PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 1.1. Các khái niệm cơ bản 1.1.1. Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài 1.1.2. Phân loại nhà đầu tư nước ngoài 1.1.3. Góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam 12 1.1.4. Doanh nghiệp Việt Nam 13 1.2. Ý nghĩa của hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam 13 1.3. Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam 15 1.3.1. Trước khi Luật Đầu tư 2005 ra đời 15 1.3.2. Sau khi Luật Đầu tư 2005 ra đời 19 CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 23 2.1. Pháp luật về điều kiện góp vốn, mua cổ phần của NĐTNN trong doanh nghiệp Việt Nam 24 2.1.1. Quy định hiện hành về điều kiện góp vốn, mua cổ phần của NĐTNN không thông qua thị trường chứng khoán 24 2.1.2. Bất cập trong quy định về điều kiện góp vốn, mua cổ phần của NĐTNN trong doanh nghiệp Việt Nam 26 2.1.3. Một số đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về việc thành lập, quản lý tài khoản vốn đầu tư trực tiếp 29 2.2. Cơ chế bảo đảm nghĩa vụ trong trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bị giải thể, phá sản 2.2.1. Các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục thanh lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 2.2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định nêu trên và những bất cập 2.2.3. Một số giải pháp mang tính hoàn thiện các quy định về bảo đảm nghĩa vụ áp dụng với nhà đầu tư nước ngoài khi doanh nghiệp FDI bị giải, phá sản
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
-
-PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN CỦA
NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Trang 2
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, đầu tư nước ngoài là hoạt động thu hútđược nhiều sự quan tâm chú ý của các quốc gia Bởi lẽ, đầu tư nước ngoài góp phầntích cực vào phát triển kinh tế, cải thiện cán cân thanh toán, tạo việc làm cho người laođộng, nâng cao trình độ khoa học – kỹ thuật công nghệ của các nước đang phát triển…Đối với các nước đi đầu tư, việc tìm kiếm một thị trường nước ngoài với sức tiêu thụlớn, nguyên liệu dồi dào và nhân công giá rẻ cũng đang là một sự lựa chọn nhận đượcnhiều ưu ái
Một quốc gia có sức hút khá lớn đối với các Nhà đầu tư nước ngoài nhờ vào ưu thế
về thị trường và nguồn nguyên liệu, nguồn nhân lực Trong những năm gần đây, nguồnvốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp (FDI) đã tăngtrưởng nhanh chóng, cho thấy tầm quan trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài với sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Trong bối cảnh ấy, đòi hỏi các quyđịnh của pháp luật về hoạt động này phải được xây dựng một cách chặt chẽ và hợp lý :đảm bảo thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài mà vẫn bảo vệ và phát triển các thànhphần kinh tế trong nước, cân bằng lợi ích giữa nhà nước và nhà đầu tư – tạo ra mốiquan hệ cân đối hai bên cùng có lợi
Pháp luật về góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệpViệt Nam là một phần quan trọng trong tổng thể các quy định về đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam Đây cũng là vấn đề thu hút nhiều sự quan tâm, chú ý của các thế hệ nghiêncứu Bởi lẽ, điều nhà đầu tư nước ngoài quan tâm khi tìm kiếm một thị trường đầu tưkhông chỉ là các yếu tố tiềm năng mà còn là hành lang pháp lý Mà với vấn đề này,thực tiễn áp dụng các quy định về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tưnước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam đã ghi nhận lại rằng: văn bản rất nhiềunhưng bất cập, hạn chế vẫn còn tồn tại và chưa được khắc phục Nhiều công trìnhnghiên cứu đi trước đã chỉ ra một số hạn chế tiêu biểu như: sự chồng chéo của hệthống pháp luật về đầu tư; thủ tục góp vốn, mua cổ phần còn vòng quanh đến mứckhông khả thi; một số quy định về đầu tư không có sự thống nhất với các văn bản phápluật chuyên ngành khác v.v… Dễ dàng kết luận được rằng, việc làm quan trọng lúcnày là phải nhanh chóng khắc phục những tồn tại kể trên để phát huy hơn nữa vai trò
Trang 3của pháp luật về góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệpViệt Nam, sớm đưa nước ta nhanh chóng hòa nhập sâu rộng hơn nữa vào xu thế kinh
tế chung của toàn thế giới
Trên cơ sở những kiến thức đã học về Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp và hoạtđộng đầu tư trực tiếp nước ngoài, thông qua quá trình tìm hiểu các công trình nghiêncứu đi trước và thực tiễn hiện nay, nhóm tác giả xin đưa ra những quan điểm mangtính chủ quan của mình về hoạt động này xét riêng ở khía cạnh: Điều kiện góp vốn,mua cổ phần và các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ đối với nhà đầu tư nước ngoài thựchiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần của các doanh nghiệp Việt Nam không thôngqua thị trường chứng khoán Trong phạm vi đề tài, nhóm tác giả sẽ phân tích các quyđịnh hiện hành có liên quan đến hai vấn đề này, đưa ra nhận xét về những ưu và nhượcđiểm của các quy định kể trên và kiến nghị một số hướng hoàn thiện
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam làlĩnh vực được nhiều tác giả quan tâm khai thác Trên cơ sở kế thừa những thành tựunghiên cứu đã đạt được của những người đi trước, kết hợp với những kiến thức đã học,nhóm tác giả sẽ phân tích sâu hơn về vấn đề này ở một khía cạnh khác, trong hoàncảnh và điều kiện mới hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
1.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở tìm hiểu các quy định hiện hành điều chỉnh hoạt động góp vốn, mua cổphần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam, nhóm tác giả đi sâuvào phân tích các điều kiện để nhà đầu tư nước ngoài được phép thực hiện hoạt độngnày và cơ chế đảm bảo thực hiện nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợpdoanh nghiệp FDI bị giải thể, phá sản, từ đó chỉ ra được những ưu và nhược điểm,kiến nghị một số hướng hoàn thiện
1.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nghiên cứu các khái niệm góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trongdoanh nghiệp Việt Nam; ý nghĩa của hoạt động đầu tư này đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội của nước ta; khái quát về sự hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnhhoạt động đầu tư nước ngoài; tìm hiểu, phân tích các quy định về điều kiện góp vốn,mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam; trình tự, thủ tục
Trang 4giải thể, phá sản doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và cơ chế bảo đảm nghĩa vụtrong những trường hợp này Trên cơ sở đó, chỉ ra được những điểm đã làm được vànhững mặt còn tồn tại, xác định nguyên nhân và định hướng giải quyết, hoàn thiện cácquy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầy tiềm năng này.
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu của công trình
Công trình này tập trung vào nhóm các quy định điều chỉnh điều kiện góp vốn, mua
cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam không thôngquan thị trường chứng khoán; quy định về trình tự, thủ tục giải thể, phá sản các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Luật Đầu tư 2005, Luật Doanh nghiệp 2005, LuậtPhá sản 2004, Nghị định 69/2007/NĐ –CP, Thông tư 131/2010/TT – BTC, Quyết định55/2009/QĐ – Ttg, Quyết định 88/2009/QĐ – Ttg, v.v
2.2 Phạm vi nghiên cứu của công trình
Trong phạm vi đề tài, nhóm tác giả chỉ tập trung phân tích các quy định cơ bản nhất
về điều kiện góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệpViệt Nam không thông qua thị trường chứng khoán (đầu tư trực tiếp); các quy định vềthủ tục giải thể, phá sản các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và cơ chế đảmbảo nghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài trong những trường hợp này; phân tích thựctrạng với những rủi ro thường gặp và kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện
3 Phương pháp nghiên cứu:
Để thực hiện công trình, nhóm tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp,duy vật biện chứng và phương pháp so sánh để khái quát, đánh giá và đưa ra các nhậnxét về các vấn đề pháp lý có liên quan đến điều kiện góp vốn, mua cổ phần của nhàđầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam và cơ chế đảm bảo thực hiệnnghĩa vụ của nhà đầu tư nước ngoài khi doanh nghiệp FDI bị giải thể, phá sản – nhữngđiều đã làm được và những tồn tại cần thiết phải khắc phục trong thời gian tới, đảmbảo khả năng thu hút mà vẫn quản lý có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài
4 Những đóng góp mới của công trình
Đây là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên về pháp luật góp vốn, mua cổ phầncủa nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam không thông qua thịtrường chứng khoán đi sâu vào phân tích điều kiện góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu
Trang 5tư nước ngoài, về sự cần thiết phải thành lập tài khoản vốn đầu tư và trình tự, thủ tụcthành lập, quản lý tài khoản này;
Công trình cũng là một trong những bài viết đầu tiên bàn về cơ chế bảo đảm nghĩa
vụ của nhà đầu tư nước ngoài khi doanh nghiệp FDI bị giải thể, phá sản trong bối cảnh
và điều kiện mới: khi Việt Nam đã gia nhập WTO và bị ràng buộc bởi những cam kết
về tự do hóa thương mại và cấm phân biệt đối xử
Công trình đã đưa ra những hướng giải quyết mới, phù hợp với tình hình hiện nay:vừa đảm bảo quản lý hiệu quả hoạt động đầu tư mà vẫn phù hợp với các cam kết củaWTO về tự do hóa thương mại
5 Cấu trúc của công trình
Ngoài phần mở đầu, kết luận và doanh mục tài liệu tham khảo, công trình này gồmhai chương:
Chương 1: Khái quát về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài
trong doanh nghiệp Việt Nam
Chương 2: Pháp luật về góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh
nghiệp Việt Nam
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI 9
1.1 Các khái niệm cơ bản 9
1.1.1 Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài 9
1.1.2 Phân loại nhà đầu tư nước ngoài 10
1.1.3 Góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam 12
1.1.4 Doanh nghiệp Việt Nam 13
1.2 Ý nghĩa của hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam 13
1.3 Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam 15
1.3.1 Trước khi Luật Đầu tư 2005 ra đời 15
1.3.2 Sau khi Luật Đầu tư 2005 ra đời 19
CHƯƠNG II: PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 23
2.1 Pháp luật về điều kiện góp vốn, mua cổ phần của NĐTNN trong doanh nghiệp Việt Nam 24
2.1.1 Quy định hiện hành về điều kiện góp vốn, mua cổ phần của NĐTNN không thông qua thị trường chứng khoán 24
2.1.2 Bất cập trong quy định về điều kiện góp vốn, mua cổ phần của NĐTNN trong doanh nghiệp Việt Nam 26
2.1.3 Một số đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về việc thành lập, quản lý tài khoản vốn đầu tư trực tiếp 29
2.2 Cơ chế bảo đảm nghĩa vụ trong trường hợp doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bị giải thể, phá sản 42
2.2.1 Các quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục thanh lý các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 42
Trang 72.2.2 Thực tiễn áp dụng các quy định nêu trên và những bất cập 452.2.3.Một số giải pháp mang tính hoàn thiện các quy định về bảo đảm nghĩa vụ ápdụng với nhà đầu tư nước ngoài khi doanh nghiệp FDI bị giải, phá sản 50
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment) có ý nghĩa hết sứcquan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của các nước đang phát triển nói chung
và Việt Nam nói riêng Về mặt bản chất, đầu tư nước ngoài là hành vi của nhà tư bảnđem tài sản của mình ra khỏi biên giới quốc gia để kinh doanh nhằm tìm kiếm lợinhuận Lý giải cho hoạt động đầu tư nước ngoài có nhiều nguyên nhân khác nhau: Xéttrên phương diện kinh tế quốc tế, đó là sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa cácquốc gia và những trở ngại trong hoạt động thương mại quốc tế1 Dưới góc độ của mộtnhà đầu tư, đó là nhu cầu về một thị trường có trình độ thấp hơn với nguồn nguyên liệudồi dào, sức tiêu thụ lớn và nhân công giá rẻ - làm giảm đến mức thấp nhất chi phí sảnxuất Trên cơ sở đó, một xu hướng đã trở nên phổ biến trên phạm vi toàn cầu là việccác doanh nghiệp chuyển vốn, tài sản và công nghệ ra những nước có môi trường đầu
tư kém hơn để thu được lợi nhuận cao hơn
Ở Việt Nam, đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra dưới nhiều hình thức, nhưngphổ biến nhất là NĐTNN thực hiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần của các doanhnghiệp Việt Nam
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Nhà đầu tư nước ngoài
Theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Đầu tư 2005: “Nhà đầu tư (NĐT) là tổ
chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật Việt Nam”.
Như vậy, sẽ có hai đối tượng “thực hiện hoạt động đầu tư”:
- Đối tượng 1: đối tượng đã bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư
- Đối tượng 2: là pháp nhân mới được hình thành để thực hiện dự án đầu tư (đối vớitrường hợp dự án đầu tư có thành lập pháp nhân mới)
Luật Đầu tư 2005 cũng quy định về khái niệm NĐTNN tại khoản 5 Điều 3 như
sau: “NĐTNN là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư
tại Việt Nam” Theo đó, NĐTNN chỉ là những chủ thể tham gia góp vốn để thực hiện
hoạt động đầu tư, trường hợp dự án sử dụng nguồn vốn FDI nhưng có thành lập phápnhân mới thì không xem pháp nhân đó là NĐTNN vì theo khoản 20 Điều 4 Luật
1 Phạm Đắc Duyên, 1997, Những nội dung kinh tế - tài chính của đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trang 48
Trang 10Doanh nghiệp “Quốc tịch của Doanh nghiệp là quốc tịch của nước, vùng lãnh thổ nơi
doanh nghiệp thành lập, đăng kí kinh doanh” Như vậy, doanh nghiệp FDI được thành
lập theo quy định của pháp luật Việt Nam nhằm mục đích thực hiện dự án đầu tư thìđược xem là NĐTTN Tuy nhiên, các văn bản khác và thực tiễn đều ghi nhận nhữngdoanh nghiệp FDI loại này vẫn được xác định là NĐTNN Cụ thể là Nghị định102/2010 Hướng dẫn luật Doanh nghiệp, Quyết định 55/2009, Quyết định 88/2009 xácđịnh tổ chức có vốn đầu tư nước ngoài trên 49% là NĐTNN Quy định tại khoản 5điều 3 Luật Đầu tư và khoản 20 Điều 4 Luật Doanh nghiệp là hạn chế của nhà lậppháp trong quá trình soạn thảo, cần thiết phải được sửa đổi, bổ sung sao cho phù hợp
và thống nhất với các văn bản hướng dẫn và thực tiễn, đảm bảo quản lý hiệu quả hoạtđộng đầu tư
1.1.2 Phân loại nhà đầu tư nước ngoài:
NĐTNN là tổ chức, cá nhân bỏ vốn để thực hiện dự án đầu tư tại Việt Nam
Tổ chức nước ngoài:
Pháp luật hiện hành tồn tại nhiều quy định khác nhau về NĐTNN là tổ chức kinh
tế, tuy nhiên chưa có sự thống nhất khi xác định đối tượng này Cụ thể:
Điều 1 Quyết định 55/2009/QĐ – BTC quy định tổ chức được xác định là NĐTNN
gồm “Tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật nước ngoài và chi nhánh của
các tổ chức này tại nước ngoài và tại Việt Nam.
Sẽ là một thiếu sót rất lớn nếu chúng ta không xem chi nhánh của doanh nghiệp nướcngoài là NĐTNN
Quyết định 55/2009/QĐ – BTC , Quyết định 88/2009/QĐ – BTC và Thông tư
131/2010/TT – BTC quy định NĐTNN còn bao gồm “ tổ chức thành lập và hoạt động
ở Việt Nam có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49% Quỹ đầu tư, công
Trang 11ty đầu tư chứng khoán có tỷ lệ tham gia góp vốn của bên nước ngoài trên 49% 2 Quyđịnh như vậy để đảm bảo quản lý tốt hoạt động đầu tư, có cách đối xử phù hợp vớinhững doanh nghiệp mà quyền kiểm soát, chi phối thuộc về bên nước ngoài Tuynhiên, cũng với đối tượng này, Quyết định 121/2008/QĐ- BTC quy định như sau: tổ
chức nước ngoài bao gồm “các tổ chức thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt
Nam có 100% vốn góp nước ngoài và các chi nhánh của tổ chức này; Qũy đầu tư thành lập theo pháp luật nước ngoài và pháp luật Việt Nam có 100% vốn góp nước ngoài” 3 , sự bất đồng trong việc xác định như thế nào là NĐTNN giữa các văn bản
hướng dẫn là nguyên nhân gây nên những khó khăn và hạn chế cho việc quản lý và thuhút vốn đầu tư nước ngoài
Cá nhân nước ngoài:
Nghị định 69/2007/NĐ – CP và Quyết định 121/2008/QĐ – BTC xác định “ cá
nhân nước ngoài là người mang quốc tịch nước ngoài, cư trú ở nước ngoài hoặc tại Việt Nam” Hiểu theo quy định này, NĐTNN là cá nhân không bao gồm người không
quốc tịch4 Tuy nhiên, Quyết định 55/2009 và Quyết định 88/2009 thì lại thống nhất
rằng NĐTNN là cá nhân chỉ cần là “ người không mang quốc tịch Việt Nam”, bao gồm
cả người mang quốc tịch nước ngoài và người không quốc tịch5 Quy định như vậy cóđiểm hợp lý hơn so với cách hiểu cứng nhắc NĐTNN nhất định phải mang quốc tịchcủa một nước nào đó Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, các văn bản này vẫn đồngthời có hiệu lực và việc áp dụng như thế nào để xác định NĐTNN là cá nhân vẫn cònchưa rõ ràng, hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các cơ quan quản lý nhànước về đầu tư
Sự không tương thích trong cách xác định tổ chức và cá nhân nước ngoài giữa cácvăn bản pháp luật gây ra tình trạng lúng túng đối với cơ quan quản lý và đối tượng ápdụng Mặc dù phạm vi điều chỉnh của mỗi văn bản chỉ giới hạn trong từng ngành, lĩnhvực cụ thể (Quyết định 88/2009/QĐ – BTC điều chỉnh về việc góp vốn, mua cổ phầncủa NĐTNN trong các doanh nghiệp Việt Nam; Quyết định 121/2008 và Quyết định
2 Điểm b khoản 1 Điều 2 Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp việt nam, Ban hành kèm theo Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg
3 Khoản 1 Điều 2 Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Ban hành kèm theo Quyết định số 121/2008/QĐ-BTC
4 Điểm a Khoản 1 Điều 2 Quy chế hoạt động của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam, Ban hành kèm theo Quyết định số 121/2008/QĐ-BTC
5 Điểm d khoản 1 Điều 2 Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp việt nam, Ban hành kèm theo Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg
Trang 1255/2009 về hoạt động của NĐTNN trên thị trường chứng khoán Việt Nam) nhưng thiếtnghĩ, nên có sự thống nhất giữa các quy phạm điều chỉnh hoạt động này Bởi lẽ, khitham gia đầu tư vào thị trường Việt Nam, mong muốn của bất kì NĐT nào cũng là cómôi trường đầu tư ổn định, chính sách ưu đãi ít biến động, đem lại cho họ nguồn lợinhuận cao nhất Mặt khác, NĐTNN không chỉ tham gia vào một lĩnh vực nhất định.Những quy định không thống nhất sẽ khiến họ lúng túng và e ngại khi muốn mở rộnghoạt động đầu tư ở Việt Nam.
1.1.3 Góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt
Nam
Theo quy định tại Điều 4 khoản 4 Luật Doanh nghiệp 2005: “tài sản góp vốn có
thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kĩ thuật, các tài sản khác ghi trong Điều lệ công ty” Luật Đầu tư 2005 ghi nhận “đầu tư là việc thực hiện một hoặc một số công đoạn của quá trình kinh doanh nhằm tìm kiếm lợi nhuận” 6 Nói như vậy, bản chất của
hoạt động đầu tư là một quá trình luân chuyển tư bản để tư bản đó sinh lời Đối vớiđầu tư nước ngoài, quá trình luân chuyển ấy diễn ra trên phạm vi quốc tế - từ nước đầu
tư đến nước tiếp nhận đầu tư NĐTNN đưa tài sản của mình, theo quy định của phápluật Việt Nam và điều lệ của doanh nghiệp nhận phần vốn góp, kinh doanh và thu lợinhuận tương ứng với giá trị tài sản đã bỏ ra Tuy nhiên, khác với NĐTTN, việc góp
vốn, mua cổ phần của NĐTNN đòi hỏi phải có “tài khoản vốn đầu tư mở tại ngân
hàng thương mại tại Việt Nam Mọi hoạt động mua, bán cổ phần, chuyển nhượng vốn góp, thu và sử dụng cổ tức, lợi nhuận được chia, chuyển tiền ra nước ngoài và các hoạt động khác liên quan đến đầu tư vào doanh nghiệp Việt Nam đều thông qua tài khoản này Việc mở, đóng, sử dụng và quản lý tài khoản vốn đầu tư phải phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan” 7 Như vậy, NĐTNN phải thành lập một tài khoảntại một tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tài sản dùng để góp vốn,mua cổ phần sẽ được quản lý và sử dụng để đầu tư thông qua tài khoản này Từ khiđược đưa vào tài khoản, tài sản dùng để đầu tư có một tên gọi mới – đó là “tiền gửivốn chuyên dùng” và theo quy định hiện hành thì sẽ không được hưởng lãi suất tươngứng Nói cách khác, số tiền này sẽ nằm yên trong ngân hàng như một bảo đảm đầu tư,
6 Khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tư 2005
7 Điểm 1.1 Điều 5 Thông tư 131/2010/TT-BTC ngày 06/9/2010 về Hướng dẫn thực hiện Quy chế góp vốn, mua
cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam
Trang 13nhưng lại làm giới hạn khả năng đầu tư theo phương thức trừ nợ Bên cạnh đó thủ tục
mở “tài khoản vốn đầu tư” khá phức tạp
1.1.4 Doanh nghiệp Việt Nam:
Hiện nay, chưa có khái niệm cụ thể về “doanh nghiệp Việt Nam” Nhìn chung,khi xác định một tổ chức kinh tế là doanh nghiệp Việt Nam thì chúng ta thường căn cứvào những đặc điểm sau:
- Do tổ chức, cá nhân Việt Nam thành lập
- Thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Doanh nghiệp Việt Nam
1.2 Ý nghĩa của hoạt động góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài
trong doanh nghiệp Việt Nam:
FDI có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của mỗiquốc gia Đó là nguồn ngoại tệ chủ yếu để kích thích nền kinh tế, là cơ sở đảm bảo cho
sự tăng trưởng cao và ổn định Riêng ở Việt Nam, sau 25 năm thực hiện chính sách mởcửa, thu hút đầu tư nước ngoài, có thể nhìn thấy tầm quan trọng của FDI qua nhữngmặt sau:
Thứ nhất, đầu tư nước ngoài thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế 8
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam không ổn định tính từ khi Luật Đầu tưnước ngoài được ban hành (1988) cho đến nay Thời kỳ đạt tốc độ tăng trưởng kinh tếcao nhất là từ năm 1992 cho đến 1997 với tốc độ tăng trưởng GDP là 8% Sau đó, doảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế- tài chính và tiền tệ khu vực giai đoạn 1997 –
1998, tốc độ tăng trưởng GDP có xu hướng giảm sút và thấp nhất là 4,8% năm 1999.Tuy nhiên, từ năm 2002 trở lại đây, nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng caohơn so với những năm trước đây và tương đối ổn định: 7,12% ( 2002), 7,6% (2004).Tuy nhiên, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, những năm gần đây (giai đoạn
2011 – 2013) tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam đạt 5,6% Những con
số ấy có đóng góp rất lớn từ nguồn vốn FDI Có thể nói, hoạt động FDI trong thời gianvừa qua đóng vai trò quan trọng làm gia tăng sản lượng GDP Từ mức đóng góp 2%vào năm 1992 cho GDP lên 12,7% năm 2000; 16,98% (2006); 18,97% (2011) và 20%năm 2013 Như vậy, có thể kết luận tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam cùng chiềuvới đóng góp của hoạt động FDI và tỷ lệ đóng góp ngày càng tăng
8 Số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Trang 14Thứ hai, đảm bảo trình độ công nghệ cao phù hợp với xu thế phát triển chung trên toàn thế giới 9
Thông qua hợp đồng chuyển giao công nghệ, khu vực ĐTNN đã góp phần thúcđẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến vào Việt Nam, nâng cao năng lực công nghệ trongnhiều lĩnh vực ĐTNN tạo mối liên kết sản xuất giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài với doanh nghiệp trong nước, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nướctiếp cận với những thành tựu khoa học – kỹ thuật tiên tiến
Thứ ba, có vai trò tích cực trong việc tạo việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và thay đồi cơ cấu lao động 10
Hiện nay khu vực ĐTNN tạo ra trên 2 triệu lao động trực tiếp và khoảng 3- 4triệu lao động gián tiếp, có tác động mạnh đến chuyển dịch cơ cấu lao động theohướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đượcxem là tiên phong trong việc đào tạo tại chỗ và đào tạo bên ngoài, nâng cao trình độcủa công nhân, kỹ thuật viên, cán bộ quản lý, trong đó một bộ phận đã có năng lựcquản lý, trình độ khoa học, công nghệ đủ sức thay thế chuyên gia nước ngoài Ngoài
ra, ĐTNN đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng lao động thông quahiệu ứng lan tỏa lao động, cập nhật kỹ năng cho bên cung ứng và bên mua hàng
Thứ tư, ĐTNN thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa điện đại hóa 11
-Đầu tư nước ngoài đã góp phần nhất định vào việc chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp,
đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị hàng hóa nông sản xuất khẩu và tiếp thu một sốcông nghệ tiên tiến, giống cây, giống con có năng suất, chất lượng cao đạt tiêu chuẩnquốc tế, tạo ra một số phương thức mới, có hiệu quả cao, nhất là các dự án đầu tư vàophát triển nguồn nguyên liệu, góp phần cải thiện tập quán canh tác và điều kiện hạtầng
Khu vực đầu tư nước ngoài đã tạo nên bộ mặt mới trong lĩnh vực dịch vụ chất lượngcao như khách sạn, văn phòng căn hộ cho thuê,ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, tư vấnluật, vận tải biển, lô-gi-stíc, siêu thị Các dịch vụ này cũng góp phần tạo ra phương
9 http://www.dankinhte.vn/fdi-lien-voi-cong-cuoc-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-o-viet-nam/
10
11 10, 11,12, 13 http://www.dankinhte.vn/fdi-lien-voi-cong-cuoc-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-o-viet-nam/
Trang 15thức mới trong phân phối hàng hóa, tiêu dùng, kích thích hoạt động thương mại nội địa
và góp phần tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa
Thứ năm, đầu tư nước ngoài có tác động nâng cao năng lực cạnh tranh ở cả ba cấp
độ quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm 12
Thứ sáu, đầu tư nước ngoài góp phần nâng cao năng lực quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp, tạo thêm áp lực đối với việc cải thiện môi trường kinh doanh 13
Thực tiễn đầu tư nước ngoài đã cho nhiều bài học, kinh nghiệm bổ ích về côngtác quản lý kinh tế và doanh nghiệp, góp phần thay đổi tư duy quản lý, thúc đẩy quátrình hoàn thiện luật pháp, chính sách theo hướng bình đẳng, công khai, minh bạch,phù hợp với thông lệ quốc tế; đào tạo được đội ngũ cán bộ quản lý phù hợp với xu thếhội nhập
Thứ bảy, đầu tư nước ngoài đã góp phần quan trọng vào hội nhập quốc tế 14
Hoạt động thu hút ĐTNN đã góp phần phá thế bao vây cấm vận, mở rộng quan
hệ kinh tế đối ngoại, tạo thuận lợi để Việt Nam gia nhập ASEAN, ký Hiệp định khungvới EU, hiệp định thương mại với Hoa Kỳ, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tưvới 62 Quốc gia và vùng lãnh thổ, Hiệp định đối tác EPA với Nhật Bản và nhiều nướckhác
1.3 Quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam về hoạt động góp vốn, mua cổ
phần của nhà đầu tư nước ngoài
1.3.1 Trước khi Luật Đầu tư 2005 ra đời
Trước khi Luật Đầu tư 2005 ra đời, Việt Nam đã có những quy định điều chỉnh
về hoạt động đầu tư nói chung và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nói riêng Cụ thể:
Nghị định số 115/CP ngày 18/4/1977 ban hành điều lệ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có đóng góp lớn nhất là quy định các vấn đề giải thể doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài; quy định về xử lý tranh chấp nhưng chỉ mang tính khái quát, chưađược cụ thể Tuy vậy, không thể phủ nhận ý nghĩa của Điều lệ đầu tư nước ngoài năm
1977, đây được xem là những chế định pháp lý đầu tiên của Việt Nam điều chỉnh vềhoạt động đầu tư nước ngoài, là cơ sở để cho ra đời những văn bản pháp luật hoànthiện hơn điều chỉnh hoạt động này
12
13
14 http://www.dankinhte.vn/fdi-lien-voi-cong-cuoc-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-o-viet-nam/
Trang 16Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 hoàn thiện những quy định
của pháp lệnh đầu tư năm 1977 Luật đầu tư nước ngoài 1987 đã bổ sung và chi tiếthóa các lĩnh vực đầu tư, hoàn thiện các hình thức đầu tư một cách rõ ràng, cụ thể sovới pháp lệnh đầu tư 1977 Đặc biệt, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã quy địnhtương đối đầy đủ những nguyên tắc và biện pháp bảo đảm đầu tư Khái niệm đầu tư
trực tiếp nước ngoài (FDI) chính thức được quy định trong văn bản này: “ FDI là việc
tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam bằng tiền nước ngoài hoặc bất kì tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này” 15 Quy định này ra đời trong bối cảnh Việt Nam vừa xóa
bỏ chế độ bao cấp và thực hiện mở cửa nền kinh tế nên đầu tư nước ngoài vẫn còn bịhạn chế, nhà nước chỉ cho phép NĐTNN đầu tư theo các hình thức nhất định gồm: kíhợp đồng hợp tác kinh doanh, thành lập xí nghiệp liên doanh với NĐTTN hoặc thànhlập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Đặc biệt, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã quy định nguyên tắc chung nhất
về trường hợp giải thể doanh nghiệp (Điều 19) và Nghị định 139 ra đời sau đó đã cụthể thêm quy định này về trường hợp giải thể trước thời hạn và giải thể đúng thời hạn.Điều 25 Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, cũng như Điều 53 Nghị định 139 quy địnhrất rõ ràng nguyên tắc xử lý các tranh chấp Đây là một trong những điểm mới và nổibật so với Điều lệ đầu tư 1977, đồng thời cũng là một quy định tiến bộ mà những vănbản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư hiện hành không kế thừa được, gây nhiềukhó khăn trong thực tiễn quản lý hoạt động ĐTNN
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 được ghi nhận là đạo luật đầu tiên về đầu tưnước ngoài trên đất nước Việt nam, hơn thế nữa, Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 đã
mở đường cho sự thu hút vốn đầu tư nước ngoài và thực sự phát huy có hiệu quả, tạo
đà cho sự phát triển kinh tế trong những giai đoạn khó khăn Luật Đầu tư nước ngoàinăm 1987 làm cầu nối vươn ra bên ngoài và cùng với những nhân tố khác đưa vị thếcủa Việt nam nâng lên tầm cao mới
Sau giai đoạn khủng hoảng, kinh tế Việt Nam dần phục hồi và có nhiều khởisắc Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng lần VII (7/1991) tiếp tục khẳng định xây dựng
và phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, thực hiện mở cửa nền
15 Khoản 3 Điều 2 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987
Trang 17kinh tế, khuyến khích đầu tư nước ngoài, tạo nhiều thuận lợi cho các NĐTNN Vớiphương hướng đó, Chính phủ đã tiến hành thay đổi hàng loạt các chính sách, tăngthêm ưu đãi đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, mở rộng các hình thức đầu tư đểNĐTNN tham gia thị trường Việt Nam Sau khi Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 rađời đánh dấu mốc lịch sử hình thành cho đến nay, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việtnam đã qua 4 lần sửa đổi, bổ sung: Lần thứ nhất vào năm 1990, lần thứ hai vào năm
1992 và đến năm 2000 đã được thay thế bằng Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nammới và luật này cũng đã được tiếp tục sửa đổi, bổ sung vào năm 2000
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật đầu tư nước ngoài tại việt nam 1990
Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 1990 đã cho phép các tổ chức kinh tế Việtnam có tư cách pháp nhân thuộc các thành phần kinh tế được hợp tác đầu tư nước
ngoài Đồng thời hạn chế các tổ chức kinh tế tư nhân Việt nam chỉ được hợp tác kinh
doanh với tổ chức, cá nhân nước ngoài trong những lĩnh vực và điều kiện do Hội đồng
Bộ trưởng quy định Bên cạnh đó còn quy định thêm vấn đề liên doanh nhiều bên16
Sự sửa đổi, bổ sung của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1990 đã làm môi trường đầu tư ởViệt Nam ngày càng có sức hấp dẫn hơn với các NĐTNN Những quy định rõ ràng,thông thoáng cùng với việc mở rộng hành lang pháp lý đã cho thấy nhu cầu và sự ưu áicủa Việt Nam đối với nguồn vốn FDI Tuy còn nhiều hạn chế nhưng không thể khôngthừa nhận rằng, những sửa đổi, bổ sung này có ý nghĩa quan trọng trong việc tháo gỡnhững bế tắc về mặt pháp lý cho hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trong giaiđoạn đó
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật đầu tư nước ngoài tại việt Nam năm 1992
Nhằm đáp ứng với các điều kiện kinh tế hiện tại, Luật sửa đổi, bổ sung một số điềucủa Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992 đã tập trung vào những nội dungchủ yếu như: doanh nghiệp tư nhân được tham gia hợp tác với nước ngoài, tăng dần tỷtrọng góp vốn của Việt Nam …Đặc biệt là việc bổ sung hình thức đầu tư BOT vàotrong quy định của pháp luật17
16 Khoản 5 Điều 1 Luật của Quốc Hội số 41-lct/HĐNN8 ngày 30/06/1990 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987
17 Điều 4 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam ngày 23 tháng 12 năm 1992
Trang 18Qua hai lần sửa đổi, bổ sung nhưng quy định của pháp luật Việt Nam về đầu tưnước ngoài vẫn còn nhiều nhược điểm: một số quy định quá chung, không đủ mức cụthể để dễ thi hành; thiếu tính đồng bộ, nhiều văn bản còn chồng chéo và thiếu tính cậpnhật; thủ tục hành chính quá phức tạp, rườm rà; chủ trương và quy hoạch chưa đủ mức
cụ thể, làm cho các nhà đầu tư mất nhiều thời gian tìm hiểu; các cơ quan quản lý Nhànước gặp nhiều khó khăn trong việc xử lý
Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996
Quy định thêm các ưu đãi dành cho nhà đầu tư nước ngoài: chính sách ưu đãiđặc biệt, hoàn thuế khi tái đầu tư, cho phép bên Việt Nam tham gia góp vốn bằngquyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai18
Đặc biệt là sự bổ sung phương thức đầu tư BTO và BT đã mở rộng kênh thu hút đầu tưnước ngoài
Luật Đầu tư nước ngoài được sửa đổi, bổ sung năm 2000
Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi, bổ sung năm 2000 đã đưa ra một định nghĩa mới về
FDI: “FDI là việc NĐTNN góp vốn bằng tiền hoặc bằng bất cứ tài sản nào để tiến
hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này” Kể từ đây, NĐTNN đã có
nhiều thuận lợi hơn trong việc bỏ vốn nhằm tìm kiếm lợi nhuận ở Việt Nam, khôngcòn có sự phân biệt đối xử giữa NĐTNN và NĐTTN về hình thức đầu tư, NĐTNNđược thực hiện các hoạt động đầu tư phù hợp với quy định của pháp luật
Bên cạnh đó, Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi năm 2000 còn bổ sung thêmnhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn, giảm thiểu rủi ro chocác doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài liên quan đến các cơ chế, chính sách vềthuế, ngoại tệ, đất đai, thế chấp, xử lý tranh chấp, bảo đảm, bảo lãnh đối với các dự ánquan trọng Mở rộng quyền tự chủ trong tổ chức quản lý, kinh doanh của các doanhnghiệp loại này: xoá bỏ sự can thiệp không cần thiết của cơ quan Nhà nước vào hoạtđộng bình thường của doanh nghiệp, nhất là việc loại bỏ điều kiện chấm dứt hoạt độngcủa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và Hợp đồng hợp tác kinh doanh có tínhchất áp đặt, không bình đẳng giữa các bên Bên cạnh đó còn phân định rõ trình tự giảithể thanh lý và trình tự phá sản doanh nghiệp theo hướng: trong quá trình thanh lý tàisản doanh nghiệp, nếu phát hiện doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì việc giải
18 Điểm b khoản 2 Điều 7, Điều 42, Điều 48 Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996
Trang 19quyết phá sản của doanh nghiệp sẽ được thực hiện theo quy định trong pháp luật vềphá sản19.
Sự thay đổi của pháp luật điểu chỉnh đã có vai trò không nhỏ trong việc thúcđẩy đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Năm 1996, đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ướcđạt 8,497 USD, tăng 8 lần so với năm 1991 Giai đoạn 1997-2004, đầu tư nước ngoàivào Việt Nam có xu hướng giảm do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế20 Bên cạnh
đó, mặc dù đã có những thay đổi tích cực nhưng chính sách pháp luật về đầu tư củanước ta vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, là nguyên nhân chủ yếu khiến cho lượng vốn FDIvào Việt Nam không tăng trong một thời gian dài Với một thị trường đầy tiềm năng
về nguyên liệu, mặt bằng, nguồn nhân lực, pháp luật Việt Nam cần thiết phải được sửađổi, bổ sung để kịp thời điều chỉnh và không hạn chế sự phát triển năng động của khuvực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
1.3.2 Sau khi Luật Đầu tư 2005 ra đời
Luật Đầu tư 2005 chính thức được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2006 Cùng
với Luật Doanh nghiệp 2005, với mục đích cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và
môi trường pháp lý, tạo ra sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư, làm nên
"một sân chơi" bình đẳng, không có sự phân biệt đối xử Luật Đầu tư 2005 cùng nhữngvăn bản hướng dẫn thi hành được thiết kế theo hướng chỉ quy định các nội dung liênquan đến hoạt động đầu tư, còn các nội dung liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạtđộng của doanh nghiệp thì do Luật Doanh nghiệp điều chỉnh, các mức ưu đãi về thuếchuyển sang quy định tại các văn bản pháp luật về thuế và các nội dung mang tính chấtđặc thù được dẫn chiếu sang pháp luật chuyên ngành điều chỉnh Trọng tâm là đơngiản hoá thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả cácnguồn vốn đầu tư; đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế; tăng cường sự quản lýcủa nhà nước đối với hoạt động đầu tư Nhìn một cách tổng thể, Luật Đầu tư 2005 cónhững mặt tích cực như sau:
- Quy định thuận lợi hơn so với điều ước quốc tế thì nhà đầu tư có quyền lựachọn việc áp dụng theo điều ước quốc tế hoặc pháp luật Việt Nam
19 Điều 53 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam số 18/2000/QH10 ngày
09 tháng 6 năm 2000
20 Số liệu của Bộ kế hoạch và Đầu tư
Trang 20- Nghị định 108/2006/NĐ – CP đã bổ sung các thuật ngữ “dự án đầu tư mới”21,
“dự án đầu tư mở rộng”22 để nhà đầu tư biết rõ trong quá trình thực hiện hoạtđộng đầu tư của mình những nội dung có liên quan đến ưu đãi đầu tư
- Quy định rõ hơn các hình thức đầu tư NĐTNN trong quá trình hoạt động được
tự do chuyển đổi giữa các hình thức đầu tư phù hợp với tình hình kinh tế vàđiều kiện sản xuất của mình
- Cụ thể hóa những nội dung về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư
- Điểm mới của pháp luật đầu tư năm 2005 là việc phân cấp cấp Giấy chứng nhậnđầu tư cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Ban quản lý và giảm bớt những dự ánphải trình Thủ tướng Chính phủ
- Đơn giản hóa thủ tục đầu tư và thẩm tra dự án đầu tư
- Với những trường hợp đặc thù, Chính phủ ban hành một loạt các văn bảnhướng dẫn:
Nghị định 69/2007/NĐ-CP ban hành ngày 20/4/2007 và Thông tư 07/2007TT-NHNN ngày 29/11/2007 hướng dẫn hoạt động góp vốn, mua cổ phầncủa NĐTNN vào các ngân hàng Thương mại ở Việt Nam Theo đó, NĐTNNchỉ được mua cổ phần của các Ngân hàng Thương mại mà không bao gồmcác tổ chức tín dụng hoạt động ở Việt Nam23
Quyết định 88/2009 QĐ-TTg ngày 18/6/2009 về Quy chế góp vốn, mua cổphần của NĐTNN trong các doanh nghiệp Việt Nam đã sửa đổi một số quyđịnh, đặc biệt bãi bỏ hạn chế tỉ lệ tham gia của NĐTNN trong các doanhnghiệp Việt Nam24 Quyết định 55/2009/QĐ-TTg về tỉ lệ tham gia củaNĐTNN trên thị trường chứng khoán Việt Nam quy định NĐTNN chỉ đượcnắm giữa không quá 49% cổ phiếu trong tổng số cổ phiếu của công ty đạichúng; tối đa 49% tổng số chứng chỉ quỹ đầu tư của một quỹ đầu tư chứngkhoán đại chúng25
21 Khoản 2 Điều 2 Nghị định của chính phủ số 108/2006/Nđ-Cp ngày 22 tháng 9 năm 2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư
22 Khoản 3 Điều 2 Nghị định của chính phủ số 108/2006/Nđ-Cp ngày 22 tháng 9 năm 2006 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư
hàng thương mại Việt Nam
24 Điều 3 Quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp việt nam, Ban hành kèm theo Quyết định số 88/2009/QĐ-TTg
25 Điều 2 Quyết định số 55/2009/QĐ-TTg về Về tỷ lệ tham gia của nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 21 Nghị định 131/2010 TT-BTC ngày 6/9/2010 Hướng dẫn quy trình góp vốn,mua cổ phần của NĐTNN trong các doanh nghiệp Việt Nam.
Nghị định 102/2010 NĐ-CP ngày 1/10/2010 thay thế nghị định 139/2007Hướng dẫn Luật Doanh nghiệp quy định về quyền thành lập Doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài như sau:
1 “trường hợp doanh nghiệp mới do doanh nghiệp có trên
49% vốn điều lệ là sở hữu của NĐTNN thành lập hoặc tham gia thành lập thì phải có dự án đầu tư và thực hiện đăng kí đầu tư gắn với thành lập tổ chức kinh tế…giấy chứng nhận dầu tư đồng thời là giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh.
2 trường hợp doanh nghiệp mới do doanh nghiệp có không
quá 49% vốn điều lệ là sở hữu của NĐTNN thành lập, tham gia thành lập thì việc thành lập doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật Doanh nghiệp Việc đăng kí đầu tư trong trường hợp này áp dụng theo quy định tương ứng đối với dự án đầu tư trong nước” 26
Kết luận:
Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài có vai trò quan trọng đối với việc phát triểnkinh tế của nước ta nói riêng và nhiều nước đang trong quá trình phát triển nói chung.Trong những năm gần đây, bằng việc tăng cường hội nhập và mở cửa, nguồn vốn đầu
tư từ nước ngoài vào nước ta tăng lên đáng kể, tập trung chủ yếu vào những ngành vàlĩnh vực có khả năng tăng trưởng và phát triển nhanh chóng
Trong bối cảnh đó, hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoàivào Việt Nam, cụ thể là pháp luật về góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoàitrong doanh nghiệp Việt Nam cần thiết được sửa đổi và hoàn thiện sao cho phù hợp,đảm bảo mở rộng hành lang pháp lý – thuận lợi cho việc thu hút nguồn vốn FDI Nhìnchung, chế định về góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanhnghiệp Việt Nam khá đầy đủ nhưng vẫn còn nhiều hạn chế: điển hình là pháp luật hiệnhành chưa quy định cụ thể thủ tục giải thể, phá sản của doanh nghiệp có vốn đầu tư
26 Khoản 3 Điều 11 Nghị định 102/2010/NĐ-CP ngày 01/10/2010 Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp
Trang 22nước ngoài; vấn đề trách nhiệm của NĐTNN đối với chủ nợ, người lao động v.v…trong trường hợp doanh nghiệp FDI phá sản hay NĐTNN thoái vốn; vấn đề “tài khoảnbảo đảm” vẫn luôn là một băn khoăn với NĐTNN khi muốn tìm kiếm lợi nhuận ở ViệtNam Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện pháp luật đầu tư là việc làmcấp thiết và có ý nghĩa to lớn trong việc đẩy mạnh hội nhập và phát triển kinh tế đấtnước.
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI TRONG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM:
Như đã đề cập ở phần trước, đối với các nước đang phát triển, vai trò của đầu tưtrực tiếp nước ngoài có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với nền kinh tế đầu tư nướcngoài với những tác dụng của nó như tạo điều kiện về vốn, công nghệ, kỹ năng và một
hệ thống thị trường phù hợp có khả năng phá vỡ “cái vòng luẩn quẫn nghèo khó” (R.Nurkse và A Samuelson), tạo lực bứt phá ra khỏi những hạn chế, cản trở để các nướcnày hòa nhập vào xu thế phát triển chung của thế giới27
Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước cần thiết phải cómột lượng vốn đầu tư lớn nhằm thực hiện chiến lược công nghiệp hóa và hiện đại hóa,thực hiện mục tiêu kinh tế chiến lược đưa nước ta trở thành một nước công nghiệptheo hướng hiện đại vào năm 2050 (Nghị quyết Đại hội IX của Đảng Cộng sản ViệtNam) Chính vì vậy, việc tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài là hết sức quantrọng, nổi lên như một vấn đề cấp bách Tuy nhiên, việc mở cửa cho dòng vốn đầu tưnước ngoài vào Việt Nam không phải là không có những mặt tiêu cực Đầu tư trực tiếpnước ngoài có thể ảnh hưởng đến tài nguyên, môi trường sống của đất nước; làm chaođảo cán cân thanh toán của nước nhận đầu tư và thậm chí là tác động tiêu cực tới độclập, chủ quyền quốc gia, kéo theo những luồng văn hóa độc hại ảnh hưởng đến thuầnphong mỹ tục, tới truyền thống tốt đẹp của dân tộc…
Pháp luật về góp vốn, mua cổ phần của NĐTNN trong các doanh nghiệp ViệtNam là một bộ phận của pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
Từ những trình bày ở trên, có thể nhận thấy cần thiết phải có sự quan tâm, định hướng
và quản lý của Nhà nước đối với hoạt động đầy tiềm năng nhưng cũng chứa đựngkhông ít rủi ro này Vai trò của nhà nước không chỉ thể hiện trong việc tạo điều kiện
27 Phó tiến sỹ Phạm Đắc Duyên, 1997, Những nội dung kinh tế - tài chính của Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, trang 50
Trang 23và giải quyết những vấn đề vướng mắc của các nhà đầu tư mà quan trọng hơn là giảmthiểu những rủi ro mà đầu tư nước ngoài có thể mang lại Nhà nước phải đảm bảonhững cơ chế, chính sách của mình là phù hợp với thực tiễn, đảm bảo lợi ích của ViệtNam và các nhà đầu tư nước ngoài mà vẫn quản lý tốt nền kinh tế nội địa.
Tính đến tháng 6/2013,vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam là 21,6 tỷUSD và vốn thực hiện đạt được 11,5 tỷ USD28 Con số đó là một minh chứng hết sức
rõ ràng về sự phát triển của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, chấtlượng nguồn vốn FDI và những hạn chế từ pháp luật điều chỉnh hoạt động này vẫn còn
là vấn đề đáng lo ngại Tiêu biểu là những nhược điểm sau:
- Quy định cấm, hạn chế NĐTNN đối với một số ngành, lĩnh vực nhất địnhnhưng lại không có cơ chế ngăn chặn đầu tư chéo (Cross Investment) theo môhình công ty Mẹ - Con hay tình trạng NĐTNN nhờ người Việt Nam đứng tênmua cổ phần trong doanh nghiệp Việt Nam
- Quy định về việc thành lập tài khoản vốn đầu tư – điều kiện để NĐTNN đượcgóp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam nhưng chỉ mới nêumột cách chung chung, khái quát; chưa có hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tụcthành lập và quản lý tài khoản này
- Thủ tục thanh lý (giải thể, phá sản) doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cònchưa cụ thể, rõ ràng – đặc biệt là vấn đề trách nhiệm của NĐTNN đối với chủ
nợ, người lao động v.v… trong những trường hợp này cũng chưa có văn bảnnào quy định
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, nhóm tác giả sẽ trình bày hai hạn chế màtheo nhìn nhận chủ quan của mình, chúng tôi cho rằng là những bất cập nghiêm trọngnhất, cần thiết phải được khắc phục trong thời gian tới, bảo đảm cho nguồn vốn đầu tưnước ngoài thực sự phát huy được vai trò to lớn của nó trong việc phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước
2.1 Pháp luật về điều kiện góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam:
2.1.1 Quy định hiện hành về điều kiện góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài không thông qua thị trường chứng khoán:
28 Số liệu của Bộ kế hoạch và đầu tư
Trang 24Điều 5 Thông tư 131/2010/TT – BTC ghi nhận về điều kiện góp vốn, mua cổphần của NĐTNN trong doanh nghiệp Việt Nam như sau:
Đối với nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức:
Có tài khoản vốn đầu tư mở tại ngân hàng thương mại tại Việt Nam Mọi hoạt động mua, bán cổ phần, chuyển nhượng vốn góp, thu và sử dụng cổ tức, lợi nhuận được chia, chuyển tiền ra nước ngoài và các hoạt động khác liên quan đến đầu tư vào doanh nghiệp Việt Nam đều thông qua tài khoản này Việc mở, đóng, sử dụng và quản
lý tài khoản vốn đầu tư phải phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân:
Có tài khoản vốn đầu tư mở tại ngân hàng thương mại tại Việt Nam Mọi hoạt động mua, bán cổ phần, chuyển nhượng vốn góp, thu và sử dụng cổ tức, lợi nhuận được chia, chuyển tiền ra nước ngoài và các hoạt động khác liên quan đến đầu tư vào doanh nghiệp Việt Nam đều thông qua tài khoản này Việc mở, đóng, sử dụng và quản
lý tài khoản vốn đầu tư phải phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan.”
Theo đó, NĐTNN không phân biệt là tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động
góp vốn, mua cổ phần trong các doanh nghiệp Việt Nam thì phải thành lập một “tài
khoản vốn chuyên dùng” tại một ngân hàng thương mại – đó có thể là chi nhánh của tổ
chức tín dụng nước ngoài hoặc ngân hàng thương mại của tổ chức, cá nhân Việt Nam.Mọi hoạt động liên quan đến phần vốn góp, cổ phần trong doanh nghiệp Việt Nam màNĐTNN đã mua bao gồm chuyển nhượng, sử dụng cổ tức, lợi nhuận được chia haychuyển tiền ra nước ngoài đều phải thực hiện thông qua tài khoản này Đây là điềukiện tiên quyết mà pháp luật Việt Nam yêu cầu đối với NĐTNN muốn đầu tư vàodoanh nghiệp Việt Nam không thông qua thị trường chứng khoán
Hiện nay, khi Việt Nam đã là thành viên của tổ chức thương mại thế giới(WTO), việc ký kết và gia nhập những điều ước quốc tế về tự do hóa thương mại đòihỏi chúng ta phải từng bước một dỡ bỏ những rào cản thương mại – trong đó có hàngrào kỹ thuật về thủ tục Việc pháp luật Đầu tư còn tồn tại những quy định như điềukiện góp vốn, mua cổ phần của NĐTNN trong doanh nghiệp Việt Nam không thôngqua thị trường chứng khoán là một sự phân biệt đối xử được các nước thành viên khácthừa nhận trong một thời hạn nhất định để đảm bảo rằng, nền sản xuất trong nướckhông bị tổn hại; các NĐTTN có điều kiện thích ứng với môi trường cạnh tranh quốc
tế đầy khốc liệt Theo một lộ trình định sẵn, trong tương lai, Việt Nam phải từng bước
Trang 25dở bỏ các quy định kiểu này, đảm bảo môi trường tự do hóa và cạnh tranh lành mạnhtrong thương mại quốc tế
Ý nghĩa của quy định về điều kiện góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong doanh nghiệp Việt Nam:
Đầu tư trực tiếp nước ngoài với đặc trưng cơ bản là đảm bảo quyền sở hữu vàquyền quản lý Tuy nhiên, cần thừa nhận rằng mục đích của NĐTNN và nước nhậnđầu tư là không giống nhau Nếu NĐTNN mong muốn thu lợi nhuận cao nhất thì nướcchủ nhà lại quan tâm nhiều đến hiệu quả kinh tế - xã hội và sự phát triển tổng thể củanền kinh tế theo những mục tiêu, chiến lược đã đề ra Việc nghiên cứu và xây dựngpháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài phải đảm bảo giải quyết được mâuthuẫn này trên cơ sở dung hòa lợi ích của cả hai phía nhằm đạt được những mục tiêu
đã đề ra bởi chỉ trên cơ sở thống nhất lợi ích mới mong có sự hợp tác phát triển
Điều kiện góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanhnghiệp Việt Nam chính là một quy định đòi hỏi phải có sự dung hòa, thống nhất nhưvậy Đối với nhà nước, đại diện là các cơ quan quản lý về hoạt động đầu tư, quy địnhnày là cơ chế đảm bảo hiệu quả quản lý Thông qua tài khoản vốn đầu tư và quy địnhbuộc NĐTNN thực hiện mọi hoạt động liên quan đến đầu tư phải thông qua tài khoản
đó, Nhà nước sẽ dễ dàng kiểm soát và ngăn chặn những hành vi không lành mạnh củachủ thể này, điển hình là hành vi tẩu tán tài sản khi thua lỗ hay lợi dụng hoạt động đầu
tư để “Rửa tiền” Mặt khác, việc quản lý tốt nguồn vốn đầu tư nước ngoài còn giúpNhà nước tránh thất thu thuế và kiểm soát chặt chẽ nguồn ngoại tệ Không thể vì lý dothiếu vốn, khả năng tài chính thấp mà cho phép những hoạt động kinh tế ngầm diễn ragây mất uy tín của Nhà nước trên thị trường quốc tế
Dưới góc độ doanh nghiệp nhận đầu tư, quy định về điều kiện góp vốn, mua cổphần là cơ sở để hợp pháp hóa việc thu hút nguồn vốn và chuyển giao công nghệ, kinhnghiệm quản lý của các công ty nước ngoài Bên cạnh đó, trên cơ sở một tài khoản vốnđầu tư nằm tại ngân hàng thương mại ở trong nước, các doanh nghiệp Việt Nam có thểnắm bắt và đánh giá về nhu cầu cũng như sự thiện chí của các NĐTNN khi bỏ vốn vàodoanh nghiệp của mình, đồng thời đó cũng là một cơ chế bảo đảm trong những trườnghợp NĐTNN thoái vốn, trốn nợ
Như vậy, về mặt lý luận, quy định về tài khoản vốn đầu tư có vai trò hết sứcquan trọng, là cơ chế mà thông qua đó nhà nước phát huy được vai trò quản lý và kiểm
Trang 26soát hoạt động đầu tư nước ngoài một cách chặt chẽ Đồng thời, quy định này còn có ýnghĩa bảo vệ nền kinh tế trong nước tránh khỏi những tác động tiêu cực từ nguồnngoại tệ vốn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, tránh cho doanh nghiệp Việt Nam bị một sốNĐTNN biến thành trung gian để thực hiện hoạt động rửa tiền và những hành vi viphạm pháp luật khác Tuy nhiên, khi áp dụng quy định này trên thực tiễn thì lại xuấthiện nhiều kẻ hở và hạn chế, cho thấy nhà làm luật cần sớm đưa ra những sửa đổi và
bổ sung sao cho phù hợp với thực tế hiện nay
2.1.2 Bất cập trog quy định về điều kiện góp vốn, mua cổ phẩn của NĐTNN trong doanh nghiệp Việt Nam:
Thông tư 131/2010/TT – BTC về điều kiện góp vốn, mua cổ phần của NĐTNNtrong doanh nghiệp Việt Nam quy định: Sau khi có tài khoản vốn đầu tư, NĐTNN sẽthực hiện hoạt động góp vốn, mua cổ phần, chuyển nhượng phần vốn góp, chuyển tàisản ra nước ngoài v.v… thông qua tài khoản đó29 Điều này có nghĩa, khi NĐTNNmuốn thực hiện một dự án đầu tư, vốn và các khoản chi khác, cũng như lợi nhuận từ
dự án sẽ thông qua tài khoản này được sử dụng Nói như vậy, việc kiểm soát nghiêmngặt tài khoản vốn đầu tư là hết sức cần thiết, vừa đảm bảo cho việc thực hiện dự ántheo đúng yêu cầu, vừa góp phần quản lý chặt chẽ nguồn ngoại tệ
Hiện nay, pháp luật Đầu tư chỉ có duy nhất Thông tư 131/2010/TT – BTC quyđịnh về việc thành lập tài khoản vốn đầu tư, nhưng ngoài việc đưa ra khái niệm tàikhoản vốn đầu tư và ý nghiã của nó, Thông tư này không hề đề cập đến cơ chế kiểmsoát tiền vốn của NĐTNN thực hiện đầu tư trực tiếp Cho đến thời điểm hiện tại, việcthành lập tài khoản vốn đầu tư của NĐTNN thực hiện hoạt động góp vốn, mua cổ phầnkhông thông qua thị trường chứng khoán (đầu tư trực tiếp) vẫn chưa có văn bản nàohướng dẫn thi hành cụ thể Liên quan đến “tài khoản vốn đầu tư”, một văn bản mới doNgân hàng nhà nước mới ban hành vào tháng 1/2014 là Thông tư 05/2014/TT –NHNN Hướng dẫn việc mở và sử dụng tài khoản vốn đầu tư gián tiếp để thực hiệnhoạt động đầu tư gián tiếp tại Việt Nam Nội dung của Thông tư 05/2014 chỉ áp dụngđối với Nhà đầu tư nước ngoài là người không cư trú thực hiện hoạt động đầu tư giántiếp tại Việt Nam và các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư gián tiếpnước ngoài tại Việt Nam Hệ quả là việc thành lập, quản lý tiền gửi “chuyên dùng” của
29 Điều 5 Thông tư 131/2010/TT – BTC
Trang 27NĐTNN đầu tư trực tiếp còn hết sức lỏng lẻo, việc luân chuyển tài sản của NĐTNNchưa có cơ chế kiểm soát chặt chẽ nên đã phát sinh nhiều hậu quả đáng tiếc, mà ngườiphải gánh chịu, không ai khác là các doanh nghiệp Việt Nam Đơn cử những trườnghợp sau:
“Tài khoản ảo”: mục đích của NĐTNN là tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc
bỏ vốn vào những ngành, lĩnh vực để thực hiện các dự án đầu tư Với quy định củapháp luật về việc thành lập một tài khoản vốn chuyên dùng mà mọi hoạt động “mua, bán cổ phần, chuyển nhượng vốn góp, thu và sử dụng cổ tức, lợi nhuận được chia, chuyển tiền ra nước ngoài và các hoạt động khác liên quan đến đầu tư vào doanh nghiệp Việt Nam” đều thông qua tài khoản này, đòi hỏi NĐTNN phải có một lượng
vốn nhất định để chứng minh năng lực tài chính của mình khi thực hiện dự án (quyđịnh tại Điều 23 Nghị định 108/2009/NĐ – CP về việc bảo đảm thực hiện nghĩa vụthực hiện Hợp đồng dự án) Trước quy định này, NĐTNN không đáp ứng đủ điều kiện
về tài chính vẫn có thể lách các quy định của pháp luật bằng cách: Sử dụng công trình
mà dự án đang thực hiện để thế chấp, vay vốn của ngân hàng khác và đưa tiền đó vàotài khoản vốn chuyên dùng, sử dụng làm vốn thực hiện dự án Áp dụng cách thức này,NĐTNN vay vốn của hàng loạt các ngân hàng khác và thế chấp bằng một công trìnhduy nhất để thực hiện dự án theo từng giai đoạn Cứ như vậy, đến khi không còn khảnăng thanh toán nợ và tiếp tục dự án thì NĐTNN tuyên bố phá sản và bỏ dự án.Nghiêm trọng hơn là trường hợp NĐTNN bỏ chạy để lại sau lưng những khoản nợkhổng lồ: nợ lương công nhân; nợ thuế, phí lên đến hàng trăm triệu; hàng loạt cácngân hàng không có khả năng thu hồi nợ vì chủ đầu tư đã bỏ trốn về nước v.v…Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ việc Nhà nước quy định phải thành lập tàikhoản vốn đầu tư nhưng lại không đề cập đến việc minh bạch tài sản của NĐTNN,không định ra một cơ chế quản lý và thống kê chặt chẽ như: quy định phương thứcthành lập và chuyển khoản tiền vốn từ phía nước ngoài vào ngân hàng; chế độ hạchtoán các chi phí liên quan đến quá trình đầu tư; chưa có những quy định cho phép phíangân hàng được yêu cầu NĐTNN xuất trình các tài liệu liên quan để làm rõ nguồn gốcvốn và minh bạch các khoản thu, chi và lợi nhuận v.v… Chính những thiếu sót nghiêmtrọng này đã tạo điều kiện cho NĐTNN có cơ hội thực hiện những hành vi không lành
Trang 28mạnh, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,làm giảm ý nghĩa của nguồn vốn FDI
Trường hợp NĐTNN tìm cách lách những quy định về điều kiện góp vốn có thểdiễn ra theo một phương thức khác, đáng lo ngại hơn Trước đây, với quy định vềnhững ngành, nghề, lĩnh vực bị cấm, hạn chế đầu tư đối với NĐTNN, người ta đã nghĩđến việc nhờ người Việt Nam đứng tên, thay mình mua vốn góp, cổ phần của cácdoanh nghiệp Việt Nam Dưới danh nghĩa đó, doanh nghiệp được xác định là doanhnghiệp Việt Nam nhưng thực chất đằng sau là sự quản lý, điều hành của các NĐTNN.Với cách thức này, NĐTNN sẽ không bị ràng buộc bởi những quy định về điều kiệngóp vốn, mua cổ phần theo Thông tư 131/2010/TT – BTC, tức là không phải thành lậpmột tài khoản vốn đầu tư trong ngân hàng thương mại Tình hình này sẽ trở nên vôcùng nghiêm trọng khi NĐTNN làm ăn thua lỗ và bỏ chạy, để lại doanh nghiệp vớinhững món nợ khổng lồ và những người chủ “trên danh nghĩa” không thể và khôngbao giờ có khả năng chi trả Nguyên nhân của tình trạng này cũng đến từ những thiếusót kể trên khi quy định về điều kiện góp vốn, mua cổ phần của NĐTNN trong cácdoanh nghiệp Việt Nam Rõ ràng, việc quy định về yêu cầu một tài khoản vốn chuyêndùng là hoàn toàn hợp lý, vừa đảm bảo sự quản lý của Nhà nước, vừa tạo điều kiệncho những NĐTNN thực chất có ý định tìm kiếm lợi nhuận ở Việt Nam Tuy nhiên,việc quy định còn lỏng lẻo, “chưa đến nơi đến chốn” như hiện nay đã làm nảy sinhnhững thực trạng đáng báo động, đe dọa gây nguy hại đến sự phát triển của nền kinh tếquốc gia và những chiến lược kinh tế - xã hội dài hạn của đất nước
2.1.3 Một số đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về việc thành lập, quản lý tài khoản vốn đầu tư trực tiếp:
Cuối năm 2013, Ngân hàng nhà nước đưa ra và xin ý kiến về Dự thảo Thông tư
Hướng dẫn một số nội dung về quản lý ngoại hối đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam 30 Có thể nói, nội dung Thông tư này nếu như thành hiện thực sẽ
có ý nghĩa rất lớn đối với việc quản lý hiệu quả hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài,
mà cụ thể là việc hướng dẫn chi tiết về việc thành lập và kiểm soát tài khoản vốn đầu
tư của NĐTNN:
Trang 29 Về đối tượng áp dụng:
(i) Người cư trú là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam;
(ii) Nhà đầu tư nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh thực hiện hoạt
động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam;
(iii) Nhà đầu tư nước ngoài là người không cư trú thực hiện hoạt động đầu tư vào
Việt Nam dưới các hình thức đầu tư trực tiếp theo quy định hiện hành của pháp luật về đầu tư;
(iv) Các tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam 31
Dự thảo Thông tư được xây dựng nhằm hướng dẫn các quy định về quản lý ngoạihối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam do các đối tượng trênthực hiện, bao gồm:
(i) Việc mở và sử dụng tài khoản vốn đầu tư trực tiếp của nhà đầu tư nước
ngoài;
(ii) Việc chuyển vốn vào và ra khỏi Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài
liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam;(iii) Việc chuyển vốn vào/ra trước khi được cấp giấy chứng nhận đầu tư;(iv) Giao dịch thanh toán, chuyển nhượng vốn đầu tư;
(v) Quyền hạn, trách nhiệm của tổ chức tín dụng và nhà đầu tư nước
ngoài32
Từ việc nhận thức được những khó khăn mà NĐTNN và tổ chức tín dụng vấpphải khi pháp luật không quy định thủ tục thành lập cụ thể; về việc quản lý, kiểm soátđối với tài khoản vốn đầu tư, dự thảo Thông tư đã đưa ra những giải pháp để khắcphục tình hình này bằng những quy định cụ thể như: Xác định rõ những đối tượng nàocần phải thành lập tài khoản vốn đầu tư theo quy định tại Thông tư 131/2010/TT –
BTC và đặc biệt là bổ sung thêm đối tượng “các tổ chức, cá nhân có liên quan đến
hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” để tránh trường hợp NĐTNN lợi
31 31, 32 Dự thảo thông tư hướng dẫn một số quy định về quản lý ngoại hối đối với tài khoản đầu tư trực tiếp
32