1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở hải phòng hiện nay

166 196 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 166
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và đánh giá đúng thực trạng vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở thành phố Hải Phòng trê

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI -

NGUYỄN THỊ THU LAN

PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ NHẬN THỨC TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN CAO ĐẲNG,

ĐẠI HỌC Ở HẢI PHÒNG HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

Hà Nội - 2018

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI -

NGUYỄN THỊ THU LAN

PHÁT HUY VAI TRÒ CHỦ THỂ NHẬN THỨC TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN CAO ĐẲNG,

ĐẠI HỌC Ở HẢI PHÒNG HIỆN NAY

Ngành: CNDVBC&CNDVLS

Mã số : 9 22 90 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS DƯƠNG XUÂN NGỌC

Hà Nội, năm 2018

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ÐẾN ÐỀ TÀI LUẬN ÁN 7

1.1 Nhóm công trình nghiên cứu cơ sở lý luận về vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên các trường cao đẳng, đại học 7

1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu thực trạng và những vấn đề đặt ra về vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Hải Phòng 16

1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về giải pháp phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Hải Phòng 24

1.4 Đánh giá những giá trị của các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề luận án cần tiếp tục nghiên cứu 36

Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CHỦ THỂ NHẬN THỨC TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG HIỆN NAY 41

2.1 Quan niệm về chủ thể và khách thể nhận thức 41

2.1.1 Quan niệm về chủ thể nhận thức 41

2.1.2 Quan niệm khách thể nhận thức 46

2.1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách thể nhận thức 47

2.2 Sinh viên - chủ thể nhận thức và vai trò của nó 48

2.2.1 Sinh viên – chủ thể nhận thức 48

2.2.2 Vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên trong học tập 57

2.3 Những nhân tố tác động đến vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên 73

2.3.1 Nhà trường 73

2.3.2 Gia đình 81

Trang 4

2.3.3.Bản thân 82

Chương 3: VAI TRÕ CHỦ THỂ NHẬN THỨC TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG Ở HẢI PHÕNG – THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 86

3.1 Khái quát chung về giáo dục đại học ở Hải Phòng 86 3.1.1 Khái lược về Hải Phòng và các trường cao đẳng, đại học ở Hải Phòng 86 3.1.2 Những nét đặc thù của sinh viên cao đẳng, đại học ở Hải Phòng - chủ thể nhận thức trong học tập 92 3.2 Thực trạng về vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên đại học, cao đẳng ở Hải Phòng 98 3.2.1 Thực trạng vai trò chủ thể nhận thức trong học tập tiếp thu tri thức 98 3.2.2 Thực trạng vai trò chủ thể nhận thức trong học tập vận dụng tri thức vào giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra, trong đó có vấn đề học tập 102 3.2.3 Thực trạng vai trò chủ thể nhận thức trong học tập góp phần hình thành tri thức mới do kết quả vận dụng tri thức vào giải quyết những vấn

đề thực tiễn đặt ra và tham gia hoạt động tổng kết thực tiễn 108 3.3 Những vấn đề đặt ra về vai trò chủ thể nhận thức học tập của sinh viên ở Hải Phòng 110

Chương 4: GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÕ CHỦ THỂ NHẬN THỨC TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN CAO ÐẲNG, ÐẠI HỌC Ở HẢI PHÕNG HIỆN NAY 120

4.1 Đổi mới công tác giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh trên tất cả các phương diện, trong tiếp thu tri thức, trong vận dụng và sáng tạo tri thức mới 120 4.2 Đổi mới chương trình đào tạo, nội dung giáo trình, phương pháp giảng dạy - học tập và phương pháp kiểm tra, đánh giá tạo thuận lợi cho sinh viên phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập 122

Trang 5

4.3 Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách tạo động lực phát huy vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên trong học tập 130 4.4 Huy động nguồn lực tổng hợp, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên học tập, nghiên cứu, vận dụng và sáng tạo tri thức mới 133 4.5 Nêu cao ý thức tự lực, tự cường, chủ động dấn thân, năng động và sáng tạo của sinh viên trong học tập vì ngày mai tươi sáng 141

KẾT LUẬN 145 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 147 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 149

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1 Danh sách các trường cao đẳng, đại học ở Hải Phòng 91

Bảng 3.2 Động cơ thi vào trường của sinh viên cao đẳng, đại học ở Hải Phòng 99

Bảng 3.3 Nhận thức về mức độ tự tu dưỡng, tự rèn luyện của sinh viên 101

Bảng 3.4 Nhận thức của sinh viên về hoạt động NCKH 104

Bảng 3.5 Thái độ của sinh viên đối với hoạt động NCKH 105

Bảng 3.6 Thái độ của sinh viên đối với nghề theo học 107

Bảng 3.7 Hình thức tổ chức thực hiện một giờ tín chỉ 112

Bảng 4.1 Đánh giá ý thức, thái độ của sinh viên tham gia Xêmina các môn Lý luận Chính trị và Pháp luật ở trường Đại học Hải Phòng, Cao đẳng Cộng đồng (số phiếu 639) 127

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và phát triển nền kinh tế tri thức hiện nay, chất lượng giáo dục đại học quyết định chất lượng phát triển bền vững của mỗi quốc gia Bởi lẽ, giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng tạo

ra nguồn nhân lực chất lượng cao, nguồn vốn đặc biệt cho xã hội phát triển Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng chất lượng giáo dục đại học, Đại hội IX của Đảng (4- 2001) khẳng định: "Phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo đại học theo hướng đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tư duy sáng tạo và năng lực tự đào tạo của người học, coi trọng thực hành, thực nghiệm, ngoại khoá, làm chủ kiến thức, tránh nhồi nhét, học vẹt, học chay" [25, tr 203-204] Đồng thời, giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học ghi rõ trong Luật giáo dục, năm 2005: “Phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức

tự giác trong học tập, năng lực tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng” [84, tr 35]

Hải Phòng là thành phố cảng, công nghiệp, thương mại và dịch vụ du lịch lớn ở miền Bắc nước ta, một đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống giao thông đa dạng, gồm: đường thuỷ, đường bộ, đường sắt, hàng không nối liền các tỉnh trong nước và quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc Điều kiện tự nhiên đó tạo thuận lợi cho Hải Phòng phát triển đa dạng các trường cao đẳng, đại học, cung cấp nguồn lực con người đủ

số lượng, đảm bảo chất lượng đáp ứng yêu cầu của thành phố và đất nước Trong thời kỳ đổi mới, cùng với cả nước, giáo dục đại học ở Hải Phòng đạt thành tựu to lớn về quy mô, chất lượng, hiệu quả Đến năm 2009, Hải Phòng có 20 trường cao đẳng, đại học với gần 300.000 sinh viên Hàng năm, giáo dục đại học Hải Phòng cung cấp cho thành phố và đất nước gần 70.000 cử

Trang 8

nhân, kỹ sư, đồng thời bồi dưỡng và nâng cao kiến thức cho hàng vạn cán bộ quản lý cấp cơ sở đáp ứng tốt nhu cầu của thực tiễn [10]

Tuy nhiên, giáo dục đại học Hải Phòng trong những năm qua còn nhiều hạn chế, đó là: quy mô đào tạo được mở rộng nhưng chất lượng đào tạo giảm sút do nhiều trường chú trọng dạy chữ, dạy nghề mà ít quan tâm dạy người; việc triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ của các trường đang trong giai đoạn đầu, gặp nhiều khó khăn, bất cập; nội dung, quy trình đào tạo lạc hậu, chỉ coi trọng cung cấp tri thức hàn lâm, coi nhẹ kỹ thuật thực hành Phương pháp dạy học của giảng viên chủ yếu là thuyết trình, “thầy nói- trò nghe, thầy đọc- trò chép”; chưa chú trọng giáo dục kỹ năng sống, phát huy tính sáng tạo, tính tích cực tự học, năng lực thực hành, thực tế của sinh viên; sinh viên chủ yếu học thụ động, ỷ lại vào thầy Trong thi cử còn tồn tại một phận sinh viên vi phạm quy chế: quay cóp, chạy điểm, còn hiện tượng sử dụng văn bằng giả

Quán triệt quan điểm Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1996) là “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo” [24, tr 42]; quan điểm Đại hội XII của Đảng: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học: yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả Từng bước hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục, đào tạo gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất, chất lượng; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động và sử dụng hiệu quả

Trang 9

mọi nguồn lực đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo Phấn đấu đến năm

2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.” [31, tr.77] Đảng bộ thành phố Hải Phòng chủ trương “Đổi mới mạnh mẽ, phát triển toàn diện giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực…” [95, tr 18] Đối với giáo dục đại học, các trường cao đẳng, đại học Hải Phòng dần chuyển đổi hình thức đào tạo niên chế sang tín chỉ Đào tạo theo hình thức tín chỉ khi thời lượng giảng dạy trên lớp rút ngắn, thời gian tự học của sinh viên tăng lên đòi hỏi người dạy phải có cách thức đào tạo phù hợp với cấu trúc chương trình

và hình thức đào tạo mới, chuyển mạnh từ chủ yếu truyền thụ kiến thức một chiều sang phát huy năng lực và phẩm chất người học Đặc biệt, đối với sinh viên phải có cách học, cách nghiên cứu khoa học theo hướng chủ động, tích cực, sáng tạo để nắm bắt tri thức của các môn học, vận dụng kiến thức vào cuộc sống, nâng cao hiệu quả hoạt động thực tiễn

Trước những đòi hỏi cấp thiết trong thực tiễn chất lượng giáo dục đại học Hải Phòng, lại được sinh ra và lớn lên ở Hải Phòng, hàng ngày trực tiếp giảng dạy,

công tác trong ngành giáo dục đã thôi thúc tác giả chọn đề tài “Phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở Hải Phòng hiện nay” làm luận án tiến sĩ triết học, chuyên ngành triết học duy vật biện chứng

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận và đánh giá đúng thực trạng vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở thành phố Hải Phòng trên ba phương diện: tiếp thu tri thức, vận dụng tri thức

và góp phần sáng tạo tri thức mới, luận án đề xuất một số giải pháp đồng bộ, hiệu quả, có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận án tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

Trang 10

- Tổng quan các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án Chỉ rõ những kết quả chính đã thực hiện, những nội dung luận án tiếp tục nghiên cứu

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học với tư cách là chủ thể nhận thức trong tiếp thu tri thức, trong vận dụng tri thức và trong góp phần sáng tạo tri thức mới

- Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên ở thành phố Hải Phòng và khái quát những vấn đề đặt ra từ thực trạng đó

- Đề xuất những giải nhằm phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập

của sinh viên cao đẳng, đại học ở thành phố Hải Phòng trong những năm tới

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Luận án xác định đối tượng nghiên cứu là: Vai trò chủ thể nhận thức

trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở thành phố Hải Phòng với tư

cách là chủ thể nhận thức trong tiếp thu tri thức, trong vận dụng tri thức và trong góp phần sáng tạo tri thức mới

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi nội dung:

Do tính trừu tượng và phức tạp của đề tài luận án, bởi vậy, tác giả giới

hạn phạm vi nội dung nghiên cứu: Vai trò chủ thể nhận thức trong học tập

của sinh viên cao đẳng, đại học ở thành phố Hải Phòng, từ đó đề xuất giải

pháp phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học trong tiếp thu tri thức, trong vận dụng tri thức và trong góp phần sáng tạo tri thức mới

- Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu vai trò chủ thể nhận thức

trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở Hải Phòng

- Phạm vi về thời gian: Luận án nghiên cứu vấn đề nâng cao vai trò chủ

thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở Hải Phòng từ năm 2011 đến nay (Từ Đại hội Đảng XI đến nay)

Trang 11

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục, giáo dục đại học, về vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên trong học tập

Luận án cũng kế thừa kết quả nghiên cứu có giá trị của các nhà khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

- Phương pháp lôgíc - lịch sử

Phương pháp lôgíc - lịch sử giúp khai thác các dữ kiện, hoàn cảnh thông

tin khoa học, tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Nhờ đó, có thể tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu, khái quát quy luật chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên, phát hiện những vấn đề đặt ra và các giải pháp giải

quyết những vấn đề đó Phương pháp lôgíc - lịch sử đặt ra yêu cầu nghiên cứu

về vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên theo lôgic: Chủ thể nhận thức trong tiếp thu tri thức, chủ thể nhận thức trong vận dụng tri thức và chủ thể nhận thức trong góp phần sáng tạo tri thức theo trình tự chương trình đào tạo từ năm thứ nhất đến năm cuối (lịch sử)

- Phương pháp điều tra xã hội học được vận dụng trong xây dựng phiếu

điều tra, thu thập tư liệu, số liệu phục vụ quá trình nghiên cứu

- Phương pháp phân tích và tổng hợp dùng để khái quát những tư liệu,

tài liệu tham khảo để tạo cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu, đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu, rút ra những kết luận khoa học mới

- Phương pháp thống kê, so sánh trong xử lý những tư liệu, số liệu thu

thập làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu

Trang 12

5 Đóng góp mới của luận án

- Làm rõ một số vấn đề lý luận về chủ thể nhận thức, vai trò chủ thể nhận thức, phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên: chủ thể nhận thức trong tiếp thu, vận dụng và góp phần sáng tạo tri thức mới

- Chỉ ra những nhân tố tác động đến việc phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở Hải Phòng hiện nay

- Luận án phát hiện những vấn đề nẩy sinh về vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên Hải Phòng

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên ở thành phố Hải Phòng trong những năm tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về chủ thể nhận thức, vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên: chủ thể nhận thức trong tiếp thu, vận dụng và góp phần sáng tạo tri thức mới ở Hải Phòng hiện nay

- Đề ra những giải pháp phát huy vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên trong học tập, trên cơ sở đó góp phần thiết thực về cải tiến và đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập ở các trường cao đẳng, đại học ở nước ta hiện nay

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể phục vụ cho học tập, đào tạo và nghiên cứu về vai trò của sinh viên với tư cách là chủ thể nhận thức trong học tập tiếp thu tri thức, vận dụng và sáng tạo tri thức mới

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 14 tiết

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Một số vấn đề lý luận về vai trò chủ thể nhận thức trong học

tập của sinh viên cao đẳng, đại học ở Hải Phòng

Chương 3: Vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên cao

đẳng, đại học ở Hải Phòng - thực trạng và vấn đề đặt ra

Chương 4: Giải pháp phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập

của sinh viên cao đẳng, đại học ở Hải Phòng trong những năm tới

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ÐẾN

đã phát triển trở thành quan điểm trong giáo dục hiện đại ngày nay

Ở Phương Tây cổ đại, các nhà triết học nổi tiếng có những quan điểm tiến bộ về giáo dục như: Hêraclitus (Hy Lạp, 535- 475 trước Công nguyên), Socrate (Hy Lạp, 469- 399 trước Công nguyên), Platon (Hy Lạp, 427- 347 trước Công nguyên), Aristote (Hy Lạp, 384- 322 trước Công nguyên)… đều hướng đến nâng cao hiệu quả giáo dục thông qua phương pháp giảng dạy tích cực Đặc biệt, Hêraclitus đánh giá rất cao vai trò của giáo dục là phải soi sáng để người học tự chọn, rồi tự bước đi, nghĩa là người học phải biết tự học Ông khẳng định: “thực chất giáo dục là thắp lên một ngọn đuốc để soi sáng cho người học nhận ra những con đường, tự mình chọn lấy cho mình một con đường, rồi tự bước đi trên con đường đã chọn, dưới ánh sáng của ngọn đuốc ấy” [82, tr.112] Cùng quan điểm với Hêraclitus, nhà triết học cổ đại Hy Lạp Socrate nhấn mạnh đến vai trò của nội lực ở người học với phương châm: hỡi con người, hãy tự biết mình Theo quan điểm của Socrate, mục đích của giáo dục không phải là cách làm cho con người ra khỏi đám đông, càng không phải làm cho người ấy mất hút trong đám đông “mục đích của giáo dục là làm cho con người nhận ra chính mình giữa đám đông” [82, tr 54] Để giúp người học

tự bộc lộ, ông đề ra phương pháp đỡ đẻ tinh thần, thường gọi là phương pháp Socrate

Trang 14

Theo Platon, mọi người đều phải học và học đến nơi đến chốn Để học hành đến nơi đến chốn thì con đường chủ yếu vẫn là tự học, tự học thường xuyên và tự học lâu dài Aristote cũng có phương pháp giáo dục đặc biệt nhấn mạnh tính độc lập ở người học Đó là, người dạy đặt câu hỏi để người học tự tìm ra kết luận, phát hiện “chân lý” Ông đã phê phán con đường mà Platon đang đi Để trả lời những người kết tội mình, ông nói: Platon là người thầy quan trọng, rất quan trọng đối với tôi Song chân lý còn quan trọng hơn cả Platon Quan điểm trong dạy học của Aristote là: phải có một tinh thần độc lập suy nghĩ, một ý thức tự tin, tự khẳng định và bộc lộ cao độ mới có thể tự mình tìm một lối đi riêng của mình, nếu thiếu ý thức tự học thì việc dạy sẽ không thể có kết quả [82]

Ở phương Đông, Khổng Tử (551- 479 TCN) dành một cuộc đời 50 năm dạy học, gắn bó với học trò và có nhiều quan niệm sâu sắc về giáo dục Thừa nhận có mệnh trời (Thiên mệnh), thiên mệnh chi phối cuộc sống của người và vạn vật, song theo Khổng Tử, con người có giáo dục, tự giáo dục có thể cải thiện được mệnh trời Trong giáo dục, Khổng Tử sử dụng hệ thống các phương pháp phong phú, linh hoạt, sinh động, trong đó ông dùng phương pháp gợi mở, kích thích suy nghĩ của người học, đối thoại giữa thầy và trò nhằm phát huy năng lực tư duy độc lập, sáng tạo của người học Ông không đặt ra câu hỏi cho học trò trước mà đòi hỏi học trò phải chủ động đặt câu hỏi trước: “nếu học trò không tự đặt câu hỏi trước, Khổng Tử sẽ không dạy”[82, tr.58] Phương châm dạy học của Khổng Tử là: “Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng vui mà học” [82, tr.59] Điều này rất phù hợp với phương pháp tạo động cơ trong học tập, gây hứng thú cho người học trong dạy học hiện đại

Quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm, coi trọng chủ thể nhận thức người học của Commeski được các nhà giáo dục như: Jean Jacques Rousseau (1712- 1778) , Pestalozi (1746-1827), Disterver (1790-1886),

Trang 15

Usinski (1824-1890), J Dewey (1859-1952)… kế thừa, phát triển thành tư tưởng lớn về giáo dục “giáo dục tự do” Trong tư tưởng về giáo dục tự do có học

thuyết “lấy đứa trẻ làm trung tâm” với ý tưởng “đừng cho trẻ em khoa học, mà

phải để trẻ tự phát minh”[82, tr.19] Các nhà giáo dục này đều hướng việc phát

huy những tiềm năng trong cá nhân con người, nhấn mạnh phương pháp học tích cực: tự học, tìm tòi, khám phá, nỗ lực của bản thân để dành lấy tri thức

Bàn về chủ thể nhận thức trong học tập, tác giả I.F Kharlamop viết cuốn:

Phát huy tính tính cực học tập của học sinh như thế nào (1978), tập I, II, NXB

Giáo dục, Hà Nội Nội dung các tập cuốn sách đều khẳng định: “tự học có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao tính tích cực nhận thức và hiệu quả cho hoạt động trí tuệ của học sinh” [55, tr 32] Để phát huy tính tích cực học tập của học sinh, tác giả cuốn sách cho rằng giáo viên phải vận dụng vốn hiểu biết, kinh nghiệm của từng học sinh và cả tập thể lớp để xây dựng bài học và thiết kế giáo án kiểu phân nhánh Những dự kiến của giáo viên về hoạt động của người học và cách tổ chức các hoạt động đó Tuỳ theo diễn biến các hoạt động của người học trên lớp để giáo viên có thể linh hoạt điều chỉnh giờ học phân hóa theo trình độ và năng lực của người học, tạo điều kiện để bộc lộ và phát triển tiềm năng của mỗi cá nhân trong lớp Thông qua các tập của cuốn sách, I.F Kharlamop khẳng định cách dạy tích cực, chủ động của giáo viên sẽ

là động lực phát huy tính tích cực chủ động của học sinh góp phần nâng cao hiệu quả trong giáo dục

Năm 1994, Raja Roy Singh - nhà giáo dục người Ấn Độ, trong cuốn

sách Giáo dục thế kỷ XX: Những triển vọng của châu Á Thái Bình Dương -

nghiên cứu vai trò tự học của người học và đề cao vai trò chuyên gia cố vấn của người thầy trong học tập thường xuyên và học tập suốt đời, hình thành và phát huy năng lực tự học của người học [86, tr.54] Người học được đặt ở vị trí trung tâm của hệ giáo dục, vừa là mục đích lại vừa là chủ thể của quá trình học tập Theo tác giả, khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong thế kỷ XXI là

Trang 16

khu vực năng động nhất thế giới về kinh tế và tiềm năng phát triển Tuy nhiên, động lực phát triển khu vực này phụ thuộc trực tiếp vào giáo dục, thành quả của giáo dục trong thế kỷ XXI Do đó, việc đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại: phát huy vai trò tự học của người học, vai trò cố vấn của người thầy, học tập suốt đời… là những yếu tố giúp giáo dục phát triển và

là triển vọng to lớn khu vực châu Á Thái Bình Dương

Năm 2001, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội xuất bản cuốn Tự học của

sinh viên, đồng chủ biên Hoàng Anh và Đỗ Thị Châu về chủ thể nghiên cứu,

học tập của sinh viên Theo các tác giả cuốn sách: Quá trình dạy học thành công của giáo viên có quan hệ biện chứng với quá trình tự học của sinh viên

Vì vậy, thước đo hiệu quả của phương pháp dạy học là kết quả của tự học

“cốt lõi của học tự học và khi xem xét đến mối quan hệ giữa dạy và học thì dạy chỉ là ngoại lực, còn tự học là nhân tố quyết định đến bản thân người học

- nội lực” [1, tr 99] Nhưng quá trình dạy cũng có ý nghĩa rất lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học Do vậy, trò là chủ thể, trung tâm, tự mình chiếm lĩnh tri thức, chân lý bằng hành động của mình, tự phát triển bên trong Thầy là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học Người thầy giỏi là người dạy cho trò nâng cao năng lực tự nhận thức tự học Người trò giỏi là người từ năng lực được nhận thức biết tự học sáng tạo suốt đời

Công trình Tự học như thế nào của tác giả N.A.Rubakin, NXB Thanh

niên, 2004 - khẳng định vai trò tự học góp phần nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ, chủ động trong việc lập kế hoạch ngay từ đầu cho cả chương trình học tập Từ cách đặt vấn đề: thế nào là người có học thức, tác giả phân tích rõ mối liên hệ giữa việc tự học và đặc tính riêng của từng người Theo tác giả, tự học tốt nhất là đọc sách, nhưng đọc sách phải như thế nào, chọn sách

ra sao Đó là những câu hỏi, mà cũng là câu trả lời mà qua đó tác giả giúp người đọc những kinh nghiệm để tự học hiệu quả Tác giả cho rằng: Quá trình nắm kiến thức mới không thể tiến hành bằng việc học thụ động, học thuộc các

Trang 17

quy tắc, các kết luận và khái quát hóa Nó được xây dựng trên cơ sở đổi mới phương pháp học tập của người học xuất phát từ yêu cầu, điều kiện học tập tích cực để xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập Tác giả kết luận: chỉ bằng con đường tự học và phát huy tính tích cực của người học, tăng cường nghiên cứu, làm việc với tài liệu, dạy học nêu vấn đề và giải quyết vấn đề, cải tiến công tác tự học, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá… mới nâng cao hiệu quả học tập Do đó, phải coi trọng hoạt động độc lập hoặc theo nhóm (thảo luận, làm thí nghiệm, quan sát vật mẫu, phân tích bảng số liệu…) qua đó người học vừa được trang bị tri thức, kĩ năng mới vừa rèn luyện phương pháp

tự học, tự nghiên cứu [87]

Cùng với xu thế phát triển của thời đại, các nhà giáo dục ở các nước phát triển còn đi sâu nghiên cứu để tối ưu hóa việc học, họ đánh giá cao vai trò tự nhận thức trong việc học của học sinh, sinh viên Với hướng nghiên cứu này, các nhà giáo dục học có nhiều đóng góp cơ sở lý luận về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy vai trò tự nhận thức của sinh viên Tiêu biểu trong lĩnh vực này là các nhà khoa học về giáo dục như: Smit - Man Hetboc,Sharma, R Ahmed… đều khẳng định tầm quan trọng của tự học trong

xã hội cạnh tranh, thời đại bùng nổ công nghệ thông tin và tri thức khoa học như hiện nay [88], [90]

Như vậy, nghiên cứu về nhận thức và vai trò chủ thể nhận thức của người học đã được các nhà giáo dục thế giới từ thời kỳ cổ đại đến nay quan tâm Dù cho các cách tiếp cận phương pháp nghiên cứu về giáo dục khác nhau, các nhà

giáo dục nổi tiếng trên thế giới đều thống nhất vai trò quan trọng chủ thể nhận

thức của người học để tiếp cận, lĩnh hội tri thức hình thành nhân cách, đồng thời

các quan điểm tiến bộ về giáo dục từ thời cổ đại là cơ sở quan trọng về đổi mới phương pháp dạy và học trong giáo dục đại học hiện nay

Tác giả Nguyễn Kỳ tiếp tục chủ đề vai trò chủ thể nhận thức trong học

tập của người học nhưng với góc nhìn cụ thể được nêu trong cuốn sách

Trang 18

Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm, NXB Giáo dục,

Hà Nội, 1995 - nghiên cứu vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của người học Tác giả phân tích, học tập của sinh viên vừa là sự tiếp nối quá trình học tập bậc giáo dục phổ thông vừa là sự khởi đầu cho một giai đoạn mới - nghiên cứu chuyên sâu vào một lĩnh vực chuyên môn nghề nghiệp nhất định Hoạt động học tập của sinh viên không thể tách rời hoạt động nhận thức để khám phá tri thức, chiếm lĩnh tri thức và sáng tạo tri thức, qua đó phát triển các năng lực Ngay trong quá trình học tập ở phổ thông, học sinh vừa là khách thể của quá trình giảng dạy nhưng lại là chủ thể của hoạt động học tập thì trong môi trường giáo dục đại học, sinh viên lại càng phải thể hiện rõ nét hơn vai trò chủ thể nhận thức trong học tập và nghiên cứu Mức độ thể hiện vai trò chủ thể trong học tập phản ánh tính tích cực học tập của sinh viên Nói cách khác, tính tích cực học tập của sinh viên thể hiện vai trò chủ thể nhận thức trong hoạt động học tập [57]

Nguyễn Cảnh Toàn, tác giả của công trình Quá trình dạy - tự học, NXB

Giáo dục, Hà Nội, 1997 phân tích đặc điểm của quá trình dạy học, về phương pháp tự học với những luận giải sâu sắc Nội dung cuốn sách đề cập hai quá trình là dạy của giáo viên và học của sinh viên thực chất là kinh nghiệm, trải nghiệm cả cuộc đời miệt mài phấn đấu tự học và dạy học của chính tác giả Theo tác giả, tự học là quá trình tự mình động não, tự mình sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả năng lực cơ bắp cùng các phẩm chất cá nhân của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan để chiếm lĩnh một lĩnh vực nào đó của nhân loại, biến nó thành sở hữu của mình Theo tác giả:

“Tự học thường được hiểu là học với sách, không có thầy bên cạnh Nhưng hiểu như vậy là hạn hẹp Ngay cả khi có thầy bên cạnh, thì thầy cũng chỉ giảng giải, uốn nắn, chứ thầy đâu có học hộ trò Dạy, dù sao cũng chỉ là ngoại lực tác động đến trò Ngoại lực đó phải có sự cộng hưởng của nội lực cố gắng của học trò Sự cố gắng này mới đúng là tự học Như vậy, tự học có thể xảy ra khi có thầy, có sách, cả khi không có thầy, có sách” [107, tr.21]

Trang 19

Công cuộc đổi mới giáo dục chỉ thực sự thành công khi nhận thức về đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự lập và sáng

tạo của người học là nhận định của tác giả Nguyễn Văn Hợi trong bài: Cơ sở

lý luận của việc biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, Tạp chí

Triết học Đại học Sư phạm I Hà Nội, năm 1999… Theo tác giả, quan điểm

biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo là tư duy mới về phương

pháp giáo dục Phương pháp này dựa vào cách thức hoạt động của người thầy trong quá trình dạy học tác động đến người học và việc học của họ, nhằm hướng dẫn họ học tập và giúp họ đạt mục tiêu học tập Quá trình tự đào tạo thực hiện trên lớp học, ở mỗi bài học, trong sự tương tác giữa thầy và trò, giữa trò với nhau và với môi trường học tập, trong đó, trò là chủ thể chứ không phải “người ngoài cuộc”, thầy là người tổ chức, dẫn dắt, cố vấn và tổng hợp ý kiến để giờ học diễn ra đúng hướng, đạt mục tiêu Thay vì chỉ tập trung ngồi nghe thầy thuyết trình, trò sẽ được tăng cường tính tự chủ và tự lập, phát triển khả năng tư duy, kỹ năng trình bày, hùng biện, chia sẻ, hợp tác, tổng hợp tài liệu…, thầy nêu vấn đề, trò phải tìm cách giải quyết vấn đề đó, qua đó rút

ra cho mình những tri thức mình cần, chứ không phải thụ động tiếp thu những

kiến thức mà thầy áp đặt Bài báo kết luận để biến quá trình đào tạo thành

quá trình tự đào tạo thành công phải chuyển đổi dần vai trò, lấy người thầy là

trung tâm sang việc lấy học trò làm trung tâm [47, tr.25-26]

Năm 1999, Tạp chí Đại học Sư phạm I Hà Nội đăng bài viết của nhóm

tác giả Nguyễn Văn Hộ và Nguyễn Thị Tính nhan đề: Hiệu quả của việc dạy

tự học trong quá trình dạy ở đại học và giáo dục chuyên ngành Các tác giả

cho rằng sinh viên đại học và giáo dục chuyên ngành phải có phương pháp học hiệu quả để lĩnh hội kiến thức và tập nghiên cứu khoa học Thực tế cho thấy, dạy cách tự học là phương pháp hiệu quả để giúp cho người học tự mình chiếm lĩnh những kiến thức, kỹ năng và hình thành hoặc biến đổi những tình cảm thái độ, đồng thời bảo đảm thực hiện tốt khối lượng kiến thức học tập [44, tr.28-29]

Trang 20

Tiếp tục chủ đề này, năm 2003, Phạm Mạnh Hà có bài Đổi mới phương

pháp dạy học ở bậc đại học, Tạp chí Giáo dục (17) [39, tr.5] Bài viết chỉ ra

sự cần thiết phải thay đổi phương pháp giảng dạy truyền thống đang phổ biến hiện nay, đồng thời làm nổi bật những ưu điểm của phương pháp giảng dạy mới – tạm gọi là các phương pháp giảng dạy tích cực Để trở thành một phương pháp mà yếu tố tích cực trở thành nét đặc trưng thì phải thực sự xem người học là trung tâm, là chủ thể của hoạt động “học” Sinh viên được khuyến khích tư duy độc lập và sáng tạo, được chú trọng phát triển kỹ năng

và xây dựng thái độ làm việc tích cực, tích cực tham gia vào các hoạt động, chủ động tìm kiếm kiến thức, rèn luyện kỹ năng cũng như điều chỉnh thái độ trong quá trình làm việc với nhau

Tác giả Nguyễn Kỳ trong bài: Biến quá trình dạy học thành quá trình tự

học (2006), Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 2 - nghiên cứu một trong những

phương pháp giáo dục quan trọng ở bậc đại học là dạy phương pháp tự học Theo quan điểm của tác giả: “Học là quá trình nghiền ngẫm, đọc đi đọc lại, nhắc đi nhắc lại để ghi nhớ, để bắt chước, để hiểu, để làm” hoặc “Học, cốt lõi

là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ yếu là tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị của mình bằng cách thu nhận, xử lý và biến đổi thông tin bên ngoài thành tri thức bên trong của con người mình” [58, tr.24-27] Tuy nhiên, học để có hiệu quả, phương pháp dạy phải biến quá trình dạy học thành quá trình tự học, lấy sinh viên làm trung tâm Trong quá trình dạy này, sinh viên được nói, được tìm hiểu, khám phá tri thức, hay được hoạt động, được làm, tức là học trong hoạt động và bằng hoạt động

Năm 2009, Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội đăng bài viết của

tác giả Phan Bích Ngọc với nhan đề: Tổ chức tốt việc tự học cho sinh viên

nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Đại học theo hình thức tín chỉ hiện nay [78, tr.160-164] Theo tác giả bài báo, bản chất tự học của sinh

viên đại học là quá trình tự nỗ lực, quyết tâm, tích cực để đạt được mục tiêu

Trang 21

học tập Đây cũng chính là điều kiện để sinh viên nâng cao chất lượng học tập, đồng thời nâng cao chất lượng kỹ năng nghề nghiệp cho bản thân Hiệu quả của quá trình tự học bên cạnh thành tích học tập, sinh viên được trau dồi những kỹ năng nghề nghiệp cần thiết, như: giải quyết vấn đề, giao tiếp, ứng

xử, làm việc nhóm, quản lí thời gian và phát triển kỹ năng mềm bằng các buổi ngoại khóa, tham gia diễn đàn, hội thảo, công tác xã hội, công tác từ thiện…

Từ phân tích trên đây, tác giả bài báo kết luận: đối với phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ, do đặc thù của nó nên vấn đề tự học của sinh viên có vai trò rất quan trọng

Sử dụng phương pháp dạy học tích cực phù hợp với quá trình cấu trúc lại chương trình đào tạo theo hướng phát triển năng lực người học là công

trình của tác giả Bùi Thị Thu Hương, đăng trên tạp chí Quản lý Giáo dục, số

72, năm 2015 Theo tác giả, phương pháp dạy học tích cực là phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của

người học Phương pháp này trong dạy và học chú trọng rèn luyện phương

pháp tự học, tạo cho người học lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chương trình Trên lớp, học sinh hoạt động là chính, còn giáo viên đóng vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của học sinh [52, tr.22-26] Tiếp tục chủ đề tự học của sinh viên, tác giả Nguyễn Thanh Thủy có bài

Hình thành kỹ năng tự học cho sinh viên – nhu cầu thiết yếu trong đào tạo ngành sư phạm, Tạp chí Khoa học số 3, năm 2016 Bài viết khá thành công

trong việc chỉ ra những vấn đề lý luận về tự học, tự bồi dưỡng kỹ năng tự học

Trang 22

Tự học là quá trình con người tự giác, tích cực tiếp thu hệ thống tri thức, những kinh nghiệm từ môi trường xung quanh bằng các thao tác trí tuệ, nhằm hình thành cấu trúc tâm lý mới để biến đổi nhân cách của mình theo hướng ngày càng hoàn thiện Theo quan niệm này, người thầy được xem như là chuyên gia của việc học, có nghĩa là người thầy phải biết rèn luyện khả năng tự học cho sinh viên Để làm được điều đó, trước tiên chính bản thân người thầy giáo phải có kỹ năng tự học Vì vậy bồi dưỡng kỹ năng tự học cho sinh viên sư phạm là một việc cần thiết và có ý nghĩa to lớn trong đào tạo [103, tr.10-16]

Đề tài: Quan hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức với việc phát huy

vai trò chủ thể trong học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay, luận án tiến sĩ

chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Nguyễn Tiến Thủ, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm

2001 Trên cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể và khách thể nhận thức của triết học Mác- Lênin, luận án nghiên cứu tính đặc thù của quan

hệ giữa chủ thể và khách thể nhận thức trong học tập của sinh viên nhằm

“hiểu rõ những đặc điểm thực tiễn, thực trạng quan hệ chủ thể và khách thể nhận thức nhằm nâng cao vai trò tích cực, chủ động sáng tạo của sinh viên trong học tập” [101, tr 117] Qua đó, luận án đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của sinh viên Việt Nam hiện nay

1.2 Nhóm các công trình nghiên cứu thực trạng và những vấn đề đặt ra về vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Hải Phòng

Các nhà Tâm lý học ở Đức như H.Hipso, M.Phorvec…đã có những công trình nghiên cứu về thái độ, thái độ học tập và các biểu hiện của nó một cách công phu, cụ thể Các tác giả đã đưa ra những tiêu chí về thái độ học tập tích cực: 1/trên lớp chú ý nghe giảng; 2/học bài và làm bài đầy đủ; 3/cố gắng vươn lên học được nhiều; 4/không vội vàng phản ứng tiêu cực nếu có chỗ nào chưa

Trang 23

hiểu hoặc không nhất trí với bài giảng; 5/đảm bảo kỷ luật để học tốt; 6/cố gắng đạt thành tích học tập tốt và nâng cao thành tích học tập của mình một cách trung thực; 7/thích độc lập thực hiện nhiệm vụ học tập; 8/hăng hái nhiệt tình trong giờ thảo luận và chữa bài tập; 9/hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách nghiêm túc;10/giữ gìn tài liệu học tập cẩn thận [43]

Tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc trong công trình “Cơ sở lý

luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông”, năm

1996 khi nghiên cứu thực trạng thái độ học tập của học sinh cũng đã nêu ra các chỉ số như chú ý hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, đọc thêm và làm các bài tập khác, vận dụng hay chuyển tải những gì đã học vào thực tế, hình thành và phát triển các quan hệ với thầy, với bạn nhằm mục đích giúp bản thân học tập tốt hơn

Có thể nói các tác giả đã thành công trong quá trình nghiên cứu thái độ học tập - một thành phần không thể thiếu của tính tích cực học tập của học sinh, bởi khi học sinh có thái độ học tập đúng đắn thì các em mới tích cực tìm ra cách thức tối ưu để lĩnh hội tri thức từ đó mới chuyển thành ý thức, nhận thức của bản thân một cách có hiệu quả [81]

Năm 1999, Thủ tướng Phạm Văn Đồng có công trình Một số vấn đề cần

quan tâm về giáo dục đại học ở nước ta hiện nay, NXB Giáo dục, Hà Nội

Công trình đã đánh giá khá chi tiết thực trạng giáo dục đại học nước ta và các giải pháp lớn xây dựng nền giáo dục hiện đại đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH đất nước Theo Thủ tướng, một trong những nội dung quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục đại học là phải phát huy tính tích cực học tập của sinh viên thể hiện tính tích cực của cá nhân trong hoạt động nhận thức Việc phát huy tính tích cực của sinh viên liên quan mật thiết đến các yếu tố của bản thân người học như: ý thức về mục tiêu học tập; nhu cầu, hứng thú nhận thức trong quá trình học tập; phong cách học tập và một số yếu tố khác bên ngoài tác động đến hoạt động học tập của sinh viên [34]

Trang 24

Dạy và học hợp quy luật hoạt động trí c là công trình của tác giả

Nguyễn Hữu Lượng, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2002, tập trung bàn

về quy trình dạy và học, chỉ ra đặc thù của nghề dạy học và những yếu tố cần thiết thúc đẩy quá trình dạy và học hiệu quả hơn Theo tác giả, dạy và học là một quá trình vận động và phát triển không ngừng theo những qui luật riêng

Đó là, qui luật tính qui định của xã hội với các thành tố của quá trình dạy học; quy luật thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh; quy luật thống nhất biện chứng giữa dạy học và sự phát triển trí tuệ của học sinh; quy luật thống nhất dạy học và giáo dục nhân cách

và quy luật thống nhất giữa mục đích, nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức dạy học Trong các quy luật nêu trên, quy luật thống nhất biện chứng giữa hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh là quy luật cơ bản, xuyên suốt quá trình dạy học, phản ánh mối liên hệ tất yếu chủ yếu và bền vững giữa hai nhân tố trung tâm, đặc trưng cho tính chất hai mặt của quá trình dạy học Tác giả kết luận, để giáo dục đạt hiệu quả như mong muốn hoạt động dạy và học phải phù hợp với quy luật hoạt động trí óc, tức là lựa chọn theo quy luật cho phù hợp [68]

Bàn về tự học của sinh viên sư phạm, trên cơ sở hiểu được yếu tố tâm lý tác động đến hoạt động tự học của sinh viên, tác giả Trần Minh Hằng viết

cuốn Tự học và yếu tố tâm lý cơ bản trong tự học của sinh viên sư phạm,

NXB Giáo dục Hà Nội, năm 2011 Trong cuốn sách, một số quan niệm về tự học, những yếu tố tâm lý tác động đến hoạt động tự học của sinh viên đã được tác giả bàn kỹ; đồng thời, trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng hoạt động tự học của sinh viên sư phạm, đặc biệt là những hạn chế, tác giả đề xuất một số giải pháp phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên sư phạm đáp ứng với yêu cầu xã hội Cuốn sách là sự lựa chọn tốt cho các giáo viên, sinh viên đang học tại các trường sư phạm [41]

Trang 25

Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 1, năm 1994 đăng bài viết của tác giả

Đặng Vũ Hoạt nhan đề: Một số nét về thực trạng, phương pháp dạy học đại

học Tác giả bài báo nhận định, phần lớn giảng viên các trường đại học hiện

nay nhận thức đúng tầm quan trọng về đổi mới phương pháp dạy học, áp dụng phương pháp dạy học tích cực vào quá trình soạn bài và lên lớp; sử dụng các phương tiện dạy học mới (máy vi tính, projecto, bảng ghim, tài liệu phát tay…) nhằm nâng cao chất lượng cho bài giảng…Tuy nhiên, thực trạng phương pháp giảng dạy ở bậc đại học còn nhiều hạn chế: Một bộ phận giảng viên chưa thấy được sự cần thiết của việc áp dụng phương pháp dạy- học tích;

ở khá nhiều cơ sở đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu của dạy- học tích cực

… Từ đó, tác giả nêu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học đại học: Xác định rõ mối quan hệ giữa mục tiêu, nội dung và phương pháp, trong

đó, mục tiêu dạy học là trọng tâm từ đó lựa chọn nội dung và phương pháp dạy, học phù hợp [46, tr.19]

Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh là bài viết của tác giả Nguyễn

Nghĩa Dán, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, năm 1998 Theo bài báo, tự học sáng tạo là một phương thức học tập có hiệu quả song giáo dục nước ta hiện nay chưa thật chú trọng nâng cao năng lực tự học, tự nghiên cứu cho học sinh Qua thực tế nghiên cứu cho thấy các em học sinh phổ thông cần dành nhiều thời gian để tự học, tự nghiên cứu nhằm nâng cao kiến thức nhưng lại gặp rất nhiều khó khăn trong việc lựa chọn, phân loại sách để học vì nguồn tài liệu phong phú Nhiều học sinh không biết phải tự học như thế nào để đạt được hiệu quả học tập cao Tác giả bài báo kết luận, phải tăng cường năng lực tự học sáng tạo cho học sinh là một yếu tố quan trọng góp phần vào việc nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông [18, tr.56-57]

Tiếp tục chủ đề dạy học lấy học sinh làm trung tâm nhưng hướng tới bồi

dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tác giả Lê Công Triêm có bài: Bồi

dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên đại học, Tạp chí Giáo dục

Trang 26

(8), năm 2001 Tác giả bài báo khẳng định: Bồi dưỡng năng lực tự học là rất quan trọng và cần thiết để mỗi sinh viên bù đắp những lỗ hổng kiến thức và thích ứng với yêu cầu thực tiễn đặt ra Tác giả giải thích, thời gian tự học chính là thời gian sinh viên nghiền ngẫm vấn đề học tập theo một yêu cầu, phong cách riêng và với mức độ thích hợp Điều này giúp sinh viên nắm chắc kiến thức và kỹ năng vận dụng tri thức một cách sáng tạo vào thực tiễn Tuy nhiên, việc bồi dưỡng năng lực tự học cho sinh viên là công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi yêu cầu cao đối với cả thầy và trò [109, tr 30-35]

Tạp chí Giáo dục số 53, năm 2003 đăng bài viết của nhóm tác giả Trần Sinh Thành và Đặng Quang Khoa nhan đề: Phương pháp tự học là cầu nối giữa

học tập và nghiên cứu khoa học Theo các tác giả, cùng với quá trình học tập,

nghiên cứu khoa học là hoạt động rất quan trọng ở bậc đại học Tham gia nghiên cứu khoa học không những giúp sinh viên phát triển tư duy đa chiều, sáng tạo

mà còn rèn luyện các kỹ năng viết, lập luận, giải quyết vấn đề… Một yếu tố quan trọng bảo đảm thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học là khả năng phát hiện đúng và giải quyết hợp lý những vấn đề đặt ra Tuy nhiên, để học tập và nghiên cứu khoa học đạt hiệu quả cao, các tác giả cho rằng, sinh viên phải thành công trong quá trình tự học, phải chủ động phát biểu, trao đổi, góp ý

và có cơ hội đưa ra chính kiến của mình; bộc lộ quan điểm, tranh luận, bảo vệ cho quan điểm của bản thân… Từ thành công trong tự học, sinh viên sẽ có kiến thức và phương pháp nghiên cứu khoa học học tốt, nghiên cứu khoa học tốt sẽ tạo cho sinh viên có thái độ tích cực trong học tập, tiềm năng nội lực học tập của sinh viên sẽ được khơi dạy và phát huy và khi đó, sinh viên có vơ hội vận dụng kiến thực vào thực tiễn sản xuất [99, tr.15-16]

Trước yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo theo hướng giáo dục mở,

Nguyễn Thị Bình có bài Sứ mạng giáo dục đào tạo trước yêu cầu đẩy mạnh

công nghiệp h a, hiện đại h a đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, Tạp chí Cộng sản (787), năm 2008 Bài viết đã chỉ ra thực trạng giáo

Trang 27

dục – đào tạo của Việt Nam hiện nay Giáo dục - đào tạo của chúng ta đang

có những yếu kém trầm trọng ở mọi cấp học và trình độ đào tạo, đặc biệt ở giáo dục nghề nghiệp và đại học, từ đó đề ra một số giải pháp quan trọng Trong đó, cải cách giáo dục phải hướng cho giáo dục - đào tạo bảo đảm thực hiện những quan điểm về tính chất, mục tiêu và nguyên lý giáo dục của Đảng;

cụ thể hóa những phẩm chất và năng lực mới mà đất nước kỳ vọng ở học sinh, sinh viên trong giai đoạn mới; hướng tới một hệ thống giáo dục mở, đáp ứng nhu cầu học tập của mọi người dân, mà trước hết là thế hệ trẻ; xây dựng xã hội học tập, đáp ứng kịp thời yêu cầu nguồn nhân lực có chất lượng cần thiết

để phát triển đất nước Một trong những nội dung quan trọng để đạt được điều

đó là phải phát huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên Đây là một công việc cấp thiết đang đặt ra cho giáo dục đại học hiện nay [4, tr.9-10]

Tạp chí Y học thực hành (827-828), năm 2011 đăng bài Thực trạng dạy

học lâm sàng cử nhân điều dưỡng bậc đại học hệ chính quy tại trường đại học Y Hải Phòng của nhóm tác giả Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Thanh Xuân

Bài báo đã chỉ ra thực trạng đào tạo điều dưỡng ở Việt Nam nói chung cũng như ở Đại học y Hải Phòng nói riêng: chủ yếu lấy giáo viên làm trung tâm, ít dạy hình thành năng lực và dạy kiến tạo nên buổi học thường không có hiệu quả, thời gian không đủ dài để phân tích và hiểu sâu một vấn đề, giảng dạy bằng video còn hạn chế, thường lẫn lộn giữa lý thuyết và thực hành, các phòng thực hành chưa đạt chuẩn, chưa được trang bị đầy đủ, kiểm tra đánh giá theo hình thức truyền thống mà chưa áp dụng được phương pháp đánh giá

kỹ năng tư duy…Qua đó, có thể thấy rằng: đào tạo điều dưỡng viên ở Đại học

Y Hải Phòng vừa yếu về năng lực giải quyết vấn đề, vừa yếu về thực hành các

kỹ năng, điều đó làm cho sinh viên không phát huy được vai trò chủ thể nhận thức trong học tập [54, tr.292-296]

Tiếp tục chủ đề nghiên cứu khoa học, tác giả Nguyễn Thị Thu Hồng viết

bài Thực trạng và đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hoạt động nghiên cứu

Trang 28

khoa học của sinh viên ngành kỹ thuật ở trường Đại học Hải Phòng, Tạp chí

Giáo dục, số 375, năm 2016 Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu thực trạng

về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên ngành kỹ thuật tại trường Đại học Hải Phòng về ba khía cạnh: kết quả nghiên cứu khoa học của sinh viên, quan điểm của sinh viên về hoạt động nghiên cứu khoa học, quan điểm của giảng viên về hoạt động nghiên cứu khoa học Từ đó, tác giả đề xuất sáu giải pháp góp phần nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học như giảng dạy học phần phương pháp nghiên cứu khoa học, nâng cao nhận thức của sinh viên về vai trò, tác dụng của hoạt động nghiên cứu khoa học, tăng cường hỗ trợ cơ sở vật chất, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học của giảng viên, khuyến khích giảng viên giao đề tài nhánh cho sinh viên, gắn đào tạo với thực tiễn sản xuất và đời sống, tổ chức hội thi sáng tạo kỹ thuật… [48, tr.13-17] Trước yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục đại học, đào tạo theo hình thức tín chỉ có nhiều ưu điểm so với phương thức đào tạo truyền thống Nghiên

cứu nội dung này, tác giả Nguyễn Tiến Sĩ có bài: Nâng cao khả năng thích

ứng với hoạt động học tập theo cơ chế tín chỉ cho sinh viên trường đại học Hải Phòng, Tạp chí Giáo dục và Xã hội (số đặc biệt tháng 4 năm 2017) Bài

báo tập trung phân tích vai trò hình thức đào tạo tín chỉ và những yêu cầu đặt

ra về khả năng thích ứng với học tập cho sinh viên trường Đại học Hải Phòng hiện nay Theo bài báo, trong quá trình tổ chức thực hiện, có nhiều khó khăn đối

với người học, người dạy và nhà trường, đó là: sinh viên phải có khả năng tự chủ

cao trong việc nắm thông tin về chương trình học tập cũng như việc sắp xếp lộ trình học tập của mình cho hợp lý theo đúng quy trình đào tạo; giảng viên phải thay đổi phương pháp dạy; nhà trường phải đáp ứng nguồn giáo trình và tài liệu học tập, tham khảo đầy đủ, phong phú và đa dạng cho người học, cơ sở vật chất, điều kiện phòng học trang thiết bị phục vụ giảng dạy Bài báo kết luận, việc chuyển đổi sang hệ thống đào tạo tín chỉ là một xu thế tất yếu của xã hội hiện đại đòi hỏi các trường phải khắc phục những khó khăn để nâng cao năng lực năng lực tổ chức tự học cho sinh viên [89, tr.245-259]

Trang 29

Tiếp tục chủ đề này, tại Hội nghị “Rút kinh nghiệm đào tạo theo hệ thống tín chỉ Trường Đại học Hải Phòng”, năm 2012, Dương Đức Hùng có

bài Một số vấn đề về công tác sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ

Bài viết đã trình bày đặc điểm của hệ thống tín chỉ: những ưu thế cũng như những khó khăn khi triển khai đào tạo theo tín chỉ tại trường Đại học nói chung và Đại học Hải Phòng nói riêng Điểm nổi bật của đào tạo theo tín chỉ

là đòi hỏi giảm thời gian lên lớp, tăng thời gian tự học, tự nghiên cứu của sinh viên Với đặc trưng này, sinh viên có thể tự chủ nhiều hơn Đây là cơ hội cho sinh viên có thể học hai ngành song song, học thêm ngoại ngữ, tin học hoặc đi làm thêm Tuy nhiên, đặc điểm này cũng có thể dẫn đến tình trạng sinh viên

sử dụng không tốt thời gian ngoài giờ lên lớp và chất lượng học tập kém [50]

“Thực trạng sự thích ứng với hoạt động học tập theo học chế tín chỉ của

sinh viên trường Đại học Hải Phòng” là đề tài nghiên cứu khoa học cấp

Trường của Nguyễn Thị Huệ năm 2015 khá thành công Tác giả đã nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình thích ứng với lộ trình học của sinh viên trường Đại học Hải Phòng, vừa giúp cho việc nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường, vừa góp phần thực hiện tốt chính sách đào tạo nguồn nhân lực tương lai cho đất nước [49]

“Báo cáo tổng kết năm 2014 và kế hoạch năm 2015” của trường Cao

Đẳng công nghệ Viettronics đã chỉ ra những mặt đạt được cũng như tồn tại của trường, đáng chú ý là công tác quản lý học sinh sinh viên còn nhiều hạn chế, vẫn còn tình trạng sinh viên nghỉ nhiều hoặc không đến lớp Tỷ lệ sinh viên nghỉ học trong học kỳ 1 đã lên tới 4% (trong khi chỉ tiêu năm học 2014-

2015 toàn trường là 5%).[,tr4] Việc sinh viên nghỉ học quá nhiều ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập, hạn chế việc phát huy được vai trò chủ thể nhận thức trong việc học [14]

“Báo cáo tổng kết công tác đào tạo năm học 2016-2017” của trường Đại

học Hàng hải Việt Nam, trên cơ sở so sánh kết quả học tập của sinh viên

Trang 30

trường Đại học Hàng hải Việt Nam qua 2 năm học 2015-2016 và 2016-2017,

đã chỉ ra thực trạng học tập của sinh viên có nhiều tiến bộ, đó là: tỷ lệ sinh viên khá, giỏi hệ đại học có xu hướng tiếp tục tăng so với các năm học trước,

tỷ lệ sinh viên xếp loại yếu (hệ đại học) có xu hướng giảm so với các năm học trước, số sinh viên diện cảnh báo mức 3 (Buộc thôi học) ở cả 2 học kỳ đều giảm so với năm học 2015 – 2016 Điều đó thể hiện sinh viên ngày càng nhận thức được vai trò chủ thể của mình trong học tập [23]

“Báo cáo tổng kết kh a học 2014-2017” của trường Cao đẳng bách nghệ

đã chỉ ra những thuận lợi trong học tập và rèn luyện của sinh viên khóa

2014-2017 như: sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, Ban Giám hiệu nhà trường, Ban lãnh đạo các Khoa, Phòng, các tổ chức chính trị trong nhà trường như Công đoàn, Đoàn thanh niên; các thầy cô giáo chủ nhiệm, các thầy cô giáo bộ môn, các cán bộ quản lý HSSV của các khoa luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, chủ động, sáng tạo và sát sao với việc học tập và rèn luyện của sinh viên Bên cạnh đó, quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên cũng gặp phải rất nhiều khó khăn như tình hình phức tạp của xã hội, sự suy thoái của nền kinh tế toàn cầu…Từ đó, báo cáo đã khái quát thực trạng học tập của sinh viên khóa 2014-2017: Phần lớn sinh viên khoá 2014-2017 có động cơ và thái độ học tập đúng đắn Nhiều sinh viên có thành tích cao trong học tập và luôn tích cực tham gia các hoạt động phong trào, tiêu biểu Tuy nhiên, bên cạnh sự cố gắng của đa số sinh viên, vẫn còn một số sinh viên chưa có ý thức tự giác và chưa có ý thức phấn đấu trong học tập và rèn luyện, vẫn còn hiện tượng gian lận trong thi cử và chưa chủ động tham gia các hoạt động chung của tập thể [13]

1.3 Nhóm các công trình nghiên cứu về giải pháp phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên các trường đại học, cao đẳng ở Hải Phòng

Các công trình về giải pháp phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên không nhiều, song cũng có những công trình rất có giá trị,

Trang 31

tiêu biểu như: Nhà giáo dục nổi tiếng người Đức, A.Đixtecvec (1790- 1866) nêu giải pháp “cần phải biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” [82, tr.15] để sinh viên tự trang bị cho mình kiến thức mới nhất, khoa học nhất và thu được nhiều kinh nghiệm cho thực tiễn hoạt động và đạt kết quả cao nhất Theo ông, nghệ thuật sư phạm của người thầy không phải chỉ mang tri thức đến cho học sinh mà quan trọng là phải dạy họ cách tìm ra chân lý Đây là quan điểm dạy học hiện đại nhằm phát huy năng lực tự học, tính chủ động, tích cực sáng tạo trong học tập của người học

Một quan điểm về phương pháp giảng dạy - học tập tích cực, đồng thời cũng là giải pháp để phát huy năng lực tự học của người học rất đáng quan tâm

là quan điểm của nhà giáo dục Mỹ John Dewey (1859- 1952), ông cho rằng,

cho rằng: “học bằng cách làm” (Learning by doing) Theo ông, học trò nhất

thiết phải chủ động, tích cực trong học tập để lĩnh hội tri thức Trong cuốn sách

Dân chủ và giáo dục (bản tiếng Việt của Phạm Anh Tuấn (dịch), NXB Tri

Thức, 2008, 2010, 2012) John Dewey viết "Một gam kinh nghiệm tốt hơn một tấn lý thuyết, đơn giản vì lý thuyết chỉ có ý nghĩa sống động và kiểm tra được ở trong kinh nghiệm" [19, tr 26] Do đó, trong giáo dục bên cạnh trang bị lý thuyết cho người học ông đặc biệt nhấn mạnh đến phương pháp thực nghiệm, thực tiễn, khảo sát thực tiễn để người học tự học, tự rút ra những kinh nghiệm

từ đó làm chủ kiến thức được học, để có cơ hội vận dụng và sáng tạo tri thức mới Ông cũng cho rằng: giáo dục là một tiến trình của sự sống, chứ không phải là sự chuẩn bị cho cuộc sống và ý tưởng là kết quả của hành động Trong cuốn sách Experience and education (Kinh nghiệm và giáo dục), NXB Kappa Delta Pi- Mỹ, 1938 [126], John Dewey nêu quan điểm dạy học là phải thiết kế chương trình lấy nhu cầu, lợi ích của người học làm trung tâm, trong đó người học tự lựa chọn nội dung học tập, tự lực tìm tòi nghiên cứu, khám phá tri thức một cách chủ động

Trang 32

Thời kỳ Phục Hưng, nhà giáo dục người cộng hòa Séc J.A Comenxki (1592 - 1670) đã đặt nền móng cho ý thức về hoạt động tự học và được coi là

“ông tổ” của nền giáo dục cận đại Cùng với việc đánh thức năng lực nhạy cảm,

phán đoán của người học, Comenxki tìm ra phương pháp dạy học lấy người

học làm trung tâm, coi trọng chủ thể nhận thức của người học, người học tự

tìm tòi, suy nghĩ để nắm lấy bản chất của sự vật, hiện tượng Ông cho rằng người học: “Không có khát vọng học tập thì không thể trở thành nhân tài” [82,

tr 19] Trong cuốn sách Phép giảng dạy vĩ đại, ông phản đối lối dạy học áp

đặt, giáo điều làm cho người học thụ động Từ đó, ông đề ra phương pháp giảng dạy phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác và sáng tạo của người học Một số nguyên tắc dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của người học được ông đề ra, đó là: 1) Phải đảm bảo tính trực quan trong dạy học; 2) tôn trọng đặc điểm đối tượng;3) đi từ cái chung đến cái riêng… Theo Comenxki

“Dạy thanh thiếu niên một cách đúng đắn không có nghĩa là cứ nhồi nhét vào đầu một mớ hỗn độn các từ, mà trái lại là phải khêu gợi năng lực trí tuệ phát triển chẳng khác gì một nguồn đầy sức sống toả ra những con suối của học thức” [82, tr 93] Ông viết: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, người học học nhiều hơn” [82, tr 95]

Nghiên cứu, đề xuất về giải pháp đối với sinh viên và quá trình học tập của học sinh với tư cách là chủ thể nhận thức, tác giả Lecne I.Ia có công trình

Dạy học nêu vấn đề, NXB Giáo dục Hà Nội, năm 1977 [62] - tiếp cận phương

pháp phổ biến “nêu vấn đề” nhưng hiệu quả cao trong quá trình tự học của sinh viên Theo tác giả, dạy học nêu vấn đề là một trong những phương pháp

có hiệu quả cao, nhất trong là trong quá trình dạy học ở bậc cao đẳng, đại học

Sử dụng phương pháp dạy học này sẽ kích thích tính chủ động, tích cực, sáng tạo và tăng cường độ làm việc của cả giảng viên và sinh viên trong suốt quá trình lên lớp Tác giả cho rằng để sử dụng hiệu quả phương pháp nêu vấn đề,

Trang 33

giảng viên tìm mọi biện pháp để đưa sinh viên vào các tình huống có vấn đề, hướng dẫn và giúp đỡ sinh viên phát huy tính sáng tạo và tính tích cực cá nhân để giải quyết các vấn đề được đặt ra nhằm đạt mục đích cuối cùng là giúp sinh viên nắm được tri thức mới hoặc cách thức hành động mới khi họ tích cực tham gia vào quá trình dạy học

Tác giả người Cộng hoà dân chủ Đức - Hebơc Smitman có công trình:

Nghiên cứu học tập như thế nào, NXB Thanh niên, 1984 Theo tác giả,

phương pháp học ở bậc đại học khác với học ở bậc phổ thông là tự học: “đại học là tự học” [90, tr.17] Đó là quá trình kết hợp giữa học ở nhà, học trên lớp, học ở thư viện qua tài liệu, sách vở và học cùng bạn học Trong quá trình

đó, giáo viên với tư cách là người hướng dẫn, người cố vấn hướng dẫn sinh viên lập kế hoạch học hiệu quả; sinh viên phải là chủ thể sáng tạo trong tự học

để tiếp thu tri thức, vận dụng và sáng tạo tri thức

Nghiên cứu phương pháp dạy học ở đại học, năm 2001 tác giả G.D

Sharma, Shakti R.Ahmed chủ biên công trình: Phương pháp dạy học ở đại

học, do Nguyễn Khánh Bằng (dịch) Nội dung cuốn sách nghiên cứu phương

pháp dạy học hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học Nghĩa là hoạt động dạy và học tập trung vào việc phát huy tính tích cực của người học, không phải tập trung phát huy tính tích cực của người dạy Tuy nhiên, để dạy học theo phương pháp tích cực, giảng viên phải là người hướng dẫn sinh viên tìm kiếm tài liệu và nghiên cứu, gợi ý và hướng dẫn sinh viên thảo luận, tự nghiên cứu viết tiểu luận còn sinh viên phải chủ động, tích cực trong quá trình học tập Tác giả nêu một số phương pháp dạy học tích cực, đó là: dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của sinh viên; dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học; tăng cường học tập nhóm; kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò [88]

Quá trình dạy và học là hoạt động tương tác giữa thầy và trò với hai chủ thể, hai đối tượng khác nhau nhưng gắn bó và thống nhất với nhau Nhóm

Trang 34

công trình bàn về vai trò chủ thể nhận thức trong học tập tương đối phong phú

và có nhiều nội dung liên quan đến luận án, như cuốn: Phương pháp giáo dục

tích cực lấy người học làm trung tâm của tác giả Nguyễn Kỳ, NXB Giáo dục

Hà Nội, 1995 - tập trung phân tích phương pháp giáo dục tích cực Theo tác giả, phương pháp giáo dục hay phương pháp dạy học, phương pháp giảng dạy, giáo dục sư phạm là cách thức sử dụng các nguồn lực trong giáo dục như: giáo viên, trường lớp, dụng cụ học tập, các phương tiện vật chất để giáo dục Nội dung các công trình này nghiên cứu phương pháp giáo dục đạt hiệu quả, trong đó phát huy vai trò chủ thể nhận thức của người học là trọng tâm Theo tác giả, phương pháp sư phạm được hình thành phát triển qua 4 giai đoạn: phương pháp giáo điều; phương pháp cổ truyền; phương pháp hiện đại

và phương pháp tích cực, trong đó phương pháp tích cực đòi hỏi học viên tự học giáo viên đối thoại, trao đổi với học viên về cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề [57]

Bàn về phương pháp giảng dạy đại học, tác giả Lê Khánh Bằng viết cuốn

Phương pháp giảng dạy đại học, NXB Đại học Sư phạm I Hà Nội, 1994 - Tài

liệu dùng cho giảng viên đại học và cao học, phân tích các phương pháp giảng dạy hiệu quả, nêu những ưu điểm, hạn chế của các phương pháp đó Phân tích

sự cần thiết phải đổi mới phương pháp giảng dạy, tác giả cho rằng: Sự phát triển nhanh chóng khoa học kĩ thuật và công nghệ trong xã hội hiện đại dẫn đến sự tăng nhanh của tri thức nhưng tri thức dễ lạc hậu vì tri thức mới có thể phủ nhận tri thức cũ Điều này đòi hỏi ở người lao động năng lực tự học, năng lực làm việc độc lập, năng lực sáng tạo, giải quyết các vấn đề phức hợp và năng lực hợp tác để thích nghi với sự thay đổi của công nghệ sản xuất, của tri thức và của kĩ năng làm việc Đối với phương pháp dạy học tích cực, tác giả khẳng định cần chú trọng đến việc rèn luyện phương pháp tự học hơn là việc tiếp thu tri thức một chiều [2]

Trang 35

Năm 2002, Lê Khánh Bằng viết cuốn Dạy cách học ở đại học Theo tác

giả, để nâng cao chất lượng đào tạo đại học, giảng viên dạy cách sinh viên tiếp thu bài giảng hiệu quả là yếu tố quan trọng Trong phương pháp dạy học cải tiến, người học - đối tượng của hoạt động dạy học đồng thời là chủ thể của hoạt động học tập được cuốn hút vào các hoạt động học tập một cách chủ động do giảng viên tổ chức và hướng dẫn, thông qua đó người học tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giảng viên sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học được trải nghiệm, được trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, vừa thông qua làm việc cá nhân, vừa phải làm việc theo nhóm, từ đó đạt được kiến thức mới, kỹ năng mới, phát huy tiềm năng sáng tạo Tùy vào mục tiêu của môn học cụ thể, cần đạt mức độ kiến thức hay kỹ năng nào theo cách tiếp cận, giảng viên sẽ tổ chức các hoạt trang thiết bị học tập, nguồn học liệu… đầy đủ

về số lượng, phong phú về nội dung và chuẩn mực về chất lượng là một yêu cầu cần thiết trong hoạt động tự học của sinh viên; nhà trường hỗ trợ cho sinh viên môi trường học tập tốt nhất, phù hợp giúp sinh viên học tập chủ động để đạt được các mục tiêu ấy [3]

Tiếp tục nghiên cứu về sinh viên và vai trò của sinh viên với tư cách là

chủ thể nhận thức, tác giả Thái Duy Tuyên chủ biên cuốn Dạy tự học cho sinh

viên trong các nhà trường cao đẳng đại học chuyên nghiệp và giải pháp, Nxb

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004 Tác giả cuốn sách đánh giá thực trạng chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học nước ta hiện nay tương đối thấp, một bộ phận sinh viên ra trường chưa đáp ứng nhu cầu công việc Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên theo tác giả là do các trường cao đẳng, đại học nước ta chậm đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng lấy người học làm trung tâm

mà “nặng về truyền tải lý thuyết, yếu về thực hành, không phát huy năng lực

tự học, tự nghiên cứu của sinh viên…” [114, tr.34] Từ những phân tích trên

Trang 36

đây, tác giả cho rằng để nâng cao chất lượng giáo dục cao đẳng, đại học nước

ta hiện nay, cần thực hiện đồng bộ có hiệu quả các giải pháp dạy tự học cho

sinh viên, đó là: Dạy sinh viên tự tin vào khả năng tự học, phát huy nội lực dưới sự hướng dẫn của giáo viên; sinh viên xác định mục đích, động cơ, nhu cầu học tập, xây dựng thời gian biểu hợp lý giữa các môn học, địa điểm, thời gian, hình thức tự học Hướng dẫn sinh viên có phương pháp học tập khoa học, biết cách đọc tài liệu, biết cách tóm tắt và ghi chép, vận dụng kiến thức

tự học trả lời câu hỏi, giải bài tập, vào chuyên môn và thực tiễn cuộc sống; tạo nhóm tự học để thảo luận kiến thức kinh nghiệm; kết hợp học tập với giải trí, thể thao để giảm áp lực trong tự học…

Nghiên cứu quan điểm, giải pháp giáo dục đại học, năm 2004 tác giả Lê

Đức Ngọc viết cuốn sách: Giáo dục đại học (Quan điểm và giải pháp), NXB

Giáo dục, Hà Nội Đây là cuốn sách được tác giả tuyển chọn từ các bài tham luận hội thảo quốc gia, quốc tế Cuốn sách trình bày các quan điểm về giáo dục đại học Việt Nam nêu trong chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010

Để thực hiện chiến lược nâng cao chất lượng dạy và học ở các trường đại học, cuốn sách trình bày hệ thống giải pháp đột phá, như: Dạy cách học; đổi mới công tác giảng viên; đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập, kiểm tra, đánh giá và quản lý lớp học; đổi mới nội dung chương trình dạy đại học… Cuốn sách là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà quản lý đại học, cho giảng

viên và sinh viên [76]

Tác giả Hà Thị Đức có bài: Về hoạt động tự học của sinh viên sư phạm

(1992), Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục - phân tích đặc thù tự học của sinh viên

sư phạm và những giải pháp góp phần nâng cao năng lực tự học của sinh viên

sư phạm Tác giả cho rằng hoạt động tự học xuất phát từ chính nhu cầu muốn học hỏi, tăng sự hiểu biết để có “vốn” khi ra trường làm tốt việc giảng dạy của sinh viên sư phạm Tuy nhiên, phần lớn sinh viên sư phạm quen với việc thụ động trong việc tiếp nhận, áp đặt, nên việc tự học của sinh viên được đặt ra

Trang 37

như một nhu cầu bức thiết Tác giả bài báo nêu hai giải pháp làm tăng hiệu quả hoạt động tự học của sinh viên sư phạm, đó là: Sinh viên cần chủ động rèn luyện tính tự học và vai trò của giảng viên trong rèn luyện tự học của sinh viên [35, tr.23]

Bàn về vai trò trung tâm của học sinh trong giảng dạy là bài viết của tác

giả Phạm Trọng Luận nhan đề: Về khái niệm học sinh là trung tâm đăng trên

Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, năm 1995 Tác giả bài viết phân tích: Khi học sinh đóng vai trò trung tâm của quá trình dạy và học thực chất là hoạt động sáng tạo thì người thầy có vai trò hướng dẫn, tổ chức hoạt động sáng tạo đó

Từ quan điểm trên, việc dạy học phải xuất phát từ nhu cầu, động cơ, đặc điểm

và điều kiện của người học Phải tiến hành việc học tập trên cơ sở hiểu biết năng lực đã có của người học Đồng thời, quá trình này người học không tiếp thu thụ động mà tích cực suy nghĩ, tích cực hoạt động [67, tr.23-24]

Giảng viên là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến việc phát huy vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên Cho nên, nâng cao chất lượng giảng dạy cho

giảng viên là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của một trường đại học nhằm

nâng cao chất lượng đào tạo Đỗ Thị Thanh Toàn đã viết bài Nâng cao chất

lượng giảng dạy của giảng viên tại trường Đại học Hải Phòng, Tạp chí Khoa

học giáo dục, số 105, năm 2014 Để nâng cao được chuyên môn của giảng viên, người cán bộ quản lí phụ trách chuyên môn phải nắm rõ yêu cầu của ngành, có tầm nhìn, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn lâu dài trong từng năm, triển khai kịp thời có hiệu quả các nội dung bồi dưỡng chuyên môn tới giảng viên, tổ chức tốt các buổi hội thảo, hội nghị, semina, tổ chức tham quan kiến tập tại các trường bạn, làm tốt công tác đánh giá, kiểm tra chuyên môn Bài viết đưa ra một vài suy nghĩ về công tác nâng cao chất lượng của đội ngũ giảng viên tại Trường Đại học Hải Phòng hiện nay [108, tr.57-61]

Đặc biệt, nghiên cứu về phương thức đào tạo theo tín chỉ với quan điểm lấy người học làm trung tâm, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của

Trang 38

người học, tác giả Phạm Thị Loan có bài: Bài học kinh nghiệm qua 4 năm

thực hiện đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại khoa giáo dục mầm non trường Đại học Hải Phòng, Tạp chí khoa học Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí

Minh (số 57), năm 2014 Bài báo phân tích, đào tạo theo học chế tín chỉ là

phương thức đào tạo tiên tiến trên thế giới, hướng vào người học, coi người học là trung tâm của quá trình dạy - học Đây là phương thức đào tạo mềm dẻo giúp người học thể hiện tính chủ động tự chủ, tự học, tự nghiên cứu cũng như chủ động về thời gian và kế hoạch học tập Muốn dạy học theo hình thức tín chỉ đạt kết quả tốt, năng lực tổ chức tự học cho sinh viên của nhà trường

có vai trò quan trọng, đó là: các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất: phòng học, trang thiết bị học tập, nguồn học liệu… đầy đủ về số lượng, phong phú

về nội dung và chuẩn mực về chất lượng là một yêu cầu cần thiết trong hoạt động tự học của sinh viên; nhà trường hỗ trợ cho sinh viên môi trường học tập tốt nhất Trên cơ sở đánh giá những việc đã làm được cũng như những tồn tại trong quá trình đào tạo theo hệ thống tín chỉ tại Khoa Giáo dục Mầm non Trường Đại học Hải Phòng, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên mầm non cũng như phát huy vai trò chủ thể nhận thức trong học tập của sinh viên trong giai đoạn hiện nay [66, tr.60-65]

Quán triệt quan điểm của Đảng về giáo dục quốc phòng và an ninh và trên cơ sở nắm vững chức năng, nhiệm vụ được giao, những năm qua, Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh thuộc trường Đại học Hải Phòng đã có nhiều giải pháp thiết thực, hiệu quả trong thực hiện công tác quan trọng này

Năm 2016, tác giả Phạm Đình Thắng có viết bài: Một số kinh nghiệm giáo

dục quốc phòng và an ninh cho sinh viên ở Trường Đại học Hải Phòng, Tạp

chí Quốc phòng toàn dân Bài báo đã chỉ ra một trong những mục tiêu của

môn học giáo dục quốc phòng và an ninh là trang bị cho sinh viên kiến thức,

kỹ năng quân sự cơ bản, đưa sinh viên làm quen với môi trường quân sự, rèn luyện ý thức tự giác, tính tổ chức, tính kỷ luật, từ đó sinh viên thấy được tầm

Trang 39

quan trọng của môn học Nhằm nâng cao tính hấp dẫn của môn học, khắc phục tâm lý cho rằng môn học giáo dục quốc phòng và an ninh là khô khan, nhàm chán, trong quá trình giảng dạy, tác giả đã chỉ ra một biện pháp rất quan

trọng là chú trọng kết hợp giữa lý thuyết với thực hành, gắn lý luận với thực

tiễn Thực hiện vấn đề này, Phòng Đào tạo, các khoa giáo viên bám sát nội

dung, chương trình quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, xây dựng nội dung, phương pháp tổ chức huấn luyện phù hợp với từng đối tượng sinh viên; trong

đó, chú trọng tăng thời gian huấn luyện thực hành và tổ chức các hoạt động

bổ trợ, ngoại khóa, khắc phục tình trạng giảng dạy lý luận chung chung, dàn trải Theo đó, đội ngũ giảng viên nghiên cứu kỹ đối tượng, chuyên ngành đào tạo của sinh viên để biên soạn giáo án, chuẩn bị bài giảng cho phù hợp, sát đối tượng giảng dạy Bài giảng luôn bảo đảm cập nhật thông tin mới, có dẫn chứng minh họa bằng tranh, ảnh, video về hoạt động quân sự, quốc phòng, an ninh, tuyệt đối không để xảy ra hiện tượng “dạy chay, học chay” Quá trình lên lớp, giảng viên tích cực sử dụng phương pháp nêu vấn đề, gợi mở để học viên suy nghĩ, trả lời; thầy và trò cùng trao đổi, làm rõ nội dung Đặc biệt, giảng viên đã kết hợp giữa truyền đạt lý thuyết với liên hệ thực tiễn, gắn nội dung về quốc phòng, an ninh với kiến thức chuyên ngành đào tạo của sinh viên Cách làm đó đã đưa sinh viên sát thực tiễn, hiểu rõ nội dung về quốc phòng, an ninh gắn với ngành nghề của mình, từ đó phát huy được vai trò chủ

thế nhận thức trong học tập của sinh viên [131]

Nghiên cứu, đề xuất giải pháp phát huy năng lực tự học cho sinh viên Đại học Hải Phòng, tại Hội nghị “Rút kinh nghiệm đào tạo theo hệ thống tín

chỉ Trường Đại học Hải Phòng”, Phạm Toàn Đức có bài Nâng cao hiệu quả

đào tạo theo hệ thống tín chỉ trong giai đoạn hiện nay tại trường Đại học Hải Phòng, năm 2012 Đào tạo theo học chế tín chỉ là một phương thức đào tạo

tiên tiến trên thế giới Bản chất của phương thức đào tạo này là phát huy tính tích cực, chủ động của sinh viên Bài nghiên cứu này đề cập đến thực chất của

Trang 40

đào tạo theo học chế tín chỉ, thực trạng và giải pháp nâng cao tính chủ động của sinh viên Vấn đề cấp thiết đặt ra trong đào tạo theo học chế tín chỉ là phải tăng cường tính chủ động của sinh viên trong mọi khâu của quá trình đào tạo Đây là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng đào tạo theo học chế tín chỉ [36]

Luận án Tiến sĩ Tâm lý học của tác giả Đỗ Thị Coong, Nghiên cứu tính

tích cực học tập môn Tâm lý học của sinh viên Đại học sư phạm Hải Phòng,

năm 2014 Luận án từ việc nghiên cứu tính tích cực học tập môn Tâm lý học dưới góc độ tâm lý – hoạt động – nhân cách của sinh viên, đi đến khẳng định mối liên hệ nhân quả giữa việc phát huy tính tích cực học tập môn Tâm lý học với kết quả học tập bộ môn Từ đó đề xuất một số biện pháp để nâng cao tính tích cực học tập môn Tâm lý học của sinh viên Đại học sư phạm Hải Phòng như: biên soạn giáo trình sát với từng khoa, đổi mới phương pháp dạy học, đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học… góp phần nâng cao chất lượng học tập của sinh viên [17]

Năm 2016, tác giả Vương Đức Phúc có bài Nghiên cứu thực trạng và

giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Ngành Điện tự động tàu thủy theo định hướng mô hình Trường đại học trọng điểm Quốc gia Bài viết đã

giải quyết được bài toán mang tính chất thực tiễn về đào tào và nâng cao chất lượng phù hợp theo chuẩn quốc tế, theo định hướng trường trọng điểm quốc gia của trường Đại học Hàng hải Việt Nam Đề tài đã giải quyết được một số vấn

đề cơ bản sau: Phân tích thực trạng, chỉ ra các điểm tồn tại, bất cập trong giáo dục và đào tạo Ngành điện tự động tàu thủy tại Khoa Điện – Điện tử của trường Đại học Hàng hải Việt Nam, phân tích các chương trình đào tạo tiên tiến trên thế giới Từ đó, đề ra các giải pháp giải quyết vấn đề theo chuẩn quốc tế, theo yêu cầu chung của nhà trường giao cho Bộ môn, trong đó chú trọng nhất là vấn đề nâng cao chất lượng giảng viên Đây là giải pháp tiên quyết nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường, có ảnh hưởng quan trọng đến việc phát huy vai trò chủ thể nhận thức của sinh viên trong học tập [83]

Ngày đăng: 13/08/2018, 18:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w