Nó là một trong những bệnh nguy hiểm không những gây tác hại trực tiếp cho vật chủ mà còn gây bệnh cho các loại gia súc khác ảnh hưởng đến sức khỏe và sự sinh sản của con người.. Mặt kh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM LEPTOSPIRA TRÊN
BÒ SỮA Ở QUẬN 9 VÀ QUẬN 12 TP HỒ CHÍ MINH
Họ và tên sinh viên : NGUYỄN VĂN HÒA
Niên khóa : 2003 – 2008
Tháng 6/2009
Trang 2KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM LEPTOSPIRA TRÊN
BÒ SỮA Ở QUẬN 9 VÀ QUẬN 12 TP HỒ CHÍ MINH
Tác giả
NGUYỄN VĂN HÒA
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ
ngành Thú Y
Giáo viên hướng dẫn
TS LÊ ANH PHỤNG
Tháng 6/2009
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Chân thành cảm ơn
Ban giám hiệu trường DHNL TPHCM Qúy thầy cô khoa CNTY đã tận tình dạy dỗ, truyền đạt kiến thức qúy báu, kinh nghiệm cho chúng tôi suốt quãng đời sinh viên, đề làm hành trang vào đời
Chân thành cảm ơn
Tiến sĩ Lê Anh Phụng, đã hết lòng giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
Bác sĩ thú y Huỳnh Thị Thu Hương
Bác sĩ thú y Phạm Ngọc Chí
Bác sĩ thú y Bùi Quang Thể
Đã tận tình giúp đỡ chỉ dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp
và hoàn thành luận văn này
Chân thành cảm ơn
Ban lãnh đạo Chi cục Thú y thành phố Hồ Chí Minh
Các anh chị phòng chẩn đoán xét nghiệm và điều trị
Đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp
Trang 4TÓM TẮT LUẬN VĂN
Qua thực hiện đề tài: “khảo sát tình hình nhiễm Leptospira trên bò sữa ở quận 9
và quận 12 Thành Phố Hồ Chí Minh” bằng phản ứng (MAT) với 156 mẫu huyết thanh, chúng tôi có một số kết quả sau:
- Tỷ lệ nhiễm Leptospira chung trên bò sữa ở hai khu vực là 25%, trong đó tỷ lệ nhiễm Leptospira ở quận 9 là 36% và quận 12 là 19,8%
- Tỷ lệ nhiễm Leptospira theo phường: Ở quận 9 cao nhất là phường Long Thạnh
Mỹ (50%) và ở quận 12 cao nhất là phường Hiệp Thành (29,6%)
- Tỷ lệ nhiễm Leptospira theo lứa đẻ: Cao nhất là nhóm bò đẻ 3 lứa (40,9%), thấp
- Đã phát hiện được 4 serovar nhiễm trên bò sữa, trong đó 2 serovar nhiễm cao nhất
là hardjo bovis (48,57%) và hebdomadis (45,71%)
- Số serovar nhiễm trên 1 cá thể: Các cá thể nhiễm từ 1 đến 2 serovar, chủ yếu là 2 serovar (chiếm tỷ lệ 89,74%)
- Hiệu giá kháng thể ngưng kết với Leptospira tập trung ở mức từ 1/100 đến 1/200
(chiếm tỷ lệ tổng cộng là 71,79%)
Trang 5MỤC LỤC
Trang
TRANG TỰA i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iii
MỤC LỤC iv
DANH SÁCH CÁC BẢNG viii
DANH SÁCH HÌNH ix
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ x
DANH SÁCH SƠ ĐỒ x
Chương 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
Chương 2 TỔNG QUAN 3
2.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG VÀ LỊCH SỬ PHÁT HIỆN BỆNH 3
2.1.1 Khái niệm 3
2.1.2 Lịch sử phát hiện bệnh do Leptospira 3
2.2 CĂN BỆNH HỌC 4
2.2.1 Phân loại 4
2.2.2 Hình thái và cấu tạo 5
2.2.3 Sự chuyển dộng 6
2.2.4 Đặc điểm nuôi cấy và đặc tính sinh hóa 6
2.2.5 Sức đề kháng 6
2.2.6 Cấu trúc kháng nguyên và tính sinh miễn dịch 7
2.3 DỊCH TỄ HỌC 8
2.3.1 Tình hình bệnh và phân bố địa lý 8
2.3.1.1 Thế giới 8
2.3.1.2 Việt Nam 8
2.3.2 Loài vật cảm thụ 9
Trang 62.3.3 Chất chứa mầm bệnh 10
2.3.4 Đường xâm nhập 10
2.3.5 Phương thức truyền lây 11
2.3.6 Cách sinh bệnh 12
2.4 TRIỆU CHỨNG 13
2.4.1 Thể quá cấp tính 13
2.4.2 Thể cấp tính 13
2.4.3 Thể mãn tính 13
2.5 BỆNH TÍCH 14
2.6 CHẨN ĐOÁN 14
2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng 14
2.6.1.1 Chẩn đoán dịch tễ học 14
2.6.1.2 Chẩn đoán phân biệt 14
2.6.2 Chẩn đoán ở phòng thí nghiệm 15
2.6.2.1 Chẩn đoán vi trùng học 15
2.6.2.2 Chẩn đoán huyết thanh học 16
2.7 PHÒNG BỆNH VÀ ĐIỀU TRỊ 17
2.7.1 Phòng bệnh 17
2.7.1.1 Vệ sinh phòng bệnh 17
2.7.1.2 Thực hiện việc tiêm phòng bằng vaccine 18
2.7.2 Điều trị 18
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 19
3.1.1 Thời gian 19
3.1.2 Địa điểm 19
3.2 NỘI DUNG ĐỀ TÀI 19
3.3 VẬT LIỆU 19
3.3.1 Mẫu khảo sát 19
3.3.2 Bộ kháng nguyên chuẩn 19
3.3.3 Thiết bị, dụng cụ và hóa chất 19
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
Trang 73.4.1 Phân bố lấy mẫu trên bò 21
3.4.2 Phương pháp lấy mẫu huyết thanh 21
3.4.3 Phương pháp thực hiện phản ứng MAT 22 T 3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 26
Tỷ lệ nhiễm Leptospira trên bò sữa 26
3.6 Phương pháp xử lý số liệu 26
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1.TỶ LỆ NHIỄM LEPTOSPIRA TRÊN BÒ SỮA THEO KHU VỰC 27
4.1.1 Tỷ lệ nhiễm Leptospira trên bò sữa của quận 9 và quận 12 27
4.1.2.Tỷ lệ nhiễm Leptospira theo phường của Quận 9 và Quận 12 29
4.2.TỶ LỆ NHIỄM LEPTOSPIRA THEO LỨA ĐẺ 31
4.3 TỶ LỆ NHIÊM LEPTOSPIRA TRÊN BÒ SỮA THEO QUI MÔ HỘ CHĂN NUÔI 33
4.4 TỶ LỆ NHIỄM LEPTOSPIRA THEO NHÓM MÁU LAI BÒ SỮA HÀ LAN 34
4.5 CÁC SEROVAR CỦA LEPTOSPIRA PHÁT HIỆN ĐƯỢC 36
4.5.1 Các serovar phát hiện được ở quận 9 + quận 12 36
4.5.2 Số serovar được phát hiện ở Quận 9 và ở Quận 12 37
4.6 SỐ SEROVAR NHIỄM TRÊN CÁ THỂ 38
4.7 HIỆU GIÁ KHÁNG THÊ NGƯNG KẾT VỚI LEPTOSPIRA 40
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 43
5.1 KẾT LUẬN 43
5.2 ĐỀ NGHỊ 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 45
PHỤ LỤC 47
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ELISA: Enzyme Linked Immunosorbent Assay
EMJH: Ellinghausent McCuloug johnson Harris
FAO: Food and Agriculture Organizati
F1: Bò lai có ½ máu bò Hà Lan
F2: Bò lai có 3/4 máu bò Hà Lan
F3: Bò lai có 7/8 máu bò Hà Lan
MAT: (Microscopic Agglutination Test)
OIE: Organization of Iternational Epidemiology
PCR: Polymerase Chain Reaction
PBS: Phosphate Buffered Saline
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1: Phân biệt 2 loài Leptospira 4
Bảng 3.1: Danh sách các serovars trong bộ kháng nguyên gồm 23 serovar của viện Pasteur- thành phố Hồ Chí Minh 20
Bảng 3.2: Phân bố số mẫu huyết thanh bò sữa ở quận 9 và quận 12 21
Bảng 4.1 Tỷ lệ mẫu dương tính với Leptospira 27
Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm Leptospira theo phường của Quận 9 và Quận 12 29
Bảng 4.3 Tỷ lệ nhiễm Leptospira theo lứa đẻ của bò sữa 31
Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm Leptospira theo qui mô hộ chăn nuôi 33
Bảng 4.5 Tỷ lệ nhiễm Leptospira theo nhóm máu lai bò sữa Hà Lan 34
Bảng 4.6 Tỷ lệ ngưng kết của các serovar dương tính trên bò sữa ở quận 9 + quận 12 .36
Bảng 4.7 Tỷ lệ ngưng kết của các serovar ở Quận 9 và ở Quận 12 37
Bảng 4.8 Tỷ lệ các serovar nhiễm trên một cá thể bò sữa 39
Bảng 4.9 Tỷ lệ các mức hiệu giá kháng thể ngưng kết 40
Trang 10DANH SÁCH HÌNH
Trang
Hình 2.1: Hình dạng của Leptospira dưới kính hiển vi điện tử 5
Hình 2.2: Cấu tạo của xoắn trùng Leptospira 5
Hình 3.1: Thao tác lấy mẫu máu của bò sữa 22
Hình 3.2: Thao tác thực hiện phản ứng MAT .23
Hình 3.3: Thao tác đọc kết quả phản ứng MAT 25
Trang 11DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ nhiễm Leptospira theo từng quận 27
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ nhiễm Leptospira theo Phường của Quận 9 và Quận 12 30
Biểu đồ 4.3 Tỷ lệ nhiễm Leptospira theo lứa đẻ của bò sữa 32
Biểu đồ 4.4 Tỷ lệ nhiễm Leptospira trên bò sữa theo qui mô hộ chăn nuôi 33
Biểu đồ 4.5 Tỷ lệ nhiễm Leptospira theo nhóm máu lai bò sữa Hà Lan 35
Biểu đồ 4.6 Tỷ lệ ngưng kết của các serovar phát hiện được 36
Biểu đồ 4.7 Tỷ lệ ngưng kết của các serovar trên bò sữa ở Quận 9 và ở Quận 12 38
Biểu đồ 4.8 Tỷ lệ các serrovar nhiễm trên một cá thể bò sữa 39
Biểu đồ 4.9 Tỷ lệ các mức hiệu giá kháng thể ngưng kết 41
DANH SÁCH SƠ ĐỒ Trang Sơ đồ 2.1: Sơ đồ vòng truyền lây Leptospira 12
Sơ đồ 3.1 Thực hiện phản ứng vi ngưng kết (MAT) 24
Sơ đồ 3.2 Xác định hiệu giá kháng thể 24
Trang 12ở quận 9 là 395 con, ở quận 12 là 8167 con
Đặc biệt địa hình quận 9 và quận 12 hiện nay vẫn còn một số nơi mang tính đặc thù của vùng nông thôn, nên còn rất nhiều đồng cỏ tự nhiên, kết hợp tận dụng phế phẩm nông nghiệp phục vụ chế phẩm chăn nuôi bò sữa tại các hộ dân rất thuận lợi và phù hợp Vì thế không ngừng tăng thu nhập cho các hộ chăn nuôi bò sữa một cách đáng kể
Tuy nhiên song song với lợi thế đó, sự ẩn náu và tiếp xúc của loài gậm nhấm là
mối nguy cơ gieo rắc mầm bệnh rất cao, đặc biệt là bệnh do Leptospira Nó là một
trong những bệnh nguy hiểm không những gây tác hại trực tiếp cho vật chủ mà còn gây bệnh cho các loại gia súc khác ảnh hưởng đến sức khỏe và sự sinh sản của con
người Mặt khác bệnh do Leptospira thường ở thể mang trùng và mãn tính nên khi
phát hiện được triệu chứng lâm sàng thì bệnh đã ở thể rất nặng, nên việc điều trị kém hiệu quả, ảnh hưởng đến kinh tế gia đình và ngành chăn nuôi
Nhằm góp phần cho sự phát triển ngành chăn nuôi bò sữa và bảo vệ sức khỏe
cho con người thì biện pháp phòng chống bệnh do Leptospira gây ra là rất cần thiết.
Xuất phát từ những vấn đề trên, được sự đồng ý của khoa chăn nuôi thú y trường Đại học Nông lâm Tp Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của Thầy TS Lê Anh
Phụng, chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát tình hình nhiễm Leptospira trên bò sữa ở
Quận 9 và Quận 12 Tp Hồ Chí Minh”
Trang 131.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục đích
- Tìm hiểu sự phân bố bệnh do xoắn trùng (Leptospira) ở bò sữa thuộc một số
phường ở Quận 9 (Trường Thạnh, Long Bình, Long Thạnh Mỹ, Phú Hữu) và Quận 12 (Đông Hưng Thuận, Hiệp Thành, Thới An, Tân Chánh Hiệp)
1.2.2 Yêu cầu
- Thực hiện xét nghiệm Leptospira bằng phản ứng vi ngưng kết MAT
(Microscopic Agglutination Test) Phát hiện kháng thể trên thú nhiễm
Trang 14Chương 2
TỔNG QUAN
2.1 ĐẶC ĐIỂM CHUNG VÀ LỊCH SỬ PHÁT HIỆN BỆNH
2.1.1 Khái niệm
- Leptospirosis là bệnh truyền nhiễm chung cho nhiều loài động vật và người do
Leptospira gây nên
- Đặc điểm của bệnh: Nhiễm trùng huyết, sốt, vàng da, niệu huyết sắc tố, viêm gan, viêm thận, rối loạn tiêu hóa và gây sẩy thai… (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)
Năm 1915, Inada và Ido (Nhật) đã phân lập được vi trùng từ gan chuột lang có
tiêm máu của một bệnh nhân bị sốt, vàng da và đặt tên là: Spirocchaeta
icterohaemorrhagiae
Năm 1918, Noguchi đề nghị đặt lại tên cho căn bệnh là Leptospira
icterohaemorrhagiae Cũng trong thời gian này, Martin và Pettit (Pháp) đã đưa ra
nguyên tắc phản ứng vi ngưng kết (MAT) để chẩn đoán về bệnh do Leptospira về mặt
huyết thanh học
ợc L Grippotyphosa
Năm 1918, Tarrasor đã phân lập đư
ợc L Hebdomadis
Năm 1919, Yido đã phân lập đư
Năm 1923, Hvewett đã phân lập được L Pyrogenes Năm 1926, Ritamna và Hara đã phân lập được L Autumnalis trong một bệnh gọi là bệnh “sốt mùa thu” Cũng trong năm 1926, Walch phân lập đ ợc L bataviae trong bệnh “sốt ruộng lúa” ư
Trang 15Năm 1933, A Klarenbeck, W Schufier đã phân lập được L Canicola
Năm 1936, Nikenxki, Mactrenco và Dexiaton (Liên Xô) đã phát hiện bệnh xoắn
trùng trên bò gọi là bệnh vàng da đái ra máu
Năm 1937, L Australis đã được phân lập bởi Glumley
Những năm gần đây đã tìm ra nhiều biến thể huyết thanh (serovar) gây bệnh,
chế vaccine, kháng huyết thanh và các biện pháp phòng chống bệnh
+ Leptospira interrogans (gây bệnh)
+ Leptospira biflexa (hoại sinh)
Trong loài L Interrogans hiện người ta đã phân biệt được hơn 200 serovar và
được xếp vào 23 serogroup (Lê Anh Phụng, 2002)
Bảng 2.1: Phân biệt 2 loài Leptospira
Chỉ tiêu so sánh L interrogans L biflexa
Trang 162.2.2 Hình thái và cấu tạo
Hình thái
Leptospira có dạng xoắn nên còn gọi là xoắn trùng, kích thước của xoắn trùng
0,1 – 0,2μm x 4 – 20μm và có khoảng 15 – 20 vòng xoắn, hai đầu cong, có vỏ bọc (Trần Thanh Phong, 1996)
Hình 2.1: Hình dạng của Leptospira dưới kính hiển vi điện tử
(nguồn: www.med.sc.edu:85/Leptospira.gpg)
Cấu tạo
Xoắn trùng được bao bọc bên ngoài bởi một màng gồm từ 3 – 5 lớp Trục nguyên sinh chất hình xoắn được bao bọc bằng một lớp peptidoglycan Hai sợi trục nằm giữa màng ngoài và màng nguyên sinh chất, đầu tự do vươn tới gần giữa thanh của tế bào (Quinn, 1998)
Hình 2.2: Cấu tạo của xoắn trùng Leptospira
(nguồn: www.med.sc.edu:85/Leptospira.gpg)
Trang 172.2.3 Sự chuyển dộng
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1977), sự di động của Leptospira khá phức tạp,
trước tiên đầu uốn cong như lưỡi câu và quay theo ba hướng: Dọc, ngang và xoay tròn Hiện tượng này khởi đầu cho các sợi trục quay xung quanh trục nguyên sinh chất và làm cho toàn bộ tế bào xoắn trùng di chuyển theo
ưHiện t ợng di chuyển toàn thân cùng với hình dạng đặc biệt (dạng xoắn, hẹp về chiều ngang) và sự mềm dẻo cho phép các xoắn trùng dễ dàng chui qua mang lọc có đường kính từ 0,1 – 0,4 μm, nên Leptospira có khả năng làm tạp nhiễm các chất cần được thanh trùng bằng phương pháp lọc
2.2.4 Đặc điểm nuôi cấy và đặc tính sinh hóa
Đặc điểm nuôi cấy
Việc nuôi cấy xoắn trùng thường gặp rất nhiều khó khăn, môi trường nuôi cấy phải đặc biệt, giàu dưỡng chất, trong đó môi trường thích hợp nhất nếu có thêm từ 5-10% huyết thanh của thỏ, cừu, dê hoặc bò (Huỳnh Văn Đông, 2004)
Nhiệt độ thích hợp cho xoắn trùng phát triển là 28 – 300C, thường phát triển rất chậm từ 4-5 ngày, đôi khi có thể đến 3 tháng (Nguyễn Vĩnh Phước,1977)
Leptospira thích hợp với pH kiềm yếu 7,2 – 7,4 Trong quá trình phát triển
chúng cần các vitamin B1, B12 và các yếu tố khác như: Sắt, canxi, magie để phát triển Môi trường nuôi cấy xoắn trùng phổ biến hiện nay được dùng là môi trường EMJH (Ellinghausent McCullough Johnson Harris) (Đinh Văn Hân, 2005)
Đặc tính sinh hóa
Không lên men các loại đường, có khả năng gây dung huyết (sinh hemolysin), phản ứng catalase (+), oxydase (+)
2.2.5 Sức đề kháng
Theo Lê Anh Phụng (1999), Leptospira có thể sống đến hơn 4 tháng trong điều
kiện ẩm ướt nhưng chỉ 30 phút ở những nơi khô hạn Trong điều kiện bình thường chúng tồn tại khoảng 1,5 tháng, sự sấy khô và ánh sáng mặt trời chiếu thẳng giết chết chúng một cách nhanh chóng
Leptospira có sức đề kháng yếu với nhiệt độ, chúng dễ bị diệt bởi nhiệt độ: Ở
nhiệt độ 560C diệt được chúng trong 5 phút nhưng ở nhiệt độ 300C Leptospira không
Trang 18bị giết chết, với nhiệt độ 00C hay nhiệt độ âm thì xoắn trùng cũng chết nhanh
Leptospira cũng dễ bị diệt ở pH dưới 6 và lớn hơn 8
Okazaki và Ringen (1957) (trích dẫn bởi Nguyễn Lương, 1997), đã cho canh trùng L Pomona vào đất khô, sau nửa giờ thì không còn tìm thấy mầm bệnh nữa, còn
nếu đất ẩm ướt thì sau 6 tháng vẫn còn mầm bệnh
Leptospira dễ dàng bị tiêu diệt bởi các chất sát trùng thông thường như: acid
phenic 0,5%, thuốc đỏ 1/1000, formon 0,25% diệt được vi khuẩn trong 5 phút, NaOH 0,5% trong 10 phút, phenol 0,5% chỉ sống trong 10 phút Ngoài ra xoắn trùng nhạy cảm với nhiều chất như: xà phòng, chất tẩy, đặc biệt rất mẫn cảm với nước muối, dung dịch muối NaCl 2,8% giết vi khuẩn trong 15 phút (Đinh Văn Hân, 2005)
2.2.6 Cấu trúc kháng nguyên và tính sinh miễn dịch
Cấu trúc kháng nguyên
Theo Rothstein và Hatt (1956), chia cấu trúc kháng nguyên thành 2 loại:
- Kháng nguyên vỏ (P): Bản chất là một protein không chịu nhiệt, giữ vai trò thiết yếu trong phản ứng vi ngưng kết (MAT) Hầu hết các kháng nguyên này nằm ở lớp vỏ và có mang điểm quyết định kháng nguyên (epitope) nhờ vậy người ta có thể xác định được serogroup và serovar
- Kháng nguyên thân (S) là loại kháng nguyên thuộc tế bào chất, thành phần cấu tạo là lipopolysaccharide, chịu nhiệt, có tính chuyên biệt dùng để phân biệt các loài
Leptospira
Dựa vào cấu trúc kháng nguyên, người ta chia Leptospira thành nhiều
serogroup (nhóm huyết thanh) với nhiều serovar khác nhau, sau mỗi serovar là tên chủng (strain) do tác giả phân lập đặt tên
Tính sinh miễn dịch
Do Leptospira có nhiều serogroup khác nhau (23 serogroup) và mỗi serogroup
có thể gồm nhiều serovar Miễn dịch do Leptospira tạo ra rất phức tạp, rất ít trường
hợp xảy ra phản ứng chéo giữa các serogroup (Trần Hoàng Đức, 2004)
Trang 192.3 DỊCH TỄ HỌC
2.3.1 Tình hình bệnh và phân bố địa lý
Năm 1967, tổ chức FAO thông báo bệnh lan tràn khắp nơi trên thế giới, ở nhiều loài gia súc, gia cầm, kể cả thú hoang và người Bệnh gây nhiều thiệt hại như làm giảm sản lượng thịt, sữa, phẩm chất thịt giảm hẳn và tốn kém chi phí về phòng chống bệnh
2.3.1.1 Thế giới
Theo Nguyễn Lương (1977), bệnh do Leptospira trên bò có hầu hết ở các châu
lục trên thế giới Mỗi nước có các serovar chính gây bệnh cho bò khác nhau: Ở Nhật
là hebdomadis, ở Nga và Israel là Grippotiphosa…
Theo Bùi Văn Quyền ( 1995), những nghiên cứu về bệnh do Leptospira trên bò
cho thấy:
- Ở các nước châu Á: Ấn Độ (1990), bò nhiễm Autumnalis chiếm 48% tổng số
bò bị nhiễm Leptospira Ở Philippine (1979), thì có 65% bò bị nhiễm hebdomadis Ở
Malaysia (1987), bò bị nhiễm sejroe chiếm 40% tổng các trường hợp nhiễm
Leptospira
- Ở châu Âu bò nhiễm tập trung chủ yếu là hardjo còn ở Anh, Pháp và Ireland thì tỷ lệ nhiễm serovar này chiếm 15-30%
- Ở châu Mỹ, tại Argentina năm 1975, bò nhiễm sejroe chiếm 59% tổng số các
ca nhiễm Leptospira dương tính Tại Bolivia năm 1976, số ca nhiễm hebdomadis
chiếm 71%
2.3.1.2 Việt Nam
Theo kết quả điều tra của viện thú y cho thấy: Bệnh do Leptospira có xảy ra ở
tất cả các tỉnh thành từ bắc đến nam với tỷ lệ bò bị nhiễm là 26,2% (Nguyễn Lương, 1997)
Ở khu vực phía bắc
- Năm 1964, một trận dịch Leptospirosis xảy ra ở Lai Châu có 69 bò bị bệnh
- Theo Bùi Trần Thi (1959-1961), ở khu vực phía bắc tỷ lệ dương tính với
Leptospira trên bò là 38,2 – 41,2%
- Vũ Đình Hưng và Nguyễn Thị Diện (1978), tiến hành điều tra tình hình nhiễm
Leptospira trên bò ở các tỉnh phía bắc cho biết tỷ lệ dương tính là 38%, trong đó L
Grippotyphosa chiếm 29,7% và L Icterohaemorrhagiae chiếm 10,7%
Trang 20- Vũ Đình Hưng, Lê Thanh Hải và Nguyễn Thanh Tâm (1980) tiến hành khảo
sát 2959 bò các loại ở khu vực phía bắc thì phát hiện có 934 con bị nhiễm Leptospira
chiếm tỷ lệ 31,56%
- Nguyễn Thị Ngân (2000), điều tra ở các tỉnh phía bắc cho biết bò nhiễm
Leptospira với tỷ lệ 42,79%
Ở khu vực phía nam
- Vũ Đình Hưng (1978), sơ khởi điều tra 98 mẫu huyết thanh bò ở miền nam,
thì cho thấy tỷ lệ dương tính với Leptospira là 20,06%
- Đinh Văn Hân (2005), khảo sát tình hình nhiễm Leptospira trên bò tại một số
trại chăn nuôi tỉnh Bình Dương cho biết tỷ lệ bò dương tính chiếm 34,3%
- Phạm Minh Trạng (2002), khảo sát 100 mẫu huyết thanh bò sữa ở huyện Long Thành (Đồng Nai) cho biết tỷ lệ nhiễm là 41%
Ở thành phố Hồ Chí Minh
- Chu Thị Mỹ (1993-1995), khảo sát tình hình nhiễm Leptospira trên bò sữa ở
thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả dương tính là 28,15%
- Lâm Thanh Tùng (1994), điều tra 567 mẫu huyết thanh bò ở 3 huyện là Thủ
Đức, Hóc Môn và Gò Vấp thì tỷ lệ nhiễm Leptospira là 24,34%
- Bùi Văn Quyền (1995), điều tra tình hình nhiễm Leptospira ở khu vực Tân
Bình, Củ Chi cho biết tỷ lệ nhiễm là 30,66%
- Võ Thành Phương (2003), thăm dò tình hình nhiễm Leptospira trên đàn bò
sữa tại thành phố Hồ Chí Minh cho biết tỷ lệ dương tính là 38,6%
- Trần Hoàng Đức (2004), khảo sát tình hình nhiễm Leptospira ở huyện Hóc
Môn cho biết tỷ lệ dương tính là 35,88%
- Hồ Du Đăng (2004), đã khảo sát 680 mẫu huyết thanh bò ở hai huyện Củ Chi
và Hóc Môn thì có 261 mẫu dương tính chiếm tỷ lệ 38,38%
2.3.2 Loài vật cảm thụ
Leptospirosis là bệnh có tính chất nguồn dịch thiên nhiên, thú bệnh thường ở
dạng mãn tính và trở thành thú mang trùng và bài trùng Do đó, trong tự nhiên có rất nhiều loài vật cảm thụ với xoắn trùng như: Gia súc, động vật hoang dã,… trong đó trâu,
bò cảm nhiễm với xoắn trùng mạnh nhất, kể cả động vật máu lạnh (ếch, nhái, rắn, rùa, cá…), côn trùng, tiếp xúc đều nhiễm, kể cả người Loài gậm nhấm và thú hoang dã
Trang 21thường mắc bệnh ở thể ẩn tính hay mang trùng Gia súc bị bệnh nhưng nếu được chăm sóc tốt ít khi thể hiện triệu chứng Ở người nguy cơ xảy ra bệnh thường ở các cán bộ lâm nghiệp, địa chất, công nhân chăn nuôi nhất là những cán bộ thú y làm công tác chẩn đoán, xét nghiệm (Nguyễn Vĩnh Phước, 1977)
Theo Nguyễn Lương (1997), thì tỷ lệ và mức độ cảm nhiễm Leptospira thay đổi
tùy vùng, tùy serovar gây bệnh và tùy loài động vật Động vật non thường cảm nhiễm mạnh hơn động vật lớn Nhưng do con vật lớn có thời gian sống dài hơn nên thường có
tỷ lệ nhiễm bệnh cao hơn
Trong phòng thí nghiệm, người ta gây bệnh được cho thỏ non, chuột lang, chuột nhắt, chuột xám, chó con, gà con 2 ngày tuổi, phôi trứng gà 17 ngày Chỉ một số ít thú thí nghiệm phát hiện và có thể chết, đa số trở thành thú mang trùng (Nguyễn Lương, 1997)
2.3.3 Chất chứa mầm bệnh
Nguồn bệnh chủ yếu là các con vật nhiễm bệnh, động vật hoang dã mang trùng
đặc biệt là chuột Thú khi mới nhiễm bệnh trong vòng 2 tuần, Leptospira có trong máu Những tuần lễ sau, Leptospira sống chủ yếu ở thận nên có thể được tìm thấy ở bể
thận, ống dẫn tiểu, bàng quang, nước tiểu hoặc ở thai bị xảy và màng thai… (Đinh Văn
Hân, 2005) Ngoài ra, Leptospira có thể có trong tinh dịch của những thú đực và trong
sữa của những thú cái bị nhiễm bệnh (Trần Thanh Phong, 1996)
Nước tiểu có thể chứa mầm bệnh và bài mầm bệnh thay đổi tùy theo loài thú
bệnh Heo bài mầm bệnh trong hơn một năm, chó thải Leptospira đến 3 năm, trong khi
có thể bài trùng suốt đời đối với loài gậm nhấm (Đinh Văn Hân, 2005) Ở Nga, đã thấy
bò mang trùng khoảng 120 ngày, cừu, dê 180 ngày, chó 700 ngày, ngựa 120 ngày, heo
140 ngày, chồn 514 ngày và người 163 ngày (Nguyễn Lương, 1997)
Một số loài côn trùng như ruồi có thể mang và truyền mầm bệnh một cách cơ giới, ve cũng có thể truyền bệnh cho các thế hệ sau của ve qua trứng và có thể truyền sang các động vật khác (Blood, 1989; WHO, 2002; trích dẫn bởi Đinh Văn Hân, 2005)
2.3.4 Đường xâm nhập
Leptospira xâm nhập vào cơ thể bằng nhiều đường như:
- Đường tiêu hóa: Qua thức ăn, nước uống có chứa xoắn trùng
Trang 22- Qua da, niêm mạc nhất là khi niêm mạc bị tổn thương Rixgen và Bracker (1956) (trích dẫn bởi Nguyễn Lương, 1997) đã gây nhiễm thành công cho một con bò
bằng cách cạo sạch lông chân và đặt một túi n ớc tiểu có nhiễm Leptospira ư
- Qua nhau thai (Trần Thanh Phong, 1996)
- Qua đường hô hấp: ở trong chuồng bò có nền xi măng cứng khi tiểu bò có thể làm bắn lên những hạt nước nhỏ, bò ở bên hít phải cũng mắc bệnh (Nguyễn Lương, 1997)
- Qua vết đốt của côn trùng hay do ve hoặc các loài chân đốt: theo (Nguyễn Văn Hanh, Tô Minh Châu và Lê Anh Phụng, 1996), nhận thấy ve không những truyền bệnh cho gia súc và thú rừng mà còn truyền bệnh cho thế hệ sau qua trứng Ruồi hút
canh trùng Leptospira sau 24 giờ trên thân, trong bụng ruồi còn phát hiện có
Leptospira
- Trong tự nhiên, xoắn trùng có thể qua da, niêm mạc nguyên lành Chỉ cần bôi
canh trùng Leptospira vào đùi chuột thì sau 20 phút đã tìm thấy xoắn trùng trong máu
Trong thí nghiệm cho chuột bơi trong nước nhiễm khuẩn, tiêm dưới da, phúc mạc, bắp thịt hay cho uống đều gây được bệnh (Trần Thanh Phong, 1996)
2.3.5 Phương thức truyền lây
Truyền lây trực tiếp
Trong quá trình chăn nuôi do nhốt chung giữa thú bệnh và thú khỏe (nước tiểu, chất thái có chứa mầm bệnh, qua nhau, qua sữa, qua giao phối trực tiếp (Trần Thanh Phong, 1996)
Thú có thể bị nhiễm bệnh khi bị chuột cắn vì trong nước bọt chuột có nhiều mầm bệnh Ido, Hoki, Ito và Waki (1916) đã truyền bệnh cho chuột lang bằng cách cho chuột xám cắn Brow và Chereland (1932), cho rằng người có thể mắc bệnh sau khi tiếp xúc với chuột vì trên lông chuột có thể có mầm bệnh (do dính nước tiểu) (trích dẫn bởi Nguyễn Lương, 1997)
Truyền lây gián tiếp
Người và động vật có thể nhiễm bệnh khi tiếp xúc với các chất thải của súc vật
bị nhiễm bệnh bài thải ra, trong đó nước tiểu và nguồn lây nhiễm mạnh
Khi người và gia súc lội nước, tắm, ngâm mình, làm việc ở những nguồn nước
bị nhiễm Leptospira thì có thể bị nhiễm bệnh Ở người có thể mắc bệnh do ăn thịt thú
Trang 23sống hoặc tái có mầm bệnh, sờ phải súc vật bệnh Ở người bệnh thường không liên quan đến tuổi tác, giới tính mà liên quan chủ yếu đến nghề nghiệp: công nhân chăn nuôi, công nhân lò mổ, công nhân cầu đường, thợ vét cống, nhân viên kiểm dịch thú y (Nguyễn Lương, 1997)
Sự lây lan của bệnh chịu ảnh hưởng của thời tiết trong năm: mùa mưa thì tỷ lệ nhiễm cao hơn mùa khô (Bùi Văn Quyền, 1995)
- Sự truyền lây có thể biểu diễn qua sơ đồ sau:
THÚ HOANG LOÀI GẬM NHẤM (nước tiểu)
NƯỚC NHIỄM ĐẤT BÙN LẦY
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ vòng truyền lây Leptospira
(Theo Trần Thanh Phong, 1996)
2.3.6 Cách sinh bệnh
Chia làm hai giai đoạn
Giai đoạn đầu (Leptospira huyết): Leptospira sau khi xâm nhập vào c
đi vào máu, dịch não tủy rồi tăng sinh gây sốt Xoắn trùng tiết ra enzyme hemolysin phá hủy hồng cầu làm giải phóng nhiều hemoglobin và được bài xuất qua nước tiểu nên nước tiểu có màu sẫm Ở giai đoạn này hồng cầu bị phá hủy nhiều làm cho gia súc thiếu máu gây vàng da và niêm mạc (có thể gây chết ở thú non)
- Giai đoạn định vị (Leptospira niệu): sau khoảng 1-2 tuần nhiễm bệnh do tạo ra kháng thể Leptospira sẽ đến khu trú ở các cơ quan nội tạng như: gan, tử cung, đặc biệt
là thận, ống dẫn tiểu Ở giai đoạn này dấu hiệu sốt không rõ, bệnh ít gây chết nhưng đã
Trang 24chuyển sang dạng mang trùng nên rất nguy hiểm do xoắn trùng bài thải ra ngoài qua nước tiểu (Trần Hoàng Đức, 2004)
Khi xoắn trùng định vị ở các cơ quan nội tạng, gây ảnh hưởng làm tổn thương các mạch máu, đặc biệt là mạch máu nhau thai nên gây sẩy thai Ở gan, các mạch máu nhỏ cũng nhanh chóng bị bịt kín, thu hẹp bởi các đám thâm nhiễm tế bào Sự nhiễm độc tố kéo theo sự thủng lỗ ở các mạch máu làm chảy máu nên tế bào gan bị phá vỡ và thoái hóa Do đó bilirubin bị giữ lại trong tế bào gan và máu gây hoàng đản nhất là ở những thú non sức đề kháng yếu Khi xoắn trùng định cư ở thận, thường có ở trong tiểu quản thận, các ống dẫn, gây viêm và hoại tử nên có thể dẫn đến urea huyết, albumine niệu (Bùi Văn Quyền, 1995)
2.4.2 Thể cấp tính
ưThể này th ờng gặp ở bê, con vật sốt cao 40 – 410C, ít ăn hoặc bỏ ăn, nhu động
dạ cỏ giảm Một số trường hợp sau giai đoạn táo bón con vật bị tiêu chảy Da và niêm mạc vàng sẫm, nước tiểu vàng hoặc nâu Mí mắt, môi, mắt có biểu hiện phù thủng và hoại tử da Con vật bệnh gầy nhanh, lông dựng đứng, thiếu máu nặng (lượng hồng cầu chỉ còn 2 -3 triệu/mm3) Bệnh kéo dài 5 -10 ngày, tỷ lệ chết 50 – 70 %
Những con vật mang thai dễ sẩy thai trong giai đoạn đầu hoặc muộn hơn, nhau thai tuộc theo thai sẩy
2.4.3 Thể mãn tính
Thể này thú ít có triệu chứng hoặc chỉ có sẩy thai, con đẻ ra yếu ớt hoặc đẻ non hoặc không thụ thai Hai nơi mà vi khuẩn thường khu trú là thận và cơ quan sinh dục
Trang 25(kể cả thú đực lẫn thú cái) Thú bệnh có thể thành con mang trùng suốt đời (Lê Anh Phụng, 2002)
2.5 BỆNH TÍCH
Theo Nguyễn Vĩnh Phước (1978), tùy diễn biến của bệnh và biểu hiện lâm sàng
mà bệnh tích của Leptospirosis ở gia súc có khác nhau Nói chung, biểu hiện hoàng đản là
phổ biến hơn cả, bệnh tích điển hình là da, niêm mạc vàng ở các mức độ khác nhau
Nếu bệnh nặng, toàn thân con vật có màu vàng, khi mổ khám thịt thú bệnh có mùi khét Da, niêm mạc, tổ chức liên kết dưới da có màu vàng xám xen lẫn những vết tụ huyết Nước trong xoang bụng, xoang ngực có màu vàng Gan, thận lách sưng nhẹ có màu vàng xám xen lẫn những đám tụ huyết Túi mật phần lớn teo, dịch mật sánh lại như kẹo mạch nha, cũng có trường hợp túi mật căng Lách sưng, thận nhạt màu, có màu vàng lẫn xám, có thể có màu vàng lẫn xám, có thể có những điểm hoại tử Hạch lâm ba ruột sưng, thủy thủng Bọng đái căng, chứa đầy nước màu vàng hay màu xẫm, có thể có lẫn máu
Theo Chu Thị Mỹ (1995), những nơi nào có mật độ chăn nuôi cao thì tỷ lệ
nhiễm Leptospira cao, địa phương nào có lịch sử chăn nuôi càng lâu thì tỷ lệ nhiễm
càng cao
2.6.1.2 Chẩn đoán phân biệt
Với biểu hiện hoàng đản cần phân biệt với những nguyên nhân sau:
- Hoàng đản do ngộ độc hóa chất (Ar, Cu…) hoặc aflatoxin của nấm mốc
- Hoàng đản do nhiễm vi trùng E.coli gây dung huyết
- Hoàng đản do ký sinh trùng đường máu: Tiên mao trùng, lê dạng trùng
- Hoàng đản do dinh dưỡng: ăn nhiều thức ăn có sắc tố vàng (có nhiều caroten)
Trang 26Các triệu chứng chỉ cho phép nghi ngờ có bệnh, muốn biết chính xác phải tiến hành chẩn đoán ở phòng thí nghiệm
2.6.2 Chẩn đoán ở phòng thí nghiệm
2.6.2.1 Chẩn đoán vi trùng học
Nuôi cấy phân lập
Theo Trần Thanh Phong (1996), việc nuôi cấy, phân lập Leptospira chủ yếu
được tiến hành từ bệnh phẩm, tùy theo thời kỳ cảm nhiễm mà bệnh phẩm được chọn thay đổi khác nhau nhưng bệnh phẩm phải càng tươi càng tốt
- Trong tuần lễ đầu của bệnh, Leptopira có thể tìm thấy trong máu, trong dịch
não tủy
- Từ ngày thứ 12 trở đi Leptospira có thể tìm thấy trong thận, nước tiểu
- Ở các ca sẩy thai, Leptospira có trong nhau thai hoặc thai
Việc phân lập xoắn trùng từ thú mang trùng ở thận sẽ rất hữu ích cho công tác điều tra dịch tễ học nhằm xác định serovar gây bệnh cho từng loại gia súc Tuy nhiên việc nuôi cấy phân lập ít được thực hiện do tốn nhiều thời gian
Phát hiện Leptospira dưới kính hiển vi nền đen
- Để phát hiện Leptospira trong nước tiểu, ta có thể lấy nước tiểu nghi nhiễm
bệnh, tiến hành ly tâm với tốc độ 3000 – 4000 vòng/phút trong 15 – 20 phút Sau đó lấy cặn xem dưới kính hiển vi nền đen
- Các bệnh phẩm như: Gan, thận được nghiền nát pha với muối sinh lý sau đó đem ly tâm hút lấy nước trong ở trên và xem dưới kính hiển vi nền đen (Trần Hoàng Đức, 2004)
- Không nên lấy máu ly tâm để xem vì trong máu có rất ít Leptospira
Gây bệnh cho động vật thí nghiệm
Động vật thí nghiệm được dùng là thỏ con, chuột con hoặc chó con… chưa cai sữa càng tốt Lấy 1 – 2 ml huyễn dịch bệnh phẩm (phủ tạng, nước tiểu…) tiêm vào tĩnh mạch hay phúc mạc và theo dõi thân nhiệt mỗi ngày (sáng và chiều) Khi thấy thú sốt lấy máu, dịch phúc mạc xem tươi, giết thú lấy phủ tạng để nuôi cấy Nếu thú không sốt thì sau 10 -20 ngày lấy máu kiểm tra kháng thể và mổ khám sau 30 ngày (Bùi Văn Quyền, 1995)
Trang 272.6.2.2 Chẩn đoán huyết thanh học
Để chẩn đoán huyết thanh lọc bệnh do Leptospira gây nên trên đối tượng nghi
mắc bệnh, cần phải có đầy đủ kháng nguyên của các serovar đã biết có hiện diện ở mỗi quốc gia
Phương pháp thường được áp dụng:
Phản ứng vi ngưng kết MAT (Microscopic Agglutination Test)
Phản ứng do Martin và Pettit đề xuất vào năm 1918 Đây là phản ứng nhanh,
nhạy và có độ chính xác cao, rất thuận tiện cho chẩn đoán bệnh do Leptospira
Phản ứng dựa trên nguyên tắc kháng thể đặc hiệu xuất hiện trong máu của con
vật bị nhiễm Leptospira sẽ ngưng kết với Leptospira (kháng nguyên) Sự ngưng kết
này sẽ được nhìn thấy qua kính hiển vi nền đen
Phản ứng được tiến hành với bộ kháng nguyên có thể gồm những xoắc trùng sống (live antigen) hoặc đã bị giết chết (Killed antigen) Nếu làm phản ứng MAT với kháng nguyên sống sẽ có thuận lợi là phản ứng nhạy hơn và ít có phản ứng chéo hơn Tuy nhiên có bất lợi là dễ bị tạp nhiễm và cần phải luôn duy trì bộ kháng nguyên sống
nên chỉ có thể thực hiện được ở những phòng thí nghiệm chuẩn mực về Leptospira
Đối với kháng nguyên chết thì có lợi điểm là dễ bảo quản, ít bị tạp nhiễm, nhưng nó kém nhạy hơn và dễ dàng có phản ứng chéo, hiệu quả có thể bị giảm (Trần Hoàng Đức, 2004)
Phản ứng MAT rất nhạy đối với các trường hợp đã bị mắc bệnh trên một tuần
lễ và chẩn đoán có giá trị chắc chắn khi lấy huyết thanh lần 2 cách nhau 2 – 3 tuần (nhằm tránh trường hợp mới nhiễm sẽ cho kết quả âm tính hoặc dương tính với hiệu
giá rất thấp) Sự tăng hiệu giá kháng thể cho phép xác định bệnh do Letospira đang
tiến triển còn sự giảm hiệu giá cho thấy là bệnh có khuynh hướng dừng tắt (Trần Thị Bích Liên, 1999; Phạm Sỹ Lăng và Lê Văn Tạo, 2002)
Đối với thú có mức hiệu giá kháng thể ≥ 1/100 chỉ ra rằng con thú đang nhiễm
hoặc đã nhiễm Leptospira, nhưng phải xem con vật có tiêm phòng chưa Trên cả đàn,
MAT cung cấp thông tin về dịch tễ học của bệnh trên đàn đó Sự có mặt của nhiều con
Trang 28d ng tính cho phép kết luận là có nhiễm Leptospira mặc dù trong đàn không có dấu
hiệu bệnh lý
Hạn chế của phản ứng MAT (Trần Thanh Phong, 1996)
- Sai lầm do lấy máu quá sớm (trong vòng 10 – 12 ngày sau khi nhiễm), có thể cho kết quả âm tính
Do tính u việt của phản ứng MAT cho nên hiện nay trong công tác chẩn đoán
Leptospira người ta sử dụng phương pháp này là phổ biến Ngoài ra, người ta còn sử
dụng một số kỹ thuật khác để chẩn đoán Leptospira như: ELISA, PCR…nhưng do sự
phức tạp trong việc trang bị dụng cụ, mặt khác thiết bị rất đắt tiền cho nên các kỹ thuật này chỉ sử dụng trong các phòng thí nghiệm chuyên dùng
- Kiểm tra nguồn bệnh
+ Định kỳ kiểm tra huyết thanh học để loại thải những con dương tính
+ Thú mới mua về phải cách ly triệt để (30 ngày) và tiến hành kiểm tra huyết thanh học, nếu âm tính mới cho nhập đàn
- Biện pháp đối với yếu tố trung gian truyền lây
+ Diệt động vật hoang dã (chuột), không để chó, mèo, gà vào chuồng nuôi + Vệ sinh, tiêu độc sát trùng chuồng trại khai thông cống rãnh, giữ chuồng trại thoáng mát
- Biện pháp đối với thú cảm thụ
Thường xuyên tắm rửa thú sạch sẽ, khẩu phần cung cấp đủ dưỡng chất
Trang 292.7.1.2 Thực hiện việc tiêm phòng bằng vaccine
ước tiên tiến nhưNhiều n Anh, Pháp, Hoa Kỳ chú trọng đến biện pháp vệ sinh phòng bệnh mà không đặt vấn đề về vaccine (Trần Thanh Phong, 1996)
Muốn phòng bệnh chủ động cho trâu bò, có thể tiêm phòng thường xuyên cho toàn đàn bằng vaccine chứa các serovar thường gây bệnh cho trâu bò ở vùng đó Gia súc cái được tiêm phòng trước khi đẻ bằng vaccine chết có bổ trợ, vaccine được tiêm 2
liều, (cách nhau 6 tuần) những mùa sau chỉ tiêm 1 lần/năm
Hiện nay trên thị trường nước ta có nhiều loại vaccine phòng bệnh do Letospira gây ra cho trâu bò do các hãng nước ngoài sản xuất như: Leptoferm -5, có 5 serovar là:
canicola, grippotyphosa, icterohaemorrhagiae, hardjo và pomona do hãng Pfizer sản xuất (Đinh Văn Hân, 2005)
2.7.2 Điều trị
Phương pháp điều trị bệnh Leptospira tốt nhất là dùng kháng huyết thanh kết
hợp với kháng sinh Kháng huyết thanh phải dùng tương ứng đúng với serovar gây
bệnh mới có hiệu quả cao, tiêm d ới da cho bò nhiễm Leptospira lư ượng kháng huyết thanh 50 – 150ml/con và tiêm 1 – 2 lần (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)
Theo Trần Hoàng Đức (2004), sử dụng thuốc Oxytetracylin 10% tiêm bắp 1ml/20 kg trọng lượng cơ thể liệu trình sử dụng 4 ngày liên tiếp để điều trị cho bò
nhiễm Leptospira có tác dụng rất tốt.
Ngoài ra còn có thể bổ sung thêm B-complex, Vitamine C 5 %, ADE
Trang 30Chương 3
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
3.1.1 Thời gian: Tháng 09/2008 đến tháng 02/2009
3.1.2 Địa điểm
- Địa điểm lấy mẫu: Các hộ nuôi bò sữa ở quận 9 và quận 12 thuộc TP.HCM
- Địa điểm xét nghiệm: Trạm chẩn đoán xét nghiệm – điều trị, Chi Cục Thú Y thành phố Hồ Chí Minh
3.2 NỘI DUNG ĐỀ TÀI
- Khảo sát tỷ lệ nhiễm Leptospira trên bò sữa ở Quận 9 (gồm các phường:
Trường Thạnh, Long Bình, Long Thạnh Mỹ, Phú Hữu) và Quận 12 (gồm các phường: Đông Hưng Thuận, Hiệp Thành, Thới An, Tân Chánh Hiệp)
- Khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố như: khu vực, lứa đẻ, tỷ lệ nhóm máu lai, qui mô hộ chăn nuôi
- Số lượng serovar nhiễm trên bò sữa
- Số lượng serovar nhiễm trên một cá thể
- Hiệu giá kháng thể trên các mẫu dương tính
3.3 VẬT LIỆU
3.3.1 Mẫu khảo sát
- Huyết thanh bò sữa (156 mẫu) tại các hộ chăn nuôi ở quận 9 và quận 12
3.3.2 Bộ kháng nguyên chuẩn: Do viện Pasteur sản xuất gồm 23 serovar
3.3.3 Thiết bị, dụng cụ và hóa chất
- Tủ sấy, tủ ấm, tủ lạnh, kính hiển vi tụ quang nền đen, máy li tâm, máy lắc,…
- Kim 18G, ống tiêm nhựa 5cc, dây để cố định bò, bình xốp đựng đá khô, micropipet, ống nghiệm, vỉ 96 lỗ giếng, eppendorf, giá đỡ ống nghiệm,…
- Trang bị bảo hộ: găng tay, kính đeo mắt, khẩu trang,…
- Cồn sát trùng (70%), dung dịch đệm PBS
Trang 31Bảng 3.1: Danh sách các serovars trong bộ kháng nguyên gồm 23 serovar của viện
Pasteur- thành phố Hồ Chí Minh
07 ICTEROMORRHAGIAE tonkini LT 96 68
08 ICTEROMORRHAGIAE icteromorrhagiae Verdun
10 GRYPPOTYPHOSA gryppotyphosa Moskva V