- Sự giảm trọng lượng của heo nái trong thời gian nuôi con của 2 lô có sử dụng chế phẩm nấm men sống Biosaf thấp hơn lô đối chứng.. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT P: Trọng lượng VN: Vòng ngực
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THỬ NGHIỆM SỬ DỤNG CHẾ PHẨM NẤM MEN SỐNG BIOSAF TRONG THỨC ĂN HEO NÁI NUÔI CON
Họ và tên sinh viên: NGUYỄN PHƯƠNG MINH Ngành : THÚ Y
Niên khóa : 2004 – 2009
Tháng 09/2009
Trang 2THỬ NGHIỆM SỬ DỤNG CHẾ PHẨM NẤM MEN SỐNG BIOSAF
TRONG THỨC ĂN HEO NÁI NUÔI CON
Tác giả
NGUYỄN PHƯƠNG MINH
Khóa luận được đề trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ ngành Thú Y
Giáo viên hướng dẫn
TS DƯƠNG DUY ĐỒNG
Tháng 09/2009
Trang 3LỜI CẢM TẠ
Thành kính ghi ơn
Cha mẹ, người suốt đời tận tụy, hy sinh tất cả vì chúng con
Biết ơn sâu sắc
Đến TS Dương Duy Đồng đã tận tình hướng dẫn và chỉ dạy tôi trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp và hoàn thành luận văn này
Chân thành cảm tạ
Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi - Thú Y
Bộ Môn Dinh Dưỡng Gia Súc
Cùng toàn thể quý thầy cô khoa Chăn Nuôi – Thú Y
Công ty Global Nutrition
Đã truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình học và thực tập tốt nghiệp
Trân trọng cảm ơn
Ban giám đốc xí nghiệp chăn nuôi heo Đồng Hiệp cùng toàn thể cán bộ công nhân viên của xí nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập tại xí nghiệp
Trang 4 Kết quả theo dõi
- Tỷ lệ nuôi sống heo con đến cai sữa của 2 lô có sử dụng chế phẩm nấm men sống Biosaf cao hơn so với lô đối chứng (P > 0,05)
- Trọng lượng heo con lúc cai sữa của 2 lô có sử dụng chế phẩm nấm men sống Biosaf cao hơn so với lô đối chứng (P > 0,05)
- Tỷ lệ ngày heo con tiêu chảy trong thời gian theo mẹ của 2 lô có sử dụng chế phẩm nấm men sống Biosaf thấp hơn lô đối chứng (P > 0,05)
- Sự giảm trọng lượng của heo nái trong thời gian nuôi con của 2 lô có sử dụng chế phẩm nấm men sống Biosaf thấp hơn lô đối chứng
- Thời gian lên giống lại của heo nái ở 2 lô có sử dụng chế phẩm nấm men sống Biosaf ngắn hơn so với lô đối chứng
- Hiệu quả kinh tế của 2 lô có sử dụng chế phẩm nấm men sống cao hơn lô đối chứng
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang tựa
Lời cảm ơn i
Tóm tắt luận văn ii
Mục lục iii
Danh sách các bảng vii
Danh sách biểu đồ và hình viii
Danh mục các từ viết tắt ix
Chương I MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH 2
1.3 YÊU CẦU 2
Chương II CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1 SƠ LƯỢC VỀ XÍ NGHIỆP CHĂN NUÔI HEO ĐỒNG HIỆP 3
2.1.1 Lịch sử hình thành 3
2.1.2 Vị trí địa lý 3
2.1.3 Nhiệm vụ của xí nghiệp 3
2.1.4 Cơ cấu tổ chức 4
2.1.5 Nguồn gốc con giống 4
2.1.6 Cơ cấu đàn heo 4
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ HEO NÁI 5
2.2.1 Chăm sóc heo nái sau khi sinh và nuôi con 5
2.2.2 Giảm trọng của nái trong thời gian nuôi con 5
2.2.3 Nhu cầu dinh dưỡng nái nuôi con 6
2.2.4 Ảnh hưởng của di truyền, nhiệt độ, ẩm độ trên sinh sản heo nái 7
2.2.5 Sự tiết sữa của heo nái 7
2.2.6 Sự động dục trở lại sau khi cai sữa ở heo nái 7
2.3 GIỚI THIỆU VỀ SẢN PHẨM THÍ NGHIỆM BIOSAF 8
Trang 62.3.1 Đặc điểm Saccharomyces cerevisiae 8
2.3.2 Cơ chế hoạt động của Saccharomyces cerevisiae ở thú đơn vị 9
2.3.3 Đặc điểm sinh lý, sinh hóa của nấm men 9
2.3.4 Thành phần hóa học và dinh dưỡng của nấm men 10
2.3.5 Sự sinh trưởng và phát triển của nấm men 14
2.3.6 Ảnh hưởng của một số điều kiện nuôi cấy lên tốc độ sinh sản của nấm men 14
2.3.6.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ 14
2.3.6.2 Ảnh hưởng của pH 14
2.3.6.3 Ảnh hưởng của một số hóa chất và chất sát trùng 14
2.3.7 Cơ sở việc sử dụng nấm men trong chế biến và sản xuất thức ăn 15
2.3.8 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng của nấm men 16
2.3.8.1 Nghiên cứu trong nước 16
2.3.8.2 Nghiên cứu nước ngoài 17
Chương III NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 18
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM THỰC TẬP 18
3.2 PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM 18
3.2.1 Đối tượng thí nghiệm 18
3.2.2 Bố trí thí nghiệm 18
3.3 ĐIỀU KIỆN TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM 19
3.3.1 Chuồng trại 19
3.3.2 Trang thiết bị chuồng trại 20
3.3.3 Thức ăn 20
3.3.4 Nước uống 21
3.4 QUY TRÌNH CHĂM SÓC VÀ NUÔI DƯỠNG HEO NÁI MANG THAI, NÁI NUÔI CON VÀ HEO CON THEO MẸ 21
3.4.1 Quy trình nuôi dưỡng 21
3.4.1.1 Đối với nái 21
3.4.1.2 Đối với heo con 22
3.5 VỆ SINH PHÒNG BỆNH 23
3.5.1 Vệ sinh chuồng trại 23
3.5.2 Quy trình tiêm phòng 23
Trang 73.6 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI 24
3.6.1 Nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi qua các tháng thí nghiệm 24
3.6.2 Heo nái 24
3.6.2.1 Độ giảm trọng của nái trong thời gian nuôi con 24
3.6.2.2 Thời gian lên giống lại sau khi cai sữa (ngày) 24
3.6.2.3 Lượng thức ăn ăn vào 25
3.6.3 Heo con 25
3.6.3.1 Số heo con đẻ ra/ lứa 25
3.6.3.2 Số heo con sơ sinh còn sống 25
3.6.3.3 Tỷ lệ heo con còn sống (%) 25
3.6.3.4 Trọng lượng heo con sơ sinh còn sống/ ổ (kg/ con) 25
3.6.3.5 Số heo con chọn nuôi 25
3.6.3.6 Tỷ lệ heo con chọn nuôi (%) 25
3.6.3.7 Số heo con nuôi thực tế (con) 25
3.6.3.8 Số heo con cai sữa bình quân trên ổ (con) 25
3.6.3.9 Tỷ lệ heo con cai sữa còn sống 25
3.6.3.10 Trọng lượng heo cai sữa (kg) 25
3.6.3.11 Tỷ lệ ngày heo con tiêu chảy (%) 25
3.6.4 Hiệu quả kinh tế 26
3.7 PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ SỐ LIỆU 26
Chương IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 27
4.1 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI 27
4.1.1 Nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi qua các tháng thí nghiệm 27
4.1.2 Trên heo nái nuôi con 28
4.1.2.1 Giảm trọng lượng bình quân của nái trong thời gian nuôi con 28
4.1.2.2 Thời gian lên giống lại của nái (ngày) 29
4.1.2.3 Lượng thức ăn tiêu thụ của heo nái trong thời gian nuôi con 31
4.1.3 Trên heo con 32
4.1.3.1 Số heo con sơ sinh, còn sống, chọn nuôi, tỷ lệ heo con sơ sinh còn sống, tỷ lệ heo con chọn nuôi, số heo con nuôi thực tế, số heo con sống đến cai sữa, tỷ lệ heo cai sữa còn sống binh quân trên ổ 32
Trang 84.1.3.2 Trọng lượng heo con thí nghiệm (kg) 34
4.1.3.3 Tỷ lệ ngày con tiêu chảy ở heo con (%) 36
4.2 HIỆU QUẢ KINH TẾ 37
Chương V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
5.1 KẾT LUẬN 39
5.2 ĐỀ NGHỊ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
PHỤ LỤC 42
Trang 9DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của xí nghiệp 4
Bảng 2.1: Thành phần hóa học của nấm men 11
Bảng 2.2: Giá trị dinh dưỡng của nấm men 12
Bảng 2.3: Thành phần axit amin của nấm men 12
Bảng 2.4: Thành phần khoáng của nấm men 13
Bảng 2.5: Thành phần vitamin của nấm men (mg/kg) 13
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 19
Bảng 3.2: Công thức thức ăn và thành phần dưỡng chất thức ăn nái nuôi con 20
Bảng 3.3: Quy trình tiêm phòng 24
Bảng 4.1: Nhiệt độ và ẩm độ chuồng nuôi qua các tháng thí nghiệm 27
Bảng 4.2: Giảm trọng bình quân của nái trong thời kì nuôi con 28
Bảng 4.3: Thời gian lên giống lại của nái (ngày) 29
Bảng 4.4: Lượng thức ăn tiêu thụ trung bình của nái nuôi con 31
Bảng 4.5: Số heo con sơ sinh, còn sống, chọn nuôi, tỷ lệ heo con sơ sinh còn sống, tỷ lệ heo con chọn nuôi, số heo con nuôi thực tế, số heo con cai sữa còn sống bình quân trên ổ 32
Bảng 4.6: Trọng lượng heo con 34
Bảng 4.7: Tỷ lệ ngày con tiêu chảy ở heo con (%) 36
Bảng 4.8: Hiệu quả kinh tế thí nghiệm 37
Trang 10DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH
Trang
Biểu đồ 4.1: Độ giảm trọng của heo nái nuôi con (kg) 28
Biểu đồ 4.2: Thời gian lên giống lại của nái (ngày) 30
Biểu đồ 4.3: Lượng thức ăn tiêu thụ của heo nái nuôi con (kg/con/ngày) 31
Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ heo con sơ sinh còn sống/ổ (%) 33
Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ heo con cai sữa còn sống/ổ (%) 33
Biểu đồ 4.6: Trọng lượng heo con sơ sinh còn sống (kg/con) 35
Biểu đồ 4.7: Trọng lượng heo con cai sữa còn sống (kg/con) 35
Biểu đồ 4.8 Tỷ lệ ngày tiêu chảy trên heo con (%) 35
Biểu đồ 4.9: Tỷ lệ ngày tiêu chảy trên heo con 36
Hình 2.1: Gắn kết mầm bệnh vào thành tế bào nấm men 9
Hình 2.2: Chế phẩm Biosaf Sc47 13
Trang 11DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
P: Trọng lượng
VN: Vòng ngực
DTT: Dài thân thẳng
TGLGL: Thời gian lên giống lại
TGCS_LG: Thời gian tính từ lúc sau khi cai sữa đến khi nái có biểu hiện lên giống lại TLHCCS: Tỷ lệ heo con còn sống
TLBQHCSS: Trọng lượng bình quân heo sơ sinh còn sống/ổ
TLHCCN: Tỷ lệ heo con chọn nuôi
TLHCCSCS: Tỉ lệ heo con cai sữa còn sống
TLHCCS: Trọng lượng heo con cai sữa
TLNHCTC: Tỷ lệ ngày heo con tiêu chảy
TĂ: Thức ăn
Trang 12Chương 1
MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi gia súc, gia cầm đã và đang phát triển rộng rãi trên khắp thế giới Cùng với sự phát triển đó, ngành chăn nuôi Việt Nam cũng có những bước phát triển vượt bậc, trong đó chăn nuôi heo chiếm một phần quan trọng Đối với chăn nuôi heo nái sinh sản, mục tiêu của các nhà sản xuất là heo nái cho sữa tối đa theo tiềm năng giống, giảm thấp sự hao mòn trọng lượng, rút ngắn thời gian lên giống lại kỳ sau, kéo dài thành tích sinh sản, đạt được nhiều heo con cai sữa trong ổ, heo con khỏe mạnh và đạt trọng lượng cai sữa cao Vì vậy, nhà sản xuất luôn tìm mọi cách nhằm nâng cao khả năng sinh sản của nái như cải thiện giống, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, thức
ăn Trong đó việc sử dụng thức ăn là một yếu tố quan trọng vì nó ảnh hưởng đến sức tăng trọng, sinh trưởng và khả năng sinh sản của heo
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều sản phẩm được bổ sung trong thức ăn heo nái mang lại nhiều kết quả tốt như vitamin, enzym, khoáng, bột huyết Thời gian gần đây, nấm men sống đã được sử dụng bổ sung vào thức ăn heo nái Nó làm tăng sự tiêu hóa, khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng, bổ sung protein và vitamin cho cơ thể gia súc góp phần nâng cao hiệu quả trong chăn nuôi
Biosaf là một chế phẩm nấm men sống có thành phần chính là Saccharomyces
cerevisiae được thử nghiệm bổ sung vào thức ăn nuôi dưỡng heo nái với hy vọng là
một trong những biện pháp nâng cao khả năng nuôi con của heo nái
Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự cho phép của bộ môn Dinh Dưỡng, khoa Chăn Nuôi Thú Y, Trường Đại học Nông Lâm Tp Hồ Chí Minh và dưới sự hướng dẫn của TS Dương Duy Đồng cùng với sự đồng ý của Xí Nghiệp Chăn Nuôi heo Đồng Hiệp, chúng tôi tiến hành đề tài: “Thử nghiệm sử dụng chế phẩm nấm men sống Biosaf trong thức ăn heo nái nuôi con”
Trang 131.2 MỤC ĐÍCH
Đánh giá được tác động của việc sử dụng chế phẩm nấm men sống trong thức
ăn heo nái nuôi con đến khả năng nuôi con, sức khỏe heo nái và sức tăng trưởng của heo con
1.3 YÊU CẦU
Theo dõi ảnh hưởng của chế phẩm nấm men sống trên các chỉ tiêu sau:
9 Trên heo nái: sự thay đổi trọng lượng, lượng thức ăn ăn vào, thời gian lên giống lại sau cai sữa của heo nái trong thời gian nuôi con
9 Trên heo con: số heo con sơ sinh, số heo con sơ sinh chọn nuôi, số heo con còn sống đến cai sữa, trọng lượng heo con lúc sơ sinh và lúc cai sữa, tỷ lệ tiêu chảy trên heo con và hiệu quả kinh tế
Trang 14Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN2.1 SƠ LƯỢC VỀ XÍ NGHIỆP CHĂN NUÔI HEO ĐỒNG HIỆP
2.1.1 Lịch sử hình thành
Trại được xây dựng năm 1967 do tư nhân quản lý, lấy tên là Đồng Hiệp Năm
1975 đổi tên thành xí nghiệp chăn nuôi heo 3/2 Đến tháng 3 năm 1996 lấy lại tên cũ
và đầy đủ là Xí Nghiệp Chăn Nuôi heo Đồng Hiệp
Thực hiện chủ trương di dời của thành phố để tránh gây ô nhiễm môi trường, xí nghiệp được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 cơ sở cũ:
Xí Nghiệp Chăn Nuôi heo Đồng Hiệp
Xí Nghiệp Chăn Nuôi heo Khang Trang
Xí Nghiệp Chăn Nuôi heo Dưỡng Sanh
Và Xí Nghiệp Chăn Nuôi heo Đồng Hiệp đã khánh thành ngày 15/8/2004 Hiện nay xí nghiệp là đơn vị sản xuất trực thuộc Tổng Công Ty Nông Nghiệp Sài Gòn
2.1.3 Nhiệm vụ của xí nghiệp
Sản xuất heo giống, heo thịt và heo con nuôi thịt trên cơ sở các giống ngoại nhập như Yorkshire, Landrace, Duroc nhằm cung cấp cho thị trường Tp Hồ Chí Minh
và các vùng lân cận
Trang 15Kế toánThủ kho
Phòng tổ chức hành chánh
2.1.5 Nguồn gốc con giống
Đực giống thuộc các nhóm giống Yorkshire, Landrace, Duroc được nhập từ
Mỹ Riêng heo nái, một số giống thuần được nhập từ Mỹ, đa số còn lại là nái nền thuộc giống Yorkshire, Landrace, Duroc và lai Yorkshire x Landrace, Landrace x Yorkshire được chọn lọc tại xí nghiệp Hiện xí nghiệp đang thực hiện quy trình chọn lọc hậu bị và nhân giống tại xí nghiệp để thay thế nái già, nái có thành tích sinh sản kém
2.1.6 Cơ cấu đàn heo
Theo phòng kỹ thuật chăn nuôi heo Đồng Hiệp, tính đến ngày 19 tháng 5 năm
2009 Tổng đàn không tính heo con theo mẹ là 13082 con, trong đó bao gồm:
- Đực làm việc: 40 con
- Nái sinh sản: 2510 con
- Hậu bị: 1753 con
+ Hậu bị đực: 70 con + Hậu bị cái: 1683 con
- Heo con sau cai sữa: 3345 con
Trang 16- Heo thịt: 5434 con
2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ HEO NÁI
2.2.1 Chăm sóc heo nái sau khi sinh và nuôi con
Sau khi sinh nái thường mệt, ăn ít hay không ăn, nếu có điều kiện nên cho nái uống nước cháo tinh bột gạo, bắp, hay cám để tăng lượng glucose bù đắp cho cơ thể bị mất sau khi đẻ và cũng nhờ đó tránh xảy ra trường hợp thiếu glucose trong máu gây sốt sữa (Võ Văn Ninh, 2003)
Phải định lượng thức ăn hàng ngày theo sự tiết sữa của nái và sức bú của heo con Mức ăn trong giai đoạn này trung bình khoảng 4,5kg/con/ngày Cần quan sát kỹ biến đổi thể vóc của nái để cung cấp định mức thức ăn: nái mập nên hạn chế thức ăn nếu nuôi ít con, nái gầy nuôi nhiều con nên cho ăn tự do theo nhu cầu Nếu sự cân bằng dưỡng chất trong thức ăn hàng ngày không đủ bù lại với nhu cầu tiết sữa nuôi con thì cơ thể sẽ lấy dưỡng chất dự trữ trong cơ thể để sản xuất sữa, kéo dài tình trạng như vậy sẽ dẫn đến nái bị suy kiệt khi cai sữa, chậm động dục để phối cho lần kế Tuy nhiên, lượng thức ăn tiêu thụ thường thấp hơn ước tính, điều này do nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự ngon miệng của nái như yếu tố về thức ăn, sự nuôi dưỡng không hợp lý như do nái ăn nhiều ở giai đoạn mang thai hay khi trời quá nóng nái sẽ ăn ít
Mục tiêu của chế độ dinh dưỡng trong thời gian nái nuôi con là cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho việc tạo sữa và ngăn ngừa sự hao hụt trọng lượng cũng như thể trạng nái, nhờ vậy heo con mau lớn, nái có thể động dục sớm và phối đậu thai sau cai sữa Ngoài ra phải thường xuyên kiểm tra lượng nước uống cho nái Nước phải sạch và mát Khi trời nóng, nái nuôi con có thể uống tới 40 lít/ngày (Nguyễn Ngọc Tuân - Trần Thị Dân, 2000) Thiếu nước làm nái giảm ăn, giảm sữa Có nhiều nguyên nhân dẫn đến mất sữa như nái bị thiếu protein, calcium, di truyền, viêm đường sinh dục, viêm
vú, trời nóng hay thú sốt
2.2.2 Giảm trọng của nái trong thời gian nuôi con
Trong thời kỳ nuôi con, nái thường không ăn đủ thức ăn cần thiết để đáp ứng nhu cầu nái và hậu quả là nái phải huy động dưỡng chất dự trữ trong cơ thể Thường
có sự mất trọng lượng trong thời kỳ nuôi con, mức độ mất trọng lượng tùy thuộc vào thời gian nuôi con, số lượng và tăng trọng của heo con bú sữa, trọng lượng và thành phần cơ thể lúc bắt đầu cho sữa và điều kiện môi trường nuôi dưỡng
Trang 17Nái nuôi con trong tháng đầu thường giảm khoảng 10% trọng lượng cơ thể, thức ăn xấu có thể làm nái giảm trọng nhiều hơn và nái chậm động dục trở lại sau khi cai sữa (Võ Văn Ninh, 2003) Theo Nguyễn Ngọc Tuân – Trần Thị Dân (2000), trong giai đoạn nuôi con, mức giảm trọng tối đa có thể chấp nhận là 20% của trọng lượng heo nái khi đẻ Có ý kiến cho rằng nái mất trọng lượng trong suốt thời kỳ cho sữa 10
kg là chấp nhận được Trọng lượng mất đi thấp khi lượng ăn vào cao với khẩu phần hợp lý Theo Nguyễn Bạch Trà (1992), với khẩu phần 18% protein thì sau 28 ngày nuôi con giảm trọng 11 kg
2.2.3 Nhu cầu dinh dưỡng nái nuôi con
+ Năng lượng
Nhu cầu năng lượng cũng như đáp ứng năng lượng trong thời kỳ nuôi con của nái tùy thuộc hai yếu tố chính: một là nhu cầu năng lượng cho duy trì của nái và hai là nhu cầu cho sản xuất sữa Nếu năng lượng trong khẩu phần không đủ đáp ứng cho duy trì và sản xuất sữa, cơ thể nái sẽ huy động các mô để cung cấp dưỡng chất cần thiết cho tiết sữa
Nái ăn mức năng lượng thấp trong suốt kỳ cho sữa thì huy động dưỡng chất từ
mô nhiều dẫn đến tăng sự giảm trọng và năng lượng mất từ cơ thể trong hai tuần đầu nhiều Vì thế, khẩu phần nái nuôi con cần phải đảm bảo năng lượng, nếu khẩu phần thiếu năng lượng heo nái sụt cân nhanh và tỷ lệ sụt cân cao Có ý kiến cho rằng heo nái nuôi con nên cho ăn tự do để có sản lượng sữa cao
+ Protein
Protein là chất cần thiết ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng sữa, trực tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe heo con Ngoài năng lượng, nhu cầu protein và các acid amin thiết yếu để tạo ra sữa là rất cao một ngày heo nái cần 300 – 350 g protein để tạo sữa
Đối với chất xơ, trong giai đoạn heo nái nuôi con không nên vượt quá 5%
Vì vậy, phải chú ý đến nhu cầu năng lượng và protein cho nái mang thai và nuôi con cho phù hợp với nhu cầu của nó, đồng thời cũng quan tâm tới một số khoáng vi lượng - đa lượng và vitamin cho nái
Trang 182.2.4 Ảnh hưởng của di truyền, nhiệt độ, ẩm độ trên sinh sản heo nái
Trong chăn nuôi heo nái sinh sản, việc chọn giống là một nhân tố quyết định đến thành tích sinh sản của chúng Những con giống khác nhau có số trứng rụng trong một lần lên giống khác nhau, số con sinh ra trên ổ cũng khác nhau Do đó chọn con giống tốt là khâu đầu tiên quyết định đến thành tích sinh sản của heo nái
Nhiệt độ chuồng nuôi cũng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể gia súc Nhiệt độ môi trường cao thường gây stress nhiệt cho thú và làm tăng tỷ lệ chết phôi, chết thai cao, trao đổi chất kém Nếu nhiệt độ môi trường thấp làm cơ thể thú mất nhiệt nhanh, hoạt động chức năng của các cơ quan trong cơ thể heo nái bị rối loạn Bên cạnh đó ẩm
độ chuồng nuôi cũng ảnh hưởng không kém phần quan trọng lên sự sinh sản của heo nái Ẩm độ cao (> 90%) làm ngăn cản sự thoát hơi nước bề mặt da và ảnh hưởng đến
sự hô hấp của heo Ẩm độ thấp (< 50%) làm da khô, niêm mạc nứt nẻ,…
Vì vậy, vai trò của bầu tiểu khí hậu cũng rất quan trọng, nái cần được yên tĩnh, nhiệt độ và ẩm độ chuồng nái phải thích hợp, với điều kiện Việt Nam nhiệt độ trung bình 25 – 300C, ẩm độ trung bình 75 – 80% là đạt yêu cầu Nhiệt độ quá nóng làm nái tiêu thụ ít thức ăn có ảnh hưởng đến thai và số thai sống Chuồng nái phải khô ráo không trơn trợt
2.2.5 Sự tiết sữa của heo nái
Sữa đầu là sữa mẹ tiết cho con bú 2- 3 ngày đầu Sữa đầu có đầy đủ chất dinh dưỡng, kháng thể và chất chống nhiễm độc truyền từ heo mẹ cho heo con qua sữa đầu
Heo con cần được bú sữa đầu của mẹ trong những ngày đầu sau khi sinh Lượng sữa heo mẹ tiết ra cao nhất trong 21 - 22 ngày đầu, sau đó giảm dần Lượng sữa nhiều hay ít phụ thuộc vào di truyền và sự nuôi dưỡng heo nái Do lượng sữa ổn định, nên số lượng con đẻ ra nhiều thì khối lượng heo con nhỏ, trường hợp đẻ con ít, khối lượng heo con lớn hơn Heo nái không có bầu dự trữ sữa, do đó không thể vắt sữa để xác định lượng sữa, cũng như lấy sữa để kiểm tra chất lượng sữa
2.2.6 Sự động dục trở lại sau khi cai sữa ở heo nái
Để tăng năng suất sinh sản của heo nái, người ta thường tìm cách để tăng số heo
sơ sinh còn sống trên ổ, tăng số lứa đẻ trong năm bằng cách rút ngắn thời gian cai sữa của heo con và thời gian động dục lại của heo nái sau khi cai sữa
Trang 19Điều quan trọng là làm sao cho heo nái động dục và phối giống lại trong vòng 1 tuần sau khi cai sữa để đảm bảo kế hoạch sản xuất và tận dụng hết khả năng sinh sản của heo nái Theo Hội Đồng Hạt Cốc Hoa Kỳ (2000), thông thường tỷ lệ heo nái đẻ lứa đầu tiên có biểu hiện động dục trong vòng 7 ngày sau cai sữa thì thấp hơn một chút
so với heo nái đã đẻ một vài lứa
Thời gian nuôi con cũng ảnh hưởng đến động dục trở lại, nái với thời gian nuôi con ngắn, đặc biệt nếu dưới 21 ngày, có thể cần nhiều thời gian động dục lại sau cai sữa Khoảng 85- 90% nái động dục trong 10 ngày sau cai sữa
Tóm lại, cần phải có cách chăn nuôi và chăm sóc phù hợp mới đạt kết quả tốt
2.3 GIỚI THIỆU VỀ SẢN PHẨM THÍ NGHIỆM BIOSAF
Biosaf là chất trợ sinh, là thực phẩm bổ sung vi sinh vật sống nhằm cải thiện cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột theo hướng có lợi Thành phần chính của Biosaf là
nấm men sống Saccharomyces cerevisiae, tên thương mại: Biosaf Sc47
Tác dụng của Biosaf: cải thiện chất lượng sữa và sữa đầu, heo con có hệ vi sinh đường ruột khỏe mạnh, cai sữa dễ dàng và hiệu quả, giữ thể trạng cho nái, giảm hao mòn trọng lượng
2.3.1 Đặc điểm Saccharomyces cerevisiae
Saccharomyces cerevisiae thuộc lớp Acomycestes, bộ Endomycetaceae, tộc Saccharomyces cerevisiea, giống Saccharomyces, loài Saccharomyces cerevisiae
Saccharomyces cerevisiae là nấm men phân bố rộng rãi nhất Thể đơn bội của
nó n = 17 nhiễm sắc thể, thể lưỡng bội có n = 34 Ngoài nhiễm sắc thể ra trong nhân tế
bào Saccharomyces cerevisiae còn có từ 50 – 1000 plasmid có cấu tạo là 1 phân tử
ADN hình vòng tròn kín, có kích thước 2 μm, có khả năng sao chép độc lập, mang tính trạng di truyền
Saccharomyces cerevisiae có khả năng lên men rất nhiều loại đường như
glucose, saccharose, fructose, galactose, mantose, rượu ethanol, glycerin như nguồn carbon, sử dụng axit amin và muối amon như nguồn nitơ… (Nguyễn Đức Lượng, 1996)
Cấu tạo cơ bản của tế bào Saccharomyces cerevisiae: thành tế bào cấu tạo gồm
lypoprotein, mannaprotein, glycan…; màng nguyên sinh chất chủ yếu là lypoprotein chứa nhiều hợp chất canxi và men permease; nhân hình bầu dục hay hình tròn, nằm
Trang 20gần không bào trung tâm; các cơ quan khác gồm thể golgi, ty thể, ribosome, không bào, các hạt mỡ
2.3.2 Cơ chế hoạt động của Biosaf Sc47 ở thú đơn vị
Gắn kết mầm bệnh vào thành tế bào nấm men (hiệu ứng mannan): tiêu chảy trên thú non thường do mầm bệnh phát triển quá mức Chỉ khi mầm bệnh gắn vào thành ruột và sản sinh độc tố, gây tiêu chảy Vài dòng vi trùng kết dính với chất thải mannose của màng tế bào biểu mô ruột Đồng thời vi trùng gây bệnh có thể kết dính vào mannan của vách tế bào nấm men Biosaf, sau đó phức hợp nấm men và vi trùng này nhanh chóng bị loại khỏi đường tiêu hóa Như thế Biosaf có thể ngăn ngừa mầm bệnh tấn công đường tiêu hóa và làm giảm nguy cơ tiêu chảy
Hình 2.1: Gắn kết mầm bệnh vào thành tế bào nấm men
(Công ty Global Nutrition) Chế phẩm Biosaf vào đường ruột sẽ cạnh tranh sinh tồn với mầm bệnh, hạn chế mầm bệnh phát triển, kích thích miễn dịch (hiệu ứng β -glucan), kích thích vi sinh vật
có lợi phát triển
2.3.3 Đặc điểm sinh lý, sinh hóa của nấm men
Nấm men là vi sinh vật hiếu khí, chúng hô hấp như một cơ thể hiếu khí bậc cao, khi môi trường hết oxy phân tử chúng mới tiến hành lên men, tức chuyển sang hô hấp
kỵ khí lên men Nấm men sử dụng các glucose, fructose, theo con đường EMP (Embden - Meyerhof – Parnas) tiếp theo là chu trình Krebs
Trang 21Khi phản ứng lên men bắt đầu, tốc độ sinh sản của tế bào nấm men bị kìm hãm
và đến một giai đoạn nhất định hầu như không còn nữa Về cơ chế sinh học, đây là quá trình không sử dụng hết năng lượng những chất dinh dưỡng của môi trường Bởi quá trình phân hủy 1 phân tử đường bằng cách lên men chỉ tạo ra 28 kcal, trong khi đó oxy hóa hoàn toàn 1 phân tử đường ta sẽ có 674 kcal Quá trình lên men tạm gọi là quá trình photphorin hóa Vì trong khi lên men, các hợp chất ATP và ADP tham gia vào một cách tích cực (Hoàng Văn Tiến, 1969)
Tế bào nấm men có khả năng tổng hợp axit amin, protein từ đạm vô cơ và cacbon hữu cơ Trong quá trình tổng hợp protein không những cần đạm mà tế bào nấm men còn cần photpho Chúng sử dụng một cách hiệu quả các nguồn đạm như (NH4)2SO4, (NH4)3PO4 và các muối amon của một số axit hữu cơ như axit acetic, axit lactic Đạm amon được đồng hóa dễ dàng hơn cả đạm một số axit amin, một vài axit amin như histidin sẽ kìm hãm khả năng đồng hóa đạm từ (NH4)2SO4, tính chất này của histidin sẽ bị triệt tiêu nếu ta cho thêm một môi trường muối của axit pantotenic và β –alanin hoặc một ion kim loại, đặc biệt là đồng
Ngoài ra, nấm men có khả năng đồng hóa trực tiếp các axit amin tự do trong môi trường và sử dụng như nguồn đạm khác Nấm men tổng hợp axit amin nhờ các chất trung gian của chu trình Krebs, nhờ chuyển amin
2.3.4 Thành phần hóa học và dinh dưỡng của nấm men
Thành phần hóa học và dinh dưỡng của nấm men phụ thuộc chủng giống, môi trường, trạng thái sinh lý cũng như điều kiện nuôi cấy Men ép chứa trung bình 75% nước và 25% chất khô Các chất khô của nấm men bao gồm các thành phần sau:
Protit : 30 ÷ 50% Chất béo : 2 5% ÷
Gluxit : 24 40% Chất khoáng ÷ : 5 11% ÷
Gluxit của nấm men chủ yếu là glucogen (C6H10O5)n, đây là chất dự trữ của tế bào Theo thành phần cấu tạo thì glucogen giống như amylopectine nhưng khác là có phân tử lượng lớn hơn, hàm lượng của nó trong tế bào men có thể từ 0 – 40% và tùy thuộc trước hết vào môi trường dinh dưỡng Trong môi trường dư đường, lượng glucogen tăng đáng kể Khi lượng đường giảm, nấm men sử dụng glucogen để duy trì
sự sống (Nguyễn Đình Thưởng, Nguyễn Thanh Hằng, 2000)
Trang 22Protit chứa trong nấm men rượu thường vào khoảng 30 – 40% và có đủ các axit
amin không thay thế Về giá trị dinh dưỡng protit nấm men tương đương với protit
động vật nhưng giá trị hơn protit thực vật Ở nhiệt độ cao và bình thường dưới tác
dụng của protase có sẵn trong nấm men, protit biến thành pepton, peptit và axit amin
(Nguyễn Đình Thưởng, Nguyễn Thanh Hằng, 2000)
Chất béo là thức ăn dự trữ của nấm men và chứa chủ yếu trong nguyên sinh
chất, hàm lượng chủ yếu khoảng 2 – 5% chất khô Ở nấm men gia súc, hàm lượng chất
béo có thể đạt 10 – 20% Trong nấm men còn chứa các chất tương tự chất béo như
loxin, sterin Trong đó quan trọng hơn cả là ecgosterin, chất này dễ biến thành vitamin
D dưới tác dụng của ánh sáng mặt trời và còn gọi là tiền vitamin D, hàm lượng vào
khoảng 0,3 – 1,4% chất khô của nấm men (Nguyễn Đình Thưởng, Nguyễn Thanh
Hằng, 2000)
Chất khoáng chiếm từ 5 – 11%, tuy số lượng ít nhưng đóng vai trò vô cùng
quan trọng trong hoạt động tế bào men, đặc biệt là photpho Photpho thường ở dạng
liên kết hữu cơ và có trong thành phần của photphotid, nucleprotein cũng như acid
nucleic Trong tế bào nấm men còn chứa các ion kali, canxi, magie, sắt, lưu huỳnh và
axit silicic Lưu huỳnh và sắt đều tham gia quá trình oxy hóa khử, sắt cùng với các
chất vô cơ khác như: Zn, Mn, Cu, Mg… là những chất không thể thiếu đối với nhiều
enzym oxy hóa (Nguyễn Đình Thưởng, Nguyễn Thanh Hằng, 2000) Trong tế bào nấm
men có chứa nhiều loại vitamin với hàm lượng cao gấp 2 – 3 lần vitamin tổng hợp
Trong tế bào nấm men hầu như không có vitamin A mà chủ yếu là nhóm B và D2
(Nguyễn Đình Thưởng, Nguyễn Thanh Hằng, 2000)
Bảng 2.1: Thành phần hóa học của nấm men
Trang 23Bảng 2.2: Giá trị dinh dưỡng của nấm men
thức ăn (kg)
Đạm tiêu hóa (g)
(Nấm men dùng trong chăn nuôi lợn, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội, 1970)
Bảng 2.3: Thành phần axit amin của nấm men
(Nấm men dùng trong chăn nuôi lợn, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội, 1970)
Trang 24Bảng 2.4: Thành phần khoáng của nấm men
(Nấm men dùng trong chăn nuôi lợn, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội, 1970)
Bảng 2.5: Thành phần vitamin của nấm men (mg/kg)
D2 (calciferol) 250 BB 6 (pyridioxin) 60
B1 (thiamin) 40 B9 (acid folic, Bc) 4,2
B5 (nicotinic) 21 - 100
(Nấm men dùng trong chăn nuôi lợn, Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội, 1970)
Theo công ty Global Nutrition của Pháp đã nghiên cứu:
Nấm men sống thuần chủng Saccharomyces cerevisiae (Sc47) là những hạt
nhỏ, xốp mịn; nồng độ cao: 10 tỉ tế bào nấm men sống trên 1 g (CFU/g), không có chất mang; vi hạt bền với nhiệt, tái hoạt hóa chậm:
Biosaf ổn định trong quá trình ép viên (> 850C) và với môi trường bên ngoài (ví dụ: ẩm độ); phổ tác dụng rộng đối với heo con và heo nái
Hình 2.2: Chế phẩm Biosaf Sc47 (Công ty Global Nutrition)
Trang 252.3.5 Sự sinh trưởng và phát triển của nấm men
Sự sinh trưởng và phát triển của nấm men diễn biến qua 4 giai đoạn
– Giai đoạn thích nghi (tiền phát): số lượng tế bào không thay đổi nhưng hình thức và kích thước tế bào thay đổi
– Giai đoạn logarit: số lượng tế bào tăng theo cấp số nhân, hình thái và kích thước tế bào khá điển hình
– Giai đoạn ổn định: số lượng tế bào không tăng lên nhưng kích thước tế bào tăng lên có liên quan tới sự tích lũy các chất hữu cơ
– Giai đoạn thoái hóa: số lượng tế bào giảm do sự tự phân hủy của tế bào,
lượng chất hữu cơ trong tế bào giảm
Tóm lại, sự gia tăng số lượng tế bào nấm men đạt cao nhất ở giai đoạn logarit, sinh khối tế bào đạt cao nhất ở giai đoạn ổn định
2.3.6 Ảnh hưởng của một số điều kiện nuôi cấy lên tốc độ sinh sản của nấm men 2.3.6.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ
Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn lên tốc độ tăng trưởng của nấm men Nhiệt độ thích hợp nhất để nấm men phát triển tốt là 28 – 300C Trên 430C và dưới 280C sự sinh sản của nấm men xảy ra chậm hoặc ngừng lại
2.3.6.2 Ảnh hưởng của pH
Độ pH tốt nhất cho tăng trưởng của nấm men là pH = 4,5 – 5,5; pH = 4 tốc độ tích lũy sinh khối giảm Nếu độ pH = 3 – 3,5, sẽ làm sự sinh sản của nấm men dừng lại Mức độ hấp thu chất dinh dưỡng vào tế bào, hoạt động của hệ thống enzym tham gia vào sự tổng hợp protein, tạo vitamin đều tùy thuộc vào độ pH, pH ngoài 4,5 ÷5,5 làm chất lượng nấm men giảm đi
2.3.6.3 Ảnh hưởng của một số hóa chất và chất sát trùng
Để ngăn ngừa và hạn chế tạp khuẩn có thể dùng nhiều hóa chất khác nhau như clorua vôi, foormalin, fluosilicat natri, tùy thuộc chất lượng của hóa chất mà dùng nhiều hay ít, để hạn chế được sự phát triển của tạp khuẩn nhưng không ảnh hưởng xấu đến hoạt động của nấm men Caramelan không bị hấp thu trên bề mặt nấm men với nồng độ 0,005% sẽ làm nhiều tế bào bị chết
Trang 262.3.5 Cơ sở của việc sử dụng nấm men trong sản xuất và chế biến thức ăn
Nấm men sử dụng trong chăn nuôi phải đảm bảo các điều kiện sau:
Không sinh độc tố có hại cho gia súc
Tốc độ phát triển nhanh sinh khối cao
Tế bào có kích thước lớn dễ thu hoạch
Sinh khối tế bào chứa nhiều protein và vitamin
Nấm men sử dụng được nhiều nguồn nguyên liệu rẻ tiền, dễ kiếm, là phụ phế phẩm của các ngành công nghiệp khác
Sử dụng được đạm vô cơ chuyển thành đạm hữu cơ của tế bào
Chủng loại nấm men nhiều, đa dạng trong chuyển hóa và tổng hợp các chất hữu
cơ, đa dạng về điều kiện sống: nhiệt độ, độ ẩm, độ pH, áp suất, không khí, thành phần dinh dưỡng… nên có thể dễ dàng chọn được các chủng nấm men có khả năng thích ứng với qui trình sản xuất và đáp ứng được yêu cầu về sản phẩm mà thực tế đòi hỏi (Lương Thị Phương Thảo, 2005)
Nấm men cũng như vi sinh vật nói chung dễ gây đột biến bằng các phương pháp vật lý hóa học Do vậy có thể dùng kỹ thuật di truyền để biến đổi đặc tính sinh học của nấm men theo hướng có lợi (Pomper S.C và ctv, 1968, dẫn liệu Nguyễn Khắc Tuấn, 1996)
Với đặc điểm sinh lý của nấm men, người ta dễ dàng thiết lập dây chuyền công nghệ cao để khai thác sản phẩm từ nấm men nhằm mục đích phục vụ cho thực tiễn sản xuất (Lương Thị Phương Thảo, 2005)
Nấm men có giá trị dinh dưỡng cao (bảng 2.1) Thành phần và hàm lượng axit amin trong protein nấm men giống protein động vật (bảng 2.2) Nấm men tương đối có đầy đủ các axit amin mà gia súc cần cho sự sống và dễ hấp thu (bảng 2.3) Ngoài ra các chất khoáng của nấm men chiếm 6,5 – 12% sinh khối chung của chất khô (bảng 2.4), và có nhiều Ca, P, Fe với P chiếm 45 – 49%, K chiếm 23 – 29%, Ca chiếm 1 – 7%, còn lại những nguyên tố vi lượng khác Al, Ba, S, Cr, Cu… Trong tế bào nấm men chứa rất nhiều Cholin (men bia chứa 600 mg/1 kg, men gia súc chứa 1200 mg/1 kg), vitamin E Trong tế bào nấm men được tổ hợp trong thức ăn gia súc thì giá trị dinh dưỡng của thức ăn sẽ được nâng cao Ví dụ 1 kg nấm men gia súc cho bò sữa sẽ làm
Trang 27tăng từ 6 – 7 lít sữa Đối với heo giống có thêm nấm men trong thức ăn cho khả năng sinh tinh dịch tăng, sức đề kháng của tinh trùng tăng và do đó khả năng thụ thai cao, heo thịt cho tăng trọng hơn đối chứng 8 – 10% và giảm được chi phí thức ăn (Trần Minh Tâm, 2000)
Việc bổ sung thức ăn ủ men trong chăn nuôi hiện nay đang khá phổ biến, nó làm tăng sự tiêu hóa, khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng, bổ sung protein và vitamin cho cơ thể gia súc Thiếu protein trong thành phần thức ăn gia súc làm gia súc non chậm lớn, gia cầm cho sản phẩm trứng kém… protein gần như chứa đầy đủ các axit amin trong đó có những axit amin không thể thay thế được như lysin, methionin, tryptophan Người ta ước tính, cứ 1 kg men gia súc chứa tới 1,03 – 1,16 đơn vị thức ăn với khoảng 380 – 480 g protein dễ tiêu hóa
Trong thời gian ngắn, nấm men có thể tích lũy lượng lớn protein do sử dụng nguồn đạm thông thường như muối amon trong dịch đường giúp sinh sản nhanh Nấm men có tốc độ sinh sản cực nhanh: để tăng số lượng cơ thể thì nấm men cần 1 – 2 giờ, trong khi đó gà con từ 200 giờ, heo con cần 600 giờ, bê nghé cần 1500 giờ (Nguyễn Lân Dũng, 1998)
Ngoài ra, trong nấm men còn có một số men tiêu hóa và chất đặc trị có tác dụng làm biến đổi cơ năng sống của gia súc và xúc tiến nhanh sự trao đổi chất của các cơ quan làm cho các protein và hydratcacbon của thức ăn thông thường dễ được hấp thụ, kích thích tính thèm ăn của gia súc, giúp sự tăng trọng và tăng hiệu xuất sử dụng thức
ăn
Nấm men có khả năng phát triển trên nhiều nguồn dinh dưỡng khác nhau, các nguồn dinh dưỡng rẻ tiền, có sẵn mà con người không thể sử dụng làm thực phẩm Nguyên liệu chủ yếu để sản xuất nấm men là phụ phế phẩm của nhà máy đường, rượu, giấy, mùn cưa… gần đây còn có khuynh hướng sử dụng những phụ phế phẩm ngành công nghiệp dầu hỏa (các hợp chất cacbuahydro)
2.3.6 Tình hình nghiên cứu và ứng dụng của nấm men
2.3.6.1 Nghiên cứu trong nước
Heo ăn thức ăn ủ men tăng trọng cao hơn đối chứng 10 – 20% (Nguyễn Khắc Tuấn, 1996) Đối với heo nái, thức ăn ủ men có tác dụng làm tăng tỷ lệ nuôi sống và
Trang 28trọng lượng heo cai sữa, giảm tỷ lệ hao hụt ở heo mẹ và rút ngắn thời gian động dục ở heo mẹ (Lương Thị Phương Thảo, 2005)
Nghiên cứu sử dụng sinh khối nấm men bia của nhà máy bia Thanh Hóa sản xuất thuốc uống Biofil Đây là loại thuốc uống bổ dưỡng giàu axit amin và vitamin nhóm B có tác dụng bổ dưỡng cao
Để tạo giống nấm men vừa có khả năng đường hóa cao lại vừa có khả năng tạo sinh khối lớn, viện kỹ thuật sinh học – Trung Tâm khoa học và Công Nghệ Quốc Gia
Việt Nam đã nghiên cứu cấy chuyển gen amylaze được tách khỏi chủng nấm men
Endomycopsis fibugera và gây biến nạp vào S.cerevisiae làm cho nó trở thành chủng
nấm men có hai đặc tính đường hóa cao và sinh tổng hợp protein cao dùng trong chế biến thức ăn (Trương Nam Hải, 1994, dẫn liệu Nguyễn Khắc Tuấn, 1996)
2.3.6.2 Nghiên cứu nước ngoài
3tboknmobp.II, 1967 (dẫn liệu Nguyễn Khắc Tuấn, 1996), đã chứng minh tính hiệu quả nhiều mặt khi bổ sung sinh khối nấm men vào khẩu phần của con vật, kết quả chỉ ra nếu khẩu phần được bổ sung 20 – 25% lượng protein nấm men theo nhu cầu hoặc bằng 5 – 10% trọng lượng thức ăn sẽ làm tăng trọng lượng trung bình hàng ngày của heo, gia cầm tăng từ 25 – 30%, làm giảm chi phí thức ăn và protein thức ăn trên 1 đơn vị sản phẩm khoảng 16 – 20%, tỷ lệ sử dụng protein trong cơ thể tăng khoảng 10 – 20%, thành phần và chất lượng thịt được cải thiện
Từ S.cerevisiae tái tổ hợp người ta đã chiết được các nhân tố hormon sinh
trưởng của bò β -endorphine, kháng nguyên hepatit B, tác nhân sinh trưởng trên da người, Interleukine – 2 của người, globulin miễn dịch trên chuột,…(M.L, Gaurgard và cộng sự, 1993, dẫn liệu Nguyễn Thành Đạt, 2005)