1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM CẦU TRÙNG TRÊN BÊ TẠI HUYỆN VŨNG LIÊM, TAM BÌNH THUỘC TỈNH VĨNH LONG VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ THUỐC TẨY TRỪ

59 96 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM CẦU TRÙNG TRÊN BÊ TẠI HUYỆN VŨNG LIÊM, TAM BÌNH THUỘC TỈNH VĨNH LONG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM CẦU TRÙNG TRÊN BÊ TẠI HUYỆN VŨNG LIÊM, TAM BÌNH THUỘC TỈNH VĨNH LONG

VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ THUỐC TẨY TRỪ

Sinh viên: NGUYỄN HOÀNG VŨ

Ngành : Thú Y

Khóa : 2003 - 2008

Lớp : TCVL03

-Tháng

Trang 2

05/2009-KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM CẦU TRÙNG TRÊN BÊ TẠI HUYỆN VŨNG LIÊM, TAM BÌNH THUỘC TỈNH VĨNH LONG

VÀ HIỆU QUẢ MỘT SỐ THUỐC TẨY TRỪ

Tác giả

NGUYỄN HOÀNG VŨ

Khóa luận được đệ trình để đáp ứng yêu cầu cấp bằng Bác Sỹ ngành Thú y

Giáo viên hướng dẫn:

PGS.TS LÂM THỊ THU HƯƠNG ThS NGUYỄN HUỲNH NGA

-2009-

Trang 3

XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Họ tên sinh viên thực tập: NGUYỄN HOÀNG VŨ

“Khảo sát tình hình nhiễm cầu trùng trên bê

Liêm, Tam Bình thuộc tỉnh Vĩnh Long và hiệu quả một số thuốc tẩy trừ”

Đã hoàn thành luận văn theo đúng yêu cầu của giáo viên hướng dẫn và các ý kiến nhận xét, đóng góp của Hội đồng chấm thi tốt nghiệp Khoa ngày Giáo viên hướng dẫn

PGS.TS.LÂM THỊ THU HƯƠNG

Trang 4

LỜI CẢM TẠ

● Con xin mãi ghi nhớ công ơn của ba mẹ đã hết lòng yêu thương, chăm sóc, nâng đỡ và động viên con để con có được ngày hôm nay

● Xin chân thành biết ơn:

○ Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh

○ Ban Chủ Nhiệm Khoa Chăn Nuôi Thú Y

○ Ban Giám Hiệu Trường Cao Đẳng Cộng Đồng Vĩnh Long

○ Toàn thể Quý Thầy Cô

Đã tận tình chỉ dạy, truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

● Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:

○ PGS TS Lâm Thị Thu Hương

○ ThS.Nguyễn Huỳnh Nga

Đã hết lòng chỉ dạy, động viên, giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp

● Xin chân thành cám ơn:

○ Ban lãnh đạo Chi Cục Thú Y Tỉnh Vĩnh Long

○ Các cô chú, anh chị đã và đang công tác tại Trạm Thú Y Huyện Vũng Liêm và Tam Bình

Đã hết lòng giúp đỡ, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian thực tập tốt nghiệp

● Chân thành cảm ơn và gởi lời chúc tốt đẹp đến toàn thể các bạn trong và ngoài lớp đã cùng chia sẻ, đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Trang 5

bê từ 0 đến 8 tháng tuổi bằng phương pháp Mc.Master và phương pháp phù nổi bằng dung dịch nước muối bảo hòa.Ngoài ra chúng tôi tiến hành tẩy trừ và đánh giá hiệu qủa của hai loại thuốc tẩy cầu trùng là Toltrazuril và Sulfamerazin Kết qủa ghi nhận được như sau:

- Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên bê ở cả hai huyện 60,66% Tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở huyện Vũng Liêm 62,00% và tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở huyện Tam Bình 59,33 %

- Tỷ lệ hộ có bê bị nhiễm cầu trùng ở huyện Vũng Liêm là 71,62% và Tam Bình là 60,81% Tỷ lệ nhiễm cao nhất ở những hộ có qui mô nuôi từ 10 – 20 con (100%), kế đến là những hộ có qui mô nuôi từ 5 – 10 con (78,95%) và thấp nhất là những hộ nuôi với qui mô từ < 5 con (56,70%) Qua các hộ chúng tôi khảo sát không

có hộ nào nuôi với qui mô > 20

- Tỷ lệ nhiễm cầu trùng cao nhất là xã Tân Quới Trung (82,35%) và thấp nhất là

xã Quới An (57,14%) của huyện Vũng Liêm Có tỷ lệ nhiễm cầu trùng cao nhất của huyện Tam Bình là xã Mỹ Lộc (72,73%) và thấp nhất là xã Loan Mỹ (50,00%)

- Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên những bê nuôi nhốt là 86,81% cao hơn ở những bê nuôi thả là 49,28%

- Bê của giống bò lai Sind có tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 54,93% thấp hơn bê của giống bò Ta Vàng với tỷ lệ nhiễm cầu trùng là 67,39%

- Tỷ lệ nhiễm cầu trùng cao nhất ở nhóm tuổi từ 2 - 4 tháng (72,09%), kế đến là

ở nhóm tuổi từ 0 – 2 tháng (65,67%), tiếp theo là ở nhóm tuổi từ 4 – 6 tháng (58,69%)

và thấp nhất là ở nhóm tuổi từ 6 – 8 tháng (54,08%)

- Bê đực và bê cái đều được nuôi trong cùng một chuồng, các yếu tố về ngoại cảnh, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiêm phòng, … đều như nhau Vì vậy, tỷ lệ nhiễm cầu

Trang 6

- Trong 300 mẫu phân khảo sát có 182 mẫu phân nhiễm cầu trùng, trong đó cường độ nhiễm ( 1+ ) chiếm tỷ lệ 35,33%, cường độ nhiễm ( 2+ ) chiếm tỷ lệ 20,67%, cường độ nhiễm ( 3+ ) chiếm tỷ lệ rất thấp 4,66%

-Thuốc Toltrazuril có tỷ lệ tẩy trừ cầu trùng đạt 90,00% cao hơn thuốc Sulfamerazin chỉ đạt 85,00% Toltrazuril có thời gian tác dụng cao nhất là vào khoảng

7 ngày sau khi cấp thuốc, nhanh hơn thuốc Sulfamerazin (khoảng 21 ngày sau khi cấp thuốc)

Trang 7

MỤC LỤC

Trang tựa i

Nhận xét ii

Lời cảm ơn iii

Tóm tắt khoá luận iv

Mục lục vi

Danh sách các bảng ix

Danh sách các hình x

Danh sách các biểu đồ x

Chương 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.2 MỤC ĐÍCH-YÊU CẦU 2

Chương 2 TỔNG QUAN 3

2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ HUYỆN VŨNG LIÊM 3

2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội 3

2.1.2 Tình hình chăn nuôi bò 3

2.2 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ HUYỆN TAM BÌNH .6

2.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội .6

2.2.2 Tình hình chăn nuôi bò 6

2.3 GIỚI THIỆU VỀ CẦU TRÙNG TRÊN BÒ 9

2.3.1 Phân loại học 9

2.3.2 Hình thái cấu tạo 9

2.3.3 Chu kỳ phát triển 12

2.4 Bệnh do cầu trùng trên bò 14

2.4.1 Dịch tễ học 14

2.4.2 Cơ chế gây bệnh 15

2.4.3 Triệu chứng 16

2.4.4 Bệnh tích 17

2.4.5 Tác hại của bệnh do cầu trùng đối với vật nuôi 17

Trang 8

2.4.7 Phòng trị 17

2.5 Một số loại thuốc điều trị bệnh cầu trùng 18

2.5.1.Toltrazuril 18

2.5.2 Sulfamerazine 19

2.6 Một số loại thuốc sát trùng có tác dụng trên cầu trùng 20

2.7 Tóm lược một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 20

2.7.1 Trong nước 20

2.7.2 Nước ngoài (trích dẫn Nguyễn Huỳnh Nga, 2008) 21

Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1.1 Thời gian thực hiện 22

3.1.2 Địa điểm khảo sát 22

3.1.3 Đối tượng khảo sát 22

3.1.4 Vật liệu, hóa chất, dụng cụ thí nghiệm 22

3.2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 22

3.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.3.1 Phương pháp điều tra lấy mẫu 23

3.3.2 Cách lấy mẫu phân gởi xét nghiệm 23

3.3.3 Phương pháp Mc.Master 24

3.3.4 Phương pháp phù nổi 24

3.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 25

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 26

4.1 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng đường tiêu hóa trên bê nuôi tại 2 huyện Vũng Liêm và Tam Bình 26

4.2 Tỷ lệ hộ có bê bị nhiễm cầu trùng 28

4.3 Tỷ lệ hộ có bê bị nhiễm cầu trùng tại hai huyện Vũng Liêm – Tam Bình theo xã 29 4.4 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên bê theo phương thức chăn nuôi 30

4.5 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên bê theo giống 32

4.6 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên bê theo lứa tuổi 33

4.7 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên bê theo giới tính 34

4.8 Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên bê ở các mức cường độ 35

Trang 9

4.9 Hiệu quả tẩy trừ cầu trùng trên bê có cường độ nhiễm từ 2+ trở lên 37

Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 39

5.1 KẾT LUẬN 39

5.2 ĐỀ NGHỊ 40

TÀI LIỆU THAM KHẢO 41

Trang 10

DANH SÁCH CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên bê tại 2 huyện Vũng Liêm và Tam Bình 26

Bảng 4.2: Tỷ lệ hộ có bê bị nhiễm cầu trùng 28

Bảng 4.3: Tỷ lệ hộ có bê bị nhiễm cầu trùng tại hai huyện Vũng Liêm – Tam Bình theo xã 29

Bảng 4.4: Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên bê theo phương thức chăn nuôi 30

Bảng 4.5:Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên bê theo giống 32

Bảng 4.6: Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên bê theo lứa tuổi 33

Bảng 4.7: Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên bê theo giới tính 34

Bảng 4.8: Tỷ lệ nhiễm cầu trùng trên bê ở các mức cường độ 35

Bảng 4.9: Kết quả tẩy trừ cầu trùng (Eimeria) của hai loại thuốc Toltrazuril và Sulfamerazine 37

Trang 11

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Hình 2.1 Noãn nang cầu trùng giống Eimeria 10

Hình 2.2 Đặc điểm hình thái noãn nang một số loài cầu trùng ở bò 11

Hình 2.3 Vòng đời của noãn nang cầu trùng ở bò 14

Hinh 4.1: hình noãn nang cầu trùng 27

Hình 4.2: hình noãn nang cầu trùng 27

Hình 4.3: Mô hình chăn nuôi theo phương thưc nhốt hoàn toàn 31

Hình 4.4: Mô hình chăn nuôi theo phương thức bán chăn thả 31

Hình 4.5: Mẫu phân bê tiêu chảy kiểm tra nhiễm noãn nang 36

Hình 4.6: Mẫu phân bê tiêu chảy kiểm tra nhiễm noãn nang 36

DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ nhiễm cầu trùng theo tuổi 33

Biểu đồ 4.2: Hiệu quả tẩy sạch cầu trùng 37

Trang 12

Tỉnh Vĩnh Long nói chung và hai huyện Vũng Liêm và Tam Bình nói riêng có thế mạnh về nông nghiệp, có điều kiện thuận lợi để phát triển chăn nuôi bò Trong những năm qua hai huyện đã triển khai nhiều dự án trên bò như cung cấp con giống, tinh bò, nhằm từng bước cải tạo đàn bò của địa phương theo hướng Sind hoá Tuy nhiên, ngành chăn nuôi bò còn gặp nhiều khó khăn do việc nuôi dưỡng, chăm sóc, đặc biệt là vấn đề vệ sinh thú y, phòng bệnh cho bò chưa được người dân quan tâm đúng mức, trong đó bao gồm bệnh do ký sinh trùng trên đường tiêu hoá Bệnh ký sinh trùng

trên đường tiêu hóa, trong đó có bệnh cầu trùng (Eimeria) trên bê nghé là rất quan

trọng Nó không gây thành ổ dịch lớn như bệnh do vi khuẩn, virus nhưng thường kéo dài, làm giảm năng suất chăn nuôi, gây thiệt hại không nhỏ về mặt kinh tế và là yếu tố

mở đường cho các mầm bệnh khác xâm nhập

Trong giai đoạn nuôi ngoài đồng cỏ thì bệnh do cầu trùng ở bê đứng đầu (Phạm

Sỹ Lăng và Phạm Địch Lân, 1997 trích dẫn) Bê là giai đoạn tiền đề cho quá trình phát

triển đàn bò địa phương sau này, tuy nhiên đây cũng là giai đoạn cảm nhiễm với các bệnh truyền nhiễm và bệnh ký sinh cao nhất

Trang 13

Xuất phát từ vấn đề trên Được sự đồng ý của Khoa Chăn Nuôi - Thú Y, Đại học Nông Lâm - TP Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lâm Thị Thu

Hương, chúng tôi thực hiện đề tài: “Khảo sát tình hình nhiễm cầu trùng trên bê tại huyện Vũng Liêm, Tam Bình thuộc tỉnh Vĩnh Long và hiệu qủa một số thuốc tẩy trừ”

- Khảo sát tình hình nhiễm cầu trùng trên đàn bê bằng phương pháp phù nổi

- Bố trí điều trị bê nhiễm cầu trùng bằng 2 loại thuốc và xác định hiệu qủa điều trị sau khi dùng thuốc

Trang 14

Chương 2

TỔNG QUAN

2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ HUYỆN VŨNG LIÊM

2.1.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội

- Thế mạnh đặc trưng:

+ Vùng sản xuất nhiều lúa gạo phẩm chất cao và gạo đặc sản

+ Nhiều vườn cây ăn trái đặc sản như: sầu riêng, bòn bon, măng cụt… phong cảnh nhiều đặc trưng vùng đồng bằng Nam Bộ Có điểm du lịch sinh thái hấp dẫn Có hai xã cù lao sông nước hữu tình chuyên trồng cây ăn trái

+ Trồng nhiều cây công nghiệp như dừa, lác, đậu nành… và cũng là huyện có đàn gia súc lớn nhất trong đó đàn bò còn nhiều tiềm năng

2.1.2 Tình hình chăn nuôi bò

- Huyện Vũng Liêm là một trong những huyện có tổng đàn bò lớn nhất tỉnh với

số lượng năm 2008 là 22.589 con Phân bố ở hầu hết tất cả các xã trong huyện, nhiều nhất là ở xã Quới An với 1.919 con và thấp nhất là ở thị trấn với 462 con Sự phân bố của toàn huyện như sau:

Trang 15

- Qui mô chăn nuôi:

Bò được nuôi theo qui mô nhỏ, có tính gia đình

- Chăm sóc và nuôi dưỡng:

Có hai hình thức nuôi đó là nuôi nhốt hoàn toàn và nuôi theo hướng bán chăn thả Bê dưới hai tháng tuổi được nhốt tự do trong chuồng, cầm cột hoặc được thả tự

do

Trang 16

- Chuồng trại:

Được xây kiên cố hoặc bán kiên cố, nền chuồng được tráng xi măng, mái tole hoặc mái lá, máng uống được xây bằng bê tông kiên cố, có những hộ thì dùng thau hoặc xô đựng nước uống cho bò, có những hộ cải tạo chuồng heo làm chuồng nuôi, sử dụng ván, cây gỗ để làm máng ăn cho bò

- Nguồn nước:

Nhìn chung các hộ chăn nuôi bò sử dụng nguồn nước từ ao hồ, kênh rạch, nước được bơm lên và sử lý mới cho bò uống Một số ít sử dụng nước máy hiên có ở địa phương cho bò uống

- Thức ăn:

Đồng cỏ tự nhiên: 100% người chăn nuôi sử dụng đồng cỏ tự nhiên ở các bờ ruộng, gần đường giao thông hay tất cả nơi nào có cỏ mọc để làm thức ăn cho bò bằng cách cắt đem về hay thả trực tiếp cho ăn

Cỏ nhân tạo: đàn bò của huyện hiên rất lớn và ngày một tăng, trong khi diện tích cỏ tự nhiên ngày ít đi, do vậy người chăn nuôi phải tận dụng những mảnh vườn trồng cây ăn trái, bờ đê để trồng cỏ như: cỏ voi, cỏ xã, cỏ nước nhằm để đáp ứng nhu cầu thức ăn cho đàn bò

Rơm: phần lớn các hộ nuôi bò đều có cây rơm, rơm được phơi khô và chất thành cây để dự trữ cho bò ăn quanh năm nhất là vào mùa khô

Trang 17

2.2 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ HUYỆN TAM BÌNH

2.2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội

- Thế mạnh đặc trưng:

+ Vùng sản xuất lúa gạo đặc trưng quan trọng và có năng xuất cao nhất

+ Có nhiều loại cây trồng chất lượng cao, đặc biệt “Cam Sành Tam Bình” với hương vị ngọt ngào nổi tiếng cả nước

+ Khả năng phát triển công nghiệp và nhất là chế biến nông sản, tiểu thủ công nghiệp còn lớn

2.2.2 Tình hình chăn nuôi bò

- Tổng đàn bò của huyện cuối năm 2007 là 9.946 con, đến thời điểm cuối năm

2008 đàn bò của huyện đạt 10.091 con tăng 145 con (1,46%) đây là huyện có số lượng

bò tương đối lớn, nhưng mức độ phát triển không cao là do thức ăn tươi bắt đầu khan hiếm, điều kiện chăn thả hạn chế Mặt khác do nguồn cung dồi dào nên xảy ra tình trạng tư thương ép giá làm cho người chăn nuôi không muốn phát triển thêm đàn bò

mà chỉ tăng trưởng chủ yếu trên nền tảng bò cái sinh sản hiện có

Trang 18

- Qui mô chăn nuôi:

Bò được nuôi theo qui mô nhỏ, có tính gia đình

- Chăm sóc và nuôi dưỡng:

Có hai hình thức nuôi đó là nuôi nhốt hoàn toàn và nuôi theo hướng bán chăn thả Bê dưới hai tháng tuổi được nhốt tự do trong chuồng, cầm cột hoặc được thả tự do

ở những bãi đất tróng xung quanh nhà

- Chuồng trại:

Được xây kiên cố hoặc bán kiên cố, nền chuồng được tráng xi măng, mái tole hoặc mái lá, máng uống được xây bằng bê tông kiên cố, trong đó có những hộ chăn

Trang 19

nuôi cải tạo chuồng heo làm chuồng nuôi, máng ăn được xây kiên cố hoặc sử dụng ván, cây gỗ để làm máng ăn cho bò

- Nguồn nước:

Nhìn chung các hộ chăn nuôi bò sử dụng nguồn nước từ ao hồ, kênh rạch, nước được bơm lên và sử lý rồi mới cho bò uống Một số ít sử dụng nước máy hiện có ở địa phương, một số ít hộ có nước giếng thì dùng nước đó cho bò uống

- Thức ăn:

Đồng cỏ tự nhiên: 100% người chăn nuôi sử dụng đồng cỏ tự nhiên ở các bờ ruộng, gần đường giao thông hay tất cả nơi nào có cỏ mọc để làm thức ăn cho bò bằng cách cắt đem về hay thả trực tiếp cho ăn

Cỏ nhân tạo: đàn bò của huyện ngày một tăng, trong khi diện tích cỏ tự nhiên ngày ít đi, do vậy người chăn nuôi phải tận dụng những mảnh vườn trồng cây ăn trái,

bờ đê, bờ ao, để trồng cỏ như: cỏ voi, cỏ xã, cỏ nước nhằm để đáp ứng nhu cầu thức

- Thuốc sát trùng:

Hầu như các hộ chăn nuôi không sử dụng thuốc sát trùng để phung xịt chuồng trại ngoại trừ có những khuyến cáo của thú y địa phương khi có dịch

Trang 20

- Tiêm phòng:

Định kỳ tiêm phòng Lỡ mồm long móng và Tụ huyết trùng, tiêm phòng mỗi năm 2 dợt vào tháng 3 – 4 và tháng 9 – 10 hàng năm

2.3 GIỚI THIỆU VỀ CẦU TRÙNG TRÊN BÒ

Giống cầu trùng Eimeria được Schneider phát hiện vào năm 1875 (trích dẫn

Nguyễn Huỳnh Nga, 2008) Sau đó các nhà khoa học đã nghiên cứu và miêu tả các

loài cầu trùng trên bò Trong đó loài E.bovis được miêu tả đầu tiên (Zublin, 1908, trích

dẫn Nguyễn Huỳnh Nga, 2008) Hiện nay đã phát hiện được 13 loài cầu trùng ký sinh gây bệnh cho bò, trong đó có 7 loài phổ biến Mỗi loài có kích thước và hình dạng khác nhau Noãn nang là dạng trưởng thành của cầu trùng, có trong phân, thường có hình tròn, hình trứng, hình bầu dục

2.3.1 Phân loại học

Ngành: Protozoa Lớp: Sporozoasida Phân lớp: Coccidiosina Bộ: Eucoccidiorida Phân bộ: Eimeriosina Họ: Eimeriidae Giống: Eimeria

(Theo Levine và cộng sự 1980, trích dẫn Lê Hữu Khương, 2002)

2.3.2 Hình thái cấu tạo

Oocyst (noãn nang) có hình tròn, bầu dục hay oval, có khi có hình qủa lê Lớp

vỏ trong (lớp vỏ thứ hai) thường dày, màu sắc vàng nhạt, vàng sẫm hay trắng nhạt Phía trên có nắp noãn nang (micropile cap), chứa lỗ noãn nang (micropile) và hạt cực (polar granule) Bên trong noãn nang có chứa tế bào phôi

Oocyst gây nhiễm có chứa 4 sporocyst (bào trùng) Mỗi sporocyst chứa 2 sporozoite (tử bào trùng) Bên trong oocyst có thể cặn (residium) Mỗi sporocyst cũng có thể cặn

và còn có thêm thể stieda (stieda body)

Sporozoite có hình lê dài, một đầu nhọn, có vòng cực và lỗ hổng (anterior) ở phía đầu Bên trong có chứa nêm (conois), cytostome, hạt đặc (dense granule), lưới nội sinh

Trang 21

chất, mạng lưới Golgi, màng trong, ty thể, nhân, màng nguyên sinh chất, lỗ triết quang lớn và nhỏ

Hình 2.1 Noãn nang cầu trùng giống Eimeria

(Nguồn: Eckert, 1995 )

Đặc điểm hình thái của noãn nang các loài Eimeria trên bò:

E subspherica: noãn nang có hình tròn hay hơi tròn, không màu, không có cặn

noãn nang và cặn túi bào tử, không có micropyle, kích thước 9 -14 x 8 - 13μm

E zuernii: noãn nang có hình hơi tròn, không màu, không có cặn noãn nang

nhưng có cặn túi bào tử, không có micropyle, kích thước 15 -22 x 13 -18μm

E ellipsoidalis: noãn nang có hình ellip, không màu, không có cặn noãn nang

nhưng có cặn túi bào tử, không có micropyle, kích thước 20 -26 x 13 -17μm

E cylindrica: noãn nang có hình trụ dài, không màu, không có cặn noãn nang

nhưng có cặn túi bào tử, không có micropyle, kích thước 16 – 27 x 12 - 15μm

E alabamensis: noãn nang có hình bầu dục hay hình sợi, không màu, không có

cặn noãn nang hoặc cặn túi bào tử, không có micropyle, kích thước 13 -24 x 11 -16μm

E bovis: noãn nang có hình bầu dục hay hơi tròn, không màu, không có cặn

noãn nang nhưng có cặn túi bào tử, có micropyle, kích thước 23 – 34 x 17 x 23μm

E canadensis: noãn nang có hình bầu dục, không màu hay màu vàng nhạt,

không có cặn noãn nang, cặn túi bào tử có một ít hạt, có micropyle, kích thước 28 – 37

x 20 - 27μm

Trang 22

E wyomingensis: noãn nang có hình bầu dục, vách dày, màu vàng nâu, không

có cặn noãn nang nhưng có cặn túi bào tử, có micropyle rộng, kích thước 37 – 45 x 26

- 31μm

E auburnensis: noãn nang có hình bầu dục hơi dài, màu vàng nâu, vách nhẵn

với nhiều hạt trên bề mặt, không có cặn noãn nang nhưng có cặn túi bào tử, có micropyle, kích thước 32 -46 x 20 - 25μm

E brasiliensis: noãn nang có hình thoi dài, màu vàng nâu, vách nhẵn với nắp

noãn nang rõ, không có cặn noãn nang nhưng có cặn túi bào tử, có micropyle, kích thước 33 – 43 x 24 - 30μm

E pellita: noãn nang có hình trứng, vách rất dày màu vàng nâu với nhiều vân

sọc phân bố đều trên bề mặt, không có cặn noãn nang nhưng có một ít cặn túi bào tử,

có micropyle, kích thước 36 – 41 x 26 - 30μm

E bukidnonensis: noãn nang có hình qủa lê hay hình bầu dục, phẳng ở một đầu,

vách dày với những vân tỏa ra hình tia, màu vàng nâu, có micropyle, kích thước 47 –

50 x 33 - 38μm

Trong số các loài trên có 4 loài được coi là phổ biến nhất trên bò: E

alabamensis, E bovis, E subspherica, E zuernii

Hình 2.2 Đặc điểm hình thái noãn nang một số loài cầu trùng ở bò

)

Trang 23

2.3.3 Chu kỳ phát triển

Cầu trùng có vòng đời rất phức tạp, sự lưu truyền rộng khắp của cầu trùng là nhờ vào cấu trúc và vòng đời phức tạp cũng như khả năng thích nghi nhanh để tiếp tục phát triển và tồn tại lâu trong thiên nhiên (Lê Văn Năm, 2003)

Giai đoạn sinh bào tử (xảy ra bên ngoài môi trường), còn gọi là giai đoạn ngoại sinh Nếu được động vật cảm thụ nuốt vào ruột chúng sẽ tiếp tục phát triển giai đoạn sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính để tạo ra các noãn nang thải ra môi trường Giai đoạn sinh sản vô tính và sinh sản hữu tính xảy ra trên cùng một cơ thể vật chủ gọi là thời kỳ

phát triển nội sinh Cầu trùng Eimeria hoàn tất vòng đời của chúng trong khoảng 21

ngày

Giai đoạn sinh bào tử (sporogony)

Noãn nang theo phân ra ngoài gặp các điều kiện môi trường khắc nghiệt hoàn toàn khác môi trường bên trong ký chủ, các noãn nang muốn tiếp tục duy trì sự sống buộc chúng phải thích nghi với điều kiện mới với sự có mặt của nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, không khí…luôn luôn thay đổi Các noãn nang nhanh chóng tạo ra vỏ cứng, dày gồm 1-2 lớp với màu sắc khác nhau tùy vào loài cầu trùng

Tiếp theo trong mỗi noãn nang sẽ hình thành 4 bào tử (sporoblast) có hình bầu dục Xung quanh mỗi bào tử hình thành một màng mỏng và trở thành túi bào tử (sporocyst) Trong mỗi túi bào tử nhân lại chia đôi về hai phía và được ngăn cách bởi một màng mỏng để hình thành bào tử (sporozoite) có hình lưỡi liềm

Trong quá trình sinh sản bào tử, cầu trùng Eimeria từ mỗi noãn nang ban đầu

tạo ra 4 túi bào tử, trong mỗi túi bào tử lại có 2 thể bào tử Tất cả 8 thể bào tử được bao bọc chung trong một lớp màng, lúc này noãn nang trở thành noãn nang gây nhiễm (sporulated oocyst) có khả năng gây bệnh và truyền bệnh từ gia súc này sang gia súc khác Giai đoạn này thường kéo dài từ 12 đến 72 giờ nhưng cũng có khi kéo dài đến

12 ngày tùy vào từng loài cầu trùng và điều kiện môi trường Nhiệt độ thích hợp cho qúa trình phát triển bào tử bên ngoài cơ thể là 15 đến 35oC Lạnh -15oC và nóng trên

40oC bào tử sẽ chết Trong điều kiện bình thường bào tử nang tồn tại rất lâu trong môi trường, hàng năm hoặc lâu hơn và chịu được các chất khử trùng tiêu độc cũng như các tác nhân lý hóa…do chúng có vỏ dày

Trang 24

Giai đoạn sinh sản vô tính (schizogony, merogony)

Sau khi gia súc nuốt phải noãn nang gây nhiễm (sporulated oocyst), dưới tác dụng của dịch tiêu hóa (dịch dạ dày, dịch ruột, dịch mật…) vỏ cứng của bào tử nang (sporocyst) bị phá vỡ, các thể bào tử (sporozoite) được giải phóng, lập tức xâm nhập vào các tế bào niêm mạc ruột để ký sinh Các sporoite tròn lại và biến thành meront (schizont) Nhân của các meront tự nhân đôi nhiều lần để tạo ra các tế bào nhiều nhân gọi là meroite hoặc schizoite Mỗi meroite chứa khoảng 900 merozoite Sau 2,5 – 3 ngày các merozoite (thể phân lập thế hệ I) phá vỡ tế bào ruột hoàn thành giai đoạn sinh sản thế hệ I

Các merozoite được sinh ra (2 - 4μm) lại tiếp tục xâm nhập vào các tế bào mới

và sinh sản vô tính thế hệ II để cho ra nhiều merozoite Mỗi merozoite thế hệ I sẽ cho

ra đời 200 -250 merozoite thế hệ II (dài 16μm) Một số merozoite thế hệ II xâm nhập vào tế bào biểu mô mới, đồng hóa nguyên sinh chất đẩy nhân tế bào về một bên và tiến hành sinh sản vô tính thế hệ III tạo thành 4 – 30 merozoite thế hệ III dài 7μm Quá trình sinh sản vô tính xảy ra lập đi lập lại nhiều lần và tạo ra các merozoite thế hệ IV, V…Mỗi chủng cầu trùng có số thế hệ merozoite khác nhau Phần lớn merozoite thế hệ

II xâm nhập vào tế bào biểu mô bắt đầu sinh sản hữu tính Giai đoạn này xảy ra vào khoảng thời gian 2 – 15 ngày sau khi noãn nang xâm nhập vào ký chủ

Giai đoạn sinh sản hữu tính (gametogony)

Phần lớn merozoite tạo thành các tiền giao tử cái Mỗi merozoite tạo ra một tiền giao tử cái nằm dưới nhân tế bào sau đó phát triển thành giao tử cái (macrogamete)

Số ít các merozoite xâm nhập vào biểu mô ruột tạo thành tiền giao tử đực (microgamont) sau đó phát triển thành giao tử đực (microgamete) Có rất nhiều giao tử đực được sinh ra từ merozoite Giao tử đực có kích thước và nhân nhỏ hơn so với giao

tử cái

Giao tử đực phá vỡ tế bào xâm nhập vào tế bào có giao tử cái rồi chui vào giao

tử cái để thụ tinh tạo thành hợp tử (zygote) Hợp tử được bọc bởi một lớp màng 2 lớp

và trở thành noãn nang Noãn nang phá vỡ tế bào biểu mô của vật chủ vào trong lòng ruột rồi theo phân ra ngoài môi trường (vào khoảng ngày 18-21) để bắt đầu một vòng đời mới Giai đoạn sinh sản hữu tính xảy ra vào ngày 16 đến ngày 21 sau khi noãn

Trang 25

Như vậy cầu trùng Eimeria hoàn thành vòng đời trong thời gian khoảng 21

ngày Từ một noãn nang ban đầu sau một vòng đời có thể tạo ra hàng triệu noãn nang

2.4.1 Dịch tễ học

Eimeria phân bố rộng khắp thế giới Trên bê nghé tỷ lệ nhiễm Eimeria từ

50-80% cao hơn ở trâu bò trưởng thành (Lương Văn Huấn – Lê Hữu Khương, 1999) Khi việc chăm sóc và nuôi dưỡng không tốt, phần lớn bê nghé đều nhiễm cầu trùng Bê nghé thường phát bệnh nhiều ở lứa tuổi 1-3 tháng Trâu bò trưởng thành thường mắc bệnh ở thể mãn tính hay mang trùng

Trang 26

Nguồn truyền bệnh cho bê có thể là bò lớn tuổi hay bê trên 1 năm tuổi, đó là những con vật mang mầm bệnh cầu trùng Nguồn dự trữ mầm bệnh ở môi trường bên ngoài là thức ăn, chậu, máng ăn, chất độn chuồng, nơi uống nước bị nhiễm noãn nang Chuồng bẩn thỉu, thiếu vệ sinh, đọng nhiều phân và nước bẩn cũng là nơi chứa nhiều noãn nang cầu trùng

Trâu, bò rừng, các giống bò nuôi thịt: bò Red Sinhi, bò U, bò Charolais đều bị nhiễm nhưng giống bò sữa Holstein và trâu sữa Murrah thường bị nhiễm nhiều hơn (Lương Tố Thu, 1986)

Ở nước ta bệnh xảy ra quanh năm nhưng nhiều hơn vào mùa hè mưa ẩm, từ tháng 5 đến tháng 10 (Lê Văn Năm, 2003) Bệnh thường phát sinh khi vi phạm chế độ dinh dưỡng (thay đổi thức ăn đột ngột, giảm mức độ dinh dưỡng, thức ăn nghèo đạm, vitamin, không cân đối vi khoáng…), chỗ nuôi nhốt thú chật hẹp, đặc biệt là khi chuyển thú từ nuôi nhốt sang chăn thả và ngược lại

Cai sữa, vận chuyển, thay đổi thời tiết khí hậu…là yếu tố gây stress làm cho bệnh lây lan nhanh và nặng nề hơn

Không chỉ những tế bào trong đó có cầu trùng sinh sản mà cả những tế bào lân cận và mạch máu cũng bị phá hủy Sự phá hủy hàng loạt các tế bào biểu mô làm cho niêm mạc ruột của vật chủ bị tổn thương tạo điều kiện cho các vi sinh vật xâm nhập làm cho bệnh trầm trọng hơn và gây ra những sự hư hại lớn trên niêm mạc ruột Niêm mạc ruột bị tổn thương sẽ không thực hiện được đầy đủ các chức năng tiêu hóa, hấp thu dẫn đến rối loạn tiêu hóa và gây tiêu chảy Hệ thống mạch quản trong niêm mạc

Trang 27

ruột bị hư hại gây xuất huyết ngầm trong lòng ruột rồi theo phân ra ngoài do đó phân của bê bị tiêu chảy do cầu trùng thường lẫn máu dẫn đến con vật bị thiếu máu trầm trọng Quá trình viêm nặng trên niêm mạc ruột cùng với tiết dịch viêm bao phủ trên bề mặt các vi nhung mao gây khó khăn cho sự hấp thu các dưỡng chất dẫn đến mất cân bằng nước và muối khoáng Nước từ mạch máu thẩm thấu qua thành mạch vào lòng ruột để trung hòa dịch viêm gây mất nước làm cho con vật xù lông, xơ xác, gầy yếu rồi chết (Kolapxki và Paskin, 1974, trích dẫn Phạm Hoài Xuyên, 2004)

2.4.3 Triệu chứng

Bê nghé nhiễm cầu trùng thường ít có biểu hiện thành triệu chứng điển hình

Đối với những loài Eimeria có độc lực cao, bê, nghé phải nuốt một số lượng lớn

oocyst gây nhiễm (trên 50.000 oocyst) mới có thể biểu hiện triệu chứng Trung bình khi 1000 oocyst gây nhiễm được ăn vào sẽ phá hủy 24 tỷ tế bào biểu mô ruột (Feguson, 1996 trích dẫn Phạm Vĩnh Thịên, 2005) Thời kỳ nung bệnh kéo dài khoảng

7 -21 ngày, triệu chứng bệnh thay đổi tùy thuộc vào độc lực của từng loài cầu trùng và sức đề kháng của vật chủ Trong giai đoạn sinh sản cầu trùng làm hư hại tế bào ruột non dẫn đến tiêu chảy, đặc biệt là tiêu chảy máu Ở giai đoạn đầu thú có thể bị sốt nhẹ nhưng phần lớn các trường hợp, nhiệt độ ở mức bình thường hoặc dưới mức bình thường Dấu hiệu đầu tiên của bệnh thường bắt đầu với triệu chứng đột ngột tiêu chảy

dữ dội, với phân lỏng chứa máu hoặc dịch nhầy Máu có thể màu đen thẫm và giống như hắc ín, hay xuất hiện như vệt hoặc khối, hay phân có thể chứa gần như toàn bộ khối máu tươi

Phần cuối của đuôi bê, chân sau và gốc đuôi thì luôn luôn bao phủ bởi phân lỏng Có thể quan sát phân lỏng có chứa máu hay dịch nhầy trên mặt đất Phân lẫn máu chứa hàng triệu oocyst, những oocyst còn lại trên mặt đất gây nhiễm cho những con bê khác (Dedrickson, 2000 trích dẫn Nguyễn Huỳnh Nga, 2008)

Cơ chế sinh bệnh phổ biến của bệnh cầu trùng trên bê là sự làm việc qúa mức của ruột Trong nhiều trường hợp, trực tràng có thể bị sa xuống Nếu bê mất nhiều máu chúng sẽ trở nên thiếu máu Niêm mạc sẽ bị tái (nướu trông có màu trắng thay vì màu hồng) và bê trở nên yếu ớt, đi đứng không vững Phần lớn bê bị nhiễm bệnh sẽ giảm

sự ngon miệng Nếu viêm nhiễm kế phát bê bị sốt cao, gầy rạc nhanh chóng, mắt lõm

Trang 28

xuống và có thể chết sau 8 - 15 ngày Diễn biến của bệnh từ 5 đến 6 ngày, nhưng ở một số loài động vật nhiễm một thời gian sẽ tự khỏi bệnh

2.4.4 Bệnh tích

Xác chết của bê gầy, dơ bẩn do dính phân Niêm mạc ruột già, trực tràng dày lên, xuất huyết, tụ thành từng đám Biểu mô ruột bị phá hoại, các mao mạch bị vỡ gây xuất huyết Ruột sưng to, niêm mạc có nhiều bạch cầu, đặc biệt là bạch cầu ưa acid, sau đó hoại tử màu trắng (Lương Văn Huấn và Lê Hữu Khương, 1999)

2.4.5 Tác hại của bệnh do cầu trùng đối với vật nuôi

Cầu trùng làm rối loạn tiêu hóa hấp thu và xuất huyết trong lòng ruột dẫn đến tiêu chảy, mất nước và máu, rối loạn cân bằng dịch thể làm cho con vật thiếu máu, gầy

ốm, còi cọc, suy yếu, giảm phẩm chất giống và có thể chết nếu bệnh ở thể cấp tính mà không được can thiệp kịp thời

Niêm mạc ruột bị phá hủy làm cho con vật mẫn cảm với các mầm bệnh khác

Đối với những con dạng thể ẩn và thể mãn sẽ giảm khả năng hấp thu dưỡng chất, giảm lượng sữa

2.4.6 Chẩn đoán

Dựa vào triệu chứng, bệnh tích và dịch tễ Xét nghiệm phân tìm noãn nang theo phương pháp phù nổi Không nên lấy cục máu để chẩn đoán vì cục máu không có

oocyst của cầu trùng

Chẩn đoán phân biệt bệnh cầu trùng với các bệnh khác Một trong những đặc điểm quan trọng để chẩn đoán phân biệt bệnh do cầu trùng với các bệnh khác là máu ẩn trong phân Theo Gobzem, 1964 (trích dẫn Nguyễn Huỳnh Nga, 2008) trong bệnh do cầu trùng ở bê, ngay cả khi mới mắc bệnh phân luôn có máu ẩn

2.4.7 Phòng trị

Cầu trùng có chu trình phát triển rất nhanh, các noãn nang tồn tại rất lâu trong

tự nhiên nên ở đâu có nuôi bò ở đó sẽ có nguy cơ xuất hiện bệnh cầu trùng Khả năng miễn dịch cầu trùng rất kém do sự thay đổi chủng, thậm chí cả các giai đoạn phát triển của cầu trùng khi gây bệnh vì thế việc phòng bệnh bằng vaccin có tỷ lệ bảo hộ kém và

ít có hiệu quả kinh tế Vì vậy công tác phòng bệnh cầu trùng gặp rất nhiều khó khăn đòi hỏi phải thực hiện đầy đủ các nguyên tắc phòng bệnh

Trang 29

™Vệ sinh phòng bệnh

Chuồng trại phải được xây dựng nơi khô ráo, có nhiều ánh sáng trực tiếp của mặt trời, vệ sinh chuồng trại thường xuyên, dụng cụ thiết bị sạch sẽ, thức ăn nước uống phải đảm bảo sạch

Không nuôi nhốt chung bê nhỏ với bê trưởng thành

Phân và chất thải phải được thu gom hàng ngày và ủ kỹ đúng nơi quy định, thường xuyên có biện pháp tiêu diệt côn trùng, chuột và động vật hoang dã

Khi chăn thả trên đồng cỏ phải chọn nơi khô ráo, chăn tách riêng bê với bò lớn tuổi, không chăn thả bê ở những đồng cỏ thấp, lầy lội

Giảm thiểu các yếu tố gây stress, nuôi dưỡng với khẩu phần cân đối, đảm bảo đầy đủ dưỡng chất, vitamin và khoáng

™ Phòng trị bằng thuốc

Cần định kỳ sử dụng thuốc phòng bệnh cho cầu trùng, có thể trộn thuốc vào thức ăn hay nước uống

Amprolium: liều 10mg/kg thể trọng cho uống 5 ngày liền

Pyrimethamine: liều 2mg/kg thể trọng cho uống 2 ngày liền

Sulfaquinoxaline: liều 20mg/kg thể trọng hoà vào nước cho uống 3 ngày liên tục

Ngày đăng: 13/08/2018, 15:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w