1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các chu tố của động từ tiếng việt (trên cứ liệu truyện ngắn chọn lọc nguyễn công hoan)

123 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu về chu tố hay thành tố phụ tự do của động từ với các tên gọi khác nhau trong ngữ pháp học truyền thống mặc dù được đề cậpđến trong một số công trình nghiên cứu về ngữ phá

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HỒNG CHUYÊN

CÁC CHU TỐ CỦA ĐỘNG TỪ TIẾNG VIỆT

(TRÊN CỨ LIỆU TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC NGUYỄN CÔNG HOAN)

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HOÁ VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN, NĂM 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HỒNG CHUYÊN

CÁC CHU TỐ CỦA ĐỘNG TỪ TIẾNG VIỆT

(TRÊN CỨ LIỆU TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC NGUYỄN CÔNG HOAN)

Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Mã ngành: 8 22 01

02

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HOÁ VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN VĂN LỘC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì một công trình nào khác.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hồng Chuyên

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi cònnhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ các thầy cô, gia đình, bạn bè vàđồng nghiệp

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS Nguyễn VănLộc, người thầy đã tận tình giúp đỡ tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu và Phòng đào tạo Sau đại học,các thầy cô giáo trong Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm - Đại học TháiNguyên, các thầy cô giáo trong Viện Ngôn ngữ, Viện Từ điển học và Bách khoathư Việt Nam đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trìnhhọc tập

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường THPT Phụ Dực Thái Bình, các bạn bè, đồng nghiệp, và những người thân trong gia đình đã tạomọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

-Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 04 năm 2018

Tác giả

Nguyễn Thị Hồng Chuyên

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN .ii

MỤC LỤC .iii

DANH MỤC CÁC BẢNG .iv

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Đóng góp của đề tài 2

6 Cấu trúc của luận văn 2

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN 3

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 3

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về chu tố của động từ trong tiếng Việt 3

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trong “Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan” 8

1.2 Cơ sở lí luận và thực tiễn 12

1.2.1 Vài nét về lí thuyết kết trị

12 1.2.2 Khái niệm diễn tố, chu tố 18

1.2.3 Những đặc điểm cơ bản của chu tố 20

1.2.4 Mối quan hệ (sự tương ứng) giữa chu tố với trạng ngữ và vai nghĩa 23

1.2.5 Các kiểu chu tố 25

1.2.6 Vài nét về Nguyễn Công Hoan và Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan 26

1.3 Tiểu kết Chương 1 28

Trang 6

Chương 2 CHU TỐ CỦA ĐỘNG TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CHỌN

LỌC NGUYỄN CÔNG HOAN XÉT VỀ MẶT NGỮ PHÁP 29

2.1 Kết quả khảo sát 29

2.1.1 Về số lượng 29

2.1.2 Về kiểu loại 32

2.2 Chu tố của động từ trong Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan xét về mặt cách biểu hiện 33

2.2.1 Chu tố được biểu hiện bằng thể từ (danh từ, cụm danh từ, đại từ) 33

2.2.2 Chu tố được biểu hiện bằng vị từ, cụm vị từ 35

2.3 Chu tố của động từ trong Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan xét về mặt phương thức kết hợp 37

2.3.1 Chu tố kết hợp gián tiếp với vị ngữ hoặc vị từ 37

2.3.2 Chu tố kết hợp trực tiếp với vị ngữ hoặc vị từ 41

2.4 Chu tố của động từ trong Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan xét về mặt vị trí 41

2.4.1 Các vị trí mà chu tố chiếm giữ trong câu 41

2.4.2 Khả năng cải biến vị trí của các chu tố trong câu 48

2.5 Tiểu kết Chương 2 53

Chương 3 CHU TỐ CỦA ĐỘNG TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CHỌN LỌC NGUYỄN CÔNG HOAN XÉT VỀ MẶT NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG 54

3.1 Chu tố của động từ xét về mặt ngữ nghĩa 54

3.1.1 Vai trò ngữ nghĩa của chu tố trong câu 54

3.1.2 Các kiểu chu tố của động từ xét về mặt ngữ nghĩa 56

3.2 Chu tố của động từ xét về mặt ngữ dụng 73

3.2.1 Dẫn nhập 73

3.2.2 Vai trò của chu tố trong việc tham gia tạo lập cấu trúc đề thuyết của câu 74

3.2.3 Chu tố trong vai trò tạo lập cấu trúc thông tin của câu

82 3.3 Tiểu kết Chương 3 85

KẾT LUẬN 86

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 7

Bảng 2.3: Các kiểu loại chu tố của động từ trong Truyện ngắn chọn lọc

Nguyễn Công Hoan xét về mặt ngữ pháp

32

Bảng 3.1: Các kiểu loại chu tố của động từ trong Truyện ngắn chọn lọc

Nguyễn Công Hoan xét về mặt ngữ nghĩa

57

Trang 8

Việc nghiên cứu về chu tố hay thành tố phụ tự do của động từ (với các tên gọi khác nhau trong ngữ pháp học truyền thống) mặc dù được đề cập

đến trong một số công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt nhưng đếnnay, chúng tôi thấy có rất ít công trình khảo sát có hệ thống và chuyên sâu vềchu tố của động từ theo lí thuyết kết trị trong một tác phẩm của một nhàvăn cụ thể Theo chúng tôi, việc

nghiên cứu theo hướng này có ý nghĩa cả về lí luận lẫn thực

Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu theo hướng này sẽ cung cấp thêm những

tư liệu cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu và dạy học Ngữ văn Việt Namtrong nhà trường

Với những lí do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài: Các chu tố của động từ tiếng Việt (Trên cứ liệu Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan) để nghiên cứu.

2 Mục đích nghiên

cứu

Trên cơ sở sự khảo sát, thống kê, phân loại các chu tố của động từ được

sử dụng trong Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan, luận văn phân tích

làm rõ đặc điểm về các mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng của chu tố với tưcách là thành tố phụ tự do của động từ; qua đó, góp phần làm sáng tỏ thêm một

số khía cạnh lí thuyết kết trị và lí thuyết ngữ pháp chức năng liên quan đến chu

tố hay thành phần phụ tự do của vị từ nói chung trong lời nói sinh động; đồng

Trang 9

2thời, cung cấp một tài liệu cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu và dạy họcNgữ văn Việt Nam.

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các chu tố của động từ trong tiếng

Việt được sử dụng trong Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan.

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là đặc điểm của các chu tố của

động từ xuất hiện trong Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan (NXB

Văn học, 2013) về các mặt ngữ pháp, ngữ nghĩa, và ngữ dụng

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp miêu tả

với

các thủ pháp: thống kê, phân loại, phân tích, tổng hợp.

Ngoài ra, để làm nổi bật các khía cạnh ngữ pháp, ngữ nghĩa, ngữ dụng

của các chu tố của động từ trong Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan, luận văn còn sử dụng các thủ pháp: lược bỏ, bổ sung, thay thế, cải biến cho phù

hợp với đặc điểm không biến hình của tiếng Việt

5 Đóng góp của đề tài

Về lí luận: Với đề tài Các chu tố của động từ tiếng Việt (Trên

cứ liệu Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan), luận văn đã làm rõ các

biểu hiện phong phú và đa dạng về hình thức ngữ pháp, về vai trò ngữ nghĩa vàngữ dụng của các chu tố của động từ trong lời nói sinh động gắn với cách dùngcủa một tác giả cụ thể có uy tín về sử dụng ngôn ngữ Qua đó, luận văn cũnggóp phần làm sáng tỏ thêm một số quan điểm lí thuyết mới về thành phần chu

tố hay về trạng ngữ (với tư cách là thành phần phụ mở rộng tự do cho vị ngữhay vị từ chứ không phải là thành phần phụ có quan hệ cú pháp với cả cụm chủ

vị như quan niệm truyền thống)

Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng

làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và dạy học Ngữ văn Việt Nam trongnhà trường

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận, thực tiễn

Chương 2 Chu tố của động từ trong Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ

CƠ SỞ LÍ LUẬN, THỰC TIỄN

1.1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về chu tố của động từ trong tiếng Việt

Chu tố của động từ được nói đến ở đây được nhìn từ góc độ lí thuyết kếttrị và là thành tố cú pháp vừa có sự tương ứng nhất định với trạng ngữ (gia ngữ,

bổ ngữ của câu, thành phần tình huống của câu), vừa có sự tương ứng với trạngngữ hay bổ ngữ tự do của động từ theo cách hiểu truyền thống Đây là mộttrong những thành phần cú pháp xuất hiện phổ biến trong câu và từ lâu đã được

đề cập đến trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt theo quan

niệm truyền thống với các tên gọi như trạng ngữ, gia ngữ, bổ ngữ của câu, thành phần tình huống và bổ ngữ tự do của vị từ.

Trong việc nghiên cứu về trạng ngữ (mà theo quan niệm truyền thốngđược coi là thành phần phụ bổ sung cho cụm chủ vị nòng cốt của câu), một số

vấn đề được giải quyết khá tốt và đạt được sự nhất trí tương đối cao như: vai trò

cú pháp của trạng ngữ trong câu, đặc điểm ý nghĩa, hình thức của trạng ngữ.

Tuy nhiên, cũng còn những vấn đề chưa được giải quyết thỏa đáng Dưới đây,chúng tôi xin nêu khái quát tình hình nghiên cứu về trạng ngữ và bổ ngữ tự docủa vị từ (theo cách hiểu truyền thống) trong tiếng Việt

1.1.1.1 Về bản chất cú pháp của chu tố (trạng ngữ của câu, bổ ngữ tự do của vị từ)

a Theo quan niệm truyền thống: Hầu như các tác giả Việt Nam theo

khuynh

hướng truyền thống đều cho rằng trạng ngữ là thành phần thứ yếu hay thành phần phụ

của câu có quan hệ cú pháp với cả nòng cốt câu

Nguyễn Kim Thản cho rằng: "trạng ngữ là thành phần thứ yếu của câu biểu thị các ý nghĩa về thời điểm, địa điểm, nguyên nhân, mục đích, phương tiện, hay tình thái” [45, 565] Phân biệt trạng ngữ với bổ ngữ tự do của vị từ, ông cho rằng trạng ngữ “là thành phần phụ thêm vào cho cả câu…sự tồn tại của

nó không phụ thuộc vào một từ nào, cũng không phụ thuộc vào loại hay tiểu loại của từ nào” [45, 521]; còn "bổ ngữ thời hạn thì phụ thuộc vào vị từ” [45,

565]

Hoàng Trọng Phiến cũng coi trạng ngữ "là thành phần thứ yếu của câu,

Trang 12

có ý nghĩa địa điểm, không gian, thời gian, nguyên nhân, mục đích” [39, 124].

Trang 13

Tập thể các tác giả (Trung tâm Khoa học xã hội Việt Nam) gọi trạng ngữ

là "thành phần tình huống" và cho rằng "thành phần này có tác dụng bổ sung ý nghĩa cho cả nòng cốt câu” và "nó là một thành phần thứ yếu so với các thành phần chủ

cú pháp vào yếu tố ngôn ngữ nào trong nòng cốt mà có quan hệ cú pháp với toàn bộ nòng cốt câu” [2, 175].

Hai tác giả Bùi Minh Toán - Nguyễn Thị Lương trong cuốn "Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt" cho rằng "trạng ngữ là thành phần phụ của câu, biểu thị các ý nghĩa thời gian, nơi chốn, phương tiện, cách thức, mục đích, nguyên nhân…của sự tình được nêu ra trong câu” [56, 122] "Cấu tạo của trạng ngữ khá đa dạng, nó có thể là một từ, một cụm từ, tổ hợp từ” [56, 126].

Trạng ngữ với tư cách là thành phần phụ của câu, có quan hệ cú pháp và

ý nghĩa với nòng cốt câu như quan niệm trên đây được phân biệt với bổ ngữ tự

do (bổ tố, trạng tố) của vị từ Các tác giả đều cho rằng việc phân biệt thànhphần phụ của câu nói chung, trạng ngữ nói riêng, với thành phần phụ của từ,trong đó có bổ ngữ tự do của vị từ là vấn đề phức tạp và sự phân biệt này không

phải bao giờ cũng "thật rạch ròi được”.

Thực tế cũng cho thấy đến nay, hầu như cũng chưa có tác giả nào đưa rađược sự phân biệt rạch ròi, thật sự có sức thuyết phục hai kiểu thành tố cú phápnày

Theo Nguyễn Văn Hiệp, các tiêu chí cho phép phân biệt trạng ngữ vớicác thành tố phụ thuộc cấu trúc bậc dưới câu của vị từ là:

+ Quan hệ phụ thuộc với nòng cốt câu

+ Khả năng cải biến vị trí mà không làm thay đổi quan hệ giữa các thành tố

còn lại trong câu

Tác giả cho rằng có thể dùng thủ pháp chen một thành tố đồng vị đã xácđịnh chức năng để thấy được quan hệ phụ thuộc vào nòng cốt câu của trạngngữ và phân biệt nó với bổ tố tự do của vị từ Cùng với thủ pháp chen mộtyếu tố đồng vị, thủ pháp cải biến vị trí cũng được tác giả sử dụng để chỉ ra sựkhác biệt giữa trạng ngữ và bổ tố của vị từ [21, 209-222]

Trang 14

b Các quan niệm khác: Ngoài quan niệm phổ biến trên, cần phải kể đến

ý kiến của tác giả V.S.Panfilov trong cuốn Cơ cấu ngữ pháp tiếng Việt Tác giả cho rằng: “trạng ngữ là yếu tố mở rộng tự do của vị ngữ, có ý nghĩa sự kiện

và có khả năng thay thế bằng mệnh đề phụ” [38, 315].

Tác giả Nguyễn Mạnh Tiến cũng cho rằng "trạng ngữ chính là thành phần phụ của câu thể hiện kết trị tự do của vị từ (hoặc trạng ngữ là chu tố của vị từ)… Mối quan hệ cú pháp giữa trạng ngữ với vị từ (vị ngữ) được khẳng định bởi sự có mặt đồng thời của cả mối quan hệ ý nghĩa lẫn mối quan hệ hình thức giữa chúng (khả năng dùng độc lập của tổ hợp do chúng tạo thành)” [54,

60]

Nhận xét về quan niệm truyền thống đối với trạng ngữ, tác giả Nguyễn

Mạnh Tiến còn cho rằng "việc xác định nội dung và hình thức của trạng ngữ (có quan hệ cú pháp với nòng cốt của câu, có tính biệt lập về hình thức và khả năng cải biến vị trí) cũng như việc dựa vào những đặc điểm đó để phân biệt nó với bổ ngữ tự do của vị từ, qua đó, khẳng định sự đối lập về bản chất giữa hai kiểu thành tố cú pháp này mặc dù có những cơ sở nhất định nhưng nhìn chung chưa được luận giải một cách thật sự có sức thuyết phục dựa vào một quan niệm rõ ràng, nhất quán về quan hệ cú pháp và thành phần cú pháp của câu” [54, 51].

Qua các quan niệm trên, có thể thấy về tính chất của mối quan hệ cúpháp giữa trạng ngữ với bộ phận còn lại của câu, đến nay, có hai quan niệmchính:

1/ coi trạng ngữ là thành phần phụ của câu có quan hệ cú pháp với cả nòng cốt câu;

2/ coi trạng ngữ là thành phần phụ mở rộng tự do của vị ngữ hay vị từ.Theo tác giả Nguyễn Văn Lộc, để xác định bản chất của mối quan hệ cú

pháp giữa trạng ngữ và các thành tố khác của câu “cần phải dựa vào khái niệm quan hệ cú pháp và cách xác định sự có mặt của mối quan hệ cú pháp giữa các

từ (cụm từ) trong câu’’ (theo đó, “hai từ, cụm từ được coi là có quan hệ cú pháp với nhau nếu giữa

chúng có thể xác định một kiểu quan hệ ngữ nghĩa nhất định và ngữ đoạn chứa chúng có khả năng hoạt động độc lập hoặc tư cách biến thể tỉnh lược của câu”) [30, 343] Với cách hiểu về quan hệ cú pháp, cách xác định sự có mặt của mối quan hệ cú pháp giữa các từ như đã chỉ ra, có cơ sở để cho rằng trạng ngữ, về bản chất cú pháp, là thành tố phụ không bắt buộc của vị ngữ (vị từ) hoặc "là yếu tố mở rộng tự do của vị ngữ” [30, 343] Cụ thể: Về nội dung, trạng ngữ đều

bổ sung cho vị ngữ hay vị từ một

Trang 15

ý nghĩa nhất định Về hình thức, trạng ngữ có thể cùng với vị ngữ hay vị

từ tạo thành một tổ hợp dùng độc lập hoặc dùng với tư cách là biến thể tỉnhlược của câu [30, 346] Chúng tôi cho rằng đây là quan niệm có cơ sở

1.1.1.2 Về đặc điểm nội dung của chu tố (trạng ngữ truyền

thống)

Về đặc điểm nội dung của chu tố (trạng ngữ), các tác giả có ý kiến tương

đối thống nhất Tác giả Nguyễn Văn Hiệp cho rằng: “…trạng ngữ biểu thị những ý nghĩa

về không gian, thời gian, mục đích, nguyên nhân, phương tiện…cho sự tình được biểu đạt trong câu” [21, 206].

Nhận xét về mối quan hệ ngữ nghĩa giữa thành phần phụ của câu (trong

đó có trạng ngữ) với các từ ngữ còn lại của câu, Diệp Quang Ban viết: "Về mặt nghĩa, bộ phận nằm ngoài nòng cốt này có thể liên hệ rõ rệt với một yếu tố nào

đó trong nòng cốt câu” [3, 177] Về ý nghĩa cụ thể của trạng ngữ, tác giả xác định các kiểu chính như: trạng ngữ không gian, thời gian, tình hình, nguyên nhân, mục đích, nhượng bộ…[3, 179].

Nguyễn Kim Thản cũng cho rằng: "Trạng ngữ là thành phần thứ yếu của câu biểu thị các ý nghĩa thời điểm, địa điểm, nguyên nhân, mục đích, phương tiện hay tình thái” [45, 565] Tác giả còn chỉ rõ: "Khi đặt ở cuối câu, trạng ngữ

có tác dụng miêu tả hoàn cảnh tiến hành của hoạt động hay trạng thái biểu thị trong bộ phận vị ngữ” [45, 569] hoặc "Trạng ngữ thời gian thường đặt ở đầu câu Nó có thể biểu thị thời điểm cụ thể của đặc trưng (do vị ngữ biểu thị)…”

[45, 565]

Đề cập đến đặc điểm nội dung của trạng ngữ, Nguyễn Văn Lộc cho rằng:

Về nội dung, trạng ngữ có ba đặc điểm chính: tính phụ thuộc, tính không bắt buộc (tự do) và ý nghĩa tình trạng, hoàn cảnh (chỉ không gian, thời gian,

nguyên nhân, mục đích, công cụ, tính chất, cách thức…) [30, 348]

1.1.1.3 Về đặc điểm hình thức của chu tố (trạng ngữ truyền

thống)

a Về cấu tạo (cách biểu hiện)

Hầu hết các tác giả đều cho rằng trạng ngữ có thể được biểu hiện bằng danh từ

Trang 16

là đoản ngữ, cụm từ đẳng lập hay cũng có thể có cấu tạo là cụm chủ vị” [37, 164

]

Trang 17

Tác giả Nguyễn Văn Hiệp cho rằng: "trạng ngữ là thành phần phụ của câu có khả năng tham gia cải biến vị trí: đứng trước, đứng sau nòng cốt hoặc chen vào giữa chủ ngữ và vị ngữ” [21, 206].

Điều đáng chú ý là các tác giả trên đây chỉ nói đến vị trí "phổ biến nhất”

hoặc vị trí thường thấy của trạng ngữ chứ không xác định cụ thể trong các vịtrí mà trạng ngữ có thể chiếm giữ, vị trí nào là vị trí cơ bản (xuất phát)

Trong bài viết "Về vị trí cơ bản của trạng ngữ trong câu xét trong mối quan hệ kết trị với vị từ”, tác giả Nguyễn Mạnh Tiến khẳng định mặc dù có sự

tự do về vị trí nhưng "vị trí cơ bản, vị trí xuất phát, vị trí thuận của trạng ngữ

là ở sau vị từ” [54, 49] Điều này không chỉ thể hiện ở sự xuất hiện phổ biến

của nó ở vị trí này như Nguyễn Kim Thản đã xác nhận [45, 565] mà còn thể hiện

ở chỗ sự xuất hiện của nó ở vị trí này hầu như không bị hạn chế bởi điều kiệnđặc biệt nào [45, 565]

Nguyễn Văn Lộc cũng khẳng định: Về vị trí, "trạng ngữ được đặc trưng bởi tính linh hoạt, tự do về vị trí trong câu, nhiều trạng ngữ có khả năng chiếm các vị trí: trước cụm chủ vị, giữa chủ ngữ, vị ngữ hoặc sau chủ ngữ, vị ngữ " [30, 352] Tuy nhiên, tác giả khẳng định rằng: "Vị trí sau vị từ của trạng ngữ chính là vị trí có tính phổ biến cao nhất” [30, 352].

c Về phương thức kết hợp

Ý kiến tương đối thống nhất của các tác giả là trạng ngữ thường kết hợp

gián tiếp với vị ngữ hay vị từ Chẳng hạn, Nguyễn Văn Lộc cho rằng: “trạng ngữ chủ yếu kết hợp gián tiếp với vị ngữ hay vị từ thông qua một quan hệ từ nhất định Khi kết hợp gián tiếp với vị ngữ hay vị từ, trạng ngữ có thể xuất hiện trong hai biến thể: biến thể có quan hệ từ và biến thể vắng quan hệ từ” [30, 352].

Trang 18

1.1.1.4 Về cách phân loại chu tố và các kiểu chu tố (trạng ngữ truyền thống)

Trạng ngữ được phân loại dựa vào các tiêu chí cụ thể khác nhau, trong đócách phân loại của Nguyễn Văn Lộc vừa khái quát, vừa cụ thể Tác giả dựa vào

đặc điểm cấu tạo chia trạng ngữ thành: trạng ngữ được biểu hiện bằng danh từ (cụm danh từ),

và trạng ngữ được biểu hiện bằng vị từ (cụm vị từ, cụm chủ vị) [30, 364].

Dựa vào phương thức kết hợp, có thể chia trạng ngữ thành: trạng ngữ kết hợp trực tiếp với vị ngữ, vị từ và trạng ngữ kết hợp gián tiếp với vị ngữ, vị từ (với hai biến thể có và vắng quan hệ từ) [30, 364].

Dựa vào khả năng cải biến, có thể chia trạng ngữ thành: trạng ngữ

có khả năng cải biến vị trí và trạng ngữ không có khả năng cải biến vị trí [30, 364].

Dựa vào ý nghĩa, có thể chia trạng ngữ thành nhiều kiểu cụ thể khác

nhau: trạng ngữ không gian, thời gian, nguyên nhân, mục đích, điều kiện, nhượng bộ, công cụ (phương tiện, phương thức), số lần hoạt động, tính chất, cách thức, phạm vi, phương diện, chỉ kẻ cùng tham gia hoạt động, hoàn cảnh, tình huống, kết quả, biểu thị ý "loại trừ” [30, 365].

Qua một số công trình nghiên cứu trên đây, có thể thấy mặc dù trạng ngữđược nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra nhiều quan điểm khác nhaunhưng việc nghiên cứu cách dùng trạng ngữ (mà về bản chất chỉ là chu tố haythành phần phụ mở rộng từ do của vị từ) trong một tác phẩm cụ thể của mộtnhà văn vẫn chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, chuyên sâu

Chọn đề tài: Các chu tố của động từ tiếng Việt (Trên cứ liệu Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan) làm đối tượng nghiên cứu khoa

học, trên cơ sở tiếp thu thành tựu của các nhà nghiên cứu, chúng tôi mongmuốn làm rõ hơn đặc điểm của chu tố với tư cách là thành tố phụ tự do của vị

từ gắn với cách dùng của một tác giả

cụ thể trong một tác phẩm văn học cụ thể

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trong “Truyện ngắn chọn lọc

Nguyễn Công Hoan”

Nói đến Nguyễn Công Hoan trước hết là nói đến một bậc thầy truyệnngắn của văn học Việt Nam hiện đại Thế giới truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

đa dạng, phong phú như một "bách khoa thư”, một "tấn trò đời” mà đặc

trưng là xã hội thực dân

Trang 19

phong kiến ở Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX Qua các sáng tác, ông đã chứng tỏ làbậc thầy về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ Các tác phẩm của ông có sức hấpdẫn lớn đã thu hút được rất nhiều các nhà nghiên cứu Tiêu biểu là các nhànghiên cứu: Lê Thị Đức Hạnh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê,Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung, Vương Trí Nhàn, Trương Chính, NguyễnĐức Đàn, Nguyễn Thanh Tú, Nguyễn Khắc Thuần, Trúc Hà , Thiếu Sơn, HảiTriều…

Nguyễn Khắc Thuần khi Khảo sát cấu trúc câu văn truyện ngắn Nguyễn Công Hoan khẳng định: "Nguyễn Công Hoan đã sử dụng hầu hết các loại kiểu dạng cấu trúc câu trong tiếng Việt… Nguyễn Công Hoan sử dụng tài tình, linh hoạt, có hiệu quả loại câu ngắn, đặc biệt là những câu có từ năm chữ trở xuống Lúc thì tác giả dùng liên tiếp tạo thành đoạn văn; lúc thì dùng độc lập ở đầu, ở giữa, hoặc cuối truyện; lúc thì phối hợp với câu dài ở trong cùng một đoạn văn để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc đến mức trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan số lượng câu dài và câu ngắn tương đương nhau nhưng khi đọc truyện ngắn của ông, người đọc có cảm giác như trong truyện ngắn của ông câu ngắn trong truyện ngắn được dùng nhiều hơn câu dài Chính câu ngắn đã tạo nên nét khác lạ về câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan với tác giả khác”[50, 85].

Trong số các nhà nghiên cứu về Nguyễn Công Hoan, nhà nghiên cứu LêThị Đức Hạnh đã dành nhiều tâm huyết cho truyện ngắn của ông Khi nhận xét

về ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan, tác giả đã khẳng định: "Văn Nguyễn Công Hoan khá gọn gàng, sáng sủa, thiết thực, linh hoạt Ngôn ngữ của Nguyễn Công Hoan là ngôn ngữ của quần chúng được chọn lọc và nâng cao, đậm hương vị ca dao, tục ngữ…chữ dùng của ông thường giản dị, giàu hình ảnh cụ thể hay so sánh ví von” [15, 201-202] Tác giả còn cho rằng "Nguyễn Công Hoan luôn giữ cho lời văn, ngôn ngữ trong truyện trong sáng, chính xác mang bản sắc của văn hóa dân tộc” [15, 208] Tác giả còn chỉ ra tính chất cá thể hóa sâu sắc trong ngôn ngữ nhân vật của Nguyễn Công Hoan: "Ngôn ngữ các loại nhân vật trong truyện của Nguyễn Công Hoan cũng mang sắc thái riêng, bộc lộ được tâm lí xã hội của từng nhân vật, trộn cũng không lẫn” [15, 117] Nhà nghiên cứu còn so

sánh sự khác nhau giữa văn phong của Nguyễn Công Hoan với các nhà văn hiệnthực phê phán khác với nhiều nhận xét chính xác và tinh tế

Trang 20

Tác giả Nguyễn Thanh Tú khi nghiên cứu chất hài trong câu văn

Nguyễn Công Hoan nhận xét: "Ngôn ngữ của nguyễn Công Hoan là thứ ngôn ngữ suồng sã (…) Trong nội bộ câu văn của Nguyễn Công Hoan thường mang mâu thuẫn hài hước đối chọi ở bên trong (…) Nhà văn có những lối ví von so sánh, độc đáo, những liên tưởng bất ngờ, thú vị (…) Câu văn Nguyễn Công Hoan thường ngắn gọn (…) có sự tuân thủ phép lặp cú pháp vì mục đích nghệ thuật gia tăng sắc thái hài hước” [43, 209-215] Trong bài "Lời văn mỉa mai trong Đồng hào có ma” tác giả đã chỉ rõ tài sử dụng ngôn ngữ suồng sã để

"lật ngửa”, "lộn trái” đối tượng, tài sử dụng tổ chức lời văn nhằm mục đích

mỉa mai, phê phán đối tượng

Trong luận văn thạc sĩ Đặc điểm ngôn ngữ của truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, tác giả Lò Thị Duyên đã nghiên cứu ngôn ngữ trần thuật, đối thoại

và độc thoại về đặc điểm từ vựng, cú pháp, các biện pháp tu từ Tác giả chorằng ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Công Hoan là ngôn ngữ trào phúng, châmbiếm

Theo dòng thời gian, các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ truyện ngắnNguyễn Công Hoan càng được khám phá sâu hơn Năm 2000, với luận văn thạc

sĩ "Phương tiện tu từ nói mỉa trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan”, Nguyễn

Thị Hương Lan đã đề cập đến các dạng thức nói mỉa trên nhiều cấp độ văn bản:cấp độ từ ngữ trong câu, cấp độ đoạn văn, cấp độ văn bản… để rồi tạo nênnhững trùng lớp, góp phần quan trọng vào nghệ thuật trào phúng độc đáo, đặcsắc của Nguyễn Công Hoan

Năm 2001, Nguyễn Thanh Hương trong luận văn thạc sĩ Đặc điểm tình huống đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, đã trực tiếp đề cập đến

ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan nhưng ở phương diệntình huống đối thoại, tức là tìm hiểu tình huống ngữ cảnh của cuộc thoại dựatrên lí thuyết ngữ dụng học và phong cách học

Năm 2006, tác giả Lê Ngọc Hòa trong luận văn thạc sĩ Đặc điểm cách xưng hô của các vai giao tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đã khảo

sát một cách có hệ thống lớp từ xưng hô trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan,

từ đó nêu bật mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và đặc trưng văn hóa xã hội

Tác giả Hoàng Minh Hải với đề tài Các phương thức và đặc điểm gây cười qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan năm 2008 đã

vận dụng lý thuyết hội thoại để nghiên cứu và chỉ ra đặc điểm của nghệthuật gây cười và

Trang 21

nguyên lý gây cười mang phong cách Nguyễn Công Hoan Tác giả Trần Thị

Thủy lại Đối sánh ngôn ngữ trào phúng trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

và tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng Đây là công trình so sánh đặc điểm

ngôn ngữ trào phúng: so sánh tính chất trào phúng của ngôn ngữ kể chuyện vàngôn ngữ nhân vật trong các tác phẩm thuộc hai thể loại khác nhau của hainhà văn trào phúng bậc thầy của văn học Việt Nam hiện đại

Năm 2010, tác giả Hà Thị Tuyết trong luận văn thạc sĩ đã nghiên cứu

Câu có hình thức nghi vấn trong tác phẩm của nguyễn Công Hoan Tác giả Hoàng Thị Tố Quyên đã So sánh câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

và truyện ngắn Thạch Lam về phương diện cấu tạo và biện pháp tu từ Luận văn

góp phần nêu ra những điểm tương đồng và khác biệt về câu văn trong ngônngữ truyện ngắn của hai nhà văn lớn Tác giả Võ Thị Dung trong luận văn thạc

sĩ Chức năng ngữ nghĩa của từ tình thái đứng đầu phát ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan đã chỉ ra những đặc điểm nổi bật nhất về mặt cấu tạo, sự

hành chức cũng như ngữ nghĩa của các từ tình thái trong truyện ngắn NguyễnCông Hoan

Năm 2013, trong Tạp chí văn học nghệ thuật, số 343, tác giả Thành Đức Bảo Thắng với bài Nghệ thuật khắc họa nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan cho rằng ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắn trào phúng của ông

có ba kiểu chủ yếu: người kể chuyện đối thoại với nhân vật, người kể chuyện đốithoại với độc giả và nhân vật đối thoại với nhân vật…Vận dụng sáng tạo vàlinh hoạt ngôn ngữ đối thoại, Nguyễn Công Hoan đã tạo mạch nối giữa tiếngcười dân gian và tiếng cười hiện đại…Ngôn ngữ đối thoại trong truyện ngắnNguyễn Công Hoan hướng tới phơi bày bản chất của con người, của xã hội bằngtiếng cười trào phúng giàu kịch tính Đó là thứ ngôn ngữ chứa đựng yếu tố hấpdẫn, tạo được sự bất ngờ, lột trái hiện tượng, phơi bày mâu thuẫn hài hước…Ngôn ngữ giàu kịch tính xuất hiện nhiều trong truyện ngắn trào phúng củaNguyễn Công Hoan Khi kết hợp với thủ pháp tăng cấp, tác giả đưa người đọc

từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác và bật cười khi hiểu rõ câu chuyện

Năm 2016, tác giả Đặng Thị Thanh Hoa đã nghiên cứu Vai trò của đoạn một câu trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Đoạn một câu được nhà văn

dùng với năm vai trò: nhấn mạnh; liệt kê; dẫn dắt mạch truyện, liên kết cáctình tiết; phương tiện của phép tu từ vĩ thanh; liên kết các đoạn

Trang 22

Điểm lại một số công trình nghiên cứu trên, có thể thấy rằng các tácphẩm của Nguyễn Công Hoan được soi chiếu từ nhiều góc nhìn và có không ítnhững lời bàn về ngôn ngữ trong tác phẩm của ông Tuy nhiên, chưa có công

trình nào nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc về Các chu tố của động từ trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan Có thể xem đây là lối ngỏ để tác giả luận

văn có thể tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này

1.2 Cơ sở lí luận và thực tiễn

1.2.1 Vài nét về lí thuyết kết trị

1.2.1.1 Khái niệm kết trị và kết trị của động từ

Thuật ngữ kết trị (tiếng Nga: valentnost, tiếng Pháp: valence) vốn được

dùng trong hóa học để chỉ thuộc tính kết hợp của các nguyên tử với một sốlượng xác định các nguyên tử khác Thuật ngữ này mới chỉ được dùng rộng rãitrong ngôn ngữ học từ

cuối những năm bốn mươi của thế kỷ XX để chỉ khả năng kết hợp của các lớp từ hoặc các lớp hạng đơn vị ngôn ngữ nói chung

Theo cách hiểu hẹp thì kết trị chỉ là thuộc tính kết hợp của động từhoặc một số từ loại nhất định Bàn về kết trị của động từ, L Tesniere trong

cuốn "Các yếu tố của cú pháp cấu trúc” cho rằng động từ trong vai trò ngữ

pháp truyền thống gọi là vị ngữ thực chất chính là thành tố hạt nhân tạo nên cáinút chính của câu Với vai trò hạt nhân, động từ quy định số lượng và đặc tínhcủa các thành tố có quan hệ với nó Các thành tố này, xét theo mức độ gắn bó

với động từ được chia ra thành diễn tố (actant) (thành tố bắt buộc) hay chủ ngữ

và bổ ngữ truyền thống và chu tố (circonstant) (thành tố tự do) hay trạng ngữtruyền thống (Dẫn theo, [26, 26] )

Cùng bàn về kết trị của động từ, N.I.Tijapkina cho rằng kết trị của động

từ được xác định dựa vào toàn bộ các mối quan hệ cú pháp có thể có đối với nó.Tác giả chia kết trị thành kết trị hạt nhân (kết trị bắt buộc) và kết trị phi hạtnhân (kết trị tự do) Kết trị hạt nhân (bắt buộc) là khả năng kết hợp của vị từvới các actant (diễn tố: gồm chủ ngữ, bổ ngữ) Kết trị tự do là khả năng kết hợpcủa động từ và các chu tố (circonstant)

Nhà ngôn ngữ A.M.Mukhin cũng cho rằng ngoài khả năng kết hợp củađộng từ với các thành tố bắt buộc (diễn tố, actant), cần tính đến khả năng kếthợp của động từ với các thành tố tự do (chu tố, circonstant) A.M.Mukhin cònxác định các kiểu kết trị tự do như kết trị nguyên nhân, mục đích, phương tiện…(Dẫn theo [26, 29])

Trang 23

Với quan niệm dùng thuật ngữ kết trị theo cách hiểu rộng,M.D.Stepanova, kết trị được hiểu là khả năng kết hợp của các đơn vị ngôn ngữcùng cấp độ, kết trị vừa là tiềm năng vừa là sự hiện thực hóa tiềm năng này,nghĩa là, kết trị đồng thời vừa là sự kiện của ngôn ngữ, vừa là sự kiện của lời nói(Dẫn theo [26, 29])

Các ý kiến nêu trên cho thấy rõ khuynh hướng phát triển của lí thuyếtkết trị Kết trị của động từ, theo cách hiểu hẹp, thường được xác định là thuộctính kết hợp cú pháp bắt buộc của động từ, tức là khả năng của động từ kếthợp vào mình các thành tố bắt buộc của câu (các diễn tố, tức là chủ ngữ và bổngữ truyền thống) Theo cách hiểu rộng thì kết trị của động từ là toàn bộ thuộctính kết hợp của động từ (gồm cả khả năng kết hợp từ vựng lẫn khả năng kếthợp cú pháp, cả khả năng kết hợp bắt buộc lẫn tự do, tức là khả năng kết hợpcủa động từ với chu tố hay trạng ngữ)

Ở Việt Nam, lí thuyết kết trị lần đầu tiên được nghiên cứu có hệ thống

trong công trình nghiên cứu Kết trị của động từ tiếng Việt của Nguyễn Văn Lộc Tác giả đã định nghĩa về kết trị của động từ như sau: Kết trị của động từ là khả năng của động từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mở cần hoặc có thể làm đầy bởi những thành tố cú pháp (những thực từ) mang ý nghĩa bổ sung nhất định Nói cách khác, kết trị của động từ là thuộc tính của động từ kết hợp vào mình những thành tố cú pháp bắt buộc, tự do Thuộc tính kết hợp này hàm chứa trong ý nghĩa của bản thân động từ Nó chính là sự phản ánh những đòi hỏi hoặc khả năng của động từ được cụ thể hóa về mặt nào đó [26, 34] Kết trị của động từ được xác định theo số lượng các vị trí mở bao quanh

nó còn bản thân các vị trí mở lại được xác định dựa vào số lượng các thành tố

bổ sung (các kết tố) làm đầy các vị trí mở này Như vậy, xác định và phân tích kết trị của động từ thực chất chính là xác định và phân tích các kết tố làm đầy

các vị trí mở bên động từ [26, 35].

Trên cơ sở cách hiểu của các tác giả về khái niệm kết trị được trình bày

t rên đây, trong luận văn này, chúng tôi hiểu kết trị và kết trị của động từ theonghĩa rộng Kết trị được hiểu là thuộc tính kết hợp của các đơn vị ngôn ngữcùng cấp độ Ở cấp độ từ, kết trị theo nghĩa rộng được hiểu là thuộc tính kếthợp cú pháp của từ với tư cách là đại diện của các từ loại, tiểu loại Kết trị củađộng từ theo nghĩa rộng là toàn bộ thuộc tính kết hợp cú pháp của động từ

Đó là khả năng của động từ tham gia

Trang 24

vào các mối quan hệ cú pháp nói chung (gồm cả khả năng kết hợp của động

từ với tư cách là thành tố chính, tức là thành tố tạo ra các vị trí mở hay các ôtrống cần làm đầy bởi các thành tố phụ (các diễn tố, chu tố) lẫn khả năng kếthợp của động từ với tư cách là thành tố phụ (thành tố làm đầy các vị trí mởhay các ô trống được tạo ra bởi các từ loại khác nhau)

1.2.1.2 Nguyên tắc và các thủ pháp hình thức trong nghiên cứu kết trị của động từ

Là đơn vị ngữ pháp, các thành tố phụ (các kết tố) của động từ được đặctrưng bởi hai mặt: mặt ý nghĩa và mặt hình thức ngữ pháp Tính hai mặt củacác thành tố phụ hay các kết tố đòi hỏi khi xác định, phân tích kết trị của động

từ phải tính đến cả mặt nội dung lẫn mặt hình thức Ý nghĩa đặc trưng cho mặtnội dung của các kết tố là tổ hợp các nghĩa có quan hệ tôn ti với nhau Nghĩachung đặc trưng cho tất cả các kết tố là nghĩa xác định (bổ sung) Nghĩa cụ thểhơn là các nghĩa cú pháp kiểu như: nghĩa

chủ thể, nghĩa đối thể, nghĩa công cụ, nguyên

nhân…

Nghĩa của các kết tố luôn được biểu hiện bằng những hình thức nhấtđịnh Hình thức ngữ pháp của các kết tố bao gồm khả năng thay thế bằng từnghi vấn, cách biểu hiện về mặt từ loại, vị trí so với động từ, sự có mặt hayvắng mặt ở bên chúng

các quan hệ từ và ngữ

điệu

Khi xác định phân tích kết trị của động từ, để tránh sự chủ quan, cảmtính, và để phát hiện đầy đủ đặc điểm của các kết tố, cần phải dựa vào nhữngthủ pháp hình thức nhất định như: lược bỏ, bổ sung, thay thế, cải biến

Lược bỏ là bỏ bớt một thành tố trong câu hay cấu trúc nhất định với mụcđích xác định mức độ cần thiết, tầm quan trọng của thành tố đó đối với tổ chứccủa cấu trúc Bằng thủ pháp lược bỏ, ta có thể xác định phân biệt thành tố bắtbuộc (diễn tố, kết tố bắt buộc hay chủ ngữ, bổ ngữ) với thành tố tự do (chu tố

hay trạng ngữ) Chẳng hạn, với cấu trúc: (1)“Nam tìm bạn ở Hà Nội”, khi dùng

thủ pháp lược bỏ, ta sẽ lần lượt có các cấu trúc:

1a Nam tìm bạn ở Hà Nội

1b  Tìm bạn ở Hà Nội (lược thành tố chủ thể)

1c Nam tìm  ở Hà Nội (lược thành tố đối thể)

1d Nam tìm bạn  (lược thành tố vị trí)

Trang 25

Như các ví dụ cho thấy, việc lược các thành tố chủ thể (chủ ngữ) và đối

thể (bổ ngữ) sẽ khiến cho nghĩa của động từ hạt nhân (tìm) trở nên không xác

định và khiến câu mất đi tính trọn vẹn tối thiểu (trở thành câu không đầy đủ).Trong khi đó, việc lược thành tố vị trí (chu tố, trạng ngữ) nói chung, không ảnhhưởng đến tính xác định về nghĩa của động từ hạt nhân và tính trọn vẹn củacâu

Bổ sung là thêm một hay một số từ vào câu hay cấu trúc nhất định vớimục đích xác định các ô trống còn chưa được làm đầy trong cấu trúc, qua đó,

làm rõ đặc điểm nào đó của cấu trúc.Thí dụ, với câu (2)“Cuốn sách vừa mua rất hay”, việc có thể bổ sung thành tố chủ thể (tôi) vào trước “vừa mua” (Cuốn sách tôi vừa mua rất hay) cho thấy trong câu này vẫn còn một vị trí mở (ô

trống) chưa được làm đầy Việc bổ sung vừa thực hiện cho phép rút ra nhận xét:câu thứ nhất không phải là câu đơn điển hình mà có nét trung gian giữa câuđơn và câu phức (vì khi bổ sung chủ ngữ vào, ta sẽ có câu gồm hai cụm chủ vị)

Thay thế là thay một yếu tố nào đó trong câu hay cấu trúc nhất địnhbằng một yếu tố có chức năng tương đương với mục đích xác định bản chất,đặc điểm của yếu tố được thay thế hay đặc điểm của cấu trúc.Thí dụ, trong câu

(3)“Cô giáo đang giảng bài trên lớp là giáo viên giỏi” có thể thay tổ hợp “đang giảng bài trên lớp” bằng đại từ xác định ấy (kia, đó): “Cô giáo ấy là giáo viên giỏi” Khả năng thay thế này cho phép khẳng định rằng “đang giảng bài trên lớp” là định ngữ chứ không phải vị ngữ và do đó, chủ ngữ của câu trên đây (Cô giáo đang giảng bài trên lớp) không phải là cụm chủ vị mà là cụm (nhóm, ngữ)

danh từ Cũng bằng thủ pháp thay thế, ta có thể nhận ra nét gần gũi hay tươngđồng giữa thành tố chủ thể (chủ ngữ) với thành tố đối

thể (bổ ngữ), xét trong mối quan hệ cú pháp với động từ

Ví dụ: (4) Cha tìm con Ai tìm ai?

Trang 26

Thí dụ:

- Cải biến vị trí:

(6) Nước sôi rồi Sôi nước rồi

(7) Tôi viết thư Thư, tôi viết

(8) Hai bên đã liên lạc được với nhau bằng điện thoại

Bằng điện thoại, hai bên đã liên lạc được với nhau

- Cải biến danh hóa:

(9) Đứa trẻ ra đời (đã làm thay đổi bầu không khí trên tàu)

Sự ra đời của đứa trẻ (đã làm thay đổi bầu không khí trên tàu)

- Cải biến bị động:

(10) Địch đốt xóm Chùa Xóm Chùa bị địch đốt

- Cải biến nguyên nhân:

(11) Đứa bé thức giấc vì tiếng động mạnh

Tiếng động mạnh làm đứa bé thức giấc

1.2.1.3 Cách xác định thành tố bổ sung (các kết tố) của

động từ

Về nội dung, các thành tố bổ sung hay các kết tố của động từ cụ thểhóa ý nghĩa của động từ, tức là bổ sung cho tình huống mà động từ miêu tảmột ý nghĩa nhất định

Về hình thức, chúng luôn có khả năng được thay thế bằng từ nghi vấn, tức

là luôn có thể dựa vào động từ để đặt câu hỏi về chúng Chẳng hạn, trong câu

(12) "Họ ăn cơm bằng đũa” thì "cơm” và "đũa” là các kết tố của động từ "ăn” vì

về nội dung, chúng cụ thể hóa ý nghĩa cho động từ "ăn” ("cơm” bổ sung ý nghĩa đối thể, "đũa” bổ sung ý nghĩa công cụ), còn về hình thức, chúng đều có khă năng thay thế bằng từ nghi vấn (thí dụ: Ăn gì? Ăn bằng gì?).

Khi xác định các kết tố của động từ, thủ pháp đặt câu hỏi đặc biệt tiệnlợi, có hiệu quả Thủ pháp này cũng giúp cho việc xác định khả năng có haykhông một kiểu kết trị nào đó ở một nhóm động từ nhất định Khi kết hợp thủpháp đặt câu hỏi với thủ pháp phân tích ngữ nghĩa, ta còn có thể phân biệt đượckết trị đích thực của động từ với kiểu kết trị thuần nội dung có thể có ở động từ

Trang 27

Việc xác định các kết tố của động từ có thể thực hiện theo các bước sau:

- Xác định các cấu trúc có chứa động từ hạt nhân, tức là xác định cụmđộng từ hay nút động từ

- Xác định kết trị hình thức của động từ bằng thủ pháp đặt câu hỏi

- Xác định kết trị nội dung của động từ

- Dựa vào cả mặt nội dung lẫn hình thức để xác định các kết tố (cácthành tố bổ sung gồm diễn tố, chu tố)

Cấu trúc bao gồm động từ và các kết tố của mình sẽ được gọi là cấu trúcđộng từ hay cụm động từ (nút động từ theo thuật ngữ của L Tesniere) Ở dạngđiển hình, cấu trúc động từ bao gồm ba phần: phần đầu, hạt nhân, phần sau.Trong cấu trúc động từ, hạt nhân là thành tố có vai trò quan trọng nhất, nó cótính thường trực cao nhất trong cấu trúc, là thành tố chi phối tổ chức của cảcấu trúc Như vậy, đặc điểm của

cấu trúc động từ phụ thuộc vào thuộc tính kết trị của động từ hạt nhân

1.2.1.4 Phân loại kết trị động từ

a Kết trị nội dung và kết trị hình thức

Kết trị nội dung là sự kết hợp về mặt ngữ nghĩa giữa động từ và các kết

tố Kết trị nội dung của động từ được xác định theo đặc điểm cú pháp - ngữnghĩa của các kết tố và phụ thuộc chặt chẽ vào ý nghĩa của động từ Mỗi kiểukết trị nội dung thường chỉ gắn với một kiểu ý nghĩa từ vựng - ngữ pháp củađộng từ Kết trị nội dung phụ thuộc chặt chẽ vào nghĩa của động từ nên sự thayđổi nghĩa từ vựng- ngữ pháp của động từ luôn kéo theo sự thay đổi kết trị nộidung của nó Phân tích kết trị động từ theo mặt nội dung có thể phân biệt cáckiểu kết trị cụ thể như: kết trị chủ thể, kết trị đối thể, kết trị công cụ, kết trịnguyên nhân, kết trị mục đích Kết trị hình thức của động từ là mối quan hệhay sự phù hợp về hình thức giữa động từ với các kết tố Kết trị hình thức gắnvới đặc tính ngữ pháp của từ Có thể phân biệt các kiểu kết trị hình thức như:kết trị trước, kết trị sau, kết trị trực tiếp, kết trị gián tiếp…Trên thực tế khôngthể miêu tả kết trị nội dung và kết trị hình thức một cách hoàn toàn độc lập,tách biệt nhau

b Kết trị bắt buộc và kết trị tự do

Kết trị bắt buộc là khả năng của động từ tạo ra xung quanh mình các vịtrí mở cần làm đầy bởi các kết tố bắt buộc (các diễn tố hay chủ ngữ, bổ ngữ).Kết trị tự do là khả năng của động từ tạo ra xung quanh mình các vị trí mở cóthể làm đầy bởi các kết tố tự do (các chu tố hay trạng ngữ theo nghĩa rộng).Ranh giới giữa kết tố bắt buộc

Trang 28

(diễn tố) và tự do (chu tố) không phải bao giờ cũng rõ ràng, dứt khoát Chẳng

hạn, cùng là thành tố chỉ vị trí nhưng trong câu (1)“Nam tìm bạn ở Hà Nội”, “ở

Hà Nội” có tính tự do và là chu tố nhưng trong câu (13)“Nam sống ở Hà Nội”,

“ở Hà Nội” lại có tính bắt buộc và được coi là diễn tố.

c Kết trị chủ động và kết trị bị động

Kết trị chủ động là khả năng kết hợp của động từ với tư cách là thành tốchính (thành tố chi phối) Đó là khả năng của động từ tạo ra xung quanh mìnhcác vị trí mở (các ô trống) cần hoặc có thể làm đầy bởi các thành tố cú pháp(các diễn tố, chu tố) mang ý nghĩa bổ sung nhất định Kết trị chủ động của động

từ theo cách hiểu trên đây về cơ bản phù hợp với khả năng kết hợp của động từtheo cách hiểu truyền thống

Kết trị bị động của động từ là khả năng kết hợp của động từ với tưcách là thành tố phụ hay thành tố bị chi phối Kết trị bị động theo cách hiểunày phù hợp với chức năng cú pháp của động từ theo cách hiểu truyền thống

1.2.2 Khái niệm diễn tố,

chu tố

Theo L.Tesnière, trong tổ chức cú pháp của câu, mỗi yếu tố chính mà ở nó

có một hay một vài yếu tố phụ thuộc lập thành cái ông gọi là nút (noeu) [60, 25] Nút với từ chính là động từ được gọi là nút động từ L.Tesnière cho rằng

nút động từ là trung tâm của câu trong phần lớn các ngôn ngữ châu Âu và nóbiểu thị cái tương tự như một vở kịch nhỏ với các vai diễn (gắn với hành động vàhoàn cảnh) Nếu đi từ mặt thực tế của vở kịch sang bình diện cú pháp cấu trúc

thì hành động, các vai diễn và hoàn cảnh sẽ tương đương với các yếu tố là động

từ, diễn tố (actants) và chu tố (circonstants) Động từ giữ vai trò hạt nhân cú

pháp và biểu thị quá trình Các diễn tố là các thành tố phụ bắt buộc chỉ ngườihay vật tham gia vào quá trình với tư cách bất kì (chủ động hay bị động) Chẳng

hạn, trong câu (14) “Alfred frappe Bernard.” (Alfred đánh Bécna.), bên động từ hạt nhân frappe (đánh) có hai diễn tố là Alfred và Bécna Chu tố là các thành tố

phụ tự do biểu thị hoàn cảnh (vị trí, thời gian, phương thức…) theo đó, quá trình

được mở rộng Chẳng hạn, trong câu: (15) “Alfred parle bien.” (Alfred nói hay.), bien (hay) là chu tố.

Các diễn tố có những đặc điểm chung là:

a Đều phụ thuộc vào động từ, là kẻ thể hiện kết trị của động từ, kể cả diễn tố

chủ thể (chủ

ngữ)

Trang 29

b Đều có tính bắt buộc, nghĩa là sự xuất hiện của chúng do nghĩa củađộng từ đòi hỏi và việc lược bỏ chúng sẽ làm cho nghĩa của động từ trở nênkhông xác định

c Về hình thức, chúng được biểu hiện bằng danh từ hoặc các yếu tốtương đương (Các yếu tố này theo L.Tesniere, gồm: đại từ, động từ nguyêndạng, mệnh đề phụ bổ ngữ mà ông gọi là mệnh đề phụ diễn tố) Như vậy, diễn

tố là thành tố thể hiện kết trị bắt buộc của động từ Các diễn tố đượcL.Tesniere phân loại dựa vào chức năng khác nhau mà chúng thực hiện theomối quan hệ với động từ thành: diễn tố thứ nhất, thứ hai và thứ ba

Diễn tố thứ nhất từ góc độ ngữ nghĩa, chính là diễn tố chỉ kẻ hoạt động,được gọi là chủ thể Diễn tố thứ hai phù hợp với bổ ngữ đối thể, diễn tố thứ ba

về cơ bản tương ứng với bổ ngữ gián tiếp trong ngữ pháp truyền thống

Các diễn tố theo mức độ gắn bó với động từ còn được L.Tesniere phânbiệt thành diễn tố không biệt lập và diễn tố biệt lập

Như vậy, theo cách hiểu của L.Tesnière, diễn tố và chu tố là các thành tố

cú pháp nằm trong tổ chức cú pháp của câu hay nút động từ Về bản chất cú

pháp của diễn tố và chu tố, L.Tesnière khẳng định: “Đó là các yếu tố phụ thuộc trực tiếp vào động từ.” [60, 118] Cách hiểu này của L.Tesnière khác với cách

hiểu truyền thống theo đó, các thành tố chỉ hoàn cảnh (vị trí, thời gian, phương

thức…) trong câu được coi là thành phần phụ (trạng ngữ) có quan hệ cú pháp với cả cụm chủ vị [39, 124], [45, 565], [57, 239], [3, 180], [21, 206] Cách hiểu

trên đây của L.Tesnière về chu tố đã được V.S Panfilov ủng hộ khi ông bàn vềtrạng ngữ [38, 377] Chia sẻ quan niệm này, gần đây, Nguyễn Văn Lộc vàNguyễn Mạnh Tiến đã chứng minh rằng thành tố mà ngữ pháp học truyềnthống gọi là trạng ngữ, về bản chất cú pháp, là thành tố phụ có mối quan hệ cúpháp với vị ngữ hay vị từ, (đó chính là chu tố- yếu tố mở rộng tự do cho vị ngữhay vị từ) [30, 343-348], [54, 46-63]

Tóm lại, chúng tôi hiểu chu tố là thành tố cú pháp tự do được dùng để bổ sung cho vị ngữ hay vị từ ý nghĩa tình trạng, hoàn cảnh (vị trí, thời gian, nguyên nhân,

Trang 30

1.2.3 Những đặc điểm cơ bản của chu tố

1.2.3.1 Đặc điểm nội dung của chu tố

Tác giả Nguyễn Văn Lộc cho rằng về nội dung, chu tố có ba đặc điểm

chính: tính phụ thuộc, tính không bắt buộc (tự do) và ý nghĩa tình trạng, hoàn cảnh (chỉ không gian, thời gian, nguyên nhân, mục đích, công cụ, tính chất, cách thức…) [30, 348].

a Tính phụ thuộc của chu tố thể hiện ở cả mặt nội dung lẫn hình thức.

Về nội dung, chu tố bổ sung cho vị ngữ hay vị từ một ý nghĩa cú phápnhất định (nghĩa thời gian, không gian, nguyên nhân, mục đích, công cụ, tínhchất…)

Thí dụ:

(16) Mày còn phải quỳ đến tan học (Thầy cáu, tr.217)

(17) Lá cây sột soạt rụng, đuổi nhau ở trên đường nhựa (Người

ngựa và ngựa người, tr.58)

(18) Mợ nên hiểu tôi, đừng phụ bụng tôi, bởi tôi biết bụng mợ lắm.

(Oẳn tà rroằn, tr.29)

(19) Anh đưa mắt vào trong nhà để nhìn (Thằng điên, tr.274)

(20) Anh lắc đầu, thở dài, đáp bằng giọng như mếu (Mánh khóe,

tr.261) (21) Họ chạy huỳnh huỵch (Thằng ăn cắp, tr.114)

Về hình thức, chu tố luôn có khả năng thay thế bằng từ nghi vấn

Thí dụ:

(22a) Nhưng bà không nghe, vì ngại nặng (Tấm giấy một trăm, tr.527) (22b) Nhưng bà không nghe vì sao?

b Tính không bắt buộc của chu tố.

Khác với diễn tố là thành tố có tính bắt buộc, chu tố là thành tố thể hiện

kết trị tự do của động từ hay vị từ Sự xuất hiện của chu tố (trạng ngữ) nói chung không phải do ý nghĩa của vị từ - vị ngữ đòi hỏi mà chỉ phản ánh khả năng kết hợp (tự do)

của vị từ hay khả năng của vị từ được cụ thể hóa thêm về nghĩa [30, 349].

Nếu lược bỏ chu tố sẽ không ảnh hưởng tới tính xác định về nghĩa của vị

từ và tính trọn vẹn về cú pháp của câu

Thí dụ:

(23) Một cái ô tô đằng xa chạy lại (Răng con chó của nhà tư sản, tr.18)

Sự xuất hiện của chu tố “đằng xa” không do ý nghĩa của vị từ đòi hỏi và

việc lược bỏ chu tố này không làm mất tính trọn vẹn của câu

Trang 31

c Ý nghĩa tình trạng, hoàn cảnh của chu tố

Nghĩa cú pháp chung của các chu tố là chỉ tình trạng của sự tình nêu ở

vị từ - vị ngữ, hay vị từ nói chung, tức là chỉ hoàn cảnh trong đó diễn ra sự tìnhnêu ở vị từ - vị ngữ của câu Với ý nghĩa cú pháp như vậy, chu tố thường đượcgọi là trạng ngữ hay bổ ngữ hoàn cảnh Nghĩa tình trạng, hoàn cảnh của chu tố

được thể hiện bằng những nghĩa cụ thể như: nghĩa không gian, thời gian, nguyên nhân, mục đích, công

cụ, tính chất, cách thức

1.2.3.2 Đặc điểm hình thức của chu tố

a Khả năng thay thế bằng từ nghi vấn

Như đã nói ở trên, đây là dấu hiệu của sự phụ thuộc về hình thức củachu tố vào vị từ - vị ngữ Với đặc điểm ý nghĩa của mình, vị từ thường tạo rabên mình các vị trí mở (các ô trống) nhất định có thể làm đầy bởi các kiểu chu

tố nào đó và mỗi vị trí mở hay ô trống đó được đặc trưng bởi một câu hỏi nhấtđịnh

Thí dụ: câu hỏi "ở đâu" đặc trưng cho chu tố không gian, câu hỏi "khi nào" đặc trưng cho chu tố thời gian, câu hỏi "vì sao” hay "vì ai” đặc trưng cho chu tố nguyên nhân, câu hỏi "bằng gì” đặc trưng cho chu tố công cụ hay

phương tiện…

Có thể khẳng định rằng khả năng thay thế bằng từ nghi vấn là dấu hiệucủa sự phụ thuộc về hình thức của chu tố (trạng ngữ truyền thống) và cũng làdấu hiệu để xác định, nhận diện một kiểu chu tố nhất định

b Về cách biểu hiện và phương thức kết hợp

- Về cách biểu hiện:

Các chu tố được biểu hiện bằng hai hình thức chủ yếu là thể từ (danh từ,cụm danh từ, đại từ) và vị từ (cụm vị từ)

+ Chu tố là thể từ (gồm danh từ, cụm danh từ, đại từ) thường biểu thị

không gian, thời gian, công cụ, phạm vi, kẻ tham gia hoạt động và số lần hoạt động, cũng có trường hợp chu tố là danh từ (cụm danh từ) chỉ nguyên nhân,

Trang 33

+ Các chu tố được biểu hiện bằng vị từ (cụm vị từ), thường biểu thị các

quan hệ: mục đích, nguyên nhân, điều kiện, tính chất, sự nhượng bộ.

Thí dụ:

(26) Anh đánh vú, chửi vú để đòi (Con ve, tr.591)

(27) Cậu lệ đang hầu nước bài, phải ngấc mắt lên nhìn mãi, đến nỗi phải chửi,

vì quan bàn quân ăn quân đánh mà không biết (Thật là phúc, tr.44)

(28) Hễ nó lảng vảng đến, người ta ngờ, người ta canh, người ta giữ, coi nó như một con chó đói (Thằng ăn cắp, tr.111)

(29) Nhưng cụ lấy hai tay, nắn bóp khắp hai đùi thật kỹ, từ trên xuống

+ Chu tố chủ yếu kết hợp gián tiếp với vị từ - vị ngữ thông qua một quan

hệ từ nhất định: vì, bằng, ở, vào, để, nếu, tuy, dù…

Thí dụ:

(31) Tao không muốn đến nhà thằng Nguyễn, vì cuộc bút chiến giữa nó với tao chưa kết thúc (Cái Tết của những nhà đại văn hào, tr.570)

(32) Nó đang nghĩ, thì thấy ở bàn nước cạnh giường có cái bìa vuông.

(Nỗi vui sướng của thằng bé khốn nạn, tr.70)

(33) Bốn người quây vào anh để nắn (Tấm giấy một trăm, tr.533)

(34) Đố họa sĩ nào pha đúng được màu quần áo ấy- nếu nó cởi những thứ ấy ra, đem treo lên cho công chúng đoán - đố ai dám nói là đồ mặc của

người (Hai cái bụng, tr.521)

Khi kết hợp gián tiếp với vị từ - vị ngữ, chu tố xuất hiện trong hai biến thể:

biến thể có quan hệ từ và biến thể vắng quan hệ từ

Trang 34

+ Các chu tố kết hợp trực tiếp với vị từ không nhiều, đó là chu tố chỉ tính

chất, số lần hoạt động

Thí dụ:

(36) Nhưng cụ Chánh Bá còn kén kỹ lắm (Cái thú tổ tôm, tr.227)

(37) Rồi ông nhìn lại từng đoạn và đọc một lượt nữa (Nhân tài, tr.264)

c Về vị trí

Tính tự do, linh hoạt về vị trí trong câu là đặc điểm khác biệt của chu

tố với các diễn tố Trong câu, nhiều chu tố có khả năng chiếm các vị trí: trướccụm chủ vị, giữa chủ ngữ, vị ngữ, hoặc sau cụm chủ vị

Thí dụ:

(38a) Bên ngoài, mưa vẫn đổ (Đàn bà là giống yếu,

tr.194) (38b) Mưa vẫn đổ bên ngoài.

(38c) Mưa, bên ngoài vẫn đổ.

Có trường hợp chu tố chỉ chiếm một vị trí, đó là sau nòng cốt câu

Thí dụ:

(39) Tôi lại phải đọc rất to (Mánh khóe, tr.254)

Trong trường hợp này, không thể thay đổi vị trí của chu tố

Mặc dù chu tố có sự linh hoạt, tự do về vị trí nhưng vị trí cơ bản (vị tríxuất phát, vị trí thuận) là ở sau vị ngữ hay vị từ Cơ sở để khẳng định điều này

là vị trí sau vị từ là vị trí có tính phổ biến cao nhất và trong nhiều trường hợpkhông thể chuyển chu tố từ vị trí sau vị từ lên trước vị từ Trong khi đó, các chu

tố chiếm vị trí trước vị từ hầu như đều có thể chuyển xuống vị trí sau vị từ Vấn

đề này đã được Nguyễn Văn Lộc luận giải cụ thể trong công trình Ngữ pháp tiếng Việt [32, 352-354] Khi khảo sát vị trí các chu tố trong Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan, chúng tôi sẽ chứng minh làm rõ thêm vấn đề này.

1.2.4 Mối quan hệ (sự tương ứng) giữa chu tố với trạng ngữ và vai nghĩa

1.2.4.1 Mối quan hệ giữa chu tố và trạng ngữ truyền thống

Chu tố (theo cách hiểu của L.Tesnière và cũng là cách hiểu trongluận văn này) và trạng ngữ truyền thống có những điểm tương đồng và khácbiệt sau:

a Nét tương đồng

- Về bản chất, chu tố và trạng ngữ truyền thống đều là các thành tố cúpháp nằm trong tổ chức cú pháp của câu

Trang 35

- Về ý nghĩa và hình thức: chu tố và trạng ngữ truyền thống đều đượcđặc trưng bởi hai mặt: ý nghĩa cú pháp (ý nghĩa chung là tình trạng hoàn cảnhvới các nghĩa cụ thể là nghĩa không gian, thời gian, nguyên nhân, mục đích,công cụ, tính

chất ) và hình thức cú pháp (được biểu hiện bằng danh từ, cụm danh từ, hoặc

vị từ, cụm vị từ thường được dẫn nối bằng quan hệ từ)

- Về tính chất: Đều là thành tố không bắt buộc (tự do)

b Nét khác biệt

- Về tính chất của mối quan hệ cú pháp: Chu tố theo cách hiểu củaL.Tesnière (và cũng là cách hiểu của tác giả luận văn) là thành tố cú pháp cóquan hệ với vị ngữ hoặc vị từ (là yếu tố mở rộng tự do cho vị ngữ, vị từ hay yếu

tố thể hiện kết trị tự do của vị từ) Trạng ngữ truyền thống được coi là thànhphần phụ của câu có quan hệ cú pháp với cả nòng cốt câu (cụm chủ vị nòngcốt)

- Về phạm vi: Chu tố được coi là tất cả các thành tố phụ tự do của vị ngữhay vị từ (gồm cả các thành tố được coi là trạng ngữ - thành phần phụ củacâu và các thành tố được coi là trạng tố hay bổ ngữ tự do của vị từ - thànhphần phụ của vị từ) Trạng ngữ truyền thống được hiểu chỉ gồm các thànhphần phụ tự do của câu chỉ hoàn cảnh tình huống (không bao gồm trạng tốhay bổ ngữ tự do của vị từ)

Chu tố theo cách hiểu của chúng tôi (dựa trên cách hiểu củaL.Tesniere và V.S Panfilov) tương ứng với trạng ngữ theo cách hiểu mới

được trình bày trong công trình “Ngữ pháp tiếng Việt” của tác giả Nguyễn Văn

Lộc (chủ biên) [30, 343-348] Theo chúng tôi, cách hiểu này là có cơ sở và đãđược chứng minh (về nội dung, chu tố có quan hệ ý nghĩa với vị ngữ hay vị từ;

về hình thức, chu tố có thể cùng với vị ngữ hay vị từ tạo thành tổ hợp dùngđộc lập hoặc dùng với tư cách biến thể tỉnh lược của câu) [30, 343-348]

1.2.4.2 Về sự tương ứng giữa chu tố và vai nghĩa

Cần thấy rằng chu tố và vai nghĩa (tham thể ngữ nghĩa) là các thành tốkhác nhau về bình diện hay về bản chất Cụ thể:

- Về bản chất: Chu tố cũng như diễn tố, là các thành tố cú pháp thuộc vềbình diện cú pháp và cấu trúc cú pháp của câu (hay nút động từ); còn vai nghĩahay tham thể ngữ nghĩa thuộc bình diện nghĩa biểu hiện và cấu trúc nghĩa biểuhiện của câu

- Về ý nghĩa và hình thức: Là thành tố cú pháp, chu tố được đặc trưng bởi

ý nghĩa cú pháp nhất định và hình thức cú pháp tương ứng biểu thị ý nghĩa này.Các vai nghĩa, với tư cách là thành tố ngữ nghĩa được đặc trưng bởi ý nghĩabiểu hiện nhất định và không có hình thức cú pháp riêng để biểu thị

Trang 36

- Về sự tương ứng giữa chu tố và vai nghĩa: Trong câu, chu tố và thamthể ngữ nghĩa có thể trùng nhau nhưng cũng có thể không trùng nhau Chẳng

hạn, trong câu (40) “Mọi người giật mình vì tiếng nổ.”, “tiếng nổ” vừa là chu tố

(trạng ngữ) nguyên nhân, vừa là tham thể nguyên nhân trong cấu trúc nghĩa

biểu hiện của câu Tuy nhiên, trong câu (41) “Tiếng nổ khiến mọi người giật mình.”, “tiếng nổ”, xét về nghĩa biểu hiện, mặc dù vẫn giữ vai nghĩa nguyên nhân (xét trong mối quan hệ thuần ngữ nghĩa với “giật mình” là hạt nhân ngữ

nghĩa) nhưng về cú pháp, nó không phải là chu tố mà là diễn tố chủ thể (xét

trong mối quan hệ cú pháp với hạt nhân cú pháp là động từ “làm”).

1.2.5 Các kiểu chu

tố

Khi phân loại chu tố, chúng tôi chủ yếu tiếp thu cách phân loại của Nguyễn

Văn Lộc, theo đó, chu tố được phân loại dựa vào các tiêu chí sau:

a Dựa vào đặc điểm cấu tạo, có thể chia các chu tố thành:

- Chu tố được biểu hiện bằng thể từ (danh từ, cụm danh từ, đại từ)

Thí dụ:

(42) Bà phải về ngay bây giờ (Báo hiếu trả nghĩa cha, tr.124)

- Chu tố được biểu hiện bằng vị từ, cụm vị từ

Thí dụ:

(43) Đi hết phố này sang phố khác, nhà nào anh cũng ngắm, cũng nhận

kỹ lắm (Thằng điên, tr.270)

b Dựa vào phương thức kết hợp, có thể chia chu tố thành:

- Chu tố kết hợp trực tiếp với vị từ

Thí dụ:

(44) Để chốc tao còn khám một lượt nữa (Thầy cáu, tr.215)

- Chu tố kết hợp gián tiếp với vị từ

c Dựa vào khả năng cải biến, có thể chia các chu tố thành:

- Chu tố có khả năng cải biến vị trí (gồm chu tố có khả năng chiếm ba vịtrí,

chu tố có khả năng chiếm hai vị trí)

+ Khả năng chiếm ba vị trí:

Trang 37

Thí dụ:

(46a) Từ nọ đến nay, bao nhiêu người xin đong mà bà không dám bán.

(Hé! Hé! Hé!, tr.418)

(46b) Bao nhiêu người xin đong từ nọ đến nay, mà bà không dám

bán (46c) Bao nhiêu người từ nọ đến nay xin đong mà bà không

dám bán

+ Khả năng chiếm hai vị trí:

Thí dụ:

(47a) Hơn nửa giờ nữa, ông bà Nghị mới ra (Hai thằng khốn nạn,

tr.37) (47b) Ông bà Nghị hơn nửa giờ nữa mới ra.

- Chu tố không có khả năng cải biến vị trí:

Thí dụ:

(48) Chờ đây, tôi ra ngay (Hai thằng khốn nạn, tr.37)

d Dựa vào ý nghĩa có thể chia các chu tố thành nhiều kiểu khác nhau:

chu tố không gian; thời gian; nguyên nhân; mục đích; điều kiện; công cụ(phương tiện); tính chất, cách thức; số lần hoạt động; nhượng bộ; kẻ cùngtham gia hoạt động; tình huống; kết quả; biểu thị ý “loại trừ”

1.2.6 Vài nét về Nguyễn Công Hoan và Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan

Nguyễn Công Hoan (1903- 1977) là một cây bút tiêu biểu của dòng vănhọc hiện thực phê phán Quê ông ở làng Xuân Cầu, tổng Xuân Cầu, huyện VănGiang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã N ghĩa Tr ụ , huyện VănGian g, tỉnh H ư ng Yên) Nguyễn Công Hoan xuất thân trong một gia đình quanlại Nho h ọ c th ấ t thế Bản thân ông, tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm năm 1926,làm nghề dạy học ở nhiều nơi

(như H ả i D ư ơ ng, Lào Ca i , N a m Đ ị nh )

Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ chức Giám đốc kiểm duyệt báo chíBắc Bộ, kiêm Giám đốc Sở Tuyên truyền Bắc Bộ Sau đó ông gia nhập V ệ qu

ố c quâ n , làm biên tập viên báo Vệ quốc quân, giám đốc trường Văn hóa quân nhân, chủ nhiệm và biên tập tờ Quân nhân học báo Ông là đảng viên Đ ả ng Lao đ ộ ng Vi ệ t N a m t ừ năm 1948 Năm 1 9 51 ông làm việc ở Trại tu thư của

ngành giáo dục, biên soạn sách giáo khoa và sách Sử Việt Nam hiện đại từ Pháp thuộc đến năm 1950 dùng cho lớp 7 hệ 9 năm Ông cũng viết bài cho báo Giáo dục nhân dân, cơ quan ngôn luận đầu tiên của Bộ Quốc gia giáo dục lúc

bấy giờ Từ sau năm 1954, ông trở lại nghề văn với cương vị Chủ tịch H ộ i Nhà văn Vi ệ t N a m ( khóa đầu tiên 195 7 -19 5 8 ), ủy viên Ban Thường vụ trongBan Chấp hành Hội nhà văn Việt Nam các khóa sau đó Ông cũng

Trang 38

là ủy viên Ban chấp hành H ộ i li ê n hi ệ p Văn h ọ c ngh ệ t hu ậ t Vi ệ t N am , chủ

nhiệm tuần báo Văn (tiền thân của báo Văn nghệ) Nguyễn Công Hoan mất

ngày 6 thá n g

6

n ăm 19 7 7 t ạ i Hà N ộ i Tên ông được đặt cho một phố ở Hà Nội, đoạn giữa haiphố Ngọc Khánh và Nguyễn Chí Thanh Tại thành phố Đồ n g H ớ i, Q u ả ng Bình có con đường mang tên Nguyễn Công Hoan ở phường Bắc Lý NguyễnCông Hoan được tặng Gi ả i t h ư ở ng H ồ C hí Minh v ề Văn học nghệ thuật năm1996

Nguyễn Công Hoan là một cây bút tài năng, ông sáng tác cả truyện ngắn

và truyện dài, song tài năng và bút lực của ông nở rộ nhất và kết tinh nhấttrong lĩnh vực truyện ngắn Nghệ thuật truyện ngắn Nguyễn Công Hoan nhuầnnhuyễn, sinh động và hấp dẫn đã đóng góp to lớn vào quá trình hiện đại hóa vănxuôi tiếng Việt nửa đầu thế kỉ XX Tác giả Lê Thị Đức Hạnh đã đánh giá:

“Nguyễn Công Hoan không chỉ đơn thuần với tư cách một sáng tạo cá nhân mà còn có tư cách đại biểu của một khuynh hướng, một thể loại, một phong cách có

ý nghĩa về phương diện mỹ học.”[15, 3]

Nguyễn Công Hoan viết văn từ sớm, ông để lại một di sản nghệ thuật với hơn

200 truyện ngắn, gần 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học Các tác phẩmchính

của ông

là:

- Kiếp hồng nhan (truyện ngắn, 1923)

- Răng con chó của nhà tư sản (truyện ngắn, 1929; đăng Annam tạp chí

số 23 năm 1931 với nhan đề Răng con vật nhà tư bản)

- Hai thằng khốn nạn (truyện ngắn, 1930)

- Người ngựa và ngựa người (truyện ngắn, 1931)

- Thật là phúc (truyện ngắn, 1931)

- Xin chữ cụ Nghè (truyện ngắn, 1932)

- Thế là mợ nó đi Tây (truyện ngắn, 1932)

- Tắt lửa lòng (truyện dài, 1933)

- Lá ngọc cành vàng (tiểu thuyết, 1934)

- Kép Tư Bền (tập truyện ngắn, 1935)

- Cô làm công (tiểu thuyết, 1936)

- Vợ (truyện ngắn, 1937)

- Oẳn tà rroằn (truyện ngắn, 1937)

- Bước đường cùng (tiểu thuyết, 1938)

- Phành phạch (truyện ngắn, 1939)

Trang 39

- Tinh thần thể dục (truyện ngắn, 1939)

- Cái thủ lợn (tiểu thuyết, 1939)

- Nông dân và địa chủ (truyện ngắn, 1955)

- Tranh tối tranh sáng (truyện dài, 1956)

- Người cặp rằng hầm xay lúa ở ngục Côn Lôn 1930 (1960)

- Hỗn canh hỗn cư (truyện dài, 1961)

- Đống rác cũ (tiểu thuyết, 1963)

- Ðời viết văn của tôi (hồi ký, 1971)

- Tuyển tập Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan (Nhà xuất bản Văn

học, 2013) Nhiều tác phẩm của ông được đưa vào giảng dạy ở chương trình giáo dục phổ

thông các

cấp

Có thể nói Nguyễn Công Hoan là một bậc thầy truyện ngắn hiện thực, làngọn cờ đầu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam hiện đại Các nhànghiên cứu khi bàn đến sự hình thành chủ nghĩa hiện thực trong văn học ViệtNam đều nhất trí đánh giá cao vai trò, vị trí của Nguyễn Công Hoan, người cónhững tác phẩm được coi là "cổ điển" trong nền văn học hiện đại

1.3 Tiểu kết

Chương 1

Trong Chương 1, luận văn trình bày tổng quan về tình hình nghiên cứu

và cơ sở lí luận của đề tài Ở tổng quan về tình hình nghiên cứu, luận văn đãđiểm qua các công trình nghiên cứu về chu tố (trạng ngữ truyền thống) củađộng từ trong tiếng

Việt; điểm lại một số công trình nghiên cứu về ngôn ngữ trong Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan Ở mục cơ sở lí luận, luận văn đã làm rõ một số

nét về lí thuyết kết trị và xác định nội dung của một số thuật ngữ, khái niệmliên quan: thuật ngữ kết trị; nguyên tắc và các thủ pháp hình thức trong việcnghiên cứu kết trị của động từ; cách xác định kết trị của động từ; phân loại kếttrị động từ gồm (các kiểu kết trị nội dung và kết trị hình thức; kết trị bắt buộc

và kết trị tự do); khái niệm diễn tố, chu tố, những đặc điểm cơ bản của chu tố(đặc điểm nội dung và đặc điểm hình thức của chu tố), sự tương ứng giữa chu tố

và các vai nghĩa, phân loại chu tố

Với những định hướng về lí thuyết trên, luận văn sẽ tiến hành triển khai

nội dung của Chương 2 (Chu tố của động từ trong Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan xét về mặt ngữ pháp) và Chương 3 (Chu tố của động

từ trong Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan xét về mặt ngữ nghĩa

và ngữ dụng).

Trang 40

Chương 2

CHU TỐ CỦA ĐỘNG TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN CHỌN

LỌC NGUYỄN CÔNG HOAN XÉT VỀ MẶT NGỮ PHÁP

Trong chương này, chúng tôi sẽ khảo sát chu tố của động từ trong

Truyện ngắn chọn lọc nguyễn Công Hoan xét về mặt ngữ pháp Những nội

dung chính sẽ được trình bày ở chương này là: trên cơ sở kết quả thống kê,

khảo sát về sự xuất hiện của chu tố trong Truyện ngắn chọn lọc nguyễn Công Hoan, luận văn sẽ phân loại sơ bộ và tiến hành phân tích, miêu tả đặc

điểm ngữ pháp của chu tố về các mặt:

cách biểu hiện (cấu tạo), phương thức kết hợp và vị trí trong câu.

Số câu có chu tố của động từ và số lượng các chu tố của động từ

trong Truyện ngắn chọn lọc Nguyễn Công Hoan được trình bày qua các bảng

tổng hợp dưới đây:

Ngày đăng: 14/08/2018, 17:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban - Hoàng Văn Thung (2009), Ngữ pháp tiếng Việt tập 1, NxbGiáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt tập 1
Tác giả: Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung
Nhà XB: NxbGiáo dục
Năm: 2009
2. Diệp Quang Ban (1984), Cấu tạo câu đơn tiếng Việt, Trường ĐHSP Hà Nội I 3. Diệp Quang Ban (1989), Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, Nxb Đại học vàGiáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu tạo câu đơn tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Trường ĐHSP Hà Nội I
Năm: 1984
4. Diệp Quang Ban (1992), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
5. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
6. Diệp Quang Ban (2008), "Lí thuyết khung cho một ngữ pháp Việt Nam", trong tập: Ngữ pháp tiếng Việt - Những vấn đề lí luận, Nxb Khoa học và xã hội, Hà Nội, tr 9-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí thuyết khung cho một ngữ pháp Việt Nam
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Khoa học và xãhội
Năm: 2008
7. Diệp Quang Ban (2009), Ngữ pháp tiếng Việt, tập 2, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
8. Diệp Quang Ban (2009), Ngữ pháp Việt Nam, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Việt Nam
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
9. Lê Biên (1998), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
10. Tiêu Thị Thanh Bình (2013), Khảo sát trạng ngữ trong tiếng Việt từ góc độ kết học, nghĩa học và dụng học (trên cứ liệu vài tác phẩm văn học giai đoạn 1930- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát trạng ngữ trong tiếng Việt từ góc độ kết học, nghĩa học và dụng học (trên cứ liệu vài tác phẩm văn học giai đoạn 1930-
Tác giả: Tiêu Thị Thanh Bình
Năm: 2013
11. Nguyễn Tài Cẩn (1998), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia HàNội
Năm: 1998
12. Nguyễn Tài Cẩn, Stankevich. N.V (1973), "Góp thêm một số ý kiến về vấn đề hệ thống đơn vị ngữ pháp", Ngôn ngữ, (2), tr. 1-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp thêm một số ý kiến vềvấn đề hệ thống đơn vị ngữ pháp
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn, Stankevich. N.V
Năm: 1973
13. Võ Thị Dung (2010), Chức năng ngữ nghĩa của từ tình thái đứng đầu phát ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng ngữ nghĩa của từ tình thái đứng đầu phát ngôn trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan
Tác giả: Võ Thị Dung
Nhà XB: Đại học Vinh
Năm: 2010
14. Đinh Văn Đức (2010), Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại, Nxb Đại học Quốc giaHà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2010
15. Lê Thị Đức Hạnh (2001), Nguyễn Công Hoan, về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Công Hoan, về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Lê Thị Đức Hạnh
Nhà XB: Nxb Giáo
Năm: 2001

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w