1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện phong điền tỉnh thừa thiên huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa

142 733 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Huế
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Luận văn
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 2,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản trị kinh doanh, kinh tế, đề tài, luận văn, tiểu luận, tốt nghiệp, marketing

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Đất nước ta trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, để đáp ứng nhu cầu và bước đi trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới thì việc chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế là một trong những nội dung quan trọng của đường lối đổi mới do Đảng cộng sản Việt Nam khởi sướng và lãnh đạo Từ khi thực hiện đường lối đổi mới đến nay, cơ cấu ngành kinh tế nước

ta đã có sự chuyển đổi theo hướng tích cực, góp phần làm cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh và khá ổn định, đồng thời tạo điều kiện để quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng hiệu quả hơn

Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế ngành của nước ta diễn ra còn chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu đề ra Vì vậy, để đạt được mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại thì việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế ngành đóng vai trò rất quan trọng cần được nghiên cứu

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập và tiếp cận theo nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, đây là vấn đề có nội dung phức tạp xét cả về mặt lý luận và thực tiễn Do vậy, còn nhiều khía cạnh chưa được làm sáng tỏ và thống nhất Một trong các khía cạnh đó là xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện cụ thể của một địa phương.Huyện Phong Điền nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế 30 km Toàn huyện được tổ chức hành chính thành 15 xã và một thị trấn với tổng diện tích tự nhiên: 95.375 ha Là một huyện đất rộng người thưa, có đầy đủ các điều kiện tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý, tài nguyên, khoáng sản; về biển, đầm phá, đồng bằng, gò đồi, miền núi để phát triển thành một huyện giàu mạnh của tỉnh Tuy nhiên, hiện tại các tiềm năng

Trang 2

đang ở dạng tài nguyên chưa được khai thác và sử dụng một cách hợp lý Vì vậy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn đang là mối quan tâm hàng đầu của Đảng bộ và nhân dân huyện Phong Điền.

Việc nhận thức đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cũng như định hướng giải pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá là động lực giúp

cho việc chọn đề tài "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa" để

cơ sở khoa học nhằm đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 3

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề kinh tế chủ yếu của cơ cấu kinh tế ngành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện của một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa và đang tích cực tham gia hội nhập quốc tế Đối tượng khảo sát là các ngành kinh tế các đơn vị và các tổ chức kinh tế trên địa bàn huyện

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu các nội dung chủ yếu của cơ cấu kinh tế ngành

và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Về không gian: Nghiên cứu cơ cấu kinh tế ngành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Về thời gian: Nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 2000 đến năm 2005 và đề xuất các định hướng, giải pháp thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến năm 2020

Trang 4

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN

DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƯỚNG CÔNG

NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1.1 CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH CHUYỂN DỊCH THEO HƯỚNG CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1.1.1 Khái niệm cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành

Hiện nay, đã có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm “cơ cấu ngành kinh tế” Để phân tích khái niệm “cơ cấu ngành kinh tế”, trước hết cần làm rõ khái niệm “cơ cấu” Theo quan điểm triết học duy vật biện chứng, cơ cấu hay kết cấu là một khái niệm dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu thị sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các

bộ phận của nó

Khái niệm cơ cấu (cấu trúc là khái niệm có nguồn gốc từ chữ La tinh

“structure” nghĩa là xây dựng, là kiến trúc được sử dụng đầu tiên trong sinh vật học, dùng để chỉ cách tổ chức, cấu tạo, điều chỉnh các tế bào thực vật, động vật Sau đó khái niệm cơ cấu này được sử dụng nhiều cho các ngành khoa học, trong đó có các ngành kinh tế trong nền kinh tế quốc dân [33,9]

Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành

Cơ cấu kinh tế là nội dung, cách thức liên kết, phối hợp giữa các thành phần cấu thành hệ thống kinh tế, biểu hiện quan hệ tỷ lệ cả về mặt lượng và chất của các phần tử hợp thành hệ thống [15, 84]

Cơ cấu kinh tế của nền quốc dân là một phạm trù kinh tế phản ánh cấu trúc và mối quan hệ bên trong của nền kinh tế, theo đó nền kinh tế được coi là một hệ thống, có tính lịch sử trong một giai đoạn nhất định Đó là tổng thể các

Trang 5

mối quan hệ chủ yếu không chỉ về số lượng và tỷ lệ các yếu tố hợp thành, biểu hiện sự tăng trưởng của hệ thống mà còn là các mối quan hệ cơ cấu về chất giữa các yếu tố biểu hiện sự phát triển của hệ thống Hay “Cơ cấu của nền kinh tế quốc dân là tổng thể hợp thành của các bộ phận, các kiểu cấu trúc trong mối quan hệ hữu cơ, tương tác lẫn nhau cả về chất lượng và số lượng, trong không gian, thời gian và những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định” [22, 4].

1.1.2 Quan niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

Quan niệm của Việt Nam về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành liên quan đến các khái niệm cơ bản như: cải tổ cơ cấu ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế, trong đó thuật ngữ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế mang ý nghĩa khái quát nhất Đó là sự thay đổi cơ cấu do thay đổi các chính sách và các biến động về mặt xã hội gây nên,

nó có thể được thực hiện một cách chủ động, có ý thức hoặc xảy ra do điều kiện khách quan Thuật ngữ cải tổ cơ cấu, điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế mang nặng những ý muốn chủ quan của con người

Cải tổ cơ cấu ngành kinh tế là sự thay đổi tương đối quan trọng ở các ngành kinh tế khác nhau như nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ; khái niệm này bao gồm cả chỉ số phát triển của các ngành khác như kết cấu hạ tầng, tiến

bộ xã hội, nguồn nhân lực…ở tầm trung hạn cải tổ cơ cấu tập trung tác động tới những vấn đề liên quan đến hệ thống quan hệ phát triển như cơ chế kinh

tế, vai trò của các thành phần kinh tế… là những yếu tố tạo nên tính cân bằng của nền kinh tế

Điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế chỉ rõ sự chủ động của các chủ thể làm thay đổi một số mặt, một số yếu tố của cơ cấu ngành kinh tế cho thích ứng với điều kiện khách quan hay mục đích phát triển kinh tế xã hội trong từng thời

kỳ mà không tạo ra sự thay đổi đột biến về cơ cấu

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có tính khách quan do yêu cầu của thị

Trang 6

trường và sự phát triển kinh tế, sự thay đổi cơ cấu là “có mục đích, có định hướng”, nghĩa là có sự chủ động của Nhà nước, nhận thức tính tất yếu khách quan cần thực hiện sự thay đổi cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác, hợp lý và có hiệu quả hơn Coi chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là điểm cốt tử, là nội dung cơ bản, lâu dài trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong đó Nhà nước có vai trò quyết định trong việc hoạch định chủ trương, chính sách kinh tế vĩ mô còn các doanh nghiệp đóng vai trò quyết định trong việc thực thi phương hướng, nhiệm vụ chuyển dịch và chuyển dịch

cơ cấu ngành kinh tế còn là quá trình phát triển của các ngành kinh tế dẫn đến

sự tăng trưởng khác nhau giữa các ngành, làm thay đổi mối quan hệ tương quan giữa chúng so với thời kỳ trước đó Khái niệm này coi sự thay đổi cơ cấu ngành kinh tế là kết quả sự phát triển tất yếu của các ngành làm thay đổi tương quan, tỷ lệ và mối quan hệ giữa chúng

Về nội dung cơ bản, quan niệm “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế”,

“Điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế” và “Cải tổ cơ cấu ngành kinh tế” không khác nhau nhiều Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế mang ý nghĩa khái quát nhất Nó nhấn mạnh được sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế quốc dân diễn ra như một quá trình mang tính khách quan bắt nguồn từ sự phát triển của phân công lao động xã hội, chuyên môn hoá sản xuất dưới sự tác động của cách mạng khoa học - công nghệ đồng thời trong điều kiện nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và quốc tế sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế không phải là sự thay đổi một cơ cấu cùng tính chất, cùng đặc trưng từ trạng thái này sang một trạng thái khác trong một thời gian nhất định

Như vậy: “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế quốc dân là sự biến đổi và

sự vận động, phát triển của các ngành làm thay đổi vị trí, tương quan tỷ lệ và mối quan hệ tương tác giữa chúng theo thời gian dưới tác động của những yếu

tố kinh tế - xã hội của đất nước và quốc tế nhất định” [22,6]

Trang 7

Trên thực tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là kết quả của quá trình sau: Xuất hiện thêm những ngành mới hay mất đi một số ngành đã có, tức là

đã có sự thay đổi về số lượng cũng như loại ngành trong nền kinh tế Sự thay đổi này chỉ có thể nhận biết được khi hệ thống phân loại ngành là đủ chi tiết.Tăng trưởng về quy mô với nhịp điệu khác nhau của các ngành dẫn đến thay đổi cơ cấu Sự biến đổi cơ cấu kinh tế ngành là sự biến đổi cơ cấu kinh tế ngành là kết quả của sự phát triển không đồng đều giữa các ngành sau mỗi giai đoạn Để đánh giá đúng sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong mỗi thời kỳ thì phải xem xét đồng thời cả tốc độ tăng trưởng và quy mô phát triển ngành ở điểm xuất phát

Thay đổi trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các ngành Sự thay đổi này biểu hiện bằng số lượng của các ngành liên quan Mức độ tác động qua lại giữa ngành này với ngành khác thể hiện thông quan quy mô mà nó cung cấp cho các ngành hay nhận được từ các ngành đó Những thay đổi này thường liên quan đến thay đổi về công nghệ sản xuất sản phẩm hay khả năng thay thế cho nhau để đáp ứng nhu cầu của xã hội trong điều kiện mới

Sự tăng trưởng của các ngành dẫn đến thay đổi cơ cấu ngành trong mỗi nền kinh tế nên chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành xảy ra như thể là kết quả quá trình phát triển Đó là quy luật từ xưa đến nay trong hầu hết mọi nền kinh

tế và vấn đề đáng quan tâm là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành diễn ra theo chiều hướng nà và tốc độ chuyển dịch như thế nào

Có rất nhiều nền kinh tế đã đạt được thành công trong sự phát triển nhờ quá trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế ngành phù hợp với điều kiện cụ thể Việc tìm ra một xu hướng và giải pháp cho chuyển dịch cơ cấu ở nước ta không đơn thuần là áp dụng kinh nghiệm có được, mà là sự phát hiện những đặc thù của đất nước, của môi trường trong nước và quốc tế hiện nay để làm thích ứng nhứng bài học đã có cho điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam

Trang 8

Vì vậy việc phân tích các "cách tiếp cận chuyển dịch cơ cấu" để có quan điểm lựa chọn một chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phù hợp với điều kiện Việt Nam là hết sức cần thiết Trong thực tế có các cách tiếp cận chuyển dịch cơ cấu sau đây:

● Chuyển dịch cơ cấu kinh tế dựa trên cơ sở nguồn lực trong nước Chiến lược này dựa vào thế mạnh tài nguyên thiên nhiên trong nước: khoáng sản, nông nghiệp, những hải sản, nghề rừng Khai thác và chế biến các tài nguyên này cho cả thị trường trong nước và cả nước ngoài

Áp dụng chiến lược này đối với Việt Nam sẽ có những hạn chế, đó là: nguồn tài nguyên của ta tuy phong phú nhưng quy mô nhỏ, không đủ lớn để phát triển dựa hẵn vào nguồn tài nguyên trong nước; tăng trưởng chậm, do chủ yếu tập trung phát triển công nghiệp vừa và nhỏ

● Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên cơ sở tốc độ tăng trưởng nhanh Một chiến lược cơ cấu trên cơ sở tốc độ tăng trưởng nhanh sẽ tập trung vào việc phân bổ các nguồn đầu tư và nhân lực vào các ngành mà đặc biệt là các phân ngành, các hoạt động kinh tế và các dự án có mức hoàn vốn cao nhất Trong điều kiện hiện nay, điều này có nghĩa là hướng mạnh mẽ vào xuất khẩu là chủ yếu

Áp dụng chiến lược này sẽ có một số hạn chế là: Tạo ra một lượng lớn lao động không có việc làm, do giảm tối đa nhân lực trong các ngành sản xuất đặc biệt là sản xuất công nghiệp; làm tăng sự khác biệt và chênh lệch giữa các vùng, do bố trí sản xuất công nghiệp vào các vùng có kết cấu hạ tầng phát triển; đồng thời tạo ra chênh lệch lớn về thu nhập giữa các bộ phận dân cư, giữa các ngành các lĩnh vực

● Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm giải quyết các nhu cầu cơ bản Một chiến lược cơ cấu phát triển nhằm vào việc thoả mãn các nhu cầu cơ bản của nhân dân sẽ được thực hiện trên cơ sở hướng các nguồn lực vào việc phát triển sản xuất và cung ứng cho thị trường trong nước về những nhu cầu hàng lương thực, thực phẩm cơ bản, may mặc thông thường, hàng tiêu dùng, vật

Trang 9

liệu xây dựng, các sản phẩm công nghiệp nặng cho nhu cầu trong nước như sắt, thép, hoá chất, phân bón

Áp dụng chiến lược này sẽ có một số hạn chế: hiệu quả thấp, khả năng cạnh tranh kém, phụ thuộc vào nước ngoài do phải nhập khẩu nhiều nguyên liệu, máy móc thiết bị; thị trường nội địa không đủ lớn để kích thích mạnh mẽ sản xuất, do thu nhập của dân cư thấp

● Chuyển dịch cơ cấu kinh tế tập trung vào việc tạo việc làm Chiến lược

cơ cấu tạo tối đa việc làm chủ yếu tập trung vào các quá trình sản xuất dùng nhiều lao động mà không nhấn mạnh đến hiệu quả và hợp tác quốc tế

Hạn chế cơ bản của chiến lược cơ cấu này là công nghệ thấp, sản xuất kém hiệu quả, chỉ cạnh tranh được ở những sản phẩm có tỷ trọng lao động cao, khả năng hợp tác quốc tế rất thấp

Các cách tiếp cận chiến lược cơ cấu nêu trên cho thấy rõ những ưu tiên và những hạn chế cơ bản của chúng Rõ ràng là nước ta không thể theo đuổi mục tiêu riêng của một chiến lược cơ cấu nào Việt Nam không thể chỉ đạt tăng trưởng nhanh mà tạo ra sự phân hoá xã hội và chênh lệch quá lớn về mức sống; không thể chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước hoặc sử dụng hết nguồn lao động trong điều kiện nền kinh tế kém hiệu quả, không có khả năng hội nhập với kinh tế thế giới; nguồn tài nguyên nước ta cũng không đủ lớn để dựa vào

nó mà phát triển nhanh Trong thực tiễn cần lựa chọn một cơ cấu hỗn hợp trên

cơ sở xem xét nhiều chính sách và nhiều hình mẫu khác nhau

Để đạt được mục tiêu: ''Từ nay đến năm 2020, ra sức phấn đấu đưa nước

ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp'', như Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra, phải nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế dựa trên chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu kết hợp với thay thế nhập khẩu bằng những sản phẩm trong nước sản xuất có hiệu quả Như vậy, mô hình tăng trưởng của Việt Nam từ nay đến năm 2020 là một

Trang 10

mô hình phát triển hỗn hợp, vừa sản xuất các sản phẩm xuất khẩu, vừa coi trọng thị trường nội địa, trong đó xuất khẩu được coi là trọng tâm [1]

Việc áp dụng mô hình phát triển hỗn hợp ở đây có nghĩa là các ngành xuất khẩu luôn được coi là hướng ưu tiên hàng đầu, là trọng tâm và là động lực chủ yếu của sự phát triển Thay thế nhập khẩu, tận dụng tốt các lợi thế của đất nước chỉ tập trung cho một số ngành sản xuất trong nước có hiệu quả, coi đây là bước quá độ, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để hướng mạnh về xuất khẩu trong tương lai

1.1.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp

hoá, hiện đại hoá

1.1.3.1 Khái niệm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Để làm rõ thực chất khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chúng ta bắt đầu từ khái niệm theo từ điển kinh tế chính trị "Công nghiệp hoá là quá trình cải biến nền kinh tế nông nghiệp dựa trên nền tảng kỹ thuật thủ công mang tính hiện vật, tự cấp, tự túc thành nền kinh tế công nghiệp - thị trường" Đây là quá trình xây dựng một xã hội văn minh công nghiệp, trong đó, cải biến kỹ thuật tạo dựng nền công nghiệp lớn khía cạnh vật chất - kỹ thuật và phát triển kinh tế thị trường (khía cạnh cơ chế, thể chế) là hai mặt của một quá trình công nghiệp hoá

Như vậy, công nghiệp hoá là quá trình chuyển biến căn bản trình độ kỹ thuật của nền kinh tế từ trình độ thủ công sang trình độ cơ khí, biến nền kinh

tế nông nghiệp thành nền kinh tế công nghiệp Đó chính là quá trình xây dựng nền đại công nghiệp - tạo lập nền tảng vật chất kỹ thuật của phương thức sản xuất mới Công nghiệp hoá còn là quá trình cải biến thể chế và cấu trúc của nền kinh tế, từ nền kinh tế hiện vật - khép kín, tự túc (của kinh tế nông nghiệp

- nông thôn cổ truyền) sang nền kinh tế trao đổi lao động - xã hội hoá dựa trên

sự phân công lao động xã hội mạnh mẽ

Trang 11

Tóm lại, công nghiệp hoá là một quá trình cải biến toàn diện nền kinh tế

cả về mặt kỹ thuật sản xuất lẫn thể chế và cơ chế kinh tế

Cho đến nay, trong khi cải biến kỹ thuật là một nội dung chủ đạo của tiến trình công nghiệp hoá ở mọi quốc gia thì quá trình cải biến thể chế lại được thực hiện với những mục tiêu khác nhau và theo những hình thức khác nhau đưa đến những kết quả khác nhau Trong lịch sử đã từng tồn tại hai mô hình công nghiệp hoá khác nhau về chất Về mặt kinh tế, sự khác biệt giữa hai mô hình này được quy về sự khác biệt cơ chế kinh tế: cơ chế thị trường hay cơ chế kế hoạch hoá tập trung mà điều cốt lõi ở đây là sự khác biệt phương thức phân bổ các nguồn lực để tiến hành công nghiệp hoá Chính sự khác biệt này

là yếu tố quyết định mức độ thành công của quá trình công nghiệp hoá Đây cũng chính là điều khó khăn nhất, là trung tâm của mọi sự bàn luận về công nghiệp hoá Kinh nghiệm lịch sử cho thấy:

● Trong khuôn khổ cơ chế thị trường không phải mô hình công nghiệp

hoá nào (công nghiệp hoá hướng ngoại - dựa vào xuất khẩu và công nghiệp hoá hướng nội - thay thế nhập khẩu) cũng có hiệu quả và triển vọng như nhau

● Sự sụp đổ của các nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung chứng tỏ trong khuôn khổ và thông qua cơ chế kế hoạch hoá tập trung, công nghiệp hoá không phải là phương thức hữu hiệu để giải quyết các vấn đề phát triển càng không phải là phương thức để đạt được mục tiêu xã hội chủ nghĩa

Như vậy, để công nghiệp hoá thành công, nhất thiết phải đồng thời phát triển kinh tế thị trường và dựa vào cơ chế thị trường để tiến hành phân bổ các nguồn lực tiến hành công nghiệp hoá

Nguyên lý này đã được các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác khái quát thành lý luận, theo đó công nghiệp hoá tự nhiên và tất yếu phải gắn với thị trường, với quá trình phát triển kinh tế thị trường Nói khác đi, xây dựng nền đại công nghiệp thay thế nền nền nông nghiệp - thủ công; xây dựng nền kinh

Trang 12

tế thị trường thay thế nền kinh tế hiện vật khép kín, tự túc, tự cấp là hai mặt của một quá trình duy nhất - công nghiệp hoá Thiếu một trong hai mặt đó công nghiệp hoá sẽ thất bại.

Tuy nhiên, mặc dù lôgic quan hệ công nghiệp hoá thị trường nói trên là tổng quát đối với tiến trình công nghiệp hoá, song thị trường (hay cơ chế thị trường) tự nó không phải là điều kiện thể chế duy nhất đảm bảo cho công nghiệp hoá thành công ở mọi quốc gia Không ít quốc gia đã từng không thành công trong nổ lực công nghiệp hoá trong khuôn khổ thị trường Nguyên nhân thất bại của công nghiệp hoá ngoài việc áp dụng mô hình công nghiệp hoá không dựa vào thị trường (phủ nhận thị trường như trong mô hình kế hoạch hoá tập trung), còn do thiếu sự can thiệp và hỗ trợ hữu hiệu của Nhà nước nhằm khắc phục các "thất bại" thị trường (mô hình thị trường hướng nội kiểu Nam Mỹ của Brazin, Mêhicô, Achentina trong thập kỷ 60 - 80 thế kỷ XX

với di chứng hiện nay còn rất nặng nề) [33]

Từ đó có thể thấy, sự thất bại của quá trình công nghiệp hoá trong lịch sử thường bắt nguồn từ những nguyên nhân sau:

- Bỏ qua hay xem nhẹ một trong hai mặt, hai nội dung của quá trình công nghiệp hoá (hoặc nhà nước can thiệp quá mức, đến mức phủ nhận, xem nhẹ vai trò của thị trường hoặc ngược lại, để mặc thị trường tự phát - tự điều tiết

mà coi thường tác dụng điều tiết của "bàn tay hữu hình" - Nhà nước)

- Thiếu một mô hình, chiến lược công nghiệp hoá thích hợp để kết hợp, phối hợp tối ưu hai mặt, hai nội dung đó trong những điều kiện phát triển cụ thể của từng quốc gia ở mỗi giai đoạn xác định

Tuy quan niệm và các kết luận về công nghiệp hoá nêu trên không phải là mới, song trong quan hệ với các quá trình công nghiệp hoá đang diễn ra ở một

số quốc gia, chúng vẫn giữ nguyên giá trị

Trong thực tế, quá trình công nghiệp hoá ở từng quốc gia tuy vốn tuân theo logic tổng quát, song lại rất khác nhau trong việc lựa chọn mô hình, nội

Trang 13

dung chiến lược, giải pháp thực hiện và bước đi cụ thể Trong mối quan hệ này, quá trình công nghiệp hoá bộc lộ hai đặc điểm:

● Đối với các nước đi sau, về nguyên tắc, có thể rút ngắn thời gian đạt

đến mục tiêu công nghiệp hoá so với các nước đi trước

● Việc rút ngắn quá trình công nghiệp hoá cơ bản là:

- Rút ngắn bằng cách đẩy nhanh tốc độ của các bước chuyển tuần tự từ nền kinh tế nông nghiệp cổ truyền sang nền kinh tế công nghiệp

- Rút ngắn bằng cách vượt qua lôgich "tuần tự" về bước đi, thực hiện bước "nhảy vọt cơ cấu" để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá

Bước vào thế kỷ XXI, toàn cầu hoá kinh tế và phát triển nền kinh tế tri thức là hai xu hướng làm thay đổi mạnh mẽ lôgic của tiến trình công nghiệp hoá Sự kết hợp hai xu hướng này đòi hỏi các nước đi sau trong quá trình công nghiệp hoá phải đồng thời thực hiện hai quá trình: vừa xây dựng nền đại công nghiệp; vừa phát triển ngay kinh tế tri thức trong khuôn khổ hội nhập vào nền kinh tế thế giới Đối với các nước đi trước, đây là hai quá trình tuần

tự, tách biệt Nhưng đối với các nước đi sau, đây là một quá trình duy nhất, diễn ra đồng thời, thực hiện đồng thời

Với sự thay đổi như vậy, quan niệm truyền thống về công nghiệp hoá tuy vẫn đúng, song nội dung không còn đầy đủ Ngày nay, công nghiệp hoá không chỉ gắn với các mục tiêu giải pháp truyền thống mà phải có mục đích

và giải pháp hiện đại Theo nghĩa đó, công nghiệp hoá cũng chính là và phải

là quá trình hiện đại hoá Vì vậy, khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng được hiểu là quá trình công nghiệp hoá với các mục tiêu và giải pháp phù hợp với điều kiện và xu hướng phát triển hiện đại

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII đã nêu ra khái niệm: "Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất - kinh

Trang 14

doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao" [8,65]

Từ khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nêu trên, Đảng ta đã nêu ra các quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta như sau:

- Công nghiệp hoá phải gắn liền với hiện đại hoá

- Xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới, hướng mạnh về xuất khẩu, đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm trong nước

có khả năng sản xuất có hiệu quả

- Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước là chủ đạo

- Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ xã hội

- Khoa học công nghệ là động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định,cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước đi tuần tự, vừa có bước nhảy vọt

- Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương

án phát triển, lựa chọn đầu tư, công nghệ khai thác tối đa năng lực hiện có Trong chặng đường đầu của quá trình phát triển cần ưu tiên mô hình có quy

mô vừa và nhỏ, công nghệ phù hợp, tạo nhiều việc làm thu hồi vốn nhanh Ở giai đoạn sau của quá trình phát triển, khi lợi thế so sánh về giá lao động rẻ và tài nguyên giảm thì ưu tiên công nghệ tiên tiến, sử dụng ít tài nguyên, đòi hỏi hàm lượng trí tuệ cao, tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao

- Kết hợp kinh tế với quốc phòng an ninh

Do xuất phát từ một nước nông nghiệp với khoảng 80% dân số và 73% lực lượng lao động sống và làm việc ở nông thôn, Việt Nam coi công nghiệp

Trang 15

hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là vấn đề đầu tiên và là trọng tâm, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay Đây vừa là mục tiêu là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Đối với nước ta, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn còn có ý nghĩa quan trọng để tăng tích luỹ vốn cho phát triển công nghiệp và dịch vụ, mở rộng thị trường trong nước và quốc tế, giải quyết việc làm cho người lao động, giảm bớt sự phân hoá giàu nghèo trong xã hội và những áp lực làm chậm quá trình phát triển đất nước [16, 205-206]

1.1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

● Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong mô hình công nghiệp hóa

"kiểu cổ điển", " kế họach tập trung", "thay thế nhập khẩu" Những nước thực

hiện quá trình công nghiệp hóa và chuyển đổi cơ cấu ngành theo mô hình cổ điển đã trở thành những nước công nghiệp phát triển nhất hiện nay, như Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật Bản Sự chuyển đổi cơ cấu ngành theo mô hình này diễn ra như một quá trình lịch sử tự nhiên, kéo dài hàng trăm năm và để lại một chuẩn mực cho những nước công nghiệp hóa đi sau Những nước thực hiện chuyển đổi cơ cấu ngành theo mô hình công nghiệp hóa "kế hoạch hóa tập trung" hoặc "thay thế nhập khẩu" đã đạt kết quả trong giai đoạn đầu công nghiệp hóa như: tăng nhanh tốc độ tăng trưởng công nghiệp, tạo lập được cơ cấu ngành kinh tế cân đối, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nhưng kết quả đó không duy trì được lâu Ngày nay, những điều kiện ràng buộc sự chuyển đổi

cơ cấu theo mô hình công nghiệp hóa kiểu "cổ điển", "kế hoạch hóa tập trung" hay "thay thế nhập khẩu" đã thay đổi căn bản, do đó những bài học rút ra về chuyển đổi cơ cấu kinh tế ngành từ thực tiễn các nước thực hiện mô hình cơ cấu này đối với nước ta không còn thích hợp nữa

● Chuyển đổi cơ cấu kinh tế ngành trong mô hình công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu có những nét đặc trưng riêng, khác biệt về cơ bản so với

mô hình công nghiệp hóa "kiểu cổ điển", " kế họach tập trung", "thay thế nhập khẩu" cụ thể như sau:

Trang 16

- Quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành nhằm hướng tới một cơ cấu kinh tế không cân đối, tức là hướng vào phát triển những ngành khai thác các lợi thế

so sánh trên thị trường quốc tế và phát triển những sản phẩm mà thị trường thế giới cần

- Toàn bộ hệ thống chính sách chủ yếu nhằm khuyến khích xuất khẩu Mặc dù ở những nước khác nhau, các chính sách không giống nhau, song, chúng đều dựa trên nguyên lý là đảm bảo cho các nhà sản xuất có lợi thế nếu bán sản phẩm của mình ra thị trường thế giới Có nhiều biện pháp khuyến khích xuất khẩu được nhà nước áp dụng và có thể khái quát thành hai loại cơ bản Một là, nhà nước trực tiếp tác động bằng cách đưa danh mục những mặt hàng ưu tiên, được giảm hoặc miễn thuế xuất khẩu; hoặc trợ cấp cho các loại hàng hóa phục vụ cho sản xuất xuất khẩu Hai là, nhà nước gián tiếp can thiệp thông qua các công cụ tài chính - tiền tệ, tạo lập một môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất hướng ra thị trường nước ngoài

Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh của xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh

tế khu vực và quốc tế như ngày nay, một thị trường không biên giới sẽ xuất hiện nên mô hình công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu không còn phù hợp và cần thiết phải có một mô hình công nghiệp hóa mới phù hợp với điều kiện mới

● Chuyển đổi cơ cấu kinh tế ngành trong mô hình công nghiệp hóa, hiện

đại hóa "rút ngắn" Công nghiệp hóa, hiện đại hóa "rút ngắn" thực chất là rút

ngắn thời gian hoàn thành công nghiệp hóa, thu hẹp khoảng cách chênh lệch trình độ phát triển của nước đi sau so với các nước phát triển bằng cách đẩy nhanh tốc độ các bước chuyển tuần tự từ thấp đến cao, từ nền kinh tế nông nghiệp truyền thống sang nền kinh tế công nghiệp và bỏ qua một số bước đi tuần tự bắt buộc theo kiểu phát triển cổ điển để đi thẳng vào công nghệ hiện đại Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa "rút ngắn", các nước đi sau sẽ đạt được và duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn các nước đi trước trong một thời gian dài

Trang 17

Trong giai đoạn hiện nay, trình tự của tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thay đổi mạnh mẽ là do tác động của hai xu hướng: toàn cầu hoá kinh tế

và sự phát triển của kinh tế tri thức Sự kết hợp hai xu hướng này buộc quá trình công nghiệp hóa ở các nước đi sau phải thực hiện hai quá trình đồng thời: vừa xây dựng nền đại công nghiệp; vừa phát triển ngay kinh tế tri thức trong bối cảnh hội nhập vào kinh tế khu vực và kinh tế thế giới Ở các nước đi trước, hai quá trình này diễn ra tuần tự, tách biệt nhau; nhưng ở các nước đi sau, đây là hai nội dung của cùng một quá trình, diễn ra đồng thời và cần được thực hiện đồng thời Do sự thay đổi như vậy mà ngày nay quá trình công nghiệp hóa vừa có các mục tiêu, giải pháp truyền thống lại vừa có cả mục tiêu

và giải pháp hiện đại Với ý nghĩa đó, công nghiệp hóa cũng chính là quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa "rút ngắn" Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa "rút ngắn" trong điều kiện hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế với những nội dung đặc trưng sau:

- Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa “rút ngắn” của những nước đi sau là quá trình kết hợp đồng thời việc tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tương ứng tỷ trọng nông nghiệp trong GDP và hiện đại hoá cơ cấu ngành Toàn cầu hoá kinh tế cho phép các nước đi sau không nhất thiết phải phát triển cơ cấu ngành theo đúng toàn bộ trình tự phát triển công nghiệp mà các nước đi trước đã thực hiện Ngược lại,

họ có thể tận dụng những lợi thế thời đại về vốn, công nghệ, thị trường và kinh nghiệm của các nước đi trước để phát triển nền kinh tế công nghiệp; đồng thời “đi nhanh, đi tắt, đón đầu” bỏ qua một số giai đoạn nhất định và tiến nhanh, tiến thẳng vào phát triển các ngành công nghệ cao của kinh tế tri thức như công nghệ thông tin, viễn thông, hoá chất, sinh học…

- Cơ cấu ngành kinh tế trong mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa “rút ngắn” chuyển dịch theo chiến lược hướng về xuất khẩu dựa vào tăng trưởng các sản phẩm công nghiệp chế biến Mô hình phát triển bằng cách rút ngắn

Trang 18

ngày nay cũng cũng là mô hình phát triển theo nguyên tắc kinh tế thị trường

mở Ở các nước có nền kinh tế thị trường mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, dù bắt đầu từ mô hình thay thế nhập khẩu hoặc hướng ngoại dựa vào xuất khẩu tài nguyên và lao động, thì cuối cùng họ đều tiến tới mô hình công nghiệp hóa

về xuất khẩu dựa vào tăng trưởng các sản phẩm công nghiệp chế biến Sự phát triển của công nghiệp chế biến theo hướng ưu tiên phát triển các sản phẩm công nghiệp chế biến xuất khẩu đã tạo ra sức cạnh tranh quốc tế mới cho các ngành sản xuất trong nước Tỷ trọng các ngành công nghiệp chế biến

và dịch vụ trong kim ngạch xuất khẩu, trong GDP ngày càng tăng thể hiện sự phát triển và nhất là khả năng hội nhập với kinh tế thế giới của các nền kinh tế đang phát triển Bởi vì, các ưu đãi thuế quan và phi thuế quan trong khu vực

và trên thế giới đều chỉ dành chủ yếu cho các sản phẩm thuộc các ngành công nghiệp chế biến và dịch vụ

- Cơ cấu ngành kinh tế trong mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa “rút ngắn” trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sẽ biến đổi theo hướng phát triển các ngành có khả năng cạnh tranh quốc tế cả trên thị trường trong nước

và ngoài nước Các ngành, các sản phẩm có năng lực cạnh tranh quốc tế trên thị trường trong nước không phải là ngành, sản phẩm chiếm thị phần lớn nhờ

sự bảo hộ cao của Nhà nước, mà gồm những ngành, sản phẩm có lợi thế so sánh hơn hẳn đảm bảo các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quốc tế, chứa đựng hàm lượng trí tuệ cao, giá cả thấp… so với các hàng hóa nhập khẩu

1.1.3.3 Những quan điểm thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh

tế nước ta hiện nay

● Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cần phải nhằm mục tiêu tạo nhiều việc làm và nâng cao thu nhập người lao động: Yêu cầu lớn nhất đối với sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là phải tạo nhiều việc làm mới và phát huy lợi thế nguồn nhân lực Đồng thời, phát triển đa dạng các ngành kinh tế, trong

đó phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động là một hướng chính của quá

Trang 19

trình chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế Việc phát triển cơ cấu ngành kinh tế sử dụng nhiều lao động gắn với việc phát triển các trung tâm công nghiệp, dịch

vụ khắp các vùng, miền trong đó chú trọng các vùng phát triển mạnh mẽ sẽ tăng sức thu hút lao động Tuy nhiên, việc phát triển những ngành dùng nhiều lao động sẽ làm cản trở những nỗ lực phát triển kinh tế tri thức và tạo năng lực cạnh tranh mới dựa trên công nghệ tiên tiến, hiện đại Vì vậy, quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế còn phải chú trọng tới việc sử dụng lao động chất lượng cao bằng việc phát triển các ngành có sức cạnh tranh cao nhằm hội nhập kinh tế có hiệu quả Điều này có nghĩa là chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế quốc dân phải gắn kết với phân công lao động khu vực và quốc tế

Lực lượng lao động tăng thêm từ nay đến năm 2010 chủ yếu là ở khu vực nông thôn, vì vậy, giải quyết việc làm ở nông thôn, chuyển một bộ phận lớn lao động nông nghiệp ở nông thôn sang hoạt động trong các ngành nghề khác tại nông thôn, tại thành thị là đòi hỏi, mà cơ cấu ngành kinh tế phải tính đến Tuy nhiên, lực lượng lao động nông nghiệp vừa đông vừa có chất lượng thấp không thể chuyển nhiều ra thành thị được do đó, phải hướng cơ cấu ngành kinh tế vào phát triển công nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp chế biến sản phẩm từ nông nghiệp để thu hút lực lượng lao động này Đi đôi với tạo nhiều việc làm là hoàn thiện đồng bộ, chặt chẽ cơ chế, chính sách đào tạo nguồn lao động, tạo thu nhập cao cho người lao động, nhất là ở khu vực nông thôn

● Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phải bảo đảm ổn định chính trị - xã hội và phát triển bền vững: Chuyển đổi cơ cấu ngành nhanh chóng theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện hội nhập sâu vào kinh tế khu vực và quốc tế là cơ sở vững chắc để phát triển kinh tế nhanh, nâng cao hiệu quả sức cạnh tranh từng ngành, sản phẩm cũng như toàn bộ nền kinh tế

Cơ cấu ngành thay đổi về chất dựa trên đổi mới công nghệ sâu hơn và nhanh hơn nhằm tăng năng suất lao động xã hội, nâng cao chất lượng tăng trưởng, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội Việc tăng nhanh năng lực nội sinh về công

Trang 20

nghệ, đẩy mạnh việc ứng dụng có hiệu quả các công nghệ nhập khẩu, đi nhanh vào công nghệ hiện đại ở những ngành, lĩnh vực then chốt để tạo bước nhảy vọt về công nghệ, về cơ cấu ngành, tạo tốc độ tăng trưởng cao, tăng giá trị gia tăng, nhất là những sản phẩm và dịch vụ chủ lực Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế còn nhằm đáp ứng yêu cầu bức xúc về giải quyết việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, xoá đói giảm nghèo, chống tụt hậu, thu hẹp khoảng cách phát triển so với các nước láng giềng và với mức trung bình của thế giới.Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phải hướng tới thực hiện mục tiêu phát triển nền kinh tế bền vững, tức là chuyển dịch cơ cấu ngành phải góp phần gắn kết với tăng trưởng kinh tế nhanh (cả số lượng và chất lượng) với tiến bộ

và công bằng xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ quốc phòng an ninh, giữ gìn và cải thiện môi trường sinh thái Sự chuyển đổi

cơ cấu ngành kinh tế đáp ứng các yêu cầu trên cũng chính là hình thành và phát triển cơ cấu ngành của nền kinh tế quốc dân nhanh, ổn định, hiệu quả bền vững

● Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo mô hình tăng trưởng hướng vào xuất khẩu: Chiến lược tăng trưởng nhanh bền vững, lấy tăng trưởng xuất khẩu làm một trong những động lực chủ yếu vừa là đòi hỏi khách quan, vừa có khả năng hiện thực ở nước ta Để có tăng trưởng nhanh, cần hướng hoạt động kinh

tế của đất nước vào mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng xuất khẩu Bởi vì “tăng trưởng hướng vào xuất khẩu” về thực chất

là thực hiện mô hình công nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn, nhằm phát triển kinh tế nhanh và hiệu quả, thoát khỏi tình trạng tụt hậu, rút ngắn con đường đi lên nền kinh tế hiện đại và chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế

● Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phải dựa trên cơ sở khai thác có hiệu quả các lợi thế so sánh và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong

và ngoài nước: Khai thác có hiệu quả lợi thế so sánh là một trong những yêu cầu xuyên suốt đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Để hội

Trang 21

nhập sâu và hiệu quả vào kinh tế khu vực và quốc tế, trước mắt chiến lược cơ cấu ngành kinh tế phải dựa trên cơ sở nguồn lực trong nước về lực lượng lao động, dựa vào thế mạnh tài nguyên thiên nhiên, khai thác và chế biến nhằm cung cấp sản phẩm cho thị trường trong nước và quốc tế

1.2 NHỮNG NHÂN TỐ THÚC ĐẨY CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1.2.1 Nhân tố về địa lý và tài nguyên thiên nhiên

Cơ cấu kinh tế của một nước, một vùng được hình thành và phát triển trong một không gian nhất định gắn với điều kiện cụ thể của không gian đó

Nó có thể tạo ra lợi thế hay bất lợi cho một quốc gia hay một vùng

Vị trí địa lý có ý nghĩa quan trọng, là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn tới việc hình thành cơ cấu kinh tế Nếu ở vị trí thuận lợi, một nước hay một vùng có khả năng rất tốt để mở rộng thị trường, tiếp nhận các nguồn lực

từ bên ngoài thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Ngược lại, nếu vị trí địa lý bất lợi, thì việc thu hút các nguồn lực bên ngoài, phát huy các nguồn lực bên trong gặp nhiều khó khăn

Địa hình là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế Căn cứ vào vị trí và địa hình để bố trí ngành sản xuất trọng điểm

có tác động lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Khí hậu thuỷ văn là nguồn tài nguyên liên quan và tác nhân ảnh hưởng đến các ngành kinh tế quốc dân Đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, yếu tố khí hậu thuỷ văn có ảnh hưởng tới mùa vụ, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất

Tài nguyên thiên nhiên bao gồm: đất đai, rừng, nguồn nước, khoáng sản

có ảnh hưởng đến việc hình thành và biến đổi cơ cấu kinh tế Sự phân bổ và khai thác tài nguyên thiên nhiên có tác dụng rất quan trọng đối với sự phát triển các ngành kinh tế

Trang 22

Nhìn chung, ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế mang tính tất yếu, yếu tố nào cũng có tác dụng Do vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải dựa vào yếu tố tự nhiên và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.

1.2.2 Vốn đầu tư

Nhiều nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng vốn là nhân tố quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế Vốn là một yếu tố sản xuất trong quá trình sản xuất Vốn đóng góp vào tăng trưởng sản lượng không chỉ một cách trực tiếp như một yếu tố đầu vào mà còn gián tiếp thông qua sự cải tiến kỹ thuật Hơn nữa, thông qua sự cải tiến kỹ thuật thì đầu tư sẽ nâng cao kỹ năng của người lao động và điều này đến lượt nó sẽ làm tăng năng suất lao động giúp cho quá trình sản xuất trở nên có hiệu quả hơn và cuối cùng là làm tăng trưởng kinh tế bỡi vì lao động có kỹ năng cao hơn sẽ vận hành máy móc dễ dàng và hiệu quả hơn cũng như tiếp thu những công nghệ mới hơn Vì vậy, các quan niệm hiện đại hóa nhấn mạnh tính bổ sung giữa lao động và máy móc hơn là thay thế theo quan điểm chính thống của trương phái cổ điển

Với ý nghĩa đó, việc ưu tiên phân bổ vốn đầu tư vào những ngành có tiềm năng, có lợi thế so sánh, có điều kiện thuận lợi trong việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ hiện đại sẽ thúc đẩy các ngành đó tăng trưởng nhanh hơn

và kết quả là cơ cấu ngành kinh tế sẽ chuyển dịch theo hướng đã định

1.2.3 Lao động và nguồn nhân lực

Quy mô dân số và tốc độ tăng dân số ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu Tuy nhiên, mối quan hệ giữa tốc độ tăng dân số và tăng trưởng kinh tế diễn ra tương đối phức tạp Lao động là một yếu tố sản xuất trực tiếp trong quá trình sản xuất Tadaro đã nói rằng: "Tăng trưởng dân số thường được xem là một nhân tố tích cực trong việc kích thích tăng trưởng kinh tế Một lực lượng lao động dồi

Trang 23

dào có nghĩa là nguồn nhân lực sản xuất nhiều hơn trong khi đó dân số làm gia tăng tiềm năng của thị trường nội địa" Ngược lại, cũng có nhiều nhà kinh

tế lập luận rằng tốc độ tăng dân số có thể làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại Dân số tăng gây áp lực lên nguồn tài nguyên thiên nhiên và nếu khu vực nông nghiệp không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu tăng thêm do dân số tăng thì điều này sẽ ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng kinh tế

Trong khi vai trò của số lượng lao động đối với tăng trưởng kinh tế là một vấn đề còn đang tranh cãi thì việc gia tăng, cải thiện chất lượng lao động hay vốn nhân lực có tác dụng kích thích tăng trưởng kinh tế đã được nhiều nhà kinh tế nhất trí Vốn nhân lực có ý nghĩa là kỹ năng kiến thức mà người lao động tích luỹ được trong quá trình lao động, học hỏi, nghiên cứu giáo dục

Vì vậy, việc nâng cao chất lượng nguồn lao động hay nguồn nhân lực có tác dụng kích tăng trưởng các ngành do đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh

tế, đồng thời có ý nghĩa nâng cao chất lượng cơ cấu của nền kinh tế

1.2.4 Khoa học - công nghệ

Tác động của tiến bộ khoa học - công nghệ có ảnh hưởng nhiều mặt đến

cơ cấu ngành của nền kinh tế Ở nước ta, yếu tố này đã thúc đẩy sự ra đời phát triển một số ngành như dầu khí, điện tử làm thay đổi quy mô, tốc độ phát triển của các ngành chế biến dịch vụ Việc ứng dụng khoa học - công nghệ hiện đại vào sản xuất sẽ có tác dụng mạnh mẽ thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao chất lượng hiệu quả của các ngành Vì vậy, khoa học - công nghệ còn có tác dụng nâng cao chất lượng cơ cấu của nền kinh tế

1.2.5 Tăng trưởng và thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu

Xuất khẩu có thể có tác động đến tăng trưởng kinh tế một cách trực tiếp

vì nó là một thành phần của tổng sản phẩm, hay một cách gián tiếp thông qua ảnh hưởng của nó đến các nhân tố của tăng trưởng Xuất khẩu có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng cụ thể như sau: làm tăng nhu cầu trong nền kinh tế

Trang 24

và do vậy mở rộng thị trường cho sản xuất nội địa; giúp giảm bớt ràng buộc

về cán cân thương mại; việc hướng về xuất khẩu và cởi mở thương mại cải thiện quá trình tái phân bổ nguồn lực, làm tăng năng lực sử dụng và cạnh tranh; có thể kích thích tiết kiệm; làm tăng đầu tư trong nước cũng như thu hút đầu tư nước ngoài; thúc đẩy thay đổi công nghệ và cải thiện nguồn vốn nhân lực, qua đó làm tăng năng suất

Vì vậy, việc đẩy mạnh sản xuất cho xuất khẩu và thay đổi cơ cấu sản phẩm xuất khẩu theo hướng nâng cao tỷ trọng sản phẩm đã qua chế biến là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng các ngành do đó sẽ có tác dụng làm chuyển dịch

cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

1.2.6 Hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia vào thị trường thế giới

Hội nhập kinh tế quốc tế và tham gia thị trường thế giới sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đó là: thúc đẩy sử dụng các yếu tố đầu vào như công nghệ cao, việc sử dụng các công nghệ này sẽ sản xuất hàng hóa có chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu của các nước trên thế giới; thúc đẩy đầu tư cho việc áp dụng các tiến

bộ khoa học công nghệ từ bên ngoài và đặc biệt là thúc đẩy sản xuất hàng hóa xuất khẩu Như vậy, tác động của thị trường thế giới và quá trình toàn cầu hóa

để chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất ra, cạnh tranh trên toàn thế giới, áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ

1.2.7 Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước

Vai trò của nhà nước trong kinh tế phát sinh từ yêu cầu phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Nhà nước bằng vai trò can thiệp của mình sẽ bổ sung hoàn thiện sửa chữa khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường

và cùng với cơ chế thị trường khắc phục những vấn đề xã hội gay gắt Chính

sự điều này sẽ đảm bảo cho kinh tế phát triển bền vững Sự thành công hay thất bại trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ở một mức độ lớn gắn liền

Trang 25

với việc sử dụng vai trò của Nhà nước Vai trò của nhà nước đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện cụ thể như sau:

- Vai trò và năng lực của nhà nước trong hoạch định chiến lược phát triển

và tổ chức quản lý kinh tế vĩ mô Mục tiêu quản lý kinh tế vĩ mô là tạo sức mạnh tổng hợp để nền kinh tế tăng trưởng ổn định, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực nhằm nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện công bằng

xã hội và bảo vệ môi trường Trong nền kinh tế thị trường, muốn có tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhanh, bền vững thì phải tổ chức quản lý tốt kinh tế vĩ mô Đó là cách xử lý các vấn đề lạm phát, chính sách tài chính - tiền tệ, tỷ giá hối đoái, tích luỹ đầu tư và các chính sách có liên quan

- Sử dụng có hiệu quả những đòn bẩy kinh tế mà nó thể hiện trong hệ thống chính sách đối với việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong vấn đề đào tạo nguồn nhân lực

để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, là người duy nhất có khả năng hoạch định chiến lược thực hiện kế hoạch hoá phát triển nguồn nhân lực Hiện nay, sự hình thành và phát triển nguồn nhân lực, được thực hiện ở nhiều kênh, trong

đó nhà nước là người duy nhất có khả năng tổ chức và liên kết đảm bảo thống nhất hình thành phát triển nguồn nhân lực hướng vào mục tiêu phát triển KTXH

1.3 KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ 1.3.1 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở một số nước trên thế giới

Trang 26

chuyển dịch cơ cấu ngành trước hết là do Nhật Bản đã thực thi một số chính sách và biện pháp sau:

- Mạnh dạn mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực cho dù nền kinh

tế còn non yếu, để tranh thủ các nguồn lực bên ngoài thực hiện công nghiệp hoá và phát triển đất nước Thực hiện tự do hoá thương mại và đầu tư từng bước, phù hợp với điều kiện, khả năng trong từng giai đoạn của quá trình phát triển bằng việc xin bảo lưu, trì hoãn một số điều khoản khi gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế, từng bước cắt giảm thuế quan, giảm bớt hoặc huỷ bỏ các biện pháp phi thuế quan, tự do hoá dần một số lĩnh vực như viễn thông, giao thông vận tải, du lịch, tiền tệ

- Bảo hộ một số ngành, thị trường khi thấy cần thiết bằng biện pháp thuế quan và phi thuế quan, mức thuế bảo hộ được xác định tùy theo khả năng cạnh tranh của từng ngành Có chính sách nuôi dưỡng, bảo hộ các ngành ưu tiên, những ngành công nghiệp non trẻ

- Kiên trì chiến lược cơ cấu ngành kinh tế hướng về xuất khẩu, coi xuất khẩu hàng hoá là lợi ích sống còn là động lực mạnh mẽ phát triển kinh tế và dùng nhiều biện pháp khuyến khích hỗ trợ, đẩy mạnh sản xuất xuất khẩu; nâng cao sức cạnh tranh của các ngành hàng hóa trên thị trường quốc tế

- Nhật Bản đã lựa chọn những ngành có lợi thế so sánh động, những ngành có khả năng tăng năng suất cao; những ngành được mở rộng trong tương lai; những ngành có nền tảng công nghệ cao để đưa ra cơ cấu công nghiệp trung và dài hạn Nhật Bản cũng coi trọng và chú ý phát triển nông nghiệp, tạo điều kiện, hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông thôn để nông nghiệp đảm bảo nhu cầu trong nước, đảm bảo lương thực, đảm bảo sự ổn định

để phát triển

- Đa dạng hoá cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, kể cả mặt hàng chủ lực Hướng mạnh vào xuất khẩu những sản phẩm có lợi thế so sánh, có khả năng làm gia tăng tổng kim ngạch xuất khẩu, phù hợp với từng thời kỳ và mức độ công nghiệp hóa, đáp ứng theo sự biến động của thị trường

Trang 27

- Nhật Bản đã di chuyển lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp, từ công nghiệp sang dịch vụ; chuyển mạnh từ lao động ít kỹ năng sang lao động nhiều kỹ năng; tăng cường đào tạo người vừa trung thành với công ty vừa năng động sáng tạo.

- Nhật Bản đã kết hợp vai trò của nhà nước và sự năng động của thị trường trong việc thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế Chính phủ Nhật Bản đã tăng cường can thiệp vào nền kinh tế với nhiều công cụ khá đa dạng thông qua các chính sách, kế họach định hướng phát triển

1.3.1.2 Kinh nghiệm Hàn Quốc

Hàn Quốc là một nước công nghiệp mới phát triển xếp là nước có kinh tế thị trường đứng thứ 11 trên thế giới Hàn Quốc đã chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực: tăng tỷ trọng công nghiệp trong GDP từ 33,6% năm 1975 lên 43,2% năm

1995 và 40,2% năm 2001; tăng tỷ trọng ngành dịch vụ từ 42% GDP vào năm

1975 lên 50,9% năm 1995 và năm 2001 là 54,6%; giảm tỷ trọng nông nghiệp trong GDP từ hơn 60% xuống còn 24,5% vào năm 1975; 6,2% năm 1995 và chỉ còn 5,2% vào năm 2001 Có sự chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế ngành như trên là do:

- Hàn Quốc lựa chọn mô hình chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá “rút ngắn”: rút ngắn thời kỳ xây dựng cơ cấu ngành thay thế nhập khẩu, nhanh chóng chuyển sang xây dựng cơ cấu ngành hướng về xuất khẩu Quá trình chuyển đổi cơ cấu ngành của Hàn Quốc bắt đầu từ cơ cấu nông nghiệp sang cơ cấu công nghiệp, từ công nghiệp nặng sử dụng nhiều vốn sang công nghiệp sử dụng công nghệ cao nhưng với thời gian rút ngắn hơn

- Lựa chọn cơ cấu ngành dựa trên lợi thế so sánh của đất nước Những năm 1960, để khai thác và sử dụng nguồn lao động dồi dào, Hàn Quốc phát triển mạnh các ngành công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động như dệt may,

tơ sợi, giày dép và các sản phẩm thuộc da Vào thập niên 1970 lựa chọn các

Trang 28

ngành công nghiệp nặng và công nghiệp hoá chất, ưu tiên phát triển các ngành công nghệ cao Đã chuyển đổi cơ cấu công nghiệp nặng sử dụng nhiều vốn sang công nghiệp sử dụng công nghệ cao.

- Thực thi linh hoạt chính sách tự do hoá thương mại, nới lỏng các hạn chế đối với việc nhập khẩu các mặt hàng chế tạo thực hiện tự do hoá nhập khẩu; giảm tỷ lệ thuế quan bình quân từ 23,7% năm 1983 xuống 8,9% năm 1993; bỏ hàng rào phi thuế quan đối với nhiều loại hàng hoá và dịch vụ, kể cả dich vụ tài chính; đơn giản hóa các thủ tục nhập khẩu, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

- Đã từng bước thực hiện tự do hoá đầu tư nước ngoài Để tăng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, Hàn Quốc tăng cường cải thiện môi trường đầu

tư, tạo hành lang pháp lý, có chính sách ổn định tiền lương, giá thuê đất, ủng

hộ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ; khuyến khích các nhà đầu tư chuyển giao công nghệ, kỹ thuật tiên tiến và đặc biệt là cải cách thể chế

- Chuyển đổi cơ cấu nhập khẩu, lựa chọn một cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu linh hoạt theo hướng đa dạng hoá để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu Suốt ba thập kỷ qua, thị trường xuất khẩu chính của Hàn Quốc là Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu và Đông Nam Á

- Khi xu hướng khu vực hóa tăng lên, môi trường trong nước và thương mại quốc tế phát triển bất lợi, Hàn Quốc đã cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển các ngành cần nhiều lao động, công nghệ thấp sang các nước Đông Nam Á, Trung Quốc, Caribê và phát triển các ngành công nghệ cao để cạnh tranh với hàng hóa của Mỹ, Nhật Bản Khi cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ xảy ra, mặt trái của sự phát triển quá nóng vội và cơ cấu kinh tế bất cân đối của Hàn Quốc đã bộc lộ rõ, chính điều này đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc giảm sút và tình hình chính trị - xã hội bất ổn Trước thực tế này, Hàn Quốc đã tiến hành những điều chỉnh mới, ưu tiên đẩy mạnh cải cách chính sách tài chính - tiền tệ, khắc phục hậu quả của cuộc khủng hoảng, tái cơ cấu kinh tế theo hướng tự do hóa thương mại, đầu tư, sự tiến bộ của khoa học

kỹ thuật không ngừng để phát triển và hội nhập vào nền kinh tế thế giới [17].

Trang 29

Qua phân tích những thành tựu và kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của một số nền kinh tế đã, đang phát triển và chuyển đổi

có thể rút ra một số bài học sau đây:

● Nâng cao khả năng tiếp thu công nghệ, hoàn chỉnh môi trường để công nghệ đó phát huy hiệu quả với phát triển kinh tế và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế quốc dân thông qua chính sách đào tạo và phát triển Đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao, đội ngũ cán bộ quản lý có năng lực, tư duy mới, thông thạo ngoại ngữ để chủ động trong các chương trình đàm phán, xây dựng các chính sách kinh tế

● Thực hiện ổn định kinh tế vĩ mô, cung cấp các kết cấu hạ tầng tốt, tạo môi trường pháp lý rõ ràng, nhất quán, bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh

● Cải cách và phát triển hệ thống tài chính - tiền tệ quốc gia phù hợp với

sự di chuyển nhanh và phổ biến của dòng vốn đầu tư gián tiếp quốc tế điều chỉnh cơ cấu vốn vay, trả nợ một cách linh hoạt và có sự kiểm soát theo hướng cân đối với quy hoạch đầu tư phát triển, cơ cấu ngành đã lựa chọn

● Kiên trì mô hình kinh tế thị trường mở và hội nhập kinh tế khu vực và

quốc tế dựa vào tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh “tĩnh” và “động” của đất nước

● Đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, phát triển thị trường chứng khoán để huy động vốn, thu hút vốn nước ngoài, phát huy nguồn vốn trong nước, thực hiện đầu tư theo cơ cấu ngành đã chọn

● Điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế theo hướng rút ngắn, chuyển từ cơ cấu

phát triển các ngành có hàm lượng lao động cao sang phát triển các ngành có hàm lượng vốn, công nghệ cao có khả năng thích ứng với tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, đứng vững được trong cạnh tranh cả trên thị trường trong nước và nước ngoài.Chọn lựa những ngành có thế mạnh để mở cửa cạnh tranh, chỉ bảo hộ cho những ngành, lĩnh vực có khả năng cạnh tranh trong tương lai, bảo hộ có chọn lọc, có địa chỉ và có thời hạn

Trang 30

● Việc hoạch định chính sách cơ cấu ngành kinh tế quốc gia theo hướng

khai thác có hiệu quả nguồn lực bên trong và bên ngoài, phù hợp với tiến trình hội nhập, thích ứng với chuyển đổi kinh tế khu vực và thế giới cần tính đến vai trò của thể chế kinh tế toàn cầu, tổ chức kinh tế khu vực như WTO, APEC, AFTA

● Tăng cường sự điều chỉnh thị trường đối với việc chọn lựa ngành, lĩnh vực đầu tư kinh doanh, phân bổ nguồn lực; giảm bớt can thiệp trực tiếp của Nhà nước vào các hoạt động của doanh nghiệp

● Phát triển cơ cấu hàng hoá xuất khẩu theo hướng đa dạng hoá, lựa chọn mặt hàng xuất khẩu chủ lực phù hợp tiến trình chuyển dịch cơ cấu ngành trong từng thời kỳ Thực hiện đa dạng hoá thị trường xuất khẩu để tăng kim ngạch xuất khẩu, đồng thời tránh lệ thuộc quá mức vào thị trường nước ngoài

1.3.2 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành từ các địa phương trong nước

● Đẩy mạnh công tác chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và sản xuất đồng thời cung cấp các thông tin thị trường cần thiết và có sự hỗ trợ

cụ thể cho mỗi hộ sản xuất để có thể thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản xuất nhanh và đạt hiệu quả cao.

Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm là một quá trình không thể thiếu trong thời đại hiện nay Lợi ích của nó mang lại rất lớn Chẳng hạn ở xã Quỳnh Thắng huyện Quỳnh Lưu tỉnh Nghệ An khi hạch toán đối với cây dứa cho thấy suất đầu tư khoảng

6 tấn phân NPK cho một ha, thời gian đầu do chưa chủ động được chồi giống nên phải nhập với giá 600-650 đồng/chồi, nay nhờ áp dụng tiến bộ khoa học -

kỹ thuật nên đã giảm được suất đầu tư giống xuống còn một nữa [36].

Vì vậy, việc cung cấp thông tin thị trường cần thiết là một trong những điểm rất mới và thiết thực đối với mỗi hộ, mỗi vùng sản xuất Ở thành phố Hồ Chí Minh đã hình thành các trung tâm giao dịch mua bán sỉ và lẻ cho mỗi loại

Trang 31

cây, con, lập các trang Web để triển khai mua bán, tìm đối tác qua các chợ trên mạng Internet, thành lập trung tâm tư vấn hỗ trợ nông dân, doanh nghiệp nông nghiệp

● Phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm - thuỷ sản Củng cố, sắp xếp và phát triển doanh nghiệp quốc doanh, ngoài quốc doanh

Đối với những địa phương là các vùng đồng bằng ven biển thì việc phát triển công nghiệp chế biến thuỷ sản và các Trung tâm nghiên cứu sản xuất giống thuỷ sản là rất quan trọng Chẳng hạn như ở An Giang, “toàn tỉnh có 4 nhà máy chế biến thuỷ sản đông lạnh trong đó có 1 nhà máy của tư nhân với

công suất thiết kế trên 12.000 tấn/năm với trang thiết bị hiện đại” [16,84], đã

góp phần không nhỏ trong việc nâng giá trị xuất khẩu thuỷ sản của An Giang lên trên 66 triệu USD năm 2002 và giải quyết được nhiều công ăn việc làm cho người dân địa phương

● Tạo môi trường thuận lợi, thu hút mọi nguồn vốn đầu tư trong nước

và nước ngoài, đồng thời hai thác, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước.

Vốn là điều kiện quan trọng trong phát triển của một nền kinh tế Vì vậy, việc tập trung tìm kiếm các giải pháp để thu hút vốn đầu tư luôn được các địa phương quan tâm và đặt lên hàng đầu Tỉnh Hải Dương “tỉnh luôn coi trọng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng để tạo tiền đề và điều kiện cho việc phát triển các vùng trọng điểm, các ngành mũi nhọn” Tổng số vốn đầu tư cho xây dựng

cơ bản ở Hải dương trong 4 năm (1996-1999) là 7.409 tỉ đồng Trong năm 2001,

toàn tỉnh có 36 dự án đầu tư nước ngoài và 42 dự án đầu tư trong nước” [5,41].

● Lấy hiệu quả kinh doanh thực tế là yếu tố động lực quan trọng nhất cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu sản xuất trong nội

bộ ngành

Những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Hà Tây đã có bước phát triển kinh tế khá: tăng trưởng

Trang 32

kinh tế hàng năm trong giai đoạn 1996-2000 là 7,3%, năm 2002 là 9,8%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực: tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 48,03% (1995) xuống còn 35,9% (2002), cũng trong thời kỳ này tỷ trọng công nghiệp xây dựng tăng từ 25,3% lên 34,6%; dịch vụ du lịch từ 26,3% lên 29,55% Trong từng ngành kinh tế cũng có những chuyển biến đáng kể.

Về nông nghiệp, khu vực kinh tế nông - lâm - thuỷ sản đã chuyển dịch khá mạnh mẽ theo hướng sản xuất hàng hoá với cơ cấu đa dạng, vừa khai thác lợi thế, tiềm năng của từng vùng sinh thái, tăng nhanh năng suất, chất lượng

và hiệu quả, vừa nâng sức cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dần từ cây lương thực sang thâm canh các loại cây trồng khác gắn với đa dạng hoá các con vật nuôi có giá trị kinh tế cao Nếu năm 1998 ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng 68,2% thì đến năm 2001 chỉ còn 63,5%; với thời gian tương ứng, ngành chăn nuôi tỷ trọng tăng từ 29,8% lên 35,3% theo hướng nạc hoá đàn lợn

Về công nghiệp, phát huy thế mạnh của mình tỉnh tập trung đầu tư các công trình khuyến công, mở rộng các làng nghề; nhất là khôi phục các ngành nghề truyền thống và phát triển thêm nghề mới Hiện nay, Hà Tây có 900 làng

có nghề, chiếm 56,26% tổng số làng nghề của tỉnh, trong đó 106 làng nghề được công nhận là làng nghề truyền thống Kinh tế làng nghề phát triển đã đóng vai trò quan trọng trong phát triển ngành công nghiệp chế biến, góp phần phát triển ngành công nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tỉnh Hà Tây Ngành công nghiệp tiêu dùng không ngừng tăng Nếu năm 1995 ngành sản xuất chế biến thực phẩm đồ uống đạt tỷ trọng 23,2%, ngành sản xuất trang phục là 2% thì năm 2001 các tỷ trọng tương ứng là 34,79% và 6,54% góp phần cung ứng cho thị trường tiêu dùng trong nước và phục vụ xuất khẩu Mặt khác nhờ chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, kinh

tế ngoài quốc doanh đã có cơ hội phát triển và nâng cao tỷ trọng, đóng góp 54,46% (1998) lên 56,61% (2001) trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp

Trang 33

Dịch vụ có bước phát triển và chuyển dịch khá với nhiều loại hình, mở rộng mạng lưới khắp trong tỉnh, đáp ứng nhu cầu đa dạng của sản xuất kinh doanh và đời sống Nhìn chung các lĩnh vực của ngành dịch vụ đều phát triển: tổng mức bán lẻ hàng hoá tăng hàng năm từ 7,5% đến 12%; khối lượng vận

chuyển hành khách và hàng hoá tăng đáng kể [19,50-54].

● Phát triển và khai thác hợp lý nguồn tài nguyên vùng ao đầm nước

lợ,vùng biển để nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản để đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng ngành thuỷ sản

Ở tỉnh An Giang “diện tích nuôi trồng thuỷ sản được mở rộng từ 325 ha năm 1991 lên 1.788 ha vào năm 2002; lồng bè nuôi cá tăng từ 602 cái lên 4.053 cái và nâng tổng sản lượng thuỷ sản từ 67.686 tấn lên 190.666 tấn, trong đó sản lượng nuôi từ 8.180 tấn lên 111.462 tấn Năm 1999 sau hơn một năm triển khai thực hiện Đề án chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát

triển thuỷ sản, toàn tỉnh lợi nhuận hơn 60 tỷ đồng” [3,84]

● Thị trường đầu ra phải đủ lớn để có thể gia tăng sản lượng mà không làm tụt giá sản phẩm, từ đó ổn định hiệu quả sản xuất

Thị trường đầu ra của sản xuất ổn định là yếu tố quan trọng giúp cho sản xuất phát triển bền vững Ở thành phố Hồ chí Minh “việc tăng sản lượng tôm

sú từ 481 tấn năm 2000 lên 6.740 tấn năm 2003, tức tăng 14 lần chỉ có thể khả thi khi có thị trường tiêu thụ lớn và khá ổn định, làm ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó Cụ thể mặt hàng tôm sú của Việt Nam được tiêu thụ hết ở thành phố

Hồ Chí Minh và thị trường thế giới với dung lượng còn rất lớn Việc nuôi bò sữa của thành phố trong những năm qua cũng phát triển rất mạnh, từ 25.000 con năm 2000 đã tăng lên 49.190 con năm 2004, chiếm 60% tổng số dàn trong cả nước Không phải vì người dân thành phố tiêu thụ hết lượng sữa tươi

này hàng ngày, mà do Công ty Sữa Việt Nam mua hơn 80%” [21,43].

● Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, giữ vững ổn định tình hình chính trị và an ninh xã hội ở nông thôn

Tìm các hình thức hữu hiệu, để tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ

Trang 34

Đảng về kinh tế - xã hội Coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết của Đảng, pháp luật và các chính sách của Nhà nước Kiện toàn bộ máy cấp cơ sở, nhất là cấp xã Tăng cường phối hợp giữa chính quyền với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong quản lý, kiểm tra, kiểm sát các hoạt động kinh tế -

xã hội, đặc biệt trong việc huy động sức dân xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông

thôn [31,51].

1.3.3 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong tỉnh Thừa Thiên Huế

Kinh tế tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm qua tăng trưởng khá cao,

cơ cấu kinh tế từng bước chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong 5 năm 2001-2005 đạt gần 9,5% cao hơn 3,2% so với thời kỳ 1996-2000, cao hơn mức trung bình của cả nước 7,1%, bằng mức trung bình các tỉnh Bắc Trung Bộ 9,2% là thời kỳ có mức tăng trưởng khá cao, tương đối ổn định và có tính bền vững hơn so với các

thời kỳ trước [2,5].

Cơ cấu kinh tế công nghiệp - du lịch, dịch vụ - nông nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tỷ trọng giá trị công nghiệp xây dựng chiếm 34,5%, dịch vụ 43,7%, nông nghiệp còn 21,8% (năm

2000 tương ứng là: 30,9% - 45% - 24,1%) Các vùng, thành phần kinh tế tiếp tục phát triển, nhất là vùng gò đồi, ven biển, đầm phá và khu vực kinh tế dân doanh đã đóng góp 53%, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp gần 11% trong GDP; kinh tế nhà nước được chú trọng sắp xếp và đổi mới, giữ vị trí trọng yếu trong lĩnh vực công nghiệp - xây dựng Cơ cấu lao động chuyển dịch theo hướng tích cực Số hộ thuần nông còn 59,1%, công nghiệp 9,7% và dịch vụ 15,1%

Trang 35

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài FDI có chuyển biến, trong 5 năm đã cấp

22 giấy phép đầu tư với gần 51,4 triệu USD Viện trợ phát triển chính thức (ODA) có 55 dự án với tổng vốn 216,3 triệu USD, trong đó viện trợ không hoàn lại là 37,2 triệu USD vốn vay 142,2 triệu USD Viện trợ phi chính phủ (NGO) có 250 dự án với tổng số vốn 20 triệu USD

Ngành công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh toàn diện,hình thành các ngành kinh doanh mũi nhọn, đóng vai trò chủ đạo, động lực cho toàn bộ nền kinh tế Giá trị sản xuất tăng bình quân 15,9% năm; giải quyết việc làm cho hơn 31 nghìn lao động trực tiếp và hàng nghìn lao động gián tiếp Cơ cấu ngành chuyển biến tích cực So với năm 2000, công nghiệp chế biến khoáng sản tăng 6,5 lần, công nghiệp chế biến thực phẩm tăng 1,8 lần, công nghiệp vật liệu xây dựng tăng 1,9 lần Hình thành một số ngành và cơ sở công nghiệp mũi nhọn, có sản phẩm chủ lực như: xi măng, sợi, bia, vật liệu xây dựng Xây dựng mới một số nhà máy có công nghệ tiên tiến như men nền frit, gạch granite, sợi, gốm sứ Giahu, giỗ gia dụng, dăm gỗ… Đã khởi công xây dựng thuỷ điện Bình Điền, thuỷ điện Hương Điền, nhà máy xi măng Long Thọ II.Sản xuất tiểu thủ công nghiệp chuyển biến Đã hình thành một số cụm tiểu công nghiệp và làng nghề ở các huyện Phong Điền, Nam Đông, Hương Trà, Hương Thuỷ và thành phố Huế

Các ngành dịch vụ từng bước khai thác tiềm năng, lợi thế so sánh, xây dựng mạng lưới rộng khắp và đa dạng; tăng trưởng bình quân hằng năm 8,1%, tiếp tục chiếm tỷ trọng cao nhất trong GDP Cơ sở vật chất một số ngành dịch vụ như bưu chính - viễn thông ngân hàng, du lịch bảo hiểm, giao thông - vận tải được đầu tư hiện đại về công nghệ, mở rộng quy mô và có nhiều loại hình dịch vụ mới, mạng bưu chính viễn thông, internet phát triển nhanh, điểm bưu điện văn hoá xã tăng từ 45 (năm 2000) lên 105 điểm (năm 2005), 100% số xã có báo đọc hàng ngày và được trang bị điện thoại, số máy điện thoại đạt 11máy/100dân

Trang 36

Du lịch phát triển cả quy mô và chất lượng; sản phẩm du lịch từng bước

đa dạng Hoạt động tuyên truyền quảng bá, xúc tiến mở rộng thị trường được chú trọng, tiềm năng văn hoá và du lịch được phát huy, đặc biệt thành công của 4 kỳ Festival đã mở ra cơ hội thúc đẩy phát triển du lịch và dịch vụ Hoạt động du lịch của nhân dân được mở rộng nhiều hình thức như du lịch nhà vườn, du lịch sinh thái, lễ hội, gắn du lịch với khôi phục ngành nghề thủ công truyền thống Cơ sở vật chất kỹ thuật được tăng cường, nhiều khách sạn được nâng cấp, xây dựng mới; nhiều sản phẩm du lịch, đặc biệt là sản phẩm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng được chú trọng đầu tư và đưa vào khai thác như: khu du lịch Lăng Cô, nước nóng Mỹ An, Tân Mỹ, Thanh Tân, Thiên An, suối Voi, Nhị Hồ, Vườn quốc gia Bạch Mã… Tổng lượng khách du lịch hàng năm đạt trên 1,4 triệu người, tăng bình quân 13,4%/năm, doanh thu tăng 18,9%

- Nông nghiệp phát triển theo chiều hướng tích cực, có tiến bộ vượt bậc trong ứng dụng khoa học công nghệ mới về giống và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, làm năng suất tăng nhanh, hiệu quả sản xuất cao hơn trước, góp phần nâng cao giá trị sản lượng bình quân trên diện tích canh tác; từng bước đa dạng hoá ngành nghề trong nông thôn, nông nghiệp, tạo bước ngoặt quan trọng về nâng cao đời sống các tầng lớp dân cư, góp phần cơ bản giữ vững ổn định kinh tế - xã hội Giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 8,4%

- Chất lượng đàn gia súc được cải thiện qua chương trình sin hoá đàn bò

và nạc hoá đàn lợn; hình thành nhiều trang trại chăn nuôi Tích cực phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm, nhất là ngăn chặn dịch cúm gia cầm tái phát

- Về lâm nghiệp trồng mới 18 nghìn ha rừng tập trung và 8,8 nghìn ha rừng phân tán, khoanh nuôi tái sinh 6 nghìn ha; công tác quản lý và bảo vệ được tăng cường, cơ cấu rừng trồng bố trí hợp lý, phát triển bền vững môi trường sinh thái Kinh tế rừng từng bước trở thành nghề thu nhập chính của các huyện gò đồi, miền núi Độ che phủ của rừng từ 44,7% (năm 2000) lên 47,9% (năm 2005)

Trang 37

Ngành thuỷ sản có bước chuyến quan trọng, tỷ trọng nuôi trồng tăng từ 27,7% (năm 2000) lên 65,5% (năm 2005); khai thác giảm tương ứng từ 72,9% xuống 29,5% trong đó đánh bắt sông đầm từ 24% còn 17,2%, khai thác biển

từ 76% lên 82,8% trong tổng giá trị khai thác thuỷ sản Nuôi trồng thuỷ sản tăng nhanh cả diện tích, sản lượng và hiệu quả; phương thức và đối tượng nuôi ngày càng đa dạng Phong trào nuôi tôm được nhân dân tích cực hưởng ứng, năng suất tôm nuôi bình quân tăng từ 0,36 tấn/ha lên 1,06 tấn/ha, tăng 2,9 lần; sản lượng thu hoạch đạt 4.800 tấn, tăng 7,4 lần so với năm 2000 Hình thành một số khu nuôi tôm công nghiệp trên cát, bước đầu mang lại hiệu quả Giá trị bình quân 1ha mặt nước nuôi thuỷ sản tăng từ 13,6 triệu đồng lên

57 triệu đồng, trong đó nuôi thâm canh đạt 134 triệu đồng, nuôi cao triều trên cát 127 triệu đồng

Trang 38

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Phong Điền nằm về phía Bắc của tỉnh, cách thành phố Huế 30 km, phía Tây, Tây Bắc giáp huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị; phía Đông Bắc giáp biển Đông; phía Đông Nam giáp huyện Quảng Điền, Hương Trà; phía Nam giáp huyện A Lưới

Diện tích tự nhiên toàn huyện 95.375 ha, dân số năm 2005 là 106.106 người, chiếm 18,87% về diện tích và 9,35% về dân số so toàn tỉnh

Trang 39

Có quốc lộ 1A và tuyến đường sắt xuyên Việt chạy dọc theo chiều dài của huyện (17km) với 2 ga Hiền Sỹ và Phò Trạch tạo điều kiện hết sức thuận lợi trong việc giao lưu hàng hoá trên trục Bắc - Nam và trục hành lang kinh tế Đông - Tây trong tương lai

Huyện lỵ Phong Điền nằm ở trung tâm huyện, có địa hình cao ráo, không gian rộng rãi, với nhiều yếu tố thuận lợi để mở rộng, phát triển thành một đô thị có quy mô lớn cả về kết cấu hạ tầng, dân cư, công nghiệp-TTCN và thương mại dịch vụ

Vị trí địa lý của huyện là một thế mạnh tạo cho huyện những điều kiện thuận lợi để phát triển một nền sản xuất hàng hóa với những ngành mũi nhọn đặc thù, tuy nhiên là một trong những huyện ở xa trung tâm tỉnh (thành phố Huế) nên bộc lộ một số hạn chế, thách thức, đặt ra cho huyện nhiệm vụ hết sức nặng nề để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội phải mở rộng liên kết kinh tế trong tỉnh, trong vùng, đưa nền kinh tế huyện nhanh chóng hòa nhập theo xu thế chung, không bị tụt hậu so với toàn tỉnh

2.1.1.2 Địa hình

Huyện Phong Điền là một dải đất hẹp được giới hạn bởi hai con sông lớn

là sông Ô Lâu ở phía Bắc và sông Bồ ở phía Nam, bề dài của huyện (tính dọc theo quốc lộ 1A) chỉ 15 km, trong khi đó bề ngang (tính từ núi xuống biển) rộng 48 km, với đầy đủ các dạng địa hình rừng núi, gò đồi, đồng bằng duyên hải, đầm phá và biển Địa hình thấp dần từ Tây sang Đông, đơn giản và ít bị chia cắt, phần phía Tây của huyện chủ yếu là núi đồi với hơn 60 nghìn ha rừng tự nhiên, tiếp đến là các lưu vực sông Bồ, sông Ô Lâu, tạo nên các bồn địa trũng với vùng đồng bằng và các dải cát nội đông khá bằng phẳng

Căn cứ vào các đặc điểm địa hình có thể phân chia huyện Phong Điền thành ba vùng chủ yếu như sau:

Trang 40

Vùng đồi núi

Bao gồm các xã Phong Mỹ, Phong Xuân, Phong Sơn với tổng diện tích tự nhiên 66,7 nghìn ha chiếm 69,9% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện Địa hình thấp dần từ Tây Nam xuống Đông Bắc Là khu vực đầu nguồn sông Bồ, sông Ô lâu nên thảm thực vật có ảnh hưởng lớn đến khu vực hạ lưu Diện tích đất lâm nghiệp có rừng hiện tại là 29,6 nghìn ha, chiếm 82,1% diện tích đất có rừng Diện tích đất trống, đồi núi trọc chưa sử dụng là 31,4 nghìn ha, chiếm 98,8% diện tích đất đồi núi chưa sử dụng Đây là khu vực có nhiều tiềm năng phát triển nông lâm nghiệp của huyện, đặc biệt là các loại cây công nghiệp dài ngày, nhưng đến nay vẫn chưa được triển khai tổ chức thực hiện có hiệu quả.Khó khăn của vùng này trong sản xuất nông lâm nghiệp là khô hạn trong mùa khô và xói mòn, rữa trôi mạnh trong mùa mưa

Vùng đồng bằng ở giữa

Bao gồm các xã: Phong Hoà, Phong Bình, Phong Chương, Phong Hiền, Phong An, Phong Thu và thị trấn Phong Điền Tổng diện tích tự nhiên toàn vùng là 20,7 nghìn ha, chiếm 21,7% diện tích toàn huyện Là vùng có tiềm năng phát triển toàn diện các ngành kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp-TTCN, dịch vụ Đất đai tương đối trù phú, địa hình bằng phẳng phần lớn là đất phù sa

do sông Bồ và sông Ô Lâu bồi đắp hàng năm, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là lúa nước và các loại cây ngắn ngày Trong vùng còn có 5.600 ha đất bằng chưa sử dụng, chủ yếu là đất cát nội đồng, có nhiều khả năng đưa vào sản xuất các loại cây công nghiệp ngắn ngày, rau đậu đỗ và trồng rừng nguyên liệu

● Vùng ven biển

Bao gồm các xã vùng ngũ điền Có diện tích tự nhiên 8 nghìn ha, chiếm 8,4% diện tích tự nhiên, phần lớn diện tích là đất cát, có 2,6 nghìn ha đất bằng chưa sử dụng, nhưng ít có khả năng sử dụng vào sản xuất nông nghiệp mà chủ

Ngày đăng: 09/08/2013, 16:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2002), Một số vấn đề về lý luận, phương pháp luận phương pháp xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về lý luận, phương pháp luận phương pháp xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế Việt Nam
Tác giả: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
3. Ban chấp hành đảng bộ huyện Phong Điền (2006), Báo cáo chính trị của Ban chấp hành đảng bộ huyện Phong Điền nhiệm kỳ 2006 - 2010, Phong Điền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành đảng bộ huyện Phong Điền nhiệm kỳ 2006 - 2010
Tác giả: Ban chấp hành đảng bộ huyện Phong Điền
Năm: 2006
4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005), WTO và ngành Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: WTO và ngành Nông nghiệp Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2005
5. Nguyễn Văn Chiến (2002), Hải Dương đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn, Tạp chí Cộng sản (số 13) tháng 5 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải Dương đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Năm: 2002
8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1994
9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
12. Nguyễn Điền (1997), Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn các nước Châu Á và Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn các nước Châu Á và Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Điền
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
13. Nguyễn Xuân Dũng (2002), Một số định hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010, NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số định hướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010
Tác giả: Nguyễn Xuân Dũng
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2002
14. T.S Ngô Đình Giao (1994), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, tập 2 , NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, tập 2
Tác giả: T.S Ngô Đình Giao
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 1994
15. T.S Quyền Đình Hà (2005), Giáo trình phát triển nông thôn, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình phát triển nông thôn
Tác giả: T.S Quyền Đình Hà
Năm: 2005
16. Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Đình Kháng, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Nguyễn Văn Luân, Nguyễn Xuân Khoát (2004), Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lê nin, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lê nin
Tác giả: Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Đình Kháng, Nguyễn Thị Thanh Huyền, Nguyễn Văn Luân, Nguyễn Xuân Khoát
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
17. Lê Phú Hội (2005), Bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở An Giang, Tạp chí cộng sản số 4,5 tháng 2 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở An Giang
Tác giả: Lê Phú Hội
Năm: 2005
18. T.S Nguyễn Thị Bích Hường (2005), Chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: T.S Nguyễn Thị Bích Hường
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
19. Lê Thị Phương Mai (2003), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Hà Tây, Tạp chí Cộng sản số 7 tháng 3 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở tỉnh Hà Tây
Tác giả: Lê Thị Phương Mai
Năm: 2003
20. Đỗ Hoài Nam (1996), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm mũi nhọn ở Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và phát triển các ngành trọng điểm mũi nhọn ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Hoài Nam
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 1996
21. Nguyễn Thiện Nhân (2005), Bốn bài học về chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của thànhphố Hồ chí Minh, Tạp chí Cộng sản số 18 tháng 9 năm 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bốn bài học về chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp của thànhphố Hồ chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thiện Nhân
Năm: 2005
22. T.S Nguyễn Văn Phát (2005), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Thừa Thiên Huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đề tài cấp Bộ, trường Đại học Kinh tế Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Thừa Thiên Huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: T.S Nguyễn Văn Phát
Năm: 2005
31. Trương Kim Sơn (2002), Hải Dương phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá, Tạp chí Cộng sản số 8 tháng 3 năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hải Dương phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hoá,hiện đại hoá
Tác giả: Trương Kim Sơn
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.  Dân số huyện Phong điền thời kỳ 2000-2005 - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện phong điền tỉnh thừa thiên huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Bảng 2.1. Dân số huyện Phong điền thời kỳ 2000-2005 (Trang 47)
Bảng 2.2. Cơ cấu lao động theo ngành huyện phong điền 2000-2005 - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện phong điền tỉnh thừa thiên huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Bảng 2.2. Cơ cấu lao động theo ngành huyện phong điền 2000-2005 (Trang 48)
Bảng 2.3. Diện tích các loại đất huyện Phong Điền năm 2005 - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện phong điền tỉnh thừa thiên huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Bảng 2.3. Diện tích các loại đất huyện Phong Điền năm 2005 (Trang 49)
Bảng 2.4. Chiều dài các tuyến đường trên địa bàn Huyện - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện phong điền tỉnh thừa thiên huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Bảng 2.4. Chiều dài các tuyến đường trên địa bàn Huyện (Trang 50)
Bảng 3.1.  So sánh tốc độ tăng trưởng GDP huyện Phong Điền với toàn  tỉnh thời kỳ 2000-2005 - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện phong điền tỉnh thừa thiên huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Bảng 3.1. So sánh tốc độ tăng trưởng GDP huyện Phong Điền với toàn tỉnh thời kỳ 2000-2005 (Trang 63)
Bảng 3.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo nhóm ngành kinh tế ở                  huyện phong điền thời kỳ 2000-2005 (theo giá cố định 94) - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện phong điền tỉnh thừa thiên huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Bảng 3.3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo nhóm ngành kinh tế ở huyện phong điền thời kỳ 2000-2005 (theo giá cố định 94) (Trang 65)
Bảng 3.4. Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất (GO) nhóm ngành nông,   lâm, ngư nghiệp huyện Phong Điền thời kỳ 2000-2005 (giá cố định 94) - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện phong điền tỉnh thừa thiên huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Bảng 3.4. Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất (GO) nhóm ngành nông, lâm, ngư nghiệp huyện Phong Điền thời kỳ 2000-2005 (giá cố định 94) (Trang 66)
Bảng 3.5.  Chuyển dịch cơ cấu giá trị gia tăng (VA) nhóm ngành nông,   lâm, ngư nghiệp huyện Phong Điền thời kỳ 2000-2005 (giá cố định 94) - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện phong điền tỉnh thừa thiên huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Bảng 3.5. Chuyển dịch cơ cấu giá trị gia tăng (VA) nhóm ngành nông, lâm, ngư nghiệp huyện Phong Điền thời kỳ 2000-2005 (giá cố định 94) (Trang 67)
Bảng 3.8.  Cơ cấu diện  tích gieo trồng các loại cây trồng                      ở huyện Phong Điền  thời kỳ 2000-2005 - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện phong điền tỉnh thừa thiên huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Bảng 3.8. Cơ cấu diện tích gieo trồng các loại cây trồng ở huyện Phong Điền thời kỳ 2000-2005 (Trang 71)
Bảng  3.10.  Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất (GO) nhóm ngành               lâm nghiệp huyện Phong Điền thời kỳ 2000-2005 (giá cố định 94) - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện phong điền tỉnh thừa thiên huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
ng 3.10. Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất (GO) nhóm ngành lâm nghiệp huyện Phong Điền thời kỳ 2000-2005 (giá cố định 94) (Trang 73)
Bảng  3.16. Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất (GO) ngành công nghiệp          chế biến huyện Phong Điền thời kỳ 2000-2005 (giá cố định 94) - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện phong điền tỉnh thừa thiên huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
ng 3.16. Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất (GO) ngành công nghiệp chế biến huyện Phong Điền thời kỳ 2000-2005 (giá cố định 94) (Trang 81)
Bảng 3.18.  Hiệu quả kinh tế của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành                       huyện Phong Điền thời kỳ 2000-2005 (giá cố định 94) - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện phong điền tỉnh thừa thiên huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Bảng 3.18. Hiệu quả kinh tế của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành huyện Phong Điền thời kỳ 2000-2005 (giá cố định 94) (Trang 84)
Bảng 3.19. Hiệu quả sử dụng đất của huyện Phong Điền thời kỳ 2000-2005 - Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở huyện phong điền tỉnh thừa thiên huế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa
Bảng 3.19. Hiệu quả sử dụng đất của huyện Phong Điền thời kỳ 2000-2005 (Trang 85)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w