1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT CÁC TRIỆU CHỨNG ĐƯỜNG HÔ HẤP VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NÀY TRÊN HEO TỪ SƠ SINH ĐẾN 94 NGÀY TUỔI TẠI MỘT TRẠI HEO CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH ĐỒNG NAI Họ

78 196 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 847,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khả năng tồn tại của một số vi sinh vật trong không khí chuồng nuôi .... ¾ Ghi nhận các điều kiện về tiểu khí hậu chuồng nuôi nhiệt độ, ẩm độ, NH3, mật độ của lô heo theo dõi trong thời

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT CÁC TRIỆU CHỨNG ĐƯỜNG HÔ HẤP VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NÀY TRÊN HEO TỪ SƠ SINH ĐẾN 94 NGÀY

TUỔI TẠI MỘT TRẠI HEO CÔNG NGHIỆP

Trang 2

KHẢO SÁT CÁC TRIỆU CHỨNG ĐƯỜNG HÔ HẤP VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ BỆNH NÀY TRÊN HEO TỪ SƠ SINH ĐẾN 94 NGÀY TUỔI TẠI MỘT

TRẠI HEO CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH ĐỒNG NAI

Tác giả

NGUYỄN MINH TUẤN

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu

cấp bằng Bác Sỹ ngành

Thú Y

Giáo viên hướng dẫn:

Ths NGUYỄN THỊ PHƯỚC NINH

BSTY ĐỖ TIẾN DUY

Tháng 09 năm 2009

Trang 3

LỜI CẢM TẠ !

Tôi xin kính dâng lòng biết ơn sâu sắc đối với cha mẹ và gia đình, đã sinh thành dưỡng dục và là chỗ dựa vững chắc cho con đạt được thành quả như ngày hôm nay Xin chân thành cảm ơn !

Ths Nguyễn Thị Phước Ninh

BSTY Nguyễn Tiến Duy

đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ cho tôi trong thời gian thực tập tốt nghiệp

Xin chân thành cảm ơn !

Ban giám hiệu trường đại học Nông Lâm Thành Phố Hồ Chí Minh

Ban chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi – Thú Y

Quý thầy cô đã truyền đạt cho tôi những kiến thức vô cùng quý báu trong những năm theo học đại học

Xin chân thành cảm ơn !

Bác Thơm, anh Long và các anh em công nhân làm trong trại đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình tiến hành thực hiện đề tài

Xin gửi lời cảm ơn !

Đến thầy chủ nhiệm và tập thể lớp Thú Y 30 đã động viên, chia sẻ cùng tôi trong thời gian học tập và sinh hoạt tại trường

Trang 4

TÓM TẮT

Đề tài nghiên cứu “Khảo sát các triệu chứng đường hô hấp và hiệu quả điều trị bệnh này trên heo từ sơ sinh đến 94 ngày tuổi tại một trại heo công nghiệp ở tỉnh Đồng Nai” được tiến hành tại trại heo Kim Long, ấp 18 gia đình, xã Bảo Quang, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, Thời gian từ 26/02/09 đến ngày 11/05/09 Thí nghiệm được bố trí theo kiểu:

Chúng tôi theo dõi heo ở 3 giai đoạn gồm có: giai đoạn I là heo từ sơ sinh đến

26 ngày tuổi; giai đoạn II là heo từ 26 ngày đến 54 ngày tuổi; giai đoạn III là heo từ 54 ngày đến 94 ngày tuổi Mỗi giai đoạn chúng tôi theo dõi 2 dãy chuồng khác nhau, mỗi dãy chuồng chúng tôi theo dõi hằng ngày về các chỉ số về nhiệt độ, ẩm độ, nồng độ NH3, các biểu hiện hô hấp và tỷ lệ điều trị khỏi bệnh Kết quả thu được như sau:

Nhiệt độ trung bình ở giai đoạn I là 27,490C thấp hơn giai đoạn II là 27,900C và thấp hơn giai đoạn III là 27,750C

Ẩm độ trung bình ở giai đoạn I là 73,30% cao hơn giai đoạn II là 73,15% và giai đoạn III là 72,79%

Nồng độ NH3 trung bình ở giai đoạn I là 4,93 ppm thấp hơn giai đoạn II là 5,38 ppm và giai đoạn III là 5,49 ppm

Giai đoạn từ 26 đến 54 ngày tuổi có mật độ chuồng nuôi là 0,74 m2/con; giai đoạn từ 54 đến 94 ngày tuổi là 0,88 m2/con

Thời gian xuất hiện biểu hiện hô hấp trung bình trên heo từ sơ sinh đến 26 ngày tuổi là 6,64 (ngày); trong đó dãy 1 là 6,08 (ngày) và dãy 2 là 7,20 (ngày)

Tỷ lệ nhiễm bệnh hô hấp ở giai đoạn I là 8,44% thấp hơn giai đoạn II là 34,21%

và giai đoạn III là 32,40%

Tỷ lệ ngày con ho trung bình ở giai đoạn I là 0,98% thấp hơn giai đoạn II là 4,31% và thấp hơn giai đoạn III là 2,98%

Trang 5

Tỷ lệ ngày con thở bụng trung bình ở giai đoạn I là 0,48% thấp hơn giai đoạn II

là 1,69% và thấp hơn giai đoạn III là 1,49%

Tỷ lệ ngày con ho kết hợp thở bụng trung bình ở giai đoạn I là 0,04% thấp hơn giai đoạn II là 0,19% và thấp hơn giai đoạn III là 0,12%

Tỷ lệ điều trị khỏi bệnh trung bình ở giai đoạn I là 84,29% cao hơn giai đoạn II

là 80,09% và giai đoạn III là 76,78%

Tỷ lệ chết trung bình ở giai đoạn I là 1,34% thấp hơn giai đoạn II là 6,81% và giai đoạn III là 7,53%

Giai đoạn sơ sinh đến 26 ngày tuổi có trọng lượng trung bình đầu kì là 1,76 kg/con, cuối kì là 7,33 kg/con; giai đoạn từ 26 ngày đến 54 ngày tuổi có trọng lượng đầu kì là 7,15 kg/con, cuối kì là 17,88 kg/con

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

Trang tựa i

Cảm tạ ii

Tóm tắt iii

Mục lục v

Danh sách các hình viii

Danh sách các bảng ix

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

Chương 2 TỔNG QUAN 3

2.1 Giới thiệu khái quát về trại chăn nuôi 3

2.1.1 Vị trí địa lý 3

2.1.2 Nhiệm vụ của trại 4

2.1.3 Cơ cấu tổ chức 4

2.1.4 Cơ cấu đàn 4

2.1.5 Hệ thống chuồng trại 4

2.1.6 Thức ăn 5

2.1.7 Nước uống 6

2.1.8 Quy trình vệ sinh 6

2.1.9 Chăm sóc 6

2.1.10 Lịch tiêm phòng 7

2.2 Hệ hô hấp 8

Trang 7

2.2.1 Tính chất chung 8

2.2.2 Hít vào 10

2.2.3 Thở ra 10

2.2.4 Các thể hô hấp 10

2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh đường hô hấp 11

2.3.1 Dinh dưỡng 11

2.3.2 Tiểu khí hậu chuồng nuôi 11

2.3.2.1 Nhiệt độ 13

2.3.2.2 Ẩm độ 19

2.3.2.3 Các khí trong chuồng nuôi 20

2.4 Yếu tố vi sinh vật gây bệnh 23

2.5 Mật độ chuồng nuôi .24

2.6 Lược duyệt một số công trình nghiên cứu 25

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT 27

3.1 Thời gian và địa điểm tiến hành 27

3.1.1 Thời gian 27

3.1.2 Địa điểm 27

3.2 Nội dung thực hiện 27

3.3 Đối tượng khảo sát 27

3.4 Dụng cụ và vật liệu 27

3.5 Phương pháp tiến hành 27

3.5.1 Bố trí khảo sát 27

3.5.2 Phương pháp theo dõi 28

3.5.2.1 Theo dõi các triệu chứng hô hấp từ sơ sinh đến 94 ngày tuổi giữa các dãy chuồng 28

3.5.2.2 Theo dõi nhiệt độ chuồng nuôi 29

3.5.2.3 Theo dõi ẩm độ chuồng nuôi 29

Trang 8

3.5.2.4 Khoảng biến động nhiệt độ giữa ngày và đêm 29

3.5.2.5 Khoảng biến động ẩm độ giữa ngày và đêm 29

3.5.2.6 Theo dõi nồng độ NH3 ở chuồng nuôi 30

3.5.3 Công thức tính các chỉ tiêu theo dõi 30

3.6 Thuốc sử dụng điều trị ở trại khảo sát 31

3.7 Phương pháp xử lý thống kê 31

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 32

4.1.1 Nhiệt độ trung bình ở các dãy chuồng nuôi 32

4.1.2 Ẩm độ trung bình ở các dãy chuồng nuôi 34

4.1.3 Nồng độ NH3 trung bình ở các dãy chuồng nuôi 36

4.1.4 Mật độ chuồng nuôi 37

4.2 Tình hình bệnh hô hấp trên heo khảo sát 38

4.2.1 Thời gian xuất hiện biểu hiện hô hấp đầu tiên 38

4.2.2 Tỷ lệ bệnh và tỷ lệ ngày con bệnh trung bình 39

4.4.1 Tỷ lệ heo bệnh đường hô hấp 39

4.2.3.Tỷ lệ ngày con ho trung bình theo giai đoạn tuổi 40

4.2.4 Tỷ lệ ngày thở bụng trung bình theo giai đoạn tuổi 42

4.2.5 Tỷ lệ ngày ho kết hợp thở bụng trung bình theo giai đoạn tuổi 43

4.3 Kết quả điều trị bệnh hô hấp trên heo theo giai đoạn tuổi 45

4.4 Tỷ lệ chết trên heo theo giai đoạn tuổi 47

4.5 Một số bệnh tích đại thể trên heo có biểu hiện đường hô hấp 48

4.6 Trọng lượng trung bình của heo khảo sát 48

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Đề nghị 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

PHỤ LỤC 56

Trang 9

DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ BIỂU ĐỒ

Trang

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ trại chăn nuôi 3

Sơ đồ 2.2: Sự tương tác của động vật với môi trường 12

Sơ đồ 2.3: Hướng dẫn các yêu cầu nhiệt độ cần thiết 15

Biểu đồ 4.1: Nhiệt độ trung bình ngày và đêm 33

Biểu đồ 4.2 : Ẩm độ trung bình ngày và đêm 35

Biểu đồ 4.3: Nồng độ NH3 trung bình 37

Biểu đồ 4.4: Tỷ lệ nhiễm bệnh hô hấp 39

Biểu đồ 4.5: Tỷ lệ ngày con ho trung bình 41

Biểu đồ 4.6: Tỷ lệ ngày con thở bụng trung bình 42

Biểu đồ 4.7: Tỷ lệ ngày con ho + thở bụng trung bình 44

Biểu đồ 4.8: Tỷ lệ heo điều trị khỏi bệnh theo giai đoạn tuổi 45

Biểu đồ 4.9: Tỷ lệ heo chết theo giai đoạn tuổi 46

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Thành phần các loại cám 5

Bảng 2.2 Lịch tiêm phòng heo thương phẩm 8

Bảng 2.3 Lịch tiêm phòng heo nái 8

Bảng 2.4 Các yếu tố môi trường liên quan đến các bệnh trên heo 13

Bảng 2.5 Vùng nhiệt độ thích hợp cho heo ở các độ tuổi 14

Bảng 2.6 Hướng dẫn về nhiệt độ không khí tùy theo các loại sàn 14

Bảng 2.7: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến tăng trọng của heo thịt 18 – 90 kg 16

Bảng 2.8 Ảnh hưởng của stress nhiệt trên heo 17

Bảng 2.9 Khả năng tồn tại của một số vi sinh vật trong không khí chuồng nuôi 24

Bảng 2.10 Diện tích chuồng cho heo sau cai sữa, trưởng thành và vỗ béo 25

Bảng 2.11 Mật độ heo nuôi 25

Bảng 3.1 Bố trí khảo sát 28

Bảng 4.1 Nhiệt độ trung bình ở các dãy chuồng 32

Bảng 4.2 Ẩm độ trung bình ở các dãy chuồng 34

Bảng 4.3 Nồng độ NH3 trung bình ở các dãy chuồng 36

Bảng 4.4 Mật độ chuồng nuôi theo giai đoạn tuổi 37

Bảng 4.5 Thời gian xuất hiện biểu hiện hô hấp đầu tiên 38

Bảng 4.6 Tỷ lệ mắc bệnh hô hấp 39

Bảng 4.7 Tỷ lệ ngày con ho trung bình theo giai đoạn tuổi 40

Bảng 4.8 Tỷ lệ ngày con thở bụng trung bình theo giai đoạn tuổi 42

Bảng 4.9 Tỷ lệ ngày con ho + thở bụng trung bình theo giai đoạn tuổi 45

Bảng 4.10 Tỷ lệ heo điều trị khỏi bệnh theo giai đoạn tuổi 45

Bảng 4.11 Tỷ lệ heo chết theo giai đoạn tuổi 47

Bảng 4.12 Tỷ lệ bệnh tích đại thể 49

Bảng 4.13 Trọng lượng trung bình 49

Trang 11

Trong điều kiện chăn nuôi hiện nay, ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến thành tích của ngành chăn nuôi như con giống, chuồng trại, thức ăn, chăm sóc quản lý… thì bệnh tật đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt là bệnh đường hô hấp Theo Hoàng Quốc Huy (2007) tỷ lệ heo giai đoạn 28 – 90 ngày tuổi có biểu hiện hô hấp khá cao (23,99%) với

triệu chứng ho chiếm 23,01%, thở bụng là 0,56%, ho kết hợp thở bụng là 0,42%

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến bệnh đường hô hấp như do virus (virus giả dại,

virus cúm, virus dịch tả heo cổ điển …), vi khuẩn (Pasteurella multocida, Mycoplasma spp, Streptococcus pneumoniae …), ký sinh trùng (Ascaris suum, Metastrongylus …)

Bệnh làm cho heo còi cọc, chậm phát triển, tiêu tốn thức ăn cao, giảm sản lượng, tăng chi phí thuốc men và điều trị, gây thiệt hại kinh tế lớn cho ngành chăn nuôi Theo Nguyễn Văn Phát (2004) những gia súc thở thể ngực là có bệnh: viêm phúc mạc, bị thương và liệt cơ hoành …, thở thể bụng trong trường hợp bị nhiễm viêm màng phổi, khí phế, tràn dịch màng phổi …

Tuy các trại đã có áp dụng khá nhiều biện pháp phòng ngừa bệnh, nhưng bệnh

hô hấp vẫn tiếp tục xảy ra đặc biệt là những tháng giao mùa giữa mùa nắng và mùa mưa Theo Trần Văn Đức (2001), tỷ lệ bệnh trên đường hô hấp tháng 3 là 16,66%, tháng 4 là 17,36%, tháng 5 là 10,21%, tháng 6 là 7,46%

Trang 12

Xuất phát từ vấn đề trên, được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi Thú Y, Bộ môn

Vi sinh Truyền nhiễm, Trường Đại Học Nông Lâm, Thành Phố Hồ Chí Minh, cùng sự hướng dẫn của ThS Nguyễn Thị Phước Ninh và BSTY Đỗ Tiến Duy, chúng tôi tiến

hành đề tài “Khảo sát các triệu chứng đường hô hấp và hiệu quả điều trị bệnh này trên heo từ sơ sinh đến 94 ngày tuổi tại một trại heo công nghiệp ở tỉnh Đồng Nai”

1.2 Mục đích và yêu cầu

1.2.1 Mục đích

Đánh giá tình hình bệnh hô hấp và hiệu quả điều trị bệnh đường hô hấp trên heo

từ sơ sinh đến 94 ngày tuổi, làm cơ sở cho việc phòng và điều trị bệnh đường hô hấp

1.2.2 Yêu cầu

¾ Phân lô theo dõi trên từng dãy chuồng nuôi với từng thời điểm chăn nuôi khác nhau

¾ Ghi nhận các triệu chứng đường hô hấp trên heo từ sơ sinh đến 94 ngày tuổi

¾ Ghi nhận các điều kiện về tiểu khí hậu chuồng nuôi (nhiệt độ, ẩm độ, NH3, mật độ) của lô heo theo dõi trong thời gian từ heo sơ sinh đến 94 ngày tuổi

¾ Ghi nhận các số liệu về số con khỏi bệnh, thời gian mắc bệnh

Trang 13

Chương 2

TỔNG QUAN

2.1 Giới thiệu khái quát về trại chăn nuôi

2.1.1 Vị trí địa lý

Trại chăn nuôi heo được xây dựng cách thị xã Long Khánh khoảng 8 km, nằm ở

ấp 18 gia đình, xã Bảo Quang, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai Tổng diện tích đất khoảng 5 hecta Các dãy chuồng của trại được thiết kế như hình sau:

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ trại chăn nuôi

Cổng vào trại

Chở Dãy

chuồng

nọc

Nhà kho ở

Nhà phế liệu

Chổ ở Nhà quản lý

Dãy chuồng thịt 3

Dãy chuồng thịt 4

Dãy chuồng thịt 5

chuồng mang thai 2

Dãy chuồng đẻ 2

Dãy chuồng cai

sữa 2

Hố phân Dãy chuồng thịt 1

biogas Dãy chuồng thịt 2

Trang 14

2.1.2 Nhiệm vụ của trại

Cung cấp heo thương phẩm đáp ứng nhu cầu của địa phương và cho công ty Vissan

2.1.3 Cơ cấu tổ chức

Tổng nhân sự của trại gồm có 18 người, trong đó có 1 chủ trại, 1 kỹ thuật viên thú y và 16 công nhân được bố trí trong các dãy chuồng trực tiếp quản lý và chăm sóc đàn heo

2.1.4 Cơ cấu đàn

Cơ cấu đàn tính đến ngày 10/05/2009 gồm có :

Nọc lấy tinh: 10 con

Nọc thí tình: 2 con

Nái sinh sản: 466 con

Nái hậu bị: 48 con

Heo con theo mẹ: 982 con

Heo cai sữa: 1128 con

Heo thương phẩm: 3262 con

2.1.5 Hệ thống chuồng trại

Chuồng nái đẻ được thiết kế gồm 2 phần: phần dành cho heo nái ở giữa (rộng 0,57m; dài 2,17m) và phần dành cho heo con ở hai bên (rộng 0,82m; dài 2,17m và rộng 0,52m; dài 2,17m) Chuồng này sẽ tiếp nhận heo mang thai vào khoảng 1 tuần trước khi đẻ và xuất đi khi cai sữa heo con Heo con sẽ được ở đây đến khoảng 26 ngày thì xuất đi

Chuồng heo cai sữa: chuồng heo cai sữa có dạng hình chữ nhật, mặt trước (giáp với đường đi) có chiều dài là 3,16m và mặt bên là 2,26m Chuồng gồm 2 phần: phần đan (khoảng 1,26m) gần phía đường đi và phần vỉ lưới (khoảng 1m) cho phân rơi xuống Chuồng này nhận heo con từ chuồng nái đẻ và nuôi ở đây đến khoảng 4-5 tuần

Trang 15

thì xuất đi Chuồng này sử dụng hệ thống máng ăn tự động, 1 máng ăn tự động dùng cho 2 ô chuồng

Chuồng heo thịt có kích thước tùy dãy chuồng (rộng khoảng 7m, dài khoảng 5m), cuối chuồng có hồ nước để heo tắm Chuồng này nhận heo con từ chuồng cai sữa sang nuôi đến khi xuất bán Chuồng sử dụng máng ăn tự động, 1 máng ăn dùng cho 2 ô chuồng

Chuồng nái bầu mỗi ô chuồng được thiết kế chỉ đủ cho heo đứng nằm và không quay đầu lại được để thuận tiện cho việc chăm sóc và quản lý Chuồng này tiếp nhận heo nái từ chuồng đẻ và nái hậu bị, việc phối tinh cũng được thực hiện ở đây Heo này được cho ăn với khẩu phần riêng cho từng thời kỳ khác nhau, được công nhân trực tiếp cho ăn và không dùng máng ăn tự động

Trang 16

Heo nái nuôi con cho ăn cám loại C; 4 – 5 Kg/con/ngày

Heo con tập ăn đến 35 ngày tuổi cho ăn cám CP-550S

Heo từ 35 – 81 ngày tuổi cho ăn cám CP-951

Heo từ 81 ngày tuổi đến xuất chuồng dùng cám 952

2.1.7 Nước uống

Mỗi dãy chuồng có bồn nước riêng để cung cấp nước uống cho heo, heo uống nước qua vòi nước tự động

2.1.8 Qui trình vệ sinh

Mỗi trại có hệ thống cống rãnh riêng, hệ thống cống rãnh này đổ vào hầm chung

và sau đó chuyển xuống hố để xử lý và chuyển vào hầm biogas, và khí thải ra dùng để chạy máy phát điện

Hố sát trùng được bố trí ở đầu mỗi dãy chuồng, lượng NaOH là 2-3% trong hố được thay đổi 2 lần/tuần Chuồng trại sau mỗi lần lùa heo đi được chà rữa kỹ và để trống trong vòng 3-5 ngày trước khi nhập heo mới vào Định kì sát trùng chuồng trại 2lần/tuần (lúc có dịch có thể sát trùng với lịch dày hơn), phát quang bụi rậm và vệ sinh xung quanh chuồng thường xuyên

Công nhân và khách tham quan được trang bị bằng đồ bảo hộ lao động, đi giày ủng, lúc làm việc dẫm chân vào hố sát trùng trước khi vào trại làm việc Công nhân hạn chế qua lại giữa các trại

2.1.9 Chăm sóc

• Nái

Nái trước khi đẻ 5 ngày so với ngày đẻ dự kiến được chuyển lên chuồng sàn (chuồng đẻ) cho quen chuồng, tắm rửa sạch sẽ mỗi ngày Chuẩn bị ổ úm và bao bố cho heo con nằm

Nái từ khi sinh đến 15 ngày sau khi sinh không được tắm (tuỳ trường hợp), cho

ăn uống bình thường với lượng vừa đủ Nái sau khi sinh tiêm oxytocin liều 4-5ml/con (thành phần trong 1ml chứa oxytocin 10UI) để kích thích tạo sữa, tống nhau và sản

Trang 17

dịch ra khỏi tử cung Vài giờ sau khi sinh tiêm cho nái amoxiclin với liều 5cc/con đồng thời bơm 10ml Tetra 10% vào tử cung Bio-Tetra 10% chứa oxytetraciline Ngày thứ hai sau khi đẻ thụt rửa tử cung bằng nước muối loãng (100g muối pha với 10 lít nước), rửa 2 lần mỗi lần 600ml

• Heo con

Heo con mới sinh ra dùng khăn vải sạch mềm lau sạch thân mình, móc nhớt ở mõm mũi cho heo con dễ thở Buộc và cắt rốn rồi sát trùng lại bằng cồn iod, rắc bột Mistral cho khô sau đó thả chung với con mẹ để heo con bú sữa đầu, chuồng được chuẩn bị sẵn lồng, đèn úm và trãi bao bố (bao bố được thay hàng ngày)

Sau 24 giờ bấm răng, cắt đuôi, chích sắt 2ml/con, chích Baytril 0,5ml/con, uống Coli.Sp 2ml/con Ngày thứ 2 chích Catosal, ngày thứ 5 cho uống Baycox, ngày 6-7 thiến những heo không để làm giống, ngày thứ 10 chích sắt lại lần 2 với liều 2ml/con Heo được 28 ngày thì cai sữa

Heo con được theo dõi tình trạng sức khoẻ kỹ vào mỗi buổi sáng sớm, xem heo nằm co cụm hay rải rác, tình trạng phân heo, tình trạng khớp…nếu phát hiện những con bị bệnh thì tiến hành điều trị ngay

2.1.10 Lịch tiêm phòng

Trại tiến hành tiêm phòng vaccine cho đàn heo vào những lúc trời mát Dụng cụ tiêm phòng được tiệt trùng bằng đun sôi Đối với heo bệnh thì hoãn việc tiêm phòng vaccine và việc tiêm phòng được tiến hành vào đợt sau

Trang 18

Bảng 2.2 Lịch tiêm phòng heo thương phẩm

Ngày tuổi Vaccine Tên thương

63 Hog Cholera Colapest 2ml/con/lần Lần 2

Bảng 2.3 Lịch tiêm phòng heo nái

Trước cai sữa

tuần Aujeszki PR-Vacplus

® 2ml/con/lần Cho tất cả heo nái Mang thai 12

® 2ml/con/lần Lần 2 cho tất cả heo nái Mang thai 14

tuần E.coli Litter Guard

® 2ml/con/lần Cho tất cả heo nái Mang thai 15

tuần Sổ lãi Cevamec 1% 2ml/con/lần Cho tất cả heo nái

2.2 Hệ hô hấp

2.2.1 Tính chất chung

Trang 19

Hô hấp là tiến trình trao đổi các chất khí giữa không khí và mô bào Vận chuyển không khí ra vào phổi gọi là thông khí phổi hoặc thở Vận chuyển oxy và carbonic giữa phổi và tế bào gọi là trao đổi khí hay hô hấp phổi, trái lại hô hấp mô bào nói đến tiến trình các phân tử hữu cơ được oxid hóa thành carbonic, nước và ATP ở mô bào

Trong quá trình hô hấp, không khí ra vào phổi qua đường dẫn khí tạo thành hệ thống ống dẫn giữa không khí và vùng hô hấp phổi Vùng hô hấp phổi là nơi trao đổi các chất khí giữa không khí và mạch máu Đường dẫn khí gồm xoang hốc mũi, xoang miệng, vùng hầu, thanh quản, khí quản, phế quản và các nhánh nhỏ hơn Phế quản nhỏ nhất gọi là tiểu phế quản tận cùng Tiểu phế quản tận cùng tạo thành vùng chuyển tiếp giữa đường dẫn khí và chùm phế nang có thành mỏng Trao đổi khí diễn ra giữa không khí phế nang và mạng mao mạch bao quanh

Ngoại trừ xoang miệng và vùng hầu, biểu mô đường dẫn khí cấu tạo bằng tế bào

có lông rung và tiết chất nhầy Chất nhầy bẫy bắt vi sinh vật và vật lạ từ không khí đưa vào Lông rung vận động liên tục đẩy chất nhầy ra ngoài vùng hầu để nuốt vào miệng Màng nhầy đường dẫn khí, đặc biệt ở xoang hốc mũi được cung cấp nhiều máu làm không khí hít vào được sưởi ấm và bảo hòa hơi nước trước khi đến phế nang Cấu tạo thành phế nang và mạch máu là lớp tế bào biểu mô lát đơn để giảm khoảng cách hòa tan oxy và carbonic ở phổi Lúc chảy qua mao mạch, oxy hòa tan vào máu, ngược lại carbonic hòa tan vào không khí phế nang Máu bảo hòa oxy theo tĩnh mạch phổi về tim, sau đó rồi tâm thất trái theo động mạch để nuôi cơ thể

Hệ thống hô hấp còn có các chức năng khác như:

• Giúp máu tĩnh mạch về tim (bơm không khí)

• Cân bằng axít – bazơ bằng cách loại thải chất tạo ra axít carbonic

• Loại bỏ hơi nóng và nước ra khỏi cơ thể bằng cách làm ấm, bão hòa không khí

và bốc hơi nước trong giai đoạn thở ra Thoát hơi nóng lúc thở ra nhờ vào bốc hơi nước

• Tạo âm thanh để trao đổi

Trang 20

• Biến đổi một số chất khi chảy qua mạch máu phổi Ví dụ: angiotensin I biến thành angiotensin II; prostaglandin ở dạng hoạt động thành không hoạt động, vì

vậy tránh ảnh hưởng của chúng trên các hệ thống cơ thể

2.2.2 Hít vào

Trước lúc hít vào cơ hô hấp dãn, áp suất phế nang cân bằng với áp suất không khí Vì vậy không có không khí qua đường hô hấp Hít vào được điều khiển bằng xoang ngực nở rộng Bời vì khoảng trống màng phổi hẹp được đóng kín vào chứa đầy dịch nên không còn khả năng mở rộng Nhưng khi thể tích xoang ngực tăng, áp suất trong màng phổi giảm, vì vậy tạo sức hút kéo căng phổi hướng ra ngoài thành ngực

Khi gia súc không di chuyển, cơ hoành là cơ quan trọng điều khiển hít vào Cơ hoành co làm vòm cầu cơ hoành thẳng ra, vì vậy làm thể tích xoang ngực lớn ra Co thắt này cũng nâng áp suất lồng bụng Cùng lúc, co cơ liên sườn ngoài và đẩy xương sườn về trước và trực tiếp ra ngoài, làm tăng đương kính nằm ngang của xoang ngực và

mở rộng xoang ngực hơn nữa Lúc vận động, cơ hoành và cơ liên sườn ngoài co cứng hơn, cơ cổ co giúp di chuyển xương sườn đóng góp cho động tác hít vào

2.2.3 Thở ra

Cuối kỳ hít vào, cơ hít vào ngưng hoạt Hầu hết gia súc, thở ra lúc nghỉ ngơi không được trợ giúp bởi co thắt cơ mà bằng cách co lại tự động của phổi và xoang ngực do lực đàn hồi của các cơ hít vào Ngoài ra, áp suất lồng bụng nâng lên ở kỳ hít vào trước đó đã đẩy vòm cầu cơ hoành trở về vị trí cũ Cuối cùng thể tích xoang ngực

và phổi giảm Kết quả làm tăng áp suất phế nang so với áp suất không khí, và không khí đi từ phế nang qua đường dẫn khí ra ngoài cơ thể Dòng không khí phế nang tiếp tục ra ngoài cho đến khi chênh lệch áp suất không còn nữa giữa phế nang và không khí bên ngoài.( theo Lê Văn Thọ và Đàm Văn Tiên, 1992)

2.2.4 Các thể hô hấp

™ Thở thể hỗn hợp

Trang 21

Trừ chó, bình thường gia súc thở thể này Khi thở thành ngực và thành bụng cùng hoạt động nhịp nhàng

2.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh đường hô hấp

2.3.1 Dinh dưỡng

Khẩu phần dinh dưỡng kém là nguyên nhân chung cho rất nhiều bệnh trong đó

có bệnh đường hô hấp Theo Nguyễn Như Pho (2000) khi thiếu vitamine A tổ chức biểu mô đường hô hấp phát triển không bình thường, giảm sức bền từ đó thú dễ mắc bệnh Sự mất cân đối giữa Ca/P trong khẩu phần làm hệ xương lồng ngực biến dạng cũng ảnh hưởng đến chức năng hô hấp Quá trình chế biến thức ăn cũng ảnh hưởng đến bệnh hô hấp, sự xay nhuyễn thức ăn sẽ làm tăng độ bụi của thức ăn hỗn hợp nên heo

dễ bị hắt hơi, viêm phổi (Nguyễn Ngọc Tuân và Trần Thị Dân, 1997 trích dẫn bởi Lê Văn Thuận, 2005) Ngoài ra, vitamine C cũng góp phần nâng cao sức đề kháng của cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh (Võ Văn Ninh, 2003)

2.3.2 Tiểu khí hậu chuồng nuôi

Trang 22

Theo Gonyou và ctv (1999) môi trường là một từ rất rộng liên quan đến tất cả các yếu tố tác động lên động vật Tuy nhiên không chỉ môi trường tác động, động vật cũng có tương tác với môi trường Moberg (1985) đã đưa ra những nét chính về sự đáp ứng của động vật với những yếu tố stress của môi trường gồm 3 mức độ Mức độ đáp ứng ít nhất là tập tính (behavioral) Nhưng nếu đáp ứng hành vi không có khả năng giảm nhẹ stress thì có thay đổi về chức năng sinh học như là chức năng sản xuất (tăng trưởng hay sinh sản) và các chiến lược phòng thủ của cơ thể Sự thay đổi chức năng sinh học sẽ kéo theo sự hoạt động của trục tuyến yên - thượng thận, dẫn đến giải phóng corticosteroids Kết quả là thay đổi đáp ứng miễn dịch, làm cho động vật nhạy cảm hơn đối với một số tác nhân gây bệnh (Kelley, 1982) Moberg (1985) cho rằng nếu có stress mạnh từ môi trường tác động sẽ dẫn động vật đến tình trạng bệnh lý

Nhiệt độ, bụi, khí độc, tiếng ồn, ánh sáng, thiết bị, khoảng không, quần thể, người chăn nuôi, vệ sinh

Đáp ứng của động vật Tập tính

Chức năng Bệnh lý

Sơ đồ 2.2: Sự tương tác của động vật với môi trường (Moberg, 1985 và Gonyou, 1993)

Webster (1988) chia cách thức tác động của môi trường vào quá trình viêm phổi gồm 3 thành phần Đầu tiên, môi trường bao gồm các yếu tố ảnh hưởng số lượng và khả năng gây bệnh của vi sinh vật Thứ hai, môi trường ảnh hưởng đến cơ chế chống lại sự xâm chiếm của mầm bệnh như là cơ chế thanh thải của phổi Cuối cùng, môi trường ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch mà heo dùng để chống lại mầm bệnh

Trang 23

Bảng 2.4 Các yếu tố môi trường liên quan đến các bệnh trên heo (Whittemore, 1993)

Yếu tố môi trường Bệnh

Tác động chung Nhiệt độ

Mật độ cao

Vệ sinh kém Quần thể

Các khí độc cao

Bụi nhiều

và heo thịt

Trang 24

Bảng 2.5 Vùng nhiệt độ thích hợp cho heo ở các độ tuổi

theo Canadian Pork Council (2002)

Bảng 2.6 Hướng dẫn về nhiệt độ không khí tùy theo các loại sàn

Loại sàn Khối

môi trường, trong đó một động vật sản xuất nhiệt tổng số tương đương với hằng số

năng lượng lấy vào (CIGR, 1984) Sự sản xuất nhiệt tổng số là tối thiểu và không phụ

thuộc vào nhiệt độ xung quanh trong vùng nhiệt độ trung tính (Verstegen và ctv, 1982;

Baxter, 1984)

Vùng nhiệt độ trung tính được giới hạn bởi nhiệt độ tới hạn dưới và trên (lower

and upper critical temperature – LCT và UCT) Khi nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ tới hạn

dưới thì heo phải dùng lượng lớn năng lượng lấy vào từ thức ăn để sản xuất nhiệt tổng

Trang 25

số và giữ ấm (Gonyou và ctv, 1999; http://www.thepigsite.com) Bruce và Clark (1979) cũng cho rằng, nếu nhiệt độ thấp hơn vùng nhiệt độ trung tính thì sự sản xuất nhiệt tăng trong chu trình sản xuất (theo http://www.thepigsite.com)

đoạn khác nhau trong

Cai sữa Mới sinh

Sơ đồ 2.3: Hướng dẫn các yêu cầu nhiệt độ cần thiết ở các giai

chu trình sản xuất (theo http://www.thepigsite.com)

Theo Nicks và Dechamps (1985) ngoại trừ các trường hợp quá khắc nghiệt, nếu chỉ c

năng chống lạnh kém, nhạy cảm cao với nhiệt độ Nếu sống trong nhiệt độ môi trường 18oC trong thời gian dài thì ảnh hưởng

ó nhiệt độ không khí lạnh thì không ảnh hưởng gì đến sức khỏe Những bệnh trên đường hô hấp có thể xảy ra khi có mặt của các tác nhân vi sinh vật (Theo Tielen, 1987) Tuy nhiên, sự dao động lên, xuống nhanh của nhiệt độ không khí có thể gây bất ổn bởi các tác nhân gây bệnh có sẵn trong không khí và giảm sức đề kháng của động vật Theo Narita và ctv (1992) cho thấy stress gây ra do dao động của nhiệt độ

từ 4oC đến 30oC làm bệnh giả dại ở heo tiến triển nhanh và nặng hơn Trong một thí nghiệm của Hessing và Tielen (1994) khi heo cai sữa được nuôi trong điều kiện nhiệt

độ không khí thấp thì ở lô thí nghiệm có nhiều triệu chứng của bệnh như tiêu chảy,

ho, hắt hơi và tím lỗ tai hơn ở lô đối chứng

Theo Liu (2005) heo con cai sữa có khả

Trang 26

xấu đ

Nhiệt độ thấp hơn LCT

ến tăng trọng và mắc nhiều bệnh Heo có thể chịu được nhiệt độ thấp nếu không

có gió lùa, nhưng khi ở nhiệt độ môi trường tiêu chuẩn mà có gió lùa thì cũng không tốt cho heo Những chỗ nguy hiểm là các kẽ tường nứt hay mặt sàn chuồng thấp, các rãnh thoát nước mở sẽ làm gió lùa lên sàn chuồng và các bóng đèn sưởi để trần trong chuồng lạnh Có thể gây chết cho heo khi không khí lạnh lùa trên sàn thay thế không khí nóng Đồng thời, nếu nhiệt độ thấp và sàn chuồng hay chỗ đệm bị lạnh và ẩm ướt thì cũng ảnh hưởng rất xấu Bởi vì heo truyền nhiệt cho sàn bê tông ướt dù nhiệt độ không khí vừa phải Để khắc phục tình trạng này phải giữ ấm cho heo cai sữa, nhiệt

độ của chuồng nói chung nên đạt từ 22oC đến 28oC, ẩm độ 60-65% (Liu, 2005) Phải giữ sàn bê tông khô thì chuồng sẽ ấm hơn vì loại sàn này giữ nhiệt khá tốt Cung cấp rơm khô hay mùn cưa làm chất độn chuồng rất tốt cho heo chống lạnh Che chắn chỗ gió lùa để giữ ấm cho heo

Bảng 2.7 Ảnh hưởng của nhiệt độ thấp đến tăng trọng của heo thịt 18 – 90 kg

lạnh sẽ b

tại các thời điểm tới hạn như sau:

• Từ khi sanh đến 48 giờ; 8 – 14 ngày tuổi

Trang 27

• Từ cai sữa đến 7 ngày sau cai sữa; sự chuyển từ giai đoạn cai sữa đầu tiên đến giai

loại sàn, ví dụ: từ sàn cứng đến sàn gỗ; có đệm tới không có đệm

dinh dưỡng như chuyển tới những chuồng không tách riêng

à tốc độ khí

ức ăn không ngon

n nuôi con, từ cai sữa đến 21 ngày sau khi phối

• Thay đổi chuồng hoặc

, chuồng ẩm ướt, thay đổi từ thức ăn khô sang thức ăn ướt

• Thay đổi bất thường của nhiệt độ bên ngoài vì thông khí v

• Thiết bị kiểm soát môi trường có lỗi

• Khẩu phần có năng lượng thấp hay th

• Cho ăn giới hạn, lượng thức ăn không thích hợp

• Heo gầy ốm, bị bệnh

• Heo nái trong giai đoạ

• Heo nái trong giai đoạn 6 tuần trước khi sanh

o http://www2.dpi.qld.gov.au/pigs/4475.html và http://www.thepigsite.com

Bảng 2.8 Ảnh hưởng của stress nhiệt trên heo

Heo giống Stress nhiệt 72 giờ làm giảm 70% lượng tinh dịch của heo

nọc trong 6 tuần Nái trong thời gian đẻ Có thể mất 4 hay 5 heo con nếu heo nái bị stress nhiệt ở giai

đọan cuối thai kỳ, những con còn sống có khối lượng sơ sinh thấp

Nái sau khi sanh Heo nái giảm khối lượng trong thời gian tiết sữa, heo con

cai sữa có khối lượng thấp Heo lứa và thịt Giảm hiệu quả thức ăn

(http://www.agselect.com/ED/Features.cfm?DID=11&QAID=9)

Trang 28

Theo http://www.agselect.com/ED/Features.cfm?DID=11&QAID=9, thời tiết nóng gây tác hại cho heo Nói chung, đổ mồ hôi là cách hiệu quả nhất để giữ mát cho

cơ thể trong thời tiết nóng nhưng heo không đổ mồ hôi được nên sẽ bị stress nhiệt ngay cả ở những nhiệt độ mà các động vật khác có thể chịu đựng được Heo bắt đầu chịu stress khi nhiệt độ trên 75oF (24oC) Hậu quả là giảm ăn, tăng trưởng chậm và khi nhiệt độ quá nóng thì có thể gây chết heo có trọng lượng lớn Stress nhiệt cũng làm giảm năng suất sinh sản trên đàn heo giống

Để khắc phục stress nhiệt, Zhang (2006) cho rằng phải thực hiện các biện pháp sau:

• Tăng phủ xanh cho đất của trại heo, việc cải thiện này sẽ làm giảm diện tích lát xi-măng nên làm giảm nhiệt độ của đất Lá dày đặc sẽ che chắn ảnh hưởng trực tiếp của ánh sáng mặt trời, lá cũng bốc hơi nước và hấp thu nhiệt, đồng thời lá quang hợp sẽ góp phần lọc sạch không khí, như vậy sẽ cải thiện được phần nào môi trường của trại heo

• Điều chỉnh chế độ ăn uống: heo nái và nọc thường kém ngon miệng vào mùa hè nên công thức thức ăn phải được quan tâm thích đáng Phải tăng mức dinh dưỡng kết hợp với sự ngon miệng Tăng năng lượng từ 3300 Kcal/kg đến 3400 Kcal/kg, có thể cho thêm dầu (nhưng thức ăn không để quá 2 ngày); protein 18%-19%; bổ sung vitamine B và C

• Điều chỉnh thời gian cho ăn: nên cho ăn lúc nhiệt độ thấp trong ngày như vào sáng sớm và tối, tăng số lượng thức ăn mỗi khi cho ăn, tăng số lần cho ăn trong ngày (4 lần mỗi ngày)

• Cung cấp đầy đủ nước uống sạch: có thể tăng số núm uống hay lượng nước uống vào, thêm 0,1%-0,2% muối hay chất điện giải vào nước uống, vì chất điện giải giúp cân bằng cơ thể nái

• Tắm hay phun nước cho heo từ 2 đến 4 lần/ngày, như vậy vừa làm giảm bớt nóng vừa vệ sinh cho heo Tuy nhiên, không tắm phần đầu của heo vì có thể làm heo bị

Trang 29

choáng Cũng có thể xịt nước lên tường xung quanh chuồng hay có hố chứa nước trong chuồng cho heo tắm

2.3.2.2 Ẩm độ

Gonyou và ctv (1999) cho rằng nguồn gốc của hơi nước trong chuồng nuôi do

sự bốc hơi của nước uống bị đổ ra, nước tiểu, phân và nước trong thức ăn Những vấn

đề về ẩm độ thường xẩy ra nhất ở khí hậu lạnh do lúc đó phải giảm thông khí để giữ nhiệt Việc cho ăn thức ăn ướt cũng góp phần chính vào vấn đề ẩm độ Theo Myer và Bucklin (2001) nếu chỉ có ẩm độ cao thì không ảnh hưởng xấu đến thành tích của heo Nhưng khi kết hợp với nhiệt độ cao thì ẩm độ cao sẽ làm tăng tác hại của nhiệt độ cao Bởi vì, heo thải nhiệt chủ yếu phải dựa vào sự bốc hơi nước khi trời nóng nên mức độ

ẩm rất quan trọng Nếu độ ẩm không khí cao hơn thì tiến trình bốc hơi để làm mát kém hiệu quả Vì vậy, khi độ ẩm tương đối là ≥ 50%, ảnh hưởng của stress nhiệt mạnh hơn

so với không khí khô hơn Ví dụ: khi nhiệt độ không khí là 28oC và độ ẩm tương đối 80%, ảnh hưởng của nhiệt độ tương đương với mức 30oC

Theo MacDonal (2005) các tác nhân gây bệnh hiện diện trong không khí như vi khuẩn, virus, bụi…có thể là nguyên nhân gây bệnh trên đường hô hấp Nếu số lượng của các tác nhân này ở không khí bên ngoài chuồng nuôi khoảng 100 cho 1m3 thì bên trong chuồng nuôi có thể tăng lên tới 1.000.000/m3 Những thiệt hại của chăn nuôi

Trang 30

công nghiệp trong chuồng với chất lượng không khí kém là thú chậm lớn và phải chống chọi với sự nhiễm trùng đường hô hấp Nếu cải thiện được chất lượng không khí thì có thể giảm bớt 80% thiệt hại

Những vi sinh vật gây bệnh qua đường không khí cần ẩm độ để tồn tại và lây lan Khi làm giảm ẩm độ tương đối (relative humidity-RH) từ 90% xuống 80% thì số lượng tác nhân gây bệnh này giảm xuống 50% Ẩm độ không khí nên từ 50% đến 70%, tốt nhất là 60%, ẩm độ này thích hợp để tiêu diệt các mầm bệnh Gonyou và ctv (1999) cũng cho rằng các tác nhân gây bệnh được kiểm soát tốt nhất ở RH 60% - 80% Không khí có ẩm độ cao hơn hay thấp hơn mức này đều chứa lượng tác nhân gây bệnh cao Hàng tuần, nên dùng ẩm kế đo độ ẩm tương đối và điều chỉnh quạt để giữ RH giữa 50%-70% Nếu RH trên 70% phải tăng quạt làm bớt hơi nước, dưới 50% thì giảm tốc độ quạt RH sẽ dao động +/- 10% so với mức trung bình trong mỗi ngày RH ở mức thấp thường vào ban đêm hay trong thời gian thú nghỉ ngơi, và cao lúc cho ăn hay kiểm tra (inspection) vào khoảng giữa ngày (MacDonal, 2005) Mặt khác, người ta có thể áp dụng thêm các biện pháp khác để kiểm soát ẩm độ chuồng nuôi như: dùng tô đựng nước uống thì ít lãng phí nước hơn dùng núm uống và sẽ làm giảm độ ẩm trong chuồng nuôi Sự bốc hơi của nước uống bị đổ và từ nước tiểu sẽ giảm đi nếu nền chuồng có độ dốc thích hợp và thoát nước tốt Chuồng nuôi được sưởi bằng điện thì môi trường khô hơn sưởi bằng gas (Gonyou và ctv, 1999)

2.3.2.3 Các khí trong chuồng nuôi

Lemay và ctv (2002) định nghĩa về không khí sạch như sau: không khí xung quanh chứa một lượng gần như hằng số của nitrogen (78%), oxygen (21%), và argon (0,9%), cùng với một lượng thay đổi CO2 (khoảng 0,03%) Ngoài ra, còn có một số các khí khác như: hydrogen, neon, krypton, helium, ozone và xenon, hơi nước và lượng nhỏ của vật chất cứng rất nhỏ và cực nhỏ được gọi là tạp chất không khí Không khí trong tình trạng sạch như vậy được gọi là không khí bình thường Nếu trong không khí

Trang 31

có những thành phần khác với danh sách khí ở trên thì được xem là ô nhiễm Những chất ô nhiễm càng có mặt nhiều trong không khí thì chất lượng không khí càng thấp

Lemay và ctv (2002) cho rằng những chất gây ô nhiễm chuồng heo bao gồm các hạt bụi, các khí và vi sinh vật, thường được gọi là khí dung sinh học Các khí độc quan trọng nhất là carbon dioxide (CO2), ammonia (NH3), hydrogen sulfide (H2S), methane (CH4), nitrous oxide (N2O) và một số khí có số lượng rất nhỏ như aldehydes, amine, chất thơm, các acid hữu cơ, phức hợp sulphur (Hartung và Phillips, 1994) CO2 được sản xuất chính từ hô hấp của heo, trong khi đó NH3 được giải phóng do vi khuẩn và các emzyme phân hủy các phức hợp chứa nitrogen trong chất thải, đặc biệt là nước tiểu Khí dung sinh học bao gồm vi khuẩn, nội độc tố và nấm Butera và ctv (1991) ghi nhận

vi khuẩn G+ chiếm 72% số vi khuẩn phân lập được trong bụi của chuồng heo thịt Có

22 loài vi khuẩn và nấm đã được phân lập từ bụi của một ô chuồng đang nuôi heo so với 6 loài từ bụi của một ô chuồng tương tự nhưng bỏ trống (Martin và ctv, 1996) Các nghiên cứu trước đây cũng cho rằng không khí xung quanh chuồng nuôi chứa một lượng lớn vi sinh vật

Theo Gonyou và ctv (1999) các khí chính trong chuồng nuôi có ảnh hưởng đến năng suất và tỷ lệ mắc bệnh mới (incidence) là NH3, CO2, H2S và CO H2S và CO có thể là nguyên nhân trực tiếp gây chết heo, trong khi đó các khí khác có ảnh hưởng đến sản xuất và sức khỏe một cách gián tiếp Ví dụ, khí NH3 ở mức 50 ppm đến 75 ppm sẽ làm giảm khả năng tiêu diệt vi khuẩn trong phổi của heo con (Drummond và ctv, 1978)

Theo Carson (1999) heo nuôi nhốt trong chuồng kín sẽ tăng nguy cơ nhiễm độc khí tùy thuộc vào cơ chế làm thông khí Các khí quan trọng nhất là NH3 và H2S được phân hủy từ phân và nước tiểu ở các hố chất thải dưới sàn kỵ khí hoặc ở trong sâu của các bao đựng rác và chất thải CO2 và CH4 cũng được sản sinh nhưng hiếm khi đạt tới những nồng độ có ý nghĩa Nồng độ của các khí độc được tính bằng lượng của khí đó trong không khí (ppm)

Trang 32

• Khí NH3

Khí NH3 là khí độc gây ô nhiễm không khí thường được thấy với nồng độ cao trong chuồng heo Khí này được tạo thành do sự phân hủy của phân và nước tiểu Có mùi cay và hăng, con người có thể nhận thấy ở khoảng 10 ppm hoặc thấp hơn Nồng độ NH3 trong chuồng kín thường tồn tại khoảng dưới 30 ppm ngay cả khi nhiệt độ không khí thấp Tuy nhiên, nó có thể đạt tới 50 ppm hay cao hơn NH3 có khả năng hòa tan rất cao trong nước và như thế nó tác động với màng nhày ẩm ướt của mắt và qua đường hô hấp Cho nên, gây chảy nước mắt quá mức, thở nông và chảy nước mũi trong hay có mủ; đó là những triệu chứng nhiễm độc NH3 không khí Tại nồng độ thường thấy trong môi trường chuồng nuôi (<100 ppm), ảnh hưởng chính của khí này là yếu tố gây stress mãn tính có thể ảnh hưởng đến diễn tiến của bệnh truyền nhiễm cũng như ảnh hưởng đến tăng trưởng của các heo con khỏe mạnh Tốc độ tăng trưởng của heo con giảm 12% khi NH3 không khí là 50 ppm và 30% khi NH3 là 100 hay 150 ppm (Drummond

và ctv, 1980) Ở nồng độ 50 hay 100 ppm, NH3 sẽ làm bệnh tích trên xương loa mũi

trầm trọng hơn khi heo nhiễm Bordetella bronchiseptica (Drummond và ctv, 1981)

Cũng trong năm 1981 một nghiên cứu khác của Drummond và ctv đã cho thấy 100 ppm NH3 trong không khí sẽ làm giảm tăng trưởng 32% và nhiễm ascarid khoảng 28%, tuy nhiên nếu sự nhiễm trùng và tác động của NH3 lên heo vào cùng một thời điểm thì tốc độ tăng trưởng giảm tới 61%

Jones và ctv (1996) khuyến cáo rằng nên khống chế mức NH3 trong chuồng nuôi ít hơn 25 ppm, ở mức này NH3 không gây ảnh hưởng xấu đến sức sản xuất và tình trạng sức khỏe của heo; và heo hoàn toàn không bị ảnh hưởng khi mức NH3 thấp khoảng 10 ppm

Theo Lemay (2002) muốn kiểm soát lượng NH3 của chuồng nuôi phải điều chỉnh tốc độ thông thoáng tối thiểu sao cho giữ nồng độ NH3 luôn luôn dưới 25ppm đồng thời giữ độ ẩm tương đối trong khoảng 55% Nếu độ thông thoáng tối thiểu cao quá thì không khí chuồng nuôi sẽ sạch nhưng heo lại tốn nhiều năng lượng để giữ

Trang 33

nhiệt Do đó nên điều chỉnh quạt để giữ nồng độ NH3 trong chuồng nuôi thấp mà heo lại không bị mất năng lượng

Điều chỉnh công thức của khẩu phần để khẩu phần có lượng protein thô thấp nhưng cân đối về các amino acid thiết yếu có thể làm giảm sự bài thải nitrogen tổng số, như vậy sẽ làm giảm giải phóng NH3 Mặt khác, trong phương pháp làm giảm phóng thích NH3 từ nitrogen của nước tiểu, người ta dùng khẩu phần có protein thấp và tinh bột dễ lên men đường đa không phải tinh bột (non-starch polysacchrides – NSP) sẽ kích thích sự lên men của vi khuẩn trong ruột già và làm giảm tỷ lệ nitrogen nước tiểu

so với phân tới 68% (Canh và ctv, 1997) Godbout và ctv (2000) đo NH3 được phóng thích từ khẩu phần protein thấp và khẩu phần protein thấp có tinh bột dễ lên men, kết quả cho thấy lượng NH3 phóng thích giảm 21 và 38% so với lô đối chứng

2.4 Yếu tố vi sinh vật gây bệnh

Trong môi trường không khí tự nhiên hay trong môi trường các khu chăn nuôi luôn có mặt những mầm bệnh gây bệnh hô hấp, khi chúng gặp những điều kiện thuận lợi sẽ xâm nhập, phát triển và gây nên các bệnh trên đường hô hấp

Một số bệnh do vi khuẩn như

• Bệnh viêm teo xương mũi truyền nhiễm do Pasteurella multocida, Bordetella

bronchiseptica, Streptococcus pyogenes và virus Done gây nên

• Bệnh phó thương hàn (Salmonellosis) do Salmonella choleraesuis gây nên

• Bệnh glasser do Haemophilus parasuis gây ra

• Bệnh tụ huyết trùng (Pasteurellosis) do Pasteurella multocida gây ra

• Bệnh do Streptococcus gây xung huyết gan và phổi

• Bệnh do Actinobacillus gây viêm phổi có mủ, tích dich ở xoang phổi

Một số bệnh do virus bao gồm:

• Bệnh cúm heo (Swine influenza) do virus orthomyxoviridae

• Bệnh giả dại (Aujeszky’s) do Herpesvirus type I

Trang 34

• Bệnh cảm nhiễm đường hô hấp và sinh sản trên heo do Arterivirus (PRRS:

Porcine Reproductive Respiratory Syndrome)

Các vi sinh vật trong không khí có khả năng chịu được những điều kiện môi trường

khác nhau được thể hiện ở bảng 2.6

Bảng 2.9 Khả năng tồn tại của một số vi sinh vật trong không khí chuồng nuôi

Mật độ chuồng nuôi là một trong những yếu tố ảnh hưởng tỷ lệ nhiễm bệnh hô

hấp của heo Nếu mật độ quá dày có thể làm tăng nhiệt độ trong chuồng nuôi cũng như

làm giảm sức đề kháng của heo Do đó, luôn có những tiêu chuẩn về mật độ heo trong

chuồng theo từng trọng lượng khác nhau:

Trang 35

Bảng 2.10 Diện tích chuồng cho heo sau cai sữa, trưởng thành và vỗ béo

Khối lượng heo (kg) Diện tích (m2 vuông/con)

sự tăng trưởng của heo Ví dụ: tăng 1 hoặc 2 con trong mùa đông và giảm bớt vào mùa

Các chỉ tiêu kỹ thuật của xí nghiệp chăn nuôi heo Phước Long thuộc tổng công

ty Nông Nghiệp Sài Gòn quy định mật độ heo nuôi như sau:

Đẻ 4,08 Nọc 6

Trang 36

2.6 Lược duyệt một số công trình nghiên cứu

Theo Trần Văn Đức (2004), Bước đầu khảo sát bệnh đường hô hấp trên heo nuôi thịt tại xí nghiệp chăn nuôi heo Vĩnh An Kết quả ghi nhận được heo nuôi từ giai đoạn 56 ngày tuổi đến xuất thịt có tỷ lệ nhiễm bệnh hô hấp cao nhất là 17,36%

Theo Hoàng Quốc Huy (2007), Tình hình bệnh hô hấp trên heo cai sữa tại một trại chăn nuôi công nghiệp và hiệu quả điều trị bằng Oxytetracycline L.A 300 và Oxytetracycline 100 Kết quả ghi nhận được tỷ lệ ho, ho – thở bụng cao nhất lúc 60 –

90 ngày tuổi lần lượt là 33,72% và 1,16%

Theo Đỗ Thanh Vũ (2008), khảo sát bệnh trên đường hô hấp và hiệu quả điều trị bệnh đường hô hấp trên heo từ sơ sinh đến 100 ngày tuổi tại một trại chăn nuôi công nghiệp Kết quả ghi nhận được tỷ lệ ho trung bình ở giai đoạn 1 là 7,04% thấp hơn giai đoạn 2 là 60,08% và thấp hơn giai đoạn 3 là 61,11%

Theo Trần Lê An Dân (2003), Khảo sát biểu hiện lâm sàng liên quan đến hô hấp

và bệnh tích phổi trên heo thịt tại một trại chăn nuôi heo công nghiệp Kết quả ghi nhận được tỷ lệ ho là 69,05% và tỷ lệ thở bụng là 40,18%

Trang 37

Chương 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT

3.1 Thời gian và địa điểm tiến hành

3.2 Nội dung thực hiện

Ghi nhận một số điều kiện về môi trường chăn nuôi của lô theo dõi ( mật độ, nhiệt độ, ẩm độ, NH3…)

• Biểu hiện hô hấp trên heo khảo sát

• Kết quả điều trị bệnh hô hấp trên heo theo dõi

3.3 Đối tượng khảo sát

1292 heo giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa (heo khảo sát được cai sữa lúc 26 ngày tuổi), 646 heo giai đoạn từ 26 ngày đến 54 ngày tuổi(thời điểm chuyển thịt), 716 heo giai đoạn từ 54 ngày đến 94 ngày tuổi

3.4 Dụng cụ và vật liệu

Nhiệt kế và ẩm kế do Trung Quốc sản xuất

Giấy đo nồng độ khí NH3 do Mỹ sản xuất

3.5 Phương pháp tiến hành

3.5.1 Bố trí khảo sát

Theo dõi đàn heo khảo sát được bố trí chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn I: từ sơ sinh đến 26 ngày tuổi, giai đoạn II: từ 26 đến 54 ngày tuổi, giai đoạn III: từ 54 đến 94 ngày tuổi Bố trí khảo sát được biểu thị qua bảng 3.1:

Trang 38

Bảng 3.1 Bố trí khảo sát

Chỉ tiêu

Giai đoạn

Dãy chuồng

Số con khảo sát (con)

Đợt khảo sát

Thời gian theo dõi Chỉ tiêu theo dõi

ƒ Theo dõi nhiệt

độ, ẩm độ và nồng độ NH3 ở chuồng nuôi

ƒ Theo dõi kết quả điều trị bệnh

hô hấp

3.5.2 Phương pháp theo dõi

3.5.2.1 Theo dõi các triệu chứng hô hấp trên heo từ sơ sinh đến 94 ngày tuổi giữa các dãy chuồng

Quan sát và ghi nhận các biểu hiện hô hấp trên heo như ho, thở bụng, ho kết hợp thở bụng Việc quan sát được thực hiện trên 4 thời điểm trong ngày lúc 6 - 7 giờ sáng,

Trang 39

13 - 14 giờ trưa, 18 - 19 giờ tối, 22 - 23 giờ đêm Biểu hiện thở bụng trên những heo thành bụng hoạt động rõ thành ngực hoạt động yếu hoặc không hoạt động, quan sát chỗ trũng của hõm hông

Mổ khám heo bệnh đường hô hấp bị chết để quan sát bệnh tích đại thể

Ghi nhận trọng lượng heo khảo sát lúc sơ sinh, cai sữa (26 ngày tuổi) và 54 ngày tuổi

3.5.2.2 Theo dõi nhiệt độ chuồng nuôi

Việc theo dõi nhiệt độ chuồng nuôi được thực hiện 4 lần trong ngày lúc 6 - 7 giờ sáng, 13 - 14 giờ trưa, 18 - 19 giờ chiều, 22 - 23 giờ tối; 1 tuần quan sát 3 ngày Đặt nhiệt kế ở giữa dãy chuồng và cách nền chuồng là 0,6m

3.5.2.3 Theo dõi ẩm độ chuồng nuôi

Ẩm độ chuồng nuôi được theo dõi 4 lần trong ngày lúc 6 - 7 giờ sáng, 13 -14 giờ trưa, 18 - 19 giờ chiều, 22 giờ tối; 1 tuần quan sát 3 ngày Đặt ẩm kế ở giữa dãy chuồng và cách nền chuồng là 0,6m

3.5.2.4 Khoảng biến động nhiệt độ giữa ngày và đêm

Là hiệu nhiệt độ trung bình ban ngày và nhiệt độ trung bình ban đêm của tháng Nhiệt độ trung bình ban ngày là nhiệt độ trung bình của 3 lần đo vào lúc 6 - 7 giờ sáng, 13-14 giờ trưa và 18-19 giờ tối

Nhiệt độ trung bình ban đêm là nhiệt độ trung bình của 3 lần đo vào lúc 18 – 19 giờ tối, 22 – 23 giờ đêm và 6 - 7 giờ sáng

3.5.2.5 Khoảng biến động ẩm độ giữa ngày và đêm

Là hiệu ẩm độ trung bình ban ngày và ẩm độ trung bình ban đêm của tháng

Ẩm độ trung bình ban ngày là ẩm độ trung bình của 3 lần đo vào lúc 6 - 7 giờ sáng, 13-14 giờ trưa và 18-19 giờ tối

Ẩm độ trung bình ban đêm là ẩm độ trung bình của 3 lần đo vào lúc 18 – 19 giờ tối, 22 – 23 giờ đêm và 6 - 7 giờ sáng

Ngày đăng: 13/08/2018, 15:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w