TÓM TẮT KHÓA LUẬN Đề tài được thực hiện từ ngày 1/8/2008 đến ngày 30/12/2008 tại trại chăn nuôi heo Trí Công – Hố Nai I – Biên Hòa – Đồng Nai, với mục đích khảo sát một số chỉ tiêu sinh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT MỐT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN CỦA CÁC NHÓM
GIỐNG HEO NÁI TẠI TRẠI HEO TRÍ CÔNG –
HỐ NAI I – BIÊN HÒA – ĐỒNG NAI
Họ và tên sinh viên : VŨ THỊ KIM DUNG
Niên khóa : 2003 - 2008
Tháng 6/2009
Trang 2KHẢO SÁT MỐT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN CỦA CÁC NHÓM GIỐNG
HEO NÁI TẠI TRẠI HEO TRÍ CÔNG – HỐ NAI I –
BIÊN HÒA – ĐỒNG NAI
Trang 3LỜI CẢM TẠ Thành kính ghi ơn
Cha mẹ, người đã sinh thành giáo dưỡng, lo lắng, động viên và hy sinh suốt đời
để con có được ngày hôm nay
Chân thành biết ơn
TS Trần Văn Chính, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận này
Chân thành cảm tạ
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh
Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Bộ Môn Di Truyền Giống Động Vật Khoa Chăn Nuôi Thú Y
Cùng toàn thể quý thầy, cô đã truyền đạt kiến thức cũng như kinh nghiệm quý báu trong suốt thời gian học tập
Ông bà chủ trại Nguyễn Trí Công
Cùng toàn thể các cô, chú, anh chị công nhân viên tại trại chăn nuôi heo Trí Công
Đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ cho tôi trong suốt thời gian thực tập tại trại
Cảm ơn
Tất cả những người thân, bạn bè thân yêu, những người luôn chia sẻ, động viên
và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
Vũ Thị Kim Dung
Trang 4TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Đề tài được thực hiện từ ngày 1/8/2008 đến ngày 30/12/2008 tại trại chăn nuôi heo Trí Công – Hố Nai I – Biên Hòa – Đồng Nai, với mục đích khảo sát một số chỉ tiêu sinh sản đàn heo nái của một số giống hiện có nhằm có những biện pháp tác động
để cải thiện và nâng cao năng suất của đàn heo nái tại trại
Số liệu thu thập gồm 670 ổ đẻ (từ lứa 1 đến lứa 7) của 200 nái thuộc 4 nhóm giống gồm:
Landrace (L.L): 37 con
Duroc (D.D): 18 con
Yorkshire x Landrace (Y.L): 71 con
Landrace x Yorkshire (L.Y): 74 con
Kết quả cho thấy một số chỉ tiêu sinh sản trung bình của đàn heo nái khảo sát được như sau:
Tuổi phối giống lần đầu (304,67 ngày), tuổi đẻ lứa đầu (422,24 ngày), số heo con đẻ ra trên ổ (10,49 con/ổ), số heo con sơ sinh còn sống (9,88 con/ổ), số heo con sơ sinh chọn nuôi (9,46 con/ổ), số heo con giao nuôi (9,60 con/ổ), trọng lượng toàn ổ heo con sơ sinh còn sống (14,75% kg/ổ), trọng lượng bình quân heo con sơ sinh còn sống (1,53 kg/ổ), số heo con cai sữa (9,29 con/ổ), trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa (63,65 kg/ổ), trọng lượng bình quân heo con cai sữa (6,85 kg/con), tuổi cai sữa heo con (27,73 ngày), khoảng cách giữa hai lứa đẻ (156,79 ngày), số lứa đẻ của nái trên năm (2,34 lứa), số heo con cai sữa của nái trên năm (22,30 con)
Dựa vào chỉ số sinh sản heo nái (SPI - Sow Productivity Index) theo NSIF (2004), khả năng sinh sản của 4 giống nái tại trại chăn nuôi heo Trí Công được xếp hạng theo thứ tự như sau:
Hạng I: nhóm giống Y.L (103,29 điểm)
Hạng II: nhóm giống L.Y (101,84 điểm)
Hạng IIII: nhóm giống L.L (96,43 điểm)
Hạng IV: nhóm giống D.D (86,79 điểm)
Trang 5MỤC LỤC
Trang
TRANG TỰA i
LỜI CẢM TẠ ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG ix
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ VÀ SƠ ĐỒ xi
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU 1
1.2.1 Mục đích 1
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TRẠI CHĂN NUÔI HEO TRÍ CÔNG 3
2.1.1 Vị trí địa lý 3
2.1.2 Lịch sử hình thành trại 3
2.1.3 Nhiệm vụ của trại 3
2.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại 4
2.1.5 Cơ cấu đàn 4
2.1.6 Công tác giống 4
2.2 GIỚI THIỆU SƠ NÉT VỀ CÁC GIỐNG HEO ĐƯỢC NUÔI TẠI TRẠI 5
2.2.1 Landrace (L.L) 5
2.2.2 Duroc (D.D) 5
2.2.3 Yorkshire x Landrace (Y.L) 5
2.2.4 Landrace x Yorkshire (L.Y) 6
2.3 ĐIỀU KIỆN CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG 6
2.3.1 Chuồng trại 6
2.3.2 Thức ăn 7
2.3.3 Nước uống 8
Trang 62.3.4 Chăm sóc nuôi dưỡng 8
2.3.5 Quy trình vệ sinh thú và tiêm phòng 10
2.3.5.1 Quy trình vệ sinh thú y 10
2.3.5.2 Quy trình tiêm phòng 10
2.4 YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HEO NÁI 11
2.4.1 Tuổi thành thục 11
2.4.2 Tuổi phối giống lần đầu 12
2.4.3 Tuổi đẻ lứa đầu 12
2.4.4 Số lứa đẻ của nái trên năm 12
2.4.5 Số heo con đẻ ra trên ổ 13
2.4.6 Số heo con sơ sinh còn sống và tỷ lệ nuôi sống heo con đến cai sữa 13
2.4.7 Trọng lượng heo con sơ sinh và trọng lượng heo con cai sữa 13
2.4.8 Số heo con cai sữa của nái trên năm 14
2.4.9 Trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa 14
2.5 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA HEO NÁI 14
2.5.1 Yếu tố di truyền 14
2.5.2 Yếu tố ngoại cảnh 15
2.6 BIỆN PHÁP NÂNG CAO SỨC SINH SẢN CỦA HEO NÁI 17
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 18
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM 18
3.2 NỘI DUNG KHẢO SÁT 18
3.3 PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 18
3.3.1 Phương pháp 18
3.3.2 Đối tượng 18
3.4 CÁC CHỈ TIÊU KHẢO SÁT 19
3.4.1 Tuổi phối giống lần đầu 19
3.4.2 Tuổi đẻ lứa đầu 19
3.4.3 Số heo con đẻ ra trên ổ 19
3.4.4 Số heo con sơ sinh còn sống 19
3.4.5 Số heo con sơ sinh còn sống đã điều chỉnh 19
3.4.6 Số heo con chọn nuôi 19
Trang 73.4.7 Số heo con giao nuôi 19
3.4.8 Trọng lượng toàn ổ heo con sơ sinh còn sống 19
3.4.9 Trọng lượng bình quân heo con sơ sinh còn sống (TLBQHCSSCS) 20
3.4.10 Tuổi cai sữa heo con 20
3.4.11 Số heo con cai sữa 20
3.4.12 Trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa 20
3.4.13 Trọng lượng bình quân heo con cai sữa (TLBQHCCS) 20
3.4.14 Trọng lượng toàn ổ heo con đã điều chỉnh 20
3.4.15 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ 21
3.4.16 Số lứa đẻ của nái trên năm (SLĐCN/N) 21
3.4.17 Chỉ số sinh sản heo nái (SPI) và xếp hạng khả năng sinh sản của các nhóm giống heo nái 21
3.5 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 22
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 TUỔI PHỐI GIỐNG LẦN ĐẦU 23
4.2 TUỔI ĐẺ LỨA ĐẦU 24
4.3 SỐ HEO CON ĐẺ RA TRÊN Ổ 25
4.3.1 So sánh giữa các nhóm giống 26
4.3.2 So sánh giữa các lứa đẻ 27
4.4 SỐ HEO CON SƠ SINH CÒN SỐNG 28
4.4.1 So sánh giữa các nhóm giống 28
4.4.2 So sánh giữa các lứa đẻ 29
4.5 SỐ HEO CON SƠ SINH CÒN SỐNG ĐÃ ĐIỀU CHỈNH 30
4.6 SỐ HEO CON CHỌN NUÔI 32
4.6.1 So sánh giữa các nhóm giống 32
4.6.2 So sánh giữa các lứa 33
4.7 SỐ HEO CON GIAO NUÔI 34
4.7.1 So sánh giữa các nhóm giống 34
4.7.2 So sánh giữa các lứa đẻ 35
4.8 TRỌNG LƯỢNG TOÀN Ổ HEO CON SƠ SINH CÒN SỐNG 36
4.8.1 So sánh giữa các nhóm giống 37
Trang 84.8.2 So sánh giữa các lứa đẻ 38
4.9 TRỌNG LƯỢNG BÌNH QUÂN HEO CON SƠ SINH CÒN SỐNG 39
4.9.1 So sánh giữa các nhóm giống 39
4.9.2 So sánh giữa các lứa đẻ 41
4.10 TUỔI CAI SỮA HEO CON 42
4.10.1 So sánh giữa các nhóm giống 42
4.10.2 So sánh giữa các lứa đẻ 43
4.11 SỐ HEO CON CAI SỮA 45
4.11.1 So sánh giữa các nhóm giống 45
4.11.2 So sánh giữa các lứa đẻ 46
4.12 TRỌNG LƯỢNG TOÀN Ổ HEO CON CAI SỮA 47
4.12.1 So sánh giữa các nhóm giống 47
4.12.2 So sánh giữa các lứa đẻ 49
4.13 TRỌNG LƯỢNG BÌNH QUÂN HEO CON CAI SỮA 50
4.13.1 So sánh giữa các nhóm giống 50
4.13.2 So sánh giữa các lứa đẻ 51
4.14 TRỌNG LƯỢNG TOÀN Ổ HEO CON CAI SỮA ĐÃ ĐIỀU CHỈNH 53
4.15 KHOẢNG CÁCH GIỮA HAI LỨA ĐẺ 54
4.16 SỐ LỨA ĐẺ CỦA NÁI TRÊN NĂM 56
4.17 SỐ HEO CON SƠ SINH CÒN SỐNG CỦA NÁI TRÊN NĂM 57
4.18 SỐ HEO CON CAI SỮA CỦA NÁI TRÊN NĂM 58
4.19 CHỈ SỐ SINH SẢN CỦA HEO NÁI (SPI) VÀ XẾP HẠNG KHẢ NĂNG SINH SẢN GIỮA CÁC NHÓM GIỐNG NÁI 60
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 62
5.1 KẾT LUẬN 62
5.2 ĐỀ NGHỊ 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 68
Trang 9DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT
L.L: heo Landrace thuần
D.D: heo Duroc thuần
Y.L: heo lai có cha là Yorkshire và mẹ là Landrace
L.Y: heo lai có cha là Landrace và mẹ là Yorkshire
TSTK: tham số thống kê
X: trung bình
SD: độ lệch chuẩn (Standard deviation)
CV: hệ số biến dị (Coeficient of variation)
SPI: chỉ số sinh sản heo nái (Sow Productivity Index)
Trang 10
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Cơ cấu đàn heo của trại 4
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng các loại thức ăn tự trộn 7
Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng thức ăn hỗn hợp Delice B của Proconco 8
Bảng 3.1 Cơ cấu heo nái của các nhóm giống và số lứa khảo sát 18
Bảng 3.2 Hệ số điều chỉnh số heo con sơ sinh còn sống 19
Bảng 3.3: Hệ số điều chỉnh trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa về 21 ngày tuổi 20
Bảng 3.4: Hệ số điều chỉnh trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa về cùng số heo con giao nuôi chuẩn (≥ 10 con) 21
Bảng 3.5: Hệ số điều chỉnh trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa về cùng lứa chuẩn
(lứa 2) 21
Bảng 4.1: Tuổi phối giống lần đầu 23
Bảng 4.2: Tuổi đẻ lứa đầu 24
Bảng 4.3 Số heo con đẻ ra trên ổ theo các nhóm giống 26
Bảng 4.4 Số heo con đẻ ra trên ổ theo lứa đẻ 27
Bảng 4.5 Số heo con sơ sinh còn sống theo nhóm giống 28
Bảng 4.6 Số heo con sơ sinh còn sống theo lứa đẻ 30
Bảng 4.7 Số heo con sơ sinh còn sống đã điều chỉnh 31
Bảng 4.8 Số heo sơ sinh chọn nuôi theo nhóm giống 32
Bảng 4.9 Số heo con sơ sinh chọn nuôi theo lứa đẻ 33
Bảng 4.10 Số heo con sơ sinh giao nuôi theo nhóm giống 35
Bảng 4.11 Số heo con sơ sinh giao nuôi theo lứa đẻ 36
Bảng 4.12 Trọng lượng toàn ổ heo con sơ sinh còn sống theo nhóm giống 37
Bảng 4.13 Trọng lượng toàn ổ heo con sơ sinh còn sống theo lứa đẻ 38
Bảng 4.14 Trọng lượng bình quân heo con sơ sinh còn sống theo nhóm giống 39
Bảng 4.15 Trọng lượng bình quân heo con sơ sinh còn sống theo lứa đẻ 41
Bảng 4.16 Tuổi cai sữa heo con theo nhóm giống 42
Bảng 4.17 Tuổi cai sữa heo con theo lứa đẻ 44
Bảng 4.18 Số heo con cai sữa theo nhóm giống 45
Bảng 4.19 Số heo con cai sữa theo lứa đẻ 46
Trang 11Bảng 4.20 Trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa theo nhóm giống 48
Bảng 4.21 Trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa theo lứa đẻ 49
Bảng 4.22 Trọng lượng bình quân heo con cai sữa theo nhóm giống 51
Bảng 4.23 Trọng lượng bình quân heo con cai sữa theo lứa đẻ 52
Bảng 4.24 Trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa đã điều chỉnh .53
Bảng 4.25 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ 54
Bảng 4.26 Số lứa đẻ của nái trên năm 56
Bảng 4.27 Số heo con sơ sinh còn sống của nái trên năm 58
Bảng 4.28 Số heo con cai sữa của nái trên năm 59
Bảng 4.29 Chỉ số sinh sản heo nai (SPI) và xếp hạng khả năng sinh sản giữa các nhóm giống nái 60
Trang 12DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1: Tuổi phối giống lần đầu 24
Biểu đồ 4.2 Tuổi đẻ lứa đầu 25
Biểu đồ 4.3 Số heo con đẻ ra trên ổ theo các nhóm giống 26
Biểu đồ 4.4 Số heo con đẻ ra trên ổ theo lứa đẻ 27
Biểu đồ 4.5 Số heo con sơ sinh còn sống theo nhóm giống 29
Biểu đồ 4.6 Số heo con sơ sinh còn sống theo lứa đẻ 30
Biểu đồ 4.7 Số heo con sơ sinh còn sống đã điều chỉnh 31
Biểu đồ 4.8 Số heo con sơ sinh chọn nuôi theo nhóm giống 32
Biểu đồ 4.9 Số heo con sơ sinh chọn nuôi theo lứa 34
Biểu đồ 4.10 Số heo con sơ sinh giao nuôi theo nhóm giống 35
Biểu đồ 4.11 Số heo con sơ sinh giao nuôi theo lứa đẻ 36
Biểu đồ 4.12 Trọng lượng toàn ổ heo con sơ sinh còn sống theo nhóm giống 37
Biểu đồ 4.13 Trọng lượng toàn ổ heo con sơ sinh còn sống theo lứa đẻ 39
Biểu đồ 4.14 Trọng lượng bình quân heo con sơ sinh còn sống theo nhóm giống 40
Biểu đồ 4.15 Trọng lượng bình quân heo con sơ sinh còn sống theo lứa đẻ 41
Biểu đồ 4.16 Tuổi cai sữa heo con theo nhóm giống 43
Biểu đồ 4.17 Tuổi cai sữa heo con theo lứa đẻ 44
Biểu đồ 4.18 Số heo con cai sữa theo nhóm giống 45
Biểu đồ 4.19 Số heo con cai sữa theo lứa đẻ 47
Biểu đồ 4.20 Trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa theo nhóm giống 48
Biểu đồ 4.21 Trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa theo lứa đẻ 49
Biểu đồ 4.22 Trọng lượng bình quân heo con cai sữa theo nhóm giống 51
Biểu đồ 4.23 Trọng lượng bình quân heo con cai sữa theo lứa đẻ 52
Biểu đồ 4.24 Trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa đã điều chỉnh 53
Biểu đồ 4.25 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ 55
Biểu đồ 4.26 Số lứa đẻ của nái trên năm 57
Biểu đồ 4.27 Số heo con sơ sinh còn sống của nái trên năm 58
Biểu đồ 4.28 Số heo con cai sữa của nái trên năm 59
Biểu đồ 4.29 Chỉ số sinh sản heo nái (SPI) 60
Trang 13Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, đất nước ta ngày càng phát triển, làm cho đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao Người dân
đã bắt đầu quan tâm đến giá trị dinh dưỡng mỗi bữa ăn hàng ngày, trong đó thịt heo là một sản phẩm quan trọng và không thể thiếu Bên cạnh phục vụ cho nhu cầu trong nước, thịt heo còn có tiềm năng lớn cho xuất khẩu
Để đáp ứng yêu cầu trên, trại heo Trí Công từng bước đầu tư chuyên sâu và áp dụng nhiều biện pháp về kỹ thuật như: dinh dưỡng, thuốc thú y, quản lý và chăm sóc… nhất là con giống và công tác giống, nhằm tạo ra đàn heo giống sinh sản tốt để sản xuất đàn heo nuôi thịt thương phẩm, tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn ít, tỷ lệ nạc cao thích nghi với nhiều điều kiện chăn nuôi để cung cấp cho thị trường, tăng năng lực cạnh tranh và đem lại hiệu quả kinh tế cho trại
Khảo sát đánh giá sức sinh sản của các nhóm giống heo làm cơ sở khoa học cho việc chọn giống và nhân giống nhằm không ngừng nâng cao sức sản xuất của đàn heo cho trại chăn nuôi Trí Công là hết sức cần thiết
Từ những lý do trên, được sự đồng ý của Bộ Môn Di Truyền Giống Động Vật Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh với sự hướng dẫn của TS Trần Văn Chính chúng tôi thực hiện đề tài: “KHẢO SÁT MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH SẢN CỦA CÁC NHÓM GIỐNG HEO NÁI TẠI TRẠI HEO TRÍ CÔNG – HỐ NAI I – BIÊN HÒA – ĐỒNG NAI”
1.2 MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU
1.2.1 Mục đích
Đánh giá sức sinh sản của các nhóm giống heo nái, nhằm có những biện pháp tác động để cải thiện và nâng cao năng suất của đàn heo nái đang được nuôi tại trại chăn nuôi heo Trí Công
Trang 141.2.2 Yêu cầu
Theo dõi, quan sát, thu thập số liệu, phân tích thông kê và so sánh kết quả một
số chỉ tiêu sinh sản của các nhóm giống heo nái tại trại trong thời gian thực tập
Trang 15Chương 2
TỔNG QUAN 2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ TRẠI CHĂN NUÔI HEO NGUYỄN TRÍ CÔNG 2.1.1 Vị trí địa lý
Trại chăn nuôi heo tư nhân Trí Công của ông Nguyễn Trí Công được xây dựng tại 2 cơ sở cách nhau 7 km
Cơ sở I: chủ yếu nuôi heo nái, heo nọc, heo con theo mẹ và cai sữa giai đoạn đầu, tại 4/64 khu 10 – Xuân Trà, phường Hố Nai – Biên Hòa – Đồng Nai Cách quốc
lộ 1A khoảng 1km về hướng Tây Bắc, do nằm gần quốc lộ 1A nên rất thuận lợi cho việc vận chuyển và mua bán
Cơ sở II: chủ yếu nuôi heo thịt, tại 72A Đoàn Văn Cừ, ấp Vàm, xã Thiên Tân, huyện Vĩnh Cữu, tỉnh Đồng Nai
2.1.2 Lịch sử hình thành trại
Tiền thân của trại heo từ trước năm 1968 chỉ là một hộ chăn nuôi heo theo tính chất gia đình, bước đầu chỉ với 4 heo nái, nhờ vào kinh nghiệm cùng với sự tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật một cách có chọn lọc, đến cuối năm 1975 tổng đàn heo của gia đình lên đến hơn 1.000 con, trong số đó có gần 200 nái
Công việc chăn nuôi của gia đình chỉ khởi sắc từ năm 1985 khi việc điều hành sản xuất và kinh doanh của gia đình được giao cho ông bà Nguyễn Trí Công Tận dụng phương tiện có sẵn kết hợp với kinh nghiệm tích lũy được từ một gia đình có truyền thống chăn nuôi Ông bà đã mạnh dạn áp dụng khoa học vào việc cải thiện và chăm sóc, đồng thời nâng cấp cơ sở hạ tầng cho phù hợp với yêu cầu chăn nuôi theo hướng công nghiệp Từ đó đến nay trại heo Trí Công đã từng bước phát triển rõ rệt Tính đến thời điểm hiện nay tổng đàn heo của trại đã lên đến gần 3.000 con
2.1.3 Nhiệm vụ của trại
Nhân giống và cung cấp heo giống hậu bị, heo thịt nuôi thương phẩm cho các trại chăn nuôi và các hộ gia đình trong khu vực và các vùng lân cận
Trang 162.1.4 Cơ cấu tổ chức của trại
2.1.5 Cơ cấu đàn
Tổng đàn heo ở trại thay đổi theo mỗi ngày Tính đến 30/12/2008 tổng đàn heo
của trại được ghi nhận là 2770 con, cơ cấu đàn heo được trình bày qua bảng 2.1
Bảng 2.1 Cơ cấu đàn heo của trại
Đực giống 9 Đực hậu bị 1 Nái hậu bị 43 Nái sinh sản 313 Heo con theo mẹ 385
Heo cai sữa 2019 Tổng đàn 2770
2.1.6 Công tác giống
Các nhóm giống heo hiện có của trại: Landrace, Duroc, Yorkshire x Landrace,
Landrace x Yorkshire
Heo con mới sinh được chọn nuôi: chọn những heo con khỏe mạnh, đạt trọng
lượng 800g trở lên, sau 3 ngày tiến hành chích sắt, bấm tai, thiến heo đực
Các bước tiến hành chọn giống:
- Chọn lúc mới sinh: heo được chọn làm giống phải đạt 1,2kg trở lên, không dị
tật, lông da bóng mượt, có 12 vú trở lên, các núm vú cách đều nhau, bộ phận sinh dục
bình thường và tiến hành đăng bộ vào sổ
Chủ trại
Nhân viên quản lý chung Nhân viên quản lý kỹ thuật
Trang 17- Chọn lúc cai sữa: tiến hành cân trọng lượng heo đạt 5kg trở lên lúc 21 ngày tuổi
- Chọn lúc 3 - 4 tháng tuổi: ngoại hình thể chất đẹp, không dị tật, 12 vú trở lên, các núm vú lộ rõ và cách đều Heo đực dịch hoàn phải to và đều
- Chọn lúc heo đạt 5 – 6 tháng tuổi: heo được chọn làm giống dựa vào các chỉ tiêu sau: độ dày mỡ lưng, số vú phải đạt 12 vú trở lên, trọng lượng heo khoảng 80 – 100kg và dựa vào lý lịch của bố mẹ
2.2 GIỚI THIỆU SƠ NÉT VỀ CÁC GIỐNG HEO ĐƯỢC NUÔI TẠI TRẠI
2.2.1 Landrace (L.L)
Nguồn gốc: từ Đan Mạch
Đặc điểm ngoại hình: Có sắc lông màu trắng tuyền, vóc to lớn, đầu nhỏ, mõm dài, tai xụ úp mắt, lưng thẳng, chân nhỏ đi trên ngón, phần sau nở nang, nhìn ngang thân có hình tam giác
Đặc điểm sinh trưởng: là nhóm heo nạc được nhiều nhà chăn nuôi ưa chuộng, dùng làm nái sinh sản và lai với các nhóm giống khác
6 tháng tuổi đạt 80 – 90kg, tỷ lệ nạc 56 - 58% Heo đực trưởng thành đạt 220 – 230kg, heo nái 180 – 200kg
Đặc điểm sinh sản: năng suất sinh sản cao mỗi năm nái có thể đẻ 1,8 – 2,2 lứa, nếu chăm sóc có thể lên đến 2,5 lứa, mỗi lứa 8 – 9 con
2.2.3 Yorkshire x Landrace (Y.L)
Là nhóm heo lai hai máu có cha là Yorkshire và mẹ là Landrace Lông trắng tuyền, tai hơi xụ, hướng về phía trước, lưng thẳng, mình tròn, bốn chân vừa phải, đi lại nhanh nhẹn
Trang 182.2.4 Landrace x Yorkshire (L.Y)
Là nhóm heo lai hai máu có cha là Landrace và mẹ là Yorkshire sắc lông màu trắng hoặc toàn cơ thể có những đốm đen giữa thân, giữa tai và mắt, đầu to vừa phải, tai xụ úp mắt hoặc nghiêng về phía trước, mông đùi to, chân khỏe mạnh, đi lại vững chắc
2.3 ĐIỀU KIỆN CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG
2.3.1 Chuồng trại
Tổng diện tích khoảng 1hecta bao gồm:
- Khu heo đực giống, nái khô và hậu bị
- Khu nái mang thai
- Khu nái đẻ
- Khu heo con cai sữa
Toàn bộ chuồng trại là hệ thống chuồng hở, mái cao, lợp bằng tôn, được thiết
kế theo dạng hình chữ A, có trần cách nhiệt, có quạt thông gió và thoát nhiệt Ở mỗi dãy đều có vòi phun sương để giải nhiệt cho heo khi trời nóng Mỗi khu đều có hệ thống mương rãnh thoát nước thông thoáng Nước thải khi tắm heo và xịt chuồng theo mương rãnh đi vào hệ thống xử lý Biogas
Chuồng heo đực giống: được bố trí xen kẽ với chuồng nái chờ phối và hậu bị, một máng ăn đặt phía trước và một vòi nước tự động đặt phía sau
Chuồng nái mang thai: gồm 20 chuồng nuôi nhốt tập trung dành cho nái ở giai đoạn chửa kỳ 1 (khoảng 60 ngày đầu) Ở đầu mỗi chuồng có máng ăn bằng ciment và được chia ra từng ô cho mỗi con Ba dãy chuồng dành cho heo nái chửa kỳ 2 (54 – 55 ngày sau) Mỗi dãy có 36 lồng, đằng sau mỗi dãy đều có sân cho nái vận động Mỗi nái được nuôi 1 lồng để định khẩu phần riêng cho từng nái
Chuồng nái đẻ: được thiết kế theo kiểu chuồng sàn, gồm 2 dãy, mỗi dãy có 32 dãy chuồng Quạt thông gió và vòi phun sương được đặt đầu, giữa và cuối dãy Các ô chuồng làm bằng sắt, mỗi ô rộng 2,2m x 1,8m, được phân làm 3 ngăn, ngăn giữa có diện tích chỉ đủ cho neo nái đứng lên nằm xuống để hạn chế tình trạng heo mẹ đè heo con, có 1 phần ở góc chuồng làm ổ úm cho heo con Ngoài ra, phía trước mỗi ô còn có
1 núm uống nước, 1 máng ăn và 1 ống nước nhỏ giọt cho heo nái giải nhiệt khi trời nóng
Trang 19Chuồng nái khô: nái khô được nuôi chung thành từng nhóm khoảng 8 – 10 con trong 1 ô, chuồng rộng khoảng 50 – 100m2 Chuồng được làm bằng khung sắt xung quanh, nền bằng xi măng, có máng ăn tự động, mái cao, lợp bằng tôn, có vòi phun sương ở mỗi ô chuồng và 1 quạt lớn ở đầu mỗi dãy
Chuồng heo cai sữa: được thiết kế theo kiểu chuồng sàn, bằng sắt, xung quanh được bao kín bởi những tấm bạt và tôn, máng ăn tự động và núm uống nước Mỗi ô chuồng còn có thêm 1 đèn hồng ngoại 150w để làm ấm cho heo
2.3.2 Thức ăn
Thức ăn ở trại chủ yếu là mua nguyên liệu tự tổ hợp khẩu phần và tự chế biến Ngoài ra còn mua thêm thức ăn hỗn hợp viên dành riêng cho heo con tập ăn và heo cai sữa Thành phần dinh dưỡng của các loại thức ăn hỗn hợp được sử dụng ở trại được trình bày qua bảng 2.2
Bảng 2.2 Thành phần dinh dưỡng các loại thức ăn tự trộn
Thành phần Nái đẻ Nái mang
thai
Heo 15 – 35kg
Heo 35 – 60kg
Heo 60 – 100kg
Trang 20Thành phần dinh dưỡng của thức ăn hỗn hợp Delice B của Proconco dành cho heo tập ăn được trình bày qua bảng 2.3
Bảng 2.3 Thành phần dinh dưỡng thức ăn hỗn hợp Delice B của Proconco
Năng lượng trao đổi (min kcal/kg) 3300
2.3.4 Chăm sóc nuôi dưỡng
- Heo hậu bị và heo chờ phối: cho ăn chế độ tự do đến khi phối chuyển sang ăn định mức 2,5 – 3kg/con/ngày vào lúc 16 giờ
- Heo mang thai: thời gian nái mang thai bình thường là 114 ngày được chia thành 3 giai đoạn:
+ Kỳ 1: 1 – 60 ngày, nái được nhốt ở chuồng ép không có sân chơi
+ Kỳ 2: 60 – 100 ngày, nái được nhốt ở chuồng ép nhưng có sân chơi ở phía sau
+ Kỳ 3: 100 – 114 ngày, nái được chuyển lên chuồng đẻ và được vệ sinh sát trùng kỹ lưỡng
Heo được cho ăn 1 lần/ngày lúc 16 giờ theo định mức khẩu phần từ 2,5 – 3kg/con/ngày Tùy thể trạng mập ốn mà heo nái được tăng hay giảm khẩu phần cho hợp lý
Heo được tắm 2 ngày/lần Khi trời nóng thì mở quạt và hệ thống vòi phun sương Heo được dọn vệ sinh 3 lần/ngày
Chuồng nuôi heo nái được giữ khô ráo vệ sinh sạch sẽ và không làm heo nái xáo động mạnh để phòng ngừa sẩy thai do heo nái bị té ngã
Trang 21- Nái đẻ: trước khi đẻ 1 tuần heo mẹ được chuyển lên chuồng lồng đã được sát trùng và chờ đẻ Trước khi sinh 3 ngày giảm khẩu phần ăn, ngày đẻ nhịn ăn để nái sinh sản được dễ dàng
- Trong giai đoạn này công nhân chuẩn bị lồng úm cho heo con, kìm bấm răng, kéo cắt đuôi, thuốc sát trùng, thuốc dục đẻ, thuốc kháng sinh chống viêm nhiễm, khăn lau…
- Khi nái sinh, công nhân có mặt kịp thời để đỡ đẻ và can thiệp khi cần thiết, heo nái đẻ xong được vệ sinh sạch sẽ, kiểm tra xem có sót nhau sót con hay viêm nhiễm gì không
- Trong thời gian nái nuôi con tuyệt đối không tắm heo khi trời nóng thì mở quạt và ống nước nhỏ giọt làm mát cho nái Heo được dọn vệ sinh thường xuyên trong ngày và xịt rửa dưới gầm chuồng sàn
- Khi nái đẻ được 1 con ta tiêm bắp 2ml Lutalyse nhằm kích thích co bóp tử cung
- Sau khi đẻ xong, tiêm tĩnh mạch 10ml Théracalcium + 10ml Cevita 500 để tăng cường sức khỏe cho nái sau khi đẻ và tiêm bắp 13ml Longgicine nhằm chống viêm sau đẻ
- 1 ngày sau khi đẻ, truyền dịch cho nái gồm 1 chai dinh dưỡng glucose 5% 500ml + 10ml cevita 500 + 15ml Théracalcium
Sau 25 ngày tiêm bắp 3ml ADE để kích thích sự lên giống cho chu kỳ tiếp theo Trước khi cai sữa 1 ngày cho heo nhịn ăn sau đó chuyển xuống chuồng nái khô Cuối cùng cho heo ăn ít vào ngày thứ nhất sau đẻ và tăng lương thức ăn lên từ từ cho đến khi heo nái có thể ăn đến mức tối đa Trong giai đoạn nái nuôi con cần cho nái uống nước nhiều để giúp cho sự tiết sữa được tốt hơn
- Heo con theo mẹ: khi sinh ra trong vòng 24 giờ phải cho heo bú sữa đầu Heo con mới sinh ra phải được lấy chất nhờn trong miệng, mũi ra ngoài, sau đó rắc bột Mistral có tác dụng giữ ấm và khô ráo cho heo Rốn heo không cần cắt mà sẽ tự rụng trong vòng 2-3 ngày sau đó, cắt răng heo 12 giờ sau khi sinh Ngày thứ nhất sau khi sinh cho heo con uống sulfamid để ngừa tiêu chảy Ngày thứ 3 tiến hành tiêm sắt cho heo con với liều lượng 2ml/con Ngày thứ 4 uống Baycox 5% để phòng và trị bệnh cầu trùng với liều lượng 1ml/con nếu bị tiêu chảy thì cho uống 2ml/con Bổ sung thêm sữa
Trang 22bột cho heo con trong vòng từ 1-6 ngày tuổi Heo được tập ăn vào ngày thứ 7 Từ ngày thứ 7-10 tiến hành thiến heo đực Ngày thứ 10 tiêm Citius lần 1 phòng và trị hô hấp với lượng 0,5ml/con Ngày thứ 13 tiêm vaccine Mycoplasma Ngày thứ 24 tiêm Citius lần 2
- Heo đực giống: heo được cho ăn 1 lần/ngày lúc 16 giờ theo định mức khẩu phần 2,5-3 kg/con/ngày tùy theo thể trạng của heo
2.3.5 Quy trình vệ sinh thú và tiêm phòng
2.3.5.1 Quy trình vệ sinh thú y
- Chuồng trại được vệ sinh và quét dọn 3 lần/ngày
- Heo mang thai được tắm 2 lần/ngày Còn nái đẻ không tắm mà chỉ xịt gầm chuồng bằng nước
- Thực hiện tổng vệ sinh toàn trại 1 lần/tuần, bao gồm rửa chuồng, rửa máng ăn, quét dọn xung quanh trại sau đó phun thuốc sát trùng toàn trại
- Chuồng nái đẻ sau mỗi lứa được rửa sạch sẽ và sát trùng, quét vôi bỏ trống vài ngày trước khi đưa nái bầu xuống chuẩn bị đẻ
- Thuốc sát trùng thường dùng là Longlife 250 S
- Xe vận chuyển và người trước khi ra vào trại phải sát trùng
- Công nhân không được mặc đồ của trại ra ngoài và ngược lại
- Khách tham quan được mang ủng, đồ bảo hộ và đi qua hố sát trùng trước khi vào trại
2.3.5.2 Quy trình tiêm phòng
Tiêm phòng định kỳ cho heo ở các lứa tuổi, tiêm đúng ngày, đúng liều, đúng kỹ thuật để cho heo tạo ra hệ miễn dịch chắc chắn
- Heo con: 13 ngày tiêm phòng bệnh viêm phổi
- Heo đực giống tiêm phòng bệnh parvo, lở mồm long móng, giả dại, dịch tả định kỳ 6 tháng 1 lần
- Heo thịt: được tiêm phòng các bệnh theo quy trình như sau
35 ngày tuổi 50 ngày tuổi 56 ngày tuổi 65 ngày tuổi
Dịch tả 1 Dịch tả 2 Giả dại Lở mồm long móng
Trang 23Hậu bị: được tiêm phòng các bệnh theo quy trình như sau
40 ngày tuổi 50-56 ngày tuổi 26 tuần tuổi 27 tuần tuổi 28 tuần tuổi 29 tuần tuổi
Viêm phổi1 Viêm phổi2 Giả dại Lở mồm long móng Parvo Dịch tả
Nái mang thai (trước khi đẻ)
6 tuần tuổi 4 tuần tuổi 3 tuần tuổi 2 tuần tuổi đẻ
Dịch tả Giả dại Lở mồm long móng E.coli
2.4 YẾU TỐ CẤU THÀNH NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA HEO NÁI
Năng suất sinh sản của đàn heo nái trong trại là yếu tố quyết định đến hiệu quả kinh tế của trại đó Trong đó tổng trọng lượng heo con cai sữa của mỗi nái trên năm là chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của heo nái Như vậy, năng suất sinh sản của heo nái chịu ảnh hưởng bởi các chỉ tiêu như: số heo con cai sữa của nái trên năm, số lứa đẻ của nái trên năm và tuổi đẻ lứa đầu của nái
2.4.1 Tuổi thành thục
Tuổi thành thục là một trong những chỉ tiêu đầu tiên để đánh giá khả năng sinh sản của heo nái, vì heo hậu bị cái thành thục ở độ tuổi càng sớm thì càng rút ngắn được tuổi đẻ lứa đầu Do đó, người chăn nuôi sẽ tiết kiệm được chi phí thức ăn, công chăm sóc cũng như giảm bớt thời gian chăn nuôi mà không làm ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của nái
Trung bình tuổi thành thục của heo hậu bị cái ngoại khoảng 5-8 tháng tuổi Heo hậu bị cái lai có biểu hiện lên giống sớm hơn heo hậu bị cái thuần 1-4 tuần (Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ, 1996) điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, chế độ quản lý cũng ảnh hưởng đến tuổi thành thục
Theo Christenson và ctv (1979), cho rằng các giống heo nhóm ngoại như Yorkshire, Landrace, Duroc thì giống Landrace có tuổi thành thục sớm nhất kế đến là giống Yorkshire và cuối cùng là giống heo Duroc
Theo Zimmerman (1981) và Hugles (1993) việc nuôi riêng heo hậu bị cái sẽ chậm thành thục hơn so với cho tiếp xúc với heo đực Heo hậu bị ăn kém hay quá mức thì tuổi thành thục sẽ chậm trở lại
Trang 24Theo Fajerson (1992), mùa và thời gian chiếu sáng trong ngày làm cho heo hậu
bị thành thục sớm hay muộn
2.4.2 Tuổi phối giống lần đầu
Heo có tuổi phối giống lần đầu sớm và sự phối giống đậu thai sẽ dẫn đến tuổi
đẻ lứa đầu sớm, quay vòng nhanh, sẽ gia tăng được thời gian sử dụng heo nái
Thời điểm phối giống quyết định tỷ lệ đậu thai và số con đẻ ra trên ổ (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 1997) Đối với heo hậu bị nên phối vào khoảng 12-36 giờ khi có biểu hiện động dục và 18-36 giờ đối với heo nái rạ
Nên phối heo vào lúc sáng sớm hoặc lúc chiều mát, tránh thời điểm heo quá đói hoặc quá no
2.4.3 Tuổi đẻ lứa đầu
Tuổi đẻ lứa đầu không những phụ thuộc vào yếu tố giống thông qua tuổi thành thục sớm hay muộn mà còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện chăm sóc và quản lý nuôi dưỡng Heo có tuổi thành thục sớm nhưng không phát hiện kịp thời hoặc phối giống không đúng kỹ thuật, chế dộ dinh dưỡng kém, mắc các bệnh truyền nhiễm và sản khoa, sự chăm sóc, quản lý không tốt trong thời gian mang thai,… cũng làm kéo dài tuổi đẻ lứa đầu do mất cơ hội phối giống, hư thai, sảy thai
Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (1996) cần bỏ qua chu kỳ động dục lần đầu tiên, không cho phối giống vì cơ thể chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ đủ chất dinh dưỡng để nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái, sinh sản lâu bền nên cho nái ngoại và nái lai đẻ lứa đầu tiên lúc 12-14 tháng tuổi
2.4.4 Số lứa đẻ của nái trên năm
Để gia tăng lứa đẻ của nái trên năm phải rút ngắn thời gian giữa hai lứa đẻ Người ta chỉ có thể rút ngắn thời gian cho sữa, thời gian từ khi cho sữa đến khi phối giống lại và đậu thai còn thời gian mang thai thì chưa rút ngắn được vì đó là đặc tính sinh học của mỗi loài Do đó, người ta thường tập cho heo con ăn sớm và cho heo con cai sữa ở 3-4 tuần tuổi
Theo Evans (1989) cai sữa sớm trước 3 tuần tuổi có thể dẫn đến giảm số trứng rụng ở lần phối giống lại và gia tăng tỷ lệ chết phôi ở lần mang thai kế tiếp Heo nái có biểu hiện lên giống lại khoảng 4-10 ngày sau cai sữa, do đó phải quan sát kỹ để phối
Trang 25giống đúng thời điểm, nếu không sẽ trễ một chu kỳ lên giống của heo làm giảm hiệu quả kinh tế của nhà chăn nuôi
2.4.5 Số heo con đẻ ra trên ổ
Số heo con đẻ ra trên ổ phụ thuộc vào các yếu tố sau: phối giống đúng thời điểm, số trứng rụng, tỷ lệ chết thai trong thời gian mang thai thấp
Theo Claus và ctv (1985) thời điểm phối giống, kỹ thuật phối giống, chế độ quản lý chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi phối, mang thai, nhiệt độ chuồng nuôi, tuổi của heo mẹ… đều ảnh hưởng đến chỉ tiêu này
Theo Whittermore (1993) thì yếu tố chính để đánh giá năng suất sinh sản của heo nái vẫn là giống Vì thế phải cải thiện con giống là vấn đề hàng đầu, nâng cao tính mắn đẻ của heo
2.4.6 Số heo con sơ sinh còn sống và tỷ lệ nuôi sống heo con đến cai sữa
Trình độ chăm sóc, quản lý là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số heo con còn sống đến cai sữa Số heo con nuôi sống đến cai sữa thường tỷ lệ nghịch với số heo con
2.4.7 Trọng lượng heo con sơ sinh và trọng lượng heo con cai sữa
Trọng lượng heo con sơ sinh và trọng lượng heo con cai sữa của heo nái đẻ lứa đầu thường nhỏ hơn lứa thứ hai bình quân 5% Tuổi và trọng lượng của heo nái hậu bị khi phối giống ảnh hưởng đến số con, cả trọng lượng heo con sơ sinh Nhiều tác giả cho rằng có thể nâng cao trọng lượng của heo con sơ sinh bằng cách tăng năng lượng tiêu thụ cho heo nái mang thai giai đoạn cuối
Trang 26Khả năng tiết sữa và mẫu tính của heo mẹ được thể hiện qua trọng lượng của heo con ở 21 ngày tuổi, nếu heo mẹ mắn đẻ thì heo con sinh ra có trọng lượng thấp dẫn đến tỷ lệ nuôi sống thấp Bên cạnh đó, nếu như heo mẹ có mẫu tính, tiết sữa nhiều, nuôi con tốt thì heo con ít bị chết vì mẹ đè hoặc tiêu chảy do thiếu sữa sẽ dẫn đến tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa
2.4.8 Số heo con cai sữa của nái trên năm
Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá khả năng sinh sản của heo nái và hiệu quả kinh tế của một trại chăn nuôi
Số heo con cai sữa của một nái trên năm phụ thuộc vào 2 yếu tố: số heo con cai sữa bình quân trên ổ và số lứa đẻ của nái trên năm Số lứa đẻ của nái trên năm đã nói ở phần trên còn số heo con cai sữa bình quân trên ổ phụ thuộc vào các yếu tố như: số heo con đẻ ra trên ổ, số heo con sơ sinh còn sống và tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa
2.4.9 Trọng lượng toàn ổ heo con cai sữa
Số heo con của nái trên năm cao nhưng trọng lượng của heo con cai sữa thấp cũng không mang lại hiệu quả kinh tế Vì vậy cần tăng cường nhiều biện pháp kỹ thuật như chất lượng tinh của heo đực giống cha, kỹ thuật phối giống, dinh dưỡng cho heo nái mẹ trong thời gian mang thai và nuôi con hợp lý, cùng các yếu tố ngoại cảnh khác như chuồng trại, tiểu khí hậu chuồng nuôi, phòng ngừa bệnh cho heo mẹ và heo con, chọn lựa những heo nái giống nuôi con khéo, sự tách ghép bầy heo con cho heo nái nuôi hợp lý… để cuối cùng là đạt được trọng lượng bình quân heo con cai sữa cao nhất như mong muốn
2.5 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA HEO NÁI
2.5.1 Yếu tố di truyền
Đây là đặc tính sinh học riêng của mỗi giống, loài và nó được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Các giống heo khác nhau có đặc tính di truyền về sinh sản khác nhau Do đó, khi chọn heo hậu bị làm giống phải căn cứ vào phả hệ của nó, thông qua ông bà, cha mẹ, anh chị em về thành tích sinh sản và khả năng đề kháng lại bệnh tật
Dziuk (1977), cho rằng tuổi thành thục của heo hậu bị cái phần lớn là do di truyền
Trang 27Galvil và ctv (1993), cho rằng tính mắn đẻ của heo nái phần lớn là do kiểu di truyền của nó Đặc tính này không thể thay đổi được mặc dù có những biện pháp khác như dinh dưỡng và kỹ thuật phối giống tốt
Theo Whitemore (1993), số heo con đẻ ra trên ổ phụ thuộc rất nhiều vào kiểu di truyền của heo mẹ
Theo Lasley (1987) dù con vật có được nuôi ở điều kiện ngoại cảnh tốt nhất cũng không thể làm cho con vật vượt quá tiềm năng di truyền của nó
Theo Võ Văn Ninh (2002), heo nái stress nhiệt trong thời gian phối giống có thể làm giảm tỷ lệ đậu thai Nhiệt độ và ẩm độ cao trong khoảng thời gian từ 1-16 ngày đầu hay 102-110 ngày cuối của kỳ mang thai đều làm giảm số con đẻ ra trên ổ
Ẩm độ trong không khí quá cao hoặc quá thấp đều ảnh hưởng không tốt đến sức sinh sản của heo nái Theo Hồ Thị Kim Hoa (2004), nên giữ ẩm độ trong chuồng nuôi vào khoảng 50-70% Nếu ẩm độ quá cao (>90%) sẽ làm cho thú khó chịu, mất cảm giác ngon khi ăn, tỷ lệ tiêu hóa giảm và dễ bị nhiễm các bệnh đường hô hấp
Ngoài ra, độ thông thoáng và kiểu chuồng nuôi cũng ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của heo nái Nếu chuồng nuôi sạch sẽ, độ thông thoáng tốt, không ẩm thấp,…
sẽ đưa năng suất sinh sản của heo nái từ 10-15%, ngược lại giảm từ 15-30% (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 1997)
- Bệnh tật: là yếu tố ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh sản của heo nái, theo Nguyễn Như Pho (2004), cho rằng có nhiều nguyên nhân làm giảm thành tích sinh sản của heo nái và sức sống của heo con, có thể do nhiễm trùng bầu vú, tử cung của heo
Trang 28nái gây nên hội chứng viêm vú, viêm tử cung, kém hoặc mất sữa và loạn khuẩn đường ruột trên heo con do các vi sinh vật cơ hội có mặt trong chuồng
- Dinh dưỡng: là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát dục của đàn heo Vì vậy phải cung cấp đầy đủ thức ăn cả về số lượng và chất lượng, cân đối khẩu phần hợp lý cho từng giai đoạn của thai kỳ
Theo Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân (1997), cho heo hậu bị ăn kém phẩm chất sẽ kéo dài tuổi thành thục Thức ăn thiếu protein và vitamin A hay thức ăn mốc thì phôi ngừng phát triển
Vitamin A làm tăng khả năng nuôi phôi tử cung, giúp phôi và bào thai phát triển bình thường Nếu thiếu vitamin A heo có thể sảy thai, sau khi sinh dễ bị hội chứng viêm vú, viêm tử cung, kém hoặc mất sữa, số heo con sơ sinh thấp do đó có nhiều thai khô, heo con sinh ra yếu
Vitamin E là chất chống vô sinh nên rất cần cho hoạt động của cơ quan sinh dục Heo nái thiếu vitamin E sẽ mất khả năng sinh sản bình thường, lớp niêm mạc tử cung bị xơ hóa, quá trình phát triển của trứng bị rối loạn, dẫn đến tỷ lệ đậu thai kém, bào thai dễ chết gây sảy thai
Cho heo ăn uống đầy đủ trong 4-10 ngày của chu kỳ động dục trước khi phối giống sẽ đạt số trứng rụng tối đa
Nhưng nếu tiếp tục cho ăn mức năng lượng cao vào đầu giai đoạn có mang sẽ làm tăng tỷ lệ chết phôi và giảm số heo con đẻ ra trên ổ (Trương Lăng, 2003)
Canxi là chất khoáng rất cần cho heo nái sinh sản, thiếu canxi làm cho cơ thể thiếu vitamin D làm ảnh hưởng đến sự phát triển khung xương của bào thai, hậu quả là heo con đẻ ra ốm yếu Ngoài ra, thiếu canxi còn làm cho heo mẹ dễ mắc chứng bại liệt sau khi sanh, gây ảnh hưởng xấu tới nhà chăn nuôi
- Quản lý chăm sóc: có tác dụng không nhỏ đến sức sản xuất của đàn heo nái Mật độ nuôi cao, vệ sinh chuồng trại kém, sử dụng các phương pháp điều trị không hiệu quả cũng là yếu tố làm cho sinh sản thấp
Việc chăm sóc tốt sẽ giúp phát hiện kịp thời heo mắc bệnh và điều trị hiệu quả làm giảm tỷ lệ heo con chết ngạt, heo con bị mẹ đè do can thiệp không đúng lúc Theo Whittemore (1993) nếu một trại chăn nuôi có tỷ lệ hao hụt heo con từ 8-12% là trại có trình độ quản lý tốt (trích dẫn tư liệu của Võ Thị Tuyết, 1996)
Trang 292.6 BIỆN PHÁP NÂNG CAO SỨC SINH SẢN CỦA HEO NÁI
- Sử dụng heo nái có những giống (dòng) được chọn lọc có ưu thế lai về khả năng sinh sản như các giống (dòng) heo Yorkshire, Landrace và các heo lai thuận nghịch từ hai giống (dòng) này
- Thực hiện một chế độ dinh dưỡng phù hợp cho từng giai đoạn nuôi dưỡng đối với heo hậu bị, heo nái mang thai, heo nái nuôi con…
- Quản lý heo nái theo nhóm cùng vào cùng ra để có thể tách ghép bầy dễ dàng khi cần thiết và thuận lợi trong sát trùng chuồng trại nhằm cắt đứt những nguyên nhân gây mầm bệnh tiềm ẩn
- Theo dõi chặt chẽ khi heo nái sinh con, cho bú sữa đầu, ghép bầy hợp lý
- Phát hiện lên giống, phối giống đúng thời điểm, đúng kỹ thuật
- Sử dụng heo đực giống hoặc tinh heo đực giống chất lượng cao
- Đảm bảo tối thiểu khí hậu chuồng nuôi phù hợp và các điều kiện vệ sinh chăm sóc, thú y tốt
Loại thải những cá thể có sức sinh sản kém
Sử dụng biện pháp lên giống đồng loạt
Trang 30Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM
Thời gian: từ ngày 1/8/2008 đến ngày 30/12/2008
Địa điểm: tại trại chăn nuôi heo Trí Công – Hố Nai 1 – Biên Hòa – Đồng Nai
3.2 NỘI DUNG KHẢO SÁT
Khảo sát so sánh và xếp hạng khả năng sinh sản của một số nhóm giống heo nái được nuôi tại trại
Trang 313.4 CÁC CHỈ TIÊU KHẢO SÁT
3.4.1 Tuổi phối giống lần đầu
Là số ngày tính từ lúc nái được sinh ra cho đến khi phối lần đầu
3.4.2 Tuổi đẻ lứa đầu (ngày)
Là số ngày tính từ lúc nái được sinh ra cho đến khi nái đẻ lứa đầu
3.4.3 Số heo con đẻ ra trên ổ (con/ổ)
Là số heo con đẻ ra trên ổ bao gồm tất cả các heo con được sinh ra kể cả những
heo con chết ngộp, thai khô, dị tật
3.4.4 Số heo con sơ sinh còn sống (con/ổ)
Số heo con đẻ ra trên ổ trừ số heo con đã chết, thai khô
3.4.5 Số heo con sơ sinh còn sống đã điều chỉnh (con/ổ)
Do đàn heo nái khảo sát phân bố không đều giữa các lứa đẻ của heo nái các
nhóm giống nên chỉ tiêu số heo con sơ sinh còn sống được điều chỉnh về cùng lứa
chuẩn (lứa 4, 5) theo phương pháp của Mỹ (NSIF, 2004) để so sánh chỉ tiêu này giữa
các nhóm giống được chính xác hơn Hệ số điều chỉnh số heo con sơ sinh còn sống
3.4.6 Số heo con chọn nuôi (con/ổ)
Là số heo con sơ sinh còn sống trừ đi những con yếu, dị tật, ốm yếu, trọng
lượng nhỏ hơn 800g
3.4.7 Số heo con giao nuôi (con/ổ)
Là số heo con được giao cho heo nái nuôi sau khi đã tách ghép bầy trên cơ sở
số heo con chọn nuôi
3.4.8 Trọng lượng toàn ổ heo con sơ sinh còn sống (kg/ổ)
Là tổng trọng lượng heo con sơ sinh còn sống của cả ổ
Trang 323.4.9 Trọng lượng bình quân heo con sơ sinh cịn sống (TLBQHCSSCS)
Được tính theo cơng thức:
TLBQHCSSCS =
(con/ổ)sống
cònsinhsơcon heoSố
(kg/ổ)sống
cònsinhsơconheoổtoànlượngTrọng
3.4.10 Tuổi cai sữa heo con (ngày)
Tính từ lúc heo con được sinh ra đến khi cai sữa mẹ
3.4.11 Số heo con cai sữa (con/ổ)
Là số heo con giao nuơi cịn sống đến lúc cai sữa
3.4.12 Trọng lượng tồn ổ heo con cai sữa (kg/ổ)
Là trọng lượng tồn ổ heo con được cân lúc cai sữa thực tế
3.4.13 Trọng lượng bình quân heo con cai sữa (TLBQHCCS)
Được tính theo cơng thức:
TLBQHCCS =
(con/ổ)sữa
caicon heoSố
(kg/ổ)sữa
caiconheoổtoànlượngTrọng
3.4.14 Trọng lượng tồn ổ heo con đã điều chỉnh
Do tuổi cai sữa heo con khác nhau, lứa đẻ của mỗi nái khác nhau và số heo con giao nuơi của các heo nái cũng khác nhau, cho nên trọng lượng heo con cai sữa được
điều chỉnh về cùng ngày cai sữa chuẩn (≥ 10 con) để so sánh trọng lượng tồn ổ heo con cai sữa được điều chỉnh qua 3 bước như sau (NSIF, 2004)
Bước 1: điều chỉnh trọng lượng tồn ổ heo con cai sữa về cùng tuổi cai sữa heo
con chuẩn (21 ngày tuổi) bằng cách nhân thêm hệ số điều chỉnh ở bảng 3.3 tùy thuộc
vào số ngày cai sữa thực tế của heo con
Bảng 3.3: Hệ số điều chỉnh trọng lượng tồn ổ heo con cai sữa về 21 ngày tuổi
Tuổi cai sữa
Hệ số nhân
thêm 1,03 1,00 0,97 0,94 1,91 0,88 0,86 0,84 0,82 0,80 0,78 0,76
Bước 2: tiếp tục điều chỉnh về cùng số heo con giao nuơi chuẩn (≥ 10 con) bằng
cách cộng thêm hệ số điều chỉnh ở bảng 3.4 vào trọng lượng tồn ổ heo con cai sữa đã
điều chỉnh ở bước 1, tùy theo số heo con giao nuơi thực tế
Trang 33Bảng 3.4: Hệ số điều chỉnh trọng lượng tồn ổ heo con cai sữa về cùng số heo
con giao nuơi chuẩn (≥ 10 con)
Số heo con
Hệ số cộng
thêm (kg) 47,10 34,4 27,60 23,10 18,60 13,60 9,50 7,70 0,00
Bước 3: cuối cùng, điều chỉnh về cùng lứa chuẩn (lứa 2) bằng cách cộng thêm
hệ số điều chỉnh ở bảng 3.5 vào trọng lượng tồn ổ heo con cai sữa đã điều chỉnh ở
bước 2, tùy theo lứa đẻ thực tế của heo nái
Bảng 3.5: Hệ số điều chỉnh trọng lượng tồn ổ heo con cai sữa về cùng lứa
chuẩn (lứa 2)
Lứa đẻ 1 2 3 4 5 6 7 8
Hệ số cộng
3.4.15 Khoảng cách giữa hai lứa đẻ
Được tính từ ngày của lứa đẻ trước đến ngày của lứa đẻ sau
3.4.16 Số lứa đẻ của nái trên năm (SLĐCN/N) (lứa)
Được tính theo cơng thức:
SLĐCN/N =
đẻlứa haigiữacáchKhoảng
(ngày)365
3.4.17 Chỉ số sinh sản heo nái (SPI) và xếp hạng khả năng sinh sản của các nhĩm
giống heo nái (điểm)
Khả năng sinh sản của các nhĩm giống heo nái được đánh giá và xếp hạng dựa
vào chỉ số sinh sản heo nái (SPI - Sow Productivity Index) của NSIF (2004) theo cơng
Trang 35Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 TUỔI PHỐI GIỐNG LẦN ĐẦU
Tuổi phối giống lần đầu đánh dấu sự trưởng thành về mặt tính dục của đàn heo
sớm hay muộn Thành thục sớm và động dục theo đúng chu kỳ là rất quan trọng đối
với quá trình sinh sản của heo nái
Kết quả khảo sát được trình bày qua bảng 4.1 và biểu đồ 4.1
Bảng 4.1: Tuổi phối giống lần đầu
Tuổi phối giống lần đầu trung bình của quần thể là 304,67 ngày Trong đó,
nhóm giống L.L có tuổi phối giống lần đầu trễ nhất (309,05 ngày) và sớm nhất là
nhóm giống D.D (296,67 ngày) Tuy nhiên, sự khác biệt về tuổi phối giống lần đầu của
các nhóm giống là không có ý nghĩa về mặt thống kê với P > 0,05
Tuổi phối giống lần đầu của đàn heo nái các nhóm giống được sắp xếp theo thứ
tự giảm dần như sau: L.L (309,05 ngày) > Y.L (305,03 ngày) > L.Y (304,08 ngày) >
D.D (296,67 ngày)
Như vậy, tuổi phối giống lần đầu giữ các nhóm giống khác nhau không đáng kể
la do điều kiện chăm sóc và quản lý nuôi dưỡng của trại khá tốt
Tuổi phối giống lần đầu của đàn heo nái tại trại Trí Công được chúng tôi khảo
sát là 304,67 ngày muộn hơn kết quả được ghi nhận bởi một số tác giả như Nguyễn
Trang 36Thanh Tuyền (2005) là 262,95 ngày, Nguyễn Thị Tuyết (2005) là 254,51 ngày,
Nguyễn Thị Bích Thảo (2006) là 264,33 ngày
Như vậy, tuổi phối giống lần đầu của đàn heo nái tại trại này muộn hơn so với
một số trại khác, chứng tỏ đàn nái được nuôi dưỡng kỹ hơn do bỏ qua một hoặc hai
chu kỳ lên giống lần đầu nhằm tạo điều kiện cho cơ thể nái phát triển hoàn chỉnh hơn
309,05 296,67 305,03 304,08 304,67
040
Biểu đồ 4.1: Tuổi phối giống lần đầu 4.2 TUỔI ĐẺ LỨA ĐẦU
Tuổi đẻ lứa đầu càng sớm thì thời gian sử dụng nái lâu hơn, từ đó giúp các nhà
chăn nuôi giảm chi phí và thu hồi vốn nhanh
Kết quả khảo sát được trình bày qua bảng 4.2 và biểu đồ 4.2
Bảng 4.2: Tuổi đẻ lứa đầu
Trang 37Tuổi đẻ lứa đầu trung bình của quần thể là 422,24 ngày, trong đó nhóm giống D.D có tuổi đẻ lứa đầu sớm nhất (414,56 ngày) và nhóm giống L.L có tuổi đẻ lứa đầu muộn nhất (429,14 ngày)
Qua xử lý thống kê cho thấy sự khác biệt về chỉ tiêu này giữa các nhóm giống không có ý nghĩa với P > 0,05
Tuổi đẻ lứa đầu của heo nái các nhóm giống được khảo sát sắp xếp theo thứ tự giảm dần như sau: L.L (429,14 ngày) > Y.L (422,30 ngày) > L.Y (420,59 ngày) > D.D (414,56 ngày)
Kết quả cho thấy tuổi đẻ lứa đầu của đàn heo nái các nhóm giống có khuynh hướng biến thiên khá phù hợp với biến động tuổi phối giống lần đầu Chứng tỏ, đàn nái ít bị lốc và sảy thai ở lứa đẻ đầu tiên giữa các nhóm giống
Tuổi đẻ lứa đầu được ghi nhận bởi Dương Hồng Đức (2005) là 381 ngày, Nguyễn Thế Nam (2006) là 364,61 ngày, Nguyễn Thị Thái Hằng (2005) là 357 ngày đều sớm hơn so với kết quả chúng tôi khảo sát là 422,24 ngày
Sự khác biệt chỉ tiêu này giữa các trại có thể do tuổi phối giống lần đầu của đàn heo nái khác nhau, sự trục trặc trong sinh đẻ và các điều kiện chăm sóc quản lý khác nhau
Biểu đồ 4.2 Tuổi đẻ lứa đầu 4.3 SỐ HEO CON ĐẺ RA TRÊN Ổ
Để số heo con đẻ ra trên ổ cao, heo nái phải cố số trứng rụng nhiều, tỷ lệ trứng thụ tinh cao và tỷ lệ chết phôi trong thời gian mang thai thấp
Số heo con đẻ ra trên ổ trung bình của các ổ đẻ khảo sát là 10,49 con/ổ
Nhóm giống ngày
Trang 384.3.1 So sánh giữa các nhóm giống
Kết quả được trình bày ở bảng 4.3 và biểu đồ 4.3
Bảng 4.3 Số heo con đẻ ra trên ổ theo các nhóm giống
Biểu đồ 4.3 Số heo con đẻ ra trên ổ theo các nhóm giống
Số heo con đẻ ra trên ổ cao nhất ở nhóm giống L.L (10,89 con/ổ) và thấp nhất ở
nhóm giống D.D (8,64 con/ổ)
Qua xử lý thống kê cho thấy sự khác biệt về số heo con đẻ ra trên ổ giữa các
nhóm giống rất có ý nghĩa với P < 0,001
Số heo con đẻ ra trên ổ theo các nhóm giống được sắp xếp theo thứ tự giảm dần
như sau: L.L (10,892 con/ổ) > L.Y (10,815 con/ổ) > Y.L (10,414 con/ổ) > D.D (8,638
con/ổ)
Số heo con đẻ ra trên ổ ở nhóm giống L.L và L.Y tốt hơn so với Y.L và thấp
nhất là nhóm giống D.D Do nhóm giống heo L.L, L.Y và Y.L là nhóm giống hướng
sinh sản nên năng suất sinh sản cao hơn trong khi nhóm giống D.D có hướng sinh
trưởng và sản xuất thịt tốt nhưng khả năng sinh sản kém hơn
Nhóm giống Con/ổ
Trang 39Khảo sát của Nguyễn Thị Hoàng Yến (2005) là 8,93 con/ổ, Cao Văn Kha
(2006) là 8,79 con/ổ, Võ Thị Bích Dung (2005) là 9,42 con/ổ đều thấp hơn kết quả
chúng tôi ghi nhận được (10,49 con/ổ)
Như vậy, đàn nái của trại heo Trí Công tốt hơn so với các trại khác, có lẽ do đàn
nái ngày càng được cải thiện tốt hơn về con giống, quản lý phối giống, điều kiện nuôi
dưỡng, chăm sóc…
4.3.2 So sánh giữa các lứa đẻ
Kết quả được trình bày qua bảng 4.4 và biểu đồ 4.4
Bảng 4.4 Số heo con đẻ ra trên ổ theo lứa đẻ
Trang 40Số heo con đẻ ra trên ổ cao nhất ở lứa 7 (11,25 con/ổ) và thấp nhất ở lứa 1
(10,18 con/ổ)
Qua xử lý thống kê cho thấy sự khác biệt về số heo con đẻ ra trên ổ giữa các lứa
đẻ không có ý nghĩa với P > 0,05
Số heo con đẻ ra trên ổ giữa các lứa đẻ được sắp xếp theo thứ tự giảm dần như
sau: lứa 7 (11,25 con/ổ) > lứa 3 (10,84 con/ổ) > lứa 6 (10,75 con/ổ) > lứa 4 (10,71
con/ổ) > lứa 5 (10,65 con/ổ) > lứa 2 (10,42 con/ổ) > lứa 1 10,18 (con/ổ)
Như vậy, số heo con đẻ ra trên ổ thấp ở lứa 1, 2 cao ở lứa 3, 4, 5, 6, 7, điều này
phù hợp với nhận định của Võ Văn Ninh (2004) là số heo con đẻ ra trên ổ cao từ lứa 1
đến lứa 3,4,5 sau giảm
4.4 SỐ HEO CON SƠ SINH CÒN SỐNG
Số heo con sơ sinh còn sống bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: thời gian đẻ của
heo nái quá lâu làm heo con chết ngộp, heo nái càng nhiều lứa đẻ càng làm tăng nguy
cơ chết heo con trong quá trình mang thai và sanh đẻ, hoặc heo con sơ sinh có trọng
lượng quá thấp cũng làm giảm khả năng sống sót của heo con
Số heo con sơ sinh còn sống trung bình của quần thể các ổ đẻ khảo sát là 9,88 con/ổ
4.4.1 So sánh giữa các nhóm giống
Kết quả được trình bày ở bảng 4.5 và biểu đồ 4.5
Số heo con sơ sinh còn sống cao nhất ở nhóm giống L.Y (10,37 con/ổ) và thấp
nhất ở nhóm giống D.D (7,83 con/ổ)
Qua xử lý thống kê cho thấy sự khác biệt về số heo con sơ sinh còn sống giữa
các nhóm giống rất có ý nghĩa với P < 0,001
Số heo con sơ sinh còn sống theo các nhóm giống được sắp xếp theo thứ tự
giảm dần như sau: L.Y (10,37 con/ổ) > Y.L (9,92 con/ổ) > L.L (9,84 con/ổ)
Bảng 4.5 Số heo con sơ sinh còn sống theo nhóm giống