- i - VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VŨ THỊ LAN ANH GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ
Trang 1- i -
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ LAN ANH
GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 3- i -
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ THỊ LAN ANH
GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN VỚI
SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
Chuyên ngành: ĐẠO ĐỨC HỌC
Mã số: 92 29 006
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN SỸ PHÁN
HÀ NỘI - 2018
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu điều tra, tổng hợp, phân tích và đánh giá trong luận án là do tôi thực hiện Các tư liệu được sử dụng trong luận án là trung thực, có nguồn trích dẫn rõ ràng và chưa được công bố ở bất kỳ công trình nào
Tác giả
Trang 5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
CNXH : Chủ nghĩa xã hội GDCD : Giáo dục công dân NCS : Nghiên cứu sinh THCS : Trung học sơ sở THPT : Trung học phổ thông XHCN: Xã hội chủ nghĩa SGK: Sách giáo khoa
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI 7
1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến nhân cách,
nhân cách học sinh trung học phổ thông ở nước ta nói chung, ở
thành phố Hà Nội nói riêng 7 1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng giảng
dạy môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông nước ta
nói chung, thành phố Hà Nội nói riêng 13 1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp nâng cao
hiệu quả giảng dạy môn Giáo dục công dân đối với sự phát triển
nhân cách học sinh trung học phổ thông hiện nay ở nước ta nói
chung, ở Hà Nội nói riêng 19 1.4 Kết luận và một số vấn đề đặt ra luận án cần tiếp tục giải quyết 25
Chương 2: GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 28
2.1 Nhân cách và các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển nhân
cách nói chung, nhân cách học sinh trung học phổ thông ở nước ta
nói riêng 28 2.2 Môn Giáo dục công dân và vai trò của việc giảng dạy môn học này
đối với sự phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông 47
Chương 3: GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN VỚI SỰ
PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ
Trang 7THÔNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY – NHỮNG NHÂN TỐ
ẢNH HƯỞNG, THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN 63
3.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả giảng dạy môn Giáo dục công dân với việc phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông thành phố Hà Nội hiện nay 63
3.2 Giảng dạy môn Giáo dục công dân với việc phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông thành phố Hà Nội hiện nay – Thực trạng và nguyên nhân 73
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 106
4.1 Phương hướng để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Giáo dục công dân với việc phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông ở thành phố Hà Nội hiện nay 106
4.2 Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Giáo dục công dân với việc phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông thành phố Hà Nội hiện nay 112
KẾT LUẬN 137
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 139
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 140
PHỤ LỤC 151
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu của giáo dục phổ thông ở nước ta hiện nay được quy định tại Điều
27 Luật Giáo dục 2005 là “giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [97, tr.21]
Sau hơn 30 năm đổi mới đất nước, chúng ta đã và đang đạt được “những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình”[58, tr.91] Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nền giáo dục nước nhà đã có nhiều thay đổi, khởi sắc Hệ thống giáo dục được xây dựng tương đối hoàn chỉnh ở tất cả các bậc học từ mầm non đến đại học Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo đã từng bước được hiện đại hóa Đến nay, ở hầu hết các tỉnh, thành, vùng miền khó khăn đều có đủ trường học Nhiều trường đã được xây dựng theo tiêu chuẩn kiên
cố hóa Chất lượng giáo dục và đào tạo được nâng lên, chất lượng giáo dục đỉnh cao có bước phát triển mới Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, với cơ cấu ngày càng hợp lý Tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục hàng năm của nước ta ở mức xấp xỉ 20%, tương đương 5% GDP Nhờ đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục, hệ thống giáo dục và đào tạo ngoài công lập đã góp phần đáng kể vào phát triển giáo dục và đào tạo chung của toàn xã hội Công tác quản lý giáo dục và đào tạo cũng đã có những chuyển biến nhất định
Trang 10Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển của đất nước, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước Nạn bạo lực học đường; tình trạng vô kỷ luật trong học tập, ý thức thiếu tôn trọng giáo viên diễn ra ở nhiều nơi Thậm chí đã có trường hợp học sinh lớp 11 dùng dao chém thầy giáo của mình khi bị nhắc nhở về chuyện bỏ học [6]
Để khắc phục tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng trong một
bộ phận học sinh nước ta hiện nay; để có được những nhân cách học sinh phát triển toàn diện cả về phẩm chất đạo đức lẫn trí tuệ bổ sung cho nguồn nhân lực chất lượng cao trong tương lai vì sự phát triển bền vững của đất nước, cùng với
“hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật
và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động” [97, tr.21–22], chúng ta phải hết sức coi trọng giáo dục đạo đức cho học sinh, trong đó GDCD là môn học có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh – nhất là thành tố đạo đức
Môn GDCD giữ vai trò chủ đạo trong việc giúp học sinh hình thành, phát triển ý thức và hành vi của người công dân Thông qua các bài học về đạo đức, lối sống, pháp luật, kinh tế, môn GDCD bồi dưỡng cho học sinh những phẩm chất và năng lực chung, đặc biệt là tình cảm, niềm tin, nhận thức, cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức và quy định của pháp luật, có kỹ năng sống và bản lĩnh để học tập, làm việc và sẵn sàng thực hiện trách nhiệm công dân trong
sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, hiện nay bộ môn GDCD trong nhà trường THPT chưa nhận được sự quan tâm, đầu tư đúng mức như nó cần phải có Nội dung chương trình môn GDCD đang quá nặng về “dạy chữ” mà chưa chú trọng nhiều đến việc “dạy người” Đội ngũ
Trang 11giáo viên của các trường chất lượng chưa đồng đều, còn một số giáo viên dạy không đúng chuyên môn đào tạo, phương pháp dạy học còn đơn điệu… Do đó, hiệu quả việc giảng dạy bộ môn GDCD với việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở một số trường phổ thông trung học nước ta nói chung, ở thành phố Hà Nội nói riêng còn nhiều bất cập, hạn chế
Vậy làm thế nào để chúng ta có được những nhân cách học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản; thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Đây là một trong những vấn đề lớn đặt ra cho ngành giáo dục nói riêng, cho xã hội Việt Nam nói chung Để góp một phần nhỏ bé của
mình vào việc giải quyết vấn đề lớn trên đây, tác giả xin chọn vấn đề “Giảng dạy
môn Giáo dục công dân với sự phát triển nhân cách học sinh trung học phổ thông thành phố Hà Nội hiện nay” để nghiên cứu và làm luận án tiến sĩ Triết
học, chuyên ngành Đạo đức học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu : Trên cơ sở góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý
luận về nhân cách, vai trò của giảng dạy môn GDCD đối với sự phát triển nhân cách học sinh THPT, luận án phân tích thực trạng vấn đề giảng dạy môn GDCD với sự phát triển nhân cách cho học sinh THPT thành phố Hà Nội thời gian qua,
từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn học này trong các trường THPT ở thành phố Hà Nội hiện nay
Nhiệm vụ của luận án
Một, tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Hai, góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản về nhân cách, về
vai trò của việc giảng dạy môn GDCD đối với sự phát triển nhân cách học sinh THPT thành phố Hà Nội hiện nay
Trang 12Ba, phân tích, đánh giá những ưu điểm và hạn chế trong việc giảng dạy
môn GDCD đối với sự phát triển nhân cách học sinh THPT ở thành phố Hà Nội hiện nay và nguyên nhân của chúng
Bốn, đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao
hiệu quả giảng dạy môn GDCD đối với sự phát triển nhân cách của học sinh THPT ở Hà Nội hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề giảng dạy môn GDCD với sự phát triển nhân cách học sinh THPT ở thành phố Hà Nội hiện nay
Phạm vi nghiên cứu:
– Giai đoạn nghiên cứu: từ năm 2000 đến nay
– Không gian nghiên cứu: địa bàn Hà Nội (diện khảo sát chủ yếu là các quận nội thành)
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Luận án được thực hiện trên cơ sở các quan điểm của chủ
nghĩa Mác–Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức, giáo dục đạo đức; về vai trò của giảng dạy môn GDCD đối với
sự phát triển nhân cách học sinh THPT ở nước ta nói chung, ở thành phố Hà Nội hiện nay nói riêng
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp luận chung của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp với các phương pháp phân tích – tổng hợp; hệ thống – cấu trúc; lôgic – lịch sử; xử lý văn bản
Trang 13Trong chừng mực có liên quan, luận án có sử dụng các tài liệu thống kê, các báo cáo kinh tế – xã hội của các tổ chức thuộc hệ thống hành chính, giáo dục, khoa học, pháp luật, văn hóa, xã hội… của Đảng và Nhà nước Việt Nam Phương pháp thu thập số liệu từ các báo cáo của Đoàn thanh niên các trường THPT tại thành phố Hà Nội
Luận án có tham khảo và sử dụng một số nghiên cứu khảo sát thực địa, điền dã tại một số trường THPT tại thành phố Hà Nội; sẽ sử dụng những số liệu của những phỏng vấn đã thực hiện bằng bảng hỏi Thống kê, phân tích, tổng hợp, nghiên cứu, phát hiện và giải quyết vấn đề trên cơ sở xử lý thông tin thu được từ bảng hỏi của một số nghiên cứu khác đã có và những thông tin của các công bố khác trên các báo chí chuyên ngành
5 Đóng góp mới của luận án
– Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận liên quan đến vai trò của việc giảng dạy môn GDCD đối với sự phát triển nhân cách học sinh THPT thành phố Hà Nội hiện nay
– Phân tích thực trạng và nguyên nhân của thực trạng giảng dạy môn GDCD trong các trường THPT ở thành phố Hà Nội hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn GDCD đối với sự phát triển nhân cách của học sinh THPT ở thành phố Hà Nội hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Ý nghĩa lý luận: Luận án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận liên
quan đến nhân cách cũng như vai trò của giảng dạy môn GDCD đối với sự phát triển nhân cách học sinh THPT thành phố Hà Nội hiện nay
Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy môn GDCD ở trường THPT ở thành phố Hà Nội nói riêng, ở nước ta nói chung
Trang 14Ý nghĩa thực tiễn : Luận án có ý nghĩa khuyến nghị trong việc giảng dạy
môn GDCD ở trường THPT ở thành phố Hà Nội nói riêng, ở nước ta nói chung
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 10 tiết
Trang 15Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 NHÓM CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN NHÂN CÁCH, NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở NƯỚC TA NÓI CHUNG, Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI NÓI RIÊNG
Cho đến nay, cả trong nước lẫn ngoài nước đã có không ít công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nhân cách Trong số đó có thể kể đến một số công trình sau:
Trước hết có thể đề cập đến cuốn “Chủ nghĩa xã hội và nhân cách” Cuốn
sách gồm 16 chương, được in trong hai tập Tập I gồm phần mở đầu và 7 chương, tập II gồm 9 chương Cuốn sách được dịch từ tiếng Nga ra tiếng Việt năm 1983, do Nhà xuất bản Sách giáo khoa Mác – Lênin ấn hành Đây là công trình khoa học của các học giả thuộc nhiều nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa (trước đây) biên soạn và do L.M Ác–khan–ghen–xki Chủ biên Cuốn sách
đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề như: nhân cách; những đặc trưng cơ bản của nhân cách xã hội chủ nghĩa; tính tích cực xã hội của nhân cách; sự phát triển nhân cách về mặt đạo đức; những con đường giáo dục nhân cách xã hội chủ nghĩa; phê phán các thuyết đầu cơ tư sản về vị trí của nhân cách trong xã hội xã hội chủ nghĩa [92]
Những luận giải của các tác giả trong mục “Khái niệm nhân cách” và
“Tính quyết định xã hội và tính tích cực của nhân cách” cũng như những mục liên quan đến con đường giáo dục nhân cách xã hội chủ nghĩa là những tài liệu tham khảo có giá trị khi bàn về nhân cách học sinh THPT và vai trò của giáo dục nói chung, giảng dạy môn GDCD nói riêng đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của đối tượng này
Trang 16Nghiên cứu nhân cách tương đối có hệ thống ở Việt Nam trước hết phải
kể đến Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX–07 (giai đoạn
1991–1995) – “Con người Việt Nam – mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội” Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn
nhằm phát hiện ra những đặc trưng, xu hướng lựa chọn giá trị nhân cách của con người Việt Nam trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế, trên cơ sở đó
đề ra các giải pháp nhằm định hướng sự lựa chọn các giá trị nhân cách đúng vì
sự phát triển bền vững của đất nước
Đặc biệt đề tài KX–07– 04 “Giá trị – Định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị” do tác giả Nguyễn Quang Uẩn làm chủ nhiệm đã đi sâu nghiên
cứu lý luận cơ bản về giá trị, nhân cách, hệ giá trị nhân cách con người Việt Nam
và một quy mô khảo sát thực tiễn rộng lớn từ miền núi đến nông thôn cho đến thành thị; từ miền Bắc, miền Trung cho đến miền Nam với 7 nhóm khách thể, trong đó có nhóm học sinh phổ thông : “Định hướng giá trị của học sinh phổ thông trung học” trong đó có mục “Về định hướng giá trị nhân cách của học sinh phổ thông trung học”[41, tr.110–111] Đây là những tư liệu tham khảo rất bổ ích cho tác giả luận án khi bàn về sự phát triển nhân cách của học sinh THPT nước
ta nói chung, của thành phố Hà Nội nói riêng
Năm 2004, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia có ấn hành cuốn “Một số vấn
đề nghiên cứu nhân cách”, do tác giả Phạm Minh Hạc và Lê Đức Phúc đồng chủ
biên Cuốn sách gồm 11 bài viết liên quan trực tiếp đến nhân cách, như: động cơ
và quá trình hình thành nhân cách; mô hình nhân cách; tự ý thức và sự hình thành nhân cách… Tuy tiếp cận từ góc độ tâm lý học, nhưng những gì được các tác giả trình bày trong các bài viết của cuốn sách cũng giúp cho chúng tôi có cái nhìn đa diện hơn về quá trình hình thành nhân cách, trên cơ sở đó tìm cách tác động để có được mô hình nhân cách đáp ứng yêu cầu xã hội, trong đó giáo dục phổ thông đóng vai trò quan trọng [73]
Trang 17Tác giả Đào Thị Oanh trong cuốn sách “Vấn đề nhân cách trong tâm lý học ngày nay”[105] đã tổng hợp và khái quát lý luận tâm lý học về nhân cách
Theo tác giả, vấn đề nhân cách đã được đề cập tương đối sớm trong lịch sử nhận thức của nhân loại và là một trong những vấn đề then chốt của tâm lý học, cũng như một số lĩnh vực khoa học khác nhau, trong đó có Triết học
Hiện nay khái niệm “nhân cách” chưa có sự thống nhất cao độ, vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau Về cơ bản người ta coi nhân cách là hệ thống các giá trị xã hội nằm trong con người, là những thuộc tính tâm lý ổn định của cá nhân, hay là tổ hợp đạo đức và năng lực trong con người Trong cuốn sách này tác giả cũng đã đề xuất các giải pháp về hình thành, phát triển nhân cách trong công tác giáo dục thế hệ trẻ Đây là một trong những tư liệu tham khảo giúp cho tác giả luận án có thêm cơ sở để giải quyết mục đích, nhiệm vụ luận án đặt ra
Năm 2009, tác giả Lê Thị Thanh Hương có thực hiện đề tài cấp Nhà nước,
mã số KX.03.11/ 06–10 “Nhân cách văn hóa trí thức Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” Mục tiêu chính của đề tài là chỉ ra những nét đặc
trưng trong nhân cách văn hóa của trí thức Việt Nam hiện nay, lấy đó làm một trong những cơ sở để Đảng, Nhà nước tham khảo trong việc xây dựng chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí thức một cách hiệu quả nhất
Cuốn “Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế” do Phạm Hồng Tung làm chủ biên, được Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia ấn hành năm 2011 [128] Đây là một trong những kết quả nghiên cứu chính của đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KX 03.16/06–10:
Thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế Cuốn sách gồm 4 chương, những kết quả
nghiên cứu ở chương 2 “Tình hình thanh niên Việt Nam hiện nay” (tr.161–255)
và chương 4 “Những nhân tố tác động, định hướng và giải pháp nhằm xây dựng lối sống của thanh niên Việt Nam trong những thập kỷ tới” (tr.382–442) ít nhiều
Trang 18tới của đề tài này là thanh niên Việt Nam nói chung chứ không phải chỉ có học sinh THPT như đề tài mà tác giả luận án lựa chọn Nhưng dẫu sao thì đây cũng
là tài liệu tham khảo có giá trị đối với người thực hiện đề tài luận án này Nhất là phần luận giải của các tác giả trong cuốn sách về vai trò giáo dục của nhà trường, của gia đình được coi là “một khâu, một môi trường giáo dục quan trọng đối với sự phát triển nhân cách và hình thành lối sống của thanh niên Việt Nam hiện nay” nói chung, học sinh THPT nói riêng (tr.231)
Năm 2014, Nxb Chính trị quốc gia có ấn hành cuốn“Giá trị văn hoá truyền thống dân tộc với việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay”
của Lương Gia Ban – Nguyễn Thế Kiệt [4] Cuốn sách đã phân tích vai trò của giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, đặc biệt là giá trị đạo đức trong việc xây dựng nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay Theo các tác giả “Giá trị văn hoá truyền thống có vai trò tích cực trong việc truyền lại cho thế hệ trẻ đang trưởng thành những giá trị tốt đẹp mà thế hệ trước tạo ra, để xây dựng nhân cách, có sự thống nhất giữa truyền thống và hiện đại, xây dựng một lối ứng xử có văn hoá cao” (tr.74)
Ngoài các cuốn sách trên còn có các bài viết, luận án bàn về vấn đề nhân cách và nhân cách học sinh THPT Chẳng hạn tác giả Nguyễn Văn Phúc trong
bài “Tình cảm đạo đức và giáo dục tình cảm đạo đức trong điều kiện hiện nay”, đăng ở Tạp chí Triết học, số 6 (118), năm 2000 [111], đã giúp cho chúng ta có
một cách nhìn tương đối khái quát về vai trò của tình cảm đạo đức trong đời sống con người, trên cơ sở đó khẳng định sự cần thiết phải giáo dục tình cảm đạo đức trong đời sống xã hội nói chung cùng với thế hệ trẻ nói riêng Tuy bài viết không trực tiếp bàn đến nhân cách học sinh THPT nhưng đây cũng là nguồn tư liệu quý giá để tác giả tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài luận án của mình
Trong bài: “Những việc cần làm để phát huy vai trò của môn Giáo dục công dân đối với sự hình thành, phát triển nhân cách học sinh phổ thông”, tác
Trang 19giả Hà Nhật Thăng đã cho rằng: Việc xây dựng mô hình nhân cách học sinh THPT ở nước ta hiện nay phải dựa trên mô hình nhân cách con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng phải chú ý tới đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của học sinh, có như vậy tính hiện thực hóa của mô hình nhân cách học sinh THPT mới cao, mô hình nhân cách ấy mới đi vào cuộc sống [122, tr.100–104] Theo tác giả bài viết, đặc trưng tâm lý cơ bản nhất của lứa tuổi này là
“mong muốn được bạn bè thừa nhận và tôn trọng” rồi mới đến “mong muốn được thể hiện sở thích và tính cách của mình trong quan hệ với bạn” Những kết luận rút ra này của tác giả là tư liệu tham khảo quý báu khi chúng tôi nghiên cứu
về đặc điểm tâm – sinh lý học sinh THPT, trên cơ sở đó đề ra giải pháp giáo dục thích hợp
“Xây dựng nhân cách cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay” là nhan đề
bài viết của tác giả Trần Sỹ Phán, đăng ở Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, số
8–2013 và bài “Định hướng giá trị nhân cách con người Việt Nam hiện nay” của
Trần Sỹ Phán và Trần Thị Hồng Lê, đăng ở Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam,
số 10–2014 [110] Trong hai bài viết này những vấn đề lý luận chung về nhân cách tiếp tục được làm sáng tỏ, là tư liệu quý để NCS tham khảo, nhưng đây là nhân cách xã hội – nhân cách của cán bộ, đảng viên, của con người Việt Nam nói chung chứ không phải nhân cách của học sinh THPT như đề tài xác định
Tạp chí Lý luận Chính trị, số 7–2015 có bài “Vai trò của giáo dục đạo đức trong xây dựng nhân cách sinh viên hiện nay” của tác giả Nguyễn Thế Kiệt [91]
Mặc dù đối tượng giáo dục đạo đức để xây dựng nhân cách trong bài viết này là sinh viên nhưng những luận giải của tác giả bài viết về nhân cách, về những nhân tố tác động đến quá trình xây dựng nhân cách hay là vai trò của giáo dục đạo đức đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách của sinh viên… cũng có những gợi mở bổ ích để NCS tham khảo trong quá trình thực hiện luận
án
Trang 20Trong một số năm gần đây đã có một số luận án nghiên cứu về nhân cách
từ các góc độ, khía cạnh, đối tượng khác nhau Chẳng hạn luận án tiến sĩ Triết
học “Giáo dục đạo đức đối với sự hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay” của Trần Sỹ Phán (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1999) Hay Lê Thị Thuỷ thực hiện đề tài “Vai trò của đạo đức đối với sự hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện nay” (luận án tiến sĩ Triết học,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2001) Năm 2011, tác giả Cao Thu Hằng đã bảo vệ thành công Luận án tiến sĩ Triết học tại Học viện Khoa học xã
hội với đề tài “Kế thừa các giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng nhân cách con người Việt Nam hiện nay” Năm 2014, tại Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, NCS Phạm Huy Thành bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Triết học
với đề tài: “Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống với việc hình thành và phát triển nhân cách cho sinh viên khu vực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay” Tiếp đó năm 2015, NCS Bùi Thanh Thủy cũng bảo vệ thành công luận án tiến sĩ triết học: “Giáo dục giá trị văn hóa tinh thần truyền thống dân tộc với việc hình thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay”… Liên quan trực tiếp đến nhân cách học sinh THPT có luận án tiến sĩ “Định hướng giá trị nhân cách của học sinh trung học phổ thông” của Nguyễn Thị Mai
Lan (2009) Cách tiếp cận của luận án là từ góc độ tâm lý học – tâm lý học nhân cách chứ không phải từ góc độ triết học, và định hướng ở đây là định hướng giá trị nhân cách, rộng hơn vấn đề giáo dục đạo đức mà luận án hướng tới Tuy nhiên cơ sở lý luận về định hướng giá trị nhân cách của học sinh THPT; các yếu
tố tác động đến định hướng giá trị nhân cách của học sinh THPT được tác giả trình bày trong luận án cũng là những tư liệu tham khảo bổ ích cho NCS trong quá trình triển khai luận án
Trang 211.2 NHÓM CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NƯỚC TA NÓI CHUNG, Ở THÀNH PHỐ
HÀ NỘI NÓI RIÊNG
Trong các tư liệu có được, tác giả luận án thấy rằng, các công trình liên quan trực tiếp đến thực trạng giảng dạy môn GDCD ở trường THPT nước ta nói chung, ở thành phố Hà Nội nói riêng còn ít Phần lớn các bài viết tập trung vào việc giáo dục đạo đức một cách chung chung, ít bàn trực tiếp đến việc giảng dạy môn GDCD ở trường THPT Tuy nhiên những gì liên quan đến giáo dục đạo đức cũng là tài liệu tham khảo quý giá khi đánh giá thực trạng giảng dạy môn GDCD
Tại Hội thảo khoa học Giáo dục đạo đức học sinh, sinh viên ở nước ta: Thực trạng và giải pháp, (tổ chức ở Đồng Nai, ngày 18–19/7/2008) tác giả Nguyễn Thanh Bình trong bài viết “Thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông hiện nay”[13], đã thông qua khảo sát thực trạng
hoạt động nghề nghiệp và đánh giá giáo viên THPT với các phiếu hỏi các đối tượng là giáo viên, học sinh, cán bộ quản lý và cha mẹ học sinh ở 7 trường thuộc
7 tỉnh, từ đó đi đến đánh giá thực trạng công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT hiện nay về các mặt nội dung và phương pháp tổ chức giáo dục Kết quả khảo sát cho thấy: nội dung giáo dục toàn diện nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng cho học sinh THPT tương đối phong phú Hình thức tổ chức giáo dục khá đa dạng Tuy nhiên, trách nhiệm giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng của giáo viên môn học còn yếu Phương pháp tổ chức giáo dục còn chưa có chiều sâu, nặng về phong trào Cách thức tổ chức còn mang nặng tính giáo điều,
áp đặt Liên quan đến thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông, ngoài bài viết của Nguyễn Thanh Bình, trong kỷ yếu này còn có một số bài viết của các
tác giả khác, như: Hồ Viết Lương với bài “Giáo dục đạo đức trong trường phổ thông hiện nay: Thực trạng và giải pháp” (tr.204); tác giả Lê Quang Tuấn với
Trang 22bài “Giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông – Thực trạng, nguyên nhân và các giải pháp” (tr.231) …
Tạp chí Giáo dục, số 233 (tháng 10, năm 2009) có bài “Những vấn đề còn bất cập trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông”
của tác giả Đào Đức Doãn [50] Trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra những bất cập, hạn chế trong việc dạy học môn GDCD ở trường THPT nước ta hiện nay,
tập trung ở hai vấn đề chính: một, bất cập về nội dung chương trình; hai, bất cập
về đội ngũ giáo viên Theo tác giả đây chính là các điểm nghẽn trong giảng dạy
và học tập môn GDCD mà chúng ta đang phải đối mặt Tác giả bài viết cho rằng, phần lớn học sinh coi môn GDCD là môn phụ nên học một cách miễn cưỡng, đối phó cốt để cho qua; nhiều nội dung của môn học còn khó, khô cứng, giáo điều; nhiều giáo viên giảng dạy bộ môn không được đào tạo cơ bản để dạy GDCD…
Từ đó tác giả cho rằng cần thiết phải có sự đổi mới về tất cả các phương diện của quá trình dạy và học môn GDCD từ đội ngũ giáo viên đến chương trình đào tạo, nội dung SGK, phương pháp giảng dạy, cách kiểm tra, đánh giá… Tác giả luận
án ít nhiều tìm được sự đồng cảm của tác giả bài viết này
Tạp chí Lý luận chính trị số 3–2013 có bài “Nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong trường phổ thông hiện nay” của tác giả Phạm Nguyên Nhung
[102] Tác giả bài viết cho rằng, tuy công tác giáo dục đạo đức ở trường phổ thông đạt được những kết quả nhất định, nhưng so với mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất… thì
cần phải nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức trong trường phổ thông hiện nay
Để làm được điều đó một trong những giải pháp quan trọng là phải tăng cường
có hiệu quả việc giảng dạy môn GDCD – một môn học ảnh hưởng trực tiếp đến việc cung cấp tri thức đạo đức cũng như điều chỉnh hành vi đạo đức của học sinh
Trang 23Tạp chí Tuyên giáo, số 3 năm 2013 có bài “Nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học môn Giáo dục công dân” của tác giả Nguyễn Đắc Hưng [87]
Trong bài viết này, sau khi nêu lên vị trí, tầm quan trọng của môn GDCD trong việc “dạy chữ”, “dạy người” ở các trường phổ thông, tác giả đã chỉ ra thực trạng của việc dạy và học môn học này một thực trạng không mấy sáng sủa Tác giả bài báo viết: “Có một thực tế là trong nhiều năm qua, trong suy nghĩ của nhiều người, Giáo dục công dân vẫn bị coi là môn học phụ Ngay cả nhiều giáo viên cũng chưa nhận thức được đầy đủ vị trí, tầm quan trọng của môn học này nên khi được phân công giảng dạy thường có tâm lý chán nản, ít quan tâm, chưa đầu tư đúng mức về sức lực và trí tuệ trong việc soạn giáo án, chuẩn bị bài, làm cho các tiết học trở nên khô khan, nhàm chán, không gây được sự hứng thú đối với học sinh Kết quả này dẫn đến nhiều học sinh không nhận thức được hết tầm quan trọng, nên đã coi thường việc học; tỏ ra hờ hững, học một cách đối phó, thiếu nghiêm túc đối với môn học này” (tr.76)
Tháng 8 năm 2013, tại Hội thảo Quốc gia về Giáo dục đạo đức – công dân trong giáo dục phổ thông Việt Nam do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức, tác giả Nguyễn Đình Tường trong bài viết “Giảng dạy, học tập môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông hiện nay – những vấn đề đặt ra và hướng giải quyết” [134] đã nêu lên vai trò của môn GDCD là nhằm giáo dục học sinh trở thành
những công dân tốt, có ích cho xã hội, cho gia đình Tuy nhiên kết quả dạy và học môn GDCD hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu của môn học Tác giả cho rằng phần lớn học sinh không hứng thú với môn học, coi môn GDCD là môn phụ nên đa số học sinh chưa có động cơ mạnh mẽ trong học môn này Nội dung môn học còn nhiều bất cập, phần lớn nặng về lý thuyết, nhẹ về ứng dụng thực hành Năng lực của nhiều giáo viên giảng dạy bộ môn còn hạn chế, do vậy việc truyền thụ tri thức đến học sinh còn thiếu sót Phương pháp dạy học môn GDCD chủ yếu vẫn là sử dụng phương pháp truyền thống đọc – chép, độc thoại một chiều Theo tác giả, những hạn chế, bất cập này cần phải được khắc phục sớm,
Trang 24trả đúng vị trí của môn học như chỉ thị số 30/1998/CT–BGD&ĐT của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 20 tháng 5 năm 1998 đã xác định: “Môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông có vị trí hàng đầu trong việc định hướng phát triển nhân cách của học sinh thông qua việc cung cấp hệ thống tri thức cơ bản về giá trị đạo đức – nhân văn, đường lối chính sách lớn của Đảng, Nhà nước và pháp luật, kế thừa các truyền thống đạo đức, bản sắc dân tộc Việt Nam; trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tiếp thu những giá trị tốt đẹp của nhân loại và thời đại”
Cùng với các bài viết trên, còn một số luận văn, luận án có bàn đến thực trạng giáo dục đạo đức, giảng dạy môn GDCD cho học sinh phổ thông ở nước ta hiện nay
Năm 2001, tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, NCS Đỗ Tuyết
Bảo đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Triết học với đề tài “Giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung học cơ sở tại Thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện đổi mới hiện nay” Luận án tập trung làm rõ vai trò của nhà trường, gia đình và
xã hội trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở tại TP Hồ Chí Minh Trên cơ sở đánh giá thực trạng và phân tích những nhân tố tác động đến quá trình giáo dục đạo đức, tác giả đề xuất một số định hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục đạo đức cho học sinh trung học cơ sở hiện nay Tuy đối tượng giáo dục trong luận án này là học sinh trung học cơ sở, nhưng những gì tác giả phân tích trong luận án cũng có ý nghĩa tham khảo đối với học sinh THPT
Năm 2008, NCS Nguyễn Sỹ Quyết Tâm đã bảo vệ thành công luận án tiến
sĩ Triết học, với đề tài “Giáo dục tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa cho học sinh trung học phổ thông ở miền Đông Nam Bộ hiện nay” Trong công trình
khoa học của mình, tác giả đi sâu làm rõ sự cần thiết của việc giáo dục tinh thần
yêu nước xã hội chủ nghĩa cho học sinh THPT ở miền Đông Nam Bộ Việt Nam,
Trang 25chỉ ra thực trạng giáo dục tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa cho học sinh THPT ở miền Đông Nam Bộ hiện nay Trên cơ sở đó, đề ra các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả giáo dục tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa cho học sinh
THPT ở miền Đông Nam Bộ hiện nay Các giải pháp này có giá trị tham khảo nhất định để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn GDCD trong trường THPT ở nước ta hiện nay
Liên quan đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh THPT còn có luận án
tiến sĩ Giáo dục học của Nguyễn Xuân Thanh, với đề tài “Giáo dục lòng nhân nghĩa cho học sinh trung học phổ thông trong giai đoạn hiện nay” (Viện Khoa
học Giáo dục Việt Nam, Hà Nội – 2009) Ngoài việc góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về “Lòng nhân nghĩa”, tác giả còn chỉ ra thực trạng giáo dục lòng nhân nghĩa cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay và nguyên nhân của thực trạng đó Việc phân tích thực trạng này là cơ sở để tác giả xác định hệ thống các biện pháp giáo dục nhằm nâng cao kết quả giáo dục lòng nhân nghĩa cho học sinh THPT trong giai đoạn hiện nay
Ngoài các công trình nghiên cứu trên, còn có một số bài viết liên quan đến giảng dạy môn GDCD, đến giáo dục đạo đức và thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh THPT nước ta trong giai đoạn hiện nay Chẳng hạn tác giả Nguyễn Văn
Cư có bài “Giáo dục đạo đức cách mạng cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông qua việc dạy và học môn Giáo dục công dân” đăng ở Tạp chí Giáo dục, số
186, 2008 [45]; tác giả Nguyễn Thị Kim Dung với bài “Một số nguyên tắc giáo dục nhân cách có hiệu quả trong nhà trường phổ thông” đăng ở Tạp chí Giáo
dục, số 109, 2005 [51];…
Ngày 11/4/2014, tại Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì với Ban Tuyên giáo Trung ương, Trung ương Đoàn và một số bộ ngành, đoàn thể liên quan đã tổ chức hội nghị nhằm đánh giá thực trạng đạo đức, lối sống của học
Trang 26sinh, sinh viên và công tác giáo dục đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên, từ
đó tìm ra giải pháp, phương hướng để triển khai công tác này trong thời gian tới
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng thừa nhận có các biểu hiện tiêu cực về đạo đức, lối sống của học sinh, sinh viên Cụ thể, vẫn còn một bộ phận không nhỏ học sinh, sinh viên có ý thức phấn đấu chưa cao, thờ ơ với các vấn đề chính trị–
xã hội, phai nhạt lý tưởng cách mạng, không xác định được mục tiêu, lý tưởng cuộc sống, có biểu hiện suy thoái về đạo đức lối sống, mắc các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật Một số học sinh, sinh viên đề cao lối sống thực dụng, ích kỷ, thích hưởng thụ, đua đòi, xa hoa lãng phí, xem nhẹ giá trị tinh thần Một bộ phận không quan tâm đến cộng đồng, người xung quanh và rất ít quan tâm đến các vấn đề chính trị – xã hội, ít tham gia các hoạt động thiện nguyện, tình nguyện vì
xã hội, sống khép kín, đề cao chủ nghĩa cá nhân, xa rời tập thể
Gần đây (ngày 8–1–2017), Trường Đại học Sư phạm Huế tổ chức Hội thảo
quốc gia “Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn Giáo dục công dân ở trường trung học”[62] Hội thảo nhận được 191 bài báo cáo khoa
học của các nhà khoa học, nhà quản lý, của các thầy cô từ 71 đơn vị, 28 Sở Giáo dục và Đào tạo trong cả nước Trong số các báo cáo khoa học, có những bài viết
đề cập trực tiếp đến thực trạng giảng dạy môn GDCD ở các trường THPT ở nước ta hiện nay Trong số đó phải kể đến các bài viết của: Lê Thị Mai Hoa dưới
nhan đề: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học môn Giáo dục công dân trong nhà trường”[62, tr.227–231]; Nguyễn Thị Huyến: “Thực tiễn dạy học và kiểm tra đánh giá môn Giáo dục công dân lớp 12 ở một số trường trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”[62, tr.321–326];…
Các bài viết trên tuy không đề cập trực tiếp đến thực trạng giảng dạy môn GDCD ở trường THPT trên địa bàn thành phố Hà Nội nhưng phần nào chỉ cho chúng ta thấy những kết quả đạt được cũng như những hạn chế trong việc giảng
Trang 27dạy môn GDCD ở các trường THPT hiện nay Đây là những tư liệu tham khảo quý giá cho chúng tôi trong quá trình triển khai luận án
Có thể nói, trong các tài liệu mà NCS có được, chưa có một tài liệu nào bàn về thực trạng giảng dạy môn GDCD ở các trường THPT ở Hà Nội hiện nay Năm 2014 có một luận án tiến sĩ Giáo dục học của NCS Trương Thị Hoa về
“Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông khu vực Hà Nội qua tham vấn nghề” (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 2014) Tuy luận án có đề
cập đến học sinh THPT khu vực Hà Nội nhưng không phải từ góc độ giảng dạy
môn GDCD để phát triển nhân cách mà từ góc độ giáo dục hướng nghiệp qua
tham vấn nghề Dẫu sao những thông tin về học sinh THPT khu vực Hà Nội trong luận án của Trương Thị Hoa cũng là tài liệu tham khảo bổ ích cho chúng tôi trong quá trình thực hiện luận án
1.3 NHÓM CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HIỆN NAY Ở NƯỚC TA NÓI CHUNG, Ở HÀ NỘI NÓI RIÊNG
Cũng như các công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng giảng dạy môn GDCD ở trường THPT hiện nay ở nước ta, các công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy môn GDCD ở trường THPT hiện nay cũng không thật nhiều, rất ít các nghiên cứu chuyên biệt về vấn đề này Tuy nhiên trong một số cuốn sách, bài viết trên các tạp chí hay trong các luận văn, luận án đâu đó người ta vẫn đề cập đến các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn GDCD đối với việc phát triển nhân cách học sinh cấp học giáo dục phổ thông ở nước ta hiện nay
Chương trình Khoa học – Công nghệ cấp Nhà nước KX–07 có hai đề tài KX.07.08 và KX.07.18 ít nhiều đề cập đến giải pháp để góp phần hình thành và
Trang 28phát triển nhân cách con người Việt Nam nói chung, học sinh phổ thông trung học nói riêng, trong đó có nhấn mạnh giải pháp giáo dục và đào tạo
Đề tài KX.07.08“Vai trò của Nhà trường trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người Việt Nam bằng con đường giáo dục và đào tạo” [103] do
Hoàng Đức Nhuận làm chủ nhiệm đã đi sâu nghiên cứu chủ thể giáo dục nhân cách con người là nhà trường Đề tài xác định hệ thống giá trị nhân cách mà nhà trường cần góp phần hình thành và phát triển ở Việt Nam Theo các tác giả một trong những giải pháp quan trọng để xây dựng nhân cách con người là giáo dục
và đào tạo thông qua nhà trường, vì “Nhà trường là một thiết chế giáo dục có tổ chức, có hệ thống nhằm tổ chức cho học sinh, sinh viên học tập một cách tích cực, chủ động dưới sự hướng dẫn của giáo viên theo quan điểm lấy học sinh, sinh viên làm trung tâm của mọi hoạt động giáo dục trong một quy trình quản lý phù hợp… ”
Đề tài KX.07.18 “Gia đình, nhà trường, xã hội với việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài” (Hà Nội, năm 1996) do
Nguyễn Trọng Bảo làm chủ nhiệm [7] Trong chương 2 và chương 3 của đề tài, khi phân tích “Cơ sở khoa học của năng khiếu, tài năng” và “Bản chất, nguồn gốc, cấu trúc và quá trình hình thành, phát triển năng khiếu, tài năng”, các tác giả cho rằng, năng khiếu, tài năng với tư cách là một thành tố quan trọng trong cấu trúc nhân cách được hình thành và phát triển dựa trên 3 yếu tố: di truyền, môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và vai trò thích ứng, năng động, sáng tạo chủ quan của mỗi con người Trong môi trường xã hội, giáo dục giữ vai trò hết sức quan trọng, các tác giả coi đây là một trong những con đường để hình thành và phát triển nhân cách, cả về đạo đức lẫn năng lực – năng khiếu, tài năng…
Năm 2001, Nhà xuất bản Giáo dục có cho ấn hành cuốn “Đổi mới phương pháp dạy – học môn Đạo đức và Giáo dục công dân” của tác giả Nguyễn Nghĩa Dân [49] Cuốn sách gồm hai phần Phần thứ nhất “Đại cương về phương pháp
dạy – học tích cực, lấy người học làm trung tâm và ứng dụng để đổi mới phương
Trang 29pháp dạy – học môn Đạo đức và Giáo dục công dân” Phần thứ hai “Một số bài
học thiết kế theo phương pháp dạy – học môn Đạo đức và Giáo dục công dân bằng hành động” Tuy là cuốn sách về phương pháp dạy học, nhưng tác giả ít nhiều đề cập đến các giải pháp nâng cao hiệu quả dạy – học môn Đạo đức và GDCD ở trường phổ thông nước ta hiện nay Trong đó nhấn mạnh các mối quan
hệ gia đình, nhà trường và xã hội
Trong bài “Tích cực nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông” in trong Tạp chí Giáo dục, số 103 (12/ 2004) [116], tác giả Tào Tuấn
Sửu – với tư cách là người “trực tiếp giảng dạy ở trường phổ thông, gắn bó nhiều năm với thế hệ trẻ trong công tác giáo dục” (lời tác giả bài báo) đã đưa ra một số
giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giáo dục môn GDCD Đó là, một:
“Yêu cầu giáo viên cần nâng cao hơn nữa về ý thức giáo dục đạo đức cho học
sinh”; hai, “Chấn chỉnh lại việc dạy học môn Giáo dục công dân”; ba, “Nâng cao chất lượng đào tạo, tuyển chọn giáo viên ngay từ trường sư phạm”; bốn, “Xây dựng hoàn chỉnh chuẩn đạo đức và nội dung Giáo dục công dân”; năm, “Tăng cường giáo dục công dân bằng Lễ, Nhạc, Văn”; sáu, “Cải tiến công tác thi đua trong trường học”; bảy “Cải tiến công tác thi, kiểm tra” và tám, “Chính sách
dùng người hiền tài” Chúng tôi cho rằng đây là những giải pháp cần thiết để nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập môn GDCD hiện nay trong các trường phổ thông nước ta hiện nay
Trong kỷ yếu Giáo dục đạo đức học sinh, sinh viên ở nước ta: Thực trạng
và giải pháp (Hội khoa học Tâm lý – Giáo dục Việt Nam, tổ chức ở Đồng Nai, ngày 18–19/7/2008), tác giả Trần Quang Ánh có bài: “Một số giải pháp tăng cường giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường của Sở Giáo dục và Đào tạo Ninh Bình” [85] Tuy không gian khảo sát không rộng, nhưng những giải
pháp được tác giả đề xuất trong bài viết này, như: lập kế hoạch quản lý; tổ chức chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo đức; kiểm tra đánh giá các hoạt động giáo dục
Trang 30đạo đức; xây dựng đội ngũ giáo viên vững vàng về phẩm chất chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ và giải pháp “xã hội hóa công tác giáo dục đạo đức cho học sinh” là những giải pháp có thể tham khảo cho một số địa phương, trong đó
Tạp chí Tuyên giáo, số 3, năm 2013 có bài “Nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học môn Giáo dục công dân” của Nguyễn Đắc Hưng [87] Sau khi chỉ ra
tầm quan trọng và thực trạng của việc dạy và học môn GDCD hiện nay, tác giả
đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy và học môn GDCD
trong các trường phổ thông, đó là: một, cần tạo môi trường học tập bình đẳng, thân thiện; hai, tăng cường tính thực tiễn và cơ chế khuyến khích cho giáo viên dạy bộ môn; ba, nêu cao năng lực nhận thức cho học sinh từ những điều bình
thường trong cuộc sống thông qua môn học Chúng tôi cho rằng những giải pháp này tương đối phù hợp với đối tượng giáo dục
Tại Hội thảo Quốc gia về Giáo dục đạo đức – công dân trong giáo dục phổ
thông Việt Nam do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức (tháng 8 năm 2013) tác giả Đào Đức Doãn có bài viết “Giáo dục đạo đức – công dân ở nhà trường phổ thông Việt Nam hiện nay – Thực trạng và giải pháp” [19] Bài viết gồm hai phần, phần một đánh giá thực trạng việc dạy và học môn GDCD, dưới tiêu đề:
Trang 31“Đánh giá chương trình, sách giáo khoa; phương pháp dạy học kiểm tra, đánh
giá; công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên thời gian qua” Phần hai chủ yếu bàn
về giải pháp để nâng cao hiệu quả giảng dạy môn học, với tiêu đề “Đề xuất xây dựng chương trình, sách giáo khoa; phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đào tạo, bồi dưỡng giáo viên Giáo dục công dân sau năm 2015” Đây là những tư liệu tham khảo có giá trị khi NCS đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giảng dạy môn GDCD với sự phát triển nhân cách học sinh THPT
Tác giả Hà Nhật Thăng với bài “Những việc cần làm để phát huy vai trò của môn Giáo dục công dân đối với sự hình thành, phát triển nhân cách học sinh phổ thông” Bài viết này đăng trong kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về Giáo dục đạo
đức – công dân trong giáo dục phổ thông Việt Nam [19] Mặc dù tác giả bài viết không trực tiếp dùng từ “giải pháp”, nhưng thực chất đây là những giải pháp nhằm phát huy vai trò của môn GDCD đối với sự hình thành, phát triển nhân cách học sinh phổ thông Theo tác giả: “Muốn nâng cao vị trí, vai trò của môn học cũng có nghĩa là nâng cao chất lượng hiệu quả của quá trình giáo dục nhân cách học sinh phổ thông, trước hết phụ thuộc vào nhận thức về sự cần thiết phải thực hiện giáo dục hệ thống giá trị, những chuẩn mực cơ bản của một công dân trong xã hội hiện đại” Tiếp đến là “điều chỉnh đồng bộ, tổng thể những điều kiện, những yếu tố ảnh hưởng đến việc dạy học môn Giáo dục công dân”, sau đó
là cơ chế phối hợp; là ngân sách; là đội ngũ giáo viên…
“Giải pháp nâng cao hiệu quả dạy học môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông” là nhan đề bài viết của Dương Thị Thúy Hà, đăng ở Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về Giáo dục đạo đức – công dân trong giáo dục phổ thông Việt Nam
(do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tháng 8 năm 2013) [19, tr.391–365] Sau khi nêu “Vị trí, vai trò của môn Giáo dục công dân trong hệ thống giáo dục đào tạo Việt Nam hiện nay” cũng như “Những thuận lợi và khó khăn trong việc giảng dạy môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông hiện nay”, tác giả đề xuất “Các
Trang 32giải pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông” Đó là giải pháp “Về nhận thức”; giải pháp “Về đội ngũ giáo viên”; giải pháp “Về nội dung chương trình”; giải pháp “Về phương pháp dạy học”; giải pháp “Về cơ sở vật chất”; giải pháp “Về cơ chế, chính sách” Tuy không thật mới, nhưng các giải pháp này là cần thiết, nó góp thêm tiếng nói chung, đây cũng là sự chia sẻ với các tác giả khác khi bàn về vấn đề này
Cùng với bài viết của tác giả Dương Thị Thúy Hà, trong cuốn kỷ yếu này
còn có bài viết của Huỳnh Thị Bạch Mai với nhan đề “Giải pháp nâng cao chất lượng dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông” [19,
tr.379–382] So với bài viết của Dương Thị Thúy Hà, đối tượng giáo dục trong bài viết của Huỳnh Thị Bạch Mai hẹp hơn, chỉ là học sinh THPT Đây là tài liệu tham khảo giúp cho NCS có thể kế thừa và phát triển
Các bài viết bàn về giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn
GDCD tập trung nhiều nhất trong Hội thảo quốc gia “Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn Giáo dục công dân ở trường trung học” được tổ chức tại Đại học Sư phạm Huế (tháng 1–2017) Trong số 191 bài tham luận mà
hội thảo nhận được, có hơn một nửa bài viết trực tiếp bàn đến việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn GDCD ở trường THPT (nhất là
phổ thông trung học) Chẳng hạn, Huỳnh Phi Bảo với bài viết: “Đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn Giáo dục công dân theo định hướng phát triển năng lực” [62]; Nguyễn Thị Thanh Bình với bài “Đổi mới phương pháp dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học theo hướng tiếp cận quá trình” [62]; Phạm Thị Tuyết Giang có bài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Giáo dục công dân ở trường trung học phổ thông”; Lương Thị Lan Huệ với bài: “Đổi mới phương pháp dạy học phần Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học”…
Trang 33Từ một góc độ khác, một số tác giả đã đi tìm giải pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy môn GDCD bằng việc phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên hay đổi mới nội dung, chương trình… chẳng hạn, tác giả Nguyễn Minh Hiền với bài:
“Vai trò của đội ngũ giáo viên trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn Giáo dục công dân hiện nay”; hay bài: “Vai trò của giáo viên trong đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Giáo dục công dân” của Lê Thị Hồng Hạnh, hay bài: “Đổi mới công tác đào tạo giáo viên Giáo dục công dân ở trường Đại học Tây Nguyên” của tác giả Nguyễn Minh Hải…
Tham luận “Một số vấn đề về nội dung dạy học môn Giáo dục công dân”
của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hưng Yên cho rằng, để nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập môn GDCD đòi hỏi phải đổi mới nội dung, thiết kế lại chương trình phù hợp với tâm, sinh lý lứa tuổi và tình hình thực tiễn đất nước cũng như mục tiêu giáo dục phổ thông đã được quy định trong Luật Giáo dục 2005
Ngoài một số bài viết ở trên, kỷ yếu còn có một số bài khác đề cập đến các khía cạnh, các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy môn GDCD ở
trường phổ thông nước ta hiện nay Tác giả Phan Thanh Long với bài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục công dân ở trường phổ thông” [62]; Nhà giáo Phạm Văn Hùng có bài “Đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo giáo viên Giáo dục công dân đáp ứng yêu cầu đổi mới ở trường trung học phổ thông hiện nay” [62]; Nhà giáo
Lê Huy Bắc có bài “Tích hợp Ngữ văn trong dạy học Giáo dục công dân”…
1.4 KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA LUẬN ÁN CẦN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài cho thấy các công trình khoa học cả trong và ngoài nước đã có những đóng góp quan trọng cả về lý luận lẫn thực tiễn trong việc lý giải một số nội dung cơ bản sau đây:
Trang 34Một, từ các góc độ tiếp cận khác nhau, các tác giả đã góp phần làm sáng tỏ
một số vấn đề cơ bản có liên quan đến đề tài luận án Chẳng hạn phạm trù nhân cách, cấu trúc nhân cách; tính quy luật của sự hình thành nhân cách; những nhân
tố tác động đến sự hình thành và phát triển nhân cách nói chung, nhân cách học sinh THPT nói riêng Các công trình đã được tổng quan cho thấy phần lớn các tác giả tiếp cận vấn đề nhân cách từ góc độ tâm lý học (tâm lý học nhân cách) hay giáo dục học, còn tiếp cận nhân cách theo góc độ triết học chưa nhiều (chủ yếu là ở một số luận án tiến sĩ Triết học)
Hai, ở các mức độ khác nhau, một số công trình (chủ yếu là trong nước) đã
đề cập đến môn GDCD và vai trò của nó đối với sự phát triển nhân cách của học sinh bậc phổ thông Tuy nhiên trong phần lớn các công trình đã được công bố, vấn đề này chỉ được trình bày tản mạn, chưa hệ thống, thậm chí có lúc cũng chưa
chính diện Ngay cả Hội thảo Giáo dục đạo đức học sinh, sinh viên ở nước ta: Thực trạng và giải pháp (tổ chức ở Đồng Nai, ngày 18–19/7/2008) cho đến Hội thảo Quốc gia về Giáo dục đạo đức – công dân trong giáo dục phổ thông Việt Nam (do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tháng 8 năm 2013) và 110 bài đăng trong kỷ yếu đã có không ít bài vẫn dùng từ “giáo dục đạo đức – công dân”
chung chung mà không bàn trực tiếp vào giảng dạy môn GDCD như mục đích
và nhiệm vụ luận án đặt ra
Ba, một số bài viết, công trình khoa học đã đề cập đến các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập môn Đạo đức – công dân (thậm chí có công trình đề cập đến bảy giải pháp) Tuy nhiên sự đề xuất giải pháp của một số tác giả chưa thật toàn diện và vẫn còn chung chung, chưa thật sát hợp với đối tượng học sinh THPT
Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của luận án, kế thừa có chọn lọc những kết quả đã đạt được, luận án tiếp tục giải quyết một số vấn đề sau:
Trang 35Thứ nhất, tiếp tục góp phần làm sáng tỏ một số khái niệm có liên quan trực
tiếp đến đề tài luận án (nhất là phạm trù nhân cách), chỉ ra các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách học sinh THPT ở nước ta hiện nay; phân tích vai trò, tầm quan trọng, nội dung giảng dạy môn GDCD đối với sự phát triển nhân cách học sinh THPT ở nước ta hiện nay
Thứ hai, phân tích những nhân tố ảnh hưởng cũng như vai trò của giảng
dạy môn GDCD với sự phát triển nhân cách học sinh THPT ở nước ta hiện nay Đánh giá những thành tựu và hạn chế của việc giảng dạy môn GDCD đối với sự phát triển nhân cách học sinh THPT ở thành phố Hà Nội hiện nay cũng như nguyên nhân của nó
Thứ ba, xác định phương hướng và đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm
nâng cao hiệu quả giảng dạy môn GDCD đối với sự phát triển nhân cách học sinh THPT ở thành phố Hà Nội hiện nay
Trang 36Chương 2
GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
2.1 NHÂN CÁCH VÀ CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN NHÂN CÁCH NÓI CHUNG, NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở NƯỚC TA NÓI RIÊNG
2.1.1 Nhân cách và những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển nhân cách
2.1.1.1 Khái niệm nhân cách
Khi nghiên cứu và tìm hiểu vấn đề nhân cách, trước hết chúng ta cần tìm hiểu một số khái niệm có liên quan như con người, cá nhân Các khái niệm con người, cá nhân, nhân cách vừa có điểm tương đồng vừa có sự khác biệt nhất định
Khái niệm Con người:
Trong lịch sử văn hóa, văn minh nhân loại vấn đề con người và tương lai của con người đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau Nhưng những vấn đề chung nhất về con người như con người và bản chất của con người là gì, con người từ đâu sinh ra, do ai tạo thành… thuộc về triết học, bởi lẽ chỉ có triết học mới có khả năng nhận thức con nguời một cách chung nhất, toàn vẹn nhất trong tính chỉnh thể của nó
Trước C.Mác, chưa có một sự lý giải khoa học thỏa đáng về con người Quan điểm duy tâm, siêu hình đã quy đặc trưng, bản chất con người vào lĩnh vực
ý thức, tư tưởng, tình cảm, đạo đức Họ cho rằng bản chất con người là cái gì đó
Trang 37được quy định sẵn từ tự nhiên, đó là những nhu cầu sinh học của con người Từ
đó, họ giải thích bản chất con người không trong mối quan hệ xã hội mà chỉ giải thích từ góc độ những điểm chung của mọi sinh vật trên trái đất hoặc lại tìm kiếm bản chất con người trong khuôn khổ cá nhân riêng lẻ
Dựa trên quan điểm duy vật triệt để và phương pháp luận biện chứng, C.Mác và Ph.Ăngghen đã tạo nên một bước ngoặt quan trọng trong việc nhận thức con người và bản chất con người
Các ông đã nghiên cứu, xem xét, phân tích con người xuất phát từ con người hiện thực, con người thực tiễn và chỉ rõ: “Thông qua hoạt động thực tiễn con người làm biến đổi đời sống xã hội, đồng thời cũng biến đổi chính bản thân mình Điều đó nghĩa là con người tiếp nhận bản chất xã hội của mình thông qua hoạt động thực tiễn”
Con người vừa là một thực thể tự nhiên vừa là một thực thể xã hội Đứng
về mặt sinh học thì “Con người là một bộ phận của giới tự nhiên” [39, tr.135], có nguồn gốc từ động vật Theo Ph.Ăngghen: “Bản thân cái sự kiện là con người từ loài động vật mà ra, cũng đã quyết định việc con người không bao giờ hoàn toàn thoát ly khỏi những đặc tính vốn có của con vật, thành thử bao giờ cũng chỉ có thể nói đến việc những đặc tính ấy có nhiều đến sự chênh lệch về mức độ thú tính và tính người mà thôi” [36, tr.146]
Cũng như mọi sinh vật khác, con người sống dựa vào tự nhiên nhưng con người khác với các sinh vật khác ở chỗ con người không chỉ dựa vào, mà còn cải tạo giới tự nhiên, tạo ra tự nhiên thứ hai xung quanh mình Ph.Ăngghen đã chỉ ra bước chuyển hóa từ loài vượn thành con người chính là nhờ lao động Trong quá trình lao động con người đồng thời cải tạo giới tự nhiên và cải tạo chính bản thân mình
Trang 38Tuy cho rằng trong việc hình thành bản chất con người, yếu tố xã hội giữ vai trò quyết định, nhưng Chủ nghĩa Mác không coi nhẹ mặt tự nhiên, phủ nhận yếu tố sinh vật trong các yếu tố cấu thành bản chất con người Bởi lẽ “Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người” [36, tr.42] Con người gắn liền với giới tự nhiên vì cũng như các sinh vật khác, con người là một bộ phận của giới tự nhiên Mỗi người sinh ra trước hết là một sản phẩm của giới tự nhiên và cũng phải chịu
sự chi phối của các quy luật tự nhiên
Là một sinh vật – xã hội, con người khác con vật ở chỗ, con vật hoạt động theo bản năng còn con người hoạt động theo ý thức Chính nhờ mặt xã hội của con người mà mặt sinh vật trong con người phát triển ở trình độ cao hơn những động vật khác
Khác với các động vật thông thường chỉ sống, hoạt động theo những bản năng di truyền, có sẵn, con người còn sống, hoạt động theo sự phát triển của văn hoá và của tiến bộ lịch sử – xã hội Nếu xã hội biến đổi thì mỗi con người cũng
sẽ có những sự thay đổi tương ứng Sự phát triển của mỗi cá nhân chính là tiền
đề cho sự phát triển của xã hội vì mỗi con người đều sống trong xã hội nhất định,
là sản phẩm của lịch sử – xã hội, sản phẩm của nền văn minh
Từ một con người tự nhiên phát triển thành một nhân cách, con người phải chịu hàng loạt tác động, chịu sự chi phối của những yếu tố chủ quan và khách quan, theo cả quy luật tự nhiên và quy luật xã hội
Sự phát triển của con người không những là sự trưởng thành về thể chất mà còn là sự phát triển về tinh thần Về thể chất là sự trưởng thành của cơ bắp, của thần kinh và các cơ quan nội tạng… Về tinh thần là sự trưởng thành về ý thức, tâm lý theo các quy luật tâm lý và các quy luật xã hội
Sự phát triển thể chất luôn luôn gắn liền với sự phát triển về tinh thần, theo các quy luật của sự phát triển tâm, sinh lý lứa tuổi, đó là sự biến đổi về số lượng, chất lượng và sự chuyển hoá chúng cho nhau; là bước phát triển nhảy vọt của
Trang 39từng cá nhân về năng lực và phẩm chất phù hợp với sự phát triển của lịch sử xã hội và thời đại Sự phát triển đó tạo nên nhân cách của con người, trong đó có nhân cách của học sinh THPT
Trong khi phê phán những quan điểm của Phoiơbắc, xuất phát từ những cá thể cô lập để nhận thức bản chất con người C.Mác đã đưa ra luận điểm nổi tiếng
về bản chất con người: “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” [35, tr.11]
Khi nói bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội, C.Mác cũng đồng thời chỉ ra rằng tất cả các quan hệ xã hội đều góp phần hình thành nên bản chất con người, nhưng trong các mối quan hệ xã hội, quan hệ sản xuất là yếu tố
có ý nghĩa quyết định nhất Bởi vì các mối quan hệ khác đều trực tiếp hoặc gián tiếp chịu sự chi phối của quan hệ sản xuất Tương ứng với mỗi hình thái kinh tế – xã hội đều có một kiểu quan hệ sản xuất nhất định giữ vai trò chi phối và chính kiểu quan hệ sản xuất đó lại là cái suy đến cùng, xét đến cùng, tạo nên bản chất của con người trong giai đoạn lịch sử đó
Bản chất một con người cụ thể là tổng hoà các quan hệ xã hội “vốn có”, nó quy định những đặc điểm chi phối mọi hành vi của người đó Còn tất cả những hành vi của người đó bộc lộ ra bên ngoài là những hiện tượng biểu hiện bản chất của họ Tuy nhiên, sự thể hiện bản chất của con người không phải diễn ra theo đường thẳng trực tiếp, mà thường là gián tiếp, quanh co, phức tạp qua hàng loạt những mâu thuẫn giữa kinh nghiệm và nhận thức khoa học; giữa lợi ích trước mắt và lâu dài; giữa cá nhân và xã hội; giữa bản năng sinh vật và hoạt động có ý thức, giữa di truyền tự nhiên và văn hoá xã hội
Từ sự phân tích trên, cho phép chúng ta rút ra kết luận: Con người là một thực thể sinh vật – xã hội, là chủ thể của nhận thức, của hoạt động thực tiễn và
của mọi quan hệ xã hội khác [108, tr.18]
Trang 40Bản chất con người không phải là cái gì đó trừu tượng mà là hiện thực, không phải là tự nhiên mà là lịch sử, không phải là cái sẵn có trong mỗi con người riêng lẻ mà là sản phẩm của sự tổng hoà các mối quan hệ xã hội Đây là phát hiện có giá trị to lớn của Chủ nghĩa Mác về bản chất con người Con người tồn tại qua những cá nhân người Mỗi cá nhân người là một chỉnh thể riêng biệt gồm một hệ thống những nhân tố, bao hàm cả những đặc điểm cụ thể không lặp lại, khác biệt với những cá nhân khác về tâm lý, cơ chế, trình độ…
Khái niệm Cá nhân: Có thể hiểu cá nhân là một khái niệm dùng để chỉ một
cá thể người với tư cách là sản phẩm của sự phát triển xã hội, là chủ thể của hoạt động và nhận thức
Cá nhân được hình thành và phát triển chỉ trong quan hệ xã hội, nhưng xã hội luôn thay đổi theo tiến trình lịch sử nên cá nhân là một hiện tượng có tính lịch sử - xã hội Mỗi thời kỳ lịch sử có một “kiểu xã hội của cá nhân” mang tính định hướng về thế giới quan, phương pháp luận cho hoạt động của con người trong thời kỳ lịch sử cụ thể đó
Cá nhân người là một thành viên của xã hội, là khách thể mang “tổng hoà các quan hệ xã hội” Nó không những chịu ảnh hưởng mà còn góp phần tạo ra những quan hệ xã hội Sự phát triển của cá nhân người diễn ra theo quy luật xã hội – lịch sử, lịch sử – văn hóa, nghĩa là chịu sự tác động của giáo dục và môi trường xã hội
Như vậy cá nhân là một khái niệm dùng để chỉ một cá thể người có sự thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội, chịu sự tác động to lớn trong quá trình phát triển của xã hội, là chủ thể của hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn
Khái niệm Nhân cách:
Nhân cách là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày Xung quanh vấn đề này đã có nhiều ý kiến khác nhau với nhiều cách tiếp cận không giống nhau