BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CHẤT HẤP PHỤ ĐỘC TỐ NẤM MỐC KLINOFEED TRONG THỨC ĂN HEO NUÔI THỊT Họ và
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CHẤT HẤP PHỤ ĐỘC TỐ NẤM MỐC KLINOFEED TRONG THỨC ĂN HEO NUÔI THỊT
Họ và tên sinh viên : NGUYỄN PHẠM THÀNH TRUNG
Niên khóa : 2003 - 2008
Trang 2ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA CHẤT HẤP PHỤ ĐỘC TỐ NẤM MỐC
KLINOFEED TRONG THỨC ĂN HEO NUÔI THỊT
Tác giả
NGUYỄN PHẠM THÀNH TRUNG
Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác sỹ ngành Thú y
Giáo viên hướng dẫn:
TS DƯƠNG DUY ĐỒNG
- 2009 -
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Họ tên sinh viên thực tập: Nguyễn Phạm Thành Trung
Tên luận văn: “Đánh giá hiệu quả của chất hấp phụ độc tố nấm mốc KLINOFEED trong thức ăn heo nuôi thịt”
Đã hoàn thành luận văn theo yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét đóng góp của hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa ngày
Giáo viên hướng dẫn (ký tên và ghi rõ họ tên)
TS Dương Duy Đồng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Chân thành biết ơn:
Ba mẹ người đã nuôi dưỡng và dành cho tôi những tình cảm ưu ái nhất
TS Dương Duy Đồng đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài
Ông bà Nguyễn Trí Công, chủ trại chăn nuôi heo Trí Công đã tạo điều kiện cho tôi thực hiện đề tài
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Thí nghiệm được tiến hành từ ngày 20/10/2008 đến ngày 05/02/2009 ở trại nuôi heo Trí Công tại 72A/Đoàn Văn Cừ, ấp Vàm, xã Thiện Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai Thí nghiệm được tiến hành trên 120 heo thịt có trọng lượng trung bình khoảng 29 kg, được chia làm 4 lô: lô I (thức ăn căn bản của trại), lô II (thức ăn căn bản của trại + 0,05% chất hấp phụ Klinofeed), lô III (thức ăn căn bản của trại + 0,1% chất hấp phụ Klinofeed), lô IV (thức ăn căn bản của trại + 0,2% chất hất phụ Klinofeed) Tất cả heo thí nghiệm đồng đều về trọng lượng, giống, lứa tuổi, giới tính
Các chỉ tiêu về tăng trọng: so sánh lô bổ sung chất hấp phụ với lô không bổ sung chất hấp phụ về chỉ tiêu tăng trọng sự khác biệt không có ý về mặt thống kê (P> 0,05) Tuy nhiên, lô có bổ sung chất hấp phụ độc tố nấm mốc tăng trọng hơn lô không
bổ sung chất hấp phụ độc tố
Thức ăn tiêu thụ bình quân (kg/con/ngày): cao nhất lô IV (1,15), kế đến lô III (1,12), lô II (1,08) và thấp nhất lô I (1,05)
Hệ số biến chuyển thức ăn (kg thức ăn/kg tăng trọng): cao nhất lô IV (1,962),
kế đến lô III (1,929), lô I (1,914) thấp nhất lô II (1,879) Hệ số chuyển biến thức ăn thấp ở tất cả các lô thí nghiệm
Hiệu quả kinh tế: những lô bổ sung chất hấp phụ độc tố mang lại hiệu quả kinh
tế hơn lô không bổ sung chất hấp phụ độc tố, do chênh lệch tăng trọng (kg/con) tăng so với lô không bổ sung chất hấp phụ độc tố Lô II (3,18), lô III (3,87), lô IV (4,35)
Trang 6MỤC LỤC
Trang
TRANG TỰA i
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ii
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT LUẬN VĂN iv
MỤC LỤC v
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH SÁCH CÁC BẢNG ix
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ x
DANH SÁCH CÁC HÌNH xi
CHƯƠNG I MỞ ĐẦU 1
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 2
1.2.1 Mục đích 2
1.2.2 Yêu cầu 2
CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ LUẬN 3
2.1 NẤM MỐC 3
2.1.1 Khái niệm về nấm mốc 3
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh sản và phát triển của nấm mốc 3
2.1.3 Ảnh hưởng của nấm mốc đối với thức ăn trong chăn nuôi 4
2.1.3.1 Ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng 4
2.1.3.2 Ảnh hưởng đến mùi vị và tính ngon miệng 4
2.1.3.3 Các loại nông sản dễ nhiễm nấm mốc 4
2.2 ĐỘC TỐ NẤM MỐC 5
2.2.1 Định nghĩa 5
2.2.2 Tác hại của độc tố nấm mốc 6
2.2.3 Một số loại độc tố 7
2.2.3.1 Độc tố của nấm Aspergillus 7
2.2.3.2 Độc tố nấm Fusarium 16
Trang 72.2.4 Tình hình nhiễm độc tố nấm mốc trên nông sản ở Việt Nam 19
2.3 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG TÁC HẠI CỦA NẤM MỐC 20
2.3.1 Trước khi thu hoạch 20
2.3.2 Sau khi thu hoạch 20
2.3.3 Các phương pháp làm giảm độc tố nấm mốc trong thực liệu 21
2.3.3.1 Biện pháp vật lý 21
2.3.3 2 Biện pháp hoá học 22
2.3.3.3 Biện pháp sinh học 22
2.3.3.4 Điều chỉnh dinh dưỡng 22
2.3.3.5 Làm bất hoạt độc tố bằng chất hấp phụ (adsorbents) hoặc kết dính độc tố (binders) 22
2.4 VÀI NÉT VỀ TRẠI CHĂN NUÔI HEO TRÍ CÔNG 25
2.4.1 Vị trí tiến hành thí nghiệm 25
2.4.2 Lịch sử hình thành 25
2.4.3 Nhiệm vụ của trại 25
2.4.4 Cơ cấu đàn 25
2.4.5 Phòng bệnh 25
CHƯƠNG III PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM 27
3.1 THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM THÍ NGHIỆM 27
3.1.1Thời gian 27
3.1.2 Địa điểm 27
3.2 BỐ TRÍ THÍ NGHIỆM 27
3.3 ĐIỀU KIỆN THÍ NGHIỆM 28
3.3.1 Đối tượng khảo sát 28
3.3.2 Chuồng trại thí nghiệm 28
3.3.3 Chăm sóc nuôi dưỡng 28
3.3.4 Vệ sinh chuồng trại 29
3.3.5 Thú y và phòng bệnh 29
3.4 PHƯƠNG PHÁP VÀ CHỈ TIÊU KHẢO SÁT 29
3.4.1 Khả năng tăng trọng 29
3.4.2 Tiêu thụ thức ăn 30
Trang 83.4.3 Chỉ số chuyển biến thức ăn (CSCBTA) 30
3.4.4 Tỷ lệ nuôi sống và tỷ lệ tiêu chảy 30
3.4.5 Hiệu quả kinh tế 30
3.4.6 Xử lý số liệu 30
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 KHẢ NĂNG TĂNG TRỌNG 31
4.1.1 Trọng lượng heo lúc bắt đầu và kết thúc thí nghiệm 31
4.1.2 Tăng trọng tích lũy và tăng trọng tuyệt đối của heo 32
4.2 TIÊU THỤ THỨC ĂN 34
4.3 HỆ SỐ CHUYỂN BIẾN THỨC ĂN 35
4.4 TỶ LỆ NUÔI SỐNG VÀ TỶ LỆ TIÊU CHẢY 36
4.5 HIỆU QUẢ KINH TẾ 36
4.6 THẢO LUẬN CHUNG 38
CHƯƠNG V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39
5.1 KẾT LUẬN 39
5.2 ĐỀ NGHỊ 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 9HSCBTA : Hệ số chuyển biến thức ăn
Ppb : Part per billion (phần tỷ)
UV : Ultra violet (tia cực tím)
(Sắc ký lớp mỏng) WHO : World Health Organization
(Tổ chức Y tế thế giới) FAO : Food and Agriculture Organization
(Tổ chức nông lương quốc tế)
Trang 10DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Giá trị dinh dưỡng của bắp bị nhiễm nấm mốc 4
Bảng 2.2 Khả năng chuyển hoá AFB1 từ động vật vào thực phẩm con người 12
Bảng 2.3 Mức giới hạn độc tố nấm mốc tối đa trong thực phẩm và nguyên liệu 12
Bảng 2.4 Mức Aflatoxin cho phép ở một số nước 13
Bảng 2.5 Giới hạn mức nhiễm độc tố vi nấm ở Việt Nam 13
Bảng 2.6 Quy định về mức tối đa độc tố AF trong thức ăn hỗn hợp 14
Bảng 2.7 Liều LD50 của AFB1 cho uống một liều trên động vật 15
Bảng 2.8 Hàm lượng AF trong một số nguyên liệu làm thức ăn gia súc 19
Bảng 2.9 Hàm lượng AF theo mùa ở các tỉnh phía Nam 20
Bảng 2.11 Khả năng kết dính Độc tố nấm mốc của Klinofeed®(theo phòng thí nghiệm của UNIPOINT) 24
Bảng 3.1: Bố trí thí nghiệm 27
Bảng 3.2 Hàm lượng AFB1 trong mẫu thức ăn 29
Bảng 4.1 Trọng lượng heo lúc bắt đầu và kết thúc thí nghiệm 31
Bảng 4.2 Tăng trọng tích luỹ và tăng trọng tuyệt đối của heo 32
Bảng 4.3 Thức ăn tiêu thụ bình quân của heo (kg/con/ngày) trong thời gian thí nghiệm .34
Bảng 4.4 Hệ số chuyển biến thức ăn trong thời gian thí nghiệm 35
Bảng 4.5 Tỷ lệ nuôi sống tỷ lệ tiêu chảy .36
Bảng 4.6 Hiệu quả kinh tế 37
Trang 11DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 4.1 Trọng lượng ban đầu thí nghiệm 31
Biểu đồ 4.2 Trọng lượng kết thúc thí nghiệm 32
Biểu đồ 4.3 Tăng trọng tuyệt đối của heo 33
Biểu đồ 4.4 Tiêu thụ thức ăn trong ngày của heo trong thời gian thí nghiệm 34
Biểu đồ 4.5 Hệ số chuyển biến thức ăn của heo trong thời gian thí nghiệm 35
Trang 12DANH SÁCH CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1 Các loại hạt bị nhiễm nấm mốc 5
Hình 2.2 cấu trúc hoá học của aflatoxin 8
Hình 2.3 Aspergillus flavus và Aspergillus parasiticus 8
Hình 2.4 Hình thái của nấm Fusarium 17
Hình 2.5 Hình thái nấm Penicillin 18
Hình 3.1 Heo thí nghiệm 28
Trang 13
Nấm mốc và độc tố nấm mốc có trong thức ăn sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ của động vật Nó không những làm giảm giá trị dinh dưỡng của thức ăn mà còn gây bệnh (phá huỷ tế bào gan, thận, ảnh hưởng lên hệ miễn dịch, ăn mòn thành ruột, dạ dày, làm chậm lớn còi cọc, liệt hai chi sau,.v.v ), một số loại độc tố có khả năng gây ung thư, thậm chí còn gây chết trong trường hợp nhiễm với hàm lượng cao
Do đó, vấn đề hiện nay làm sao hạn chế được tối đa thiệt hại do nấm mốc và độc tố nấm mốc gây ra Có nhiều biện pháp được đề ra nhằm hạn chế tác hại của chúng như: phương pháp vật lý (dùng nhiệt, phơi nắng, chiếu xạ,.v.v ), phương pháp hoá học (trích ly bằng dung môi, dùng amoniac,.v.v ), phương pháp sinh học (dùng vi sinh vật đối kháng hay cạnh tranh có khả năng phá huỷ độc tố,.v.v ) Những biện pháp này có thể diệt được nấm mốc nhưng độc tố của chúng vẫn tồn tại Chính vì vậy, người ta đã nghiên cứu ra một giải pháp khác, ít tốn kém mà có thể làm mất hiệu lực của độc tố nấm mốc Đó là sử dụng chất hấp phụ độc tố nấm mốc Chất này kết dính độc tố và thải chúng ra ngoài theo phân Các chất này được trộn vào trong thức ăn của gia súc, gia cầm
Hiện nay trên thị trường Việt Nam có nhiều loại sản phẩm hấp phụ độc tố nấm mốc có thành phần và giá cả khác nhau, với kiểu tác động khác nhau Tuy nhiên để
Trang 14biết được hiệu quả của chất hấp phụ độc tố nói trên cần có những nghiên cứu cụ thể ở điều kiện Việt Nam Xuất phát từ những vấn đề trên và được sự cho phép của Bộ môn Dinh Dưỡng, Khoa Chăn Nuôi - Thú Y Trường Đại học Nông Lâm TP HCM, sự hướng dẫn của TS Dương Duy Đồng và sự đồng ý giúp đỡ của trại chăn nuôi heo Trí
Công chúng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá hiệu quả của chất hấp phụ độc tố nấm mốc KLINOFEED trong thức ăn heo nuôi thịt”
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU
1.2.1 Mục đích
Đánh giá hiệu quả của chất hấp phụ độc tố nấm mốc bổ sung trong thức ăn heo nuôi thịt lên sự tăng trọng, tình trạng sức khoẻ đồng thời xem việc bổ sung chất hấp phụ độc tố nấm mốc có mang lại hiệu quả kinh tế đối với người chăn nuôi hay không ?
1.2.2 Yêu cầu
Theo dõi ảnh hưởng của chất hấp phụ độc tố nấm mốc trong thức ăn heo nuôi thịt có trọng lượng ban đầu khoảng 29 kg đến xuất chuồng (khoảng 80 – 100 kg) thông qua các chỉ tiêu về tăng trọng, tiêu chảy, tỷ lệ chết và loại thải, hệ số chuyển biến thức
ăn, hiệu quả kinh tế của việc bổ sung chất hấp phụ này
Trang 15ký sinh hoặc hoại sinh trên nhiều loài vật khác nhau Ngoài ra, nấm mốc còn có khả năng phân giải mạnh nhiều hợp chất hữu cơ như cellulose, protein, chitin, pectin,…nên nhiều loại được sử dụng trong công nghiệp sản xuất các chế phẩm enzyme, acid hữu
cơ và một số kháng sinh Ngoài các tác dụng có lợi kể trên, nấm mốc là nguyên nhân gây hư hỏng nhiều loại ngũ cốc, lương thực thực phẩm Bên cạnh những tổn thất mang tính chất cơ học đơn thuần, nấm mốc còn ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và gia súc, do trong quá trình sinh sản và phát triển nấm mốc đã sinh ra nhiều độc chất khác nhau xâm nhập vào cơ chất
2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh sản và phát triển của nấm mốc
Nhân tố ảnh hưởng đến sinh sản và phát triển của nấm mốc là lượng nước có trong cơ chất, nồng độ ion H+, độ ẩm và nhiệt độ môi trường, thành phần các chất trong không khí, hàm lượng chất dinh dưỡng, điều kiện bảo quản và các yếu tố bảo quản khác Tuy nhiên, có 4 nhân tố đóng vai trò quan trọng là hàm lượng nước tự do trong vật chất, nhiệt độ và độ ẩm môi trường, thành phần không khí và điều kiện bảo quản
Trang 162.1.3 Ảnh hưởng của nấm mốc đối với thức ăn trong chăn nuôi
2.1.3.1 Ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng
Sự phát triển của nấm mốc trên thức ăn trong chăn nuôi đã gây những tổn thất khác nhau về số lượng lẫn chất lượng Nấm mốc phát triển trên nguyên liệu thức ăn không những làm biến đổi màu sắc, mùi vị, mà còn ảnh hưởng đến giá trị dinh dưỡng như: protein bị thủy phân, lượng lipid bị giảm thấp, lượng chất xơ trong hạt tăng lên, ảnh hưởng đến quá trình tiêu hoá
Ví dụ: bắp bị nhiễm nấm mốc giảm giá trị dinh dưỡng như sau:
Bảng 2.1 Giá trị dinh dưỡng của bắp bị nhiễm nấm mốc
Nguyên
liệu
Năng lượng trao đổi (kcal/kg)
Protein (%)
Béo thô (%)
Khoáng (%)
Tinh bột(%)
Đường (%)
Bắp nhiễm
mốc
(Trích dẫn bởi Đậu Ngọc Hào và Lê Thị Ngọc Diệp, 2003)
Ngoài ra bắp có thể giảm tới 25% giá trị dinh dưỡng nếu bị nhiễm nấm mốc
nặng, màu sắc bị biến đổi và có mùi hôi của mốc
2.1.3.2 Ảnh hưởng đến mùi vị và tính ngon miệng
Theo Đậu Ngọc Hào và Lê Thị Ngọc Diệp (2003), trong quá trình phát triển nấm mốc bài tiết ra môi trường những sản phẩm chuyển hoá, đặc biệt là các men phân giải
chất dinh dưỡng như lipase, protease, amylase… gây biến đổi mùi vị, màu sắc, ảnh hưởng đến sự chọn lọc thức ăn của gia súc gia cầm Ngoài ra, nấm mốc còn sản sinh ra nhiều độc chất khác nhau xâm nhập vào trong cơ chất, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ của người và
gia súc
2.1.3.3 Các loại nông sản dễ nhiễm nấm mốc
Các loại nông sản dễ nhiễm gồm có: Hạt đậu phộng và bánh dầu phộng nhiễm nhiều nhất, kế đến là bắp, các loại hạt đậu khác và bánh dầu của nó, các loại hạt cốc và sản phẩm phụ của nó, hạt hướng dương và bánh dầu hướng dương
Trang 17Hạt bắp Bánh dầu phộng Hạt lúa mì
Hình 2.1 Các loại hạt bị nhiễm nấm mốc
2.2 ĐỘC TỐ NẤM MỐC
2.2.1 Định nghĩa
Theo Dương Thanh Liêm (2004), độc tố nấm mốc được phiên dịch ra từ chữ
“mycotoxin” là sản phẩm của quá trình chuyển hoá từ nấm mốc, nó không phải là hợp chất có trong nguyên liệu thức ăn do sự tổng hợp của thực vật và động vật Độc tố nấm mốc xuất hiện trong nguyên liệu sau quá trình thu hoạch, bảo quản và chế biến
Về chủng loại độc tố nấm, càng ngày người ta phát hiện ra nhiều loại độc tố Cho đến nay hơn 300 loại độc tố nấm mốc khác nhau được phát hiện Trong số đó có những độc tố quan trọng như: Aflatoxin (AF), deoxynivalenol (DON), fumonisins (FUM), ochratoxin (OTA), T-2 toxin vì chúng gây nguy hiểm đến sức khoẻ con người
và động vật
Thông thường trên một mẫu kiểm tra, ít khi người ta gặp duy nhất một loại độc
tố nấm mốc, mà thường có nhiều loại khác nhau cùng hiện diện Do mỗi loại độc tố nấm mốc có một cấu trúc hóa học riêng nên mỗi loại sẽ có cơ chế gây độc khác nhau trên những loài động vật khác nhau và mức độ tác hại cũng khác nhau Ví dụ: Aflatoxin có độc tính rất mạnh, có thể gây độc cho nhiều loài động vật khác nhau với liều lượng khác nhau, nhưng nhạy cảm nhất là cá hồi và vịt Zearalenone gây hại chủ yếu trên heo và bò sữa Vomitoxin (DON) tác hại chủ yếu ở heo Fumonisins gây hại chủ yếu ở heo và ngựa Tuy nhiên tác dụng gây độc của độc tố nấm mốc trên cơ thể
động vật thường không độc lập mà có tác dụng tương hỗ, hiệp đồng lẫn nhau
Trang 182.2.2 Tác hại của độc tố nấm mốc
Theo ước tính của tổ chức Nông Lương Quốc Tế (FAO), có khoảng 25% nông sản của thế giới chịu ảnh hưởng nghiêm trọng bởi độc tố nấm mốc Ngoài những thiệt hại trên lương thực, thực phẩm còn những tổn thất khác là giảm khả năng sản xuất, xuất khẩu, chi phí phân tích mẫu, chi phí khử độc tố, chi phí đền bù hoặc trợ giúp nông dân khi bị thiệt hại, v.v… Không chỉ gây thiệt hại về kinh tế, việc nhiễm độc tố nấm mốc còn gây ra những tác hại nghiêm trọng lên sức khoẻ con người và động vật Một
số độc tố nấm mốc là tác nhân gây ung thư (aflatoxin M1), quái thai Độc tố nấm mốc
ít gây ra ngộ độc cấp tính, thường gây nhiễm độc từ từ Chúng tác động lên hầu hết các
cơ quan bộ phận trong cơ thể như:
- Gây tổn thương tế bào gan, viêm túi mật, xuất huyết hoại tử và thoái hoá mỡ gan rất nặng Aflatoxin có nguy cơ gây ung thư gan rất cao nếu thời gian nhiễm kéo dài Do gan hư hại nên thường không khử được độc tố nội sinh, ngoại sinh trong cơ thể, những độc tố này làm cho thận bị tổn thương rất nặng gây ra viêm, nhiễm trùng
- Thận bị sưng to làm cho khả năng bài thải chất độc ra khỏi cơ thể cũng giảm,
vì thế làm cho triệu chứng ngộ độc càng trở nên trầm trọng
- Làm giảm khả năng đề kháng của động vật, ức chế hệ thống sinh kháng thể Bệnh tích thường thấy trên thú: dạ dày bị hoại tử xuất huyết thành những ổ loét, niêm mạc ruột bị bong tróc, đôi khi khô lại thành cái lõi bên trong Do đó, khả năng tiêu hoá thức ăn và hấp phụ chất dinh dưỡng trong thức ăn giảm,làm cho thú gầy yếu, dễ mắc bệnh.v.v
- Làm thay đổi hoạt động sinh lý bình thường, gây rối loạn sinh sản Ở thú cái mang thai có thể gây ra chết thai, khô thai hoặc gây sẩy thai Đối với gia cầm độc tố nấm mốc làm cho tỷ lệ chết phôi giai đoạn đầu rất cao, tỷ lệ nở rất thấp, làm giảm sinh trưởng, sức sản xuất trứng, biến dạng bộ xương, chân đi vòng kiềng
- Gây động dục giả, sẩy thai trên thú mang thai Độc tố zearalenone kích thích
âm hộ, núm vú sưng đỏ, cơ tử cung nhu động mạnh gây ra sẩy thai Heo con bú sữa
mẹ cũng bị ngộ độc như heo mẹ, sưng âm hộ, tiêu chảy và chết nhanh
- Một số độc tố nấm có khuynh hướng gây ung thư Độc tố nấm mốc không những gây thiệt hại khá lớn trong chăn nuôi, mà sự tồn dư độc tố trong sản phẩm chăn
Trang 19nuôi có thể gây ung thư cho người Chính vì vậy, một số độc tố như AF được nhiều nước trên thế giới đưa vào luật để kiểm soát thực phẩm
2.2.3 Một số loại độc tố
2.2.3.1 Độc tố của nấm Aspergillus
Đặc điểm hình thái
Theo khoá phân loại thông dụng của Raper và Fennel (1965 – trích dẫn bởi Lê
Anh Phụng, 2002), Aspergilus là một nhóm lớn gồm hơn 100 loài được xếp thành 18
nhóm loài Chúng rất dễ nhận diện bởi khuẩn lạc có màu vàng lục hay màu xanh lục và
ít nhiều vón cục, đường kính khoảng 3 – 5 cm (sau 7 ngày nuôi cấy trên môi trường Crapek) Cuống sinh bào tử trong suốt, bề mặt thô, xù xì, chiều dài dưới 1mm Thể bọng hình cầu hay hơi cầu, đường kính 10 – 65 µm Thể bình thường có 2 lớp, kích thước 10 – 15 µm và 3 – 5 µm, đôi khi chỉ có một lớp Các đính bào tử có kích thước khá lớn (đường kính 5 – 7 µm), hình cầu, màu vàng nâu đến hơi lục, vách trơn láng hoặc hơi nhăn Bào tử có sức đề kháng cao, sống lâu trong điều kiện khô, hạch nấm thường có màu nâu đỏ đến đen, gặp ở một số chủng
Đặc điểm sinh thái
Aspergillus flavus (A flavus) và Aspergillus paraciticus (A parasciticus) ở
khắp nơi (trong đất và trên nông sản), đặc biệt trên các loại hạt có dầu Đậu phộng, bắp
và các hạt bông vải là các nông sản dễ nhiễm A flavus Các loại ít bị nhiễm là lúa mì, gạo, cùi dừa, cám, hạt kê Đặc biệt Aspergillus flavus không phát triển trên đậu tương
(Moss, 1991 – trích từ Lê Anh Phụng, 2002).Ít gặp trên sữa, trứng, phó mát Nhiệt độ 30- 350C thích hợp cho Aspergillus phát triển nên chúng thường chiếm vai trò chủ yếu
trên nông sản ở các nước nhiệt đới Kết quả khảo sát ở Việt Nam của Đặng Hồng Miên
và ctv, 1992 – trích từ Lê Anh Phụng, 2002 trên lúa, gạo, bắp khoai, sắn cho thấy các
loài Aspergillus chiếm ưu thế tuyệt đối trong giai đoạn tồn trữ
Aflatoxin (AF)
Aflatoxin là hợp chất hữu cơ có nhân đa mạch vòng (xem công thức), có sự biến đổi ở vị trí – R và X tạo ra một số dẫn xuất hoá học khác nhau
Trang 20Hình 2.2 cấu trúc hoá học của aflatoxin
Aflatoxin phần lớn do hai loài nấm Aspergillus flavus và Aspergillus parasiticus sản sinh ra Cả hai loại này đều sống ký sinh, đặc điểm chung của loài nấm
này là có cuống sinh bào tử thẳng hoặc cong, có hoặc không có vách ngăn Cuống xuất phát từ tế bào chân, đầu cuống phình to thành cái bọng có hình tròn hay chùy Trên bọng có nhiều tế bào giống cái chai gọi là thể bình, phía trên thể bình thắt lại giống như cổ chai Thể bình sinh ra bào tử nối tiếp nhau như hạt chuỗi gọi là bào tử đính
Trang 21+ AFB1, AFB2: Trong ánh sáng UV của đèn huỳnh quang phát ra màu xanh nước biển
+ AFG1, AFG2: Trong ánh sáng UV của đèn huỳnh quang phát ra màu xanh lá cây
Giữa 4 loại trên thì AFB1 chiếm số lượng nhiều nhất và cũng gây ngộ độc nhiều
nhất Giống A.flavus chỉ sinh ra loại AFB1, AFB2 trên hạt ngũ cốc (bắp), trong khi đó
A parasiticus có thể sinh ra 4 loại AFB1, AFB2, AFG1, AFG2 ở những hạt chứa nhiều dầu (hạt lạc, khô dầu lạc)
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sản sinh aflatoxin
Phụ thuộc vào giống nấm mốc, loại cơ chất, điều kiện môi trường Hầu hết các
A.parasiticus đều sản sinh AFB, AFG Trong khi đó A.flavus chỉ sản sinh AFB và chỉ
có khoảng 50% chủng có khả năng sinh độc tố (Klich và Pitt, 1988 – trích dẫn Lâm Thanh Thuý Trân, 1999) Các acid béo có lẽ đóng vai trò quan trọng trong việc tạo thành tiền cơ chất của AF do trên hạt có dầu, nhất là ở đậu phộng, nấm mốc sinh độc
tố có nhiều hơn các loại ngũ cốc khác
Hàm lượng AF tỷ lệ với khối lượng hệ sợi nấm Nhiệt độ 250C thuận lợi cho việc sản sinh AF sau 7- 9 ngày, nhưng nhiệt độ cao hơn 400C hay thấp hơn 150C ức chế cả sự sinh trưởng của nấm và sản xuất AF Lượng nước trong đậu phộng 15 – 30%
ở 320C sẽ giúp tạo AF sau 2 ngày Tăng CO2, N2, giảm O2 giảm sản xuất AF Nhìn chung, nếu điều kiện thuận lợi cho nấm phát triển thì cũng thuận lợi cho sự sản sinh
AF
+ Cơ chế gây bệnh của aflatoxin
Aflatoxin có khả năng liên kết với ADN trong nhân tế bào Sự liên kết giữa aflatoxin và ADN trong nhân tế bào gây ức chế enzyme polymerase của ARN Aflatoxin làm hạn chế trong tổng hợp ARN và ức chế polymerase t-ARN Đây là nguyên nhân làm giảm súc tổng hợp protein trong tế bào Người ta đã chứng minh rằng vòng α-,β lacton không bão hoà có trong phân tử aflatoxin làm cho hợp chất này
có hoạt tính gây ung thư và cũng chính vòng lacton này gây ức chế tổng hợp ADN trong nhân tế bào, do đó nó làm rối loạn sự tăng trưởng bình thường của tế bào (trích dẫn từ Dương Thanh Liêm và ctv, 2002)
Trang 22+ Sự hấp thu, phân bố và bài thải
Sau khi hấp thu qua đường tiêu hóa, độc tố vận chuyển trong hệ tuần hoàn nhờ liên kết với các tế bào máu hoặc protein huyết tương Đối với AFB1, người ta nhận thấy hơn 90% độc tố ở dạng liên kết với albumin là thành phần quan trọng của protein huyết tương (Wong, 1980- trích dẫn Lê Anh Phụng, 2002) Các nghiên cứu trên chuột cho thấy AF cạnh tranh với phenylbutazon ở vị trí gắn với albumin nhưng không cạnh tranh với vị trí gắn của cholate hoặc warfarin (Dirr, 1987- trích dẫn Lê Anh Phụng, 2002) Ngoài liên kết có tính thuận nghịch trên, AF còn liên kết với thành phần lysin của albumin huyết tương tạo thành dạng schiff base (Sabbioni, 1987- trích dẫn Lê Anh Phụng, 2002)
- Phân bố và chuyển hoá Aflatoxin trong cơ thể
Sau khi qua hệ thống tĩnh mạch cửa, AFB1 tập trung chủ yếu ở cơ quan đích là gan Các tế bào gan có tính thấm cao, hoạt động chuyển hoá cao và có khả năng tạo liên kết cộng hoá trị với các đại phân tử (Wilson, 1985- trích dẫn Lê Anh Phụng, 2002) Ở loài nhai lại, thận có thể chứa hàm lượng AF cao nhất và AFM1 cũng được phát hiện trong sữa (Stubblefield, 1983 ;Fernandes, 1977- trích dẫn Lê Anh Phụng, 2002) Trên loài cầm, mức AF cao nhất ở mề, gan, thận khi cho ăn khẩu phần có chứa AFB1 (Gregery, 1983; Chen, 1984; Wolzak, 1996- trích dẫn Lê Anh Phụng, 2002) Thông thường AFM1 cũng xuất hiện trong các loại mô ở dạng tự do hoặc liên kết
Theo Keyl, (1971) - trích dẫn Lê Anh Phụng, 2002 trong thịt bò, thịt heo và thịt
gà không phát hiện được AFB1 khi khẩu phần có mức AFB1 lần lượt là 1,8ppm, 0,8ppm và 1,6ppm Ở cá không phát hiện AFBB 1 và các chất biến dưỡng của AFB1
Trang 23trong thành phần thịt của cá mặc dù được cho ăn thức ăn có AFB1B (Plakas, 1991- trích dẫn Lê Anh Phụng, 2002)
- Bài thải Aflatoxin
Trong các loại độc tố nấm mốc thì AFB1 là một trong những độc tố nấm mốc bị chuyển hóa và bài thải nhanh Theo Patters và Robert (1971- trích dẫn bởi Đậu Ngọc Hào và Lê Ngọc Diệp, 2003), các chất chuyển hóa được bài thải ra khỏi cơ thể qua con đường chính là gan, mật và đào thải qua phân hay qua thận theo đường bài tiết và nước tiểu
- Bài thải qua đường tiết niệu: phần lớn AFBB 1 được bài thải qua nước tiểu, ở bò
5 ngày sau khi tiêm 1mg hỗn hợp aflatoxin/kg thể trọng vẫn còn phát hiện AFB1 B trong nước tiểu và bài thải qua nước tiểu là quan trọng
- Bài thải qua mật: loại thải các chất qua mật có liên quan mật thiết đến tuần
hoàn gan mật và bài thải qua mật chiếm vị trí quan trọng thứ hai sau đường tiết niệu Sau khi hấp thu và chuyển hóa đến gan, các độc tố không phân cực thường tạo thành dạng liên kết với một gốc hóa học có tính phân cực Các chất được bài thải qua mật thường ở dạng mang cả hai tính chất phân cực và không phân cực Trọng lượng phân
tử là yếu tố quyết định con đường loại thải và mỗi loài có một mức nhất định gọi là ngưỡng Nếu dưới ngưỡng đó thì được bài thải chủ yếu qua nước tiểu còn nếu trên ngưỡng đó thì các chất được bài thải qua mật Hoạt động của hệ mono-oxygenase thường gây gia tăng bài tiết mật do kích thích tế bào gan và mức giải phóng mật ra (Matthews, 1980 – trích dẫn Lê Anh Phụng, 2002)
- Bài thải qua phân: được coi là hiệu quả kém của sự hấp thu qua niêm mạc tiêu hoá hoặc do sự bài tiết của mật giúp loại thải độc tố và các chất chuyển hoá của chúng qua ống tiêu hoá
- Bài thải qua trứng: độc tố có thể được chuyển qua trứng mặc dù được bài tiết
qua mật và đường ruột
- Bài thải qua sữa: chiếm khoảng 1 - 3% lượng AFM1 ăn vào được chuyển thành AFM1 trong sữa, nhưng sự chuyển hóa này còn phụ thuộc vào cá thể thú (Pittet,
1998 – trích dẫn Lê Anh Phụng, 2002)
Trang 24Bảng 2.2 Khả năng chuyển hóa AFBB 1 từ động vật vào thực phẩm con người
Loài động vật Thực phẩm Loại AF Tỷ lệ chuyển hoá
chuyển thành AFM1 trong sữa, nhưng khả năng chuyển hóa còn tùy thuộc vào cơ thể
thú (Pittet, 1998- trích dẫn bởi Lê Anh Phụng, 2002) cũng có thể chuyển qua trứng
mặc dù đa số được bài tiết qua mật và ruột (Fermandez, 1997- trích dẫn bởi Lê Anh
Phụng, 2002)
+ Mức cho phép Aflatoxin trong thức ăn gia súc, gia cầm
Để giảm thiểu tác hại của AF đến sức khoẻ con người và động vật, các tổ chức
quốc tế như tổ chức Nông Lương thế giới (FAO), tổ chức Y tế thế giới (WHO), khối
thị trường chung Châu Âu và một số nước khác đã đưa ra giới hạn cho phép sự có mặt
của AF trên lương thực thực phẩm dùng cho người và gia súc Theo FAO, (1995)-
trích dẫn Lê Anh Phụng, (2002), có 77 nước đã quy định về độc tố nấm mốc trong
lương thực, thực phẩm nhưng đa số chỉ liên quan đến AF Có 53 nước quy định mức
Trang 25Bảng 2.4 Mức Aflatoxin cho phép ở một số nước
Úc Các loại thức ăn
Đậu phộng
5(T) 15(T)
Trừ đậu phộng
Canada Hạt và các sản phẩm hạt
Thứ ăn chăn nuôi
5(T) 20(T)
Gồm đậu phộng
Nhật
Các loại thức ăn Thức ăn chăn nuôi Thức ăn chăn nuôi
0(B) 20(B) 10(B)
Thú không cho sữa Thú cho sữa (FAO, 1995 - trích dẫn bởi Lê Anh Phụng, 2002) T: Aflatoxin tổng số
B: Aflatoxin B1
Năm 1992, Bộ Y Tế Việt Nam quy định mức AFB1 hoặc tổng số AF được cho
phép trong thức ăn của người là 5- 20 ppb và AFM1 trong sữa là 0,05 – 0,5 ppb Hiện
nay, mức AFB1 cho phép trong thức ăn của người là 10 ppb và mức AFM1 trong sữa là
0,5 ppb (Bộ Y Tế, 1998 - trích dẫn bởi Lê Anh Phụng, 2002)
Bảng 2.5 Giới hạn mức nhiễm độc tố vi nấm ở Việt Nam
Stt Độc tố vi nấm Sản phẩm Giới hạn nhiễm tối đa
cho phép (ppb)
2 AF tổng số hoặc AFB1 Thức ăn gia súc 10- 20
(QĐ số 505 YT/QĐ ngày 13/04/1992 Bộ Y Tế Việt Nam - trích dẫn bởi Lê Anh
Phụng, 2002)
Trang 26Bảng 2.6 Quy định về mức tối đa độc tố AF trong thức ăn hỗn hợp
Loại vật nuôi AFBB 1
(μg/kg)
Aflatoxin tổng số(μg/kg)
Gà con từ 1- 28 ngày tuổi <20 <30
Bò nuôi lấy sữa <20 <50
(Nguồn: Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2001 – trích dẫn Lê Anh Phụng, 2002)
Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (2001) quy định mức AFB1 trong nguyên liệu thức ăn gia súc nhập khẩu như bắp và các loại khô dầu không được quá
100 ppb, các nguyên liệu khác (tấm, cám, sắn khô, lúa mì, đậu tương) không được quá
50 ppb
+ Tác dụng gây độc của Aflatoxin
Aflatoxin là chất độc nguy hiểm với các loài gia súc, gia cầm và con người Tuy nhiên, mức độ gây độc hoàn toàn khác nhau, phụ thuộc vào giống, loài, lứa tuổi, giới tính, thời gian và hàm lượng chất độc ăn phải Nhìn chung, gia cầm mẫn cảm với AF nhiều hơn gia súc, thú non thường mẫn cảm hơn thú trưởng thành Theo Đặng Hồng Miên (1980), có thể sắp xếp thứ tự mẫn cảm của các loài, giống gia súc, gia cầm với
AF như sau:
Gia cầm: Vịt con > gà tây, ngỗng, trĩ > gà giò
Gia súc: Heo > trâu, bò > dê, cừu
- Gây nhiễm độc cấp tính
Nhiễm độc cấp tính xảy ra khi động vật ăn vào một lượng khá lớn độc tố Tính gây độc cấp thường thể hiện ở liều gây chết 50% động vật thí nghiệm (LD50) Thường thú non mẫn cảm hơn thú trưởng thành Sau đây là liều gây chết 50% của AFB1 trên động vật cho uống một liều duy nhất