1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HIỆU QUẢ CỦA VIỆC BỔ SUNG CHẾ PHẨM CHỨA BACITRACIN VÀO THỨC ĂN HEO NÁI ĐỂ PHÒNG BỆNH TIÊU CHẢY LIÊN QUAN Clostridium perfringens TRÊN HEO CON THEO MẸ

65 326 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 883,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

perfringens còn được gọi là vi khuẩn gây viêm ruột hoại tử với các đặc điểm gây bệnh như: làm rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy lẫn các chất nhầy kèm theo niêm mạc ruột hoại tử, phân thối kh

Trang 1

i

HIỆU QUẢ CỦA VIỆC BỔ SUNG CHẾ PHẨM CHỨA BACITRACIN VÀO THỨC ĂN HEO NÁI ĐỂ PHÒNG BỆNH TIÊU CHẢY

LIÊN QUAN Clostridium perfringens

TRÊN HEO CON THEO MẸ

Tác giả

NGUYỄN THỤY HOÀNG YẾN

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu

cấp bằng Bác sỹ Thú y chuyên ngành Dược

Giáo viên hướng dẫn:

PGS TS Lâm Thị Thu Hương BSTY Lê Nguyễn Phương Khanh

Tháng 9 năm 2009

Trang 2

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

 

Họ tên sinh viên thực tập: Nguyễn Thụy Hoàng Yến

Tên luận văn: “Hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm chứa bacitracin vào

thức ăn heo nái để phòng bệnh tiêu chảy liên quan Clostridium perfringens trên

heo con theo mẹ”

Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý

kiến nhận xét, đóng góp của Hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa ngày Giáo viên hướng dẫn

PGS TS Lâm Thị Thu Hương

 

ii

Trang 3

Xin kính dâng lòng biết ơn chân thành đến:

• Gia đình, ba mẹ _ những người đã vất vã và hy sinh thật nhiều để con có được điều kiện thuận lợi, yên tâm học tập

• Thầy cô Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, các thầy cô khoa Chăn nuôi – Thú y đã truyền đạt cho em những kiến thức bổ ích

• PGS TS Lâm Thị Thu Hương, BSTY Lê Nguyễn Phương Khanh đã dành nhiều thời gian và tâm huyết giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

• ThS Nguyễn Thị Thu Năm cùng các anh chị làm việc tại phòng vi sinh đã nhiệt tình chỉ dẫn

• Ban giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Khoa học Công nghệ Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, Ban lãnh đạo Trại chăn nuôi heo cùng cô Nguyễn Thị Mên đã tạo điều kiện thuận lợi để em tiến hành khóa luận

• Các bạn lớp DH04DY, các anh chị, các bạn trong và ngoài khoa đã cùng tôi chia sẽ mọi buồn vui trong thời gian học tập

Tp Hồ Chí Minh, ngày 14 tháng 8 năm 2009 Nguyễn Thụy Hoàng Yến

Trang 4

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Đề tài “Hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm chứa bacitracin vào thức ăn

heo nái để phòng bệnh tiêu chảy liên quan Clostridium perfringens trên heo con

theo mẹ” thực hiện từ ngày 01/03/2009 đến ngày 30/06/2009 Chúng tôi đã theo dõi

tình hình tiêu chảy trên 88 heo con ở lô thí nghiệm và 76 heo con ở lô đối chứng, đồng

thời tiến hành phân lập và đếm số khuẩn lạc vi khuẩn C perfringens trên các mẫu

phân heo con tiêu chảy Chúng tôi đã ghi nhận được các kết quả sau:

• Tỷ lệ heo con tiêu chảy theo ngày tuổi heo con ở lô thí nghiệm và lô đối chứng lần lượt là:

- Từ 1 đến 10 ngày tuổi là 5,68 % và 14,47 %,

- Từ 11 đến 20 ngày tuổi là 13,79 % và 1,64 %,

- Từ 21 đến 28 ngày tuổi là 12,79 % và 11,48 %

Có sự khác biệt giữa hai lô trong giai đoạn 11 đến 20 ngày tuổi (P < 0,05)

• Tỷ lệ ngày con tiêu chảy theo ngày tuổi heo con ở lô thí nghiệm và lô đối chứng lần lượt là:

- Từ 1 đến 10 ngày tuổi là 0,8 % và 2,74 %,

- Từ 11 đến 20 ngày tuổi là 1,97 % và 0,16 %,

- Từ 21 đến 28 ngày tuổi là 1,74 % và 1,84 %

Trong 2 giai đoạn đầu, khác biệt giữa hai lô là rất có ý nghĩa (P < 0,01)

• Thời gian điều trị bình quân của lô thí nghiệm (1,41 ± 0,62 ngày) thấp hơn lô đối chứng (1,82 ± 0,60 ngày) nhưng không có khác biệt về mặt thống kê (P > 0,05). 

• Tỷ lệ chữa khỏi của lô thí nghiệm (94,12 %) rất cao so với lô đối chứng (45,45%) Khác biệt này rất có ý nghĩa thống kê (P < 0,01)

• Trọng lượng sơ sinh ở lô thí nghiệm là 1,44 ± 0,30 kg/con cao hơn lô đối chứng

là 1,39 ± 0,43 kg/con Trọng lượng cai sữa của lô thí nghiệm là 7,11 ± 1,33 kg/con thấp hơn lô đối chứng với 7,72 ± 1,64 kg/con Có sự khác biệt thống kê

về trọng lượng heo cai sữa giữa hai lô (P < 0,05)

Trang 5

v

• Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn C perfringens ở lô thí nghiệm (75 %) thấp hơn lô đối

chứng (85,71 %) nhưng không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05)

• Số lượng vi khuẩn C perfringens có trong 1 g phân của lô thí nghiệm (0,32 ±

0,008 x 105 CFU/g) thấp hơn lô đối chứng (2,95 ± 0,006 x 105 CFU/g) Không

có khác biệt thống kê về số lượng vi khuẩn có trong 1 g phân ở hai lô (P > 0,05)

Trang 6

 

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa i

Lời cảm tạ iii

Tóm tắt luận văn iv

Mục lục vi

Danh sách các chữ viết tắt viii

Danh sách các bảng ix

Danh sách các sơ đồ, biểu đồ và hình x

Chương 1 MỞ ĐẦU 1 U 1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích – yêu cầu 2

1.2.1.Mục đích 2

1.2.2.Yêu cầu 2

Chương 2 TỔNG QUAN 3

2.1 Đặc điểm sinh lý heo con 3

2.1.1.Đặc điểm bộ máy tiêu hóa heo con 3

2.1.2.Hệ vi sinh vật đường tiêu hóa của heo con 3

2.2 Bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ 4

2.2.1.Đặc điểm của bệnh 4

2.2.2.Cơ chế sinh bệnh 4

2.2.3.Nguyên nhân 7

2.3 Một số bệnh tiêu chảy thường gặp trên heo con theo mẹ 10

2.4 Bệnh tiêu chảy do C perfringens 12

2.4.1.Các đặc điểm về vi sinh của vi khuẩn C perfringens 12

2.4.2.Đặc điểm gây bệnh của vi khuẩn C perfringens 16

2.4.3 Chẩn đoán 18

2.4.4 Phòng và trị bệnh 19

Trang 7

2.5 Giới thiệu sơ lược về Bacillus subtilis và kháng sinh bacitracin 21

2.6 Tóm lược một số công trình nghiên cứu 22

2.7 Khái quát trại chăn nuôi heo 23

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 30

3.1 Thời gian – Địa điểm 30

3.1.1.Thời gian 30

3.1.2.Địa điểm 30

3.2 Đối tượng khảo sát 30

3.3 Vật liệu và dụng cụ 30

3.4 Nội dung 30

3.5 Phương pháp tiến hành 31

3.6 Xử lý số liệu 33

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Đánh giá hiệu quả phòng bệnh tiêu chảy của kháng sinh bacitracin 34

4.1.1.Tỷ lệ heo con tiêu chảy theo ngày tuổi heo con 34

4.1.2.Tỷ lệ ngày con tiêu chảy theo ngày tuổi heo con 36

4.1.3 Số ngày điều trị bình quân 38

4.1.4 Tỷ lệ heo con khỏi bệnh tiêu chảy 39

4.1.5 Trọng lượng bình quân của heo sơ sinh và heo cai sữa 40

4.2 Đánh giá tác động của kháng sinh bacitracin đối với vi khuẩn C perfringens 42

4.2.1 Tỷ lệ mẫu phân heo con tiêu chảy nhiễm vi khuẩn C perfringens 42

4.2.2.Số lượng vi khuẩn C perfringens có trong 1 g phân heo con tiêu chảy 43

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 45

5.1 Kết luận 45

5.2 Đề nghị 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

PHỤ LỤC 50

Trang 8

TGE: Transmissible Gastritis Enteritis

FAT: Fluorescent antibody test

TSC: Tryptose Sulfite Cycloserine agar

Trang 9

DANH SÁCH CÁC BẢNG

 

Trang

Bảng 2.1: Tóm tắt một số bệnh tiêu chảy thường gặp trên heo con theo mẹ 11

Bảng 2.2: Những độc tố chính và mối quan hệ với bệnh lý gây ra bởi vi khuẩn

C perfringens 15

Bảng 2.3: Thành phần dinh dưỡng của thức ăn 26

Bảng 2.4: Quy trình tiêm phòng của trại 27

Bảng 2.5: Các loại thuốc được sử dụng điều trị bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ của trại .29

Bảng 4.1: Tỷ lệ heo con tiêu chảy theo ngày tuổi 34

Bảng 4.2: Tỷ lệ ngày con tiêu chảy theo ngày tuổi 36

Bảng 4.3: Số ngày điều trị bình quân 38

Bảng 4.4: Tỷ lệ heo khỏi bệnh 39

Bảng 4.5: Trọng lượng bình quân của heo sơ sinh và heo cai sữa 40

Bảng 4.6: Tỷ lệ mẫu phân nhiễm vi khuẩn C perfringens 42

Bảng 4.7: Số lượng vi khuẩn C perfringens có trong 1 g phân heo con tiêu chảy 423

Trang 10

x

DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH

 

Trang

Sơ đồ 2.1: Cơ chế gây bệnh không do vi sinh vật 5

Sơ đồ 2.2: Cơ chế gây bệnh tiêu chảy do vi sinh vật có hại 6

Sơ đồ 3.1: Phương pháp phân lập, định danh, đếm số khuẩn lạc vi khuẩn

C perfringens (Tô Minh Châu, 2001) 32

Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ heo con tiêu chảy theo ngày tuổi 34

Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ ngày con tiêu chảy theo ngày tuổi 36

Biểu đồ 4.3: Số ngày điều trị bình quân 38

Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ heo khỏi bệnh 39

Biểu đồ 4.5: Trọng lượng bình quân của heo sơ sinh và heo cai sữa 40

Biểu đồ 4.6: Tỷ lệ mẫu phân nhiễm vi khuẩn C perfringens 42

Hình 2.1: Vi khuẩn C perfringens 13

Hình 2.2: Ruột heo xuất huyết, sưng to và sinh khí 18

Hình 2.3: Chuồng heo nái đẻ 24

Hình 4.1: Chuồng heo thí nghiệm .35

Hình 4.2: Heo con 12 ngày tuổi tiêu chảy 39

Hình 4.3: Vi khuẩn C perfringens mọc trên môi trường TSC 42

Hình 4.4: a) Vi khuẩn C perfringens hình trực 43

b) C perfringens sinh bào tử hình dùi trống .43

Hình 4.5: Đặc điểm sinh hóa của vi khuẩn C perfringens 44

 

Trang 11

1

Chương 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong giai đoạn hội nhập hiện nay, các hoạt động kinh doanh sản xuất của đất nước ta ngày một sôi nổi Hòa cùng xu thế đó, nền nông nghiệp nói chung và ngành chăn nuôi heo nói riêng cũng có nhiều biến chuyển tích cực và góp phần đáng kể vào

sự phát triển của nền kinh tế nước nhà

Các mô hình chăn nuôi heo với quy mô công nghiệp và bán công nghiệp đang

nở rộ trên khắp các vùng miền Tuy nhiên, đàn heo được nuôi với qui mô lớn, mật độ tập trung cao như hiện nay lại là điều kiện thuận lợi cho nhiều mầm bệnh tồn tại, phát triển và lây lan mạnh mẽ hơn; trong đó phải kể đến hội chứng tiêu chảy ở heo con theo

mẹ Tiêu chảy làm heo con suy kiệt, tỷ lệ chết cao, gây thiệt hại về mặt kinh tế Một trong những mầm bệnh gây tiêu chảy làm chết nhiều heo con giai đoạn đầu sau khi

sinh là vi khuẩn Clostridium perfringens (C perfringens)

C perfringens còn được gọi là vi khuẩn gây viêm ruột hoại tử với các đặc điểm

gây bệnh như: làm rối loạn tiêu hóa, tiêu chảy lẫn các chất nhầy kèm theo niêm mạc ruột hoại tử, phân thối khắm,…

Bệnh tiêu chảy do C perfringens thường gây ra ở thể cấp tính và khó điều trị

cho nên việc phòng bệnh có ý nghĩa hơn trị bệnh Có nhiều biện pháp giúp phòng bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ như đảm bảo vệ sinh, bổ sung probiotic, tiêm vaccin… Biện pháp bổ sung kháng sinh bacitracin vào thức ăn heo mẹ để hạn chế số lượng

C perfringens ảnh hưởng đến đàn heo con hiện đang được nhiều người chăn nuôi áp

dụng Loại kháng sinh này được tạo ra từ vi khuẩn Bacillus licheniformis (thuộc nhóm

Bacillus subtilis) – là vi khuẩn có lợi đã được dùng rộng rãi trong những chế phẩm

probiotic và hỗ trợ điều trị những bệnh về đường ruột Thuốc có tác dụng tốt với vi

khuẩn Gram dương như C perfringens

Trang 12

2

Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của Bộ môn Bệnh Lý – Ký Sinh, Khoa Chăn Nuôi – Thú Y, Trường Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh; với sự hướng dẫn của PGS TS Lâm Thị Thu Hương, BSTY Lê Nguyễn Phương Khanh, và

sự giúp đỡ của Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Khoa học Công nghệ Trường

Đại Học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh, chúng tôi tiến hành đề tài: “Hiệu quả của việc

bổ sung chế phẩm chứa bacitracin vào thức ăn heo nái để phòng bệnh tiêu chảy

liên quan Clostridium perfringens trên heo con theo mẹ”

1.2 Mục đích – yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Đánh giá hiệu quả phòng bệnh tiêu chảy liên quan C perfringens trên heo con theo

mẹ khi bổ sung chế phẩm chứa bacitracin vào thức ăn heo nái để rút ra những kinh nghiệm thực tiễn khi sử dụng loại kháng sinh này

1.2.2 Yêu cầu

• Chọn heo nái để bố trí lô thí nghiệm bổ sung bacitracin và lô đối chứng không

bổ sung bacitracin

• Theo dõi tình hình tiêu chảy trên heo con theo mẹ

• Phân lập, định danh, đếm số khuẩn lạc vi khuẩn C perfringens trong phân heo

con bị tiêu chảy

Trang 13

3

Chương 2

TỔNG QUAN 2.1 Đặc điểm sinh lý heo con

2.1.1 Đặc điểm bộ máy tiêu hóa heo con

Khi còn trong bụng mẹ, heo con phát triển nhờ nguồn dinh dưỡng có chọn lọc được heo mẹ cung cấp qua tĩnh mạch rốn Cho nên bộ máy tiêu hóa của heo con khi sinh ra chưa hoàn chỉnh cả về chức năng lẫn cấu tạo Ở thành ruột lớp màng nhầy chiếm tỉ lệ khá cao, các sợi đàn hồi ở màng nhầy còn thiếu

Theo dẫn liệu của Lê Văn Thọ (1992), dạ dày của heo con sơ sinh tiết HCl rất

ít, chỉ đủ để hoạt hóa men pepsinogen thành men pepsin Lượng acid tự do còn rất ít không đủ làm tăng độ toan của dạ dày, tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn bất lợi sống trong dạ dày cũng như ruột non, khi vi khuẩn phát triển mạnh sẽ gây tiêu chảy

Sự phân tiết các enzyme tiêu hóa cũng khác nhau ở các ngày tuổi của heo Ở heo con sơ sinh, tụy tạng tiết nhiều lactose, lipase để tiêu hóa protein, glucose, lactose

có trong sữa mẹ hoặc sữa đậu nành Đến khi heo con được 2 – 3 tuần tuổi thì các enzyme pepsin, amylase, saccharase, trypsin, maltase mới được phân tiết mạnh giúp heo con tiêu hóa mạnh các loại thức ăn khác

Như vậy trong nuôi dưỡng heo con, nếu sử dụng thức ăn không phù hợp với sự phân tiết của enzyme tiêu hóa thì thức ăn không tiêu hóa hết sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn có hại phát triển gây ra tiêu chảy

2.1.2 Hệ vi sinh vật đường tiêu hóa của heo con

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1995), sự cân bằng của quần thể vi sinh vật trong đường tiêu hóa có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của vật chủ Khi cơ thể gặp những tác động bất lợi như sai sót về chế độ dinh dưỡng, sử dụng các loại kháng sinh kéo dài, các tác nhân stress, làm cho sự cân bằng của hệ sinh thái nội tại bị phá vỡ, các vi khuẩn gây bệnh sẽ có điều kiện phát triển làm cho bệnh phát sinh Các loại vi khuẩn gây thối rữa phân giải chất dinh dưỡng ở ruột thành những chất độc CO2, H2S, NH3, phenol, indol,… dễ gây nhiễm độc máu

Trang 14

4

Các chủng C perfringens hay E coli sinh độc tố kết dính vào bề mặt biểu bì,

các độc tố được tiết ra vào xoang ruột làm tăng sự tiết dịch, khi các chất lỏng ở ruột non vượt quá khả năng hấp thụ của nó sẽ gây ra tiêu chảy

2.2 Bệnh tiêu chảy trên heo con theo mẹ

2.2.1 Đặc điểm của bệnh

Theo tài liệu của Võ Văn Ninh (2001), tiêu chảy là một hiện tượng rối loạn tiêu hóa, thay vì nhu động ruột diễn ra bình thường thì trở nên co thắt quá độ làm cho những chất chứa trong lòng ruột non, ruột già thải ra quá nhanh, dưỡng chất không kịp tiêu hóa và ruột già chưa kịp hấp thu được nước… Tất cả đều bị tống qua hậu môn với thể tích lỏng hoặc sệt Hậu quả nghiêm trọng là cơ thể bị mất nhiều nước, mất nhiều ion và ngộ độc các loại độc tố do vi khuẩn gây bệnh tiêu chảy sinh ra, con vật suy kiệt

và chết rất nhanh nhất là đối với thú sơ sinh, gầy ốm Biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý đặc thù ở đường tiêu hóa: thú đi phân lỏng hoặc sệt, màu trắng, xám hoặc vàng, đôi khi có máu, bọt khí và chất nhày

2.2.2 Cơ chế sinh bệnh

Theo Nguyễn Như Pho (1995), cơ chế sinh bệnh được trình bày như sau:

Trang 15

Sơ đồ 2.1: Cơ chế gây bệnh tiêu chảy không do vi sinh vật

(Nguyễn Như Pho, 1995)

Độc tố vi sinh vật tấn công niêm mạc ruột

Viêm ruột

Nhiễm độc

Chết

Tiêu chảy

Mất nước, chất điện giải

Thiếu dinh dưỡng

Trang 16

Sơ đồ 2.2: Cơ chế gây bệnh tiêu chảy do vi sinh vật có hại

(Nguyễn Như Pho, 1995)

6

Trang 17

2.2.3 Nguyên nhân

2.2.3.1 Do heo mẹ

Trong giai đoạn mang thai và nuôi con, chế độ dinh dưỡng và chăm sóc heo mẹ

có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe heo con

Theo Nguyễn Như Pho (1995), trong giai đoạn mang thai nếu heo mẹ thiếu protein, vitamin A, Cu, Fe, Zn, làm rối loạn quá trình trao đổi chất ở bào thai, heo con sinh ra yếu, sức đề kháng kém, dễ mắc bệnh đường tiêu hóa Cũng trong thời gian này nếu heo mẹ không được tiêm phòng đầy đủ các loại vaccin phòng bệnh như dịch

tả, TGE, E coli… heo con không có kháng thể mẹ truyền nên khi sinh ra rất nhạy cảm

với các loại mầm bệnh

Sau khi sinh, việc chăm sóc nuôi dưỡng heo mẹ không hợp lý làm heo mẹ dễ mắc hội chứng MMA (Metritis, Mastitis, Agalactia) Những heo mẹ bị mắc bệnh sẽ kém sữa hay mất sữa, heo con bú được ít hoặc không bú được sữa đầu nên giảm sức đề kháng, dễ phát sinh bệnh

Sữa heo có hàm lượng mỡ, đạm, đường, khoáng đều cao hơn sữa bò, nên khi bú sữa heo con hay khát nước, nếu chuồng trại thiếu nước, heo con sẽ uống nước tù đọng,

dơ bẩn,… nên dễ bị nhiễm bệnh đường tiêu hóa

Ngoài ra ở những đàn heo có nái tốt sữa, sữa mẹ nhiều và giàu chất dinh dưỡng, heo con bú nhiều nhưng không kịp tiêu hóa và có nhiều dưỡng chất khó tiêu bị đẩy xuống ruột già, là môi trường thuận lợi cho những vi sinh vật có hại nhân lên nhanh và gây bệnh tiêu chảy trên heo con (Võ Văn Ninh, 2001)

2.2.3.2 Do bản thân heo con

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1999), do heo con mới sinh hệ vi sinh vật đường ruột chưa phát triển, chưa đủ số lượng vi khuẩn có lợi nên dễ nhiễm bệnh, nhất là bệnh đường tiêu hóa

Sự tiết dịch tiêu hóa dạ dày, ruột không đủ số lượng và chất lượng; lượng HCl cần thiết cho sự tiêu hóa thức ăn ở dạ dày còn thiếu Sự phân tiết các enzyme ở dạ dày

và ruột non cũng rất kém; heo con dưới 7 ngày tuổi chỉ có khả năng tiêu hóa các loại thức ăn đơn giản như protein của sữa hoặc của sữa đậu nành, glucose, lactose; heo con

Trang 18

8

trên 3 tuần tuổi mới có thể tiêu hóa tốt các chất tinh bột vì lúc này trong ruột mới có đủ enzyme saccharase Vì vậy nếu sử dụng thức ăn không đúng sẽ dẫn đến tiêu chảy (Nguyễn Thiện và cs, 2002)

Theo Phạm Khắc Hiếu (1997), heo con chỉ sử dụng được các loại vitamin tan trong nước, còn các loại vitamin tan trong dầu thì phải sau 2 – 3 tuần tuổi mới sử dụng được Vì vậy heo con sơ sinh thường bị thiếu các loại vitamin A, D, E, K mà đặc biệt

là vitamin A Trong khi đó dạ dày thường xuyên có sự thay đổi tế bào biểu mô nên khi thiếu vitamin A biểu mô niêm mạc bị sừng hóa, làm giảm khả năng tiết dịch của các tuyến, giảm khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng dẫn đến tiêu chảy Ở heo con sơ sinh sự tái tạo tế bào nhung mao ruột còn chậm, heo con dễ cảm thụ với mầm bệnh và điều trị bệnh lâu khỏi hơn heo lớn

Heo con trong thời kỳ mọc răng dễ mắc bệnh tiêu chảy Hai thời điểm heo con sốt và tiêu chảy với tỷ lệ cao nhất là 10 – 17 ngày tuổi và 23 – 29 ngày tuổi, ứng với thời gian mọc răng sữa tiền hàm số 3 hàm dưới và răng sữa tiền hàm số 4 hàm trên, (Võ Văn Ninh, 2001)

Ngoài ra do đặc tính heo con hay liếm láp nước đọng, các chất rơi vãi trên nền chuồng hay thức ăn dư thừa của heo mẹ làm heo con dễ nhiễm vi sinh vật trên nền chuồng gây nên hiện tượng tiêu chảy

2.2.3.3 Do chăm sóc nuôi dưỡng

Do heo con không được bú sữa đầu đầy đủ nên sức đề kháng kém

Thông thường heo con khoảng 10 ngày tuổi mới bắt đầu sản xuất kháng thể Trước đó heo con hoàn toàn được bảo hộ bởi kháng thể mẹ truyền qua sữa đầu

Do heo con không được tiêm sắt đầy đủ dẫn đến thiếu máu Heo con nhận khoảng 1 mg sắt/con/ngày từ sữa mẹ trong khi nhu cầu là từ 7 – 10 mg sắt/con/ngày Thiếu sắt làm hư hại tiến trình hô hấp và làm giảm khả năng giết vật lạ của bạch cầu Thiếu sắt dẫn đến thiếu máu làm ngưng trệ quá trình thành lập hemoglobin hồng cầu, làm cho tiến trình vận chuyển oxy đến mô bào, bài thải khí cacbonic ra khỏi cơ thể bị hạn chế gây ngộ độc tế bào, sức đề kháng heo con bị suy yếu đi, hoạt động tiêu hóa kém dẫn đến chứng không tiêu thức ăn và loạn khuẩn đường ruột

Ngoài ra các kỹ thuật chăm sóc không tốt như cắt rốn và buộc rốn không cẩn thận dẫn đến chảy máu cuống rốn và nhiễm trùng cuống rốn; bấm răng không kỹ khi

Trang 19

9

bú heo con làm trầy vú gây viêm vú heo mẹ, heo con bú sữa bị viêm sẽ dễ bị tiêu chảy;

vệ sinh chuồng trại kém làm cho heo con dễ bị nhiễm các loại vi sinh vật có hại vào ruột…

2.2.3.4 Do điều kiện ngoại cảnh

Theo Phùng Ứng Lân (1986), do khả năng điều tiết nhiệt chưa hoàn chỉnh nên heo con rất nhạy cảm với sự thay đổi của thời tiết, nhiệt độ và ẩm độ quá cao hay quá thấp dễ dẫn đến tiêu chảy Tác giả Đào Trọng Đạt và cs (1999) cũng có nhận định: trong những yếu tố về tiểu khí hậu thì nhiệt độ và ẩm độ là quan trọng nhất

Theo Nguyễn Thị Hoa Lý (1996), thì nhiệt độ chuẩn cho heo con 1 tuần tuổi là

30 – 32 0C, từ 2 tuần tuổi trở đi là 29 – 30 0C Do đặc điểm của heo con có lớp mỡ dưới da mỏng, diện tích bề mặt lớn so với trọng lượng của cơ thể nên dễ bị mất nhiệt, khả năng chịu lạnh kém Từ đó, các tác nhân ngoại cảnh như thời tiết thay đổi đột ngột tác động vào cơ thể heo con gây rối loạn thần kinh dẫn đến rối loạn tiêu hóa

Ẩm độ thích hợp cho heo con là 70 – 75 % Ẩm độ cao tạo điều kiện cho các phản ứng phân hủy chất hữu cơ trên nền chuồng xảy ra nhanh, giải phóng các chất độc

NH3, H2S vào không khí, làm vật nuôi khó chịu, mất cảm giác ngon miệng và giảm khả năng tiêu hóa Ẩm độ cao cũng ngăn cản sự thoát hơi nước trên bề mặt da và thoát các khí độc Ẩm độ thấp làm tăng khả năng khuyếch tán bụi, tăng thoát hơi nước trên

bề mặt da, làm nứt nẻ niêm mạc, dễ bị nhiễm trùng

2.2.3.5 Do vi sinh vật

Theo Đào Trọng Đạt và cs (1995), bệnh đường tiêu hóa chiếm vị trí ưu tiên trong thời kỳ sơ sinh của tất cả các loại gia súc và quá trình bệnh lý này chủ yếu do sự mất cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột gây ra

Hệ vi sinh vật đường ruột rất phong phú và đa dạng, có thể chia ra làm hai loại:

Hệ vi sinh vật bắt buộc: là những vi sinh vật chịu được pH thấp, thích nghi với

môi trường dạ dày, ruột như: Streptococcus lactic, Streptococcus faecius, Lactobacilus

acidophylus, Lactobacilus bulgaricus, Bacillus subtilis, Saccharosemyces boulardii, Aspergilus niger,… Chúng phát triển tốt trên đường ruột và định cư vĩnh viễn tại đây

Trang 20

Hệ vi sinh vật tùy nghi: Đa số chúng là những vi sinh vật lên men thối, thích

nghi với pH môi trường từ trung tính đến kiềm như: Staphylococcus, Proteus,

Salmonella, Klebsiella, Clostridium, Shigella, E coli,…Chúng cư trú ở phần cuối ruột

non và tại ruột già

Mặc dù môi trường ruột có độ ẩm, chất dinh dưỡng thuận lợi để các vi sinh vật lên men thối phát triển nhưng sự sinh sản của chúng vẫn bị giới hạn bởi những yếu tố kiềm hãm như: độ acid của dạ dày, dịch mật, dịch tụy, sự cạnh tranh đối kháng của các

vi khuẩn khác Khi sức đề kháng của con vật bị giảm sút bởi stress, dinh dưỡng kém hay do môi trường thay đổi thì các vi sinh vật lên men thối sẽ chiếm ưu thế, trở thành nguyên nhân chính gây bệnh đường ruột

Hiện tượng tiêu chảy ở heo con là do hiện tượng loạn khuẩn Trong đường ruột các vi khuẩn luôn ở thế quân bình, bảo đảm sự tiêu hóa bình thường cho vật chủ Thế bình quân dựa vào hai cơ chế: tranh giành nhau chất chuyển hóa cân bằng cần cho sự phát triển và tiết ra chất steriocin có tính chất kháng sinh đối với vi khuẩn khác nhưng không có tác dụng đối với vi khuẩn tiết ra nó Một khi loạn khuẩn xảy ra, số lượng vi khuẩn có lợi giảm thấp còn vi khuẩn có hại tăng cao, gây ra bệnh tiêu chảy (Vũ Văn Ngữ và Nguyễn Hữu Nha, 1977 ; trích dẫn Nguyễn Như Pho, 1995)

2.3 Một số bệnh tiêu chảy thường gặp trên heo con theo mẹ

Theo Hunter (2001), các vi sinh vật và ký sinh trùng gây tiêu chảy ở heo con

theo mẹ thường là: E coli, Salmonella, C perfringens, Rotavirus, Coronavirus,

Isospora suis Dưới đây là bảng tóm lược một số đặc điểm của các nguyên nhân gây

tiêu chảy trên heo con

Trang 21

Bảng 2.1: Tóm tắt một số bệnh tiêu chảy thường gặp trên heo con theo mẹ

Nguyên nhân Tuổi mắc

bệnh

Tình trạng tiêu chảy

Bệnh tích đại thể ở ruột

Bệnh tích

vi thể

Chẩn đoán phòng thí nghiệm

Nhuộm tiêu bản trực khuẩn G+, phân lập vi khuẩn

C perfringens

type C

1 – 14 ngày sau khi sinh

Phân lỏng lẫn máu

Biểu mô ruột xuất huyết, hoại

tử

Hoại tử, niêm mạc xuất huyết

TGE

Sơ sinh - trưởng thành, 1 –

10 ngày mạnh nhất

Rất lỏng, tanh, có màu vàng

Thành ruột non sung huyết, xuất huyết, mỏng

Bất dưỡng nhung mao ruột

Fluorescent antibody test (FAT), phân lập virus

gần cai sữa

Phân vàng hoặc xám đậm có nhiều cụm bông nổi

Ruột non

nở rộng, thành ruột mỏng

Nhung mao ruột kết dính, hình thành những tế bào đa nhân

FAT, phân lập virus

Nhuộm tiêu bản niêm dịch, giám định cầu trùng

Isospora suis

5 – 15 ngày sau khi sinh

Lỏng, trắng hoặc vàng

Chất chứa lỏng, màng giả ở ruột

Hoại tử fibrin mức

độ khác nhau

sau cai sữa

Lỏng, trắng hoặc vàng

Dưỡng chất lỏng, màu trắng

Phụ thuộc vào nhóm

E coli

Phân lập vi khuẩn từ ruột non

11

Trang 22

12

2.4 Bệnh tiêu chảy do C perfringens

2.4.1 Các đặc điểm về vi sinh của vi khuẩn C perfringens

2.4.1.1.Đồng nghĩa - lịch sử

C perfringens còn có tên Bacillus aerogenes capsilatusi, Bacillus enteridis sporogenes, Clostridium wellchi Vi khuẩn lần đầu tiên được phân lập vào năm 1982

bởi Welch và Nuttall từ xác chết động vật

Năm sau đó E Franenkel đã phân lập được từ 4 trường hợp của bệnh hoại thư

sinh hơi và ông gọi là Bacillus phlegmonis emphysematosae

Năm 1898 Veillon và Zuber gọi tên Bacillus perfringens và tên này được dùng tới năm 1948, sau đó gọi là Clostridium wellchi Ngày nay gọi là Clostridium

perfringens

2.4.1.2.Phân bố

Vi khuẩn là trực khuẩn kỵ khí có ở mọi nơi, được phân lập với số lượng lớn trong đất, chất thải (rác, nước cống), phân, nước, đường tiêu hóa của người và động vật Nó cũng được phân lập từ thức ăn Vi khuẩn còn tìm thấy trong xác trâu bò chết

do bị nhiệt thán, heo bị bệnh dịch tả, cũng như từ chỗ khí thủng của bệnh ung khí thán

Chuỗi type A thì thường tìm thấy trong đất và đường tiêu hóa Type B, C, D và

E ít tìm thấy trong đường tiêu hóa hơn; ở những khu vực nơi mà trước đó có bệnh đường tiêu hóa xảy ra với tính chất dịch địa phương thì có thể phân lập được type B,

C, D trong đất

Vi khuẩn C perfringens có thể tìm thấy trong phân su, những bãi phân đầu tiên

của heo con Có khi tìm thấy trong 1g chất chứa ở không và hồi tràng của ruột có từ

108 – 109 vi khuẩn (Đào Trọng Đạt và cs, 2000)

Trang 23

2.4.1.3.Hình dạng và sự nhuộm màu

Hình 2.1: Vi khuẩn C perfringens

(Nguồn: http://www.globalsecurity.org/wmd/intro/images/cperfringens-cdc.jpg)

C perfringens là trực khuẩn ngắn, kích thước từ 0,8 – 1,5µm x 4 – 8µm, thường

hơi vuông 2 đầu, có giáp mô, có bào tử, không có khả năng di động

Nhuộm dễ dàng với thuốc nhuộm anillin, bắt màu G (+), trong môi trường già

có thể bắt màu Gram (-)

2.4.1.4.Đặc điểm nuôi cấy

Vi khuẩn là loại kỵ khí nhưng không triệt để như các loài trong giống Vì vậy trong môi trường thạch yếm khí vi khuẩn có thể mọc từ dưới lớp thạch bề mặt đến sâu dưới đáy môi trường và tạo khuẩn lạc hình hạt đậu Nhiệt độ thích hợp 37 0C, pH kiềm nhưng bào tử hình thành ở pH = 6,6

Bào tử của vài dòng C perfringens gây ngộ độc thực phẩm có sức kháng nhiệt

khác nhau, ở nhiệt độ có thể lên tới 90 0C vi khuẩn chịu đựng được 8 – 10 phút Vi khuẩn hình thành bào tử trong đường tiêu hóa và giải phóng độc tố Bào tử hiện diện ở hầu hết các loại thực phẩm tươi sống cũng như trong đất, nước thải và phân gia súc

2.4.1.5.Sức đề kháng

Tế bào dinh dưỡng không đề kháng nhiệt độ hay hóa chất Nhìn chung, những

dòng C perfringens có nguồn gốc từ ruột bị chết trong đất trong khoảng 1 tháng,

nhóm vi sinh vật này có thể sống sót là nhờ hình thành bào tử Ở dạng bào tử có khả năng kháng nhiệt và sức đề kháng cao, không bị diệt ở 120 0C/10 phút Bào tử đề kháng với độ ẩm, sống trong đất nhiều năm

13

Trang 24

Độc tố (enterotoxin) do C perfringens sinh ra sẽ làm dãn thành mạch, tăng tính

thấm và tăng nhu động ruột dẫn đến tiêu chảy Khi vi khuẩn hình thành bào tử, chúng giải phóng độc tố ruột, hậu quả là lòng ruột tích lũy một lượng lớn chất lỏng, gây viêm ruột hoại tử, có thể dẫn đến tử vong

Trang 25

bò, ngựa và heo mới sinh;

viêm ruột hoại tử ở người

và gà

Xuất huyết ruột kinh điển

ở cừu, dê và có thể ở trâu bò; bệnh “thận mềm nhũn” cho nhiều động vật

Trang 26

16

2.4.1.8.Khả năng gây bệnh

C perfringens gây bệnh rất đa dạng, nó gây ra nhiều bệnh khác nhau trên nhiều

vật chủ khác nhau Gây hoại tử sinh hơi ở người, gây kiết lỵ cho động vật non, bệnh tràn độc huyết, hoại tử sinh hơi,… type A gây trúng độc thức ăn cho người

Trong phòng thí nghiệm chuột lang, chuột bạch, bồ câu dễ cảm nhiễm Tiêm canh trùng dưới da chuột lang, da chỗ tiêm có màu đỏ sẫm, mô dưới da phù, khí thũng

và thấm máu Con vật chết từ 12 – 48 giờ (Tô Minh Châu - Trần Thị Bích Liên, 1999)

2.4.2 Đặc điểm gây bệnh của vi khuẩn C perfringens

2.4.2.1 Cơ chế sinh bệnh

Phần lớn các trường hợp bệnh do C perfringens gây ra chỉ vài phút hoặc vài

giờ sau khi heo sinh ra Vi khuẩn thường xâm nhập vào biểu bì của lông nhung, tăng sinh khắp màng nhày ruột và gây hoại tử xuất huyết tại đó Vùng hoại tử lan dần và gây tổn thương vào sâu đến niêm mạc, dưới niêm mạc, thậm chí đến lớp cơ Phần lớn

vi khuẩn thường gây hoại tử lông nhung, lông nhung cùng với vi khuẩn bám dính tróc

ra rơi vào xoang ruột Một số vi khuẩn có thể xâm nhập sâu vào thành ruột tạo thành khí thũng ở lớp dưới niêm mạc, lớp cơ, lympho vùng lân cận Có hiện tượng tắc nghẽn

ở vùng bị khí thũng

Vai trò gây bệnh của các độc tố do vi khuẩn tiết ra chưa được nghiên cứu kỹ Phần lớn là do độc tố α và β Độc tố β là tác nhân chủ yếu gây hoại tử ruột làm chết

con vật Một số trường hợp có thể do nhiễm trùng kế phát, như nhiễm E coli và các

loại vi trùng khác Chứng máu nhiễm độc tố có thể xảy ra trong những trường hợp quá cấp tính, heo con run rẩy và chết đột ngột

Độc tố β thường có hàm lượng cao trong chất chứa của ruột xuất huyết hoặc trong chất lỏng trong xoang bụng của những heo bệnh Khi tiêm độc tố này vào tĩnh mạch làm heo con chết đột ngột Nếu tiêm liều thấp sẽ gây tổn thương nhiều vùng trong cơ thể Tuy nhiên chứng máu nhiễm độc tố không có tầm quan trọng trong quá trình sinh bệnh ở heo con

C perfringens type C cố định và nhân lên trên những nhung mao ở vùng không

tràng sau đó sản sinh nhiều ngoại độc tố, đặc biệt là β toxin tác động lên nội mạc mao

Trang 27

17

quản gây hoại tử và chết tế bào ruột Độc tố nhạy cảm với trypsin đường tiêu hóa, heo

con 3 ngày tuổi chưa có men này, như vậy đây là vật chủ nhạy cảm nhất (Trần Thanh

Phong, 1996) C perfringens cũng khu trú ở những nơi có bệnh tích đang tồn tại

2.4.2.2 Triệu chứng và bệnh tích

Heo chết do C perfringens thường từ 3 – 6 ngày sau khi sinh và thỉnh thoảng 2

tuần lễ sau khi sinh, bệnh tích gồm: sung huyết và hoại tử niêm mạc ruột non và khí

thủng thành ruột non Vi khuẩn được tìm từ ruột heo bệnh chết và phân heo bệnh

• Triệu chứng

- Thể quá cấp tính: xuất hiện trên heo mới sinh (khoảng 2-4 ngày tuổi) Heo con

mệt, lười bú, tiêu chảy ra máu, chết nhanh sau 1 - 2 ngày tiêu chảy Mổ khám thấy

xuất huyết nặng ở ruột non

- Thể cấp tính: thể cấp tính thường xảy ra trên heo con từ 5 – 7 ngày tuổi Heo

con tiêu chảy ra máu, phân màu đen, chết sau 2 – 3 ngày mắc bệnh Ngoài sự xuất

huyết, trên ruột non còn có nhiều vùng bị hoại tử hoặc loét

- Thể bán cấp tính: xảy ra trên heo con từ một tuần tuổi đến cai sữa, với các đặc

điểm tiêu chảy kéo dài, phân màu xanh, không có máu, heo con suy yếu và chết sau 5

– 7 ngày tiêu chảy Trên ruột non có nhiều vùng hoại tử, không thấy có dấu hiệu xuất

huyết

- Thể mãn tính: thể bệnh này thường kéo dài trong vòng một tuần hoặc hơn một

tuần Phân có màu xám nhầy Heo bệnh ngừng phát triển và bệnh có thể kéo dài đến

10 ngày Heo có thể chết sau vài tuần do gầy sút quá nhanh, yếu ớt, không phát triển

được

Viêm ruột do C perfringens type C biểu hiện lâm sàng rất phong phú tùy theo

tuổi, tùy theo tình trạng miễn dịch Thể quá cấp tính và cấp tính thường chỉ biểu hiện

trên heo con sơ sinh

Theo Trần Thanh Phong (1996), trường hợp nhiễm C perfringens type A

với biểu hiện phân nhão, hiếm khi chết Mầm bệnh phát triển chậm, thầm lặng dẫn đến

giảm chỉ số biến chuyển thức ăn và tăng trọng

• Bệnh tích

Da vùng bụng sậm màu và hơi đen (trong ca tối cấp) hay thủy thũng (ca cấp

tính)

Trang 28

Viêm ruột cấp tính hoại tử và xuất huyết có tính định vị (tại chỗ) hay mở rộng nhiều vùng ruột tùy theo tốc độ phát triển Chất chứa trong ruột màu đỏ và có mảnh hoại tử ở vùng không tràng, có thể gặp khí thủng ở ruột Đôi khi gặp viêm phúc mạc

có sợi huyết cấp tính

Hình 2.2: Ruột heo xuất huyết, sưng to và sinh khí

(Nguồn: http://www.anova.com.vn/contents/article.asp?id=273&detail=16&ucat=42)

2.4.3 Chẩn đoán

C perfringens type C: xảy ra ở heo con sơ sinh (12 – 36 giờ) gây tiêu chảy xuất

huyết và chết rất nhanh Ruột heo con bị hoại tử và căng phồng như dạng con rắn Bệnh xảy ra đột ngột và chấm dứt rất nhanh gây tử số rất cao

C perfringens type A: phân heo con không có hoặc có rất ít máu Heo bệnh ít

chết hoặc không chết

• Chẩn đoán lâm sàng

Người ta có thể dựa vào đặc điểm dịch tễ học của bệnh ở trong vùng xảy ra hiện tượng tiêu chảy Ngày nay, về mặt lâm sàng, bệnh được chẩn đoán dựa trên các đặc tính:

Quan sát màu phân, ngày tuổi mắc bệnh

Nếu mổ khám có bệnh tích đặc trưng và không đặc trưng

18

Trang 29

Ở thể bệnh cấp tính và quá cấp tính chẩn đoán có thể dựa vào dấu hiệu lâm sàng

và những bệnh tích đại thể Nếu tiêu chảy có lẫn máu và không tràng bị hoại tử và xuất

huyết thì có thể khẳng định là C perfringens

Ở thể mãn tính việc chẩn đoán dễ nhầm với một số bệnh gây viêm ruột hoại tử

Bệnh cầu trùng (Isospora suis) và một số mầm bệnh làm teo lông nhung như

Rotavirus, Coronavirus (TGE), những bệnh viêm ruột do vi khuẩn kế phát khác

• Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm

Tìm vi khuẩn yếm khí C perfringens ở không tràng và hồi tràng Tuy nhiên, khi phát hiện C perfringens trong chất chứa của ruột cũng chưa thể khẳng định chắc

chắn được bởi vì trong đường ruột con vật khỏe mạnh hoặc chết do những nguyên nhân khác vẫn phát hiện được một số lượng lớn vi khuẩn yếm khí, vì vậy cần kết hợp với nhiều chỉ tiêu khác nhau để khẳng định kết quả chẩn đoán cuối cùng

Việc chẩn đoán chỉ có kết quả chắc chắn khi dựa vào xét nghiệm phòng thí nghiệm:

- Về mô học: bệnh tích hoại tử - xuất huyết và có vi trùng G (+) lớn ở trong biểu mô ruột

- Về vi trùng học: định type độc tố từ những chất chứa ở ruột, để tiến hành cần

có mẫu huyết thanh đặc hiệu tiêu chuẩn

2.4.4 Phòng và trị bệnh

• Phòng ngừa

Đối với bệnh này thì việc phòng bệnh có kết quả hơn việc trị bệnh, phòng bệnh

có tầm quan trọng lớn lao Một số loại vaccin phòng bệnh:

Vaccin Prosysterm® 4*3 (Prosysterm Trec): vaccin giải độc tố vi khuẩn E coli

và C perfringens (type C) Vaccin do công ty Intervet USA sản xuất; tác dụng phòng

Trang 30

20

Các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng:

™ Môi trường

- Nhiệt độ, ẩm độ thích hợp, không quá nóng hay quá lạnh, thông thoáng, vệ

sinh chuồng trại tốt

- Ổ đẻ của heo mẹ phải được tiêu độc trước khi đưa heo nái vào đẻ Nhiệt độ

chuồng phải đảm bảo 32 – 34 0C đối với heo sơ sinh và 28 – 30 0C với heo cai sữa

Nên nuôi heo con trên sàn, không nên cho heo con tiếp xúc với nền chuồng

™ Dinh dưỡng

- Không thay đổi thức ăn đột ngột

- Không quá thiếu hoặc quá thừa dinh dưỡng

- Dùng thức ăn đảm bảo chất lượng, không bị mốc, đóng vón Có thể bổ sung

kháng sinh vào thức ăn nhưng không dùng quá liều hoặc kéo dài quá 7 ngày Không

dùng thức ăn quá mặn, quá thừa protein hay thừa chất béo

- Bổ sung các chế phẩm: probiotic (như axid hữu cơ, muối axid hữu cơ

propionate calci), probiotic (các loại men, vi sinh vật hữu dụng như Lacto bacillus

acidophyluss…)

- Tẩy uế sát trùng chuồng trại, áp dụng biện pháp “all in all out” (“cùng vào

cùng ra”)

• Điều trị

Bệnh phát triển nhanh dẫn đến thất bại khi điều trị Theo nhiều tác giả (Szabo

và Szent-Ivanyi, 1957; Hogh, 1967; trích dẫn Trần Thanh Phong, 1996) dùng các

thuốc hóa học để điều trị bệnh không hiệu quả Đặc biệt khi triệu chứng lâm sàng đã

biểu hiện rõ ràng thì việc điều trị càng không có ý nghĩa Có thể dùng thuốc kháng

sinh để điều trị nhưng thường ít có kết quả Một số kháng sinh nhạy cảm với

C perfringens: ampiciclin, amoxiclin, colistine, trimethoprim, …

Điều trị phải tuân theo nguyên lý điều trị chung các bệnh do vi khuẩn gây ra,

tức là phải kết hợp tiêu diệt mầm bệnh với việc bổ sung nước và dung dịch chất điện

giải để chống mất nước, nâng cao sức đề kháng cho con vật trong khi sử dụng kháng

sinh và hóa dược trị liệu

Để chống mất nước và chất điện giải, cần cho uống dung dịch glucose hoặc pha

dung dịch electroline vào nước uống để heo uống tự do theo liều quy định

Trang 31

21

2.5 Giới thiệu sơ lược về Bacillus subtilis và kháng sinh bacitracin

B subtilis được phát hiện đầu tiên trong phân ngựa năm 1941 bởi tổ chức y học

Nazi của Đức Ban đầu được sử dụng phòng bệnh lỵ cho binh sỹ Đức ở Bắc Phi Trong

những năm 1949 – 1957 khi Henrry, Albort và cs phân lập được các chủng B subtilis

thuần khiết thì vi khuẩn này bắt đầu được ứng dụng trong điều trị Ngày nay vi khuẩn này trở nên rất phổ biến và được sử dụng rất rộng rãi trong chăn nuôi Ngoài ra, các

công bố trước đây cho thấy B subtilis có khả năng kích thích hệ thống miễn dịch của

cơ thể, kích thích tiết IgM, IgG và IgA Thực tế, B subtilis đã được thử nghiệm rất

nhiều, cả trên cơ thể người, đều cho kết quả vô hại (trích Nguyễn Thị Minh Cương, 2008)

Năm 1945, Balbina Johnson phát hiện ra kháng sinh bacitracin từ dịch chiết của

vi khuẩn Bacillus licheniformis (thuộc nhóm Bacillus subtilis) Bacitracin gồm 10 loại

khác nhau: A, A1, B, C, D, E, F1, F2, F3 và G; trong đó bacitracin A là lớn nhất Loại kháng sinh này ngăn không cho vi khuẩn tổng hợp màng bằng việc ngăn cản quá trình khử phosphoryl hóa của lipid màng, ngăn cản sự sáp nhập các amino acid và nucleotic của vỏ tế bào Bacitracin cũng gây tổn hại màng bào tương của vi khuẩn và nó có tác dụng chống các thể nguyên sinh

Thuốc có tác dụng tốt với vi khuẩn G (+) như Staphylococcus, Streptococcus, cầu khuẩn kỵ khí Corynebacterium và Clostridium; các loại nấm; vi khuẩn G (-) hầu

hết đề kháng với bacitracin Kháng sinh này không gây tác dụng chéo với các kháng sinh khác

Bacitracin có nhược điểm là độc tính cao với thận (như các kháng sinh thuộc nhóm Aminosides) nên bacitracin thường được dùng ngoài trị các bệnh viêm nang lông, viêm da có mũ, các trường hợp viêm nhiễm ở mắt Bacitracin thường kết hợp với polymyxin B và neomycin để mở rộng phổ trên cả G (+) và G (-) Tuy nhiên bacitracin bôi ngoài có thể gây viêm da tiếp xúc dị ứng tại chỗ

Do có khả năng kháng khuẩn, trong thú y bacitracin thường được dùng để ức chế vi khuẩn đặc hiệu đường ruột và tăng vi khuẩn có lợi; kháng sinh này có thể kiểm soát bệnh viêm ruột hoại tử trên heo con theo mẹ, bệnh hồng lị trên heo choai và heo

vỗ béo, cải thiện tỷ lệ chuyển hoá thức ăn của gia súc gia cầm

Trang 32

vi khuẩn chủ yếu E coli Salmonella spp và C perfringens Các E coli gây bệnh heo

con tiêu chảy chủ yếu mang kháng nguyên bám dính F4 (K88), độc tố đường ruột STa,

STb và LT; các Salmonella gây tiêu chảy chủ yếu là S cholerae suis sản sinh cả hai loại độc tố đường ruột (thẩm xuất nhanh và thẩm xuất chậm) Các C perfringens gây

bệnh chủ yếu sản sinh dạng dung huyết α và β, mang độc tố type D

Đặng Xuân Bình và Trần Thị Hạnh (2001), phân lập vi khuẩn trên heo con 1 –

30 ngày tuổi bị chết có biểu hiện tiêu chảy cho biết ở ruột non tỷ lệ dương tính với

E coli là 100 %, C perfringens là 85,7 %

Nguyễn Văn Sửu và Nguyễn Quang Tuyên (2008), khi khảo sát tình hình viêm ruột hoại tử đã rút ra kết luận: tỷ lệ đàn heo mắc bệnh viêm ruột hoại tử trung bình từ 23,52 % - 26,68 % Tỷ lệ heo mắc bệnh viêm ruột hoại tử từ sơ sinh đến 15 ngày tuổi

là 15,88 %, từ 16 – 30 ngày tuổi là 13,41 %, giảm dần đến 60 ngày tuổi còn 6,97 %

Tỷ lệ chết cũng giảm dần theo tuổi Chết cao trong giai đoạn từ sơ sinh đến 15 ngày tuổi là 8,68 %, từ 16 – 30 ngày tuổi là 3,96 %

Nguyễn Văn Sửu, Nguyễn Quang Tuyên và Trần Thị Hạnh (2008), đã khảo sát trên heo có triệu chứng lâm sàng của bệnh viêm ruột hoại tử và heo con khỏe mạnh từ

1 – 60 ngày tuổi Kết quả cho thấy tỷ lệ phân lập được vi khuẩn C perfringens ở heo tiêu chảy là 57,43 % và heo khoẻ mạnh là 29,85 %; số lượng vi khuẩn C perfringens ở

phân heo tiêu chảy là 21,58 x 106 CFU/g và ở heo bình thường là 7,98 x 106 CFU/g

Theo Phạm Thế Sơn và cs.  (2009), số lượng vi khuẩn ở heo con tiêu chảy và khỏe mạnh giai đoạn từ 1 – 21 ngày tuổi lần lượt là 822,1 x 106 CFU/g và 80,89 x 106CFU/g Heo bị tiêu chảy có số lượng vi khuẩn tăng cao gấp 10,2 lần heo khoẻ mạnh

Nhóm tác giả Huỳnh Thị Mỹ Lệ và cs (2009) khảo sát ở heo con từ 1 -28 ngày

tuổi cho kết quả tần suất phân lập được C perfringens ở heo con tiêu chảy là 55,6 %

Số lượng vi khuẩn C perfringens phân lập được trên các mẫu phân tiêu chảy đặc trưng

của bệnh viêm ruột hoại tử là 19,2 ± 0,08 x 106 CFU/g và ở trạng thái khỏe mạnh là

Ngày đăng: 13/08/2018, 15:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm