóng vội, phải theo trình tự từ tổ đổi công lên
hợp tác xã cấp thấp rồi hợp tác xã cấp cao Theo Hồ Chí Minh, sự phát triểncủa hợp tác xã quy định bởi cả yếu tố vật chất và yếu tố tư tưởng Do đóNgười cho rằng xây dựng hợp tác xã không nên nóng vội mà phải theo trình
tự "đưa nông dân làm ăn riêng lẻ đi dần từ tổ đổi công (có mầm mống xã hộichủ nghĩa), tiến lên hợp tác xã cấp thấp (nữa xã hội chủ nghĩa), rồi tiến lênhợp tác xã cấp cao (xã hội chủ nghĩa)" [48, tr 15]
Sự phát triển đó không phải do ý muốn chủ quan mà do các điều kiệnkhách quan quy định như trình độ xã hội hóa lực lượng sản xuất, năng lựcquản lý của cán bộ và trình độ nông dân, quá trình này phát triển nhanh thìcần sự tác động của Đảng, Nhà nước với chủ trương chính sách đúng đắn
Bốn là, nguyên tắc đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng và phát huy vai trò
quản lý của Nhà nước Hồ Chí Minh kế thừa những quan điểm về xây dựnghợp tác xã nông nghiệp vốn có từ trước và vận dụng sáng tạo vào điều kiệnnước ta, Người yêu cầu các hợp tác xã phải phát triển để làm cơ sở xã hội cho
sự nghiệp xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh
đạo của Đảng: "Các hợp tác xã nông nghiệp, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải
trở thành những đội quân vững mạnh của mười mấy triệu nông dân lao độngtrong công cuộc phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, giáo dục tư tưởng vàxây dựng nông thôn phồn thịnh của nước ta" [48, tr 21]
Tổ chức hợp tác xã theo Hồ Chí Minh cần có sự giúp đỡ của Nhà nướcnhất là về mặt tài chính, mỗi hợp tác xã phải có ban quản trị để điều hành hợptác xã phát triển, Người khẳng định:
Trang 17Chính phủ có trách nhiệm xây dựng những công trình thủylợi lớn và cùng nông dân, hợp tác xã làm những công trình thủy lợivừa Để phát triển nông nghiệp, hợp tác xã phải tậu trâu bò, sắmnông cụ, mua phân hóa học v.v hợp tác xã còn nghèo, thườngthường Chính phủ phải giúp đỡ, phải cho vay vốn [48, tr 414].
Từ cuối những năm 1950, dưới sự lãnh đạo của Người và Trung ươngĐảng, quá trình hợp tác hóa nông nghiệp diễn ra và đã từng bước giải phóngnông dân, góp phần to lớn vào công cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.Trong mười năm, từ năm 1976 đến năm 1986, do phạm một số sai lầm "duytâm, chủ quan duy ý chí, nóng vội…" trong đường lối phát triển kinh tế củaĐảng đã dẫn đến sự tan rã của một loạt các hợp tác xã Những sai lầm đó đãđược Đảng ta kiểm điểm và sửa sai trong thời kỳ đổi mới, bắt đầu từ cuối năm
1986 Nhờ đó, trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp hiện nay, trước yêu cầu hợptác hóa, nhiều hợp tác xã đã hình thành trở lại và hoạt động tương đối hiệuquả, nhất là dưới hình thức dịch vụ, điều đó đã chứng tỏ tính thời sự và soiđường của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp xây dựng và phát triểnnước ta hiện nay
Về xã hội hóa trong sản xuất nông nghiệp, khi nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế, trong đó có sản xuất nông nghiệp, quanđiểm về xã hội hóa biểu hiện rõ nét
Trước hết, Hồ Chí Minh nêu bật quan điểm cần thiết phải áp dụng khoa
học kỹ thuật tạo điều kiện phát triển lực lượng sản xuất
Xuất phát điểm của kinh tế Việt Nam là từ một nước nông nghiệp lạchậu nên Người luôn xem việc phát triển lực lượng sản xuất là nhiệm vụ quantrọng nhất của sản xuất nông nghiệp: "Nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta
là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa miền
Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại cóvăn hóa và khoa học tiên tiến" [48, tr 13]
Trang 18Hồ Chí Minh cho rằng thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa làphải phát triển khoa học kỹ thuật, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao đờisống nhân dân Người nói: "Đời sống nhân dân chỉ có thể thật dồi dào, khichúng ta dùng máy móc để sản xuất một cách thật rộng rãi: dùng máy móc cảtrong công nghiệp và trong nông nghiệp" [48, tr 40-41].
Để phát triển khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp, cần thiếtphải tiến hành ở hầu hết các công đoạn từ giống, phân, nước, thuốc trừ sâu,…nhất là sử dụng máy móc: phải cải tiến máy móc hiện có kết hợp với pháttriển những máy móc mới Công cuộc cải tiến kỹ thuật không chỉ tiến hànhtrong sản xuất nông nghiệp mà phải trong tất cả các ngành "người đông thì sứcmạnh và ý kiến dồi dào" [48, tr 138] Khoa học cũng vậy, chỉ phát huy được giá
trị khi "trở lại phục vụ sản xuất, phục vụ quần chúng, nhằm nâng cao năng suất
lao động và không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân, bảo đảm cho chủ
nghĩa xã hội thắng lợi" [49, tr 78], "cho nên mọi ngành, mọi người đều phảitham gia công tác khoa học, kỹ thuật, để nâng cao năng suất lao động, sản xuất
ra nhiều của cải vật chất, để xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi" [49, tr 78]
Hồ Chí Minh chỉ ra biện pháp áp dụng khoa học kỹ thuật rộng rãi trongtoàn xã hội là tuyên truyền, vận động và phổ biến để đông đảo nhân dân amtường, thực hiện được "công nhân phải giúp nông dân, giúp hợp tác xã cảitiến công cụ từ những cái thô sơ trở đi…" [48, tr 181] Tại Đại hội thành lậpHội phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam (18/5/1963) Người căn dặn cácHội viên: "các đồng chí phải đi xuống tận các xí nghiệp, các hợp tác xã, hỏihan công nhân, nông dân yêu cầu gì, họ làm ăn và sinh sống như thế nào vàphổ biến những điều cần thiết giúp đỡ họ cải tiến kỹ thuật, phát triển sản xuất,cải thiện đời sống" [49, tr 78] Ngoài ra, cần thiết phải "mở rộng sự hợp tácvới các nước anh em trong việc nghiên cứu khoa học, kỹ thuật" [49, tr 77]
Đó là sự xã hội hóa lực lượng trong sản xuất nông nghiệp vì không chỉnông dân là lực lượng chính tham gia sản xuất nông nghiệp mà còn có cả thợ
Trang 19thủ công, công nhân và các giai tầng khác cùng tham gia sản xuất phân, cungcấp nước, giống, cây con và công cụ cải tiến, máy móc hiện đại sản xuất nôngnghiệp Điều này thể hiện sự kế thừa và vận dụng những cái đã có để làmthành sức mạnh tổng hợp, phát triển kinh tế đất nước.
Ngoài ra, theo Hồ Chí Minh để phát triển lực lượng sản xuất cần thiếtphải đảm bảo xây dựng cơ cấu kinh tế cân đối, hợp lý giữa các ngành, nhất làcác ngành công - nông - thương nghiệp, Người xem đây là ba mặt quan trọngnhất và có quan hệ chặt chẽ với nhau của nền kinh tế
Thứ hai, để thực hiện xã hội hóa trong sản xuất nông nghiệp, theo Hồ
Chí Minh cần chú trọng phát triển quan hệ sản xuất, đó là xây dựng các quan
hệ sở hữu, phân phối và tiêu dùng
Về quan hệ sở hữu, nước ta tồn tại nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau
vì vậy, xây dựng nền kinh tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minhthừa nhận sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế và các hình thức
sở hữu khác nhau, trong đó hình thức sở hữu nhà nước và tập thể giữ vai tròchủ đạo Đối với sản xuất nông nghiệp thì xây dựng hợp tác xã là kết quả tấtyếu của xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, "quan hệ sản xuất xã hộichủ nghĩa vững chắc thì nông nghiệp nhất định phát triển tốt" [48, tr 15].Người cũng coi trọng sự tồn tại và phát triển của các hình thức sở hữu khácnhư sở hữu của người lao động riêng lẻ và sở hữu của nhà tư bản
Về quan hệ quản lý, Hồ Chí Minh nêu yêu cầu phải nâng cao trình độngười nông dân và tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước trong sản xuấtnông nghiệp Trong đó phải chú ý để người nông dân phát huy vai trò làm chủtrên mảnh đất của mình, đồng thời đảm bảo sự quy hoạch, hỗ trợ hợp lý củaNhà nước, tập huấn kỹ thuật, vốn vay cho nông dân trong quá trình sản xuất
Về quan hệ phân phối, với mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội là một
xã hội công bằng, hợp lý, Hồ Chí Minh nhấn mạnh nguyên tắc phân phối theolao động, phải luôn đồng cam cộng khổ, chống tư tưởng bình quân và chú ý
Trang 20đến vấn đề công bằng "sản xuất được nhiều, đồng thời phải chú ý phân phốicho công bằng" [46, tr 537] Phúc lợi xã hội phải đi đôi với hiệu quả của sảnxuất, nghĩa là hiệu quả sản xuất càng tăng thì phúc lợi càng lớn và phúc lợilớn sẽ tạo động lực để thúc đẩy người lao động càng có quyết tâm cao đểđóng góp sức lao động phát triển sản xuất.
Thứ ba, để xã hội hóa sản xuất nông nghiệp cần phải thực hiện hợp tác
chặt chẽ với các ngành khác và mở rộng hợp tác kinh tế với các nước
Hồ Chí Minh xem sự liên kết là tất yếu để phát triển toàn diện nền kinh
tế quốc dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa Người nhận thức rõ tầm quantrọng của quá trình hợp tác quốc tế trên tất cả các lĩnh vực, cả trong lĩnh vựckinh tế Người khẳng định từ năm 1919: "Xét về nguyên tắc, tiến bộ chungphụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế; và văn minh chỉ có lợi khicác quan hệ quốc tế được mở rộng và tăng cường" [39, tr 9-10] Người đặcbiệt quan tâm hợp tác với các nước nhằm tranh thủ về vốn và kỹ thuật để pháthuy nội lực, có nghĩa là trong phát triển sản xuất thì nội lực vẫn là yếu tốquyết định còn ngoại lực chỉ như "thêm vốn cho ta"
Trong hợp tác quốc tế về kinh tế, Người chủ trương hợp tác với cácnước tư bản chủ nghĩa và các nước xã hội chủ nghĩa nhằm phục vụ cho việckiến thiết quốc gia, Hồ Chí Minh nói: "Có thể rằng: chúng ta sẽ mời nhữngnhà chuyên môn Pháp, cũng như Mỹ, Nga hay Tàu, đến đây giúp việc chochúng ta trong cuộc kiến thiết quốc gia" [42, tr 74]
Như vậy, phát triển nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo Hồ ChíMinh là sự kết hợp của các yếu tố về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, sựhợp tác hóa trong nước và quốc tế để phát huy tối đa nội lực, tận dụng ngoạilực, từng bước nâng cao đời sống của nhân dân
Vận dụng quan điểm trên trong điều kiện nền kinh tế thị trường, địnhhướng xã hội chủ nghĩa hiện nay, Đảng ta một mặt phát huy tối đa sức mạnh
hệ thống chính trị, sức mạnh toàn dân xây dựng lực lượng sản xuất và quan hệ
Trang 21sản xuất, mặt khác luôn xem vấn đề hợp tác quốc tế là điều kiện để tranh thủvốn và khoa học kỹ thuật từ nước ngoài, phát triển nền nông nghiệp theohướng sản xuất hàng hóa lớn Đại hội X khẳng định: "Phải phát triển nôngnghiệp toàn diện, chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôntheo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến
và thị trường" [18, tr 39]
1.1.3 Xây dựng và phát triển nền nông nghiệp toàn diện
Xây dựng và phát triển nền nông nghiệp toàn diện vừa là nội dung vừa
là giải pháp trong sản xuất nông nghiệp Hồ Chí Minh khẳng định "sản xuấtphải toàn diện", "nông nghiệp phải toàn diện",… trong một số bài nói chuyệnvới đồng bào tỉnh Hưng Yên, tỉnh Nghệ An, Bắc Giang, Thanh Hóa,… Ngườiquan tâm đến xây dựng và phát triển nền nông nghiệp toàn diện vì: xuất phát
từ điều kiện tự nhiên của Việt Nam phong phú đa dạng về địa hình, thổnhưỡng cũng như quan điểm "tự lực" là chính trong kháng chiến và xây dựngđất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
"Tư duy của Người là tư duy của một thiên tài, luôn nhìn thấy và tìm cáchhuy động tiềm năng mà đất nước có" [4, tr 172] Hơn ai hết Hồ Chí Minh amtường về điều kiện tự nhiên của đất nước, Người cũng hiểu rõ tùy vào điều kiện
tự nhiên mà phát triển các loại cây trồng cho phù hợp: "Vùng đồng bằng miềnBắc tuy ruộng ít, người nhiều; nhưng chúng ta trồng xen, tăng vụ, thì mộtmẫu đất có thể hóa ra hai Miền ngược thì có nhiều vùng đất rộng mênh mông
và màu mỡ, tha hồ cho chúng ta vỡ hoang Như thế là địa lợi rất tốt" [48, tr.544]
Vì vậy, xây dựng, phát triển nền nông nghiệp toàn diện là giải pháp tậndụng mọi nguồn lực của đất nước từ tài nguyên thiên nhiên đến sức người,trước hết là nông dân vì họ là lực lượng đông đảo nhất và để phát huy vai trònền tảng của nông nghiệp trong xây dựng kinh tế xã hội chủ nghĩa
Trang 22"Đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân" là mục tiêu của công cuộcxây dựng chủ nghĩa xã hội nói chung và phát triển kinh tế nông nghiệp nóiriêng, do đó Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng và phát triển nền nông nghiệptoàn diện nhằm phục vụ cho sự nghiệp nâng cao đời sống nhân dân, phục vụsản xuất công nghiệp vì bên cạnh ăn no thì người dân còn yêu cầu được ănngon, ngoài thóc thì các sản phẩm khác của sản xuất nông nghiệp đáp ứng yêucầu này, một mặt làm tăng thu nhập khi người dân bán các sản phẩm cho côngnghiệp, mặt khác cải thiện bữa ăn cho người dân Người nói: "Sản xuất phảitoàn diện, sản xuất thóc là chính, đồng thời phải coi trọng hoa màu, cây ănquả, cây công nghiệp, chăn nuôi, thả cá và nghề phụ" [48, tr 397].
Như vậy, nền nông nghiệp toàn diện theo Hồ Chí Minh bao gồm:
Một là, sản xuất nông nghiệp có ngành trồng trọt phát triển Trong bài nói chuyện với cán bộ và công nhân trường Đông Hiếu (Nghệ An) ngày
10/12/1961 Hồ Chí Minh khẳng định "trong trồng trọt phải chú ý toàndiện" [48, tr 478], bao gồm các loại cây trồng mà trong đó quan trọng nhất làcây lương thực, nhất là cây lúa, bởi theo Người lương thực là sản phẩm chủyếu nhất của sản xuất nông nghiệp và trong điều kiện nước ta, cây lúa là câytrồng chính, phải coi trọng cây lúa "sản xuất thóc là chính" [48, tr 397]
Bên cạnh trồng lúa, Hồ Chí Minh rất chú trọng trồng hoa màu như ngô,
khoai, sắn "ngô, khoai, sắn là những thứ lương thực phụ rất cần thiết cho
người và gia súc Nếu hoa màu thu hoạch kém thì sẽ ảnh hưởng không tốt đếnnhiều việc" [48, tr 547] Trong những lần đến thăm và nói chuyện với cán bộ
và nhân dân, Bác thường nêu rõ tình trạng các nơi chưa phát triển được ngànhchăn nuôi là do chưa chú ý đến cây hoa màu như nói chuyện ở xã Đại Nghĩa
ngày 7/10/1961, hoặc trong bài viết Cần phải ra sức trồng nhiều hoa màu trên
báo Nhân dân ngày 17/4/1962, Người nêu lên một số tỉnh trồng khoai, sắnchưa đạt kế hoạch và đề nghị cấp ủy các cấp hướng dẫn, động viên nhân dânsản xuất để có một vụ hoa màu thắng lợi
Trang 23Ngoài ra, còn phải trồng cả cây công nghiệp, vì nông nghiệp làm nhiệm
vụ cung cấp nguyên liệu cho phát triển công nghiệp và sự nghiệp công nghiệphóa, do vậy "cây công nghiệp không đạt được kế hoạch thì ảnh hưởng đếnphát triển công nghiệp" [48, tr 320], Người đặc biệt chú ý đến điều kiện khíhậu và thổ nhưỡng cụ thể của từng nơi như ở Nghệ An thì chú ý trồng cà phê,lạc, vừng; ở Hà Đông thì trồng mía; ở Thái Nguyên thì trồng chè… vừa tậndụng được đất đai vừa đem lại hiệu quả kinh tế cao
Trồng trọt phải chú ý cả cây ăn quả và cây lấy gỗ để một mặt sử dụngtối đa hiệu quả của các loại cây trồng lấy quả, lấy gỗ, mặt khác phát huy đượctruyền thống dân tộc: phát động tết trồng cây tạo điều kiện xanh, sạch, đẹpcho môi trường góp phần xây dựng đời sống mới Quan niệm này gắn với yêucầu phát triển ngành lâm nghiệp, phải chú ý trồng trọt, bảo vệ và khai thác tàinguyên rừng một cách hợp lý, vì Người xem đây là nguồn tài nguyên quốc giakhông được lãng phí:
Phải chú ý bảo vệ rừng và trồng cây gây rừng Tục ngữ nói "rừng
ruộng; nuôi nhiều lợn, gà để cung cấp thịt ăn cho nhân dân" [46, tr 92],nhưng trên hết theo Người chăn nuôi "là những nguồn lợi để tăng thu nhậpcho xã viên" [47, tr 565]
Chăn nuôi còn để cung cấp phân bón cho trồng trọt, mà trong điều kiệnđất nước còn nghèo chưa có điều kiện sử dụng nhiều phân bón nhập từ bênngoài cũng như chưa có đủ nhiều nhà máy sản xuất phân bón, thì tận dụng
Trang 24triệt để nguồn phân bón sẵn có phát triển ngành trồng trọt là rất cần thiết,quan điểm này của Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị khi trong một thờigian dài nhiều tấm gương lao động giỏi kết hợp hữu hiệu mô hình vườn - ao -chuồng: tận dụng triệt để cả chăn nuôi và trồng trọt.
Người cũng hết sức lưu ý mặc dù chăn nuôi cung cấp thịt ăn nhưng ngườidân phải chống giết mổ bừa bãi nhất là trâu bò vì một mặt "nông dân sẽ thiếu
bò cày" [47, tr 461], mặt khác gây "lãng phí rất nghiêm trọng" [47, tr 460].Trong điều kiện đất nước còn nghèo thì những lời chỉ dẫn của Người về tănggia sản xuất thực hành tiết kiệm rất thiết thực và cụ thể, đã tận dụng tối đamọi nguồn lực để phát triển sản xuất nông nghiệp làm tròn vai trò hậu phươngtrong cuộc kháng chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Ba là, nền nông nghiệp toàn diện có ngành ngư nghiệp và các ngành
gắn với kinh tế biển phát triển Nước ta có đường bờ biển tương đối dài từ
Bắc xuống Nam, khoảng 3.200km và hàng nghìn đảo lớn nhỏ, do đó kinh tếbiển đóng vai trò quan trọng, vừa tận dụng diện tích mặt nước vừa tạo điềukiện để nhân dân xây dựng vùng biển, giữ vững an ninh quốc gia
Ngành ngư nghiệp theo Hồ Chí Minh bao gồm cả nuôi trồng và đánhbắt cá ở vùng sông hồ và vùng biển, riêng ở vùng biển thì Hồ Chí Minh chútrọng phát triển các nghề gắn với biển như "nghề làm muối, nuôi dưỡng vàbảo vệ các thứ hải sâm, trân châu…" [48, tr 354]
Người nhiều lần chỉ rõ bên cạnh khai thác thì phải kết hợp chặt chẽ vớinuôi trồng, nói chuyện với Hội nghị tổng kết công tác nông lâm ngư nghiệpnăm 1956, Người nói: "Ngoài việc đánh cá, phải chú ý nuôi cá" [46, tr.153],nói chuyện với các nơi như Hà Đông, Hưng Yên, Hải Dương Người căn dặn:
"Cần đẩy mạnh thả cá để cung cấp thêm thực phẩm bổ sung cho thịt, cải thiện
đời sống nhân dân Nuôi cá cũng dễ Có nước và có công người thì cá pháttriển" [48, tr 407]
Trang 25Phát triển ngành ngư nghiệp là một trong những ngành chủ yếu vì tậndụng tối đa điều kiện tự nhiên của "biển bạc", điều này thể hiện tầm nhìnchiến lược của Hồ Chí Minh trong phát huy ưu thế đất nước khi ngày naynuôi trồng và xuất khẩu thủy hải sản là một trong những thế mạnh của ViệtNam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Bốn là, chú trọng phát triển kinh tế hộ gia đình Hồ Chí Minh căn dặn
"phát triển thích đáng kinh tế phụ gia đình của xã viên" [48, tr 407] vì nó đóng vai trò quan trọng "miếng vườn của mỗi gia đình xã viên và các loại
nghề phụ là nguồn lợi để tăng thu nhập" [48, tr 352], Người căn dặn cán bộ
phải chú ý đến phát triển kinh tế phụ của hộ gia đình: "Phải sắp xếp thế nào
để xã viên làm tốt công việc chung của hợp tác xã, đồng thời có thể săn sócmiếng vườn của họ Phải bố trí thế nào vừa phát triển được nghề phụ, vừakhông để nghề phụ lấn át nông nghiệp" [48, tr 352]
Người nắm vững thói quen của người nông dân, có khi bước vào thời
vụ nhưng cũng có lúc nông nhàn, đó là thời gian để họ làm thêm nghề phụ.Cần cù và sáng tạo vốn là một truyền thống quý báu của dân tộc nên bên cạnhnông nghiệp thì nhân dân ta còn có nghề phụ là các làng nghề thủ công truyềnthống như dệt, gốm, đúc đồng,… các làng nghề này tồn tại và phát triển songsong với trồng trọt, chăn nuôi và chúng hỗ trợ cho nhau làm nên sự phongphú của ngành nghề Việt Nam
Phát triển quan điểm của Hồ Chí Minh, hiện nay chúng ta chủ trươnggiữ vững và phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc, các nghề thủ côngđang được Đảng, Nhà nước và nhân dân khôi phục, phát huy để một mặt giữgìn bản sắc văn hóa, mặt khác kết hợp phát triển du lịch nhằm quảng bá vănhóa dân tộc rộng rãi trong nước và quốc tế
1.1.4 Phát triển mạnh hai chân nông nghiệp và công nghiệp
Theo Hồ Chí Minh đây vừa là mục tiêu để phát triển nền kinh tế nóichung vừa là giải pháp để phát triển sản xuất nông nghiệp trong quá trình
Trang 26công nghiệp hóa đất nước vì xuất phát điểm "từ một nước nông nghiệp lạchậu" nên bên cạnh phát triển nông nghiệp làm nền tảng thì phải phát triển
"công nghiệp hiện đại":
Công nghiệp và nông nghiệp là hai chân của nền kinh tế
Nông nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp lương thực cho
nhân dân; cung cấp đủ nguyên liệu (như bông, mía, chè…) cho nhàmáy, cung cấp đủ nông sản (như lạc, đỗ, đay,…) để xuất khẩu đổi lấymáy móc
Công nghiệp phải phát triển mạnh để cung cấp đủ hàng tiêu
dùng cần thiết cho nhân dân, trước hết là nông dân; cung cấp máybơm nước, phân hóa học, thuốc trừ sâu … để đẩy mạnh nôngnghiệp; cung cấp dần dần máy cấy, máy bừa cho hợp tác xã nôngnghiệp [48, tr 544-545]
Công nghiệp và nông nghiệp có mối quan hệ biện chứng với nhau,nông nghiệp phát triển sẽ cung cấp nguyên liệu cần thiết để sản xuất côngnghiệp, còn công nghiệp phát triển sẽ tạo ra phân bón và máy móc thúc đẩynâng cao năng suất trong sản xuất nông nghiệp, hai ngành có mối liên hệ chặtchẽ như hai chân của nền kinh tế, cả hai chân - hai ngành phải cùng phát triểnthì nền kinh tế mới phát triển
Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của sản xuất nông nghiệptrong giai đoạn đầu khi xây dựng chủ nghĩa xã hội, tuy nhiên về lâu dài Ngườivẫn chú trọng phát triển công nghiệp vì đó là biện pháp để phát triển lựclượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp Là một giảipháp, theo Hồ Chí Minh phải thực hiện công nghiệp hóa đất nước, đây là conđường để nâng cao đời sống nhân dân: "Công nghiệp phát triển thì nôngnghiệp mới phát triển" [48, tr 545], theo đó, Người cho rằng: "Đời sống nhândân chỉ có thể thật dồi dào, khi chúng ta dùng máy móc sản xuất một cách thật
Trang 27rộng rãi: dùng máy móc cả trong công nghiệp và trong nông nghiệp Máy sẽchắp thêm tay cho người, làm cho sức người tăng lên gấp trăm, nghìn lần vàgiúp người làm những việc phi thường" [48, tr 40-41] Như vậy, công nghiệp
có vai trò to lớn trong nâng cao đời sống nhân dân và trợ giúp rất nhiều chonền tảng nông nghiệp, cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, tuy nhiênquá trình này phải thực hiện một cách tuần tự
Trước hết "phải cải tiến kỹ thuật", trong thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa
xã hội, lao động nông nghiệp nước ta chiếm đại bộ phận nhưng năng suất laođộng không cao, không đáp ứng đủ nhu cầu của xã hội, đó là khó khăn lớnnhất, khó khăn này càng nhiều hơn trong thời kỳ chiến tranh phục vụ cho nhucầu lương thực ngày càng tăng ở cả hai miền Hồ Chí Minh chỉ ra rằng "nông
cụ của ta quá cũ kỹ, vì vậy mà làm lụng rất khó nhọc, nhưng kết quả thì kémcỏi" [48, tr 32]
Luôn tin tưởng vào truyền thống lao động cần cù và sáng tạo của nhândân ta nhất là "trong cái khó, ló cái khôn" nên tận dụng những nông cụ hiện
có, Người đã kêu gọi một phong trào cải tiến nông cụ rộng rãi trong nhân dân
từ rất sớm ngay khi đất nước chuẩn bị bước vào cuộc kháng chiến với thựcdân Pháp, bài viết động viên kinh tế đăng trên báo Cứu quốc ngày 13/12/1946bút danh Q.T Người đã sử dụng khái niệm "cải lương nông cụ", động viênnhân dân thực hiện các biện pháp cải tạo nông cụ trong sản xuất góp phần vàocuộc tổng động viên kinh tế tạo thực lực cho cuộc kháng chiến Quan điểmnày tiếp tục được Người phát triển khi đất nước bước vào công cuộc xây dựngchủ nghĩa xã hội, nói chuyện với nhiều nơi, Người thường xuyên kêu gọi thực
hiện cải tiến nông cụ vì: "Cải tiến nông cụ là một việc rất cần thiết Nó tiết
kiệm được nhiều sức lao động và thời giờ Nó giúp ích nhiều cho việc tănggia sản xuất" [48, tr 54]
Do đó, Người phát động cán bộ và nhân dân các tỉnh thi đua cải tiếnnông cụ "cán bộ và đồng bào phải gây một phong trào cải tiến nông cụ thì
Trang 28năng suất lao động sẽ tăng gấp đôi, gấp ba" [48, tr 32], và quan tâm tổng kếtnêu gương điển hình như việc nêu gương của xã Kim An (Hà Đông): do mạnhdạn cải tiến nông cụ, mà đã tăng vụ, tăng sản lượng, tăng thu nhập của xãviên Mức sống trong xã đã cải thiện rõ rệt [48, tr 277].
Hai là, đẩy mạnh phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp Theo Hồ
Chí Minh để từng bước hiện đại hóa nông nghiệp, công nghiệp phải vươn lênkhông chỉ cung cấp công cụ cải tiến mà phải cung cấp máy móc và các loại vật
tư kỹ thuật khác như máy cày, máy bừa, máy gieo hạt, bơm nước để chống úng,chống hạn, đưa những sản phẩm của ngành hóa học như phân hóa học, thuốctrừ sâu,… và phải sản xuất ra sản phẩm tốt phục vụ nhu cầu tiêu dùng củanhân dân: thiết thực, có hiệu quả không chỉ tốt ở chất lượng mà phải phù hợpvới hoàn cảnh và trình độ của người nông dân: "Quan trọng nhất trong đời sốngcủa nhân dân là vấn đề ăn Để giải quyết tốt vấn đề ăn thì sản xuất lương thựcphải dồi dào Muốn như vậy, thì công nghiệp phải giúp cho nông nghiệp cónhiều máy làm thủy lợi, máy cày, máy bừa, nhiều phân hóa học…" [49, tr 352]
Như vậy, mặc dù mục tiêu chung mà cả nước hướng đến trong xâydựng chủ nghĩa xã hội là công nghiệp hóa, phát triển công nghiệp nặngnhưng trước mắt nhiệm vụ phục vụ nông nghiệp vẫn là chính, công nghiệptrước hết phải cải tiến nông cụ và phát triển các ngành công nghiệp phục vụnông nghiệp, sau đó mới dần dần phát triển công nghiệp nặng Đó là trình tựcủa quá trình xây dựng lực lượng sản xuất trong công cuộc xây dựng đấtnước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó là sự kết hợp chặt chẽ giữa sửdụng hợp lý cái cũ và xây dựng cái mới, tận dụng tối đa mọi điều kiện đấtnước hiện có
Ba là, đẩy mạnh quản lý xí nghiệp, xây dựng đội ngũ cán bộ công nhân thạo kỹ thuật "Cái thìa khóa của việc phát triển công nghiệp là ở cơ sở
thì đẩy mạnh quản lý xí nghiệp và cán bộ, công nhân phải thạo kỹ thuật; các
Trang 29cơ quan lãnh đạo thì phải đi sâu đi sát, phục vụ sản xuất" [48, tr 545], do đó
có công cụ máy móc hiện đại phục vụ sản xuất nông nghiệp rồi thì cần phải
có đội ngũ cán bộ, công nhân lành nghề để vận hành những máy móc, vì suycho cùng, con người vẫn là nhân tố quyết định nhất đến năng suất và chấtlượng công việc
Điều đó phụ thuộc vào vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý, phải luôn lànhững người sáng tạo, luôn tạo môi trường và điều kiện làm việc thuận lợi đểngười công nhân có thể ra sức sáng tạo, đóng góp những sáng kiến cải tiến,phát minh công cụ mới, đem lại hiệu quả cao hơn Công nhân là những ngườilàm chủ của xã hội mới, họ cần phải nhận thức đúng đắn vai trò làm chủ củamình, phải nâng cao ý thức giác ngộ, lập trường tư tưởng và lao động tự giác,sáng tạo Người cho rằng để người lao động phát huy tối đa tài năng thì phải tổchức các phong trào thi đua, vì vậy nhiều phong trào "thi đua yêu nước" đãđược Hồ Chí Minh phát động và đạt kết quả to lớn:
Trong phong trào thi đua yêu nước, đã nảy nở ra hàng chục anhhùng lao động, hàng nghìn chiến sĩ thi đua, hàng vạn lao động tiên tiến
và hàng trăm tổ và đội lao động xã hội chủ nghĩa
Đó là những lực lượng đầu tàu cực kỳ hùng mạnh [48, tr 546] Như vậy, với vai trò là một giải pháp trong phát triển nông nghiệp, côngnghiệp phải từng bước cải tiến nông cụ, phát triển những ngành phục vụ nôngnghiệp, phát triển công nghiệp nặng, nhưng quan trọng hơn cả là phải có mộtđội ngũ cán bộ và công nhân thạo kỹ thuật để sáng tạo, vận hành máy mócphát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa
Ngoài ra, Hồ Chí Minh thường xuyên đặt nông nghiệp trong mối quan
hệ với các ngành khác như thương nghiệp, tài chính, giao thông vận tải,…trong đó, các ngành khác phải lấy phục vụ sản xuất nông nghiệp là chính, vìđời sống nhân dân trước hết do nông nghiệp quyết định, sản xuất nông nghiệp
Trang 30phát triển thì đời sống nhân dân mới nâng cao, ổn định và bền vững, làm cơ
sở phát triển cho những ngành khác Điều đó khẳng định tầm nhìn, cách giảiquyết những mối quan hệ phức tạp của cơ cấu kinh tế một cách lôgíc, toàndiện, có trọng tâm, cách nhìn nhận vấn đề ở tầm sách lược và chiến lược của
tư duy thiên tài Hồ Chí Minh đối với những mối quan hệ chồng chéo của nềnkinh tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
1.1.5 Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa sản xuất nông nghiệp với nông dân và nông thôn
Về lực lượng nông dân trong sản xuất nông nghiệp
Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò quan trọng của nông dân trong pháttriển kinh tế, xây dựng chế độ mới "muốn phát triển công nghệ và thươngnghiệp, ắt phải do nông dân được giải phóng, thi đua sản xuất, cung cấpnguyên liệu và lương thực, đồng thời tiêu thụ dồi dào những thứ công nghệsản xuất ra" [45, tr 213] Nước ta lấy sản xuất nông nghiệp làm ngành kinh tếchính, mà chủ thể của sản xuất nông nghiệp là nông dân "ruộng đất do taynông dân khai khẩn và cày cấy" [45, tr 210], do đó Hồ Chí Minh xem nông
dân là điều kiện nhân hòa trong ba điều kiện nhân - địa - thiên để phát triển
sản xuất nông nghiệp [4, tr 80]
Do vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu phải tạo điều kiện để phát huy yếu tố
nhân hòa này Trên cơ sở phân tích đặc điểm của giai cấp nông dân Việt Nam,
Người cho rằng cần thiết phải thực hiện các nhiệm vụ:
Một là, tạo các động lực vật chất và tinh thần thúc đẩy nông dân sản
xuất nông nghiệp
Đối với người nông dân thì ước mơ ngàn đời của họ là có ruộng đất đểphát triển sản xuất trên chính mảnh đất của mình: "Nguyện vọng của đồng bàonông dân là: khi chưa có ruộng đất thì muốn có ruộng đất; khi đã có ruộng đất
Trang 31rồi thì muốn sản xuất nhiều để được ấm no" [45, tr 538] Vì vậy, Người đặc biệtquan tâm đến việc giao ruộng đất cho nông dân canh tác, điều này thực hiện từtrong cuộc kháng chiến chống Pháp qua các đợt cải cách ruộng đất và khi nôngdân đã có ruộng đất rồi thì Người yêu cầu Chính phủ phải tạo điều kiện cho nôngdân phát triển sản xuất ngay trên mảnh đất của mình: trong các chính sách thìphải đặt lợi ích của nông dân lên hàng đầu, giảm thuế, tổ chức nông dân vào tổđổi công, hợp tác xã, tổ chức đội ngũ cán bộ quản trị công bằng, minh bạch…
Người chú ý đến các động lực tinh thần của người nông dân như giáodục truyền thống yêu nước của dân tộc, lý tưởng giải phóng và phát huy tối đanhân tố con người chủ nghĩa xã hội, nâng cao và bồi dưỡng sức dân, đạo đứccách mạng, nhất là vấn đề thực hành dân chủ trong hợp tác xã để người nông
dân phát huy vai trò làm chủ của mình, vì "thực hành dân chủ là cái chìa khóa
vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn" [50, tr 249] Hồ Chí Minh cũngquan tâm chống các trở lực trong phát triển sản xuất, chủ yếu là những thóiquen và truyền thống lại hậu vốn tồn tại trong bản thân người nông dân, nhất
là tâm lý của người sản xuất tiểu nông mà hiện nay chúng ta gọi là tác phong
nông nghiệp như coi thường tính tập thể, tính tổ chức, mất đoàn kết, lãng phí
trong các hội hè, tiệc tùng
Hai là, động viên nhân dân hăng hái tăng gia sản xuất nông nghiệp,
thực hành tiết kiệm xây dựng đất nước
Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc vận động nhân dân hăng hái sản xuấtnông nghiệp đồng thời thực hành tiết kiệm xây dựng đất nước Sau cách mạngtháng Tám, nhận thấy sản xuất nông nghiệp là nhân tố quyết định để cứu đói,Người và Chính phủ đã phát động một chiến dịch để động viên nhân dân tănggia sản xuất với khẩu hiệu "tấc đất, tấc vàng", "Tăng gia sản xuất! Tăng giasản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa! Đó là khẩu hiệu của ta ngày nay Đó làcách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập" [42, tr 115]
Trang 32Hơn ai hết, lúc bấy giờ Người xem sản xuất nông nghiệp là phương pháp hữuhiệu để củng cố nền kinh tế bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh.
Đến năm 1949, Hồ Chí Minh kêu gọi nông dân tham gia kháng chiếnbằng cách tăng gia sản xuất, người ví nhà nông như một chiến sĩ, chiến trường
là ruộng đồng, cuốc cày là vũ khí và sản xuất nông nghiệp là một mặt trận:
"trên mặt trận nông nghiệp, mỗi đồng bào nhà nông phải là một chiến sĩ xung
phong" [43, tr 687-688], "chiến sĩ nhà nông thì xung phong giết giặc bằng
cày cuốc, nghĩa là phải xung phong tăng gia sản xuất để giúp cho bộ đội có
đủ ăn đủ mặc để đánh giặc" [43, tr 688] Người động viên, khuyến khích
nông dân sản xuất ra của cải vật chất đồng thời cũng kêu gọi sự hỗ trợ củaChính phủ về vốn, mở rộng ngành nghề Đó là sự kết hợp sức mạnh tổng hợpgiữa Nhà nước và tư nhân để phát triển nông nghiệp, đủ sức phục vụ khángchiến và xây dựng đất nước
Người luôn khẳng định tăng gia sản xuất phải kết hợp với thực hành tiếtkiệm vì theo Người "sản xuất mà không tiết kiệm thì như gió vào nhà trống",
"trong nông nghiệp phải tính toán kỹ lưỡng xem cần bao nhiêu ruộng? Có baonhiêu sức lao động?" [48, tr 620] Do vậy, kết hợp với kêu gọi tăng gia sảnxuất thì Người yêu cầu phải tận dụng tối đa nguồn đất đai hiện có, sử dụngđất phải tính toán sao cho đạt hiệu quả cao nhất, tức là phải có loại cây trồngthích hợp nhất, không được bỏ hoang dù chỉ một tấc đất
Hồ Chí Minh đánh giá cao mối quan hệ giữa tăng gia sản xuất và thựchành tiết kiệm của người nông dân: "Tăng gia sản xuất và thực hành tiết kiệm
là con đường đi đến xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, xây dựng hạnh phúccho nhân dân Tăng gia là tay phải của hạnh phúc, tiết kiệm là tay trái củahạnh phúc" [59, tr 257] Người cũng căn dặn hai công việc này phải tiến hànhmột cách cẩn thận, có kế hoạch và chương trình, có nội dung thiết thực rõràng, có sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, muốn vậy theoNgười phải đưa nông dân vào hợp tác xã vì "tổ chức hợp tác xã tốt thì mới có
Trang 33thể tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, do đó mà nâng cao dần đời sống vậtchất và văn hóa của nông dân và củng cố liên minh công nông" [47, tr 409].
Quan niệm của Hồ Chí Minh về phát triển lực lượng nông dân, chủ thểcủa sản xuất nông nghiệp là một quan điểm biện chứng ở chỗ khẳng định họvừa là mục tiêu, vừa là động lực chủ yếu của cách mạng và của sản xuất nôngnghiệp Sự nghiệp cách mạng là vì nông dân, do lực lượng nông dân tự xâydựng lấy, đó là sự kế thừa quan điểm Mác - Lênin khi khẳng định cách mạng
là sự nghiệp của quần chúng, kế thừa truyền thống của ông cha ta phải khoan
thư sức dân trong mọi hoạt động, đó là điều kiện nhân hòa cho sự ổn định và
phát triển lâu dài của sự nghiệp xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện,hiện đại và bền vững
Xây dựng kết cấu kinh tế - kỹ thuật ở nông thôn
Xây dựng kết cấu kinh tế - kỹ thuật ở nông thôn là một trong nhữngbiện pháp hỗ trợ quan trọng để phát triển sản xuất nông nghiệp, vì suy chocùng, sản xuất nông nghiệp chỉ có thể diễn ra trên địa bàn nông thôn và nôngnghiệp phát triển là cơ sở để phát triển nông thôn, nông thôn với kết cấu hạtầng - kỹ thuật phát triển thì càng tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nôngnghiệp Theo Hồ Chí Minh phải thực hiện xây dựng nông thôn gồm:
Một là, tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật vào quản lý và sản xuất
nông nghiệp, đồng thời tạo điều kiện xây dựng nông thôn mới Người nói:
"Thế giới ngày nay có máy móc tối tân, có vệ tinh nhân tạo Nhưng cách cày cấycủa ta còn rất cũ kỹ, rất lạc hậu, vì vậy khó nhọc nhiều mà thu hoạch ít Để tiến
bộ, chúng ta phải cải tiến kỹ thuật" [47, tr 213]
Người khẳng định cần phải thực hiện áp dụng những tiến bộ của nhânloại trong quản lý và sản xuất nông nghiệp, bao gồm:
Thứ nhất, tổ chức lại quá trình sản xuất, từng bước đưa nông nghiệp
vào con đường sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tức là phải tổ chức và quản lý
Trang 34nông nghiệp trong các hợp tác xã nhằm xây dựng quan hệ mới trong nôngthôn Việt Nam Người khẳng định: "chỉ riêng việc tổ chức nhau lại, cải tiến
kỹ thuật, quản lý cho khéo, thì cũng đã nâng cao được năng suất lao động hơnlàm ăn riêng lẻ" [48, tr 15]
Thứ hai, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Nước ta
tiến lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện kinh tế nghèo nàn, kỹ thuật lạc hậuthì việc đưa những kỹ thuật mới vào trong sản xuất là yêu cầu cần thiết.Người cũng chỉ rõ do trình độ nông dân Việt Nam, nên khi tuyên truyền ápdụng kỹ thuật thì cán bộ phải giải thích để dân dễ hiểu Vận dụng kinhnghiệm dân gian "nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống" và kỹ thuật mớitrong sản xuất nông nghiệp, Người đã viết những nội dung kỹ thuật cần ápdụng thành một bài diễn ca, gồm tám công việc mà người nông dân cần nhớ:
Nước phải đủ, phân phải nhiều, Cày sâu, giống tốt, cấy đều dảnh hơn.
Trừ sâu, diệt chuột chớ quên, Cải tiến nông cụ, là nền nhà nông.
Ruộng nương quản lý ra công,
Tám điều đầy đủ, thóc bông đầy bồ [47, tr 530]
Trong đó, Người đặc biệt quan tâm đến công tác thủy lợi, sản xuất của
ta là nông nghiệp lúa nước, công tác thủy lợi là quan trọng hơn hết Từ baođời nay, ông cha ta luôn quan tâm làm thủy lợi, nhờ làm thủy lợi mà dân tộc
ta có truyền thống đoàn kết, kinh nghiệm chống lụt, chống hạn Người nói:
Việt Nam ta có hai tiếng Tổ quốc, ta cũng gọi Tổ quốc là đất
nước; có đất và có nước, thì mới thành Tổ quốc Có đất lại có nước thì
dân giàu, nước mạnh
Trang 35Nước cũng có thể làm lợi nhưng cũng có thể làm hại, nhiềunước quá thì úng, lụt, ít nước quá thì hạn hán.
Nhiệm vụ của chúng ta là làm cho đất với nước điều hòa với nhau
để nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội [47, tr 506]
Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm nhắc nhở và động viên nhân dân làmthủy lợi, Người nói "làm thủy lợi thì phải khó nhọc trong vài năm để đượcsung sướng muôn đời" [48, tr 397], Người cũng căn dặn ngoài việc áp dụngnhững kinh nghiệm dân gian thì cần phải kết hợp với những tri thức mới nhưgiữ nước và sử dụng nước, khai thác nguồn nước để làm thủy điện, phát triểngiao thông nông thôn, nuôi trồng thủy sản…
Muốn làm tốt công tác thủy lợi, theo Hồ Chí Minh phải huy động lực lượngcủa dân và Nhà nước trong đó lực lượng nhân dân là chính: "trong việc xây dựngthủy lợi, cần phát động và dựa vào lực lượng quần chúng là chính" [47, tr 306]
và tùy theo quy mô công trình mà Nhà nước sẽ thêm một ít công để hỗ trợcông tác thủy lợi cho nhân dân
Thứ ba, phát triển hệ thống giao thông nông thôn Hồ Chí Minh khẳng
định "giao thông là mạch máu của tổ chức Giao thông tốt thì các việc đều dễdàng Giao thông xấu thì các việc đình trễ [42, tr 433] Do vậy, xây dựng mạnglưới giao thông nông thôn là công việc rất quan trọng và muốn làm cho giao thôngphát triển tốt thì phải dựa vào nhân dân kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước:
Đắp đường lớn là do trung ương phụ trách, Bộ Giao thông chịu
trách nhiệm Nhưng địa phương có thể làm những đường nhỏ Làng này qua làng khác, thì xã tự động làm Nhiều xã đã làm tốt Nên làm
cho đồng bào thấy rõ lợi ích của việc làm thêm đường sá [49, tr 134].Hiện nay, trong những nội dung xây dựng nông thôn mới thì vấn đềgiao thông được Đảng ta đặt ra với yêu cầu nhựa hóa, bê tông hóa, cứng hóađường giao thông nông thôn nhằm tạo cho việc đi lại ở nông thôn dễ dàng
Trang 36hơn, đồng thời đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa nông thôn để miền núi tiến kịpmiền xuôi, đồng bằng tiến kịp đô thị, Đảng ta xem đây là điều kiện để đẩynhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Hai là, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống nông dân Trong tất cả
các tầng lớp nhân dân Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc nâng cao đờisống của nông dân: "Tất cả đường lối, phương châm, chính sách… của Đảng
đều chỉ nhằm nâng cao đời sống của nhân dân nói chung, của nông dân nói
riêng" [48, tr 380] Người thấu hiểu sâu sắc những vất vả của người nông dân
"đồng bào nông dân làm ăn cả năm vất vả, khó nhọc, phải có lúc nghỉ ngơi,giải trí" và "phải làm sao cho ai nấy đều ăn no, mặc ấm, có nhà ở cao ráo, cóđường sá sạch sẽ" [48, tr 412]
Nâng cao đời sống nông dân là một trong những nội dung mà Hồ Chí Minhquan tâm trong việc xây dựng nông thôn mới nhất là việc ăn no mặc ấm và nhà ở
cao ráo, Người nói: "Chúng ta đang chuẩn bị xây dựng nông thôn mới Việc
đầu tiên của nông thôn mới là xây dựng nhà ở cho đàng hoàng" [49, tr 357].Người nhận thấy rõ "nông thôn của ta, nhà ở của đồng bào phần nhiều đang
ọp ẹp, tối tăm, chẳng ra sao, chẳng có hàng lối gì" [48, tr 446], vì vậy phảixây dựng lại nhà ở của người dân cho cao ráo, đây là một trong ba nhu cầu tựnhiên của con người, Đảng phải giải quyết cho tốt để người nông dân "an cưlạc nghiệp" trong chính ngôi nhà và mảnh ruộng của mình
Trồng cây là một giải pháp đầu tiên để xây nhà, Hồ Chí Minh cho rằngđây phải là công việc của nông dân, do nông dân tự làm lấy dưới sự hướngdẫn và tuyên truyền của cán bộ
Người quan tâm đến việc phát triển giáo dục nâng cao dân trí và chăm
sóc sức khỏe cho nông dân Do đó, phải phát triển hệ thống trường học ở nông
thôn góp phần xây dựng nông dân thành những con người mới, vừa có trình độvăn hóa vừa có phẩm chất đạo đức, vì theo Người, nông dân là chủ của hợp tác
Trang 37xã "có văn hóa thì mới quản lý hợp tác xã được tốt" [48, tr 412] Đó phải thực
sự là những chủ nhân của nông thôn mới, có ý thức làm chủ, ý thức tập thể, xâydựng "cho nhà mình thành một nhà kiểu mẫu trong làng" [43, tr 100]
Chăm sóc sức khỏe cho nông dân là nội dung luôn được Hồ Chí Minhquan tâm, từ việc lên án những hành vi xâm hại đến sức khỏe con người củabọn đế quốc thực dân cho đến việc quan tâm chăm sóc sức khỏe nhân dân nóichung khi Cách mạng tháng Tám thành công và ở Di chúc một trong nhữngcông việc cần phải làm là "phát triển công tác vệ sinh, y tế", Người yêu cầumột mặt ở người nông dân phải biết giữ gìn vệ sinh nông thôn, mặt khácngười yêu cầu cán bộ y tế phải quan tâm, tận tụy chăm sóc sức khỏe nhân dânvới tinh thần "lương y phải kiêm từ mẫu" [45, tr 88]
Những quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng nông thôn mới hiệnnay vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và tính thời sự, Đại hội Đảng lần thứ XI,Đảng ta đã đặt vấn đề xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụlớn của Đại hội nhằm mục tiêu đến năm 2020 cơ bản xây dựng nước ta thànhmột nước công nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.1.6 Giữ vững độc lập tự chủ và tranh thủ hợp tác với các nước trong sản xuất nông nghiệp
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu chính trị luôn chi phối các lĩnhvực khác kể cả kinh tế, vì theo Người, trong điều kiện đất nước còn chiếntranh, tất cả mọi lĩnh vực đều phục vụ cho mục đích cao nhất là giành lại độclập, tự do cho dân tộc, đem lại hạnh phúc cho nhân dân Độc lập tự chủ là mộttrong những nội dung cơ bản của đường lối kháng chiến trong cuộc khángchiến kiến quốc, nội dung này chi phối đến những quan điểm của Hồ ChíMinh về sản xuất nông nghiệp nói riêng và phát triển kinh tế nói chung
Sau Cách mạng tháng Tám, đất nước ta trong tình trạng thù trong giặcngoài, để giải quyết những khó khăn của tình hình trong nước nhất là "giặc đói",
Trang 38Hồ Chí Minh đã kêu gọi nhân dân ta "tăng gia sản xuất" Người khẳng định "đó
là cách thiết thực của chúng ta để giữ vững quyền tự do, độc lập" [42, tr 115].Người còn chủ động tự lực trong việc giải quyết vấn đề cấp bách của đất nướclúc bấy giờ là nạn đói, trong khi chờ đợi thu hoạch ngô, khoai, sắn, trên tinhthần nhường cơm sẻ áo, Người phát động phong trào quyên gạo cứu đói, ngàyđồng tâm,… nạn đói bị đẩy lùi, Người kêu gọi nhân dân tích cực đóng gópcho nền tài chính quốc gia, tiến hành tổng động viên trong toàn dân để xâydựng lực lượng chuẩn bị cho kháng chiến lâu dài Nhờ có sự chủ động đó,mặc dù bị bao vây, cấm vận nhưng nước ta đã thoát khỏi khó khăn và chủđộng bước vào cuộc kháng chiến với Pháp
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhận được sự giúp đỡ củanhiều nước nhưng Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở nhân dân ta phải hết sứcchủ động trong sản xuất nông nghiệp: "Các nước bạn sẽ giúp ta kinh nghiệmchống lụt Nhân dân và cán bộ cần hiểu rằng với sự giúp đỡ của các nước bạn,
ta vẫn phải tự lực hăng hái mà làm" [46, tr 32]
Năm 1965 trả lời phỏng vấn báo Nhật báo công nhân (Anh), Hồ Chí Minhkhẳng định những thành tựu chủ yếu của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa:
Từ ngày được giải phóng, sau khi hoàn thành cải cách ruộngđất và cải tạo xã hội chủ nghĩa, chúng tôi đã ra sức phát triển nôngnghiệp, giải quyết được vấn đề lương thực, phát triển công nghiệpnhẹ, tự cung cấp được phần lớn hàng tiêu dùng và bước đầu xâydựng công nghiệp nặng làm cơ sở cho nền kinh tế độc lập củachúng tôi [49, tr 459]
Quá trình lãnh đạo phát triển sản xuất nông nghiệp, Hồ Chí Minh luônhướng đến mục tiêu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đó là sức mạnh của
ý chí tự lực tự cường trong truyền thống dân tộc được Người khơi dậy để chủđộng giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu bảo vệ và xây dựng đất nước
Trang 39Quan điểm độc lập tự chủ của Hồ Chủ tịch không phải là đóng cửa,khép kín mà trái lại luôn gắn bó mở rộng hợp tác với các nước trên thế giớimột cách hòa bình, hữu nghị Quan điểm này hình thành ở Người từ rất sớm
và phát triển hoàn thiện qua các thời kỳ cách mạng
Ngay khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập ngày 2/9/1945, chỉchưa đầy hai tháng sau, ngày 1/11/1945 Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Bộ trưởng
Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đề nghị:
Nhân danh Hội văn hóa Việt Nam, tôi xin được bày tỏ nguyệnvọng của Hội, được gửi một phái đoàn khoảng 50 thanh niên ViệtNam sang Mỹ với ý định một mặt thiết lập những mối quan hệ vănhóa thân thiết với thanh niên Mỹ, và mặt khác để xúc tiến việc tiếp tụcnghiên cứu về kỹ thuật, nông nghiệp cũng như các lĩnh vực chuyênmôn khác [42, tr 80]
Hoặc ngay sau đó, cuối năm 1946, trong lời kêu gọi gửi Liên hợp quốc,
Người đã chủ động tuyên bố chính sách mở cửa và hợp tác rộng rãi của Việt
Nam trên mọi lĩnh vực Từ năm 1950, khi Trung Quốc, Liên Xô và các nước
đặt quan hệ ngoại giao thì những quan điểm của Hồ Chí Minh về hợp tácquốc tế phát triển hoàn thiện, trở thành cơ sở cho Đảng ta trong hoạch địnhnguyên tắc và đường lối đối ngoại hiện nay
Một là "sự giúp đỡ của các nước bạn cho ta cũng chỉ có giới hạn Căn
bản là ta phải tự lực cánh sinh, cố gắng sản xuất" [46, tr 297]
Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao sự giúp đỡ của các nước trong pháttriển kinh tế, tuy nhiên đầu tiên bản thân chúng ta phải cố gắng trước đã, cốgắng để sản xuất và tự giải quyết tốt những vấn đề sản xuất trong nước rồi sau
đó mới nhờ sự trợ giúp từ bên ngoài Sự trợ giúp này theo Người cũng có giớihạn, nhận được sự giúp đỡ từ bên ngoài nhưng chúng ta phải cố gắng tậndụng nguồn vốn và kỹ thuật để phát triển sản xuất trong nước Người nói:
Trang 40Các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốn cho ta Ta phải khéo dùngcái vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta Songnhân dân và cán bộ ta tuyệt đối chớ vì bạn ta giúp nhiều mà đâm ra ỷ lại.
Trái lại, chúng ta phải học tinh thần tự lập tự cường, tinh thầnhăng hái thi đua sản xuất và tiết kiệm của nhân dân các nước bạn [46, tr.30]
Trên thực tế nhân dân các nước đã tận tình giúp đỡ nhân dân Việt Nam
về nhân lực và vật lực như các máy móc phục vụ nông nghiệp (máy kéo, máynông cụ), kỹ thuật kinh nghiệm sản xuất, vốn,… Hồ Chí Minh luôn đánh giácao sự giúp đỡ "chí tình" của các nước anh em, vì vậy để đáp lại với sự giúp
đỡ, Người cho rằng nhân dân ta phải dốc sức sản xuất, tận dụng nguồn vốncũng như kinh nghiệm, kỹ thuật để sản xuất đạt hiệu quả
Hai là, Người yêu cầu trong hợp tác phải "tôn trọng sự hoàn chỉnh về
chủ quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệpnội trị của nhau, bình đẳng cùng có lợi và chung sống hòa bình" [46, tr 5]
Độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là nguyên tắc ngoại giao hàngđầu trong hợp tác với các nước Đây là quan điểm nhất quán và xuyên suốttrong tư tưởng của Người từ khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộnghòa: Việt Nam sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với tất cả các nước kể cảPháp, Mỹ trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, chính trị,… trên cơ sở bình đẳng
và cùng có lợi
Trong sản xuất nông nghiệp, một mặt ta nhận sự trợ giúp từ bên ngoài,
mặt khác nhân dân ta phải cố gắng sản xuất: "Nông nghiệp phải phát triển mạnh
để cung cấp đủ lương thực cho nhân dân; cung cấp đủ nguyên liệu (như bông,mía, chè…) cho nhà máy, cung cấp đủ nông sản (như lạc, đỗ, đay…) để xuấtkhẩu đổi lấy máy móc" [48, tr 544] Để động viên nhân dân, Người nêu gươngcủa nhân dân các nước tiết kiệm "thắt lưng, buộc bụng" đem xuất khẩu nhữngsản phẩm đẹp, tốt để đổi lấy máy móc như Liên Xô, Trung Quốc, Triều Tiên,…