Thực trạng giáo dục hành vi và quan hệ đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu .... Hai là: phân tíc
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ KHƯƠNG
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướngdẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Khương - giảng viên Khoa Giáo dục Chínhtrị - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trungthực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi thôngtin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Liên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn này hoàn thành là nhờ sự nỗ lực, cố gắng của bản thân dưới sựhướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Khương và sự động viên giúp đỡ củagia đình, người thân, đồng nghiệp và bạn bè
Trước hết, em xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến cô giáo
- TS Nguyễn Thị Khương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em về tri thức,
phương
pháp và kinh nghiệm nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Em cũng xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học trong Hội đồng đánhgiá luận văn đã có nhiều góp ý về mặt khoa học để em hoàn thiện luận vănđược tốt hơn; Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo - Bộ phận sau đại học cùng cácthầy cô giáo khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học Sư phạm - Đại học TháiNguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập, nghiêncứu tại trường
Cuối cùng, xin được chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và ngườithân đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt khoá học này
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Liên
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt iv
Danh mục các bảng v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu của đề tài 4
5 Phạm vi nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 4
7 Giả thuyết khoa học 5
8 Những đóng góp mới của đề tài 5
9 Kết cấu của đề tài 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
6 1.1.1 Một số công trình nghiên cứu nước ngoài 6
1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 10
1.1.3 Những nội dung luận văn tiếp tục nghiên cứu 15
1.2 Khái niệm và những nội dung giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh Trung học phổ thông trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu 15
1.2.1 Khái niệm đạo đức và đạo đức môi trường 15
1.2.2 Biến đổi khí hậu toàn cầu 22
1.2.3 Những nội dung giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT trong điều kiện biến đổi khí hậu 24
Trang 61.3 Những yếu tố tác động đến giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên và sự cầnthiết phải giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT trong điều kiện biến đổi khí hậu 34
1.3.1 Những yếu tố tác động đến giáo dục đạo đức môi trường tự nhiêncho học sinh THPT trong điều kiện biến đổi khí hậu 341.3.2 Tính tất yếu của việc giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho họcsinh trung học phổ thông 39Kết luận chương 1 44
Chương 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU 45
2.1 Khái quát về môi trường tự nhiên và đặc điểm học sinh trung học phổthông ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng 452.1.1 Khái quát về môi trường tự nhiên ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố
Hải Phòng 452.1.2 Đặc điểm của nhà trường và học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo, Thành
phố Hải Phòng 492.2 Thực trạng giáo dục chuẩn mực, ý thức, hành vi và quan hệ đạo đức môitrường tự nhiên cho học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng 54
2.2.1 Thực trạng giáo dục chuẩn mực và ý thức đạo đức môi trường tựnhiên cho học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng trong
điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu 542.2.2 Thực trạng giáo dục hành vi và quan hệ đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng trong điều kiện
biến đổi khí hậu toàn cầu 602.3 Những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu 64
2.3.1 Thành tựu và hạn chế trong giáo dục đạo đức môi trường tự nhiêncho học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng 64
Trang 72.3.2 Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo - Thành
phố Hải Phòng 68
Kết luận chương 2 70
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRONG ĐIỀU KIỆN BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TOÀN CẦU 71
3.1 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu 71
3.1.1 Nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm của Ban Giám hiệu, các tổ chức đoàn thể và giáo viên trong nhà trường về giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh 71
3.1.2 Đa dạng hoá các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh 75
3.1.3 Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội trong giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh 79
3.1.4 Phát huy vai trò tự giác, sáng tạo của học sinh trong học tập, nghiên cứu đạo đức môi trường tự nhiên 81
3.2 Thực nghiệm mức độ cần thiết và khả thi của giải pháp 3.1.2 83
3.2.1 Mục đích và giả thuyết thực nghiệm 83
3.2.2 Nội dung thực nghiệm 83
3.2.3 Đánh giá kết quả sau thực nghiệm 84
Kết luận chương 3 87
PHẦN KẾT LUẬN CHUNG VÀ KHUYẾN NGHỊ 88
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GDMT Giáo dục môi trường
GDĐĐMT Giáo dục đạo đức môi trường
GDĐĐMTTN Giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng HS và GV các trường THPT huyện Vĩnh Bảo 50
Bảng 2.2 Tổng hợp kết quả học lực của HS các trường THPT trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng 51
Bảng 2.3 Tổng hợp xếp loại hạnh kiểm của HS các trường THPT trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo – Hải Phòng 52
Bảng 3.1 Kết quả kiểm tra nhận thức của học sinh 84
Bảng 3.2 Kết quả kiểm tra nhận thức của học sinh 85
Bảng 3.3 Kết quả kiểm tra nhận thức của học sinh 85
Trang 10tự nguyện chỉ có thể được truyền thụ qua giáo dục.
Năm 1987, tại Hội nghị về MT ở Moscow do UNEP (Chương trình Môitrường Liên Hiệp Quốc) và UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Vănhóa Liên Hiệp Quốc) đồng tổ chức, đã đưa ra kết luận về tầm quan trọng củaGDMT: Nếu không nâng cao được sự hiểu biết của công chúng về những mốiquan hệ mật thiết giữa chất lượng MT với quá trình cung ứng liên tục các nhucầu ngày càng tăng của họ, thì sau này sẽ khó làm giảm bớt được những mốinguy cơ về MT ở các địa phương cũng như trên toàn thế giới Bởi vì, hànhđộng của con người tùy thuộc vào động cơ của họ và động cơ này lại tùy thuộcvào chính nhận thức và trình độ hiểu biết của họ Do đó, GDMT là mộtphương tiện không thể thiếu để giúp mọi người hiểu biết về MT Giáo dụcmôi trường, vì vậy, đã trở thành nhu cầu cấp bách, thường xuyên và lâu dàitrong chiến lược phát triển và trong kế hoạch hành động của các quốc gia
Ở Việt Nam, ô nhiễm MT từ lâu đã được coi là vấn nạn trong tiến trìnhphát triển đất nước Ô nhiễm MT là nguyên nhân trực tiếp gây nên những bấtbình, bức xúc, những phản ứng từ đơn giản đến gay gắt, thậm chí đấu tranhquyết liệt của người dân Việt Nam thời gian qua trên phạm vi cả nước với tầnsuất ngày một tăng Để hạn chế vấn nạn ô nhiễm MT, Việt Nam đã sử dụngnhiều biện pháp, trong đó có biện pháp đưa giáo dục BVMT vào trong hệ thốnggiáo dục quốc dân Có thể thấy, trường học là môi trường tốt nhất cho việcGDMT Nếu HS ngay từ những ngày đầu cắp sách đến trường đã có ý thức vềBVMT thì sẽ tạo sức lan tỏa cho toàn cộng đồng cùng tham gia BVMT Mục
Trang 11tiêu của GDMT nhằm trang bị cho cộng đồng những kỹ năng hành độngBVMT một cách hiệu quả hơn Phương pháp GDMT hiệu quả nhất là giáo dụckiến thức MT trong một môi trường cụ thể nhằm hướng đối tượng giáo dục cóhành động BVMT.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc GDMT trong công tác BVMT,Đảng và Nhà nước đã có những chính sách, những chương trình hành động cụthể và đã đạt được những thành tựu đáng kể Các chương trình GDMT bao gồm
cả chính khóa và ngoại khóa đã được triển khai tới tất cả các cấp học trong hệthống giáo dục quốc dân Các chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng, vậnđộng quần chúng cũng như các tổ chức xã hội khác tham gia vào việc BVMTđược tiến hành hàng năm Hệ thống thông tin, dữ liệu MT cũng đã được xâydựng và ngày càng hoàn thiện hơn Tất nhiên, song song với những thành quảnày, công tác giáo dục ý thức bảo vệ MTTN cho quần chúng nhân dẫn vẫn còntồn tại nhiều hạn chế không thể tránh khỏi
Huyện Vĩnh Bảo - Thành phố Hải Phòng, trước đây là một huyện thuầnnông với cảnh quan MT trong lành, sạch đẹp Nhưng từ khi thực hiện chủtrương của Thành phố Hải Phòng về đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước, huyện Vĩnh Bảo đã không còn giữ được vẻ tinh khôi củaMTTN nữa Nhiều năm qua, người dân ở một số xã trên địa bàn Huyện thườngxuyên sống trong âu lo, quan ngại về các nguồn gây ô nhiễm MT phát sinh từcác cụm công nghiệp Trên thực tế, nó đã và đang hàng ngày, hàng giờ giết dầnMTTN, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, cuộc sống của người dân
Để bảo vệ MTTN, huyện Vĩnh Bảo đã thực hiện nhiều giải pháp Mộttrong số đó là đưa nội dung GDMT vào kế hoạch dạy học ở các cấp Thực hiệnchủ trương, kế hoạch phòng chống ô nhiễm MTTN trong Huyện, các trườngTHPT trên địa bàn huyện Vĩnh Bảo đã làm tốt công tác đưa nội dung giáo dụcý thức BVMT tự nhiên vào trong chương trình học Hầu hết các trường họcluôn duy trì có hiệu quả các phong trào vệ sinh trường lớp, chú trọng nâng cao
Trang 12chất lượng phong trào, tăng tần suất tổ chức thực hiện tổng dọn vệ sinh, chămsóc cây xanh, cảnh quan, triển khai nhiều hoạt động giáo dục thiết thực đểnâng cao nhận thức cho HS về tầm quan trọng của việc BVMT… bằng nhiềuhình thức đa dạng, phong phú Các hoạt động ngoại khóa như ngày hội “Nướcsạch và vệ sinh môi trường”; thi “Rung chuông vàng”, thi vẽ tranh về bảo vệmôi trường; hội trại xanh; thi vẽ tranh “Em yêu thành phố quê hương”; ngày hội
“Học sinh chung tay bảo vệ môi trường”… đã góp phần nâng cao ý thứcBVMT của HS THPT trên địa bàn Huyện
Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đáng ghi nhận đó, công tác giáo dục ýthức BVMT tự nhiên cho HS THPT ở huyện Vĩnh Bảo còn có những hạn chế:nhiều phong trào không được triển khai sâu rộng, còn mang tính hình thức… Đểcông tác giáo dục ý thức bảo vệ MTTN cho HS thực sự đạt được hiệu quả nhưmong đợi, cần phải có những biện pháp thực tế, chính xác, hiệu quả Đặc biệt,việc giáo dục ý thức BVMT cho HS THPT huyện Vĩnh Bảo cần phải được gắn liềnvới tình cảm, trách nhiệm, tâm tư… và phải biến thành hành động tự giác, tựnguyện, gắn liền với đời sống hàng ngày như cơm ăn, nước uống của HS Điều
đó cũng có ý nghĩa là giáo dục cho HS tình cảm, tình yêu đối với MTTN
Xuất phát từ lí do trên, tôi đã quyết định lựa chọn vấn đề “Giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu” làm luận văn thạc sỹ của mình.
2 Mục đích nghiên cứu của đề
tài
Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho
HS trung học phổ thông ở huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
3 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề
tài
Một là: phân tích cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức môi trường tự nhiêncho HS THPT
Trang 13Hai là: phân tích thực trạng công tác giáo dục đạo đức môi trường tựnhiên cho HS ở các trường THPT ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòngtrong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu.
Ba là: đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tácgiáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT ở huyện Vĩnh Bảo,Thành phố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu công tác giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho HSTHPT ở huyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng
6 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủnghĩa duy vật lịch sử và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về vấn đề bảo
vệ môi trường tự nhiên
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp lôgic – lịch sử
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
- Phương pháp đối chiếu, so sánh…
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thực nghiệm
- Phương pháp điều tra bằng Anket
- Phương pháp phỏng vấn
Trang 147 Giả thuyết khoa học
Những giải pháp đưa ra góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáodục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT ở huyện Vĩnh Bảo, Thànhphố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu
8 Những đóng góp mới của đề tài
- Đề xuất được một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tácgiáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh THPT ở huyện Vĩnh Bảo,Thành phố Hải Phòng trong điều kiện biến đổi khí hậu trên toàn thế giới hiệnnay
- Đề tài có thể làm tài liệu tham khảo cho học sinh THPT; sinh viên, họcviên cao học chuyên ngành Giáo dục Chính trị và những người quan tâm đếnvấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên
9 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và danh mục tài liệu thamkhảo, đề tài gồm 3 chương 8 tiết
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC MÔI TRƯỜNG TỰ
NHIÊN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở HUYỆN
VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, nhất là những năm gần đây, những vấn đề ô nhiễmMTTN, khủng hoảng sinh thái, biến đổi khí hậu trên thế giới ngày càng diễn ratrên diện rộng và hết sức nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triểnkinh tế - xã hội BVMT, chống biến đổi khí hậu đã trở thành phạm trù mangtính chiến lược, tầm nhìn thời đại của nhiều quốc gia với các giải pháp khácnhau như chính trị, luật pháp, hành chính, tập tục đặc biệt là giải pháp về mặtluân lý
Việc tìm ra giải pháp về đạo đức trong việc BVMT tự nhiên làm xuất hiệncác nghiên cứu về đạo đức môi trường (đạo đức môi trường tự nhiên), còn gọi làđạo đức sinh thái Theo chủ ý của tác giả trong luận văn này, việc gọi là ĐĐMT,ĐĐMT tự nhiên hay đạo đức sinh thái đều có thể được chấp nhận như nhau nếu
có chung một nội hàm là đề cập tới tình yêu của con người đối với MTTN Đểthống nhất trong nghiên cứu, tác giả sử dụng thuật ngữ MTTN thay cho môitrường sinh thái; ĐĐMT thay cho ĐĐMT tự nhiên và đạo đức sinh thái
Dưới đây là một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài luận văn:
1.1.1 Một số công trình nghiên cứu nước ngoài
Trong lịch sử, các quan điểm về tự nhiên, về sống hòa hợp với MTTN đãđược các nhà triết học nghiên cứu từ thời cổ đại trong triết lý của các triếtgia Hi Lạp, Trung Hoa Đó là bước khởi đầu để hình thành tư tưởng về ĐĐMTsau này Tuy nhiên, phải đến thế kỷ XIX, với bản chất cách mạng và khoa học,các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin mới đặt nền móng cho việc nghiên cứuĐĐMT Trong các tác phẩm của mình, đã nhiều lần C.Mác và Ăngghen cho
Trang 16rằng con người, xã hội và tự nhiên là một thể thống nhất Nếu bằng cách nào đó
và vì các mục đích khác nhau mà con người huỷ hoại giới tự nhiên, phá vỡ hệthống tự nhiên - xã hội - con người thì sớm hay muộn, con người cũng bị tựnhiên “phản kháng” lại
Tác phẩm “Biện chứng của tự nhiên” đánh dấu bước ngoặt trong việc giảiquyết mối quan hệ giữa con người và MT Trong tác phẩm này Ăngghen đãcảnh báo về sự “trả thù” của của tự nhiên đối với con người khi con người coimình là “kẻ thống trị” tự nhiên, hành động “bóc lột” tự nhiên một cách tháiquá Ông viết “ Chúng ta cũng không nên quá tự hào về những thắng lợi củachúng ta đối với giới tự nhiên Bởi vì cứ mỗi lần ta đạt được một thắng lợi, làmỗi lần giới tự nhiên trả thù lại chúng ta Thật thế, mỗi một thắng lợi, trước hết
là đem lại cho chúng ta những kết quả mà chúng ta hằng mong muốn, nhưngđến lượt thứ hai, lượt thứ ba, thì nó lại gây ra những tác dụng hoàn toàn kháchẳn, không lường trước được, những tác dụng này thường hay phá huỷ tất cảnhững kết quả đầu tiên đó [4, tr 654]
Từ sau những lời cảnh báo của Ăngghen đến nay, nhân loại đã có cái nhìntoàn cảnh về những diễn biến xảy ra trong MT Sự tan vỡ cấu trúc của hệ thống
tự nhiên - xã hội - con người vào cuối thế kỷ XX buộc loài người phải cónhững nỗ lực rất lớn cả về nhận thức và hành động để “cứu lấy Trái Đất”
Trên phương diện thực tiễn, hành động, tháng 6 năm 1972, Hội nghị lầnđầu tiên của Liên hợp quốc về MT đã được tổ chức tại Stockholm (Thụy Điển),với sự tham gia của 113 quốc gia trên thế giới Tại Hội nghị, các chính trị gia
và các nhà khoa học đã đưa ra Tuyên bố chung gồm 7 điểm và 26 nguyên tắc về
bảo vệ thiên nhiên, MT và bảo vệ hoà bình, chống chiến tranh Cũng ở Hộinghị này, các quốc gia còn kiến nghị cần phải quan tâm đến GDMT trong nhàtrường và khẳng định rằng không có một quốc gia nào có thể bỏ qua sự cầnthiết để GDMT cho HS trong nhà trường
Trang 17Tính đúng đắn trong Hội nghị Stockholm dẫn đến sự thành lập củaChương trình MT Liên Hợp Quốc (UNEP) và nhiều hội nghị bàn về những vấn
đề MT mà GDĐĐMT là một nội dung quan trọng đã được tổ chức ở khắp nơitrên thế giới Điển hình là: Hội nghị quốc tế về GDMT được tổ chức tại Tbilisi(Cộng hoà Grudia) năm 1977; Hội nghị quốc tế về GDMT do UNESCO và UNEPđược tổ chức tại Mátxcơva (1987); Hội nghị thượng đỉnh của thế giới về MT vàPhát triển được tổ chức (năm 1992); Hội nghị bàn tròn về ĐĐMT tại Seoul –Hàn Quốc năm 1997; Hội nghị cấp cao thế giới về Phát triển bền vững củahành tinh tại Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 Cho đến nay, LiênHợp Quốc đã tuyên bố hàng loạt bản tuyên bố, công ước, hiệp ước,chương trình hành động quốc tế về phát triển bền vững đã được đề ra Nhiềuquốc gia trên thế giới đã ngồi lại với nhau, tiếp tục tìm kiếm, xây dựng chươngtrình hành động cho mỗi quốc gia và toàn thế giới để khắc phục những nghịchlý về phát triển xã hội trong đó có vấn đề bảo vệ MTTN
Còn trên phương diện nghiên cứu lý luận và nhận thức, ĐĐMT đượcnghiên cứu từ những năm 60 của thế kỷ XX Năm 1967 tác giả Lynn White đã
công bố nghiên cứu “Những nguồn gốc lịch sử của sự khủng hoảng sinh thái”.
Ba năm sau, năm 1970 Aldo Leopold, nhà khoa học xã hội của Hoa Kỳ đã cho ra
đời bài viết “Đạo đức đối với Trái Đất” Các công bố trên đã phân tích tỉ mỉ
nguồn gốc dẫn đến sự khủng hoảng sinh thái và thái độ của con người đối với
tự nhiên Theo đó, nguồn gốc của khủng hoảng sinh thái xét đến cùng là từ conngười, do sự phát triển sản xuất của con người gây nên Để khắc phục khủnghoảng sinh thái, các tác giả đã khẳng định, con người cần thiết phải thay đổicách ứng xử của mình đối với tự nhiên
Sự phân tích của Lynn White và Aldo Leopold về khủng hoảng sinh thái
đã bám sát vào hiện tượng các mối quan hệ con người – tự nhiên đã được địnhhình rõ nét Về mặt nhận thức, có thể khẳng định, các bài viết trên là sự khởiđầu cho việc nghiên cứu ĐĐMT sau này Từ sau các bài viết trên, nhữngnghiên cứu về MT, về BVMT tự nhiên, về ĐĐMT được các nhà khoa học trên
Trang 18thế giới đi sâu phân tích tỉ mỉ với mong muốn tìm ra các giải pháp để cứu lấy
cái nôi của sự sống đang hàng ngày, hàng giờ bị con người xâm hại và tàn phá.
Năm 1980, Ernest Partridge cho xuất bản cuốn sách “Đạo đức môi trường
và chính sách công” (Environmental Ethics and Public Policy) Trong tác phẩmnày, Ernest Partridge đã phân tích sâu sắc những vấn đề về ĐĐMT, chỉ ranhững triết lý về ĐĐMT Giải thích cho câu hỏi: Tại sao cần có ĐĐMT? ErnestPartridge cho rằng, việc xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa con người vớiMTTN dựa trên cơ sở đạo đức, không chỉ giúp cho MTTN được ổn định màcon người sẽ được hưởng lợi rất nhiều từ MTTN [11]
Sau hai thập kỷ, tác giả Michael Boylan - người Hoa Kỳ trên cơ sở nghiêncứu mối quan hệ qua lại giữa con người và MT, đặc biệt là dựa trên sự biến đổicủa MT dưới ảnh hưởng của ý thức con người, đã đề cập đến nhiều vấn đềĐĐMT như mối quan hệ giữa con người với MT trên phương diện đạo đức,những vấn đề cơ bản của ĐĐMT, ứng dụng ĐĐMT trong cuộc sống Cácquan niệm đó được Michael Boylan phân tích sâu sắc trong cuốn “Đạo đức môitrường” (Environmental Ethics) [26]
Bên cạnh nghiên cứu “Đạo đức môi trường” (Environmental Ethics) củaMichael Boylan, là tác phẩm “Đạo đức môi trường ngày nay” (EnvironmentalEthics Today) của tác giả Peter S.Wenz Với cách tiếp cận các vấn đề MT theochủ nghĩa tôn giáo, Peter S.Wenz đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau về
MT Đặc biệt là lý giải chủ nghĩa tôn giáo về MT, qua đó chỉ ra việc ứng dụngĐĐMT của con người như thế nào [31]Có thể nói, trên bình diện quốc tế, cáctác phẩm, bài viết về ĐĐMT khá sắc bén Các công trình đã chỉ ra thực tế vấn
đề ô nhiễm MT và trách nhiệm của công dân trong BVMT Các tác giả cònnhấn mạnh, việc tìm ra tiếng nói về đạo đức trong quá trình BVMT là vấn đềthen chốt để cứu lấy Trái Đất của chúng ta ngày nay Các nghiên cứu đó là tàiliệu hữu ích để tác giả tham khảo trong quá trình thực hiện luận văn này
Trang 191.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước
* Các nghiên cứu về bảo vệ MTTN, giáo dục bảo vệ MTTN
Bảo vệ môi trường tự nhiên (có tác giả gọi là môi trường sinh thái) cũngnhư giáo dục bảo vệ MTTN (có tác giả gọi là bảo vệ môi trường sinh thái) là đềtài được bàn luận nhiều ở Việt Nam trong thời gian qua
Tác giả Lê Văn Khoa (chủ biên) trong tác phẩm Môi trường và giáo dục bảo vệ môi trường đã đề cập tới các vấn đề chung về khoa học môi trường, sinh
thái quyển và các kiểu hệ sinh thái chính, tác động của con người đối với MT,giới thiệu một số văn bản liên quan đến chính sách MT Trong hoạt động giáodục BVMT, tác giả cho rằng cần giáo dục cho HS trong và ngoài nhà trườngbằng nhiều hình thức khác nhau như các hoạt động thực tế: tham quan, thựcnghiệm, thực địa; các hoạt động sáng tác văn học nghệ thuật như thơ, chuyện,tranh ; các hoạt động thực tế BVMT như thu gom rác thải, trồng cây, dọn vệsinh Ngoài ra, việc thành lập các câu lạc bộ (bảo vệ cây xanh ), các cuộc thi(vẽ, hát, múa, báo tường ) cũng có tác dụng tốt tới công tác giáo dục đạo đứcsinh thái và BVMT cho HS [16]
Tác giả Nguyễn Thị Khương (chủ biên) trong cuốn sách tham khảo Quan
hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường tự nhiên ở các tỉnh miền núi Đông Bắc Việt Nam đã đưa ra nhiều vấn đề về giải quyết mối quan hệ giữa phát
triển kinh tế và BVMT ở miền núi phía Bắc nước ta Trong cuốn sách tác giả đãđưa ra nhiều giải pháp nhằm kết hợp đúng đắn giữa phát triển kinh tế và BVMT
ở miền núi phía Bắc nước ta Ở giải pháp thứ tư, tác giả nhấn mạnh: “Trườnghọc và gia đình là những nơi thuận tiện nhất cho công tác giáo dục bảo vệ môitrường trong phát triển kinh tế Do vậy, các cấp chính quyền các tỉnh miền núiĐông Bắc phải tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục quốc dân đưa nội dung kếthợp giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường vào giảng dạy trong nhàtrường ở các cấp học Cần thiết phải giúp cho các cơ sở giáo dục thông quagiáo dục các kiến thức chính sẽ từng bước hình thành và giáo dục cho học sinh
Trang 20chú trọng tình yêu đối với thiên nhiên, có nếp sống gần gũi, thân thiện với môitrường Mặt khác, các cấp chính quyền còn phải tạo điều kiện để mỗi gia đình
sẽ là một cơ sở giáo dục nhỏ về bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trìnhphát triển kinh tế” [20, tr 108]
Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm trong bài viết “Xây dựng đạo đức sinh thái
- một trách nhiệm xã hội của con người đối với tự nhiên” đăng trên Tạp chí Triết học số 6 năm 2009 cho rằng trong quan hệ đạo đức sinh thái thì con người
là chủ thể, còn tự nhiên là khách thể Đã nhiều năm sự tác động giữa con người
và tự nhiên chỉ đi theo một chiều là mang lại lợi ích cho con người và xã hội,
bỏ qua lợi ích và giá trị nội tại của các khách thể tự nhiên, vì vậy con người đãmang lại hậu quả khôn lường cho MT sống Do đó việc xây dựng đạo đức sinhthái là rất cần thiết để bảo vệ MTST [40]
Trong bài viết “Giáo dục đạo đức sinh thái và xây dựng môi trường văn hoá trong lịch trình thế kỷ XXI”, tác giả Đỗ Huy đã thấy được vai trò vô cùng quan
trọng của môi trường sinh thái trong quá trình phát triển kinh tế Theo tác giả,
do nhu cầu tăng năng suất người ta đã từng coi việc cải tạo, thu lợi vô hạn độtrên MT là hành động tích cực Hậu quả là có khói, có máy chạy, có côngtrường để có việc làm song các giá trị văn hoá lại bị xuống cấp, sức khoẻ conngười bị xâm phạm thì lại không được chú ý thích đáng Giá trị của hệ sinh thái
có ảnh hưởng đến cuộc sống con người Các giá trị này tuy “im lặng” nhưng nếucon người lạm dụng quyền lực của mình, vô đạo đức thì cái giá phải trả là rấtlớn Đứng trước tình cảnh đó, tác giả Đỗ Huy khẳng định việc giáo dục đạo đứcsinh thái là rất cần thiết để MT và con người phát triển một cách hài hoà [13]
Tác giả Phan Thị Hồng Duyên trong bài viết “Giáo dục đạo đức sinh thái vì
sự phát triển bền vững cho con người và giới tự nhiên” đã đưa ra những bức xúc
về vấn đề MT và BVMT hiện nay ở nước ta Tác giả cho rằng, Việt Nam cầnthiết phải phát triển bền vững Phát triển bền vững mà Phan Thị Hồng Duyên
đề cập trong bài viết này là dựa theo quan điểm của sinh thái học, đó là
Trang 21sự cân bằng giữa phát triển kinh tế và BVMT Quan niệm này hoàn toàn đúng
và có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển hiện nay của nước ta [8]
Trong cuốn sách “Đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinh thái”, tác giả
Vũ Trọng Dung cho rằng “môi trường sinh thái là tất cả những điều kiện xungquanh có liên quan đến sự sống của sinh thể, của con người” Tác giả khẳngđịnh việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường sinh thái phải bằng công tácgiáo dục đạo đức sinh thái, tức là giáo dục thái độ, ý thức, hành vi tôn trọng vàyêu quý thiên nhiên, giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái cho mọi chủ thể.Tác giả cũng cho rằng sự thống nhất giữa nghĩa vụ đạo đức với nghĩa vụ pháplý trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái là đòi hỏi cấp bách đối vớimỗi người và đó cũng là giải pháp cơ bản để giải quyết vấn đề ô nhiễm môitrường ở Việt Nam hiện nay [7]
Luận án “Vấn đề giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên Việt Nam hiện nay” của Phan Thị Hồng Duyên, (2012) Trên cơ sở của việc khẳng định tầm
quan trọng của việc giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên Việt Nam, luận án
đã nêu lên một số vấn đề đặt ra về giáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên ViệtNam hiện nay, qua đó đề ra năm giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quảgiáo dục đạo đức sinh thái cho sinh viên Việt Nam hiện nay, đó là: (1) Tiếp tụcxây dựng và bổ sung, hoàn thiện pháp luật về môi trường và bảo vệ môi trườngsinh thái; (2) Xây dựng nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục đạo đứcsinh thái cho sinh viên lồng ghép vào các môn học khác phù hợp với điều kiệnnước ta hiện nay; (3) Bồi dưỡng đội ngũ giảng viên giảng dạy về đạo đức sinhthái từ các môn học khác nhau; (4) Đa dạng hóa các hình thức giáo dục đạo đứcsinh thái cho sinh viên; (5) Phát huy vai trò chủ động, tích cực và sáng tạo củasinh viên trong giáo dục đạo đức sinh thái [9]
Đề tài “Đạo đức sinh thái và việc giáo dục đạo đức sinh thái cho cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay” (2004) tác giả Vũ Trọng
Dung đã làm sáng tỏ những vấn đề về đạo đức sinh thái và giáo dục đạo
Trang 22đức sinh thái; Phân tích thực trạng đạo đức sinh thái và giáo dục đạo đức sinhthái cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắc nước ta hiện nay;
Đề xuất phương hướng và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dụcđạo đức sinh thái cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện các tỉnh phía Bắcnước ta hiện nay [6]
* Các nghiên cứu về GDĐĐMT và GDĐĐMT cho HS THPT
Việc nghiên cứu ĐĐMT và GDĐĐMT là khá mới mẻ ở nước ta Vấn đềĐĐMT lần đầu tiên được bàn luận tới một cách có hệ thống là trong đề tài
“Đạo đức môi trường – Một số vấn đề lý luận và kinh nghiệm thế giới” doPGS.TS Nguyễn Văn Phúc làm chủ nhiệm đề tài Trên cơ sở khảo sát các quanniệm về ĐĐMT, các kinh nghiệm thế giới về xây dựng ĐĐMT, đề tài làm rõ thựcchất và những chuẩn mực chủ yếu của ĐĐMT, từ đó đề xuất một số giải phápxây dựng ĐĐMT ở nước ta hiện nay Kết quả nghiên cứu của đề tài được trìnhbày trong 3 chương Chương 1: Các quan niệm tôn giáo và một số khuynhhướng đạo đức học hiện đại về ĐĐMT Chương 2: Những kinh nghiệm thế giới
về BVMT và xây dựng ĐĐMT Chương 3: Đạo đức môi trường và xây dựngĐĐMT ở nước ta hiện nay [33]
Từ sau đề tài của PGS.TS Nguyễn Văn Phúc, một số tác giả khác đã đềcập đến ĐĐMT ở các khía cạnh khác nhau Dự án “Đánh giá đạo đức môi trường
ở nước ta hiện nay” cuả GS.TS Vũ Dũng trên cơ sở hệ thống một số vấn đề lýluận cơ bản về ĐĐMT như khái niệm, các quan điểm nghiên cứu, những biểuhiện của ĐĐMT, các tiêu chí để xác định ĐĐMT… đã chỉ ra thực trạng ĐĐMT ởnước ta hiện nay, nguyên nhân của thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đếnĐĐMT ở nước ta Từ đó đề xuất một số kiến nghị và giải pháp về xây dựng,nâng cao ĐĐMT, qua đó góp phần xây dựng một MT bền vững ở nước ta hiệnnay
Trong Báo cáo tổng kết đề tài Giáo dục đạo đức môi trường cho học sinhTrung học cơ sở, TS Dương Quang Ngọc (chủ nhiệm đề tài) đã phân tíchnhững khủng hoảng về MT ở nước ta, chỉ ra những nguyên nhân và đi đến
Trang 23khẳng định: Để giáo dục ĐĐMT cho HS trung học cơ sở đạt hiệu quả cao, cầnchú trọng một số giải pháp cụ thể đối với các cơ quan quản lý, nghiên cứu giáodục; đối với nhà trường trung học cơ sở; đối với GV trung học cơ sở; đa dạngcách tiếp cận giáo dục ĐĐMT; về các điều kiện hỗ trợ khác [27].
Trong tác phẩm “Đạo đức môi trường ở nước ta - Lý luận và thực tiễn”,tác giả Vũ Dũng đã phân tích làm rõ các nội dung: (1) Một số vấn đề lý luận cơbản về ĐĐMT Trong phần này tác giả trình bày khái niệm ĐĐMT, các tiêu chíđánh giá ĐĐMT, sự xuất hiện và những khuynh hướng cơ bản của ĐĐMT, cácchức năng cơ bản của ĐĐMT; (2) Kinh nghiệm BVMT ở một số nước nhìn từ góc
độ ĐĐMT Ở đây tác giả phân tích kinh nghiệm BVMT của một số quốc gia, chỉ
ra những khía cạnh đạo đức của những hoạt động BVMT này (3) Tổng quan về
MT và ô nhiễm MT ở nước ta hiện nay Trong đó tác giả đề cập đến nhận thứccủa người dân về ĐĐMT, thực trạng hành vi ĐĐMT ở nước ta Ở phần thứ ba, từgóc độ của ĐĐMT tác giả đã chỉ ra một thực trạng là ở hầu hết các lĩnh vực từdoanh nghiệp đến người dân, từ thành thị đến nông thôn và miền núi, chúng
ta còn có nhiều hành vi mang tính phi ĐĐMT Đó là một trong những nguyênnhân cơ bản dẫn tới sự ô nhiễm MT ở nước ta hiện nay Từ đây, tác giả đề xuấtmột giải pháp cơ bản để BVMT là xây dựng ĐĐMT cho mọi tầng lớp nhân dân[6]
Liên quan đến GDĐĐMT còn có bài viết “Đạo đức học môi trường và vaitrò của nhà trường sư phạm trong việc giáo dục đạo đức học môi trường cho thế
hệ trẻ” của tác giả Nguyễn Thị Khương Bài viết đã chỉ ra rằng đạo đức họcmôi trường nghiên cứu nhiều phương diện khác nhau về quan hệ đạo đức giữa
con người với MT, song trước hết được thể hiện ở hai khía cạnh: thứ nhất, dựa
trên cơ sở lý luận của đạo đức học truyền thống, đạo đức học MT ứng dụng vàomột lĩnh vực cụ thể của thực tiễn - đó là lĩnh vực MT sống của con người màtrước hết là ĐĐMT, với hy vọng tìm ra những quan điểm, những hành vi,những quy tắc ứng xử của cá nhân với MT xung quanh mình
Trang 24Thứ hai, đạo đức học MT nhìn nhận như một sự mở rộng chủ thể đạo đức
sang đối tượng khác Nếu đạo đức học nghiên cứu mối quan hệ đạo đức giữa cánhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng, với xã hội thì đạo đức học môitrường nghiên cứu mối quan hệ giữa cá nhân với MT, với giới tự nhiên [19].Nghiên cứu về ĐĐMT và công tác GDĐĐMT cho HS giữ một vai trò và ýnghĩa quan trọng trong việc giáo dục toàn diện HS Gần đây, trên quy mô cảnước, các nhà khoa học đã bước đầu có sự quan tâm tới nghiên cứu ĐĐMT,song chưa nhiều Đặc biệt, nghiên cứu về GDĐĐMT cho HS THPT thì vẫn làmảng trống còn bỏ ngỏ Việc lựa chọn nghiên cứu về GDĐĐMT cho HS THPT ởhuyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng của tác giả có thể coi là nghiên cứu đầutiên ở THPT với chủ đích đóng góp sức mình vào việc nghiên cứu về GDĐĐMTnói chung cho lứa tuổi HS THPT
1.1.3 Những nội dung luận văn tiếp tục nghiên cứu
Các kết quả nghiên cứu về ĐĐMT đã làm rõ nhiều vấn đề cơ bản củaĐĐMT; là cơ sở phương pháp luận để những người đi sau học hỏi Trên cơ sởcác công trình nghiên cứu đó, tác giả đề tài tiếp tục nghiên cứu để làm rõnhững nội dung sau:
- Bước đầu đề xuất khái niệm về GDĐĐMT cho HS
- Nghiên cứu để chỉ rõ thực trạng công tác GDĐĐMT cho HS THPT ởhuyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm GDĐĐMT cho HS THPT ởhuyện Vĩnh Bảo, Thành phố Hải Phòng hiện nay
1.2 Khái niệm và những nội dung giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh Trung học phổ thông trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu
1.2.1 Khái niệm đạo đức và đạo đức môi trường
1.2.1.1 Khái niệm đạo đức
Từ xa xưa, con người đã biết dùng khái niệm “Đạo đức” để chỉ một thành
tố trong tính cách và giá trị của một con người Người được coi là có đạo đức
Trang 25nghĩa là người đó có sự rèn luyện thực hành các lời răn dạy về đạo đức, sốngchuẩn mực, có nét đẹp trong đời sống tâm hồn Nói đến đạo đức là nói đến conngười Tất cả những suy nghĩ, cử chỉ, hành vi của con người như đường ăn, nét
ở, nét đi đứng đều chứa đựng những yếu tố tạo nên đạo đức ở con người.Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện sớm và biến đổi cùngvới sự biến đổi của các hình thái kinh tế - xã hội Ngay từ khi xã hội hìnhthành, phạm trù đạo đức đã phản ánh một cách sinh động đời sống xã hội thôngqua mối quan hệ biện chứng giữa con người với con người, giữa con người với
xã hội Kể từ đó, đạo đức luôn là một trong những khái niệm biến đổi thànhphương thức hữu hiệu điều chỉnh hành vi của con người, góp phần quan trọngtrong việc duy trì trật tự xã hội Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu đưa ra nhiềuquan niệm khác nhau về đạo đức Dưới đây là một số quan niệm đó:
Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhờ đócon người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi ích xã hội, hạnh phúc củacon người trong mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tậpthể hay toàn xã hội [14, tr 7]
Đạo đức là một hình thái ý t h ứ c x ã h ộ i , là tập hợp những n g u y ên t ắ c, qui
t ắ c, chuẩn mực xã hội, nhằm đi ề u c h ỉ n h v à đ á n giá cá ch ứng xử của con ngườitrong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềmtin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội [23, tr 7]
Đạo đức là hệ thống những quy tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trongquan hệ giữa con người với con người, giữa con người với cộng đồng xã hội,với tự nhiên và cả với bản thân mình [34, tr 6]
Đạo đức là chuẩn mực mang tính lịch sử, do ý chí chung của con ngườitrong những cộng đồng cụ thể đặt ra để điều chỉnh hành vi của chính họcho phù hợp với quyền lợi chung của cộng đồng mà họ đang sống [12, tr 10]
Về bản chất, đạo đức là sự phản ánh giá trị cao đẹp của đời sống conngười trong mối tương quan giữa người và người, giữa cá nhân và xã hội Đạo
Trang 26đức là một hệ thống hoàn chỉnh gồm ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan
hệ đạo đức
Ý thức đạo đức là ý thức về hệ thống những quy tắc, chuẩn mực, hành viphù hợp với những quan hệ đạo đức đã và đang tồn tại Mặt khác, nó còn baotrùm cả những cảm xúc, những tình cảm đạo đức của con người
Quan hệ đạo đức là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người vàcon người, biểu hiện trong quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân và
1.2.1.2 Khái niệm môi trường tự nhiên
Để hiểu “Môi trường tự nhiên là gì?” cần phải bắt đầu từ việc nghiên cứukhái niệm “Môi trường”
Trong từ điển tiếng Việt, MT được định nghĩa là “toàn bộ nói chungnhững điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại,phát triển, trong quan hệ với con người, sinh vật ấy” [42, tr 639- 640]
Theo điều 1, Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam năm 2014, MT “baogồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau,
Trang 27bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triểncủa con người và thiên nhiên” [35, tr 17].
Ngoài hai nghĩa trên, MT còn được hiểu theo các nghĩa rộng, hẹp khácnhau Theo nghĩa rộng, MT là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiếtcho sự sinh sống, sản xuất của con người như đất, nước, không khí, động vật,thực vật Còn theo nghĩa hẹp, MT chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hộitrực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống của con người Theo nghĩa này,
MT không bao gồm tài nguyên thiên nhiên
Tùy theo cách tiếp cận mà MT được phân thành nhiều loại như MT vôsinh, MT hữu sinh, MT đất, MT nước, MT không khí, MT tự nhiên, MT xãhội Mỗi loại MT sẽ có vai trò và vị trí khác nhau đối với sự tồn tại, phát triểncủa con người
Như vậy, khó có thể thống nhất tuyệt đối khái niệm “môi trường”.Trong khuôn khổ giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn này, tác giả luậnvăn chỉ nghiên cứu MT dưới góc độ tự nhiên hay còn gọi là MTTN nhằmtìm ra cơ sở cho việc nghiên cứu vấn đề ĐĐMT MTTN cũng là một kháiniệm đa nghĩa
Môi trường tự nhiên bao gồm “các yếu tố tự nhiên và phi tự nhiên, tồntại, vận động và phát triển gắn bó hữu cơ trong một cơ thể thống nhất, có ảnhhưởng trực tiếp hoặc gián tiếp, xấu hoặc tốt đến con người, và chính conngười cũng là một yếu tố quan trọng tác động tới quá trình vận động và pháttriển tới chủ thể của nó” [29, tr 160]
Môi trường tự nhiên bao gồm “các nhân tố thiên nhiên: vật lý, hóa học(thường được gọi chung là môi trường vật lý), sinh học tồn tại khách quanngoài ý muốn của con người hoặc ít chịu sự chi phối của con người” [2, tr 18]Môi trường tự nhiên còn được hiểu “là một tổng hòa những yếu tố tựnhiên vô cơ và hữu cơ, có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn tại và phát triển củamọi sinh vật” [21, tr 109]
Trang 28Môi trường tự nhiên “bao gồm các nhân tố thiên nhiên tồn tại ngoài ýmuốn của con người và ít nhiều chịu sự tác động của con người như đất, nước,không khí, động vật, thực vật; nó có quan hệ trực tiếp tới quá trình sản xuất vậtchất và đời sống xã hội của con người” [20, tr 16].
Như vậy, mặc dù không giống nhau tuyệt đối, nhưng các quan niệm trênđều khẳng định MTTN là các yếu tố thiên nhiên, chi phối đời sống của con
người Từ các quan niệm này, tác giả đi tới kết luận: Môi trường tự nhiên là toàn bộ các yêu tố thiên nhiên tồn tại một cách khách quan bên ngoài con người và ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại, phát triển của con người MTTN bao gồm các yếu tố đất, nước, không khí, tài nguyên thiên nhiên nói chung.
MTTN cung cấp cho con người tư liệu sinh hoạt để con người sinh sống, làđiều kiện thiết yếu và quan trọng duy trì hoạt động sản xuất, lao động, giảitrí của con người theo đúng tinh thần mà C Mác và Ph Ănghen đã đề cập
"Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người và nó chính là giới tự nhiêntrong chừng mực bản thân nó không phải là thân thể con người Như thế nghĩa
là tự nhiên là thân thể của con người; để khỏi chết, con người phải ở trong quátrình giao dịch thường xuyên với thân thể đó Sinh hoạt vật chất và tinh thầncủa con người liên quan khăng khít với tự nhiên, điều đó chẳng qua chỉ cónghĩa là tự nhiên liên hệ khăng khít với bản thân tự nhiên, vì con người là một
bộ phận của tự nhiên” [3, tr 91-92]
1.2.1.3 Khái niệm đạo đức môi trường
Ngay từ xa xưa và cho đến ngày nay, trong quá trình sinh tồn, con ngườithường xuyên phải xác lập vô vàn các mối quan hệ xung quanh mình Ngoài mốiquan hệ giữa con người với con người, thì mối quan hệ giữa con người với MTTNcũng được con người quan tâm chú trọng Nếu mối quan hệ giữa con người vớicon người cùng những niềm tin, thái độ, chuẩn mực điều chỉnh các mối quan
hệ xã hội giữa con người với con người gọi là "đạo đức xã hội”, thì mối quan hệ giữa con người với tự nhiên cùng niềm tin, thái độ, chuẩn mực điều chỉnh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên được gọi là “đạo đức môi trường”.
Trang 29Những tư tưởng về ĐĐMT được hình thành từ khá sớm trong lịch sử tưtưởng của nhân loại Từ xa xưa, người Phương Đông đã thể hiện ĐĐMT như mộttriết lý sống hài hoà với thiên nhiên Quan điểm “Thiên - nhân hợp nhất”,
“thiên - địa nhân hòa”, “thiên - nhân cảm ứng” đã từng thống trị lâu dài tronglịch sử triết học Trung Quốc cổ đại Còn ở phương Tây, trong quan niệm củamình, các nhà triết học Hi Lạp thời cổ đại cũng đã bàn luận rất nhiều vấn đề vềmối quan hệ giữa con người với tự nhiên
Ở Việt Nam, khái niệm ĐĐMT xuất hiện khi con người phải giải quyếthàng loạt những vấn đề cấp bách về MT nước ta Và dưới nhiều góc độ khácnhau, các quan niệm khác nhau về ĐĐMT được thiết lập
“Đạo đức học môi trường là khoa học nghiên cứu về mối quan hệ đạo đứcgiữa con người và giới tự nhiên với tư cách là môi trường sống của con người, từđó, xác lập những chuẩn mực nhằm quy định hành vi ứng xử của con người vớigiới tự nhiên cho phù hợp với những chuẩn mực của đạo đức nói chung” [19, tr.3] “Đạo đức môi trường là tổng hợp các quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực nhờ
đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình với môi trường sao cho phùhợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với sự tiến bộ xã hội và với sựphát triển môi trường một cách bền vững, thể hiện sự tôn trọng của con ngườiđối với môi trường” [5, tr 60]
“Đạo đức môi trường là một phương diện của đạo đức nói chung, là sự thểhiện và thực hiện đạo đức xã hội trong lĩnh vực mối quan hệ giữa con ngườivới tự nhiên” [30, tr 156]
“Đạo đức môi trường là tổng thể những cách đối xử của con người, của
xã hội nói chung mang tính tích cực, phù hợp, thoả đáng đối với sự phát triểncủa toàn bộ hệ thống “Tự nhiên - Con người - Xã hội” nhằm bảo đảm mốiquan hệ hoà hợp, luôn được cải thiện, phát triển giữa “Con người - Xã hội và
Tự nhiên” Mối quan hệ này cũng chính là điều kiện quy định sự tồn tại bềnvững của con người và xã hội” [36, tr 1]
Trang 30Dựa trên các tài liệu đã có về ĐĐMT, tác giả luận văn hiểu rằng nói đếnĐĐMT là nói đến cách ứng xử của con người và xã hội loài người về mặt đạođức đối với MTTN, bảo đảm sự cùng tồn tại và phát triển của tự nhiên và xã
hội Do đó, ĐĐMT là toàn bộ những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực nhờ đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với quy luật của tự nhiên, vừa đảm bảo lợi ích của con người, vừa đảm bảo cho MTTN phát triển một cách bền vững, thể hiện mối quan hệ hài hòa, thống nhất giữa con người
Cũng giống như đạo đức xã hội, ĐĐMT bao gồm 3 phương diện là ý thứcĐĐMT, hành vi ĐĐMT và quan hệ ĐĐMT
Ý thức ĐĐMT là hệ thống những quy tắc và chuẩn mực đạo đức của conngười trong ứng xử với tự nhiên Việc con người có những hiểu biết về tầmquan trọng của MTTN, có những tình cảm yêu quý, trân trọng MTTN đều làbiểu hiện của ý thức ĐĐMT
Hành vi ĐĐMT là quá trình con người hiện thực hóa ý thức ĐĐMT trongđời sống thực tiễn, như con người có những hành động, cử chỉ, việc làm cụ thểtác động một cách hợp lý, nhân văn, nhân đạo đến MT
Quan hệ ĐĐMT là hệ thống những quan hệ xác định giữa con người vàcon người, con người và tự nhiên trong mối quan hệ với tự nhiên Quan hệĐĐMT được biểu hiện ra ở quan hệ lợi ích, lợi ích của cả chủ thể đạo đức (conngười) lẫn khách thể đạo đức (giới tự nhiên)
Ở nước ta, trong những năm qua, với việc xây dựng một nền kinh tế mở,
đa dạng, năng động, làm cho nước ta có những bước đột phá về kinh tế Song,
Trang 31vấn đề về MT, môi sinh lại đang đứng bên bờ vực thẳm Việc khai thác tàinguyên thiên nhiên một cách bất hợp lý, tàn sát MTTN vì lợi ích kinh tế trướcmắt đều là những biểu hiện suy thoái về ĐĐMT ĐĐMT là một phương diệncủa đạo đức nói chung, là sự hoàn thiện và thực hiện đạo đức của con người.Nếu chúng ta điều chỉnh lợi ích giữa con người với giới tự nhiên dựa trênchuẩn mực đạo đức thì chắc chắn rằng sự điều chỉnh ấy sẽ đem lại giá trị lớncho toàn thể xã hội, đặc biệt không cần tiêu tốn nhiều giá trị vật chất của xãhội.
Thực tế đã chứng minh rằng, pháp luật hoặc chính trị nhiều khi không cótác dụng lớn bằng đạo đức Việt Nam đã có Luật môi trường, đã tham giaCông ước quốc tế về BVMT, ký Nghị định thư Kyoto, Chính phủ cũng đã phêduyệt Chiến lược bảo vệ môi trường … nhưng nhiều tổ chức, cá nhân vẫn bấtchấp tất cả, hàng ngày, hàng giờ khai thác và hủy hoại MT Trong điều kiệnnhư vậy, ĐĐMT đóng vai trò quan trọng trong điều chỉnh việc khai thác hợplý nguồn tài nguyên để đảm bảo lợi ích lâu dài của con người cũng như của tựnhiên Tuy nhiên, cũng giống như đạo đức xã hội, ĐĐMT không được hìnhthành một cách tự phát ở mỗi con người, mà nó được hình thành một cách tựgiác thông qua con đường giáo dục và tự giáo dục là chính
1.2.2 Biến đổi khí hậu toàn
cầu
Biến đổi khí hậu là vấn đề được toàn nhân loại quan tâm hàng đầu trongthế kỷ XXI Biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp, toàn diện, sâu sắcđến đời sống kinh tế - xã hội và MT toàn cầu Trong những thập kỷ qua, rấtnhiều nơi trên thế giới đã phải chịu không ít những thiên tai nguy hiểm nhưbão, hạn hán, mưa đá, mưa tuyết gây thiệt hại lớn cho con người về tínhmạng và vật chất Các nghiên cứu đã cho thấy rõ mối liên hệ mật thiết giữa cácthiên tai nói trên với tình trạng biến đổi khí hậu [37]
Theo Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu thì sự thayđổi của khí hậu do hoạt động của con người (trực tiếp hoặc gián tiếp) làm thayđổi thành phần của khí quyển toàn cầu và sự thay đổi này được cộng thêm vào
Trang 32khả năng biến động tự nhiên của khí hậu quan sát được trong những thời kỳ cóthể so sánh được được cho là biến đổi khí hậu [39].
Biến đổi khí hậu còn được hiểu là sự thay đổi đáng kể của khí quyển, thuỷquyển, sinh quyển, thạch quyển bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trongmột giai đoạn nhất định Biến đổi khí hậu gây nên những tác động không nhỏđến hệ thống tự nhiên và sinh thái, đến sản xuất lương thực, đe dọa an ninhlương thực, tác động đến nguồn nước, đến sức khỏe của con người Biến đổi khíhậu còn làm cho mọi nguồn lực trên thế giới đều giảm sút một cách nghiêmtrọng
Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu trái đất là do sự gia tăng cáchoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mứccác bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh tháibiển, ven bờ và đất liền khác Hay nói một cách khác, tình trạng khí hậu bị biếnđổi có nguyên nhân chủ yếu từ việc con người không biết tôn trọng, bảo vệMTTN
Việt Nam được đánh giá là một trong những nước bị ảnh hưởng nghiêmtrọng của biến đổi khí hậu do chúng ta có bờ biển dài Theo các kịch bản biếnđổi khí hậu của Việt Nam, vào cuối thế kỷ 21, sẽ có khoảng 40% diện tích vùngĐồng bằng sông Cửu Long, 11% diện tích vùng Đồng bằng sông Hồng và 3%diện tích của các địa phương khác thuộc khu vực ven biển sẽ bị ngập nước Khi
đó sẽ có khoảng 10-12% dân số Việt Nam bị ảnh hưởng trực tiếp, với tổn thấtkhoảng 10% GDP
Biến đổi khí hậu đang là thách thức nghiêm trọng nhất đối với quá trìnhphát triển bền vững đối với tất cả các nước trên thế giới, từ nước có điều kiệnphát triển, đến các nước còn nghèo Nếu không ứng phó hiệu quả với biến đổikhí hậu thì thành quả phát triển kinh tế xã hội sẽ chịu tổn hại, quá trìnhphát triển bền vững sẽ gặp nhiều khó khăn, thậm chí là không thể đạt được
Để phòng chống biến đổi khí hậu, bên cạnh việc nghiên cứu, ban hành cácchính sách, biện pháp phù hợp để cắt giảm lượng phát thải khí nhà kính, thíchứng với biến đổi khí hậu, dần dần chuyển đổi nền kinh tế chủ yếu phụ thuộc
Trang 33vào nhiên liệu không tái tạo sang năng lượng tái tạo, nâng cao hiệu suất và tiếtkiệm năng lượng thì cần thiết phải tăng cường công tác giáo dục ý thức phòngchống biến đổi khí hậu trong mọi tầng lớp nhân dân nhất là thế hệ trẻ đang họctrong nhà trường phổ thông.
1.2.3 Những nội dung giáo dục đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh
THPT trong điều kiện biến đổi khí
hậu
1.2.3.1 Khái niệm giáo dục đạo đức môi trường
Giáo dục đạo đức môi trường góp phần nâng cao dân trí, nâng cao sự hiểubiết về MT và BVMT ở mọi quốc gia, dân tộc Ngày nay, GDĐĐMT còn gópphần tạo ra hệ thống giá trị xã hội mới Sở hữu tri thức về ĐĐMT trở thành sởhữu quan trọng nhất được các nước thừa nhận và bảo hộ GDĐĐMT sẽ gópphần bồi dưỡng nhân tài, xây dựng được đội ngũ lao động không chỉ giỏi vềtrình độ chuyên môn, nghiệp vụ, có tay nghề cao mà còn có được nền tảng đạođức sinh thái nhân văn để tác động một cách có ý thức, có đạo đức tới MTTN,góp phần thúc đẩy phát triển bền vững đất nước Ngày nay, việc đưa các nộidung giáo dục BVMT đã và đang là mối quan tâm của các cấp, ngành, các nhàkhoa học và toàn xã hội ta hiện nay
Năm 1948, tại Paris, trong cuộc họp của Liên Hợp Quốc về BVMT và tàinguyên thiên nhiên, thuật ngữ “Giáo dục môi trường” đã được sử dụng Năm
1970, Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN) đã định nghĩa: GDMT làquá trình nhận biết các giá trị và làm sáng tỏ các khái niệm nhằm phát triểncác kỹ năng và quan điểm cần thiết để hiểu và đánh giá được sự quan hệ tươngtác giữa con người, nền văn hoá, thế giới vật chất bao quanh Giáo dục ý thức
MT đồng thời cũng được thực hiện quyết định đưa ra bộ quy tắc ứng xử với vấn
đề liên quan tới đặc tính của MT
Trong tuyên bố của Hội nghị Liên hiệp quốc về “Môi trường con người”tại Stockholm, ngày 5/6/1972 đã khẳng định, việc GDMT cho mọi người để họ
có được trách nhiệm trong việc bảo vệ và cải tạo MT là vô cũng cần thiết Ngaysau đó, Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc cùng với Tổ chức văn
Trang 34hoá, khoa học, giáo dục Liên hiệp quốc đã thành lập Chương trình GDMTQuốc tế (IEEP) đã đưa ra nghị định khung tuyên bố về những mục tiêu vànhững nguyên tắc hướng dẫn GDMT Từ sau Hội nghị Belgrate, tháng 10 năm
1975, Chương trình GDMT quốc tế bắt đầu triển khai và có khoảng 60 quốc gia
đã đưa GDMT vào các trường học
Ở Việt Nam, năm 1962, Bác Hồ đã phát động phong trào “Tết trồng cây”.Cho đến nay, phong trào này ngày càng phát triển mạnh mẽ Năm 1991, BộGiáo dục và đào tạo đã có chương trình trồng cây hỗ trợ phát triển giáo dục -đào tạo và BVMT (1991 - 1995) Thông qua việc thay sách giáo khoa (cải cáchgiáo dục năm 1986 - 1992), các tác giả đã chú trọng đến việc đưa nội dungGDMT vào trong chương trình giảng dạy cho HS, trước hết ở các môn nhưSinh học, Địa lý, Hóa học và Kỹ thuật Đến nay, việc giáo dục ý thức ĐĐMT chothế hệ trẻ đang ngày được coi trọng
Giáo dục ĐĐMT là một quá trình giáo dục đặc biệt cho con người về cáchứng xử của con người và xã hội loài người đối với giới tự nhiên, nhằm đảm bảo
sự cùng tồn tại, phát triển của tự nhiên cũng như xã hội Đó còn là quá trìnhxây dựng một cách có ý thức hoạt động thực tiễn của con người phù hợp vớiquy luật của tự nhiên, trang bị cho con người ý thức tự chủ, tích cực tham giavào các hoạt động cải tạo, bảo vệ MTTN trên cơ sở nắm vững những chuẩnmực về ĐĐMT GDĐĐMT phải được tiến hành đồng thời ở cả ba thành tố của nó
là giáo dục chuẩn mực ý thức, giáo dục quan hệ và giáo dục hành vi ĐĐMT.Giáo dục đạo đức môi trường trong điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu làquá trình sư phạm được tổ chức có mục đích, có kế hoạch, trong đó dưới vai tròcủa giáo viên, học sinh THPT hình thành và phát triển nhận thức đúng đắn về
sự thay đổi của thành phần khí hậu toàn cầu do các nguyên nhân tự nhiên vànhân tạo; hình thành ý thức tự chủ, thái độ và hành động tích cực bảo vệ, thamgia xây dựng và cải tạo môi trường sống nhằm đảm bảo sự cùng tồn tại và pháttriển bền vững của tự nhiên và con người dựa trên các chuẩn mực về đạo đứcđối với môi trường
Trang 351.2.3.2 Giáo dục chuẩn mực cơ bản của đạo đức môi trường tự nhiên cho học sinh trung học phổ thông
Khi nói đến ĐĐMT, trước hết là nói đến hành vi ứng xử của con ngườiđối với MT Bởi vì, đạo đức của con người phải được thể hiện qua hành vi cụthể hàng ngày của con người Những hành vi ứng xử của con người đối với MT
là những hành vi mang tính chuẩn mực
Chuẩn mực ĐĐMT là một hệ thống các nguyên tắc có ảnh hưởng chi phốihành vi ĐĐMT được chấp nhận bởi xã hội và có tác dụng điều chỉnh hành vicủa một cá nhân, nhóm người hay xã hội khi họ tác động đến MTTN
Chuẩn mực ĐĐMT phản ánh những kết quả nghiên cứu bản chất tự nhiêncủa ĐĐMT, sự lựa chọn về mặt ĐĐMT của con người và cách thể hiện triết lýĐĐMT Chuẩn mực ĐĐMT thường được thể hiện thành những quy tắc haychuẩn mực hành vi của nhà nước, đảng phái, các tổ chức, các cộng đồng nhấtđịnh nào đó Khi đó, chuẩn mực ĐĐMT chính là tiêu chuẩn hành vi ĐĐMT củanhà nước, đảng phái, tổ chức hay cộng đồng đó Đây là hình thức vận dụng phổbiến nhất của các chuẩn mực ĐĐMT trong thực tiễn Giáo dục các chuẩn mựcĐĐMT cho HS trước hết thể hiện ở việc làm cho HS hiểu và thực hiện đúngcác nguyên tắc, luật pháp về BVMT mà Đảng, Nhà nước và các tổ chức đưa ra,cụ thể là:
- Các công ước quốc tế về MT đã được Chính phủ Việt Nam chấp thuận
- Các Luật, đạo luật về BVMT, chống biến đổi khí hậu
- Các Nghị định của Chính phủ, các Chỉ thị, Quyết định của các Bộ,Ngành về BVMT, chống biến đổi khí hậu
- Các quy định của UBND các tỉnh, thành phố, các Sở Tài nguyên và môitrường các địa phương về BVMT ở địa phương
Việc giáo dục các chuẩn mực ĐĐMT còn được thể hiện ở việc giáo dụccho HS hiểu và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, chiến lược của Đảng
và Nhà nước về BVMT như chiến lược tăng trưởng xanh, chiến lược phát triểnbền vững, chiến lược bảo vệ môi trường biển
Trang 36Có thể nói, các chuẩn mực luật pháp về BVMT rất đa dạng và phong phú.Giáo dục cho HS các chuẩn mực pháp luật đó tức là hình thành ở người họcĐĐMT ở mức độ tối thiểu Tuy nhiên, để người học đạt tới chuẩn mực ĐĐMT ởmức độ tối đa, cần giáo dục cho họ ý thức tự giác trong việc BVMT, biến nhữngquy định pháp luật phải tuân theo thành những quy định tự giác thực hiện, xuấtphát từ tình yêu và mong muốn được bảo vệ MTTN Mọi hành động của conngười đều phải xuất phát từ việc bảo vệ và vì MTTN, tôn trọng MTTN Ngoàiviệc giáo dục các chuẩn mực pháp luật về BVMT, cần phải giáo dục cho HS cácchuẩn mực ĐĐMT dưới đây:
Thứ nhất, giáo dục cho HS có ý thức và hành động bảo vệ MTTN một
cách tự giác Làm cho HS tự nguyện tham gia các hoạt động BVMT nơi sinhsống, học tập và những nơi đến tham quan, làm việc Tuyên truyền, vận độnggia đình, bạn bè và những người xung quanh thực hiện BVMT Việc bảo vệMTTN còn bao gồm cả tôn trọng, bảo vệ các giống loài động, thực vật, bảo vệ
đa dạng sinh học Do đó, cần làm cho HS nhận thấy được tầm quan trọng của
đa dạng sinh học, qua đó biết cách ứng xử cho phù hợp Việc giáo dục cho HSđấu tranh lên án những hành vi săn bắt, hành hạ động vật hoang dã, chặtcây phá rừng là việc cần làm để nâng cao hành vi ĐĐMT cho HS
Thứ hai, giáo dục chuẩn mực ĐĐMT là xây dựng cho HS “văn hóa tiêu
dùng văn minh, mang đậm bản sắc dân tộc, hài hòa và thân thiện với thiênnhiên” [9, tr 28] hưởng ứng các hoạt động BVMT như tham gia giờ Trái đất;tham gia ngày toàn dân BVMT Có ý thức tiết kiệm điện, khi hết giờ học phảitắt bóng điện, sử dụng nước rửa rau để tưới cây; sử dụng các sản phẩm thânthiện với MT trong các hoạt động tiêu dùng hàng ngày Nếu tất cả HS đềuhưởng ứng thì hàng năm sẽ giảm tải một số lượng rác lớn có hại cho MT.Chẳng hạn, các em sử dụng các sản phẩm thân thiện với MT như nói khôngvới túi nilon khi đựng thực phẩm, dùng cặp sách bằng những sản phẩm tự nhiênnhư cặp cói, vải; vừa tiết kiệm được tài nguyên vừa bảo vệ được MTTN Đây lànhững hoạt động nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn trong việc bảo vệ MTTN Mặt
Trang 37khác, còn giúp cho HS hiểu rằng tài nguyên thiên nhiên trên trái đất khôngphải là vô hạn Thông qua các hành vi tiêu dùng hợp lý sẽ góp phần tái tạo tự
nhiên, đảm bảo khả năng tái tạo và tự phục hồi MTTN Giúp HS hiểu “Mục tiêu cuối cùng của xã hội về mặt sinh thái là phải đưa nền sản xuất xã hội - phương thức trao đổi vật chất, năng lượng, thông tin của xã hội với tự nhiên gia nhập thực sự vào chu trình sinh học của sinh quyển, trở thành một mắt khâu liên
hoàn của chu trình đó” [9, tr 238], chuẩn mực ĐĐMT là chuẩn mực đạo đứcquan trọng nhất của GDĐĐMT cho HS THPT hiện nay
Thứ ba, giáo dục chuẩn mực ĐĐMT cho HS cần được tiến hành một cách
hài hòa, có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc với quốc tế, cánhân với xã hội, con người với tự nhiên Những phong tục, tập quán, nếp sốngcủa các cộng đồng dân cư ở một phương diện nào đó còn có ý nghĩa lớn trongbảo vệ MTTN Thực tế cho thấy, trong mối quan hệ giữa con người với tựnhiên, đã từ lâu đồng bào các dân tộc đã hình thành cho mình lối sống hòa hợpvới tự nhiên theo phương cách sống mang đậm nét phương Đông “Thiên -Nhân hợp nhất”, “Thiên - Địa - Nhân hợp nhất” Lối sống này đã ăn sâu, bám
rễ vào cộng đồng các dân tộc và được phát huy, duy trì trong cộng đồng làng,bản Chẳng hạn, trong cuộc sống hàng ngày của dân tộc mình, người Mông ởvùng núi Đông Bắc đã đề quy ước bảo vệ rừng, bảo vệ đất đai của bản; đưa ranhững quy định, những hình phạt hết sức nghiêm khắc đối với những cá nhân
tự ý khai thác hoặc đốt rừng Ngay cả những quy ước mang đậm tín ngưỡngduy tâm nhưng cũng có lợi cho việc bảo vệ MTTN, như: quy ước cấm xâmphạm vào những khu rừng, những con suối được đồng bào coi là “linh thiêng”, làcủa “Giàng”; quy ước về trồng rừng cho “Giàng”… Tục thả cá, chim sống về với
tự nhiên, trồng hoa, cây cảnh cũng góp phần làm tăng ý thức của người dân vềviệc giữ gìn đa dạng sinh học Tuy nhiên, không phải tất cả các quan niệmtruyền thống đều phù hợp với thực tế BVMT hiện nay Chẳng hạn quan niệm
“Thiên - Địa - Nhân hoà đồng”, “Mưu sự tại Nhân, thành sự tại Thiên” Do vậy,cần phải có một chuẩn mực ĐĐMT mới định hướng hành vi ĐĐMT cho HS
Trang 38Những giá trị tốt đẹp trong đạo đức truyền thống nói trên, đã góp phầntạo nên những giá trị ĐĐMT cần được giáo dục cho HS Bên cạnh những giá trịtruyền thống, hiện nay ở nhiều nước trên thế giới đã có những hành động, việclàm thiết thực mang đậm dấu ấn văn hóa sinh thái nhân văn mà chúng ta cầnphải học tập và giáo dục cho các em Chẳng hạn, ở Cộng hoà liên bang Đức,Chính phủ nước này đã đưa ra các biện pháp chiến lược để quản lý các chất thảinguy hại như: ngăn ngừa ngay từ nguồn thải, giảm thiểu số lượng chất thảinguy hại, xử lý và tái sử dụng chúng, pháp luật khuyến khích việc đổi mới côngnghệ và thiết bị (bằng cách thay thế từng phần hoặc toàn bộ) nhằm hướng tớimột công nghệ hoặc ít sinh ra chất thải nguy hại; giảm thuế hoặc cho vay tiềnvới lãi suất thấp trả dần nếu đầu tư vào công nghệ mới hay thiết bị xử lý chấtthải nguy hại.; hay ý tưởng phát triển Singapore - thành phố xanh, sạch, đẹp,được hình thành từ những năm 1960, trong đó việc BVMT sinh thái được coi làmột nhiệm vụ chiến lược trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội Ngoài ra ởrất nhiều nước đã đề cao và yêu cầu nhân dân sử dụng các sản phẩm tái chế đểBVMT Đó là những chuẩn mực ĐĐMT hiện đại mà chúng ta cần phải giáodục cho HS THPT ở Việt Nam.
1.2.3.3 Giáo dục ý thức đạo đức bảo vệ môi trường tự nhiên cho học sinh trung học phổ thông
Giáo dục ý thức ĐĐMT tự nhiên là quá trình hình thành ở người học hệthống quan điểm, quan niệm về MTTN, để từ đó biết yêu thương, quý trọngMTTN, biết cách ứng xử đúng mực với MT xung quanh, sống và làm việc theonhững điều ước, công ước, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhànước về BVMT Đó cũng là quá trình giáo dục để người học hiểu và tôn trọngquy luật tự nhiên, có ý thức cao trong bảo vệ MTTN, tránh xa những thói hư tậtxấu có hại cho MTTN Giáo dục ý thức ĐĐMT tự nhiên nhằm giúp HS ý thứcđược về cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong khi quan hệ với MT, từ đó các em sẽthực hành lối sống ứng xử có văn hoá đối với MTTN Giáo dục ý thức ĐĐMT
Trang 39tự nhiên cho HS THPT cần được tiến hành ở tất cả các yếu tố của nó, là giáodục tri thức ĐĐM tự nhiên, tình cảm ĐĐMTtự nhiên, niềm tin ĐĐMT tự nhiên
và ý chí ĐĐMT tự nhiên
Việc giáo dục ý thức ĐĐMTTN cho HS phải được bắt đầu từ việc giáo
dục tri thức ĐĐMT Đó là việc giáo dục cho HS hiểu biết về MTTN, về nghĩa vụ,
lương tâm, về thiện – ác, tốt - xấu, đúng - sai trong cách ứng xử của con ngườiđối với tự nhiên Sự hiểu biết của HS về giới tự nhiên, về các giống loài động –thực vật trong tự nhiên sẽ giúp HS biết yêu quý, trân trọng cảnh quan thiênnhiên và có tình thương với các giống loài động vật quý hiếm
Giáo dục cho HS nắm vững những quan niệm, có hiểu biết đầy đủ về mốiquan hệ tác động qua lại giữa con người - tự nhiên; về sự thích nghi của conngười với MTTN, nhằm đảm bảo sự thống nhất giữa con người - tự nhiên, hướngtới mục tiêu phát triển bền vững Chỉ khi nào người học hiểu đúng nhữnggiá trị của MTTN đối với cuộc sống của mình, thì khi đó họ mới không tác độngmột cách thô bạo, không lãng phí khi sử dụng tài nguyên thiên nhiên Khôngnhững thế, họ còn biết tuân theo những quy luật của tự nhiên
Giáo dục ý thức ĐĐMTTN cho HS còn là quá trình giúp cho HS nhậnthức sâu sắc về phát triển bền vững Giúp họ hiểu được rằng con người muốntồn tại và phát triển phải dựa vào tự nhiên, khai thác tự nhiên để thỏa mãn nhucầu của mình Nhưng nếu con người khai thác tự nhiên một cách thiếu ý thức sẽlàm cho MTTN bị tổn thương và do đó, sớm hay muộn tự nhiên cũng sẽ tìmcách “trả thù” con người
Giáo dục tri thức ĐĐMT cho HS phải giúp HS “ý thức được sâu sắc và có
căn cứ khoa học rằng, con người muốn tồn tại và phát triển không thể thiếuđược những điều kiện cần thiết như nước, không khí, ánh sáng, thức ăn, nhàở…, xã hội loài người cũng không thể phát triển được nếu không có nhữngnguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và các nguồn nguyên, nhiên liệu, vậtliệu khác được lấy từ tự nhiên Chỉ có tự nhiên mới có khả năng cung cấp cho
Trang 40con người tất cả những điều kiện vật chất cần thiết đó Quan hệ giữa con người
và tự nhiên là “quan hệ máu thịt”, “con người sống bằng giới tự nhiên”, “đờisống thể xác và tinh thần của con người là gắn liền khăng khít với giới tựnhiên” Tự nhiên vừa là nhà ở, vừa là phòng thí nghiệm, vừa là công xưởng vàcũng là bãi chứa chất thải khổng lồ của xã hội” [9, tr 54]
Giáo dục tình cảm ĐĐMT cho HS được tiến hành sau quá trình giáo dục
tri thức ĐĐMT Tình cảm ĐĐMT không được hình thành một cách ngẫu nhiên,
tự phát mà được hình thành một cách có chủ đích thông qua quá trình giáo dục.Trong quá trình ứng xử với tự nhiên sẽ hình thành nên tình cảm ĐĐMT Nóiđến tình cảm ĐĐMT không chỉ nói đến trạng thái tâm lý phản ánh những tácđộng từ bên ngoài vào ý thức của con người, mà quan trọng hơn là nói đến sựbiểu hiện thái độ của con người khi đứng trước những hiện tượng ĐĐMT Chẳnghạn, đứng trước tình huống một con vật bị thương, đứa trẻ chăm sóc vết thươngcho nó – đó chính là tình cảm ĐĐMT đã ngự trị trong tâm hồn đứa trẻ
Tình cảm ĐĐMT thường được biểu hiện ở sự “rung cảm”, cảm nhận của
HS đối với hành vi của chính bản thân mình hoặc hành vi của người khác khitác động tới MTTN Đứng trước hiện tượng một người cố ý xả rác ra MTTN,
HS có tiếng nói bảo vệ MTTN hay thờ ơ, lạnh nhạt trước hiện tượng đó phụthuộc rất lớn vào suy nghĩ, thái độ, hành động của từng cá nhân HS Vì vậy,tình cảm đạo đức tự nhiên không chỉ là trạng thái cảm nhận của HS trước tựnhiên, mà còn là năng lực tự ý thức của HS trong khai thác, sử dụng, bảo vệgiới tự nhiên vì cuộc sống của con người
Tình cảm ĐĐMT giúp cho HS có những suy nghĩ và hành động ứng xử vănminh, có đạo đức với MTTN, làm cho tự nhiên gần gũi, thân thiện hơn trongcuộc sống của mình
Trong quá trình giáo dục ĐĐMT, niềm tin ĐĐMT có một vai trò to lớn,giúp cho HS hướng đến các giá trị chân - thiện – mỹ khi tiếp xúc với MTTN
Chính vì vậy, giáo dục niềm tin ĐĐMT cho HS là một trong những yếu tố